Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025

Lược sử văn nghệ Việt Nam 5

Lược sử văn nghệ Việt Nam 5

PHẦN THỨ NHẤT
MIỀN BẮC 1950 – 1954
(Quốc Gia Việt Nam)
CHƯƠNG NHẤT
NHÓM THẾ KỶ

Tiết I.
KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN TRONG NHÓM THẾ KỶ.
I. HOÀN CẢNH CHÍNH TRỊ.
Nhóm Thế Kỷ xuất hiện ở Hà Nội vào thập niên năm năm mươi. Tạp chí Thế Kỷ cơ quan diễn đạt tư tưởng của nhóm. Gồm các cây bút: Bùi Xuân Uyên (Chủ nhiệm), Trúc Sỹ, Triều Đẩu, Phan Phong Linh, Tạ Tỵ, Nhã Ái (nữ). Nhã Ái sau đổi Xuân Nhã. Giữa hoàn cảnh nô lệ thực dân Pháp, Quốc Gia Việt Nam độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp; ngoài kia kháng chiến đi vào giai đoạn phân hóa. Dân chúng trở về Thành, sống cảnh cá chậu chim lồng ; hoàn cảnh xã hội tác động vào tác phẩm của người văn nghệ ý thức. Nhóm Thế Kỷ tụ tập được một số nhà văn chân tài, về phóng sự tiểu thuyết có Triều Đẩu; truyện ngắn trình bày hoàn cảnh sống xã hội sâu sắc Tạ Tỵ; truyện dài Trúc Sỹ, truyện tâm lý tình cảm tiến bộ Ái Nhã, đến thơ Phan Phong Linh hoài cổ – Tất cả tạo thành nhóm có thực lực, uy tín trong văn giới. Chính tạp chí này đăng truyện ngắn đầu tay nhà văn Toàn Phong, sau ông trở thành giáo sư lỗi lạc về ngành không gian NASA. Trước khi giới thiệu nhà văn, thơ điển hình Triều Đẩu, Trúc Sỹ, Phan Phong Linh, và tiết sau chúng tôi nói đến số nhà văn viết sơ lược.
. BÙI XUÂN UYÊN. Sinh 1922 tại Hà Nội. Còn ký Hi Di. Bùi Xuân Uyên viết bình luận, nghiên cứu văn học, chính luận 1954 là tác giả truyện dài Luyện Máu (Ký Hi Di) đăng nhiều kỳ trên nhật báo Tự Do ở Sài Gòn.
. XUÂN NHÃ. Tên thật : Nguyễn Thị Mến. Sinh 1928 ở Hà Nội. Vợ của Bùi Xuân Uyên, bài đăng trên Thế kỷ ban đầu vào 1950 ký Ái Nhã. Truyện ngắn tình cảm, tâm lý sâu sắc, chưa xuất bản thành sách.
. TẠ TỴ. Sinh 1922 ở Hà Đông. Tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương ở Hà Nội. Họa sĩ lập thể được giải thưởng của Phòng Triển lãm Duy Nhất năm 1942–1943 ở Hà Nội (Salon Unique), giải thưởng của Báo Chí Việt Nam tại Triển lãm Hà Nội vào tháng 8.1946. Tạ Tỵ còn viết truyện ngắn, làm thơ, đăng trên các tạp chí Thủ đô, kể cả Thế Kỷ. Truyện ngắn viết rất sâu sắc, như Cẩm Nhung (trên báo Đời Mới, Sài Gòn), Những Đứa Trẻ Mất Dạy (Đất Đứng, 1956), Thằng Bé Đánh Giầy (báo Sinh Lực, Hà Nội)... Truyện ngắn xã hội, mổ xẻ nội tâm, nhiều nhất là tự sự kể về đời sống tác giả, qua tác phẩm. Sau 1955, viết phê bình văn học rất sáng giá. Đã xuất bản: Những Viên Sỏi (tập truyện, 1962), Yêu và Thù, 1970), Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, phê bình, 1970), Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay 1972), Cho Cuộc Đời, thơ 1971) v.v...
. HOÀNG CHU NGẠC. – Đứng trong nhóm Thế Kỷ, qua cuốn truyện dịch Emily Brontës, Wuthering Heights. (Trên cao gió lộng; Hà Nội, 1953). Sự thâm nhập văn hóa giữa các nước là cách làm giầu cho nền văn học. Như Lê Đình Chân với tác phẩm dịch của S.Maugham, bản Việt ngữ Một Đêm Trăng; hoặc Giản Chi qua Con Người Cô Độc của Lỗ Tấn; còn Hoàng Chu Ngạc dịch chưa thoát, ngôn từ trúc trắc; có lẽ chú trọng dịch sát nguyên tác 
TIẾT 2
TRIỀU ĐẨU
(1909–198?)
. Tiểu Sử:
Tên thật Nguyễn Văn Phùng. Sinh 14–7–1909 ở Bắc Ninh. Học qua Trường Bưởi, công chức thời Pháp. Viết văn từ tiền chiến, chỉ 1950 mới lao vào nghiệp văn cách dấn thân. Ông qua đời ở Sài Gòn sau năm 1980.Lỡ (Sài Gòn, 1957), Năm Chương Tự Ngôn (Sài Gòn 1968), Men Rượu Đế (Sài Gòn 1969)…v.v…
. Khuynh Hướng :
Triều Đẩu có giọng văn hài hước, châm biếm sâu độc, về thói hư tật của xã hội đương thời, qua nhãn quan phán xét tinh tế của tác giả. Tác phẩm đầu tay Trên Vỉa Hè Hà Nội, khi xuất bản gây được dư luận trong văn giới cách rộng rãi ở Thủ Đô. Truyện dài Tranh Tối Tranh Sáng chưa xuất sắc; bước sang Lá Thư gồm tạp bút, phê bình văn học, hồi ký, chỉ hồi ký viết đặc sắc ở điểm chân thực, bài phê bình Đồi Thông Hai Mộ, theo lối viết phóng túng, (critique spontanée) lập luận thiếu vững chắc, nệ tính cảm.
. Phân Tích Tác Phẩm :
Trên Vỉa Hè Hà Nội ra đời ấy là xã hội đầy cuồng loạn, bát nháo. Người Hà Nội cũ lục đục hồi cư, mỗi người một lối sống, nghĩ, cảm riêng. Tình anh em co dãn, đạo lý khủng hoảng suy đồi, miếng cơm manh áo ảnh hưởng trực tiếp người hơn hết. Không tình thương mến, đùm bọc gia đình, như truyện Cô Chính, mô tả nhân vật đi lang thang, người anh hắt hủi, dấn thân vào đường giang hồ vô định. Người mẹ lúc trẻ bị cưỡng hiếp sau đẻ ra Suzan, đứa con hai dòng máu không biết cha mình là ai. Người mẹ trẻ đi lấy chồng, con riêng bị bố dượng hành hạ. Tả cảnh chàng nghệ sĩ bị đời ghẻ lạnh, xã hội lãng quên, đọc đến đây liên tưởng đến văn Nam Cao
“... Nước mình còn nô lệ, thì tiếng mình còn bị chê khinh và bọn nhà văn còn bị rẻ rúng, bạc đãi, coi nhà một hạng người không có cũng chẳng thịt thòi trong xã hội...”
Triều Đẩu nhớ tới nhà văn ấy trong Nhà Tôi. Đến Gái Năm Con, mô tả nhân vật nữ, chồng qua đời, tái giá, mục đích giải quyết dục tình. Qua truyện khác, Tình Trưởng Giả, nhấn mạnh sự khác biệt hai trình độ văn hóa khó dung hòa, cuối cùng tan vỡ. Hoặc trong Chim Bồ Câu Trắng, Tết Hồi Cư, Nhân Quả, Người Ơi!..., mỗi truyện là cảnh sống đầy hỗn tạp – như sau chiến tranh, động đất; kẻ sống sót cảm tưởng ngày mai không có nữa; họ thay đổi cách sống, sống vội, yêu cuồng, giải quyết tình dục cấp thời. Bối cảnh sau 1950 ở Hà Nội, tạo thành thiên phóng sự linh động, sâu sắc.
Trên Vỉa Hè Hà Nội gói ghém nhiều phóng sự: Thiếu Nữ Lang Thang, Ăn Cơm Tây, Cô Hoa, Rau Muống Vắt Chanh, Nhà Tôi, Bộ Com Lê Hai Nghìn Rưởi, Gái Năm Con, Tình Trưởng Giả, Nhân Quả, Chim Bồ Câu Trắng, Vầng, Trăng Sáng…
Này đây Cô Hoa, em Loan thuộc gia đình trung lưu hồi cư về Hà Nội, Loan đi làm thuê nuôi gia đình. Nhân vật nữ dám nghĩ đến tình yêu, bởi tình yêu không cùng đi với đạo luật, nghị dịnh. Tại sao vậy ? Tác giả lý giải thật sâu sắc, người đọc phải não lòng thương xót nhân vật đi làm chỉ mục đích: có miếng ăn
“... Chỉ biết Loan đi làm rất đúng giờ, ốm không dám nghỉ? giữ gìn từng ly từng tý để khỏi mang tiếng. Từ chối mọi bức thư tình cảm của người quen biết hay không quen biết, mặc dầu nhiều khi lòng trinh nữ cãng cảm thấy rộn ràng. Trái tim người ta, anh ơi! đâu phải là gỗ đá. Loan đã cố thủ trước mọi cuộc tấn công tình ái, chỉ vì – như nàng vẫn tin tưởng một cách chắc chắn – ái tình không được phép đi đôi với những đạo luật, nghị định...”
Tâm trạng cô chị như ở trên, còn cô em, Hoa yêu thích văn, thơ có tâm hồn văn nghệ. Quãng đời còn ở hậu phương, Hoa yêu Quân, văn nghệ sĩ. Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh thường đề cao vai trò người văn nghệ, với Triều Đẩu, là Tóc Thề, khi nhận định về mặt này, tác giả viết.
“... Họ không tính đến chuyện cưới xin. Vì trái lại với thường tình, họ đã yêu chỉ để mà yêu. Vả lại, nếu có xin làm rể, chắc chắn Quân sẽ bị từ chối, Anh chưa có công ăn việc làm nhất định. Danh từ nghệ sĩ đẹp đẽ thực, nhưng viển vông quá: Ở đời, người ta cần một thứ gì thực tiễn hơn!...
Nguyễn Bính với Giòng Dư Lệ, Thâm Tâm với Các Anh Hãy Uống Thật Say khóc tình gặp gỡ chẳng nên duyên, hoặc như T.T.KH với ba bài thơ bất hủ: … Nếu biết rằng tôi đã có chồng/ Trời ơi, người ấy có buồn không? Vậy thì yêu chỉ để yêu, người nghệ sĩ không việc làm chắc chắn lại vác khăn gói lên đường vô định, còn nàng ở lại vương vấn, lấy chồng, vẫn nhớ người cũ. Cái khổ ở điểm này và thất tình dễ làm người tưởng là hạnh phúc mà vẫn chưa hạnh phúc – hồi tưởng, làm khổ đời nhau nhiều hơn. Có lẽ vậy, khi lý giải nhạc Đoàn Chuẩn nhạc sĩ tài hoa vẫn làm cho người yêu thích lãng mạn hồi tưởng. Mối tình nghệ sĩ như giấc mơ chóng tàn vì vướng muôn ý thơ? Trở lại với Quân yêu không trọn vẹn, khăn gói lên đường, cố quên tình yêu của năm tháng cũ. Người yêu ở lại gia đình gặp hoạn nạn – Bố nàng, chỉ vì đánh chắn bị bắt, phải đi cải tạo, và một chính trị viên chú ý con gái phạm nhân, hứa cứu bố vợ tương lại với điều kiện nhân vật nữ nhận làm vợ. Cùng đọc đoạn văn được mô tả, giọng văn châm biếm thật sâu cay, mai mỉa độc địa. Và chỉ ở cái xấu này, Triều Đẩu văn mới phát huy được:
“... Ngày xưa tôi đã nấu bếp. Nhưng từ khi ra giúp nước được làm ủy viên chính trị, tôi quên hẳn hình thù cái soong, cái chảo. Hì, hì! Thế mà có những món ăn đặc biệt, tôi không bao giờ quên. Cô cứ yên trí. Để bao giờ cưới, chúng ta sẽ ra chỉ thị để gia nhân họ nấu: ô nào pô ta roay an, nào bút sê a la rét, típ tâm banh...”
Bộ Com Lê Hai Nghìn Rưởi tả nhân vật nam lưu manh rình tranh tối tranh sáng, ra tay chớp cơ hội. Thành tích sản xuất thuốc lá Bastos giả, từng thuê những bộ com lê đắt tiền để làm mánh. Có một ngày hắn gặp người làm công, xưa quấn thuốc thuê. Hai vợ chồng Nha và Nụ, (Nụ xưa đã bị hắn cưỡng hiếp) nghe chủ cũ giở mép môi bán bộ com lê cho người làm công cũ:
“... Con định đưa nhà con chiều nay đi dự một dạ hội Cứu Tế, có thiếp mời hẳn hoi. Thế mà bộ com lê chưa lấy dược. Thế có giận không chứ?
Nói xong, nó nhìn chòng chọc bộ com lê của hắn. Hắn hiểu ý, giọng tự nhiên: Nếu anh muốn tôi để lại cho anh bộ com lê.
Nha trố mắt ngạc nhiên, nghiêng mặt, môi trễ xuống như không hiểu. Hắn phải bồi thêm một trùy bịp bợm:
– Nay mai tôi đi khai mỏ. Anh cũng biết đi khai mỏ với bộ com lê lịch sự như thế này bao giờ? Cho nên tôi rất có thể để lại cho anh. Để bằng giá rẻ thôi vì tình nghĩa thầy trò ai mà còn ăn lãi. Tôi vừa may hai nghìn rưỡi đấy:
Nha mừng quýnh, vỗ vai vợ, nói lớn:
– Tiền nong có quản gì, miễn là được mặc bộ quần áo ông chủ Nha là sướng rồi!...
Tác giả tả chủ cũ túng quẫn, đầy cơ hội tính, nên gạ bán thẳng thừng. “Chẳng ai đi khai mỏ với bộ com lê”. Bên có tiền mua được bộ com lê chủ cũ, hãnh diện, lại dịp cần. Sự sung sướng ra mặt của Nha chẳng khác với Xã Bèo mua được miếng đất Trương Dần, kẻ xưa kia từng khinh miệt Xã Bèo. (9) Nhân vật chủ cũ Nha, cởi quần áo trong quán giải khát gần đó không mấy hợp lý. Vai trò chủ cũ chưa chắc hạ giá mình như vậy, bề ngoài, giọng nói chủ cũ vẫn đầy đạo lý … Tình nghĩa thầy trò ai mà ăn lãi. Giả thiết tác giả cho đoạn này chìm đi, không cần tả thay quần áo ở đâu, chẳng hại gì.
Nhân vật được mô tả trong Trên Vỉa Hè Hà Nội, mỗi nhân vật đều có cá tính riêng, mỗi cảnh đời một hoạt cảnh sống động, lột được bộ mặt xã hội thời Hà Nội hồi cư. Nhưng chưa có tác giả viết phóng sự hoạt kê đã thực hiện được như Giống Tố Vũ Trọng Phụng tiền chiến. Vào thời bấy giờ, Triều Đẩu là khuôn mặt văn nghệ sáng giá của phóng sự hoạt kê. Đánh giá về Trên Vỉa Hè Hà Nội, thì :
“... Cây bút trào lộng của Triều Đẩu đã dùng cái cụ thể diễn tả cái trừu tượng một cách bất giờ đột ngột làm cho người đọc phải bật cười. Cười rồi lại phải im bặt ngay để mà suy nghĩ...” (10)
Lá Thư Hà Nội, truyện khác của Triều Đẩu đáng được đề cập tới. Sau khi lướt qua bài điểm sách, cụ thể phê bình Đồi Thông Hai Mộ không đặc sắc. Qua Thư gửi từ Hà Nội cho người bạn, chỉ có tính cách riêng tư giữa nhân tình cũ với bạn ở xa không khiến người đọc bận tâm. Chỉ tự - sự - kể Ảnh và Hưởng, viết dưới dạng hồi ký là đặc sắc. Nhân vật Đại, không ai khác hơn chính tác giả kể lại đời chìm nổi thật chân tình, xúc động. Là nhà văn đáng nể mặt trong lối viết tự sự hậu chiến. Đại, con gia đình trung lưu, thuở nhỏ theo học chữ nho, sau chuyển học chữ Tây, qua trường làng lên tỉnh rồi đậu bằng Cơ Thủy (11),vào Trường Bưởi. Đại trọ học ở Thụy Khê, (ven Hồ Tây). Tốt nghiệp Đại là công chức chính phủ Bảo hộ, lập gia đình sinh con đẻ cái, sống an thân. Vợ chết, Đại lại tiếp tục cưới vợ khác. 1948, Đại bước vào đời viết văn nổi tiếng. Tự - sự - kể tuy chưa nhận là tôi như đối với Nguyên Hồng; nhưng Đại, kể lại đời thật chân thành. Truyện tự sự rất hiếm, tuy không phải không có câu chuyện cảm động để viết ra, nhưng với người viết và người đọc, thì cái tôi là cái đáng ghét (12), khoe mình. Với Triều Đẩu, viết Ảnh và Hưởng, cuộc đời niên thiếu đến thanh niên, vốn sống riêng của ông không thể tương đồng với bất cứ ai khác. Nói như Alfred de Musset: muốn viết đời mình, đầu tiên phải sống trải, và vốn sống trải của ông được viết lại như thế nào? Có thể, nhân vật Đại từng đọc La Confession d’un enfant du siècle (13), sự thâm nhập tư tưởng của J.J. Rousseau được dẫn lại ở trang 101 trong sách. Viết về đời mình, Charles Dickens mô tả qua cậu bé trong truyện David Copperfield, tác phẩm nổi tiếng thế giới. Đạt được giá trị, điều kiện cần và đủ xây dựng tác phẩm vẫn là thành khẩn, nếu biến hóa tính xấu thành tốt như E.Renan, hẳn bớt nhiều giá trị. Còn tác giả Ảnh và Hưởng thì sao? Phần sau sẽ được lý giải. Trên kia, tôi nói đến tự truyện tiền chiến, không phải chỉ có Nguyên Hồng mà còn Mạnh Phú Tư, Thiết Can, Nguyễn Đức Quỳnh. Giai đoạn hậu chiến từ 1950 là bắt đầu với Triều Đẩu. Tả quãng đời thơ nên thơ, vô tư lự ấy, khi chưa phải lo áo cơm, danh vọng:
- “... Chao ôi! Cái tiết tháo ngây thơ và trong sạch đó, sao anh không giữ được mãi? Cho tới ngày nay, sau mấy chục năm lăn lóc với đời, anh đã khổ vì danh nghĩa vợ chồng và nhục vì đại nghĩa tình ái. Giờ đây chạy theo những con chim xanh để không bao giờ bắt được, anh đã trở về với gia đình, với người vợ đăm chiêu và khắc khổ. Anh đã bâng khuâng nghĩ tới thời gian ngây thơ đẹp đẽ mà loài người đã tượng trưng được nghĩa vợ chồng và tình yêu không nước mắt trào, giữa một anh con trai lên sáu và cô con gái lên ba...”.
Trọ học ở nhà thầy cùng bạn học lớn hơn, nhân vật Đại thường bị bắt nạt. Hơn một ngày hay một việc, kẻ lớn hơn thường ăn hiếp kẻ yếu hơn. Viết đoạn văn này, không phải cho ông, còn cho tôi, cho anh, trong một xã hội chung chế độ chính trị. Hãy thu mình nhỏ lại, nghe Triều Đẩu tả trò lớn dọa dẫm:
- “... Thế rồi chiều chiều, thầy cứ đi đánh tổ tôm hoài để mặc Đại ở nhà cũng với vai trò khác, cũng trọ như thầy, như Đại. Và có lẽ hy vọng được thầy săn sóc riêng như Đại. Đêm đêm, thằng học trò lớn – thằng ở nấu cơm cho thầy – thắng đó đem chuyện ma ra kể làm cho lũ trò nhỏ sợ rúm người lại. Xa nhà xa cha mẹ, sống với một tâm hồn tí hon, với những suy nghĩ thơ ấu. Đại đã sợ hãi vô cùng. Đêm đến, tiếng dế, giun kêu đều đều, tiếng ễnh ương cất lớn ngoài ao. Đó là lúc những con ma đen ngòm thè lưỡi đỏ dài xuống tận đất, hoặc cái lao lăn xả vào chân Đại. Và, đó cũng là lúc những con ma hát nghêu ngao, nằm võng đưa tít trên ngọn tre để, nếu Đại đã đi qua, nó sẽ ngả ngay xuống cuốn ngay đi. Tất cả đã được tạo nên từ miệng thằng trò lớn. Và cứ mỗi buổi tối, những hình ma, những hình ma cử động quái đản đó lại hiện ra để dọa nạt Đại. Thấy có hiệu lực, thằng trò lớn lại thêm bớt thay đổi chương trình. Cho đến khi một lũ ma đi cà kheo và múa may giữa đồng khuya thì cũng vừa lúc Đại được gọi về lên tỉnh học...”.
Phác họa qua vài nét điển hình về một gia đình, tác giả cho người đọc hiểu môn đệ Khổng Mạnh chịu ảnh hưởng, rồi tác động đời sống thường nhật ra sao:
“... Ông cụ thân sinh ra anh, như trên đã nói, là một ông đồ nho thích ngâm thơ, uống rượu, đánh tổ tôm và hát ả đào. Có khi mê mệt đào hát làng bên, ông cụ quên cả về nhà. Bà vợ có kỳ kèo thì nhất định là quyền của bà. Nhưng ông cụ ngại những nguyên lý tối cao của Khổng Mạnh để mắng chửi om sòm và dùng cả đấm đá để bảo vệ cái quyền bất khả xâm phạm. Bà cụ chỉ còn khóc lóc và mấy cô em gái đã lăn xả vào lôi mẹ ra...”.
Đối với thanh niên chịu ảnh hưởng Tây học nhìn cảnh này, nhân vật Đại đã phản đối, dầu là âm thầm, qua những dòng chữ viết, chống đối bất công từ bao đời, hiện vẫn tồn tại. Ở tuổi hai mươi, cô gái bên cạnh ở tuổi dậy thì tấn công tình ái, thờ ơ – mà nhân vật đã hiểu gì về tình yêu là thế nào đâu để đáp lại? Nhân vật nữ Mít sang nhà Đại trọ học dò la. Tác giả mô tả nhân vật này thật linh hoạt, vì Đại không đáp lại dục vọng Mít, nàng chạy theo chàng thợ bạc. Thâm ý tác giả lên án sự lãng mạn đáng thương của gái tỉnh lỵ, với lời bình chê trách khá nặng nề:
“... Đại đang ngồi học trong nhà trọ, bỗng thấy cô Mít ở nhà bên cạnh tự nhiên sang chơi. Cô đến ngồi sát cạnh Đại. Cô hỏi han về việc học của Đại một cách vẩn vơ và Đại đã đáp lại một cách ngây thơ đáng tiếc. Nhưng mấy hôm sau cô Mít đã trở về... Còn anh thợ bạc có cái răng vàng cũng đã quay về với vợ con. Gã cứ phớt tỉnh như không có chuyện gì xảy ra...”
Vào Trường Bưởi, cụ thân sinh Đại, quần the thâm như cụ Lý dẫn con đến bị anh gác cửa bĩu môi. Tác giả tả lại qua một pha thật sinh động. Thói đời thời nào cũng vậy, anh kém học dẫu ở địa vị thấp kém lại hay tỏ ra sĩ diện hão tự cho mình cao trọng:
“... Cụ Đồ hỏi anh công séc : (14)
– Thưa Ông, trường đã nhận học trò vào chưa ạ?
Liếc mắt nhìn ông lão nhà quê với anh học sinh cũng nhà quê, gã liền bĩu môi khinh khỉnh, sau khi dang tay đóng sập cánh cổng lại:
– Ồ, trường còn nghỉ. Hỏi vớ vẩn...
Tác giả lên án tật xấu người gác cổng, nhưng cũng không quên bà hàng bán nước cổng trường. Họ nghèo, nhưng là Mạnh Thường Quân, bán chịu cho trò nghèo thiếu, khi các cậu còn hàn vi, chưa ra trường, chưa trở thành ông Thông, cậu Phán Tòa Sứ... Hãy cùng tác giả nhớ lại hình ảnh mẹ con bà hàng nước ngoài, qua giọng văn hoạt kê tả chân đầy lòng thương sót:
“... Chủ hàng là một người đàn bà có tuổi, mặt đậm nắng đầy vẻ phong trần. Hơn nữa, những nét hằn chằng chịt trên khuôn mặt, tố cáo một cuộc đời nhiều lo toan và đau khổ. Bà góa chồng đã lâu, sống nghèo nàn với một đứa con đen đủi. Hai mẹ con đã từ bao lâu nay sống lần hồi với một loại khách hàng duy nhất và dễ dãi, học trò ngoại trú Trường Bưởi. Có gì đâu, quả me chua loét, chiếc bánh mật cứng nhắc, múi bưởi về chiều khô đét. Cái tụi khách hàng quen thuộc này có bao giờ chê bai hay khó tính đâu? Họ vui vẻ nhận tất cả những món quà trước giờ học và ăn một cách rất ngon lành. Bà hàng đã quen các cậu, biết tên từng người, vui lòng bán chịu, nếu cậu nào không sẵn tiền. Cho tới sau này các cậu làm nên kỹ sư hay thạc sĩ, giáo học hay thư ký, có trở lại thăm trường, vẫn còn trông thấy ti tiện với ngôi hàng nhỏ trên bãi cỏ, có một người đàn bà lam lũ đã từng bán quà chịu cho mình với một độ lượng vô biên...”
Tả tác phong người lao động, biết làm lụng, ít khi nghĩ đến hưởng thụ – như vợ chồng nhà chủ cho thuê phòng trọ, học sinh ăn cơm hàng ở gác trên, chủ nhà ở dưới. Gia đình trung lưu này không đến nỗi nghèo như mẹ con bà bán nước rong, song họ chắt chiu, căn cơ:
“... Chí thú suốt đời, ông Phú đã làm được một căn nhà có gác con con, nhưng không dám hưởng thụ. Hai vợ chồng chỉ ở căn dưới, dành gác cho học trò ăn cơm tháng. Nấu cơm cho học trò từ ngày có Trường Bưởi, vẫn là mối lợi cho dân làng Thụy Khê. Làng này ở sát Hồ Tây...”.
Tuổi trẻ dễ xúc động yêu đương, với Đại bắt đầu tuổi mười hai. Người đầu tiên dạy Đại yêu thì đã bỏ lỡ cơ hội, như giới thiệu là cô Mít. Rồi Đại bắt gặp một cô gái làng khác xinh xắn, đi qua nhà, Đại hay nói bông lơn. Cô gái làng dễ bắt nhịp yêu, tưởng lời bông đùa cậu học trò tình ý. Cô dốc tiền để dành trong ống sắm sửa áo quần tươm tất. Mỗi lần gánh nước qua nhà, nên Đại hay bông lơn. Cô gái làng dễ rung nhịp yêu đương, tưởng lời bông đùa của cậu học trò có tình ý, nên cô giốc ống tiền để dành sắm sửa diện áo quần tươm tất. Mỗi lần gánh nước qua nhà, mong dịp gặp cậu học trò. Cậu học thi, quên lời ân ái quảng đại với cô gái siêng năng gánh nước ấy. Đoạn văn thật tâm lý, đầy xúc động, nhất là đoạn Đại hồi tưởng và Đại hối hận vì không biết cô gái làng yêu đến thế:
“...Đại bỗng để ý tới một cô gái làng, cổ cao quá kích thước và làn da trắng trẻo như bột gạo. Cô ăn mặc cũ kỹ như lúc đi làm ở nhà Ô Mền (15). Mỗi chiều nghỉ việc về nhà, cô vẫn đi gánh nước, cũng tạo nên những cái cổ cao và khuôn mặt trắng trẻo như vậy. Cô sống âm thầm cần cù ít nói và hình như làm được bao nhiêu tiền cô đều chắt chiu bỏ cả vào ống làm vốn. (...) Thật cô đi qua, vai nặng chĩu, Đại nói đùa bâng quơ: – Cô gánh nước có nặng không? Nào ai biết. Chỉ biết sau đấy, anh chàng Đại lại phải vùi đầu vào những kỳ thi. Nhưng ngoài ngõ cô em bị một phát tên vô hình bắn vào ngực đã bước vào tình trạng mới. Láng giềng bỗng nhiên thấy cô thay đổi, sung sướng vui vẻ và tươi cười. Ống tiền giữ gìn bấy lâu cô đã thẳng tay bổ vỡ toang ra để sắm quần áo mới. Như vậy, tất cả số tiền công nhà Ô Mền tích trữ từ mấy năm nay trong ống bương, thì một buổi sáng đẹp đẽ, đã bương hết nhãn. Rồi thì chiều chiều thắng bộ đồ mới, cô đi gánh nước, gánh mãi, gánh mãi, Vại đầy, chum đầy, cô tưới cây, cây tràn trề, cô tưới đất, đất đã ướt sũng, cô tưới bàn chân cô, tấm lòng cô. Giả sử lúc ấy anh chàng hôm nọ trên cửa sổ, chỉ nói cho một câu đẹp đẽ như hôm nào thì cô mình sẽ bớt đau khổ, không tuyệt vọng và thừa tin tưởng để, nếu chàng muốn, nàng sẽ gánh nước, gánh mãi, gánh nữa, gánh đến cạn cả Hồ Tây... Nhưng than ôi! Trên sông hồ, bóng người đã vắng. Cái gã ba hoa gieo tai họa mà không hay đã quên khuấy cô nàng như cơn gió thoảng...”
Thuở học trò, tuổi đẹp nhất đời người, chưa mang lụy danh lợi, tình yêu, người để mở lòng nhân ái. Về bản chất: nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò, trêu thầy ghẹo bạn nhiều khi không ác ý. Học sinh thời kỳ đầu thế kỷ hai mươi, thời Pháp thuộc, ít học sinh quên câu:
“... J’aime en vous votre famille dont vous êtes la joie... j’aime en vous votre patrie dont vous êtes l’espoir! Modeste, je vis, modeste, je mourrai..."
Tác giả dẫn đoạn sau, phiên âm ra tiếng Việt, chính âm điệu này từ giáo sư đọc giảng cho học trò tạo không khí vui nhộn? Trò cười ồ lên chế nhạo lẫn nhau, sau khi đã ra trường, vẫn không quên được! Triều Đẩu có giọng văn đùa cợt sâu sắc; không ác độc, như văn của De Amicis áp dụng vào đây không sai: “Ba mươi năm sau, các anh mới thấy hối hận vì ngày xưa đã tệ bạc với thầy...” :
“... Giáo sư A–na–mít trong buổi học cuối cùng đã cao hứng hạ đôi kính trắng và tuyên bố như vậy. Để kết luận, giáo sư đã dùng câu này đây – có lẽ của Guyau – nhưng đã đọc bằng giọng hoàn toàn Việt Nam: “Dem ăng vu, vốt phăm mi đông vu dết la doa, dem ăng vu bát ty đông vu dết lét boa. Mô đét dơ vi dơ mô đét dơ mua dê. Mặc dầu trong lũ học trò có anh đã phải lấy hai ngón tay giữ chặt hai môi để khỏi bật tiếng cười khả úy, đồ đệ của Khổng Tử đã bình đoạn văn trên đây của đồng bào Voltaire một cách khoái trá say sưa như một bài thơ Đường tức cảnh vậy. Giờ đây, sau này mấy chục năm lăn lộn với đời mưu sinh và trà trộn với rất nhiều hạng người. Đại thật nhiều khi đã chán nản. Trong những giờ lỏng lẻo của đời thực tế mới có dịp ôn lại những năm tháng sống với thầy và bạn ngày xưa. Đại cảm thấy sống lại cái thời đẹp đẽ của vô tư mà niềm hy vọng được đặt trên bó hoa hồng. Đôi kính trắng của giáo sư chữ nho lại hiện ra cùng với những danh từ Việt Nam phăm mi và bát ti...”.
Đại tiếp tục đau khổ tiếp tục với nghề kế toán và biết lấy vợ có ý đào mỏ, thật chẳng còn ý nghĩa! Hồi ức dĩ vãng trở lại đầy ăm ắp trong dòng chữ viết nhà văn từng trải, khuây khỏa phiền muộn, bù lại ngày thiếu thốn cơm áo ở hậu phương. Đại tác giả hóa thân bước vào hiệu sang trọng:
“... Hắn từ đâu lại. Thì hắn vừa từ hậu phương lại. Và nhất định hắn sẽ đi tới ô ten Phú Gia, hoặc Mỹ Kinh Tửu Điếm. Điều mà hắn còn băn khoăn bây giờ là chưa biết đi Mỹ Kinh hay Phú Gia...”
Triều Đẩu thành công với lối viết tự sự, đời sống trải qua nhiều truân chuyên cay đắng. Ông chịu ảnh hưởng lối viết phóng sự châm biếm, hay đùa cợt nhả nhớt trong tự - sự - kể, đôi khi không cần phải làm ra vẻ khôi hài. Truyện dài Tranh Tối Tranh Sáng chỉ là thí nghiệm cách viết truyện dài, không bằng phóng sự hoạt kê, hồi ức tự sự.
. Kết Luận :
Triều Đẩu có giọng văn châm biếm, thích hợp với đoản truyện, như Trên Vỉa Hè Hà Nội. Hồi ức Ảnh và Hưởng (trong Lá Thư Hà Nội). Triều Đẩu thành công vượt mức. Luận về giá trị đồng tiền thật sâu sắc, quả như đồng bạc, có thể hiểu hai nghĩa: Đồng là tiền và Bạc cũng là tiền, nếu không biết xử dụng, tiền trở thành bạc, Triều Đẩu mai mỉa tiền vi quí cũng vì vậy. Chân lý của con người giai đoạn hồi cư chỉ ăn và uống, giải quyết tình dục. Tiền vi quí tạo phản nghĩa vợ chồng, bạc tình thâm phụ tử, phản trắc thầy trò, bạn bè lừa lọc, trên chẳng ra trên, dưới chẳng là dưới. Nếp sống xô bồ được Triều Đẩu ghi lại trong tác phẩm, giá trị cả văn chương và ý nghĩa. Đôi khi văn Triều Đẩu độc ác, lại trầm lặng như đàn trầm, sôi nổi như triều cường lũ. Triều Đẩu thành công phóng sự hoạt kê, thêm nữa là hồi ức tự sự. Ông là nhà văn tư tưởng thâm thúy, sâu sắc, nổi tiếng của thời đoạn văn chương hậu chiến. 
TIẾT 3.
TRIỀU ĐẨU
(1918– ????)
. Tiểu Sử và Tác Phẩm:
Tên thật Nguyễn Đình Thái. Sinh năm 1918. Tác giả truyện dài Kẽm Trống, Nấm Mồ Vô Định (Thế Kỷ Hà Nội 1952), kể lại truyện rùng rợn thời kỳ Kẽm Trống bị cướp bóc tàn khốc nhất. Ca dao có câu:
“Yêu anh em cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ sợ phá Tam Giang.”
Bùi Xuân Uyên giới thiệu về tác phẩm này: “...Trái với phần lớn những người cầm bút phải dò dẫm mãi mới thấy đường đi của mình, Trúc Sĩ đặt một bước đầu là nhằm ngay tới và đã như sỏ chân vào hia bẩy dặm để tiến tới đài danh vọng. Phải rồi, vượt qua xong Kẽm Trống, không có ai phủ nhận tài năng của Trúc Sĩ được nữa. Không một ai là không thấy bằng lòng khi đọc Trúc Sĩ và trong giới văn nghệ, điều này thật là một diễm phúc...”
. Phân Tích:
Kẽm Trống, miền địa điểm giáp giới nam Bắc Việt, cực bắc Trung. Nơi này hiểm trở, dân Vô Tu chỉ sống bằng nghề cướp bóc. Một lần, thầy đồ Nghệ ra Bắc gặp cô gái Lim Hạ (Bắc Ninh) phải lòng, cưới cho bằng được, đưa nàng về quê quán ra mắt họ hàng. Qua Kẽm Trống bị tên cướp khét tiếng Trương Vi cướp vợ và tiền bạc. Cô đồ Nghệ đành phải lấy Trương Vi. Nàng có sắc đẹp, từng làm thầy đồ Nghệ điên đảo. Cô mang thai, sinh thiếu tháng, đứa bé vàng vọt, xanh xao, cuối cùng Trương Vi bóp hài nhi chết. Một đêm Trương Vi lần vào buồng vợ, cô đồ Nghệ giả điên khóc lóc. Cô Đồ điên giả, thét, gầm, trợn mắt nhìn Trương Vi, miệng sùi bọt mép, tay ôm bụng kêu đau. Trương Vi không biết vợ bị bệnh gì, nàng đòi lập đàn chay, còn phải viết sớ đủ tên những kẻ bị Trương Vi ám hại. Có như vậy oan hồn mới siêu sinh tịnh độ, không còn luẩn quất ám ảnh., Trương Vi ngần ngại và qua lời nói ngọt ngào của vợ: - chẳng hạn chỉ có hai vợ chồng mình biết, chuyện này làm sao lọt đến tai ai? Chính tay vợ chồng đốt sớ do Trương Vi viết ra, có gì phải sợ? Cũng vì thương vợ bị oan hồn ám ảnh, Trương Vi đành chiều theo. Nhớ lại một tay Trương Vi đã giết 150 mạng, không quên bỏ sót một ai. Một buổi gần Tết, Trương Vi đem cặp gà về, báo cho vợ biết, nay mai vợ chồng thợ bạc bị bắt sẽ là vật tế thần. Cô Đồ Nghệ lẻn lên huyện báo cáo với tấm sớ Trương Vi giết 150 mạng người, và mai đây đến lượt vợ chồng anh thợ bạc. Quan huyện sai lính bắt Trương Vi tại trận, khi tướng cướp đang trên đường đi tìm cô Đồ Nghệ. Tướng cướp, bất ngờ bắt gặp vợ trong đám quan quân ấy. Quan huyện ra lệnh bắt tất cả dân làng Vô Tu, chỉ trừ đàn bà, nhốt trong hang Kẽm Trống. Từ đấy dân yên ổn làm ăn, đổi tên Đoan Vỹ. Phần hai, Trúc Sĩ bố cục khác thường, chính dân làng Đoan Vỹ lại bị cướp bóc. Quan huyện sai đội trưởng vây bắt bọn cướp mới, gồm 13 tên, cả viên chánh tổng, đều bị xử trảm. Cuối cùng, chính đội trưởng lại ám sát chánh án, kết thúc bằng cuộc xử tử đội trưởng năm 1946.
Kẽm Trống của Trúc Sĩ, có phải là: “... bước đầu là nhằm ngay tới và đã như sỏ chân vào hia bẩy dậm để tiến tới đài danh vọng? Phải rồi, vượt qua xong Kẽm Trống, không có ai phủ nhận tài năng của Trúc Sĩ được nữa?...” Bùi Xuân Uyên tán tụng trong bài Tựa đầu sách? Phân tích, đánh giá ở những dòng sau, xin dẫn bạn đọc theo dõi truyện ngắn mang tựa: Giết Chồng Báo Thù Chồng Nhất Linh và Khái Hưng (trong cuốn Anh Phải Sống) (Đời Nay xb trước 1945, sau 1950 NXB Phượng Giang tái bản ở SàiGòn). Cốt truyện như sau:
Liệt, cô gái xinh xắn nhất làng Nghi Hồng, vợ lẽ viên chánh tổng Liệt. Ông Chánh bị ông Bá báo thù, nên sai người giết đốt nhà ông Chánh. Không đủ tang chứng, quan huyện bó tay không thể đưa ra xử. Nhờ lân la, Liệt giả vờ đi hái dâu, biết được chuyện ông Bá Mịch ở Làng Ngang là thủ phạm. Liệt bèn tìm bà Hậu, thân thích Bá Mịch để dò la nguyên ủy. Liệt giả vờ sang nhà mua dâu, nhiều lần mua, thành khách quen. Thấy Liệt đẹp, ngoan, hay làm, Bà Hậu rất quí mến. Một hôm, Liệt nhờ Bà Hậu đưa sang nhà Bá Mịch vay thóc, Liệt trang điểm bằng cách dùng nhánh hoa hồng thoa nát bôi lên má hồng. Vẻ tình tứ của Liệt khiến ông Bá Mịch say mê điên cuồng, đòi cưới làm vợ. Đêm hợp cẩn, ông Bá Mịch vào buồng, nàng kêu đau bụng, nói nhảm nhí, đặt chuyện như có hai, ba hồn ma quanh đây chờ giết nàng. Ông Bá Mịch gọi thầy gieo quẻ do Liệt yêu cầu. Cô thầy cho biết nhà này bị ma ám, cần lập đàn giải oan hồn lẩn quất. Ông Bá Mịch phải tự viết tên đã sát hại ai, trong đó có Chánh Cốc, rồi lập đàn chay giải oan hồn Liệt còn cho biết muốn chính xác, cần phải làm sớ ghi tên oan hồn, thì giải oan mới ý nghĩa. Tờ sớ ấy sẽ do chính tay Liệt đốt, làm sao bí mật lộ ra ngoài. Nghe bùi tai ông Bá viết tên, tuổi những kẻ bị sát hại rồi gấp lại, đưa cho vợ. Liệt bỏ tờ sớ vào yếm thắm, lấy tờ giả đốt. Sau đó, Liệt bỏ nhà đi, ông Bá Mịch cho người tìm, chưa ai bắt gặp nàng ở đâu? Bỗng một hôm quan quân huyện đem súng ống về làng bắt ông Bá Mịch. Vào hầu, quan huyện hỏi ông Bá Mịch chối hết mực, đến khi Liệt bước vào, ông Bá không thể cãi đành kêu lên: Nó giết tôi rồi! Dân làng khen Liệt có lòng với chồng cũ, trả thù giải oan vong hồn Chánh Cốc.
Vậy Kẽm Trống của Trúc Sĩ, chính là Giết Chồng Báo Thù Chồng được viết lại hoàn thành trong một tuần lễ. (16) Việc đạo văn không là điều mới mẻ. Nhìn từ Đông qua Tây, lịch sử văn học các nước chép lại nhiều vụ đạo văn, gần hơn Bến Nước Ngũ Bồ Hoàng Công Khanh xuất bản sau Viễn Khách Hoa Thu là thí dụ. Truyện Anh Phải Sống Nhất Linh và Khái Hưng được một độc giả chép nguyên văn ký Vô Danh gửi dự thi văn chương báo Cần Học, chủ nhiệm Ngũ Văn Bằng vào những năm 1948, 49 ở miền Nam. Tòa soạn mời giám khảo tuyển chọn, sau tác giả truyện Vô Danh chiếm giải nhất và mời người trúng giải đến lãnh thưởng. Tòa báo chờ đã lâu, chưa ai nhận; bỗng nhiên báo Thế Giới Dương Tử Giang đăng bài cho biết: người được giải chính là Nhất Linh và Khái Hưng. Và ban giám khảo mù văn chương giống hệt con mắt mù viết tựa Bùi Xuân Uyên vậy.
Trở lại Kẽm Trống, Bùi Xuân Uyên vô tình rơi vào cạm bẫy. Chủ nhiệm Ngũ Văn Bằng trở thành chủ nhiệm Bùi Xuân Uyên tạp chí Thế Kỷ, coi như tòng phạm vụ đạo văn Trúc Sĩ, thiên tài văn chương đi hia bẩy dậm. Hãy cùng so sánh nhiều đoạn văn trùng lắp Trúc Sĩ qua Kẽm Trống (xuất bản sau khoảng 10 năm) và Giết Chồng Báo Thù Chồng Nhất Linh và Khái Hưng (xuất bản trước, cũng khoảng thời gian trên 10 năm)
Cô Liệt, cô gái xinh nhất làng Nghi Hồng, mở đầu cho truyện ngắn:
“... Liệt nức tiếng là xinh nhất làng Nghi Hồng. Đôi khi quán sớm chợ chiều, cái sắc đẹp tươi tắn, cái vẻ duyên mặn mà của nàng đã làm siêu lòng bao khách đi đường...”.
(Giết Chồng Báo Thù Chồng)
Cô Đồ Nghệ Kẽm Trống, được Trúc Sĩ vẽ lại:
“... Mụ cúi xuống nhìn người con gái. Cái lưng ong nhỏ nhắn uốn mình như cây liễu non trước gió phũ phàng. Mớ tóc tả tơi phất phơ bồng bềnh như sóng mùa thu. Mắt mụ bỗng nheo lại...
Bá Mịch trở thành Trương Vi. Và Trương Vi, hậu thân Bá Mịch. Hành động Bá Mịch đêm hợp cẩn không được cùng Liệt chăn gối, ở Trương Vi có khác hơn, sự xê dịch thời gian và vài tiểu tiết (hơn một năm trời chung sống với cô đồ Nghệ), Liệt đưa Bá Mịch vào tròng:
“... Thế là Liệt vài tháng sau đã nghiễm nhiên là vợ ông Bá. Nhưng từ hôm cưới trở đi, hễ ông Bá vào buồng, nàng ôm bụng kêu trời, kêu đất: Ông ra ngay không thời nó đâm chết tôi bây giờ, tôi đau lắm. Thì có ba đứa nó theo sau ông hai người đàn ông và một người đàn bà, nó đương cầm giáo sắp đâm tôi đấy, mau lên không thời chết cả bây giờ... Một hôm Liệt đón ngõ gọi một người thầy bói vào xem, có cả ông Bá ngồi đó. Cô thầy bói gieo quẻ nói: Nhà này hình như có oan hồn lẩn quát, phải lập đàn giải quyết không thì tai họa, (hôm trước Liệt đã cho tiền dặn phải nói thế thế). Lúc thầy bói đi rồi, Liệt ông Bá lên dươm dướm nước mắt nói : Ông muốn cho tôi sinh nở với ông thời phải đàn giải thoát oan hồn ấy. Tôi quên mất bây giờ mới nghĩ ra. Ừ thì lập đàn chay nhưng cúng ai mới được chứ, chuông trống long tong thế này còn nghĩa lý gì?. Rồi nàng ghé vào tai ông Bá nói: Việc không nên nói cho ai biết. Vậy ông phải làm tờ sớ viết tên tuổi những oan hồn ấy.
– Nhưng đừng cho người ngoài biết mới được.
– Chính vậy, ông viết xong đưa tôi để tôi đem lên cho vào hòm sớ, rồi chính tay tôi đốt, việc này không thể để các nhà sư được, nhỡ lộ thì lôi thôi...”
và trong Kẽm Trống của Trúc Sĩ:
“... Trương lần vào giường vợ. Anh lè nhè nắm lấy tay nàng. Chị ghê tởm đẩy y ra, y chừng đôi mắt đỏ ngầu lẫn kinh ngạc. Chị Trương kêu thét lên, chỉ tay ra phía tối om trong buồng. Anh nhìn lại, có gì đâu? Nhưng hai tay chị cứ chắp lại lạy rối rít, miệng réo tên anh Đồ. Căm giận anh quát to lên một tiếng như muốn trấn át và nhìn chị, chị đã xùi bọt mép ngã ra bên giường hai tay ôm bụng quằn quại... Một lúc lâu nàng tỉnh lại, nhìn anh buồn bã nặng nề kể lể: Nàng trông thấy anh Đồ cùng hai người lái của ngày trước bước vào buồng trong lúc nàng cất tiền vào lạn. Vợ y hổn hển:
– Anh Trương ạ! Anh có thương em thì anh phải lập đàn chay cúng vái cho em mới mong ăn đời ở kiếp với nhau được. Cái thằng Đồ ghê gớm lắm, chính nó giẩy em ngã lăn cho cái thai tuột ra đó. Anh phải làm sớ mà trị nó đi.
Trương đáp:
– Lập đàn cúng thì được, nhưng ai cúng? Chẳng lẽ lại gọi thầy Mo đến để đọc vanh vách tên chúng nó lên để bỏ mẹ cả lũ à?
– Thế thì để ma quỉ ám ảnh em mãi sao? Thế anh không muốn chúng ta sinh nở với nhau sao?
– Nhưng không được, lộ truyện thì chết. Ai dám viết sớ?
– Anh viết vậy. Không cần nhờ ai cả. Ta lập đàn chay kín đáo giữa sân này. Anh viết hết tất cả tên những kẻ nào mà anh đã thịt để rồi giải oan cho chúng. Hồn chúng có tan đi, bấy giờ mình mới yên ổn được.
– Trời ơi! Ai có gan đâu mà kể tên lũ quỉ ấy ra, quan tâm mà bắt được thì chỉ có đầu rơi xuống đất.
– Quan quân nào mà đến đây, ta viết xong xưng tội đốt ngay. Và chính mình cúng lấy mà? Ai biết? Trương đau khổ quá. Đành vậy phải để một ngày mà viết luôn lá sớ ấy. Y đếm trong năm vừa rồi. Vừa đúng 150 mạng, nhất là về tháng chạp...
Liệt báo cáo quan bắt Bá Mịch, cô Đồ Nghệ cáo quan bắt Trương Vi. Cái khác không những bắt cá nhân Bá Mịch, làm ác; còn bắt cả làng:
“... Sáng hôm sau, ông Bá không thấy Liệt đâu? Lão Bá lên đến Phủ, Quan hỏi còn một mực chối, đương gân cổ cãi thì ở buồng bên cạnh Liệt lững thững bước ra, Lão Bá dương mắt nhìn tờ giấy trên có mấy dòng chữ. Lão Bá thấy rõ chữ mình mới viết đêm qua, không thể cãi vào đâu nữa kêu lên: Trời ơi! Nó giết tôi rồi...
Ở Kẽm Trống của Trúc Sĩ:
“... Trong khi đó, Trương Vi tỉnh dậy vào buổi ngọ. Anh tính từng bước đi của Cô Đồ. Trời tối dần, sao bây giờ vẫn chưa về. Anh hốt hoảng và hồ nghi ... (...) Hiệu lệnh truyền xuống. Bốn đội binh (96 người) đủ võ khí nội nhật đến giờ tuất phải bao vây quanh kẽm. Y (Trương) chợt nghĩ trố mắt ra nhìn đám quân quan, sau lưng một kỵ sĩ áo đen. Kìa chẳng phải nó thì còn là ai nữa. Y vùng chạy lên tới chỗ cô đồ Nghệ, cô khanh khách cả cười. Ông (quan huyện) cầm lấy lá sớ của Trương Vi giao cho Nha đọc to lên trước miệng kẽm như gọi oan hồn..”
Kết Luận:
Trúc Sĩ đạo văn, cả cốt truyện mạch văn, chỉ thêm đoạn văn tả sinh hoạt làng Đoan Vỹ thời kháng chiến. Và nhận có tham gia việc xử án, ông cho rằng truyện Kẽm Trống, nếu ai tìm ra trùng hợp vẫn thuật nhi bất tác. Trúc Sĩ có một tác phẩm mà tác phẩm này lại là đạo văn nên không thể coi ông là nhà văn sáng tác được.
TIẾT 4
PHAN PHONG LINH
(1911– 1956)
Tiểu sử:
Sinh 1911 ở Bắc Việt, qua đời ở Sài Gòn vào 1956. Cộng tác với tạp chí Thế kỷ đã xuất bản: Thắng cảnh Việt Nam Qua Thi Ca (1956), và nhiều bài đăng trên tạp chí Thế Kỷ, Giang Sơn (Hà Nội trước 1954), Văn nghệ tập san, Đời Mới, Văn nghệ Tự Do...(Sài Gòn).
Khuynh Hướng:
Ông viết bài chuyên đề văn học diễn tả qua thi ca, (Thắng Cảnh Việt Nam Qua Thi Ca), mục đích làm cho độc giả yêu mến đất nước qua thắng cảnh, kích thích lòng yêu quê hương, đất nước. Gồm 16 bài nói về cảnh đẹp, như Hà Nội, Thành Phố Cổ Loa, Núi Dục Thủy, Động Hương Tích, Đền Kiếp Bạc, Hồ Hoàn Kiếm, Núi Yên Tử, Chùa Thầy, Đền Hùng Vương, Hồ Ba Bể, Văn Miếu, Động Tam Thanh, Vịnh Hạ Long, Sông Bạch Đằng, Núi Tử Trầm, Tây Hồ. Sách viết về danh lam thắng cảnh rất súc tích, kèm ảnh, rất khổ công sưu tầm tài liệu.
Phan Phong Linh làm thơ, thể thất ngôn trường thiên, như: Xuân Viên Lan Tạ (báo Giang Sơn), khuynh hướng hoài vọng dĩ vãng. Tâm trạng là kẻ tân học thấm nhuần sâu sa tư tưởng Khổng, Mạnh, Lão Trang.
Kết Luận:
Xuân Viên Lân Tạ coi như bài thơ hay Phan Phong Linh.
Thi sĩ đưa vào thi ca tâm trạng nên nhìn non sông nghiêng ngửa, nhà tân học chịu ảnh hưởng sâu sa triết học cổ điển này đành bất lực cảnh nước bị xâm lăng, Pháp đặt ách bảo hộ gông cùm trên ba phần đất Việt. Thân phận tác giả tựa như cảnh vật, cây cỏ u buồn, nhuốm vào cả trong danh lam thắng cảnh. Một Thắng Cảnh Việt Nam Qua Thi Ca, giá trị văn học, được xác nhận: “... Không những chỉ có giá trị tồn cổ mà còn giá trị về văn học. Người ta có thể dùng cuốn ấy trích làm những bài tập đọc hay giảng văn trong các trường trung học và tiểu học. Phan Phong Linh đã mang cả tâm hồn yêu nước và yêu văn học để viết nên cuốn Thắng Cảnh Việt Nam Qua Thi Ca. Một cuốn sách hữu ích và trong đó có gần hai trăm trang giấy khổ lớn đã ghi bao hình ảnh đẹp và oai hùng của đất nước”.
Khóc một thi sĩ tài hoa, còn nhiều bài văn khác nữa, ở đây trích bài thơ Vũ Hoàng Chương:
“Hỡi ơi! Lòng đã nát chưa lòng?
Sét vỡ ầm, tin lệ đổ mưa
Tôi gọi, đất vùi phăng tiếng gọi
Anh thưa, trời cướp sống lời thưa
Giường thưa trăng tắt quê còn thiếu
Nhà lạnh thơ ngâm hận có thừa
Ai khóc chàng Phan, đầu chẳng bạc
Riêng ai sầu gửi áng mây đưa.
VŨ HOÀNG CHƯƠNG
Trích thơ Phan Phong Linh.
XUÂN VIÊN LAN TẠ
Một buổi xuân tàn bóng ác phai
Lòng xuân như đượm mốc xuân hoài
Thư trai khép cánh bờ sông vắng
Lặng lẽ bên lan dạo gót hài
Thoang thoảng hương lan quyện gió chiều
Nhẹ nhàng hồn khách những phiêu diêu
Hoa trang ghé hỏi ai là chủ?
Gốc liễu ao sen khóm tiểu kiều
Lão trượng tiên phong tóc bạc phơ
Hao hao như đã gặp bao giờ?
Tiên sinh chắc hẳn người quen trước
Hội ngộ thân sau vẫn đợi chờ
Khói trà cao thấp chuyện xa gần
Luận hết thanh tao giữa tục trần.
Ưa thú thăm lan, lòng đã giải
Giang tay đưa khách tới vườn xuân
Yêu kiều bạch ngọc vẽ băng trong
Khép cánh còn e nỗi thẹn thùng
Đâu phải dưới trần không kẻ biết
Nỗi riêng còn ngậm mối tình trung.
Trần mộng êm đềm trong giấc mơ
Hồng quần mầu lấy nhuộm bao giờ?
Nỗi riêng chắc muốn quên niềm tục.
Cuộc thế xem ra mới hững hờ.
Trinh bạch ai hơn ả Tố Tâm?
Lòng băng còn đợi khách tri âm
Dịu dàng lá trắng pha xanh nhạt
Để thẹn cho ai chót lỡ lầm.
Lá uốn cong cong hoa trắng tinh
Nhị kiều diễm lệ gợi xuân tình
Gió đông cũng khó lưu người đẹp
Đông Tước nên xin nguyện chẳng thành.
Nhất điểm ai làm ố tấm thân
Ngờ đâu dạn mặt với phong trần
Mang danh hội điểm đời mai mỉa
Bướm lại ong qua biết mấy lần.
Giận đời ô trọc mê man
Nên mới say sưa rượu đánh tràn
Thanh khiết đã không người hiểu biết
Mặc ai mai mỉa Túy ông Lan.
Kẽ lá ai đem miến bạc vàng
Phô trương chỉ mãi cái giàu sang
Ngân biên với lại kim biên ấy
Sao chẳng đem khoe vẻ dịu dàng!
Lơi lả phong lan rủ trước mành
Thanh lan lặng lẽ giãi lòng xanh
Đông lan quê kệch mầu nâu nhạt
So với hoàng lan há thẹn mình.
Tưởng được quanh năm đón chúa xuân
Đổi thay nào biết đã bao lần
Tứ thời vẫn đậm phô mầu tía
Ngạo nghễ coi khinh cuộc chuyển vần.
Phân kiếm lăm le giơ Kiếm Trần
Ngang tàng như muốn chọc tường vân
Thư sinh Tử Cán hồn phong nhã
Ưu thú thanh nhàn lắng giọng văn.
Ủ lãm mầu đen đóa mặc lan
Phải chi rầu rĩ tiếc xuân tàn
Cát tường ngẫm phận lòng ngao ngán
Thắc mắc khôn khuây chuyện cũ càng.
Rầu rĩ xuân nay dõi lối xưa
Rêu phong bụi phủ lá dầm mưa
Cổ cao hơn thước lan tàn tạ
Đâu bóng tri âm nắng đợi chờ.
Biến thầm một cuộc giặc Hoàng Lương
Dấu vết hằng in cảnh nhiễu nhương
Cột cháy, tường trơ, nhà mái sập
Hoang tàn tô đạm nét tang thương.
Tâm sự bây giờ ngỏ với ai?
Hương lan cao quí đã đành phai
Khóc hoa dầu chẳng như người trước
Lòng cũng bâng khuâng nặng cảm hoài.
1954
PHAN PHONG LINH
TIẾT 5.
KẾT LUẬN VỀ NHÓM THẾ KỶ
Nhóm Thế Kỷ tuy chưa tạo được thành tích văn học ghi mốc như các nhóm văn tiền chiến, Tự Lực Văn Đoàn, Hàn Thuyên... nhưng với khoảng thời gian trên dưới năm năm, nhóm ấy dấu ấn khá sâu đậm nền văn học đương đại. Công hàng đầu, phải kể Bùi Xuân Uyên, chủ trương tạp chí Thế Kỷ và các cây bút chủ lực như: Ái Nhã, Phan Phong Linh, Triều Đẩu, Tạ Tỵ, Hoàng Chu Ngạc v.v... Và tạp chí này đăng truyện ngắn đầu tiên của Toàn Phong.
Nếu không có tạp chí Thế Kỷ, chưa hẳn có Triều Đẩu. Hoặc Tạ Tỵ lối viết truyện ngắn sâu sắc, thám hiểm nội tâm, nhân vật rất sống động. Phan Phong Linh, qua một số bài, chưa đủ tạo một bản sắc đầy đủ tài năng phát triển; phải đợi khi xuất bản Thắng Cảnh Việt Nam Qua Thi Ca, Phan Phong Linh mới đủ độ chín là một thi nhân tài hoa, bạc mệnh.
Trúc Sĩ nhà văn chưa là nhà văn, tác phẩm duy nhất được tán tụng Kẽm Trống, lại không phải của ông. (Người đạo văn muốn trở thành nhà văn – nhưng chưa là nhà văn được).
Kỹ XIII
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
PHẦN THỨ NHẤT
MIỀN BẮC 1950 – 1954
(Quốc Gia Việt Nam)
CHƯƠNG HAI
SƠ LƯỢC VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP
Tiết 1. SƠ LƯỢC VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP.
Bình diện văn nghệ thời kỳ này, chia ra làm hai: vùng kháng chiến (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) ở ngoài khu - miền còn lại trong các thành phố gọi là Quốc Gia Việt Nam. (trong lồng son Liên Hiệp Pháp). Giai đoạn 1946 đến 1950, một số nhà văn kháng chiến tham gia kháng chiến trở về Thành được nhắc tới trong này. Phải xác nhận một điều, đa số những nhà văn nổi tiếng từ tiền chiến hoặc tiền - kháng - chiến còn ở ngoài. Thêm một số nhà văn khởi nghiệp từ cuối thập niên bốn mươi, thập niên năm mươi vào nghề: như Triều Đẩu, Nguyễn Minh Lang, Sao Mai, Hoàng Công Khanh, Huy Quang, Nguyễn Thiệu Giang, Hiệp Nhân, Thanh Hữu, Thanh Bình, Thùy Linh, Nguyễn Hoàng Quân, Sao Mai v.v... Gọi là nhà văn buông lỏng tâm tình, còn có ý nghĩa lấy nghề cầm bút kiếm sống và danh vọng – nhưng tác phẩm chỉ là giải trí cho độc giả đô thị. Họ là nhà văn viết không chủ đích, chí hướng, lập trường - loại này văn học Pháp gọi là tài hoa son trẻ kiểu roman rose. Trong đống rác văn chương son trẻ, cũng lựa được một số đóa hoa đẹp, tươi thắm hương sắc, tạo cho bình diện văn nghệ giai đoạn 1950–1954 khởi sắc.
- Lãng Mạn Buông Lỏng.
Nhà văn tâm tình nặng về tình cảm tâm lý chung chung, sao chép hình tượng, cảm xúc, cốt tạo gây cấn ăn khách; hoặc cũng có thể dùng mánh khóe viết lách kích thích dục vọng để tác phẩm thành ly kỳ hấp dẫn. Đó hẳn không là sáng tác có hình tượng mới thời đại.
- Tâm Tình Tiến Bộ.
Là nhà văn có tác phẩm mà sáng tác khai thác hình tượng sống mới, nhưng không có chủ đề nghệ thuật. Tác phẩm hòa nhịp tình cảm cá nhân cùng xã hội, tuy họ sống trong đô thị, tư tưởng hướng về kháng chiến, và cho có chính nghĩa.
- Lãng Mạn Đấu Tranh.
Tác phẩm các nhà văn này, ở đó mới hòa nhịp có tình cảm tiến bộ cá nhân với xã hội. Lối văn này Maxime Gorki định nghĩa: biến thể ở văn học tả chân xã hội. Như chúng tôi phân tích trong tập 2; Nhà văn kháng chiến chủ lực và Nhà văn miền Nam 1945–1950, bàn về các nhà văn chuyên nghiệp tiền chiến, tiền - kháng - chiến, chiến sĩ văn không chuyên và nhà văn kháng chiến Nam Bộ: Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Hoàng Tấn, Bình Nguyên Lộc, Thẩm Thệ Hà, Hoàng Tố Nguyên, Dương Tử Giang v.v... Trong chương này dành riêng từng tiết bàn về nhà văn điển hình Nguyễn Minh Lang, Hoàng Công Khanh, Văn An, Thanh Hữu, Huy Sơn...
Tiết 2. TIỂU MỤC
Trong tiết viết sơ lược nhà văn, nhà thơ thuộc ba chủng loại. Trước hết là nhà văn tiền chiến sót lại mà chưa nói đến trong tập 1: Nhà Văn Tiền Chiến 1930 - 1945, hoặc đang sống trong Thành (Hà Nội) hoặc trong vùng kháng chiến. Rồi bàn đến nhà văn mới nổi từ năm 1948, 1949, 1950; hiện sống ở miền Bắc (Quốc Gia Việt Nam).
a. Nhà Văn Tiền Chiến còn sót lại:
Nhà văn, thơ được nhắc ở tiểu mục này: Bạch Diện, Văn Thuật, Mai–Lâm–Nguyễn Đắc–Lộc, Nguyễn Tố.
1. BẠCH DIỆN
Tên thật Nguyễn Văn Cư. Không rõ năm sinh. Tác giả nhiều truyện dã sử đăng trên nhật báo Liên Hiệp (Chủ nhiệm Soubrier Văn Tuyên), Giang Sơn (CN Hoàng Cơ Bình xuất bản ở Hà Nội từ 1950). Đã in: Việt Nam Quốc Dân Đảng (Hà Nội, 1951) sách biên khảo nói về Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Xứ Nhu... đảng quốc gia bị xử tử hình ở Yên Bái vào 1932. Tác giả là đảng viên VNQDĐ, nhờ am hiểu cơ chế tổ chức, cuốn sách có giá trị cao về tài liệu xác thực lịch sử một đảng phái quốc gia. Truyện dã sử, viết theo lối truyện dài đăng báo hàng ngày (feuilleton) rất ăn khách. Như chúng tôi gọi, tác phẩm kiếm cơm mục đích giải trí cho người đọc. Cùng thời với ông: Trương Linh Tử, Nguyễn Quỳnh… tác giả có truyện dài feuilleton ăn khách một thời ở Hà Nội vào thập niên năm mươi.
2. Mai Lâm–NGUYỄN–ĐẮC LỘC: (1897–1975) Sinh 1897 ở Hà Nam. Học qua Trường Trung Học Bảo Hộ khóa 1915 – 1918. Sang Pháp 1926 viết báo Việt Nam Hồn, ký bút hiệu Nguyễn Càn Khôn. Về nước viết cho báo: L’Argus Indochinois (1927), L’Ami du Peuple 1930), L’Union Indochinois (1934)... Sau 1950, viết cho tuần báo Cải Tạo (Chủ nhiệm: Phạm Văn Thụ, Hà Nội) và là chủ nhiệm báo Tân Dân (Hà Nội đến Sài Gòn). Tác phẩm: Mộng Xuân... (Hà Nội 1954 truyện dài). Sau Hai Mười Năm (Sài Gòn, 1964, hồi ký lịch sử)... Bối cảnh Mộng Xuân..., tác giả lên án xã hội bị thống trị, thanh niên sống không lý tưởng, thả lỏng mục đích đấu tranh dân tộc tồn vong, sống vì cơm áo, vợ đẹp, con khôn. Theo tác giả, muốn đạt mục đích này, thanh niên chỉ còn cách vùi đầu trong đường cam chịu nô lệ. Tác giả đưa ra một nhân vật có lý tưởng trong đám thanh niên Việt Hồng, nêu gương đấu tranh độc lập. Tác giả, một nhà cách mạng chưa là nhà văn; bút pháp văn phong, kỹ thuật dàn dựng nhân vật truyện chưa đạt. Phải nói cho đúng Mộng Xuân... cuốn biên khảo đường lối đấu tranh, cách diễn tả qua văn chương tiểu thuyết chưa thành công.
Ông tự vẫn giữa trưa 30–4–1975 (đường Lê Đại Hành, Sài Gòn 11).
3. NGUYỄN TỐ (19?? – 1958) . – Nhà thơ tiền chiến còn sót lại. Chủ nhiệm tuần báo Giác Ngộ (Hà Nội 1948). Cháu của thi sĩ Tản Đà, trước 1945, chuyên viết báo không nổi danh. Sau 1950, ông cho đăng nhiều thơ tình cảm hoài vọng: Người nổi gio,ù Phóng Đãng... trên báo nhà. Xuất bản: Cuộc tình duyên ngang trái (truyện, Anh Phương, Hà Nội 1954) chỉ là truyện tình cảm, tiểu thuyết giải trí nhất thời. Ông qua đời vào 1958 ở Sài Gòn.
4. VĂN THUẬT.– (19?? – 1958)
Qua đời ở Dalat 1959, không rõ năm sinh. Tác phẩm xuất bản sau tiền chiến: Tôi Mất Con (Hà Nội, 1952), Đời Cô Nhung (truyện, Hà Nội 1952)... Tôi Mất Con đời sống một gia đình lao động, Tác giả chưa chứng tỏ ông là người viết sống sâu sắc về giai cấp này; diễn đạt như giai cấp cao hơn nhìn xuống, chưa hòa đồng. Khác hơn, văn phong nhà văn có giọng văn ve vãn, mị lao động. Văn Thuật là kịch tác gia, tác giả nhiều vở kịch ngắn, dài, được công diễn. Vở kịch mới đăng báo bút danh Bao Công trên nhật báo Giang Sơn. Đời Cô Nhung chưa chứng tỏ được là nhà văn sắc sảo. Nhiều chi tiết khôi hài nhân vật trong truyện theo lối diễu, hề hạ cấp. Văn Thuật viết truyện dài chưa thành công như Triều Đẩu qua Tranh Tối Tranh Sáng. Nhận định về Đời Cô Nhung, được đánh giá như bài viết của Duy Sinh: “... Tác giả mang ra tất cả những hành động ô uế khốn nạn nhất của xã hội, đưa ra bằng những hình ảnh thật khiêu dâm để không giáo dục, không tìm cho họ lối thoát. Tác giả kéo đến năm, sáu lần ván tam cúc lục sở, do tác giả tổ chức...” (Duy Sinh, báo Đời Mới, Sài Gòn).
b. Nhà Văn Tâm Tình Tiến Bộ.
1. MẶC THU (1920 – 2002)
Tên thật Lưu Đức Sinh. Sinh 1920 ở Bắc Việt. Còn ký bút danh Chu Băng Lĩnh mang tựa đề Đảng Cần (Lao Sài Gòn, 19??). Khởi sử viết văn từ ngày đầu kháng chiến. Cộng tác với các báo Đây Sài Gòn xuất bản ở Hà Nội trước 1954. Là một, chủ trương nhật báo Tự Do (Sài Gòn sau 1954) cuối cùng chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ Tự Do (Sài Gòn). Tác phẩm: Thằng Bé Thợ Rèn (Hà Nội, 1953), Bão Biển (1951), Đêm Trừ Tịch (Sài Gòn 1955), Người Chép Sử (1956),...
Tập truyện Bão Biển phản ánh đời sống dân lao động, hầu hết nhân vật lao động chưa bộc lộ cá tính điển hình, kể cả đả phá và ý hướng xây dựng. Tác phẩm nặng chính trị, thiếu nghệ thuật được gọi là tác phẩm văn học. Cũng không thể tin dư luận phê bình văn chương về Bão Biển, tâng bốc quá đáng: “...một đóa hồng đột khởi trên những núi sách tầm thường đang là chướng ngại vật?...”. Tập kịch thơ Người Chép sử trước khi in sách đăng tải trên Văn Nghệ Tự Do. Tác giả dùng tích Kinh Kha sang Tần, nhưng chưa đạt ý thức của người chép sử trung thực. Thơ thiếu chất thơ, kịch thiếu tác động kịch trình diễn. Động tác kịch cần thiết (coup de théâtre) chưa được tác giả vận dụng cho vở kịch cần có là vở kịch nghệ thuật. Viết truyện ngắn, Mặc Thu chứng tỏ tài năng, so với các loại văn khác của ông. Đêm Trừ Tịch tả một nhà văn nghèo không tiền tiêu Tết, chỉ còn giải pháp đốt thật nhiều thuốc cho khói bốc, tan tù túng vây hãm. Tình tiết thật cảm động, khiến người đọc mủi lòng với nhân vật tác giả tạo ra. Ở Tết Con Chó, văn phong chua chát, đau sót, hơi văn, mạnh có sắc thái riêng. Qua đời ở Sài Gòn năm 2002.
2. NGUYỄN ÁI LỮ
Tên thật Nguyễn Duy Nhâm. Sinh 1933 ở Hà Nội. Viết văn vào những năm 1950 khi theo học Trung Học Chuyên khoa Chu Văn An. Tác phẩm đăng rải rác trên báo xuất bản ở Hà Nội: Cải Tạo, Thế Kỷ, Thanh Niên. Tác phẩm: Sóng Gió (Hà Nội 1952), Đường Tự Do (Sài Gòn 1956), đa số là tập truyện. Sóng Gió gồm tám truyện, truyện khá nhất nổi bật : Vắng Bóng Hoa Đào, Mong Đợi, Chân Trời Mới. Tác giả diễn tả vợ thương chồng, dầu anh chồng rất bạc đãi vợ, Hoàng đối với Nhân vẫn là hình ảnh đẹp, lột tả vai nhân vật đàn bà gia đình hồi cư. Ông sở trường về truyện ngắn tâm tình tiến bộ. Nhưng tập truyện Đường Tự Do mới sau này, xuất bản sau này muốn tỏ ra là nhà văn viết văn học chính trị, nên truyện không thuyết phục người đọc. Cũng như Huy Sơn, viết truyện tình cảm hấp dẫn; nhưng qua Trường Ca, gọi là tiểu thuyết chính trị thì thất bại. Muốn làm nhà văn chính trị, ít nhất phải là người am hiểu chính trị, hoặc nhà chính trị mới có viết tác phẩm thành công, nếu không, trở thành sách tuyên truyền ít tác động giá trị văn chương. Cũng như Kỳ Văn Nguyên với tác phẩm gọi là tiểu thuyết chính trị Tìm Về Sinh Lộ vậy.(mặc dầu được giải thưởng quốc gia)
3. KỲ VĂN NGUYÊN
Tên thật Nguyễn Văn Thúy. Sinh 1923 ở Hà Nội. Viết văn từ 1945. Tác phẩm: Những Kẻ Sống Sót (1950, Hà Nội). Bài đăng tải trên báo: Hồ Gươm, Cải Tạo... như: Trên đường chạy loạn, Trăng Đẹp Ngoài Song, Xa Cách Muôn Trùng, Xưa Nay, Chuyện Một Cánh Tay... Năm 1957, xuất bản dài ở Sài Gòn, Tìm Về Sinh Lộ. Tác giả muốn trở thành nhà văn viết tác phẩm nói về văn chương Quốc gia và Cộng sản. Phần chính nghĩa theo tác giả phải thắng, nhưng tác phẩm chưa thuyết phục được người đọc, với văn giới đích thực thì lại càng không. Về mặt đúng lập trường Tìm Về Sinh Lộ được giải thưởng Văn Chương Toàn quốc 1957. Tác giả viết truyện ngắn tâm tình rất hay, như Trăng Đẹp Ngoài Song và số truyện ngắn khác viết vào thời kỳ trước 1954 ở Hà Nội.
4. NHỊ LANG
Tên thật Thái Lãng. Sinh 1921. Từng là con rể nhà văn Nhất Linh. (Nhất Linh còn bút hiệu khác, ít phổ biến Nhị Linh). Tác giả tiểu thuyết Tương Tàn (1953) truyện dài đăng trên nhật báo Quốc Gia (Sài Gòn) mà chính ông là chủ nhiệm kiêm chủ bút. Tương Tàn tiểu thuyết tranh đấu, mô tả xung đột sâu sé giữa hai chủ nghĩa đối lập nhau: Quốc Gia và Cộng sản. Tác phẩm nhà văn chính trị có bút pháp một nhà văn tài năng vừa phải.
5. THANH NAM (1931–1985)
Tên thật Trần Đại Việt. Sinh 1931 ở Nam Định. Tác phẩm: Cuộc đời một thiếu nữ, Lỡ một đời hoa, Biết nhau quá muộn, Sau cơn binh lửa, Em ơi đợi anh về... Tác giả một số tác phẩm tiểu thuyết được ấn hành khoảng trên dưới ba chục. Ông còn làm thơ, viết báo, từng chủ trương tuần báo Thẩm Mỹ ở Sài Gòn với Tô Kiều Ngân trong những năm 1952 – 1954. Truyện dài khuê phòng lãng mạn hạ cấp, đối tượng độc giả là nữ. Thanh Nam viết chung với Nguyễn Minh Lang là một tập truyện. Thời kỳ này (trước 1954 ở Hà Nội); cả hai nhà văn viết truyện để kích thích tình dục, tình tiết gây cấn, éo le câu khách. Tả mối tình tay ba, tay tư, chương một: anh gặp em bất ngờ, chương hai: quen rồi yêu, chương ba: yêu tha thiết nhưng vì hoàn cảnh gia đình, đời sống, hoặc giai cấp thiếu môn đăng hộ đối đành chia tay, hoặc ở người tình thứ ba dẫn đến kết cục thảm khóc. Ở thể loại này, Nguyễn Minh Lang Tình Tuyệt Vọng hoặc Nước Mắt Trong Đêm Mưa, có phần hay, trội hơn, lãng mạn, văn phong hấp dẫn hơn Thanh Nam. Sau 1954 ở Sài Gòn, Thanh Nam đổi cách viết truyện, thành công hơn qua truyện ngắn đặc sắc, hình tượng nhân vật, tâm lý sắc sảo, có cá tính – nhất là truyện ngắn viết từ chất liệu tự sự tác giả. Đó là truyện Sau 18 năm, tả cuộc sống thiếu thời chịu nhiều oan khiên, khổ lụy – mẹ đi lấy chồng, sống với người thân đùm bọc, không tình mẫu tử thiêng liêng chứng tỏ văn phong một nhà văn kinh nghiệm trong nghề. Truyện dài Trăng về Sáng đăng dở dang trên báo, qua những kỳ đã đăng, chưa lên tay. Nhà văn đồng thời với Nguyễn Minh Lang, Vĩnh Lộc, Nguyễn Thiệu Giang, Huy Quang. Qua đời 1985 ở Mỹ.
6. HUY QUANG
Tên thật Vũ Đức Vinh. Sinh 1930 ở Hải Phòng. Tác phẩm: Ngày mai anh trở lại (Cộng lực, Hà Nội, 1951), Đôi Ngả (Thế Giới, 1952), Những Mái Đầu Xanh (Thế Giới, Hà Nội 1954)...
Huy Quang viết tiểu thuyết có bút pháp khô khan, thiếu hấp dẫn, đối thoại nhân vật trong Những Mái Đầu Xanh gò bó, kém tự nhiên, kịch cỡm. Lối xây dựng nhân vật Huy Quang có mẫu người lờ đờ, mệt mỏi, thiếu hơi thở đời sống. Nhân vật chiến binh, phản ánh đời sống quân ngũ, đời học sinh đến quân đội; hẳn chưa có gì nổi bật, sôi động. Trong Đôi Ngả tuy lên tay viết, khi so sánh với tác phẩm đầu tay Những Mái Đầu Xanh; nhưng chưa đủ tạo cho Huy Quang, bản sắc văn chương nhà văn được. Văn phong một tiểu thuyết gia, cho dầu muốn xây dựng nội dung thế nào đi nữa, đầu tiên phải có ma lực thu hút người đọc; Huy Quang thì ngược lại, khô khan, tẻ nhạt – khiến nhớ đến tiền chiến, Nguyễn Đức Quỳnh có điểm giống Huy Quang bây giờ.
7. NGUYỄN THIỆU GIANG
Tên thật Nguyễn Văn Bột. Sinh 1933. Tác phẩm: Nắng cuối thôn (1954), Nụ Cười Đô thị (Hà Nội 1954)... Bạn học cùng trường lớp với Hoàng Song Liêm, Tạ Quang Khôi... sau này cùng đồng nghề văn. Văn phong tiểu thuyết Nguyễn Thiệu Giang hấp dẫn, song tình tiết bố cục truyện chưa hẳn đạt bút pháp triển vọng trở thành nhà văn có cá tính, nếu chỉ căn cứ qua hai cuốn tiểu thuyết đã ra đời.
8. THY THY TỐNG NGỌC.
Tên thật Nguyễn Ngọc. Sinh 1925 ở Hòn Gay. Tác phẩm: Khúc Ca Thơ Ấu (Hà Nội 1952), Cu Tý (1953). Truyện viết về thiếu nhi, bởi là người phụ trách Trang Học sinh nhật báo Giang Sơn (Chủ nhiệm: Hoàng Cơ Bình). Tác phẩm nhỏ thường đăng trên các báo ở Hà Nội, ngoài Giang Sơn là Tia Sáng...
Truyện thiếu nhi mang tính chất giáo dục thiếu niên, nhi đồng; chưa nổi ưu điểm đáng ghi nhận. Ông còn viết số bài điểm sách, nhận định tác phẩm Nguyễn Minh Lang, Thanh Nam... . Nội dung điểm sách phê bình quảng cáo, (critique réclamée), như hầu hết bài được gọi là phê bình văn chương Hà Nội thời ấy. Xưa kia, Trần Trung Phương từng chủ trương Trang học sinh dành cho thiếu niên, học sinh; sau trở thành nhà văn tiếng tăm – thì Thy Thy Tống Ngọc hậu chiến phụ trách Trang học sinh nhật báo Giang Sơn mới chỉ thành một Trần Trung Phương viết về thiếu nhi yếu kém.
9. NGUYỄN HOÀNG QUÂN. – (1930–197?)
Tên thật Nguyễn Kiêm Quát. Sinh 1930 ở Sơn Tây. Tác phẩm: Khi Hoàng Hôn Xuống (Hà Nội, 1954), truyện dài Ly Sao, (đăng tải trên nhật báo Liên Hiệp, Hà Nội), Hoàng Ca, thơ 1951), Chồng Em Tòng Quân, Hương Cỏ Vàng, Kiều Thu đã xuất bản thành sách...
Truyện dài Khi Hoàng Hôn Xuống, Ly Sao, bối cảnh là người tản cư, vào 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ ở lên mạn Hòa Bình. Chàng trai Thủ đô Hà Nội gặp nàng sơn nữ yêu nhau, dưới ngọn bút tài hoa nhà văn; lột tả nhân vật có nhiều cá tính, khám phá hình tượng sống rất mới qua Noọng Hà (Noọng, tiếng Thái là em). Nhân vật lấy bối cảnh ở miền sơn cước này không giống như thời đoạn sống, cảm nghĩ của nhân vật đường rừng các nhà văn tiền chiến viết về đường rừng như Lan Khai, Tchya, Thế Lữ…
Từ Nẻo Về, qua Ly Sao, hay Khi Hoàng Hôn Xuống, Nguyễn Hoàng Quân viết từa tựa giống nhau, đọc nhân vật của ông, có cảm tưởng như đã khai thác ở đâu rồi.
Nguyễn Hoàng Quân còn làm thơ, tập Hoàng Ca, xuất bản trước tiểu thuyết. Thơ ông gây được xúc động, tâm hồn tế nhị khôn hàn, nếu phải so sánh để chọn giữa Nguyễn Hoàng Quân nhà văn hay là nhà thơ, thì Nguyễn Hoàng Quân chân tài của một thi nhân làm giầu cho thi ca hậu chiến không phải nhỏ!
Trích thơ:
BỮA GẠO CHIỀU
Chân đã mỏi rời lê mấy phố
Bạn bè tình nghĩa có bao nhiêu?
Em tôi mắt nhỏ bên song cửa
Trông đợi tiền đong bữa gạo chiều.
Bụng lép ra đi từ sáng sớm
Mấy thằng bạn kiết kéo chơi rong
Chè tầu thuốc lá la cà sĩ
Bấm bụng cho qua phút đói lòng.
Thiên hạ có đi thì có lại
Kiếp nghèo tình nghĩa cũng bằng không
Bao giờ bẻ bút xoay nghề khác
Em khỏi bên thềm đứng ngóng trông.
Trở về cát bụi đầy hai túi
Em bảo : Chiều nay hết gạo rồi
Chớp chớp hàng mi tôi nói nhỏ
Kinh thành đen bạc lắm em ơi!
Thăm thẳm trời xanh như mắt em
Thơ tôi vàng úa mộng im lìm
Thơ vàng mắt thắm không ra gạo
Gạo hết em ơi vũ trụ chìm!
NGUYỄN HOÀNG QUÂN
(Trích Hoàng Ca)
c. Lãng Mạn Buông Lỏng.
1. HIỆP NHÂN
Tên thật Nguyễn Quý Đôn. Sinh 1932 ở Hà Nội. Khi còn ngồi ghế trường Trung Học Dũng Lạc, Văn Hóa; ông đã viết văn, được sự khích lệ thầy dậy học văn Nguyễn Uyển Diễm. Tác phẩm: Linh Hồn Ngọc (1953). Viết cho các nhật báo: Tia Sáng (Chủ nhiệm: Ngô Vân), tạp chí Thẩm Mỹ (Sài Gòn). Linh Hồn Ngọc, truyện dài đầu tay, chưa phải tác phẩm xuất sắc, nổi trội – nhưng văn phong là nhà văn lãng mạn diễm tình có hạng. Ở lại Hà Nội sau 1954.
2. THÙY LINH
Chưa rõ tên thật, năm sinh đích xác là 1935 hay 1936. Tác phẩm: Trăng Chờ (Hà Nội 1954), Mưa Bóng Mây (Tia Sáng, Hà Nội, 1954). Thùy Linh còn bút hiệu khác: Minh Đức, tác giả tập thơ Hương Mùa Chinh Chiến (Hà Nội, 1952) viết chung với Hồng Anh. Truyện dài Thùy Linh thuộc thể loại tiểu thuyết tâm tình tiến bộ, hình tượng sống thời đại, phản ánh xã hội người Hà Nội hồi cư về Hà Nội những năm trước 1954. Văn phong nhẹ nhàng, lả lướt, mượt mà như tiểu thuyết trong lành Nguyễn Xuân Huy Nắng Đào tiền chiến. Cũng ở lại Hà Nội sau 1954.
3. THANH BÌNH
Tên thật Nguyễn Ngọc Minh. Sinh 1931 ở Bắc Việt. Tác phẩm xuất bản: Gió Sài Gòn, Dập Mưa Vùi (Hà Nội 1953), Mình Còn Trẻ Lắm (Tia Sáng, Hà Nội 1953). Sau 1954, ở Sài Gòn ông còn là tác giả những ca khúc Những Nẻo Đường Việt Nam (đã in) Tiếng Hát Bên Ni, Cung Đàn Tự Do, Gặp Gỡ Duyên Nhau. Nội dung truyện Thanh Bình cùng trong thể loại tiểu thuyết tâm tình xã hội, văn chương vô hại, mục đích giải trí độc giả trung lưu thành thị.
4. VĨNH LỘC
Tên thật Lê Vĩnh Lộc. Sinh 1928 ở Hà Nội, nhưng sống nhiều năm ở Hải Phòng. Chính ở miền duyên hải đã đưa ông vào đường viết văn. Sau vào Nam, ngoài đời ông là công nhân nhà máy. Tác phẩm: Hửng Nắng (Phổ Thông, 1950) Trôi Giạt (truyện dài đăng trọn trên tuần báo Đời Mới, Sài Gòn – (Cn: Trần Văn Ân). Truyện dài Niềm Tin đăng trọn trên tạp chí Đời Mới và rất nhiều truyện dài truyện ngắn đăng trên hầu hết các báo, tạp chí. Trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy (Hà Nội trước 1954) là Aùo Rách, Dì Hạnh, Biển Chiều, trên tạp chí Đời Mới: Lạnh, Mưa Sang Mùa. Vĩnh Lộc còn là tác giả những bài thơ: Buổi Anh Về (đăng trên Đời Mới rất truyền cảm, xúc động. Truyện dài Hương Đắng chưa lấy gì làm nổi trội, bố cục chưa vững chắc, bối cảnh là thời gian kháng chiến, viết về thân phận những kẻ bị tàn tật, thương tích, dầu vậy vẫn cần phải sống hữu ích. Truyện dài Niềm Tin (đăng báo) ông chuyển hướng sang đề tài xã hội, nhưng khi giải quyết hướng cho nhân vật có lập trường sống chiết trung, lại lâm vào cảnh bối rối, nếu không muốn nói có tính chất mị dân.
5. NGUYỄN THẠCH KIÊN
Tên thật Nguyễn Văn Khánh. Sinh 1926, viết báo, viết văn, cộng tác với nhật báo Thời Sự, Thời Báo, nhóm của Trần Trung Dung. Tác phẩm: Hương Lan (Hà Nội, 1951), Mầu Hoa Phượng (đăng trọn trên báo Thời Luận, 1956. (Chủ nhiệm Nghiêm Xuân Thiện). Hương Lan là tập truyện gồm 15 đoản truyện, được xây dựng trong bối cảnh dân thị thành hồi cư về Hà Nội. Chỉ là ghi chép mẫu đời sinh hoạt rất bình thường, không có gì nổi bật, nhân vật không cá tính, tâm lý chung chung, ít khám phá hình tượng sống mới. Truyện dài Mầu Hoa Phượng, đưa nhân vật sinh hoạt trong mặt đảng phái, hội đoàn tranh đấu cho lý tưởng quốc gia. Giá trị văn chương chưa mới. Nguyễn Thạch Kiên làm thơ đượm mầu sắc tôn giáo. Trích dẫn bài Chim Trắng, coi như tài liệu thơ tham khảo.
Trích thơ:
CHIM TRẮNG
Hỡi sứ giả người từ đâu bay lại
Mộng nõn nà trên đôi cánh êm tơ
Vừa trông ngươi cả lòng ta điên dại
Vượt tươi lên như thuở nhỏ trăng thơ
Đời ta lạnh đã nhờ ngươi ấm lại
Hào quang trong chiếu rạng trán ươn hèn
Đường xa thẳm những chiều đau thất bại
Đã quên vì linh cảm bóng đêm đen.
Hỡi chim trắng mông triều thiên sáng chói
Dừng nơi đâu giòng đất mung lung
Đây trần gian nhớp nhơ đời tăm tối
Ngàn năm còn vương chuyển ánh sao rung.
Sao vương mắc như rừng chiều hối lỗi
Ngửng nhìn lên non nước tuyệt mù xa
Buồn thăm thẳm trông về bao giông tố
Lệ nhân lành thương cảm bỗng tuôn ra.
Hỡi chim trắng vội bay về nước biếc
Bãi trần qua vừa một thoáng mong manh
Ta còn đứng suy tìm bao luyến tiếc
Xót sa chiều nắng quái áo phai xanh.
NGUYỄN THẠCH KIÊN
6. HÀ BỈNH TRUNG
Sinh 1922 tại Cao Bằng. Có thời làm chủ bút tạp chí Quê Hương ở Hà Nội trước 1954 (Cn: Bùi Đức Thịnh). Tác phẩm: Răng Đen Ai Nhộm Cho Mình, tiểu thuyết (Hà Nội 1953), Hoa Thơm (dịch thơ Pháp, tự xuất bản, Hà Nội 1952,) Anh Hoa (dịch thơ Anh, tự xuất bản, 1956 Sài Gòn). Luận đề trong tiểu thuyết trên tác giả muốn lý giải sự xâu sé giữa cũ và mới. Một thanh niên thị thành bị hai cô gái cám dỗ, một tỉnh, một quê. Sau Tuân có vợ răng đen là Thi và có tình nhân răng trắng Thiên Hương. Tuần bị Thiên Hương quyến rũ nên ở lại thành thị, sau Tuấn hối cải, trở về với vợ là Thi răng đen cho trọn tình nghĩa vợ chồng. Truyện không có gì đặc sắc, bố cục chưa hợp lý, mất phần cân bằng. Phần đầu truyện, viết rất hấp dẫn, phần sau như là hết vốn, nhạt nhẽo. Ông làm thơ và dịch thơ từ Pháp sang Việt, cuốn thơ dịch khác, từ Anh sang Việt. Thơ Hà Bình Trung nhẹ nhàng, rung cảm, bén nhậy, hồn thơ tế nhị, rung động ngọt ngào.
Trích thơ:
LẠC LOÀI
Lành lạnh mùa thu đã đến
Lá vàng lác đác rơi khô
Ai về Đất Việt xin ghi nhớ
Ta vẫn quay nhìn hướng cố đô.
Thân ở đây mà mộng gửi người
Buồn thu sơ sác lá vàng rơi
Mang mang nhớ tiếc không bờ bến
Những cái hư vô đến lạc loài.
Thân ở đây mà mộng gửi tình
Chim trời khao khát bóng mây xanh
Cây buồn lạnh lẽo phơi sương sám
Đứng tựa ven sông ủ rũ cành.
Gió nhớ mặt sông êm gợn sóng
Tơi bời đường phố lá rơi khô
Vui xa xôi lạc loài không hướng
Mộng gửi mây về chốn cố đô.
1952
HÀ BÌNH TRUN
7. HOÀNG LAN (1914 – 1989)
Tên thật Nguyễn Xuân Huy. Sinh 1914 mất 1989 ở Sài Gòn. Viết cho các nhật báo Giang Sơn (Hà Nội), Tự Do (Sài Gòn, sau 1954)... Phóng sự đăng trên Giang Sơn; Cốc và Cốc, Những Hạt Máu Rơi, Tắc Xình (viết chung với Búa Đanh, Những Cô Gái Muộn Chồng (viết chung với Nguyễn Minh Lang và Thanh Nam), Bí Mật Sân Khấu, Tình Vương Ý Nhạc (phỏng dịch)... Tác phẩm: Tình Vương Ý Nhạc, Sài Gòn 1955... Tình Vương Ý Nhạc phóng tác, tâm lý xã hội được Việt hóa gần gũi với không khí Á Đông. Từ danh xưng nhân vật đối thoại, cảm tưởng chuyện xảy ra đâu đó, Nhật hoặc Trung Hoa. Chính câu chuyện tình éo le lãng mạn này, một soạn giả kịch trường đưa lên sân khấu, diễn; ròng hàng tháng trên sân khấu Kim Chung ở Hà Nội những năm 1952–53.
8. QUỐC ẤN
Trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội, Quốc Ấn xuất hiện qua nhiều truyện ngắn tình cảm xã hội, thì ở miền Nam (Sài Gòn) một Quốc Ấn khác, tác giả tập truyện Vĩ Tuyến XI xuất bản; độc giả nhầm lẫn hai tác giả là một. Quốc Ấn ở Hà Nội với các truyện ngắn tâm lý xã hội: Hương Quê, Người Đi, Trai Hà Nội, Sóng Triều, Cây Đa Bến Cũ... trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, qua văn phong và bối cảnh truyện khác hẳn tác giả Vĩ Tuyến XI. Theo như tài liệu Hồ Nam cho biết, tác giả Quốc Ấn (Hà Nội) bị công an tra tấn đến chết ở Hưng Yên (1953).
9. HOÀI LINH
Có hai tác giả cùng xuất hiện trên văn cùng thời gian (1950–54) ở Hà Nội mang bút hiệu Hoài Linh. Tác giả Hoài Linh trong tiết này không là Hoài Linh (có tên thật Lê Trọng Duật) viết truyện ngắn đăng trên tuần báo Quê Hương (Cn: Bùi Đức Thịnh) ở Hà Nội trước 1954, Việt Chính Sài Gòn. (Cn: Hồ Hán Sơn).
Tạm gọi tác giả này : Hoài Linh (A), có những bài thơ như Gió Nhớ đăng trên T.T.T.B, và truyện Tiếng Đàn Trong Đêm Vắng (Hà Nội, 1952). Hoài Linh (A) xuất hiện trên TTTB với truyện ngắn Sau Trận Bão, nội dung tình cảm xã hội tiến bộ, chứng tỏ nhà văn chân tài. Thơ ông đọc lên đây xúc động, chân thành xót sa:
“... Có nhớ ai sống tha hương lận đận
Quên cuộc đời say thép súng muôn phương
Và hiên ngang cười giữa bãi chiến trường
Hồn theo gió lộng trên đường nghĩa vụ...”
Tiếng Đàn Trong Đêm Vắng tả về cuộc đời đôi thanh niên thiếu nữ yêu nhau khi còn trên ghế nhà trường. Nhân vật nam Đông, nữ Lan; Đông giỏi đàn, Lan hát hay. Một ngày quê hương nổi cơn gió bụi, chiến tranh bùng nổ giữa Pháp Việt, dân chúng thị thành tản cư, Đông và Lan gặp lại nhau ở Cống Thần, phiên chợ Chuông. Khi ấy Đông là chiến sĩ, và trong một trận giao tranh, bị thương, nhưng Lan không hề bỏ rơi, còn săn sóc và tình yêu nên giữa hai người thêm khắng khít. Tác giả đề cao mối tình thủy chung, giữa một xã hội lọc lừa, cả tình yêu đại nghĩa, danh lợi. Họ yêu nhau từ, gắn bó tình và nghĩa đến bây giờ. Nhân vật Lan được mô tả qua vào đoạn văn hay trích dẫn dưới đây:
“... Hai người ngồi yên lặng giây lát cùng nhau thả hồn vào hai ý nghĩ riêng biệt. Một lát sau, Lê Đông nắm chặt bàn tay xinh xắn của Tuyết Lan rồi lần lần sờ lên mặt nàng, mắt nàng, mũi nàng. Chàng âu yếm:
– Mắt em độ này còn đen không em?
Khuôn mặt trái soan lộ dưới ánh đèn tranh tối tranh sáng. Đôi mắt đen nhánh và hai hàm răng trắng xinh xinh, Lan nhìn chồng âu yếm như chờ đội câu trả lời. Đông vẫn dò dẫm bước theo Lan:
– Tùy đấy em ạ. Thế nào cũng được.
Nhưng chàng đổi giọng ngay:
– Nào sắp tới phố rồi, anh bỏ đàn xuống nhé.
Không chờ Lan đáp, Đôn bỏ chiếc giầy đen trên cổ, hạ cây đàn xuống và ngón tay cái như thường lệ, đã quen thuộc với công việc hàng ngày rồi, lướt qua chiếc giây âm điệu...”
Tiếng Đàn Trong Đêm Vắng tác phẩm có nội dung tiến bộ, văn phong nhẹ nhàng của nhà văn còn có tâm hồn thơ. So sánh Hoài Linh (A) với Huy Sơn, Nguyễn Ái Lữ, Hiệp Nhân... thì Hoài Linh (A) qua tiểu thuyết trên, nổi trội hơn hẳn cái đầu.
10. KIM DUNG
Tác giả truyện dài Người Vũ Nữ (Hà Nội, 1954); bối cảnh truyện được xây dựng khung cạnh đô thị, phản ánh một loại hình người nữ làm nghề giải trí cho giới đàn ông lắm tiền nhiều của. Khác với những phóng sự về vũ nữ, chẳng hạn như Tắc Xình của Hoàng - Lan - Nguyễn - Xuân - Huy, viết chung với Nguyễn Minh Lang, Thanh Nam – Người Vũ Nữ của Kim Dung được sắp xếp thành cuốn tiểu thuyết có lớp lang thu vén trong xã hội cỏn con thu nhỏ thật xôi động, đầy tính nhân bản trong văn chương, lại giáo dục được để hướng về chân thiện mỹ. Ngoài ra, tác giả còn tả hành động dã man, chân dung đoàn quân Phát xít Nhật đặt chân lên mảnh đất Việt Nam trong thế chiến thứ hai, cùng bọn mại bản tay sai cấu kết làm băng hoại xã hội; tất cả được phơi bày dưới ngọn bút tài hoa Kim Dung, nhà văn xã hội tiến bộ.
d. Nhà Văn Phóng Sự:
1. – HIỀN NHÂN
Tên thật Đỗ Trọng Quỳnh. Sinh 1907 ở Bắc Việt. Qua đời năm 1999 ở Hà Nội. Nhà báo từ thời tiền chiến, trải qua đa chế độ thực dân Pháp, Nhật, Quốc Gia Việt Nam, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa... 1950, là biên tập viên nhật báo Tia Sáng ở Hà Nội (Cn: Ngô Vân), viết potin hàng ngày trong mục Tiếng Vang, sau những bài này được chọn lọc in thành sách mang tên Tiếng Vang (Hà Nội, 1951). Tiếng Vang gồm 27 truyện, những câu chuyện thời sự sốt dẻo liên quan đến đời sống thường ngày dân chúng thành thị : trí thức, lao động, chính khách, vĩ nhân, đàn bà, đủ loại người với thói hư tật xấu. Giọng văn cay độc, châm biếm, đả phá; nhưng xây dựng; có hướng giáo dục, cảnh tỉnh sự đi xuống của xã hội đương thời. Từ tiếng khóc, nụ cười, luận cổ suy kim, mượn trăng tả mây, dương đông kích tây, như lời ông biện bạch: “... rồi ra nhân loại liệu có thoát khỏi...” thương cho số phận nước nhỏ đem ra làm con cờ thí nghiệm cho nước lớn, đề cao lòng quả cảm của cá nhân ý thức như một người Nhật trong chuyện Một ông Tướng khi đầu hàng Đồng Minh xin chết với đồng bạn... Qua tác phẩm Tiếng Vang, chứng tỏ được là nhà báo có hạng, còn là nhà văn châm biếm hoạt kê, loại phúng thích chính trị sâu sắc.
2. ĐOÀN THU
Tác giả tập phóng sự tạp bút Phồn Hoa Giả Dối (Hà Nội, 1952), Đời (truyện dài (Sài Gòn 1954). Có Triều Đẩu qua Trên Vỉa Hè Hà Nội, đột tả tác phong hỗn loạn xô bồ của người dân thành thị hồi cư về Hà Nội, thì sự bịp bợm của bọn hám danh, hám lợi, hám tình, hư vị... đó là bộ mặt giả dối được Đoàn Thu đưa vào Phồn Hoa Giả Dối. Phải công bằng đánh giá tác phẩm phóng sự này có tính chất văn học cao, thì không thể nhắc đến Phồn Hoa Giả Dối Đoàn Thu và Trên Vỉa Hè Hà Nội Triều Đẩu. Nếu Triều Đẩu chưa thành công qua Tranh Tối Tranh Sáng; Đoàn Thu cũng không khác hơn với Đời, truyện dài xuất bản về sau của ông ở Sài Gòn vào 1954.
Tiết 3. KẾT LUẬN VỀ CÁC NHÀ VĂN VIẾT SƠ LƯỢC.
Hơn ba mươi nhà văn viết sơ lược trong chương này; không là điển hình. Do đó, viết sơ lược, tóm tắt độc giả đủ có khái niệm tổng quan về từng nhà văn. Qua chương sau, bàn đến số nhà văn điển hình, tất nhiên vẫn theo chủ quan của người viết xếp đặt.
Ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève ký kết giữa Pháp và Quốc Gia Việt Nam với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chia Việt Nam thành hai nước. Từ giới tuyến 17 ra ngoài là miền Bắc và từ vĩ tuyến 17 trở vào là miền Nam (sau gọi là Việt Nam Cộng Hòa). Do đó, một số nhà văn giai đoạn 1950 – 1954 ở lại miền Bắc, một số vào Nam. Các tác giả vào Nam vẫn tiếp tục xuất bản tác phẩm; khi nhắc đến họ, chúng tôi có ghi sau tác phẩm: tên, nơi, và năm xuất bản – như vậy người đọc biết rằng tác giả đã vào miền Nam. Những nhà văn này sẽ đề cập đến ở Phần thứ ba: MIỀN NAM 1954–1956.
Kỳ XIV
CHƯƠNG BA
CÁC NHÀ VĂN ĐIỂN HÌNH
Tiết 1 . – KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN ĐIỂN HÌNH
Trong số các nhà văn như Thanh Nam, Huy Quang, Nguyễn Thiệu Giang... với chọn lựa chủ quan, nói đến Nguyễn Minh Lang, như là cách nói một chef de fil (trưởng nhóm) làm điển hình. Như vậy, cũng có ý kiến không đồng tình, trong số những nhà văn trên, tại sao không chọn Thanh Nam thay cho Nguyễn Minh Lang chẳng hạn vậy. Gọi chủ quan, theo ý người viết, nếu chủ quan thô thiển có nghĩa Thanh Nam nổi trội hơn Nguyễn Minh Lang – mà người viết tồi không nhận ra được. Hoặc trong nhà văn như: Hiệp Nhân, Mai Anh, Nguyễn Ái Lữ, Kỳ Văn Nguyên..., chủ quan lấy Huy Sơn làm điển hình, đánh giá kỹ càng hơn, được đưa riêng vào một tiết. Riêng Vũ Khắc Khoan, kịch tác gia, còn viết văn đưa vào Phần thứ ba: miền Nam: 1954–1956.
Khi tập 3 (Nhà Văn Hậu Chiến 1950 – 1956 (Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam) ra mắt trong Loại sách Đại Nam văn hiến của NXB Huyền Trân, Sài Gòn), bản đầu tiên in ronéotypé vào 1959, là đầu trong bộ sách được in ra trước tiên thì các tiết 2, 3, 4 (Chương ba) Nha Thông Tin Nam Việt kiểm duyệt bỏ trọn ba tiết bàn về Hoàng Công Khanh, Sao Mai, và Nguyễn Minh Lang. Đến năm 1973, in lại đầy đủ ba tiết trên – đến nay chưa tìm được Nhà Văn Hậu Chiến nên không thể in trọn ba tiết về ba nhà văn điển hình. Thiếu sót này ngoài ý muốn người viết, ý định viết lại nhưng đành bất khả kháng. Khi viết ở tuổi 27, sau 40 năm không thể viết lại như lần đầu. Đành xin lỗi để trống và chỉ in bổ túc khi Nhà Văn Hậu Chiến (bìa nâu) (17) tìm được. Tuy nhiên trong tập Tổng Luận, chúng tôi đã đánh giá về các nhà văn này rồi. Bản mới nhất này có sửa chữa đôi chút, nhưng nội dung vẫn triệt để tôn trọng ấn bản đầu xuất bản năm 1959.
Tiết 2 - HOÀNG CÔNG KHANH
Tiểu sử.
Tên thật Đoàn Xuân Kiểu. Sinh 1923. Tác phẩm xuất bản: Về Hồ (công diễn 1945 hay 1946, do Lê Văn Vũ Bắc Tiến đạo diễn), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch, 5 màn, Sông Hồng Kịch xã diễn ở Hải Phòng 1953, NXB Kuy Sơn Hà Nội in thành sách 1952?), Cung Phi Điểm Bích, kịch, 3 canh, 1989)... nhiều tiểu thuyết như: Mẹ tối sớm biệt một chiều thu, Trại Tân Bồi (truyện) Chỉ Một Lần (truyện)... Kuy Sơn, Hà Nội trước 1954), Nhạn Lai Hồng (truyện, Hà Nội 1992). Tác phẩm của ông xuất bản 10 cuốn (cho đến năm 1956).
Tiết 3 - SAO MAI
Tiểu sử.
Tên thật Tần Khải Minh. Sinh 15–2–1929. Nguyên quán tỉnh Quảng Đông (Trung Hoa). Hoạt 
động văn nghệ từ trong kháng chiến, biên tập các báo Nam Định (kháng chiến), báo Thủ Đô, công tác văn nghệ ở Liên Khu 3... Về Thành vào khoảng năm 1950, ở Hải Phòng. Tác phẩm: Uất (truyện, 1947), Nhìn Xuống (tiểu thuyết, Hà Nội 1953), Tìm Đất (ký sự, 1966), Làng Cao tiểu thuyết, 1973), Sông Rừng (tiểu thuyết, 1977), Tiếng Gọi Rừng Xa 1990), Mắt Chim Le (tiểu thuyết, 1990)... Sau năm 1955, ở lại Hà Nội, cho xuất bản cuốn ký sự Trại Pa Gô Đốt Hải Phòng (nội dung chống lại cuộc di cư đồng bào miền Bắc vào Nam năm 1954).
Tiết 4 - NGUYỄN MINH LANG.
Tiểu sử.
Tên thật Nguyễn Như Thiện. Sinh 1928 ở Hà Nội. Qua đời năm 2000 ở Hà Nội. Tác phẩm: Hoàng Tử Của Lòng Em (Hà Nội, 1951), Trăng Đồng Quê (tập truyện, Hà Nội 1951), Hoa Dại (tiểu thuyết, Hà Nội 1951), Gái Hà Nội (tiểu thuyết, Hà Nội, 1953) Cánh Hoa Trước Gió (2 tập – tiểu thuyết, Hà Nội 1954), Ánh Sáng Hòa Bình (tập truyện, Hà Nội 1955)...
Tiết 5 - VĂN AN.
Tiểu sử
Tên thật Nguyễn Văn An. Sống ở Hải Phòng, công chức trông coi thư viện. Sinh năm 1931 bạn văn cùng thời với nhà thơ Văn Thế Bảo, Vương Đàm... Tác phẩm: Cô Gái Sông Thao (tiểu thuyết, đăng trọn trên tuần báo Cải Tạo, Hà Nội – Cn: Phạm Văn Thụ, vào năm 1951–52), Điệu Đàn Muôn Thuở (tập truyện, (Nắng Mới Hải Phòng 1953), đa số truyện ngắn đã đăng tải trên các báo ở Hà Nội: Cải Tạo, Giác Ngộ, Thanh Niên. Năm 1954, hiệp định Genève Văn An ở lại miền Bắc.
Phân tích tác phẩm chính.
Giữa truyện dài, truyện ngắn, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn Văn An viết hay lên tay hơn. Điệu Đàn Muôn Thuở gồm năm truyện: Lỗi Hẹn, Điệu Đàn Muôn Thuở, Làm Đĩ, Phũ Phàng, Bến Cũ, truyện đặc sắc là Phũ Phàng và Bến Cũ.
Tả đời nghệ sĩ với cây đàn lang thang khắp phố, ngõ cùng, với ngón đàn hay, cộng dĩ vãng thương đau – nội dung cũ, hình tượng sống vẫn không có gì mới, Điệu Đàn Muôn Thuở như truyện đầu được đưa lên làm tựa sách. Phũ Phàng, nội dung tách hẳn văn phong cũ, nói về thân phận hẩm hiu sống trong xã hội kẻ ăn không hết, người lần không ra. Nhân vật chính là Hoàng, dạy học tư tư thục. Yến vợ nhân vật, thêm cậu bé Tân, chị của Tân là Hằng. Thường ngày Hoàng đi dạy ở tiểu học tư thục, bữa nay là chót Tân phải nộp học phí. Không tiền, tất nhiên bị đuổi học. Hoàng gọi Tân lên, hỏi cho biết lý do, Tân thành thật khai cha mẹ chết, sống với chị, chị đau ốm từ mấy tháng nay không có tiền đóng học phí. Mủi lòng Hoàng, không nỡ đốc thúc, nhưng nhớ tới lời dặn Hiệu trưởng, học trò không nộp học phí phải đuổi. Hơn nữa, hoàn cảnh Hoàng còn không thể bao bọc cho gia đình, vợ đau ốm, thiếu tiền thuốc thang, nên không còn cách gì có thể bao che Tân. Sau giờ tan học, Linh chưa muốn về nhà, lang thang qua phố tình cờ gặp Linh, bạn Hoàng. Linh rủ Hoàng đến nhà chứa, cô gái làm tiền tiếp Hoàng chính là Hằng, chị của Tân. Thân hình tiều tụy, nàng lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo, Hoàng không nỡ ép Hằng làm tình – Nhưng còn Linh, bạn Hoàng lại không vậy, lên tiếng mai mỉa. Dưới đây trích đoạn, tả Tân khất nợ học phí:
“... Tân ấp úng:
– Dạ... con đã nói rồi.
Qua cặp kính trắng, đôi mắt quắc lên:
– Thế thầy mẹ anh định thế nào?
Mặt cúi gầm xuống, trái tim thơ thổn thức:
– Thưa thầy, bố mẹ con chết cả rồi. Con ở với chị con. Mấy tháng nay chị con ốm không đi làm được nên chưa có tiền trả thầy...”
Chị của Tân làm nghề điếm mạt hạng, để nuôi thân còn em dại đi học, nhưng đau ốm vẫn phải lê thân xác hành nghề. Tả đoạn này thật xúc động, Tân trả lời Linh, bạn của Hoàng cật vấn:
“... Dạ thưa thầy chị con ốm.
Mặt Linh xịu xuống:
– Ốm nằm ở đâu? Hay bận khách khác, nói dối?
– Thưa thầy ốm thật... Chị con vào nhà thương làm phúc nằm đến nửa tháng nay rồi.
Hoàng không thể đang tâm hành hạ một em bé qua lời cật vấn của Linh, và đây là lời Hoàng nói với bạn mình:
“... – Anh tàn nhẫn lắm! Có lẽ sung sướng quen nên không thông cảm được với sự đau khổ của người khác. Như với một người con gái giang hồ hy sinh đời mình để gây hạnh phúc cho em, nay đau ốm đã không được ai đoái hoài đến phải vào ở nhà thương thí mà anh còn nỡ mỉa mai họ thế?...
Thầy dạy tư như Hoàng, hoàn cảnh chua xót không kém gái giang hồ là bao. Vợ Hoàng qua đời cũng vì thiếu tiền mua thuốc. Một phần hiệu trưởng tư thục tiểu học không cho Hoàng vay tiền mua thuốc thang cho vợ. Và tác giả lên án xã hội thời được gọi Chính Phủ Quốc Gia cai trị.
Bến Cũ tả chàng thanh niên qua đò sang sông gặp cô lái xinh xắn, xảy ra tình nở vội. Khách lên đường làm cô lái chở khách qua sông nhưng chỉ nhớ một người. Phút lơ đễnh đò đắm, người cứu vớt là thầy phù thủy. Để đền ơn cứu mạng, cô chấp nhận làm vợ thầy. Gã chồng này là tên chơi bời lêu lỏng làm khổ đời cô lái. Ba năm sau, khách một chiến sĩ quen cô lái năm xưa, qua đò không gặp nàng, hỏi mới biết chuyện. Như lời kể, cô lái yêu khách qua sông, yêu mê mệt, vẫn không thấy khách trở lại, hóa điên dại, lơ đễnh để đò đắm, sau đó được thầy phù thủy cứu... Khách cúi đầu nhớ lại. Giọng văn Văn An thật ngọt ngào, mê đắm người đọc:
“... Minh ngồi xích lại.
– Thế thí dụ có một khách qua đây yêu Thơm, muốn hỏi Thơm làm vợ, Thơm nghĩ sao?
– Em không biết.
Nàng ngồi xa ra. Tim đập mạnh, Minh liều lĩnh nắm lấy tay nàng. Toàn thân người thiếu nữ run bắn. Nàng rút tay về. Giữa lúc ấy bên kia sông văng vẳng tiếng gọi đò. Được dịp cô gái vùng dậy chạy ra ngoài.
– Chết em phải ra chở đò. Mà trời cũng ngớt mưa rồi ông ạ. Minh bàng hoàng đứng lên đi theo. Gió lạnh nhả vào người làm chàng tỉnh táo. Minh hối hận nghĩ đến cử chỉ suồng sã của mình. Mầu đen đã quang. Bầu trời trở lại sáng sửa. Mưa thưa thớt. Chiếc xe đạp ướt đẫm đổ nghiêng bên liếp. Minh bước ra dựng xe lại. Chàng quay nhìn về phía bến. Bóng cô lái nổi bật trên giòng sông trắng xóa. Qua mấy phút lưỡng lự giơ mũ vẫy tay chào cô lái rồi dong xe lên đường. Chàng đi vội vàng dẫm bừa lên cả những vũng nước. Minh muốn đi chóng khuất cái quán, nơi chàng suýt gây ra tội lỗi trong lúc quá bồng bột...”.
Văn An xây dựng tâm lý nhân vật rất khéo, diễn tả tự nhiên hợp tình, hợp lý. Từ cử chỉ e thẹn, cô lái rất yêu, song ngập ngừng: “... Mà trời cũng ngớt mưa rồi ông ạ...”. Thật tuyệt vời! Ông nhận xét thật tỉ mỉ, nắm vững tâm lý nhân vật, thám hiểm nội tâm sâu sắc, như André Gide gọi là aventurier intérieur. Ngọn gió mát lùa qua mặt, đủ cảnh tỉnh giấc mộng dẫn tới hối hận, một tíc tắc làm hại đời cô lái đò. Nhìn ra, mây đen đã trôi đi, mưa ngớt hạt, bầu trời sáng. Minh hấp tấp dắt xe đạp lên đường, không ngoái cổ lại nhìn cô gái đang nổi bật trên dòng sông trắng xóa. Sau đây là hình ảnh ba năm sau, khách chiến sĩ trở lại, không còn tìm thấy cô lái năm xưa. Văn An kết cấu truyện sâu sắc, trong khi chiến sĩ bạn vui vẻ, chỉ Minh âm thầm:
“... Khác với anh em. Minh ngồi yên lặng, tư lự ngắm cây đa cổ thụ trên bến. Con thuyền gỗ cột dưới gốc tre già cằn cổi như nhắc nhở chàng, gợi cho Minh nhớ đến hình ảnh cũ. Chiếc thuyền nan nhỏ bé với bóng dáng cô lái xinh xắn hiện ra trong óc chàng. Lòng rộn ràng những kỷ niệm êm đềm, chàng nhỏm dậy đến ngồi cạnh ông lái...”
Nhân vật Đại Triều Đẩu trong Ảnh và Hưởng chỉ khen cô lái cổ cao ba ngấn gánh nước, câu khen bâng quơ –cô lái cảm động chẻ ống để dành tiền sắm sửa trưng diện, quyết định gánh hoài, gánh mãi, cho đến khi nào cạn cả Hồ Tây, để nhìn thấy chàng học sinh khen mình... thì đây chỉ câu nói bâng quơ, một cái nắm tay liều lĩnh, cô lái đò điên dại làm uổng phí cuộc đời. Sau này nhân vật nam hối hận cũng quá muộn. Văn An như Triều Đẩu cảnh giác tình yêu không thể đùa, yêu chân thành dẫn đến thảm khốc. Văn An cho độc giả thưởng thức đoạn văn hay cách mượt mà:
“... Phải đấy. Trước kia bến này vẫn chỉ chở bằng thuyền nan. Nhưng từ dạo cái Thơm làm đắm thuyền, rồi có thầy phù thủy qua đấy cho biết rõ con thủy quái lạc về nhũng nhiễu. Làng sợ xảy ra tai nạn đắm, nên phải sắm thuyền gỗ chắc chắn.
Minh sửng sốt vội hỏi:
– Cô Thơm làm đắm thuyền?
Ông lái chép miệng:
– Chính nó làm đắm thuyền. Con bé ấy có tiếng là ngoan ngoãn và đẹp nhất làng đấy ông ạ. Không hiểu sao, sau cái hôm mưa to gió lớn, nó tự dưng sinh ra ngẩn ngơ như người mất hồn, chẳng chịu làm ăn gì cả, cứ nằng nặc xin ra chở thuyền thay ông bác. Chiều chiều, người ta thường bắt gặp nó đứng thẫn thờ nhìn về phía xa như ngóng đợi cái gì. Mặt nó lúc nào cũng rầu rĩ. Nhiều lúc nó ngồi ôm mặt khóc một mình. Bố mẹ, anh em hỏi nó duyên cớ làm sao, nó nhất định không nói. Rồi một đêm đang ngủ, nó vùng dậy lén ra đây rồi con thuyền lật úp. May có thầy phù thủy đi qua, nhảy xuống sông cứu được. Ông ta bảo con quái vật ở sông này làm đấy. Sau phải lập đền khử trà ma. Bố mẹ nó mới ép nó lấy ông ta để đền ơn...”
Nào ai biết được tình cô lái, nếu không là Minh và Thơm. Tình yêu cô lái, chỉ Minh biết. Tác giả dẫn câu chuyện ra làm ẩn dụ nhắc nhở: Rượu ái tình ngọt mà chua, tuy chua chẳng dễ tránh nổi! Tình yêu được diễn tả qua nhiều hình tượng khác nhau, ở đây Bến Cũ của Văn An là truyện đặc sắc hiếm thấy!
Kết luận
Là nhà văn cùng thời với Văn Thế Bảo, Vương Đàm, như trên đã nhắc. Truyện ngắn Văn An qua Điệu Đàn Muôn Thuở, chủ quan nhận định của chúng tôi, ông có địa vị là nhà văn hàng đầu. Dư luận phê bình tác phẩm hay trên lại chỉ qua bài điểm sách công kênh tài năng, nên Văn An bị chìm vào lãng quên. Xưa kia nền văn học Nga (thời Nga Hoàng) F. Dostoievskï không được số nhà phê bình công tâm bàn tới, như Biélinsky chẳng hạn, chắc chắn tài năng bất tử của Dostoievskï chưa chắc gì được truyền tụng đến bây giờ.
Tiết 6 - THANH HỮU (1928–1994)
Tiểu sử.
Tên thật Lê Trung Hậu. Sinh 1928 ở Hà Nội, qua đời ở Sài Gòn năm 1994. Trong giấy tờ tùy thân, năm sinh đề 1933. Bắt đầu viết văn từ khi kháng chiến bùng nổ. Tác giả Vác Bom Ba Càng (trong Tập Văn Cách Mạng và Kháng chiến 1947). Về Thành 1952, viết phóng sự về đời sống kháng chiến dưới bút danh Dân Tâm, và truyện ngắn đăng tải trên các nhật báo Tia Sáng, Liên Hiệp, Nhân Quyền... ký Thanh Hữu. Năm 1954 di cư vào Nam, làm chủ bút nhật báo Thời Đại (Cn: Nguyễn Thành Danh), biên tập viên tuần báo Việt Chính (Cn: Hồ Hán Sơn), và bài vở đăng trên các tạp chí Sinh Lực, Văn Nghệ Tập San, Cải Tiến, Tạp chí Sống của Ngô Trọng Hiếu...
2. Tác phẩm
Chuyện Tình Người Sinh Viên (Tia Sáng, Hà Nội 1952), Đợi Anh Về (truyện dài đăng tải trên Tia Sáng, sau Hiến Nam xb, Hà Nội 1953)... Chồng Tôi Muốn Sống (Yên Sơn, Hà Nội 1954). Một số truyện dài khác đăng tải trên Tia Sáng đặc san (Cn: Ngô Vân), như Miếng Cơm Manh Áo, đăng trên nhật báo Thời Đại; Chuyện chân thật trên Sinh Lực. Truyện sau cùng này vẫn tiếp tục đăng, khi chúng tôi viết về ông. Thanh Hữu viết rất nhiều truyện ngắn như Âm Nhạc. Truyện một Tâm Hồn, Hoa Hướng Dương, Cô Mịch, Một Chân Tình...
Phân tích tác phẩm chính:
Hầu hết những truyện của Thanh Hữu thiên về tâm tình xã hội. Tác phẩm mang chủ đề xã hội thật sâu sắc, như tả trong Miếng Cơm Manh Áo (báo bị đình bản ngưng nửa chừng). Ông châm biếm sự lố lắng đàn bà Việt Nam ở thành thị chịu ảnh hưởng Tây Phương trong truyện ngắn Cô Mịch. Truyện tâm lý xã hội có hình tượng mới, không sao chép theo khuôn sáo cũ như đa số tiểu thuyết thể hiện theo phong cách cảm nghĩ nhân vật tiền chiến. Truyện dài Đợi Anh Về, thể hiện xu hướng tâm tình xã hội có hình tượng mới thời đại. Trong Đợi Anh Về, tả một văn nghệ sĩ về Cổ Nghĩa thăm gia đình, rồi gặp Khánh, em họ của Phụng. Khánh và Thanh quen nhau, rồi họ thân thiết càng hơn. Họ lấy nhau, chẳng được lâu, bởi bà Thoại âm mưu chia rẽ. Tung tin Thanh qua đời ở mặt trận, khiến Khánh lo lắng đến trụy thai. Rồi Thanh và Phụng gặp lại nhau, sau cả hai dinh tê về Hà Nội, rồi gặp Chí làm công chức ở Phủ Thủ hiến. Thanh buồn bã nghe tin Khánh lấy chồng, và chính Thanh bắt gặp Khánh cùng chồng dạo ngoài phố. Thanh cặp với vũ nữ tên Kim, nhưng biết Thanh không thương mình, còn chuyện tình cũ, sau Khánh bỏ đi, thì Thanh lại theo đuổi Khánh, kết thúc hai người gặp lại sắp hòa hợp, một tin sét xảy đến, Khánh qua đời.
Mục đích, tác giả lên án xã hội Chính phủ Quốc Gia bù nhìn; thân phận người dân lao đao, bị vây bủa. Nhân vật chán kháng chiến về Thành, về rồi chẳng khá hơn, chẳng còn mục đích sống. Nhân vật Thanh là chất liệu sống chính tác giả đưa vào truyện, một protagoniste trong truyện Đợi Anh Về. Đời sống dân trong kháng chiến và trong Thành; được tác giả tả lại thật sinh động, nhiều kinh nghiệm sống được phơi bầy qua cảm xúc, hình tượng mới. Tả Khánh sau khi được Thanh cứu thoát qua tai nạn máy bay bỏ bom. Khánh thổ lộ tình yêu:
“... Có lẽ hiểu rõ cô rõ rệt không ai bằng anh, ra ngoài này anh nói chuyện.
Phụng nói rồi đứng dậy, Khánh đi theo. Cả hai rẽ vào phòng trà Đống Đa, Phụng gọi:
– Cho chúng tôi hai tách cà phê nhỏ.
Phụng rút bao thuốc lá nội hóa hút một hơi. Xong phút im lặng, giọng anh nhỏ dần bảo Khánh:
– Cô đừng dấu anh. Đứng bên ngoài anh biết lắm. Cô đã cảm Thanh.
Như một người sắp chết đuối với được mảnh ván, Khánh gục mặt xuống bàn:
– Thưa Anh, thưa anh...
– Đừng dấu anh làm gì, cô không giấu nổi anh đâu?
– Thưa anh vâng...
Tình cảm dân kháng chiến đối với lính thật thấm thiết, Thanh Hữu ghi chân tình; hình tượng phong thái mới của một thời đoạn sống:
“... Rồi nàng sốc nách cho Thanh đứng lên. Anh loạng choạng bước theo Khánh, người nóng như lửa đốt. Hơi nóng ấy truyền sang da thịt Khánh làm người nàng chín rừ. Bà hàng nước ái ngại, vội đưa ra chiếc gậy: – ủng hộ ông chiếc gậy nữa mà đi cho vững này. Rõ trời đất làm cơ khổ...”.
Về xung đột quan điểm hôn nhân giữa già, trẻ:
“... Phụng bực quá. Anh đưa thẳng đôi mắt sáng nhìn khiến bà Thoại phải cúi đầu. Nói là anh đập mới đúng:
– Cụ bảo cơ nghiệp? Thế nào là cơ nghiệp? Thế nào là bấu víu? Nói cụ tha lỗi cho chứ như ý kiến nông nổi của chúng con, chỉ những hạng đàn bà bẻm mép mới nói đến bấu víu, mới nói đến cơ nghiệp. Còn em Khánh con chắc không đời nào?
Bà Nam Sinh không biết nói sao dàn xếp ý kiến giữa bà bạn và một ông cháu...”
Quan niệm luyến ái trên, Thanh Hữu ghi lại cảm nghĩ mới của thời sống mới. Ý kiến cá nhân lớp trẻ thoáng, tiến bộ hơn bảo thủ. Quan niệm lấy chồng bám víu vào, không tự lập, tạo cho bản thân một tư thế độc lập; như bảo thủ quan niệm, ăn sâu vào đầu óc; được tác giả lồng vào nhân vật. Bây giờ đến lúc cô gái rượu được mời lên hỏi ý kiến:
“... Thưa mợ con có tìm ra một tính xấu nào của anh ấy để từ chối nhưng không tìm nổi. Anh ấy giản dị, quý mọi người và được lòng tin tất cả bạn bè. Nên thưa mợ, con bằng lòng...”
Nói về tuần trăng mật một thời đoạn kháng chiến của đôi vợ chồng mới:
“... Trong khi đó, Thanh thuê một chiếc thuyền nhỏ đưa Khánh đi ngắm trăng lên giòng sông Vân Đình. Cặp vợ chồng trẻ nhìn trăng: trăng trải xuống cả một dòng nước mênh mông và gợn lên mấy viền mây trên nền trời Khánh sung sướng ngả đầu vào vai chồng, nũng nịu:
– Em chỉ biết nói là em sung sướng. Ban nãy nếu anh không bảo em đóng kịch thế là còn lúng túng to với các anh ấy...
Thanh cúi xuống hôn trán vợ. Anh nhìn vầng trăng, rồi nhìn dòng nước hỏi:
– Có nghĩ gì không em?
– Em đã bảo em chỉ biết nói là em sung sướng mà. Thế, anh đang nghĩ gì thế?
Thanh trầm ngâm:
– Anh nghĩ rằng anh sẽ viết vào nhật ký tả đêm hạnh phúc đầu tiên của chúng mình rất văn nghệ, rằng: Dòng nước đêm nay lóng lánh những ngấn bạc làm dáng cho bờ tre phải thì thào yêu vụng dấu thầm...”
Giai đoạn hồi cư của Khánh, tác giả tả lại thật linh động. Này nhé, cô em họ nhìn bà chị còn trẻ măng đã có chồng một lần; khi chiến tranh từng giây phút làm người ta lo âu, đáng lý phải già đi hàng chục tuổi; Như Hữu Loan chẳng từng nói lên: ... Lấy chồng đời chiến chinh / Mấy người đi trở lại?. Và nghe Thanh Hữu kể:
“... Khánh tát yêu vào má em:
– Cô mong cho chị chóng chết ư? Thế nào cô em gái của tôi bao giờ cho chị đi xe hoa đấy?
Liên vô tình lườm chị:
– Còn chị đấy! Bao giờ chị đi lấy chồng thì em cũng đi lấy chồng.
Khánh chợt buồn:
– Liên ạ, em có bao giờ nghĩ rằng chị góa chồng rồi không?
Liên sửng sốt hỏi Khánh:
– Ờ, thế mà em không biết ?
Khánh cười cay đắng:
– Chị lấy một chàng văn sĩ hậu phương. Anh ta bị chết bom ở Chợ Chu Thái Nguyên...
Vợ chồng Khánh Chí vào quán cà phê gần rạp xi nê Ciro’s, để người chồng cũ bắt gặp Khánh. Cùng đi với có Phụng. (trang 109). Song đến tiết 5 (trang 112), Thanh Hữu lại mô tả cảnh hậu phương; mà lúc trước không giới thiệu cho độc giả biết Thanh và Phụng đã hồi cư. Nếu tác giả đưa tiết 5 lên trên (trang 112 trước trang 109) độc giả dễ nhận ra không bị ngỡ ngàng. Hình như cũng tự nhận được điều này, nên ở trang 120; tác giả nhắc lại đoạn Thanh và Phụng đã trở về Hà Nội:
“...Trời, anh Thanh.
Vì rõ ràng Thanh còn sống. Anh cũng uống cà phê, nhưng mắt lơ đảng để tận đâu đâu? Mắt Phụng quay lại. Anh cũng trông thấy Khánh rồi...
Ở tiết 5, bắt đầu:
“... Khóa họp có ba tháng thì bế mạc. Trên đường về, đầu tiên là gặp Phụng để hỏi thăm tin tức Khánh...”
Lột tả chân rất đạt, thái độ ti tiện, rắp tâm bắt chồng cũ vào tù, để rảnh rang cướp đoạt vợ người:
“... Dạo này Chí có vẻ nghĩ ngợi lắm và đi vắng luôn. Ngày hai buổi phóng xe mô tô lên Phủ Thủ hiến làm việc, có khi anh đi biệt cả buổi trưa không về...
Và âm mưu của rể mới đối với mẹ vợ:
“... Bà Nam Sinh cười lấy lòng con rể:
– Vì anh yêu nó chứ còn vì gì? Anh này đến lôi thôi.
Nhưng Chí không cười. Anh nói thẳng một hơi làm cho bà choáng người:
– Không mợ ạ. Nó hư hỏng, chứ nào có trinh tuyết (sic) (19) gì cho cam. Này nhé, con nói thật, có phải nhà con đã lấy thằng văn sĩ ở hậu phương?
– Phải
– Thế mà thằng Thanh còn sống, mợ lại nói dối con là chết rồi. Chẳng cần phải dài dòng văn tự gì, con đã đến lúc nói thẳng: chính là vì cái nhà. Bà Nam Sinh giận run lên, nhỏ toạt bãi cốt trầu xuống sân đá hoa mịn màng:
– Đồ đào mỏ.
Chí vẫn cười châm chọc:
– Ồ đào mỏ là một tính tốt chứ sao? Mợ đã biết tin thằng văn sĩ Thanh “ấy đang ngồi sám hối trong Nhà Hỏa Lò Hà Nội”. Chính không phải vì ghen, vì yêu nhà con mà con để nó vào. Chính vì muốn bảo vệ cái nhà này khỏi sang tay người khác nên con phải cho nó vào tù để khuất mắt. Nhưng nhà sắp bán, tình của chúng con hết rồi.
Bà cụ Nam Sinh tái sắc, nói gần như rít lên:
– Anh khốn nạn. Tôi không ngờ anh đểu giả đến thế?
Chí hừm một tiếng khinh bỉ:
– Thế nào là đểu giả? Mợ nhầm, vì tính chuyện buôn vợ chồng này, mợ và nhà con được lãi mới đểu giả chứ!...”
Tác giả xếp đặt nhân vật Thanh về Tề đột ngột, khiến độc giả không biết; lại tới đoạn cho Khánh ly dị với Chí cũng lại đột ngột. Này, Khánh đến thăm Thanh, có một đứa bé đến nhà này cũng đột ngột nữa, vì đứa bé ấy lại nhận được tấm ảnh của Khánh treo trên tường là mợ (mẹ). Người đọc có cảm tưởng, khi tác giả viết đến đây, muốn tạo cho độc giả ngạc nhiên, kiểu cú đột biến của màn kịch đang diễn ra. Nhưng chính vậy, lại không là nghệ thuật cao trong tiểu thuyết được dàn dựng:
“... Cậu cháu bảo cháu có mợ. Mợ cháu đấy. cậu cháu bảo mợ cháu ở Phố Hàng Cót, nhưng quên cậu cháu rồi. Mợ cháu đi lấy chồng nên cậu cháu giận lắm...”.
Đoạn tả Khánh và Thanh gặp lại nhau, tác giả dường như muốn trả thù cho nhân vật bị thiệt thòi trong đường tình ái, ông viết với giọng văn thật nghiệt ngã. Nhà văn bị vợ bỏ, đi lấy chồng mới, hồi sau hối hận, biết chồng cũ chưa qua đời, ly dị chồng mới, trở về tái hợp. Hãy thưởng thức đoạn văn hay của tác giả.
“... – Kìa bà lại đội khăn tang. Chúng tôi được anh Phụng cho biết quá muộn nên không kịp đến đưa đám cụ. Kìa, bà ngạc nhiên sao? – Không, không có gì hết. Ở đây, chúng tôi bao giờ cũng chỉ có sự thủy chung và phải sống bằng nó. Tôi và anh Phụng có đến hỏi thăm, nhưng không may chỉ có cô Liên ở nhà. Cô ấy lại bảo bà xuống chơi nên vội về ngay để tiếp. Sao bà lại khóc? Ờ cụ mất đi chỉ là số mệnh như chúng ta xa cách nhau chỉ vì số mệnh. Tôi và anh Phụng đã biết. Nhưng thưa bà không phải chỉ bây giờ mới biết mà thôi đâu. Tôi còn biết sớm hơn kìa, biết từ ngày gặp lại nhau ở quán cà phê Ciro’s. Bà vẫn khóc, ô hay...”
Nhân vật Thanh trong Đợi Anh Về chính là tác giả, một văn nghệ sĩ từ hậu phương trở về hồi cư, là một protagoniste (chính mình đóng vai chính) diễn tả rất sinh động, phong phú. Rất dễ giận, lại dễ làm lành khi tự ái được ve vuốt. Thanh giận vợ cũ lấy chồng, gặp nhau xưng hô bằng bà. Rồi vợ cũ năn nỉ, van xin “trước khi quên em đi, anh hãy gọi em bằng em một lần cuối cùng” (trang 215), Thanh mủi lòng ngay, không còn gọi bằng bà nữa mà: “Khánh ơi! Em tủi và giận anh thật sao?...” (trang 216).
So sánh nhân vật Hồng trong Chồng Tôi Muốn Sống, cũng là văn nghệ sĩ từ hậu phương về sống ở Hà Nội (cũng là phân thân tác giả, đóng vai chính) nhân vật là chàng văn sĩ cũng dễ mủi lòng khi tự ái được vuốt ve. Đây là đoạn văn trong vai phân thân:
“... Vừa nói Hồng vừa gỡ tay Hoài. Nhưng quá tuyệt vọng Hoài níu chặt tay một lấy chân Hồng. Không cho anh đi một bước. Nước mắt Hoài tầm tã, ướt cả quần Hồng. Đời em chỉ chịu quỳ dưới chân anh Hải của em. Em không giữ nổi nữa em không tự dối lòng nữa. Em đã quá yêu rồi...
Trở lại với Đợi Anh Về, tác giả nhấn mạnh không nên đợi anh về, vì thời chiến, “dễ mấy người trở lại”, như câu thơ nào đó ở kháng chiến, nhắc các nàng phải biết đợi chờ. Tác giả tạo lý do chờ đợi:
“... – Không em đừng nên nghĩ vì một lý do gì cả. Nếu em nghĩ rằng đời trai thời loạn, sự sống, chết chỉ là hai chữ đứng bên nhau thì em ơi: Em đừng đợi anh về nữa. Em có thể đi lấy chồng được rồi, nhưng dù sao, cứ nên tâm niệm rằng trên đời này còn có một kẻ tha thiết yêu em...”
Nhà văn là kẻ nhiều tình cảm hơn ai hết với tình yêu vẫn thích được đau khổ, và trong đau khổ cam chịu được kia, có niềm sung sướng âm thầm. Khánh ly dị chồng mới, chờ chồng cũ yêu lại, với Thanh cần phải chờ năm ngày nữa mới trả lời được. Trong năm hôm chờ đợi ấy, tác giả kết thúc bằng lá thư bi đát, báo tin Khánh chết đột ngột.
“... Mùa xuân năm sau, Phụng lại gặp Thanh ở Hải Phòng. Đôi bạn dắt díu nhau vào một bàn khuất tịch. Bé Thảo không líu lo như trước nữa mà im lặng như một cái máy. Phụng nhìn đứa bé chợt hỏi, thì: –Đầu tiên tớ phải báo cho cậu biết tin buồn cô Khánh đã chết...” (...) Thì Thanh đáp: Cậu này, bình tĩnh nghe tớ kể. Mà thôi kể làm gì khi sự đã rồi. Con rắn ấy mà chưa tuyệt nọc thế nào cũng còn nhiều người khổ vì hắn. Hắn (Chí) ra Thành từ sớm hơn ai hết, dùng đồng tiền điều khiển chân tay xưa của hắn lại bắt tớ. Lá thư ở trong tù có nghĩa gì khác là việc âm mưu bắt người trong cảnh phải nại ra lá thư của mình...”
Kết luận đỡ tàn nhẫn, Thanh nại cớ bị Chí bắt bỏ tù lần hai; Rồi Thanh được kiện, thì Chí lại bị tù. Sau khi ra tù, Thanh không hề đến tìm Khánh, Phụng để biết tin về Khánh. Một năm sau vô tình Thanh, Phụng gặp lại ở Hải Phòng, nên Thanh mới trả lời vậy. Thanh vào tù lần đầu, có người săn sóc, lần này giả dụ Thanh có vào tù nữa, hoặc đi Sài Gòn (theo một thư khác gửi cho Khánh) mà chẳng lẽ không ai biết? Thì đó là sự cố ý kết luận: “... ái tình đến với Thanh, Thanh từ chối, ái tình mất là Thanh đuổi theo”. Tác giả quan niệm rằng đời này đầy bỉ ổi, lọc lừa – một khi hối hận chỉ có chết mới đền bù lại phần nào lầm lỗi. Trong Chồng Tôi Muốn Sống Thanh Hữu phân thân nói về đời sống nhà văn ở Hà Nội đau khổ tình yêu hạnh phúc cũng như tình bạn như thế nào? Song chỉ khác một điều, nhân vật Hồng (nữ) thật chung thủy không như Khánh trong Đợi Anh Về. Rồi Hồng lại chết trả nợ đời, bởi nhân vật không phân biệt được chung thủy của Hoài đối với nàng, lối sống vắt tim óc của chồng làm đẹp cuộc đời mà cuộc đời lại quên lãng!
Kết luận.
Tiểu thuyết tâm lý xã hội tiến bộ của Thanh Hữu, qua hai cuốn nói về cuộc sống nhà văn thời kháng chiến, điển hình cho một hình tượng mới được viết về thân phận nhà văn thời loạn. Khác hẳn truyện nhà văn tiền chiến viết về đời họ, cũng lấy nhân vật đời mình làm động lực chính cấu kết thành tác phẩm; nhưng Thanh Hữu làm mới lại trong văn chương tự sự kể, về cái mới đã sống trong kháng chiến, hậu chiến. Nghệ thuật viết Thanh Hữu là của nhà văn giầu lòng nhân ái, văn chương nhân bản trong một bút pháp tài hoa.
Tiết 7 - HUY SƠN
Tiểu sử.
Tên thật Dương Quang Thuận. Sinh 1936 ở Hà Nội. Trên ghế trường trung học tư thục Nguyễn Huệ ở Hà Nội; ông đã viết văn đăng trên các báo Giác Ngộ, Quê Hương, Tia Sáng... Bạn văn đồng lứa là Huyền Giang, Băng Sơn, Vân Long, Song Nhất Nữ, Hồ Nam... Năm 1955 vào Nam - ông viết cho các báo Thời Đại, Việt Chính, Chiến Hữu (Quân đội), thư ký tòa soạn tạp chí Văn Nghệ Tập San (Cn: Nguyễn Đăng Thục), Phụng Sự (Quân đội), Lý Tưởng (tạp chí Không quân)...
Tác phẩm.
Trước Mồ Trinh Nữ (truyện dài, Chính Ký Hà Nội 1954), Anh Đi Ngày Duyên Thắm (Hiến Nam, Hà Nội 1954) (truyện này ký chung với Hoàng Vinh), Thương Em Lạc Hướng Đời (truyện dài, Người Bốn Phương, Sài gòn 1955), Trường Ca (truyện dài, Sài gòn 1956)...
Phân tích.
Viết văn theo xu hướng roman rose, (tiểu thuyết khuê phòng) với mục đích câu khách nữ bậc trung lưu, ở đây được xếp vào tiểu thuyết tâm lý buông lỏng. Trước Mồ Trinh Nữ, loại hình truyện tài hoa son trẻ, tình tiết éo le, ly kỳ, gút mắc; thêm số sáo ngữ lãng mạn xây dựng cốt truyện, như là chuyện tình cấp thấp ăn khách kiểu bình dân. Nếu đem Trước Mồ Trinh Nữ, so với thời gian, thì nhân vật lùi lại ba bốn chục năm, chẳng ai thấy khác. Tất nhiên so sánh vậy, không có nghĩa đem Trước Mồ Trinh Nữ văn chương và nội dung với các tiểu thuyết tình cảm giá trị của tiền chiến. Ba truyện tiếp theo Trước Mồ Trinh Nữ cùng chung duộc (Trường Ca) trừ cuốn sau có chuyển biến đôi chút khác hơn.
Huy Sơn chuyển hướng lối viết cách nhìn ở Trường Ca như thế nào? Khi bắt đầu viết, dự định cho một tựa đề Em ơi thuyền đã sang rồi, chỉ cần tựa đề sách; người đọc viết được tác giả muốn nói gì; kém nội dung nghèo văn chương, so với cuốn truyện của nhà văn trường giang (viết tiểu thuyết dài tràng giang đại hải) Lê Văn Trương trong Ngựa đã thuần rồi, mời Ngài lên yên? Dẫu sao đi nữa, đối với Huy Sơn, sự cố gắng làm mới nội dung văn phong của ông trong Trường Ca cũng là điều khích lệ đáng ghi nhận.
Không phải chỉ có nhiều đoạn văn tả tình tâm lý ba xu, cũng có đoạn văn tâm tình lãng mạn đẹp, mượt mà; có hình tượng mới trong Trường Ca. Nhưng tổng quát mà xét, bố cục truyện, trùng lắp; sao chép nhiều hơn sáng tạo. Hoài Thu, một thanh niên theo kháng chiến, sau bỏ về Thành. Rồi quen Khanh yêu nhau. Chẳng biết lý do nào, Hoài Thu bị Pháp cầm tù; rồi chẳng hiểu sao lại được trả tự do? Hoài Thu thất nghiệp, lang thang tình cờ lại gặp Khanh. Lúc này, Khanh là phu nhân một luật sư. Mặc dầu vậy Khanh vẫn cứ lãng mạn can đảm, bất chấp dư luận đón Hoài Thu về ở nhà chung. Năm 1954, hội nghị Genève dẫn tới cắt đôi đất nước, Thu vào Nam. Gia đình tan tác, chồng Khanh là Hoàng bị bắn chết, Hoài Thu và Khanh lại tự do sống chung như vợ chồng. Có một lần, Hoài Thu đi họp văn nghệ về khuya không còn gặp Khanh, nàng bỏ nhà ra đi. Lá tâm thư để lại cho biết Khanh trở ra Hà Nội lại (khoảng đầu năm 1955, trở về Hà Nội còn được phép như trong hiệp ước Genève qui định).
Huy Sơn chuyển lối viết cũ, bước sang đề tài mới mẻ, như ông tự cho là tiểu thuyết luận đề qua Trường Ca; nhưng không phải loại này ai viết cũng hay được. Như Victor Serge, André Malraux, đến Panaðt Istrati, không phải là nhà văn viết tiểu thuyết luận đề, mà trước đó chính cuộc đời nhà văn đã là một luận đề sống trải. Một nhà văn bình thường không thể là tác giả của tác phẩm luận đề thuộc phạm vi tư tưởng; còn xây dựng tác phẩm có bối cảnh trên, đem vào đó công thức chính trị qua nhân vật nói ra (không là ý nghĩa, hành động, lối sống); hẳn đem sự rỗng tuếch nhàm chán đưa vào tiểu thuyết được gọi là luận đề.
Dưới đây đoạn văn tiểu thuyết luận đề của Huy Sơn trong Trường Ca:
“... Bây giờ, Thu chỉ mong có một chính phủ Quốc gia cương quyết về phương diện giao hiếu với Pháp, cương quyết cải thiện bộ máy chính quyền và gột sạch tệ đoan xã hội mới có thể hoạt động kết quả được...”
Rất nhiều đoạn tương tự, đích thực không thể là văn chương; càng không thể là văn nghị luận chính trị; chỉ là tạp–pí–lù của văn chương tranh đấu mà thôi.
Kết thúc truyện dài Trường Ca, tác giả chưa cho nhân vật Khanh về Hà Nội để làm gì và tại sao lại trở về? Về Hà Nội có phải là cách giải quyết những tình tiết ở trên mà tác giả đặt ra? Có thể, tác giả chỉ đưa ra lối giải quyết cách tình cờ; cả tác giả nhân vật hiểu sao phải kết thúc giải quyết vậy? Có thể, cho Khanh đi biệt tích để câu chuyện được kết thúc lâm ly chăng?
Huy Sơn thường đưa nhân vật luật sư vào tác phẩm, không phải để phân tích, mô tả hình tượng sống, cảm nghĩ, nếp suy tư; mà chỉ để tác phẩm có trí thức hơn làm cho truyện của ông được sáng giá hơn? Nếu có, nhân vật luật sư rất trí thức ấy chỉ có danh xưng.
Kết luận.
Về tiểu thuyết luận đề Huy Sơn, khá xác đáng của Hồ Nam phê bình Trường Ca (19), vừa khích lệ bạn văn còn nói lên cách dựng truyện, xây dựng nhân vật lỏng lẻo, thất bại nhiều hơn thành công của Huy Sơn: “... Trường Ca đang dâng, thế hệ Trường Ca đã dựng lên bao công trình vĩ đại đến nỗi tác giả không làm sao dựng nổi được nữa. Do đó, nhân vật chính của Trường Ca biến thành những người hùng. Không nên nói nữa, vì đến đây nhiều khía cạnh xấu phô bầy, mà là chiến hữu, tôi sợ vạch áo cho người xem lưng...”. Qua truyện ngắn khác của Huy Sơn, vào thời kỳ chuyển biến viết truyện luận để, Đèn Dầu (20) là truyện ngắn hay, đặc sắc, tâm lý nhân vật ăn ý, cảm xúc hình tượng mới, đủ làm xúc động người đọc.
Từ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu
KỲ THỨ XX
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".

Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
CHƯƠNG BỐN
CÁC NHÀ THƠ ĐIỂN HÌNH
Tiết 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ THƠ MIỀN BẮC: 1900–1954
Nhìn vào bình diện thi ca miền Bắc (Chính phủ Quốc gia), có hai khuynh hướng rõ rệt: một số nhà thơ vẫn làm thơ theo lối thơ mới, và một số nữa muốn mở một lối thơ khác gọi là thơ tự do. Nghệ thuật thơ mới tiền chiến, những Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lưu, Thâm Tâm, J.Leiba, Thế Lữ... chịu ảnh hưởng thi ca Tây phương; nhất là Pháp để tạo ra thơ mới. Thơ mới chấm dứt vào thời kỳ kháng chiến bùng nổ; một trong những người mở đầu viết lối thơ tự do là Nguyễn Đình Thi. Đọc bài Sáng Năm Xưa trích đoạn:
“… Sáng mắt trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em
Gió thổi mùa thu vào Hà Nội
Phố dài xao xác heo may
Nắng soi ngõ vắng
Thềm cũ lối ra đi
Lá rung đầy...”
Thơ tự do hiểu theo quan niệm mỗi ngày một mới, một khác, và Hegel khẳng định chân dung thơ tự do là:... “thơ là phần nghệ thuật trẻ nhất của nhân loại.” Nếu thơ trẻ nhất của nhân loại cho đến ngày thơ mới cáo chung cùng thời đoạn kháng chiến bắt đầu; thơ tự do tiếp tục sứ mạng trẻ ấy. Và thơ tự do không riêng chỉ khởi đầu qua Nguyễn Đình Thi, còn nhiều nhà thơ khác. Một thí dụ thơ tự do trong Bài Nhớ Hồng Nguyên:
“…Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi một hai...
Súng bắn chưa quen
Quân sự mười bài
Lòng vẫn cười vui kháng chiến...”
Và Hữu Loan trong Mầu Tím Hoa Sim:
Nàng có ba người anh
Đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh...
Ở Hoàng Cầm, qua bài Bên Kia Sông Đuống:
... Em ơi!
Buồn làm chi
Anh đưa em về bên kia sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một giòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ...
càng tự do, bay bổng, ý thơ đẹp tứ thơ thâm trầm trong Nhà Tôi Yên Thao:
Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy: xám đen mầu tiết đọng
Tre cau buông tóc rũ ướt mưa sương
Màu trắng vôi lôm lốp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi đau gì không?
đến một Vệ Quốc Em có tên Minh Tiệp trên báo tường; sáng tác thơ tự do phải nói bài thơ tự do có giá trị tư tưởng, cấu trúc vững; chẳng thua gì nhà thơ kháng chiến chuyên nghiệp đàn anh, trong bài Tranh sinh hoạt.
“…Trung đội anh đóng bên bờ suối trong
Gió núi mênh mông rạo rực lòng
Xóm xa
Rừng rậm!
Đình trơ vơ đứng trên đồi nắng
Lùm che hai chục mái đầu xanh
Cây lũy
Tre thành...”
Thêm một em Vệ Quốc Em khác, vẫn là thơ tự do đăng bích báo, Bước đường công tác từ cấu trúc, tư tưởng nghệ thuật, phải nói là tuyệt vời. “Một khả năng ở bước đầu đi đã vững: hẳn rằng thiên tài không chờ tuổi ở Phùng”, như chúng tôi đã nói về Phùng. (21)
“…Lời ai còn nhớ mãi
Lời ai còn bên tai
Lời ai còn vang dậy khúc đường dài
Lời ai khiến ta thêm dài nhịp bước.
Tầu qua Yên Bái
Tầu đến Lào Cai
Rồi đỗ lại
Ô kia biên giới
Cờ hồng bay phất phới
Ai đi Phố Lu
Ai rẽ Bắc Hà
Làm ơn nhắn hộ ta
Hỏi thăm đoàn Thiếu Sinh Quân
Qua Bắc Hà công tác...
Đoàn quân bé nhỏ oai hùng
Bước đi mạnh dạn chập chùng đồi nương.
Thơ không có tuyệt đối, nói khác hơn, Thơ Đường chỉ có một giai đoạn của thơ đường - thơ mới cũng vậy, chỉ sống một thời đoạn nào đó rồi, nhường cho một loại hình thơ trẻ nhất khác. Loại hình thơ trẻ nhất những năm năm mươi là thơ tự do. Đừng đòi hỏi tuyệt đối cho thi ca, như nhà thơ tượng trưng Pháp, A. Rimbaud cũng đòi hỏi vậy, nhưng sự kiện này không tồn tại; rồi với chính thi nhân này, về sau bỏ thi ca; bỏ thơ rồi ly dị thơ – Ý kiến này của Lê Huy Oanh thật đáng ghi nhận.
Đại diện xu hướng thơ mới, số nhà thơ còn sót lại tiền chiến, hoặc nhà thơ mới nổi lên sau này, làm thơ theo lối diễn đạt thơ mới. Đinh Hùng, lớp nhà thơ cùng thời Huyền Kiêu, Hằng Phương, Tế Hanh, Trần Dần, với tác phẩm Mê Hồn Ca (Hà Nội 1954) xuất bản vào đúng chu kỳ hội nghị Genève chia cắt đất nước. Tập thơ xuất đầu lộ diện cho phong trào thơ mới cuối. Một số phương danh khác làm thơ như: Phan Phong Linh, Trương Uyên, Hoài Việt... trong dòng thơ mới còn lại. Qua xu hướng mới, thơ tự do ở Hà Nội vào giai đoạn này, có Nguyễn Quốc Trinh, với thi phẩm Ươm Đẹp mở đầu cho thơ tự do thời ấy. Một số nhà thơ khác đồng lứa như Song Nhất Nữ, Nhất Tuấn, Đức Thái, Hoàng Phụng Tỵ, Hoàng Song Liêm... chưa thể gọi là theo xu hướng thơ tự do được; mặc dầu đôi khi họ cũng làm một đôi bài theo lối thơ tự do. Kể cả hai xu hướng thơ mới và thơ tự do, cũng không hẳn có ranh giới rõ rệt – chỉ nhà thơ mới không làm thơ tự do và nhà thơ tự do ban đầu đều làm thơ mới. Xưa Baudelaire, Vigny, Lamartine, Musset có ảnh hưởng lớn lao đến các nhà thơ mới thời tiền chiến, tiếp theo thế chiến thứ hai, các nhà thơ Pháp, như: Prévert, Éluard, Breton, Soupault... thay chân cho các nhà thơ cổ điển. Như trên, chúng tôi nhắc đến thơ tự do, khởi sự 1945, bắt đầu là Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Yên Thao, Hồng Nguyên, Tất Vinh, Chính Hữu... rồi đến Nguyễn Quốc Trinh sau này ở Hà Nội.
Đinh Hùng, nhà thơ siêu thực, người thơ và nhân vật thơ bí hiểm, thần kỳ, diễm ảo; nhưng không phải là thiếu những bài thơ hay. Trong Mê Hồn Ca có nhiều bài thơ thoát tục, thoát bỏ cuộc đời đang sống; bước vào thế giới ngõ khói công yên. Ý nghĩa thơ trong đời chỉ là thứ tiêu dao, như quan niện của nhà thơ anh rể Vũ Hoàng Chương:
“… Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh?”
Một nhà thơ khác Trần Thanh Đạm, tên thật Trần Đình Đạm sinh 1919 – tác giả Đạm Hoa (Hà Nội, 1949), hồn thơ chưa siêu phách đạt đến mức như ngõ khôi công yên của Đinh Hùng; thơ ông còn nhiều bài thơ mới lẫn thơ Đường; nhưng không nổi trội. Trần Thanh Đạm, qua Đạm Hoa, so với Mê Hồn Ca, hẳn một trời, một vực - cũng những vần thơ phản ánh về sự trốn mình, khóc thời đại nhiễu nhương, kiếp phù sinh trôi dạt bến mê.
Trương Uyên, Huyền Quang, số nhà thơ tiền chiến sót lại, chưa có bản sắc riêng; một số bài thơ chỉ có tính cách góp mặt trong chợ thơ mới hậu chiến cho đông hơn mà thôi.
Riêng Nguyễn Quốc Trinh mở đường thơ tự do được coi là khám phá mới về thơ tự do; như Hegel quan niệm thơ trẻ nhất nhân loại vào thời kỳ hậu chiến của những năm năm mươi - Nguyễn Quốc Trinh không thể cưỡng được chịu ảnh hưởng thơ tự do kháng chiến, như vừa nhắc; hoặc xa hơn là P.Éluard, Simonov, Aragon, Lorca. Thơ tự do không nhận nhịp điệu như thơ mới, song cách gieo nhịp có tiết tấu riêng. Thơ tự do tổng hợp các thi pháp, đủ các loại hình thơ, tám chữ, năm chữ, bẩy chữ; có khi trên mười chữ – hoặc có khi một, hai, ba chữ. Lối thơ tự do Maðakovski, thơ bậc thang, không phải thơ văn xuôi (poème en prose). Âm nhạc hòa hợp với tư tưởng hay là thơ tự do, song quan trọng hơn vẫn là tân ý. Càng nhiều tân ý bao nhiêu đạt đỉnh cao bấy nhiêu. Cũng có quan niệm cho rằng: nhạc không có tư tưởng là âm nhạc thuần, tư tưởng không âm nhạc là văn xuôi; như thế Mallarmé có thể gọi là nhà thơ tự do đầu tiên của Pháp, cho rằng định nghĩa đó toàn bích. Và Lỗ Tấn: thơ phải là cảm rồi mới hiểu, hiểu trước chưa cảm được là văn xuôi.
Nguyễn Quốc Trinh điển hình thơ tự do vào thời đoạn 1950–1954 ở miền Bắc (Hà Nội), bao trùm Hoàng Phụng Tỵ, Hoàng Song Liêm, Nguyễn Quốc Dương, Song Nhất Nữ... Còn số nhà thơ khác như Mọc Đình Nhân với Hương Mùa Loan (Hiến Nam, Hà Nội 1954), Hương Mùa Chinh Chiến, thơ Hồng Anh, Mùa Ly Loạn thơ Anh Quân, thơ Nam Tê thơ đăng lẻ trên báo của Văn Thế Bảo... chưa hẳn có một bản sắc thơ độc đáo; song họ là người làm thơ có tâm hồn, càng sâu sắc hơn, với kinh nghiệm trải đời, cộng thời gian hàm dưỡng – họ vẫn đạt được giá trị cao hơn.
Ngoài Nguyễn Quốc Trinh còn nhóm thơ dưới tên Hoa Phượng, trưởng nhóm Huyền Giang; với Vân Long, Băng Sơn, Hương Huyền (Lê Thị Hồng Châu), Huyền Vân (nữ) đều là khuôn mặt thơ khả ái của một giai đoạn. Băng Sơn là nhà văn viết tạp bút rất độc đáo, tư tưởng mới, ý tân kỳ, văn thể đặc biệt không lẫn với văn phong một ai khác. Tạp bút Băng Sơn thường đăng tải trên các tuần báo, tạp chí: Quê Hương, Tia Sáng, Giang Sơn, (Hà Nội) và tuần báo Đời Mới (Sài Gòn). Nhà thơ Vân Long, còn viết truyện ngắn đặc sắc, như Đói đăng trên Đời Mới, hoặc Huyền Vân với truyện ngắn Tuổi Xuân đăng trên Quê Hương rất hay. Huyền Giang với lối thơ năm chữ mượt mà ý thơ sâu sắc, ông cộng tác với tạp chí Văn Nghệ Tập San ở Sài Gòn, cho đăng bài thơ (Ngày Mai Hoa Nở) hoặc một số thơ khác đăng trên Phụng Sự, Văn Nghệ Tiền Phong... nói về đời quân nhân, bởi ông là một sĩ quan quân đội miền Nam.
Bình diện thi ca miền Bắc còn phong phú hơn, nhờ sự đóng góp của số nhà văn khác còn làm thơ như Hoàng Công Khanh, qua bài thơ Lá Thư Gửi Mẹ, hoặc Khúc Quân Hành của Thanh Nam, Trần Nhân Cư, Hoài Việt, Huyền Quang, Nguyễn Hoàng Quân v.v…
Tiết 2: ĐINH HÙNG. (1920–1967)
Tiểu Sử.
Còn ký nhiều bút hiệu khác, với thơ châm biếm: Thần Đăng (Đàn Ngang Cung, nhật báo Tự Do, Sài Gòn 1954–1955), Hoài Điệp Thứ Lang (truyện dã sử). Sinh 3–2–1920 ở Hà Nội. Nổi danh từ tiền chiến, ban đầu trong nhóm Dạ Đài với Trần Dần.. Vào Nam sau hiệp định Genève, phụ trách mục thi ca trên Đài Phát Thanh Sài Gòn. Qua đời ngày 24–8–1967 tại Bệnh Viện Bình Dân, với bệnh sơ gan cổ chướng. Tác phẩm: Mê Hồn Ca (thơ, Hà Nội, 1954), Đường Vào Tình Sử, (thơ, Sài Gòn 1963), Ngày đó có em (thơ, Sài Gòn 1967), Đốt Lò Hương Cũ (tiểu luận văn học, Sài Gòn 1971...
Ngay khi theo học Trường Bưởi ông đã làm thơ, được sự khích lệ tận tình bước đầu của Thế Lữ, nhờ sự giới thiệu Thạch Lam. Có một giai thoại văn chương giữa Đinh Hùng và Thạch Lam và Thế Lữ; “...Có Thế Lữ mới có Mê Hồn Ca”, như sau:
“... Ngoài tình kết nghĩa giữa Thạch Lam, Đinh Hùng và Huyền Kiêu mà nhiều người biết, riêng một chi tiết nhỏ thật quan trọng liên hệ đến cuộc đời tác giả, tác phẩm ít ai biết. Đinh Hùng làm quen với Thế Lữ khi cậu Tú Tài bản xứ còn ở làng Trung Phụng (ngoại thành Hà Nội), được sự giới thiệu của Thạch Lam. Hồi đó Thạch Lam đã cho xuất bản Hà Nội 36 phố phường. Tác giả ở sâu trong làng Trung Phụng; mỗi khi lên phố phải qua nhà Đinh Hùng. Đinh Hùng bèn nghĩ kế làm quen, ông viết một lá thư kèm theo bài thơ Thịt Chó ghi chú là xin ý kiến Thạch Lam sau khi đọc. Một buổi, Thạch Lam ghé vào nhà Đinh Hùng, khiến Đinh Hùng sửng sốt có ngay ấn tượng ban đầu lưu luyến ấy khó quên! Nhờ Thạch Lam giới thiệu, Đinh Hùng được gặp Tự Lực văn đoàn, gặp Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ... Và Thế Lữ là người nâng đỡ nghiệp thơ Đinh Hùng của bước đầu. Đinh Hùng từng tâm sự: “…Hồi đó mỗi khi làm xong một bài thơ, tôi thường tìm Thế Lữ đọc cho ông ta nghe. Lần nào cũng như lần nào, nghe xong, Thế Lữ lắc đầu bảo: Chưa được, cậu cần phải chịu khó hơn nữa. Tôi buồn quá, tự ái nổi dậy, tôi nghĩ thế nào cũng phải làm cho được một bài thơ hay. Không lẽ cứ để ông ấy chê hoài. Đinh Hùng còn yêu thầm, nhớ trộm một cô đầu ở Phố Khâm Thiên. Ông làm bài thơ Kỹ Nữ xong, đưa Thế Lữ đọc. Thế Lữ im lặng hồi lâu, phán: ... “Được lắm, cậu nên làm theo loại này” Mê Hồn Ca bước đầu khởi sự là như vậy. Rồi Hồ Dzếnh, chồng sau bà Nhật, chủ hiệu sách Bình Minh, phố Huế Hà Nội, in tập thơ đầu tay Đinh Hùng, đúng vào dịp tháng bẩy Genève 54. Đinh Hùng ôm theo hai nghìn cuốn thơ vào Nam vừa bán vừa ký tặng bạn bè...
Năm 1940, Đinh Hùng hai mươi tuổi ông viết cho các báo Hà Nội Tân Văn, đăng thơ trên giai phẩm Tân Việt, hoặc Đời Nay; viết cho báo Thông Tin (Nhật thuộc), báo kháng chiến, trình bầy báo Cứu Quốc. Khi về Hà Nội, viết cho các báo Hồ Gươm, Công Tội, Dân Chúng… chủ trương tập san Kinh Đô Văn Nghệ (hình như chỉ ra được một số báo duy nhất), Thẩm Mỹ (Sài Gòn), Dần Quyền, Tự Do, Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, Bông Lúa...
Tác Phẩm.
Xu hướng thơ Đinh Hùng là thơ hoài vọng cá nhân. Chưa nhà thơ nào đem cái riêng tư sâu kín, phản ánh trung thực trong thơ như Đinh Hùng. Hay nói cách khác, thơ là cuộc - đời - thơ - Đinh - Hùng được đưa vào tác phẩm. Gồm cả tính chất thần kỳ, ý tưởng quái đản, hồn tan siêu phách, thế giới ma quái, yêu cuồng sống nhiệt... ta có thể tìm thấy đủ trong thơ Đinh Hùng. Có câu thơ, đọc lên hình dung thấy đâu đó thế giới vàng son, cung ngà, điện ngọc còn phảng phất đâu đây:
“... Gió trăng ngự uyển buồn sâu sắc
Thử bước vào xem cung điện ma”.
Thơ Đinh Hùng luẩn quẩn trong vấn đề than mây, khóc gió; chàng thi nhân lầu son gác tía, bây giờ mặc Âu phục dấn thân trần tục, vẫn không quên thế giới hồng hoang! Bùi Giáng (22), nhà thơ rất gần với Đinh Hùng trong thơ – song cuộc sống thường nhật ngoài đời Đinh Hùng tỉnh hơn. Còn Bùi Giáng lần này cũng tỉnh hơn để nhận định về thi tài của bạn:
... “Đinh Hùng là thi sĩ muốn khai phá một nẻo đường đưa tới thế giới hồng hoang, nơi đây con người trút bỏ hết hình hài... thể phách, tinh anh cũ, mà đắm mình trong một bầu không khí ảo huyền, trác tuyệt đầy những sương lá phong thần. Thi sĩ người quên mối lo eo sèo thế sự. Cuộc sống tủi buồn của nhân thế đã xa biết bao! Tiếng cười tiếng khóc ở đây có những âm vang kỳ ảo:
... Trận cười tan hợp núi sông
Còn mơ kỳ thú lạ lùng cỏ hoa
Hý trường đổi lớp phong ba
Mượn tay ngụy tạo xóa nhòa bể dâu... (23)
Vẻ buồn thương, tiếc nuối thời vàng son thế kỷ nào của Đinh Hùng khác hẳn thơ Vũ hoàng Chương; cũng buồn thương xa vắng; trừu tượng, siêu thực; sinh lầm thế kỷ – nhưng thơ Đinh Hùng siêu thực, trừu tượng trẻ, khỏe cách lạ thường. Trái lại, thơ Vũ Hoàng Chương là mộng thơ già cỗi, nhìn thấy được điểm lụi tàn. Trở lại với Đinh Hùng, qua đoản khúc thơ trích dẫn biểu hiện vẻ tươi, duyên dáng, ngây thơ, sâu sắc hồn nhiên, dung dị; khi nhà thơ nhìn đôi má đầy duyên thầm người thiếu nữ trẻ:
“... Trời hồng, chắc má em tươi?
Nước trong chắc miệng em cười thêm xinh
Em đi hoài cảm một mình
Hai lòng riêng để mối tình cô đơn...”
Phút xuất thế đối với Đinh Hùng, chính là sự trốn chạy thế sự đa tạp, ngổn ngang, chui thân trong hồn ốc; để không còn được sống trong xã hội. Nếu có là sống từ bộ lạc xa xôi phiêu lãng về thăm:
“... Qua xứ ma sầu ta mất trí
Thiêu đi tạp sách vẽ hoa nguyền...”
Với tình yêu, Đinh Hùng thật trân trọng, si mê cuồng dại đến mất trí, chung thủy tận cùng. Chẳng hạn như một bài thơ có nhan đề Gửi người dưới mộ cho một nàng thơ có thực ngoài đời tên Liên. Đó là thời kỳ ông đang theo học Trường Bưởi. Liên là tình thơ đầu đời của ông chăng? Nàng qua đời, Đình Hùng làm bài thơ tiễn nàng cùng với đêm đêm nguyện cầu:
“... Trời cuối thu rồi em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh, chắc em sầu?
Thu ơi, đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
Em mất về đâu, mộng về đâu?
Từng đêm ta nguyện với ta cầu
Ấy mầu hương khói là mầu mắt xưa...
Em đã về chưa?
Em sắp về chưa?
Trăng sao tắt ngọn đèn mờ
Ta nằm nhỏ lệ đọc thơ gọi hồn...
Kết Luận.
Thơ xuất thế Vũ Hoàng Chương cũng sinh lầm thế kỷ/ Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh; nhưng ít bài hơn so Đinh Hùng về vấn đề này– Vì thơ Vũ Hoàng Chương còn phản ánh nhiều hình tượng đời sống thực. Và Đinh Hùng tuy sống thực, nhưng ảo hóa cuộc đời, mà chỉ có cuộc sống ảo hóa, thần kỳ, ma quái, bộ lạc, cung ngà, điện ngọc...; mới chính là đời sống thực bằng thơ của ông. Như trên phân tích, thơ Đình Hùng siêu thực, trừu tượng, thần kỳ; song trẻ, khỏe, sung sức cách lạ thường - trái lại Vũ Hoàng Chương thơ mộng già cỗi nhìn thấy nhược điểm lụi tàn. Thế giới thơ Đinh Hùng là thế giới ma quái Bồ Tùng Linh, chuyện liêu trai Bồ Tùng Linh vẫn ẩn chìm hướng giáo dục; còn thơ Đinh Hùng không vậy – chỉ vần thơ ảo hóa trụi trần. Vì vậy, có một nhận xét đọc thơ Đinh Hùng thỏa mãn sự yếu đuối chán chường, đọa lạc tâm linh; nhưng cần phải có liều lượng nhất định; bằng không là tác dụng phụ.
Trích thơ:
1. CUNG ĐÀN TƯỞNG NIỆM
Khi anh chết các em về đây nhé
Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa
Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ
Tay cầm hoa xõa tóc đứng bên mồ
Em lả lướt Em là buồn cố kết
Tự ngày anh ra sống kiếp trần ai
Em khóc cho anh hối hận tình dài
Em nói cho anh tấm lòng cô lữ
Và Em nữa ôi Sầu Hoài Thương Nữ
Anh thường mê tiếng hát của Em xưa
Những ngày vui bóng một mất không ngờ
Em thân ái cùng anh tưởng nhớ.
Anh quên đấy: con người em duyên số
Em đã về chưa nhỉ, hỡi Đau Thương
Nhớ cùng em đối bóng mấy canh trường
Tự đêm ấy cầm tay nhau không nói...
Anh tưởng niệm các em về một buổi
Ở bên mồ, cỏ úa sắc chiều rơi
Ngược Sông Mê, bàng bạc nẻo luân hồi
Sầu rũ tóc, ngậm ngùi in khóe mắt
Anh đã thấy dáng em buồn cúi mặt
Anh đã cảm lòng vì lệ của Thương Đau
Các Em sang vĩnh biệt tấm thân sầu
Các Em khóc, các Em buồn lắm nhỉ?
Phải xa Anh từ đây đường nhân thế
Các Em đi, phiêu bạt giữa thời gian
Và từ đây, trong khe núi, bên ngàn
Các em dạo, làm nhiều hồn oan khổ
Anh bơ vơ lạc trên đường thiên cổ
Lạnh tâm tư, mờ tỏ ánh tinh cầu
Mất Anh rồi, các Em sẽ về đâu?
1954
(Trích báo Xuân TỰ DO)
2.– GIÁP MẶT PHÙ DUNG
Trong im lặng tôi rùng mình nín thở,
Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.
Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,
Tình yêu rợn tự đầu mày, chân tóc?
Thoáng nét sương, nụ cười in khuôn ngọc,
Em bâng khuâng hé nửa cặp môi hồng,
Mắt nhắm nghiền, và sóng rực rung rung,
Hơi thở ấm não nùng hương phấn dại
Mặt giáp mặt để hai lòng tê tái,
Tôi điên rồ uống hết vị hoài nghi
Trên môi em – Hai dòng lệ đầm đìa,
Hai ngực ép tới vô cùng đau đớn.
Tôi e ngại từ nét mi sầu gợn,
Tôi xót thương từ sợi tóc thơm nồng.
Em là người như một cánh hoa rung,
Tôi khăng khít ôi cõi đời tiêu tán!
Khi tỉnh lại, trông thấy trời xán lạn,
Con đường đi bừng nở ánh muôn hồng.
Em tuyệt trần đã mở lối thiên cung,
Tôi sửng sốt hái nụ tình phong nhụy.
Từ buổi ấy, mê một làn hương quý,
Tôi ra đi, chưa biết sẽ về đâu?
Thấy quanh đây toàn xác thịt âu sầu,
Toàn những dáng hoa phai buồn ủ rũ.
Ôi hương sắc một thân hình nương tử!
Cặp mắt thu và đôi má mùa xuân.
Ôi áng thiên hương một buổi yêu gần!
(Trích ĐƯỜNG VÀO TÌNH SỬ)
ĐINH HÙNG.

Tiết 3. NGUYỄN QUỐC TRINH
Tiểu Sử.
Sinh 1932 ở Hải Dương, học qua Trung học Chuyên khoa Tư thục Hàn Thuyên (Hà Nội). Bạn văn đồng lứa Song Nhất Nữ, Nguyễn Ngọc Dương, Hoàng Phụng Tỵ, Băng Sơn... Thi phẩm đầu tay Nhựa Mới, đồng tác giả Nguyễn Ngọc Dương; có lời tựa Hoàng Công Khanh; cho đó là “bốn vì sao mới nổi lên nền trời”. Nguyễn Quốc Trinh, lớp nhà thơ tiếp nối thơ tự do, phát khởi từ giai đoạn kháng chiến 1945. Cũng chịu ảnh hưởng sâu sa các nhà thơ tự do Pháp như: P.Éluard, Simonov (Nga), Nguyễn Đình Thi...
Tác Phẩm.
Thực ra tuyển tập thơ Nhựa Mới gồm bốn tác giả: Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Ngọc Dương, Song Nhất Nữ và Hoàng Phụng Ty. Xuất bản ở Hà Nội vào 1953. Cuối năm, Nguyễn Quốc Trinh tự xuất bản thi tập khác, tập Ươm Dẹp. Thơ tự do trong tập này mới được xuất hiện đầy đủ, với một kỹ thuật điêu luyện, tiến bộ hơn so với thơ tự do, qua tập in chung. Thơ mang sinh khí mới, rất trẻ, khỏe; tô đậm triết lý nhân sinh, truyền cảm. Đối với tình yêu, dầu ở giai đoạn hậu chiến, vẫn chưa thoát được ảnh hưởng thơ lãng mạn cách mạng Xuân Diệu tiền chiến:
“... Năm nay mùa được ngựa em bồng
Em dậy thì em có biết không?
Hội hè sắp sửa linh đình lắm
Ta sẽ rồi ra sẽ cốm hồng...”
và thơ yêu đỏm dáng, như thiếu nữ tự biết có gò má ửng:
“... Nhấm dần trái ổi đẫm men yêu
Anh nhắm tình em với mộng kiều
Dè dặt anh ăn từng chút một
Để hồn lẳng lặng bỗng phiêu phiêu...”
hoặc:
“... Em ơi! ổi ấy anh ăn rồi
Nào biết em ban một trái thôi
Dần dà xa cách càng xa cách
Oan trái đầy thơ mộng rã rời...”
Không chỉ nói về tình yêu, Nguyễn Quốc Trinh còn đưa hình ảnh nhân sinh vào thơ; quan niệm lý luận thơ của Rimbaud, thơ phục vụ con người và con người cũng chưa là tuyệt đối. Ngôn ngữ thơ, như vũ khí chọc thẳng vào giai cấp quyền uy:
“... Hoa đẹp nở vườn nào?
Thơ bầy trong tủ kính
Con choắt vợ xanh xao
Ngựa xe người đủng đỉnh...”
Sử dụng chữ, âm thanh, tiết tấu; Nguyễn Quốc Trinh lựa chọn ngôn từ và tâm hồn, giầu cảm xúc thơ. Thơ phục vụ người ở đây là cách dấn thân tranh đấu gián tiếp qua thi ca, chống lại sự bất công quá đáng ung dung ngự trị.
Kết Luận.

Ngôn ngữ, cảm xúc mới, khỏe, giàu âm thanh, đầy hình tượng mới, đó là thế giới thơ Nguyễn Quốc Trinh. Thơ ông không chịu ảnh hưởng một riêng ai; thế giới thơ như tổng hợp kết tinh từ rung cảm chính bản thân đối diện cuộc sống, hơi hướng Xuân Diệu tình yêu thanh xuân, hơi thơ bị cầm tù tranh đấu Tố Hữu, Lưu Trọng Lư nhẹ nhàng con nai vàng đẹp trên lá vàng khô, một hơi thở khỏe, trẻ, mạnh, sắc, nội lực xung thiên của Éluard, một Rimbaud, mà thơ phải tuyệt đối nhưng không riêng cho con người. Thơ truyền cảm, xúc động như bàn tay người thợ hồ tô vữa đang chín xây cao bức tường thi ca những năm 1950–1954 ở Hà Nội.

Trích thơ:
1. ĐƯỢC MÙA
Sắc lúa vàng cười sắc thiên thanh
Sóng lúa vàng xô tới mây xanh
Yếm lụa em ơi
Tình đời ấm ngọt
Lời ca thánh thót
Giọt giọt pha lê
Đượm hồng khói thuốc tê mê
Đồi cao vẫy nguyệt thu về mắt thơ
Gái lành trai tơ
Sững sờ thoáng mắt
Triều yêu ngần ngật
Tay thưa nhẹ bứt lá xanh
Trán bừng thẹn
Tóc bồng bềnh
Tiếng cười pháo vỡ tan tành
Đời xưa có chuyện nghiêng thành Cô Tô
Cỏ mát chân đưa
Trời mơ gió ngát
Sóng lòng dào dạt
Nhắc gì chua chát nắng mưa
Trâu bò nghỉ nhé cày bừa
Cho hàm răng trắng cho vừa mắt xanh.
Em gái tôi không biết thị thành
Má thì mọng chín ửng tình xanh
Mắt thì say quá như men ấy
Và nữa làn môi ngọt ý lành.
Năm xưa mùa được ngực em bồng
Em dậy thì em có biết không?
Hội hè sắp sửa linh đình lắm
Ta sẽ rồi ra sẽ cốm hồng...
1952
2.– DỄ HIỂU
Vì mải gò lưng kéo
Cầy cho kẻ khác no
Chiều về nhai cỏ héo
Chuồng hẹp nằm co ro
Vì sống như trâu bò
Kiếp này sang kiếp khác
Cha già cha phát ho
Mẹ già xương sộc sạc
Vì đời buồn sơ sác
U ám như đêm nghèo
Mồ hôi chua rách áo
Muối mặn quả cà meo
Hoa đẹp nở vườn nào?
Thơ bầy trong tủ kính
Con choắt vợ xanh xao
Ngựa e người đủng đỉnh
Vì tôi muốn anh muốn
Vì chúng tôi cùng muốn
Đêm già sô ngã xiêu
Ngày mai cười thằng dướn.
1953
(Trích ƯƠM ĐẸP).
NGUYỄN QUỐC TRINH
Tiết 4. TIỂU MỤC
1. SONG NHẤT NỮ.– (1927–1977)
Tên thật Đặng Bá Ngữ. Sinh 1927, qua đời 1977 ở Hà Nội. Năm 1953, đồng tác giả với Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Ngọc Dương, Hoàng Phụng Tỵ trong Nhựa Mới. Viết bài đăng trên tạp chí Quê Hương, Giác Ngộ, Cải Tạo, Liên Hiệp... (Hà Nội), tuần báo Đời Mới, Nguồn Sống Mới (Cn: Nguyễn Hữu Pha, Sài Gòn). Thơ truyền cảm, xử dụng nhiều bài lục bát qua nội dung tranh quê, tình cảm người thành thị.
Trích thơ:
QUÊ EM
CHIỀU CHIỀU LAI LÁNG LÒNG QUÊ
KHÓI BAY SÓNG VỖ Ủ Ê NỖI SẦU
(TẢN ĐÀ DỊCH THÔI HIỆU)
Quê em tận cuối xanh thắm
Cách biệt kinh đô những dặm đường
Qua mấy con đò... xa quá lắm!
Nhiều nhiều thôn nữ dáng thương thương.
Quê em náo nức cùng xuân mới
Lụa dệt thơm thơm tựa cốm vòng
Bao nhiêu cô gái xuân chờ đợi
Người về... khắn thắm đón sang sông
Quê em dù nắng hè oi ả
Bão táp phong ba vẫn đẹp bền
Quanh thôn sông lượn hình con cá
Từ chùa xuống chợ cuối làng bên.
Quê em cứ mỗi mùa thu đến
Là hội chùa trên rộn trống chèo
Đoàn trai lao mình qua mấy bến
Reo hò cố giật giải làng treo.
SONG NHẤT NỮ
2. HOÀNG PHỤNG TỴ – (1929–197?)
Sinh 1929. Anh ruột nhà thơ Hoàng Song Liêm. Như Song Nhất Nữ, là một trong bốn tác giả tập thơ Nhựa Mới (Hà Nội, 1953). Cuối 1953, cho xuất bản tập thơ riêng Hương thơ mùa loạn. Thơ phản ánh đời sống quân nhân có bước chân trên đường hành quân; hình tượng sống người đô thị. Với Song Nhất Nữ, đọc thơ ông thì yêu vườn khoai, nương sắn, chẩy hội chùa, kéo co nơi đình hội thì thơ Hoàng Phụng Tỵ là thơ công thức thơ đăng trên tạp chí văn học ở Hà Nội và Sài Gòn, Quê Hương, Giang Sơn, Thẩm Mỹ... thì đa số bài thơ mang khuôn sáo cũ, cả nội dung lẫn hình thức.
Trích thơ:
TƯƠNG BIỆT DẠ
Say một đêm nay cạn rượu nồng
Ngày mai lên ngựa ruổi mông lung
Cuộc đời quên nỗi niềm cay đắng
Nuôi chí trai vung lưỡi kiếm hồng
Quen với trăm phương lạc hướng tình
Xóm làng vẫn những lũy tre xanh
Những nàng quẩy nước qua thôn vắng
Khuất bóng vào sau những mái tranh.
Say kiếp giang hồ, say gió trăng
Quê hương khắp nẻo nhớ muôn nàng
Rượu hồng ai uống đêm nao nhỉ?
Ai chuốc men nồng, anh nhớ chăng?
Say một đêm nay chăn gối ấm
Ngày mai người của núi sông rồi
Chiều nơi quan ải say trong quán
Anh có buồn chi có nhớ tôi?
HOÀNG PHỤNG TỴ
3. HOÀI VIỆT.
Tên thật Nguyễn Việt Hoài. Không rõ năm sinh. Lớp nhà thơ còn sót lại từ tiền chiến, sống ở Hà Nội những năm 50, cùng thời Đinh Hùng, Trần Thanh Đạm, Huyền Quang, Trương Uyên..., thơ đăng rải rắc trên báo chí Thủ Đô. Đề tài thơ lấy từ nguồn cảm hứng nông thôn bản thân người thơ, nhiều hơn thành thị. Thơ Hoài Việt, như lối nói khác; thơ đủ để là thơ; thơ chưa nổi trội, đủ tạo cho có bản sắc riêng.
Trích thơ:
VỠ ĐẤT
Hai đứa mình hẹn nhau
Thuở còn xanh mái tóc
Sau này khi bỏ học
Trở về vun luống cày thơm
Cả hai từ giã nhà trường
Mỗi thằng đi một ngả
Anh về cầy trưa bắc mạ
Tôi đi cầm bút cùng người
Trán anh bóng giọt mồ hôi
Tóc tôi bạc ròng năm tháng
Ruộng lúa nhà anh đầy ánh sáng
Bốn mùa hoa cỏ reo vui
Anh cầy vỡ đất, anh hát yêu đời
Đất anh bàn tay anh giữ
Anh bẻ bắp cây đuổi loài muông thú
Thân anh cao đẹp lạ lùng
Bỗng dưng tôi thấy sượng sùng
Bút tôi không buồn viết nữa
Đất tôi không còn để vỡ
Luống cày nay đã cằn khô
Cỏ xanh rạp xuống quanh bờ
Mạ con úa thành cây lụi
Nhớ lại ngày xưa kề vai sớm tối.
Còn nói gì câu sự nghiệp
Còn bận gì chuyện sới vun
Ruộng tôi nay đã không còn
Bài ca vỡ đất nghe buồn vô biên
HOÀI VIỆT
4.– HOÀNG SONG LIÊM.
Sinh 1933 ở Hà Nội. Bạn văn, đồng lứa Tạ Quang Khôi, Nguyễn Thiệu Giang, Nghiêm Huy Giao... Năm 1954, xuất bản tập Thơ cùng Nghiêm Huy Giao (Hà Nội, 1954). Tập thơ học sinh vừa rời khỏi trung học bước vào đời (Quyển Vở Kỷ Niệm). Và chẳng bao lâu, bước vào quân ngũ, hình ảnh chiến binh bộc bạch trong bài thơ, nhan đề Tôi Là Anh Lính Chiến; loại hình thơ công thức, nội dung tâm lý chiến. Ngoài ra Gửi Người Chị Phố Phường trích dẫn là bài thơ hay, đóng góp thơ tự do cho văn học hậu chiến.
Trích thơ:
GỬI NGƯỜI CHỊ PHỐ PHƯỜNG.
Phố phường khóc nhớ quê hương
Quê hương nằm nhớ phố phường
Chị nhớ em
Em nhớ chị
Xa nhau dài mấy thôi đường
Thư nào kể siết niềm thương
Hỡi người chị của em
Đây lòng em của chị
Trời dịu
Mây hiền
Làng xanh
Ruộng vàng
Sóng trắng
Lá đỏ sang ngang
Hai vụ chiêm mùa
Mấy tuần sương nắng
Gieo hạt mạ đầy tay
Đổ bao sức vóc trọn ngày
Tát mấy đêm trăng thanh nước mắt
Gặt vài buổi nắng đỏ sàn phơi
Ấm no bằng giọt mồ hôi
Nằm nhà tranh hát cuộc đời thôn trang
Thị thành của chị
Một lần em qua
Chao ôi! Lửa điện sao lòa chói
Xe cộ phồn hoa
Bụi cát mù
Chị ơi ! Son phấn đêm tàn lửa
Hướng cũ phai dần hoa tuổi xưa
Những khách du nằm chờ tiễn biệt
Vội vàng yến tiệc
Ép duyên mơ
Kỹ nữ gượng say hồng má đỏ
Đàn ca nhịp mãi điệu giang hồ
Tay trắng đổ nghiêng tiền bạc trắng
Cuộc đời theo chuyện vu vơ
Chị gối tay bao khách lạ lùng
Ngỡ ngàng chị có đoái em không?
Em thường ao ước thường mong đợi
Chị lại về đây với ruộng đồng
Thương chị bao nhiêu
Chẳng gửi ai mà đưa tới chị
Chị khi nào gặp lại em
Đêm nay ngồi ngóng về đô thị
Nghe gió xa về cũng đau
Em lần giở tấm áo nâu
Sờn vai sương nắng bạc mầu tuổi thơ
Bao giờ lại đến bao giờ?
Chị về chiếc áo năm xưa quê nhà.
(Trích tuần báo ĐỜI MỚI)
HOÀNG SONG LIÊM
5. TRẦN NHÂN CƯ
Chưa tìm được tên thật, năm sinh, lai lịch tác giả. Chỉ biết vào năm 1953, trên tập san Nhân Loại (Sài Gòn) thơ Trần Nhân Cư xuất hiện, qua đôi bài giọng hoài cảm quá vãng, hồn thơ ngọt ngào; như hơi hướng thơ Lưu Trọng Lư Nhớ Mẹ thời tiền chiến. Đưa Trần Nhân Cư phương danh ông vào văn học hậu chiến, ý nghĩa đầu tiên của tôi là nhớ đến trường hợp Xuân Tiên, chỉ cần một đôi bài in trên Hà Nội Tân Văn (Vũ Ngọc Phan chủ trương) tự tạo cho Xuân Tiên nổi tiếng. Đó là bài Lá Rụng có những câu thơ đẹp, như:
“... Một chiều ngồi nghỉ gốc bàng
Thấy chưa gió mạnh, lá vàng đã rơi
Mênh mông buồn mãi lòng tôi
Vẩn vơ nghĩ ngán cho đời phù vân...”
X.T
Trích thơ:
NHỚ QUÊ
Tôi nằm đọc sách buổi trưa
Nắng hè vẫn đổ nhạt thưa trước thềm
Mẹ già lặng lẽ chỉ kim
Trên giàn thiên lý con chim yêu đời
Dưới nhà rộn tiếng trẻ cười
Thầy tôi bên kỷ mài thoi mực tầu
Hương trầm quyện lấy hương cau
Lắng nghe trầm bổng mấy câu thơ Đường.
Giờ đây biền biệt cố hương
Nằm nghe gió thổi bốn phương quê người.
1953
(Trích tập san Nhân Loại Sài Gòn)
TRẦN NHÂN CƯ
6. HUYỀN GIANG
Tên thật Đào Đức Chinh. Sinh 1932 ở Hà Nội. Thơ đăng rải rác trên các báo Quê Hương, Thẩm Mỹ (SàiGòn) Văn Nghệ Tập San, Phụng Sự (báo Quân đội) Trưởng nhóm thơ văn Hoa Phượng ở Hà Nội vào năm 50, quy tụ một số tác giả như: Băng Sơn, Vân Long, Huyền Vân, Hương Huyền (Lê Thị Hồng Châu)... Thơ Huyền Giang sử dụng thể năm chữ, thơ ngọt ngào, rung động, nhận thức về đời sống thâm trầm.
Trích thơ:
NGÀY MAI HOA NỞ
(TẶNG T.P)
Kề bên những đầu xanh
Anh quê rừng Việt Bắc
Tôi học trò kinh thành
Mây trời thương đổ máu
Mùa thu nào hòa bình
Bến Hải nhìn u uất
Hồn gương xưa Sông Gianh
Bài ca sầu nức nở
Ai khóc những đêm dài
Đã từng đêm vấy máu
Trời thương đất chia hai
Anh lìa rừng núi Lạng
Chị xa quê Đầm Hà
Thương mây trời Yên Bái
Nhớ Cao Bằng núi xa
Tôi giã từ Hà Nội
Thương hoài năm cửa ô
Chiều bên bờ Sông Lũy (24)
Nghe gợn sóng Tây Hồ
Gặp nhau rừng đất đỏ
Nghe gió núi Trường Sơn
Chúng ta nhìn ngọn lửa
Nung nấu những căm hờn
Những bàn tay chung góp
Dựng đôi mái nhà tranh
Chúng ta cùng tạm trú
Chờ qua ngày điêu linh
Núi thôi hờn vấy máu
Sông nối đôi khúc cầu
Ngày mai hoa nở đẹp
Đất trời ca bên nhau
Chúng ta về quê cũ
Chị mừng trông Đầm Hà
Anh say trời Yên Bái
Tôi nghe sóng Tây Hồ
Thôi hoài năm cửa ô. (25)
(Trích tạp chí VĂN NGHỆ TẬP SAN, Sài Gòn)
HUYỀN GIANG
7. VÂN LONG
Tên thật Nguyễn Văn Long. Sinh 1934. Thơ đăng trên các tạp chí Thủ đô: Quê Hương (Hà Nội), Đời Mới (Sàigòn)... Ngoài thơ, còn viết truyện ngắn, một truyện Đói đặc sắc đăng trên tuần báo Đời Mới (Cn: Trần Văn Ân). Thơ Vân Long không mới, hồn thơ truyền cảm, thể hiện tâm trạng thanh niên sống lạc loài giữa xã hội tù túng thị thành vào đầu thập niên năm mươi.
Trích thơ:
CHIỀU ĐỒNG NỘI
Quán vắng sầu nghiêng một dáng mây
Đồng không lạc lõng cánh chim gầy
Lúa e dè thẹn trong chiều nắng
Ta uống hương đồng say ngất ngây
Đi trốn kinh kỳ trốn phấn hoa
Về đây đón gió một thời xa
Tâm tư quạnh quẽ mầu thơ úa
Ờ nhỉ đâu rồi những tiếng ca
Mến quá đồng quê cùng dáng lúa
Ai giam ta mãi với đô thành?
Bao giờ đồng ruộng vang lừng nhỉ
Khúc nhạc yên bình trỗi ý xanh.
(Trích tuần báo ĐỜI MỚI, Sài Gòn)
VÂN LONG
8. BĂNG SƠN. (1932-2010)
Tên thật Trần Quang Bốn. Sinh 1932 ở Hải Dương. Còn ký Mai Băng Phương dưới những bài tạp bút, như Sông Dài đăng trên tuần báo Đời Mới (Sài Gòn), Mạch Sống (Sài Gòn), và đăng thơ trên báo Thẩm Mỹ (Sài Gòn), Quê Hương (Hà Nội). Băng Sơn có bút pháp thật đặc biệt trong loại hình tạp bút. Văn không giống một ai khác. Thơ văn phản ảnh tâm sự buồn chán, khắc khoải của thơ lớp thanh niên sống ở thành thị. Băng Sơn thường sử dụng thơ bốn chữ, ý thơ nồng nhiệt, lời thơ bao hàm ý nghĩa nhân sinh sâu sắc có lập ý cao.
Trích thơ:
MỖI ĐỘ THU VỀ
Mỗi độ thu về
Sương mù lê thê
Lá đan mành gió
Lòng ta não nề
Ngoài sông nước rộng
Bao kẻ ra đi
Ở đây đô thành
Lòng ta tái tê
Hỡi khách phương xa
Còn nhớ lời thề
Mỗi độ thu về
Nắng nhạt thôn quê
Mây bay tản mạn
Tràn ngập sơn khê
Ai nghe nức nở
Của kẻ phòng khuê
Hồn đang chĩu nặng
Lệ thảm tràn trề
Người chinh phu đi
Không hẹn ngày về
Môi độ thu về
Sương mù lê thê
Lá đan mành gió
Lòng ta não nề.
(Trích tuần báo Đời Mới, Sài Gòn)
BĂNG SƠN
9. SONG HỒ
Tên thật Nguyễn Thanh Đạm. Sinh 1932 ở Bắc Ninh. Bạn văn đồng lứa Hiệp Nhân, Dương Vy Long, Tô Hà Vân (Nguyễn Đình Toàn) Nhật Tiến... Viết văn, làm thơ, đăng trên tuần báo Đời Mới, Nguồn Sống Mới (Sài Gòn), Quê Hương, Tia Sáng, (Hà Nội) v.v... Thơ Song Hồ có hình tượng mới, truyền cảm, ngôn ngữ sử dụng tài tình, nói như Rimbaud thơ phục vụ cho con người và con người chưa là tuyệt đối, ông đóng góp vào thơ tự do cho văn học hậu chiến không nhỏ.
Trích thơ:
AI VỀ MIỀN QUÊ TÔI NHẮN
Ai về miền quê tôi nhắn
Cho bóng người áo vải
Rằng thành đô đổ nát đến nơi rồi
Say thú vui: khóe mắt làn môi
Đổ ngày tháng cho hung thần khoái lạc
Ai đã trông mà lòng không tan tác
Trẻ già trai gái
Trụy lạc như nhau
Mặc súng ngoài xa nổ
Gục mấy hàng cau
Gục người mẹ
Người cha
người anh
người em
Họ hàng thân thích
Đây Hà Nội!
Trời mưa tuôn rả rích
Bê bết bùn lầy, nước đọng nhớp nhơ
Đèn nê ông tỏa ánh điện xanh mờ
Nhạc cuồng loạn
Gót giầy đinh lắc ván
Một và hai, trăm ngàn
Rồi đến vạn
Đèn nhạt, đèn xanh, đèn tím, đèn vàng
Nhạc điên cuồng vẫn réo rắt reo vang
Mầu biến đổi là lòng người biến đổi
Mập mờ và yếu đuối
Hiện dần trong bóng tối
Có bóng người con gái miền quê
Khăn yếm bỏ đi rồi
Làn tóc soăn soăn
Đỏ mọng đôi môi
Chiều thứ bảy
Giầy đinh vang hè phố
Ai về miền quê tôi nhắn
Cho bóng người áo vải
Rằng Thành đô đổ nát đến nơi rồi...
1954
(Trích tuần báo Nguồn Sống Mới, Sài Gòn)
SONG HỒ
Từ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu
KỲ THỨ XXI
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
CHƯƠNG NĂM
CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢO
Tiết 1. – KHÁI QUÁT VỀ CÁC NHÀ VĂN BIÊN KHẢO
Từ 1950 đến 1954, xét về mặt biên khảo dịch thuật thời hậu chiến thật nghèo nàn và càng hơn so với tiền chiến. Thời gian vài năm, quá ngắn ngủi để các nhà biên khảo, dịch thuật kịp có thời giờ đầu tư công trình biên khảo dịch thuật. Một số trí thức trong tạp chí Phổ Thông (Hà Nội), như Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan Lê Đình Chân, Vũ Quốc Thúc, Lê Quang Luật, Lê Văn Ký v.v..., còn một số nhà văn biên khảo độc lập khác, như Phạm Việt Tuyền, Phạm Văn Sơn, Lê Văn Hòe v.v....
Riêng bộ môn sử học, chỉ một người duy nhất đầu tư việc làm này là Phạm Văn Sơn. Phương pháp viết sử khoa học, tư liệu phong phú, quan niệm viết khá mới mẻ; nhưng cũng vẫn phải đợi đến cuối năm 1956, Việt Sử Tân Biên (tập 1) mới xuất bản ở Sài Gòn. Gồm 7 cuốn, ròng rã trong vòng năm năm mới in xong toàn bộ. Một số dịch giả khác, như Mặc Đỗ, Lê Đình Chân, Giản Chi... dịch tác phẩm phương Tây, còn Giản Chi dịch tác phẩm của Lỗ Tấn (qua Hán văn)... tác phẩm dịch xuất bản được như muối bỏ biển. Phần khác, độc giả vào thời chiến tranh, đọc sách chưa là cần thiết; cơm áo, gạo, tiền vẫn cấp thiết hơn. Sách vở không đến với độc giả nhiều, tác phẩm in ra quá ít; không đủ sở hụi cho vấn đề in ấn; nên đây cũng làm cản trở đầu sách mới được xuất đầu lộ diện.
Giản Chi với Con người Cô Độc, (Lỗ Tấn), Nguyễn Uyển Diễm in sách (NXB Huy Sơn), Lê Văn Hòe với nhà xuất bản Quốc Học do chính ông thành lập, khảo cứu văn học Việt Nam, (Truyện Kiều của Nguyễn Du với chú giải mới). Tình trạng nghèo nàn về dịch kéo dài cho đến hiệp định Genève 1954).
Tiết 2: NHÀ VĂN BIÊN KHẢO, DỊCH THUẬT
1. LÊ ĐÌNH CHÂN.
Ông dịch Người Yêu Nước (The Patriot) của P.S.Buck (1946), Một đêm Trăng (Up at the villa) của S. Maugham (1950), Sinh Hoạt Chính Trị Nước Mỹ (La vie politique des États Unis)... của Padover (1952)...
Dịch giả là giáo sư chuyên ngành chính trị, kiến thức uyên thâm, ngoài những tác phẩm chính trị, tác phẩm văn học của PS. Buck, Maugham được việt hóa lưu loát, khiến độc giả có cảm giác nhân vật sống trong khung cảnh Việt Nam. Ngoài ra, còn tác phẩm biên khảo khác Tả Quân Lê Văn Duyệt, tài liệu sử học viết về Tổng trấn Thành Gia định có nhiều khám phá mới về tài liệu, quan niệm mới biện giải thật hữu ích cho những ai muốn biết chính xác hơn, liên hệ đến Tướng lãnh thời Gia Long.
2. PHẠM VIỆT TUYỀN
Sinh 1926 ở Thanh Hóa. Còn ký Thanh Tuyền qua thi phẩm Phá Lao Lung, (Sài Gòn 1956). Tác phẩm biên khảo, văn học:Nghị Luận Văn Chương (Thế Giới, Hà Nội 1954), Nghệ Thuật Viết Văn (Hà Nội, 1954), Sức Mạnh và Tinh Thần (Sài Gòn, 1955)... Chủ nhiệm nhật báo Tự Do ở Sài Gòn sau 1954. Qua đời ở Pháp 1999.
Về biên khảo văn học và sách giáo khoa, phương pháp viết khá mới mẻ, mặc dầu cuốn Nghị Luận Văn Chương, Nghệ Thuật Viết Văn chỉ là sách giáo khoa dùng cho học sinh trung học, chuyên khoa và còn giúp cho người tự học tìm hiểu văn học, cách tự viết văn. Cùng loại Nghệ Thuật Viết Văn, sách vừa để dạy học sinh chuyên khoa, vừa là văn học; một tác giả khác, ông Lữ Hồ (Nguyễn Minh Hiền) soạn giả viết văn giản dị, giá trị văn học cao hơn. Sách giáo khoa thì giá trị hơi dư, nhưng phê bình văn học cũng không thể nổi trội. Trong Sức Mạnh Tinh Thần, tác giả Phạm Việt Tuyền cho rằng sức mạnh tinh thần là bao trùm các thế lực khác. Sống và Viết là bài diễn văn đọc trước hội nghị, tìm lối thoát cho sự bế tắc tác phẩm văn học, về đời sống người viết lao đao. Để dung hòa được hai điều này, ông tán thưởng phương pháp giải quyết của Graham Greene, chính quyền phải có quỹ bảo trợ văn hóa, người sáng tác lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo. Vấn đề bảo trợ này, cũng không nên thường xuyên, nếu làm vậy sẽ làm hư các nhà sáng tác. Còn thơ qua Phá Lao Lung; thơ tôn giáo theo bước đường Hàn Mặc Tử, nội dung yếu kém, rung cảm vay mượn, nông cạn, ít cảm xúc thực. Những bài thơ như: Thuyền Nước, Khắc Khoải, Trên Đường Phụng Sự, cũng như hai chục bài khác, thơ của một người ghép vần, khô khan tâm hồn nghèo nàn. Chẳng hạn:
“...Biển vùng mở, trời Tương Lai lồng lộng
Nước xô thuyền giồn giập sóng cao xanh
Gió thoát Trường Sa nổi dậy tung hoành
Thổi bừng cháy, lò hương còn gấm rủ...”
hoặc:
“...Nhạc chinh chiến não nùng vang đất Việt
Máu anh hùng bi tráng nhuộm Trời Nam
Giặc xâm lăng giầy xéo lẽ siêu phàm
Đau đớn nhẹ tay người tu sĩ yếu...”
Thơ tôn giáo Hàn Mặc Tử, văn tôn giáo Thụy - An - Hoàng - Dân mầu nhiệm, huyền diệu – ở chỗ nghệ thuật diễn tả, hấp dẫn, rung cảm, có tâm hồn; không thể nhào nặn lối công thức như Thanh Tuyền trong Phá Lao Lung. Hầu hết thơ gọi là thơ của ông, từ ngôn từ cho đến rung cảm thơ mượt mà cảm xúc đều xa vắng. Coi như người làm thơ Thanh Tuyền chỉ có giá trị qua sách giáo khoa văn học mà thôi và Phạm Việt Tuyền còn được đánh giá như sau:
“... Không chép hẳn cách thức trình bày của sách giáo khoa ngoại lai hay bàn về cách dạy nghệ thuật viết văn, nhất là của Âu Châu, vì tác giả nhận thấy nếp suy nghĩ rung động và nhận xét của người Việt, bằng ngôn ngữ danh từ Việt có nhiều điểm không giống các dân tộc khác...” (27)
3. MẶC ĐỖ
Tên thật Đỗ Quang Bình. Sinh 1920 ở Hà Nội. Tác giả : Về Nam (kịch) đăng trên Phổ Thông (Hà Nội, 1953), Lão Ngư Ông và Biển Cả (dịch The Old Man and The Sea của E. Hemingway), Con Người Hào Hoa (The Great Gatsby của F.Scott Fitzgerald) (1956) Bốn Mươi, Siu Cô Nương (truyện)... kịch, Mặc Đỗ không có gì đặc sắc vở kịch thiếu kịch tính để có thể diễn được. 
Về dịch thuật, ông là dịch giả có tài, Việt hóa được tác phẩm văn học dịch làm giầu cho văn học. Ở tạp chí Sáng Tạo (Cn: Mai Thảo, số 1, 1956), bênh vực cho việc tại sao trong tác phẩm Con Người Hòa Hoa, ông để nguyên tên runner (tên một loại cá ở Mỹ, mà không dịch là con cá, như một bài điểm sách chê dịch giả để nguyên tên runner, độc giả chẳng hiểu runner là gì, cuối cùng vẫn chỉ là con cá). Ngoài nước Mỹ, kể cả người ngoại quốc không phải Mỹ, chẳng ai hiểu được runner có hình thù gì, họ chỉ biết runner là cá mà thôi. Định giá trị cho việc dịch thuật của Mặc Đỗ, Uyên Thao viết:
“... Phê bình cái linh diệu để việt hóa không thấy trong Con Người Hào Hoa. Do đó, đọc những câu văn hoàn toàn ngoại ngữ, nhưng muốn thấu hiểu kỹ lưỡng, người đọc vẫn phải làm cuộc phân tích mệnh đề như những cậu học sinh học ngoại ngữ. Sự kiện này, có lẽ, chỉ là quá nệ vào từng câu từng chữ trong nguyên văn. Một khuyết điểm nữa mà Mặc Đỗ trong khi chú thích về vị trí địa dư, dùng chữ A định nghĩa chữ B, nhiều độc giả ngỡ ngàng không hiểu. Tương tự như người Việt giảng cho người ngoại quốc rằng Gò Vấp thuộc Gia Định khi người đó chưa biết Gia Định là đâu?...(30).
4. LÊ VĂN HÒE. (1911–1968)
Sinh 1–1–1911 ở Hà Đông. Sáu tuổi đã học Hán văn, chín tuổi chữ Tây. Theo học Trường Bưởi và viết văn 1927. Chủ nhiệm Đời Mới (1937), chủ bút Việt Báo... 
Tác phẩm: Quốc Sử Đính Ngoa, Khổng Tử Học Thuyết (3 tập), Gió Tây, Truyện Kiều Chú Giải, Tìm Hiểu Tiếng Việt... Nhà biên khảo có tác phẩm xuất bản từ tiền chiến, biên khảo văn học, có công, ít giá trị. Ông như người thâu trữ tài liệu thì nhiều, nhưng biến chế tạo thành tác phẩm có đích thực hữu ích, giá trị riêng biệt, thì chưa. Chẳng hạn Văn Hóa Sử Cương Đào Duy Anh toàn bích, dù là lập luận viết có thể người đọc chưa đồng tình, được thuyết phục; nhưng soạn giả có lập luận biến thâu trữ tài liệu đó thành tác phẩm tiêu hóa. Bàn về cách dịch thơ Lê Văn Hòe, qua Gió Tây ông là nhà biên khảo ít rung động khi dịch, công thức hóa ngôn từ thơ, khác hẳn Hoa Thơm thơ dịch của Hà Bình Trung.
Tiết 3. PHẠM VĂN SƠN (1915 – 1980)
Tiểu Sử.
Tên Phạm Bá Kỷ trong khai sinh ban đầu. Sinh 15–8–1915 ở Hà Nam. Học Trường Bưởi ngay từ khi trên ghế nhà trường, viết cho báo Đông Tây (1933) Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, 
Thanh Niên, Tương Lai Tạp Chí, Phụ Nữ Thời Đàm (tiền chiến). Sau 1954, viết cho tạp chí Văn Nghệ Tập San (Cn: Nguyễn Đăng Thục) Văn Hóa Nguyệt San, Bông Lúa... (Sài Gòn). Còn ký bút danh khác Dương Châu (Vĩ Tuyến 17). Bài đầu tiên là thơ dịch À Hélène của Ronsard. Làm rất nhiều nghề khác kiếm sống. Quan niệm của ông, làm nghề khác có tiền; nếu sống chỉ bằng nghề văn; thì lo cơm áo thôi sẽ không thể sáng tác được.
Tác phẩm:
Việt Nam Tranh Đấu Sử (Hà Nội 1949), Vĩ Tuyến 17 (ký Dương Châu, Sài Gòn 1955, sau Bộ Thông Tin VNCH cho địch sang Anh Ngữ: The Seventh Parallel, Việt Sử Tân Biên (tập 1) (NXB Trần Hữu Thoan, Sài Gòn 1956)...
Quan Niệm Viết Sử. –
Sau Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược xuất bản 1919 (2 tập), đến nay Phạm Văn Sơn cho xuất bản cuốn sử viết có hệ thống, mạch lạc, mặc dầu trước ông, còn các học giả nổi danh như Nguyễn Văn Tố; gần đây Nguyễn Thiệu Lâu. Hai sử gia sau chỉ viết những bài báo lẻ tẻ, in thành sách như Nguyễn Thiệu Lâu với Quốc Sử Tạp Lục. Còn bộ sử Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn, trọn bộ 7 tập, trên dưới 4.000 trang. Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim, viết từ hồi Pháp thuộc, quan niệm viết sử bị cơ chế chính trị ràng buộc, hạn chế, khó tránh lệch lạc. Chẳng hạn, gọi bọn đối với nghĩa sĩ Phan Đình Phùng. Khi Chính Phủ Quốc Gia thành lập, báo phỏng vấn Trần Trọng Kim, gọi nghĩa sĩ yêu nước là bọn (tạp chí Đọc Vòng Quanh Thế Giới). “... – Thưa cụ, cuốn Việt Nam Sử Lược năm 1919 xuất bản dưới hồi Pháp thuộc thì có những điều có thể bỏ qua được. Còn cuốn tái bản vào 1949, khi nước nhà đã độc lập rồi mà còn duy trì vài luận điệu làm cho dư luận phải phân vân, khó hiểu. Chẳng hạn như gọi các nghĩa sĩ Phan Đình Phùng là bọn. Nhà xuất bản trước khi đem in có đưa cụ duyệt lại bản cũ không? ... “Tác giả Việt nam Sử Lược trả lời :”
... Cuốn Việt Nam Sử Lược đã xuất bản lâu rồi, tôi cứ để nguyên cho dễ bề kiểm duyệt, tôi chỉ lo sao cho đại cương được đúng với sự thật, căn cứ vào những sử liệu chân xác, hòng cung hiến độc giả một cuốn sử lược không lầm lạc mà thôi. Sau này chắc có nhiều học giả khác sẽ viết những cuốn sử hoàn thiện hơn...” (31)
Soạn giả Việt Nam Sử Lược trả lời: ... “sẽ viết những cuốn sử hoàn thiện hơn? Vậy là ai, ai viết? người viết là ai? Và người viết sử tiếp Trần Trọng Kim, là Phạm Văn Sơn qua Việt Sử Tân Biên. Tuy Phạm Văn Sơn chưa đạt giá trị mong muốn, vẫn là người viết sử thay Trần Trọng Kim được. Lập luận dân nhược tiểu tài liệu, sự kiện lịch sử, phương pháp viết khoa học, hệ thống hóa hợp lý. Nhận định về Hai Bà Trưng không thiên vị như sách Nguyễn Tế Mỹ với cuốn Hai Bà Trưng (Hàn Thuyên xb trước 1945) Lập luận cực đoan nhóm Hàn Thuyên dựa vào tài liệu lịch sử thật giải biện theo tư duy có lợi cho đệ tứ quốc tế. Còn Phạm Văn Sơn, luận về giai đoạn lịch sử khởi thủy Hai Bà (VSTB, từ trang 30 đến 45) là vua đầu tiên, dựa theo tài liệu Nguyễn Văn Tố được biến chế hợp lý:
“... Bổn phận của ta là phải tôn Hai Bà Trưng lên bậc liệt nữ thứ nhất của nhà, ghi năm 40–43 vào niên biểu chính. Mỗi khi dạy sử, nghĩa vụ của ta là phải nhớ rằng trừ thời lập quốc ra không kể, nước Nam ta đã có tinh thần tự chủ ngay từ hồi Hai Bà Trưng, tức là đầu thế kỷ thứ nhất, chứ không phải đời Tiền Lý vào thế kỷ thứ 6...” (Nguyễn Văn Tố)... Chúng tôi (Phạm Văn Sơn) hoàn toàn đồng ý với ông Nguyễn Văn Tố, nên ghi chếp triều đại Trưng Vương ngang với các triều đại khác trong cuốn sách này, bởi chúng tôi quan niệm tính cách hoàn toàn chính thống, vì đã gây được nền độc lập cho dân tộc. Thế là đủ người ta không thể im, lẽ dài ngắn hay công cuộc xây dựng được nhiều hay ít của một triều đại mà định tính cách chính thống hay ghi vào niên hiệu chính thống, huống hồ trong ba năm cờ vàng phất phới trên cõi Lĩnh Nam lửa loạn vừa tàn sinh lực quốc gia, chưa kịp hồi dưỡng mà đòi hỏi nhiều việc kiến thiết thì thật quả là khe khắt và vô lý...”
Quan điểm vững bàn đến hiệu chính thống Hai Bà. Ở Trần Trọng Kim không thừa nhận điểm này (Việt Nam Sử Lược) mà chỉ chép thời Bắc thuộc thứ nhất đến Tiền Lý. Về sử liệu, hẳn không thể căn cứ thời hạn là bao nhiêu mới đủ một ngày độc lập vẫn phải ghi chép. Như vậy, thay một triều đại, chỉ cần một ngày cũng là thay triều đại, không thể không ghi là niên biểu chính thống. Theo sử gia, căn cứ vào đâu, mấy năm độc lập mới là coi là chính; hoặc thay đổi triều chính thế nào là chính? Dù chỉ một ngày khởi nghĩa lật qua trang sử mới phải trải qua triều đại. Ít nhất có hai cách đánh giá mà người cùng thời chưa thể đánh giá đúng mức được: sử học và văn học sử ngay thời hiện đại. Sử gia hoặc nhà phê bình văn học, chỉ có thể căn cứ tài liệu sử hoặc định giá tác phẩm văn học trong một thời đoạn nhất định tương đối thôi. Và chờ người đến sau đánh giá lại mới có sự công bằng. Đối với Sĩ Nhiếp, hầu hết các cuốn sử của ta tán tụng ông quan thương dân, đề cao Sĩ Nhiếp không kém gì đấng quân vương nước Việt. Như sử liệu, Sĩ Nhiếp còn được gọi là Nam Bang Học Tổ và thời Sĩ Nhiếp cai trị gọi Sĩ Nhiếp kỷ. Nhưng Phạm Văn Sơn có khác, ở chỗ:
“... Chúng tôi không phủ nhận công nghiệp đáng kể của Sĩ Nhiếp trong ngót nửa thế kỷ ở nước ta, nhưng chúng tôi muốn đính chính lại bằng những giòng dưới đây những điều gì thiếu xác thực. Sĩ Nhiếp bấy giờ làm Thái Thú cùng với Thứ Sử Trương Tân, xin Hán đế đổi Giao Chỉ ra Giao Châu. Trong lúc bên Trung Quốc có giặc cướp nổi lên lung tung, thì ở Giao Châu cuộc rối loạn cũng nhóm lác đác ở nhiều nơi. Ông Sĩ Nhiếp đã khéo léo trong công việc cai trị, nên bảo vệ được trật tự ở Giao Châu. Ông giữ đủ lễ nghĩa với Hán Triều (tiến cống) được Hán phong làm An Viên Tướng quân Long Độ Đình Hầu. Sau này Trung Quốc lâm vào thế chân vạc do sự tranh giành ảnh hưởng của ba nhà: Bắc: Ngụy, Tây: Thục, Đông: Ngô, thì Giao Châu nằm trong khu vực Đông: Ngô. Ông cũng vẫn giữ được hết thảy quyền hành như với Hàn Triều xưa Tính ra, tuy ông là Thứ Sử, nhưng đã được rất nhiều ảnh hưởng ở Giao Chỉ suốt 40 năm trường. Chính trị của ông rất là sáng suốt, ở chỗ biết an dân, trọng đãi trí thức, được toàn thể nhân dân Giao Châu ái mộ và tôn sùng, nhờ vậy địa vị của ông mới bền vững được lâu dài...”
Nguyễn Văn Tố luận về ngày giỗ Lý Nam Đế, ý kiến xác đáng này được Phạm Văn Sơn trích lại :
“... Bậc anh hùng cứu nước đầu tiên là: đức Phù Đổng Thiên Vương, và vua Tiền Lý Nam Đế. Đức Phù Đổng Thiên Vương thuộc vào thời khuyết sử, chuyện lại thần kỳ, cho nên Khâm Định Việt Sử không chép đến. Còn Hai Bà Trưng, thì ai là người Việt Nam, tất phải biết đến, như Vua Tiền Lý Nam Đế (Lý Bý hay Lý Bôn 544–548) thì sử nước ta chép riêng ra một kỷ tức là một dòng vua, nhưng lại không có ngày Quốc lễ. Phù Đông Thiên Vương có Hội Gióng (Gióng là nôm làng Phù Đổng). Ta có câu ca dao: Ai ơi mồng tám tháng tư / Không xem hội Gióng thì hư mất đời. Trưng Vương có hội Đền Hai Bà vào ngày mồng năm tháng hai, là ngày kỷ niệm chung của cả nước. Duy có vua Tiền Lý thì chỉ có mấy làng ở Cửa Sông Đáy thờ làm Thành hoàng, đến nay vẫn chưa có Ngày hội lớn, để quốc dân nhớ lại công ơn của một vị anh quân đã đưa đường dẫn lối cho dân ta thoát vòng lao lung nô lệ. Vả chăng từ năm 541, Lý Bôn giữ thành Long Biên đến Lý Phật Tử 602, trước sau hơn 60 năm, ta có thể gọi đó là một kỷ Nhà Tiền Lý. Đã gọi là một kỷ, nên có ngày kỷ niệm chung của quốc dân đối với người đã dựng cờ độc lập và chồng giữ giang sơn của nòi giống chúng ta...”.
(Nguyễn Văn Tố)
Chương về nhà Tiền Lê, sử gia trong chế độ phong kiến cho việc Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh, vì được sủng ái Dương Hậu là thái độ bất trung. Qua nhận xét người viết sử sáng suốt Phạm Văn Sơn cho Lê Hoàn lên ngôi hợp lý, bởi vua con còn quá nhỏ, nếu không có vị quan tài cán làm Nhiếp Chính như Lê Hoàn đất nước sẽ bị xáo trộn. Sự thay đổi triều vua hợp lý, nếu trách, nên căn cứ việc làm cai trị nước kẻ thay ngôi, Lê Hoàn hoàn thành việc giữ nước tất phải khen hơn là chê:
“... Bấy giờ trong triều có nhiều đại thần, nhưng thế cũ đã biến, cần phải có người chấm dứt thế biến đó, nhất là quân xâm lăng đã vào tới bờ cõi. Cuộc đảo chính cần phải xảy ra để có một bàn tay cương quyết đối phó với nghịch cảnh, phải có một người đánh dạn, bước ra chịu trách nhiệm với quốc dân và lịch sử, không thể trì hoãn được nữa...”
Chẳng phải mới có người nói như thế; ngay thời, Đại Việt Sử Ký bấy giờ, cho Lê Đại Hành thực sự có công với nhà Đinh. Như vậy không thể cho Lê Hoàn phụ bạc nhà Đinh được:
Bàn về Nùng Trí Cao Phạm Văn Sơn cho Nùng Trí Cao gốc thuộc dòng Việt, dựa trên sự kiện địa lý phong tục tập quán (cùng giống, khác giòng, dân tộc thiểu số, nói tiếng riêng). Không riêng dân Việt Nam bây giờ không thể không là một trong giòng máu Bách Việt xưa. Phạm Văn Sơn lý giải:
“... Việc chấm dứt tám châu ở Quảng Châu của Trung Quốc, việc vây khốn địch Thanh trong rừng núi Ưng Châu còn làm sáng ngời, dầu sau này thất bại vì trái tim bồng bột của nữ tướng Đoàn Hồng, vẫn không thể làm phai uy danh của họ Nùng, đồng thời lại còn tăng nhanh thế người phương Nam. Phải chi họ Nùng thắng được trận này, sự nghiệp của họ Nùng có lẽ không biết đến đâu mà lường được. Hơn nữa Nùng là một dân tộc thiểu số, nhưng vẫn là con dân đất Việt sống trên đất Việt, cùng là máu mủ với chúng ta, trước sự hưng vong của lịch sử, thì đối với người ngoại bang, hành động của Nùng có thể là hành động của người Việt...”
Lập luận viết sử Phạm Văn Sơn biết đánh giá sử liệu trên quan điểm viết sử độc lập. Việt Sử Tân Biên (tập 1), dầy ngót năm trăm trang, biên chép lịch sử diễn tiến khởi thủy đến đời Lý. Những tập tiếp theo sẽ xuất bản trong khi chúng tôi viết đến những dòng này thì Việt Sử Tân Biên chưa thấy khuyết điểm. Ở tập 1 có thể đánh giá lập luận viết sử qua tập một; thí dụ về sự giải thích kỷ Hai Bà Trưng, công tội Sĩ Nhiếp, Lê Hoàn tiếm ngôi, Nùng Trí Cao v.v...., thì có thể so sánh với sử gia độc lập nổi tiếng, như Michelet, Tư Mã Thiên, ... Chỉ một điều theo quan niệm Phạm Văn Sơn, kỷ được nói về đời vua trong một chương. Và bàn đến xã hội Trung Quốc, ông lại dành một chương (như kỷ, là một triều vua), vậy chẳng hóa ra xã hội cổ Trung Quốc viết trong sử Việt Nam được coi ngôi vua trong lịch sử Việt Nam? Điều sỉ nhục của một nước không thể là không được viết lại; như trên lạm bàn. Viết về nước thống trị như một kỷ, trong cuốn sử nước bị thống trị. Hẳn rằng không thể biện luận là sự thâm nhập văn hóa Trung Quốc vào lịch sử Việt Nam, cũng không thể cho viết kỹ lưỡng; so sánh tất yếu không thể không có. Nếu có, hẳn tác giả phải viết một chương về cách thống trị của pháp trong lịch sử Việt Nam ở tập khác.
Kết Luận.
Ai cũng biết thế kỷ XX, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Thiệu Lâu.... là sử gia uy tín qua sách, bài vở đăng tải trên báo dầu có tác giả chưa tài liệu sử đăng báo có sách in. Và hậu chiến chỉ một Phạm Văn Sơn làm việc khó khăn này về tài liệu, quan điểm, lập trường thời gian hoàn thành bộ sử Việt Nam, từ khởi thủy đến hiện tại qua tập đầu, chưa thể có kết luận tổng quát giá trị sử liệu. Quan điểm và lập luận Phạm Văn Sơn cho toàn bộ sử, khi chưa xuất bản tập cuối. Nhưng khẳng định, ai muốn hiểu biết lịch sử Việt Nam, không thể không tham khảo Việt Sử Tân Biên của ông. Về sách giáo - khoa - sử dành cho học sinh không thể quên soạn giả Phan Xuân Hòa, tài liệu sử ở đây chỉ thu hẹp khuôn khổ trường học. Nhiều sử gia ngoại quốc viết về lịch sử Việt, không xuyên suốt, chỉ từng thời đoạn, không thể không biết đến: Bonifacy, Maybon, Maspéro, M.Durand, Pierre Huard.… Gần nhất P.Devillers, J.Chesnaux... và sử gia Pháp (gốc Việt) Lê Thành Khôi với Contribution à l’histoire le la nation Vietnamienne) (Paris, 1955) (31). Sử gia sau này viết theo lập luận thân Máx xít (pro–marxiste).
Từ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu
KỲ THỨ XXII
CHƯƠNG 6
BỘ MÔN KỊCH
HOÀNG NHƯ MAI
Tiểu Sử.
Sinh năm 1918 (32) trong gia đình quan lại. Theo học Trưỡng Luật Hà Nội. Bắt đầu văn nghiệp, ông bị ma lực thi ca kịch nghệ hấp dẫn. Thời gian 1941–45, cộng tác với nhóm 
Hàn Thuyên bút danh Như Mai. Từ 1945, kháng chiến bùng nổ, tham gia ban kịch lưu đoàn kịch nghệ nhà nghề Sỹ Tiến, trình diễn vở kịch đầy tính yêu nước, và có nữ diễn viên tài sắc tuyệt vời cùng lưu diễn suốt từ Trung ra Bắc. Hiện nay ông sống ở Miền Bắc (VNDCCH). Hoàng Như Mai được khán giả yêu chuộng, đó là vở kịch, bối cảnh 1789 khi Mãn Thanh kéo quân sang xâm lăng Việt Nam. Vở kịch kết thúc bằng hồi trống thắng địch vang dậy từ Hà Hồi (Tiếng trống Hà Hồi).
Kịch này được công diễn ở Hà Nội vào ngày 31 tháng 12 năm 1950 và 1 tháng giêng năm 1951 do Vũ Khắc Khoan dàn dựng. Năm 1951, nhà xuất bản Vĩnh Thịnh in thành sách, và Nguyễn Tường Phượng viết tựa, bài vào đề Vũ Khắc Khoan và bài phê bình của Thượng Sỹ.
Phân tích
Năm 1789 (Kỷ Sửu) năm mở màn cho tinh thần anh dũng quân Việt chống xâm lăng, qua tài điều khiển thao lược của Quang Trung, Quân dân Việt Nam đánh tan 20 vạn quân Thanh ở Đống Đa (Thái Hà ấp). Nguyễn Huệ kéo quân qua Tam Điệp tiến về Hà Hồi, tràn vào Thăng Long thành, Tôn Sĩ Nghị chạy bạt vía. Một khóa sinh mưu đồ cứu nước, tên Đồ Trần bèn rủ Khóa Vũ, mời các vị khoa bảng như Tú Bảng, Quan Giáo Thụ, vong thần Nhà Lê tán trợ. Trong số đó có cụ Tú cương quyết, lại không hành động, cụ Bảng đồ nho chịu nhục nhã, không dám hành động, chỉ khua môi múa mép xằng. Quan Giáo Thụ nhát như cáy. Hai thầy đồ không bị lui đi. Khóa Vũ báo tin Nguyễn Huệ đang tụ tập binh mã ở Nghệ An tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh. Khóa Vũ rủ anh đồ Nghệ xuôi Nghệ An. Khóa Vũ thu xếp nhà cửa xong xuôi, thầy Đồ Nghệ vướng mắc thê nhi, sau quyết tâm như Yên Ly thời Chiến Quốc giết vợ con để lên đường gia nhập đại nghĩa. Vừa khi đó, Quang Trung ào ào đem quân Thăng Long thành. Tiếng trống thúc quân nổ ròn rã, hai thầy Đồ nhập đoàn quân tàn sát quân xâm lăng Mãn Thanh.
Vở kịch gồm ba màn. Nhân vật Tiếng Trống Hà Hồi: thầy Đồ, Khóa Vũ, hai khóa sinh yêu nước, sôi sục tim gan thấy quân xâm lăng Mãn Thanh giày xéo quê hương, có ý định tham gia đoàn quân cứu nước. Vợ Đồ Trần, người đàn bà hiền thục, chỉ biết thờ chồng, nuôi con. Bà Hai, người hàng xóm, cùng chí hướng với thầy Đồ chán ghét bọn xâm lăng Mãn Thanh. Ông Bát, chú của thầy Đồ, tên phản quốc, tay sai của bọn xâm lăng Mãn Thanh. Cụ Tú, cụ bảng, mang danh vong thần Nhà Lê, song chịu nhục nhã với nho phong, hơn phải dấn thân hành động. Quan Giáo Thụ mang danh dạy học trò đạo lý gia phong, tinh thần yêu nước; nhưng hèn nhát, không dám bộc bạch lòng yêu nước chính mình bằng hành động. Lính Mãn Thanh, bọn côn đồ tay sai Tôn Sĩ Nghị, cướp của, hiệp tróc đàn bà con gái, giết lương dân. Bấy nhiêu nhân vật đại diện cho vở kịch ba màn rất sinh động kích thích lòng yêu nước, của kịch tác gia Hoàng Như Mai.
Vở kịch có nhiều động tác kịch ngay hai màn đầu, song ít động tác kịch biến (coup de théâtre). Màn chót Đồ Trần cầm gươm hạ thủ vợ con, nhẹ gánh gia nhập đoàn quân thì động tác kịch biến, nổi bật, tạo sự hồi hộp cao độ và khán giả. Tác động kịch phụ khác, tiếng thúc quân, ầm ầm vang thành tan, núi lở binh mã Quang Trung tiến quân vào Thăng Long thành, tạo được sự nôn nao, háo hức khán giả và không cần dàn quân, bố trận, khó thực hiện trên sân khấu. Dùng biểu tượng xây dựng cho mỗi nhân vật một cá tính riêng, điển hình hèn nhát cụ Tú, cụ Bảng, Quan Giáo Thụ... rõ ra hèn nhát hoặc lưu manh bất cố vô sĩ tay sai cho giặc chỉ nghĩ đến tiền, như Bát:
“... Ông Bát: Ừ phải, thề bao nhiêu tiên đây (sờ túi, chậc)... để rồi tiện lúc nào bảo trẻ nó cầm sang trả. Ai lại thế, chị cũng còn phải bỏ vốn ra chứ? Chứ làm thế thì còn ra thế nào nữa?)
Bản tính đàn bà Việt ít muốn gây gổ, nép mình một bề, mỗi khi nghe bàn đại cuộc. Qua vài nét điển hình hình dung được mẫu người phụ nữ của thế kỷ trước: “... Mợ Đồ: Nhưng mà thôi, người ta làm gì thì làm, việc mình mình làm, quý hồ cứ biết làm ăn lương thiện là hơn...”
Thái độ cương quyết đạp đổ bất công, không an phận của thầy Đồ, Hoàng Như Mai tả lại:
“... Đồ Trần – Đã chắc làm ăn lương thiện mà chúng nó để yên à? Đấy hàng ngày xảy ra bao nhiêu việc, thanh thiên bạch nhật mà dám đột nhập vào nhà lương dân cướp của giết người. U nó không trông thấy hay sao? Đấy hôm qua Phường Đồng Xuân lại vừa xảy ra vụ sát phu hiếp phụ do lũ chó đói gây ra...”
Biến động kịch tính trong kịch, đoạn hay nhất trong Tiếng Trống Hà Hồi:
“...Vợ: (hỏi ra) – Thầy nó chưa đi ngủ à?
Trần: – Hai u con cứ đi ngủ đi.
(xa xa có tiếng đại bác nổ)
Vợ: Quái nhỉ! Sao nhà nào đốt pháo cối ấy nhỉ? Mồng ba rồi còn pháo. (Tiếng đứa trẻ khóc, mợ Đồ ra) Tiếng rú rời rạc nhỏ dần, hai mẹ con cùng ngủ.
Trong khi ấy Đồ Trần ngồi yên lặng nhìn trừng trừng, trong ám ảnh một định kiến. Bên ngoài tiếng cú, tiếng chó gióng một. Trống canh điểm sang ba. Trần giật mình chồm dậy quả quyết bước về phía thanh kiếm, cầm lên ngần ngại một lát, rồi quả quyết tuốt kiếm, bước vội về phía cửa phòng, vừa tới cửa, mợ Đồ giật mình trong giấc ngủ ú ớ nói mê, rồi tiếng guốc lẹp kẹp. Mợ Đồ cầm chiếc đèn con từ trong nhà thấy chồng đi ra ngạc nhiên.
Mợ Đồ: (hỏi) – Thầy nó đêm khuya rồi mà chưa đi nghỉ à? làm gì mà cầm gươm trần thế, nhà có trộm à?
Trần: (giọng bàng hoàng) – Canh năm tôi xuôi Nghệ an.
Mợ Đồ: – Cả nhà có mình thầy nó là đàn ông. Thầy nó đi rồi, mẹ con tôi biết nương tựa vào ai? Thầy nó có nghĩ đến mẹ con tôi một chút. (khóc)
Trần: (giọng ghê rợn) – Có, tôi đã nghĩ đến u con nó rồi. Tôi đã có cách (vừa lúc ấy có tiếng đạp cổng và tiếng gọi)
- Bác ơi.
Trần: Hoảng hốt đứng dậy.
Mợ Đồ: Tiếng ai như tiếng bác Khóa Vũ, đêm khuya rồi còn đến có việc gì?
Tiếng Vũ: Bác Đồ ơi, bác Đồ ơi!...
Trần: – Bác Khóa đến, việc lớn không thể bỏ lỡ được, tôi đã nhất quyết rồi
(Cầm gươm sầm sầm chạy vào)
Mợ Đồ: (nắm lại) – Thầy nó làm gì thế? tôi sợ quá!
Trần: (giật áo) – Buông tôi ra.
(Tiếng Vũ gọi gấp bên ngoài như quát: “Bác Đồ ơi, mau lên mau lên, đẩy cửa vào. Bên ngoài có tiếng sung reo, tiếng chó cắn... Mợ Đồ hoảng hốt chạy ra cổng, vừa lúc ấy có tiếng đổ sầm. Khóa Vũ chạy vội vào, tay cầm bó đuốc sáng rực).
Vũ: – Bác Đồ ơi, bác Đồ... Quân Tây Sơn đã ra Bắc phá vỡ Kinh Kỳ rồi. Dân chúng nổi lên giết giặc. Ta đi mau lên bắt cho kỳ được Tôn Sĩ Nghị. (Hai người chạy vụt ra ngoài, tiếng người hò reo. Tiếng súng ầm ầm. Tiếng quát inh ỏi. Bắt lấy lũ giặc, bắt lấy chúng nó...”. Màn hạ.
Kết luận.
Kịch Tiếng Trống Hà Hồi Hoàng Như Mai bố cục chặt chẽ, kịch đầy kịch tính, lòng quả cảm yêu nước, tạo sức mạnh trong giả cũng như khán giả. Vở kịch nằm trong ẩn dụ lên án đoàn quân viễn chinh Pháp tái chiếm, như Tôn Sĩ Nghị đem quân xâm lăng Việt Nam thế kỷ trước. Không cần đưa kết luận bằng công thức, tả hành động diễn tiến trong kịch, người xem, người đọc kịch Hoàng Như Mai, biết được ý tác giả muốn gửi gấm điều gì, kích thích, lòng yêu nước - khi đất nước bị xâm lăng.
CHƯƠNG 7
TỔNG LUẬN VỀ BÌNH DIỆN VĂN NGHỆ MIỀN BẮC: 1950 – 1954 (Quốc Gia Việt Nam)
Từ năm 1946 đến 1956, bình dân văn nghệ kháng chiến, văn nghệ Quốc gia phát triển hai hướng ngươc chiều nhau, cùng có tác phẩm ghi lại hình tượng mới thời chiến tranh. Sự hiện diện bộ máy quân sự viễn chinh Pháp không mấy khắt khe, chỉ lo mặt quân sự hàng đầu. Chính Phủ Quốc Gia là chính phủ, nhưng ở trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Mỗi miền tạo được số tác phẩm có bản sắc riêng biệt độc đáo.
Về văn, như Nguyễn Minh Lang, Hoàng Công Khanh, Thanh Hữu, Sao Mai, Triều Đẩu, Văn An, Huy Sơn, Nguyễn Thiệu Giang, ... về thơ Nguyễn Quốc Trinh, Song Nhất Nữ, Nguyễn Hoàng Quân, Trần Nhân Cư, Huyền Giang, Băng Sơn, Vân Long, Song Hồ, Hoàng Song Liêm… Và các nhà thơ tiền kháng chiến: Hoàng Công Khanh, Huyền Quang, Hoài Việt, Về bộ môn kịch, Tiếng Trống Hà Hồi tác phẩm nổi trội hiển hách bộ môn kịch và đêm công diễn vào năm 1950 và 1951, khán giả Hà Nội đón nhận nồng nhiệt, vở kịch kích động lòng yêu nước được kịch tác gia đạo diễn Vũ Khắc Khoan dàn dựng.
Biên khảo dịch thuật, sử học, phương danh: Mặc Đỗ, Lê Đình Chân, Lê Văn Hòe, Phạm Văn Sơn, Phạm Việt Tuyền, Giản Chi... được nhắc đến. Về phóng sự châm biếm hoạt kê điển hình: Triều Đẩu, Đoàn Thu, Hiền Nhân, Hoàng Lan – Nguyễn Xuân Huy,...
Phần sau, chúng tôi bàn đến nhà thơ miền Trung (Quốc Gia Việt Nam); điển hình Huyền Chi (nữ), Hồ Đình Phương, Hoài Minh, Thanh Thuyền, Tạ Ký, Xuân Huyền, Thanh Thanh v.v...
Từ Vũ và Việt Văn Mới Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu 
KỲ THỨ XXIII
VỀ CÁC NHÀ VĂN HẬU CHIẾN: 1950 – 1956
[QUỐC GIA VN VÀ MIỀN NAM (VNCH)]
Giai đoạn kháng chiến, từ 1945 đến 1950 Việt Nam độc lập được gần một năm. Tiếp, Pháp chiếm lại Hà Nội, (ngày 19 tháng 12 năm 1946) cho dù đảng phái Quốc hay Cộng đều bỏ phù hiệu riêng, đoàn kết trong danh xưng kháng chiến chống thực dân tái xâm lăng. Suốt chín năm (1945–1954), thì kháng chiến ở bốn năm về sau, đã hao hụt thực chất; Mác xít ra mặt lãnh đạo – và cho đến 20–7–1954, phân chia đất nước, danh xưng toàn dân kháng chiến mất hẳn ý nghĩa. Song trên bình diện văn nghệ, ý thức toàn dân kháng chiến tạo được nền văn học có chiều sâu và rộng.
Giai đoạn văn nghệ phân hóa, văn nghệ Mác xít – theo hẳn lối sáng tác được chỉ huy, nhất là sau 1954 miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Còn Quốc Gia và miền Nam (VNCH) văn nghệ chỉ là vườn hoang, mọc đủ loại thảo mộc. Trong tập này, với người khe khắt cho quá nhiều – người dễ dãi cho chưa đủ. Với tôi, vẫn chỉ là bắt voi bỏ giọ, và tất nhiên chủ quan; thiếu sót tất nhiên không thể tránh. Nhìn vào những người viết sách nhận định văn học trước như Vũ Ngọc Phan kết luận cuối trang sách phê bình văn học, có đoạn:
“... Trước hết, bộ sách này là bộ phê bình văn học như tôi đã nói nhiều lần, vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn. Sau nữa, trong khi tôi viết những trang phê bình về thơ, có nhiều thi sĩ chưa có quyển thơ nào xuất bản, về kịch hay tiểu thuyết, có nhiều nhà văn chưa có sách biên khảo, chưa có kịch hay tiểu thuyết ra đời. Như vậy, biết căn cứ vào đâu cho chắc chắn? Rồi lại những nhà văn chính trị tuy đã có văn thơ in trên báo chương hay xuất bản thành sách, cũng không có trong bộ sách này, vì một lẽ mà ai cũng hiểu khi nhớ đến chế độ hiện hành về sách báo. Còn những nhà văn chuyên viết những sách Pháp văn thì tôi cho là không phải nói đến trong văn học Việt Nam. (...) Tôi xin nhắc lại đây một lần nữa rằng bộ Nhà Văn Hiện Đại này chỉ là một bộ phê bình văn học, không phải là bộ văn học sử. Trong văn học sử, người viết cần phải xét rất kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến văn phẩm, rồi lại phải định rõ cả sự liên lạc của nhà văn nọ với nhà văn kia đồng thời hay khác thời đại. Nếu không đủ được những điều cốt yếu ấy, để định rõ phong trào văn học, thì dù có văn học sử đi nữa, người ta cũng chỉ coi là một mớ sử liệu...” (1)
Thời gian này tác phẩm viết bằng Pháp ngữ như Phạm Duy Khiêm với Légendes des terrres sereines và Nam et Sylvie; hoặc Nguyễn Tiến Lãng Le Chemin de la Révolte; Phạm Văn Ký: Frère de Sang, Celui qui régnera; Cung Giụ Nguyên Le Fils de la baleine – sử học Lê Thành Khôi với Le Vietnam, Histoire et Civilisation v.v..., không nói đến, cũng như lý do mà ông Vũ Ngọc Phan đề cập tới ở trên. Đến nhà chính trị văn sĩ Hồ Hữu Tường với Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc bỡn Nga, ... thì cũng vậy. Cả đến loại sách trinh thám kỳ tình, kiếm hiệp, phong thần, phỏng dịch chắp vá được gọi là tác phẩm văn học – chúng tôi xin phép không nói tới. Rõ hơn là Phạm Cao Củng có mặt từ tiền chiến với Kỳ Phát; hoặc truyện Người Nhạn Trắng cũng thế v.v... Tác giả Hoàng Như Mai, thời gian 1950–1954 trong kháng chiến; chúng tôi đưa vào cuốn này; vì vở kịch Tiếng Trống Hà Hồi đặc sắc được in trình diễn ở Hà Nội. Có thể nói điển hình bộ môn kịch là Tiếng trống Hà Nội. Bước sang bộ môn biên khảo, đưa Duy Sinh vào một tiết, như một điển hình cho lớp người viết biên khảo; cũng vẫn chủ quan, so với Diên Hương, Thu - Giang - Nguyễn - Duy - Cần; Khi đối chiếu lại thì, Duy Sinh không thể giá trị bằng hai nhà biên khảo vừa nêu danh.
Trở lại bình diện văn nghệ hậu chiến, tập 3 gồm trên dưới một trăm nhà văn; chọn ba mươi điển hình nói tới cặn kẽ; so với người khác viết tóm lược. Cũng vẫn chủ quan thô thiển và tự nhận thiếu sót. Bởi còn nghĩ xa hơn rằng: "không thể viết đầy đủ các nhà văn mình muốn đưa vào một quyển, thay vì mỗi nhà văn điển hình phải viết hẳn một cuốn nói về họ".
Nên coi những trang viết này chỉ là chữ viết (écriture) trong bộ sách này, và không là văn học (littérature); như quan niệm của Michel Buto (2). Lẽ trang viết có ý nghĩa tổng quát hơn. Còn nữa, bộ sách này chỉ là kết quả viết về tác phẩm các tác giả mà tôi đã đọc, đưa ra nhận xét của riêng tôi; giúp cho nghề tôi nuôi nghiệp (littérateur). Từ 1950 đến 1956, biến chuyển thời cuộc tác động đích thực vào đời sống văn học mà nhà văn sống trong đó. Ở miền Bắc của Quốc Gia Việt Nam (1950 – 1954) nhóm Thế Kỷ tạo thành một Triều Đẩu, qua những mảnh đời phóng sự hồi cư nóng bỏng, hàng ngày phải đối phó với đời sống, tạm gọi độc lập trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Còn thêm nhà văn điển hình như Hoàng Công Khanh với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, (truyện), Bến Nước Ngũ Bồ (kịch dã sử), Nguyễn Minh Lang, ngọn bút tài hoa của văn chương lãng mạn mới, qua Gái Hà Nội, Nước Mắt Trong Đêm Mưa, Cánh Hoa Trước Gió (2 tập)... Hai nhà văn này, chúng tôi đề cập ở Chương 3 (tiết 2 và 4) – nhưng tập 3 này xuất bản ở Sài Gòn vào 1959 (Loại sách Đại Nam văn hiến trong nhà xuất bản Huyền Trân, Nhật Tiến chủ trương) bị kiểm duyệt bỏ trọn tiết. Bản in lại lần thứ hai in lại đầy đủ; nhưng trong lần này vẫn phải để trống phần phân tích; vì lý do tầm thường – không kiếm được bản tái bản vào 1973. Hai nhà văn điển hình khác nói đến trong Chương 3 là Thanh Hữu, Văn An. Về nhà thơ điển hình: Đinh Hùng, Nguyễn Quốc Trinh... Viết tóm lược nhà thơ: Hoàng Phụng Tỵ, Song Nhất Nữ, Băng Sơn, Vân Long, Trần Nhân Cư... Bình diện văn nghệ miền Trung (Quốc gia Việt Nam) vào giai đoạn này, nhà thơ điển hình được nói đến : Huyền Chi (nữ), Hoài Minh, Thanh Thuyền. Viết tóm lược các nhà thơ: Hồ Đình Phương, Huyền Viêm, Thế Viên...
Bình diện văn nghệ miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), nhà văn điển hình: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo (nữ), Triều Lương Chế, Phạm - Thái - Nguyễn - Ngọc -Tân Phạm Thái kèm tên thật Nguyễn Ngọc Tân, phân biệt với một Phạm Thái khác), Chấn Phong Hư Chu. Viết tóm lược: Tùng Long (nữ), Quỳnh Hương (nữ), Thiếu-Mai-Vũ-Bá- Hùng (nữ), Minh Đăng Khánh, Tạ Quang Khôi, Tường Hùng, Kiêm Minh, Nguyễn Hoài Văn, Uyên Thao, Tô Kiều Ngân... Một số nhà văn khác nổi tiếng sau giai đoạn 1956 như Võ Phiến chưa có tác phẩm xuất bản. Phải kể thêm trong số đó: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, (nữ), Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng (nữ), Võ Hồng, Thế Uyên, Tuấn Huy, Thế Nguyên, v.v... của Đệ nhị Cộng hòa (sau 1963 trở đi). Riêng về phóng sự tiểu thuyết: Hoàng Hải Thủy với Vũ Nữ Sài Gòn (3), Duyên Anh qua bút hiệu Thương Sinh, Toàn Phong với Đời Phi Công, chúng tôi chưa có cơ hội nói đến, và nhờ Vũ Ngọc Phan giúp giải vây sự khốn đốn; ... vậy không lẽ gì bắt buộc soạn giả phải nói đến tất cả nhà văn... Thêm nữa, khoảng thời gian viết đến lúc in ra (dầu cho là in ronéo-typé cách vài năm). Do đó, chưa kịp nói đến Võ Phiến (Chữ Tình), (4) Thế Uyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Toàn Phong , Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Nguyên, Văn Quang (Thùy Dương Trang), Huy Trâm, Phạm Nguyên Vũ, Túy Hồng (nữ), Lê Vĩnh Hòa, Nhật Tiến, (văn) v.v... – Về thơ: Thái Thủy, Tô Thùy Yên, Tôn Thất Quán, Hoàng Khanh, Cung Trầm Tưởng, Cao Mỵ Nhân, Viên Linh, Trần Dạ Từ (khi ấy ký Hoài Nam), Hoài Khanh, Hà Yên Chi v.v... và v.v... (5).
Giá trị văn chương tiền chiến Tự Lực văn đoàn, có cả Lê Văn Trương, (tập một: Nhà văn tiền chiến), tiếp đến giá trị văn chương lửa kháng chiến; sau là hậu chiến. Đọc Bướm Trắng, Nửa Chừng Xuân. Mấy Vần Thơ, Gửi Hương Cho Gió, Vang Bóng Một Thời, Thằng Kình, Ngoại Ô, Giông Tố... không nhìn thấy đầy đủ hình tượng sống cuộc sống hôm nay được thấy trong: Gió Bấc, Truyện Năm Người Thanh Niên, Trên Vỉa Hè Hà Nội, Cánh Hoa Trước Gió, Trại Tân Bồi, Nhìn Xuống, Điệu Đàn Muôn Thuở, Đêm Giã Từ Hà Nội, Sợ Lửa, Rừng Địa Ngục.... Văn nghệ là sản phẩm phản ánh thời đại, nên Kim Vân Kiều có hay đến mức thượng thừa – cũng chưa thể đại diện cho một khoảng thời gian không tiếp nối. Tác phẩm Nguyễn Du mới chỉ nói lên đầy đủ về xã hội phong kiến giao thời mà tác giả Kim Vân Kiều sống – đủ một số điều tương đồng hiện cảnh. Không thể nói đến Kim Vân Kiều là đủ điều tất yếu hình tượng sống lịch sử. Tác phẩm của Karl Marx, S.Freud cũng bị vượt qua, hiện nay vẫn cần khối óc siêu việt Oppeheimer, Einstein, Gandhi, JP Sartre v.v...
Phải hiểu được rằng: lịch sử một nước như lịch sử văn học, luôn theo đà diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Nói khác đi, sử học, văn học sử một nước không thể cắt quãng, cũng không tùy thuộc vào lập luận một phe nhóm nào để định giá trị vĩnh viễn. Rất cảm phục lập luận của Vũ Ngọc Phan dẫn trên kia; được gọi văn học sử, phải xét kỹ ảnh hưởng thân thế nhà văn đến tác phẩm, định rõ liên hệ (chữ dùng: TP) giữa nhà văn này với nhà văn nọ, định rõ phong trào văn học. Càng rõ hơn, được gọi văn học sử, ít ra phải làm được một bộ sách Lịch Sử Văn Chương Ngôn Ngữ Pháp (tạm dịch Histoire des littératures de la langue française) (6) do nhóm chủ trương gồm 209 giáo sư văn học thực hiện bộ sách vĩ đại ấy.
Cảm ơn số bạn giúp tài liệu, ý kiến, khích lệ, động viên, khi tôi khởi sự viết bộ sách này. Như họa sĩ Đinh Cường cởi áo, ngồi xệp trên sàn gác căn nhà trọ cùng tôi chia giúp những trang sách in ronéotypé xếp thành tập vào 1959, ở hẻm nhà thờ Lý Thái Tổ (Chợ Lớn). Uyên Thao mượn cho chiếc máy chữ, có lịch sử sản xuất cùng thời kỳ Tây hạ thành Hà Nội. Nguyễn Quang Tuyến nuôi ăn ở hàng năm, tôi ra thư viện đọc sách. Cùng với nhiều thư tình đầy tâm huyết người - tình - bậc - chị đến từ Hong Kong (nàng gọi Cảng Thơm) khích lệ người - em - bạn - tình miệt mài với chữ và nghĩa. Lại không thể quên bạn vong niên Phan Văn Thức cấp tiền ăn sáng, giấy stencil và thẩm phán Đào Minh Lượng, khi là sinh viên Trường Luật mua bánh mì dùng bữa trưa để tôi ngồi lì ở Thư Viện Quốc Gia làm mọt sách. Cũng không thể quên chịu ơn André Gide, qua cuốn sách viết phê bình về Fédor Dostoievskï (7) và cả Textes philosophiques của V.Biélinsky (8) nữa.
THẾ PHONG
PHẦN THỨ HAI
MIỀN TRUNG: 1950 – 1954
(Quốc Gia Việt Nam)
CHƯƠNG NHẤT
KHÁI QUÁT BÌNH DIỆN THI CA MIỀN TRUNG: 1950 – 1954 (Quốc Gia Việt Nam)
Từ 1950 – 1956, miền Bắc, như miền Trung (Chính Phủ Quốc Gia), sinh hoạt văn nghệ các miền; thành phố lớn chỉ là giai đoạn bắt đầu. Một số văn nghệ sĩ ở lại, số văn nghệ sĩ khác từ hậu phương trở về đóng góp; dàn dựng nền văn nghệ gọi là Văn nghệ Quốc Gia. Riêng ở miền Trung, tạp chí văn nghệ, tuần báo; thì không tờ nào là diễn đàn văn nghệ; Nên tác giả ở Huế, Đà Nẵng thường gửi tác phẩm cho các báo ở Thủ Đô Hà Nội hoặc Sài Gòn. Tác phẩm của họ được đăng tải, thường là thơ, văn rất ít. Và không tác giả là nhà văn nào nổi bật. Song song hoàn cảnh chính trị thời đoạn này có chuyển biến, phân ranh rõ rệt: một bên kháng chiến dần dần mất thực chất, phân hóa (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; một bên là Chính Phủ Quốc Gia. Hai nền văn nghệ đối lập nhau hình thành.
Bình diện thơ miền Trung có hai khuynh hướng: thơ mới và thơ tự do. Phái thơ mới chủ trương theo thơ mới tiền chiến, như Hồ Đình Phương, Tố Như, Huyền Chi, Xuân Huyền, Thanh Thanh; một số tác giả này cùng đứng trong Văn Đàn Chim Việt. Gọi là văn đàn, nhưng thực lực chỉ là nhóm rất nhỏ. Thơ mới các tác giả này mang thực chất bình cũ rượu mới.
Từ 1952 trở lại đây, một sự kiện mới nữa, thơ tự do được nối vần từ thơ tự do kháng chiến và lấy đà từ thơ tự do ở Hà Nội, phát triển ở Huế, Đà Nẵng. Các tác giả xuất hiện đồng loạt trên các tạp chí Sài Gòn, tập trung ở tuần báo Đời Mới, Nguồn Sống Mới, với thơ tự do hoặc thơ mới bình cũ rượu mới. Người chọn lựa bài vở, nhất là văn, thơ; có bàn tay của Hoàng Thu Đông (Hoàng Trọng Miên, chủ bút các báo trên). Phải kể đến các tác giả: Thanh Thuyền, Hoài Minh, Tạ Ký, Thế Viên, Diên Nghị, Tường Phong, Châu Liêm (Nguyễn Xuân Thiệp sau này)...
Không hiểu lập luận phong thổ, đất đai tạo nên bản sắc con người ra sao; nhưng nhìn vào đòn gánh quẩy hai thúng lúa (địa lý giống chữ S, miền Trung chiếc đòn gánh quẩy hai thúng lúa, hai châu thổ Bắc Việt và Đồng bằng Cửu Long). Miền Trung tạo ra nhiều thi nhân và những chính trị gia cải cách xã hội, nhưng diễn đàn cho những tay quán quân múa may đều được đất hai miền Châu thổ nuôi lớn, thành đạt.
Tiết 1
HUYỀN CHI
Tiểu sử.
Tên thật Hồ Thị Ngọc Bút. Sinh 1930 chính quán miền Bắc, sống ở miền Trung. Sau nữ sĩ nổi danh tiền chiến như Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Sơn, Ngân Giang, Anh Thơ, Tương Phố... thì phải kể đến Huyền Chi, nhà thơ nữ khởi sắc, qua thi phẩm đầu tay sáng giá Cởi Mở...
Phân tích.
Thi phẩm xuất bản: Cởi Mở (Xây Dựng, 1952). Nội dung nói lên ẩn ức tâm hồn người nữ từng bị trói chặt, nay bùng nổ qua vần thơ sâu sắc, rung động ngọt ngào; chứa đựng tâm tư dân nhược tiểu thời chiến tranh. Tác giả bị hoàn cảnh chính trị chi phối, trở về Thành sống, nhìn cảnh đời sống dân ở miền Quốc Gia, tự do như chim vẫy vùng trong lồng son Liên Hiệp Pháp. Nên tác giả hướng về kháng chiến phản ánh, qua hai mươi bốn bài thơ. Tạm chia ra làm hai tiểu mục của nội dung thi phẩm:
- Nói lên ẩn ức cá nhân hòa đồng với hoàn cảnh thực tại.
- Tuy sống ở thành thị, tâm tưởng vẫn hướng về hướng khác, cho rằng đó mới là chính nghĩa bảo vệ quê hương.
Thơ Huyền Chi rất hay theo chủ quan người nhận định, nhất là ở tiểu mục một. Thi sĩ rung cảm chân thành, bộc lộ tâm tư qua hình tượng mới, cảm nghĩ. ý thức sáng suốt; đả phá sa đọa hóa thị thành. Các bài: Lạc Loài, Ám Ảnh, Đất Lạnh... xúc động mãnh liệt, hồn thơ bừng sinh khí; tuy người ở đây mà mộng gửi ngoài.... Điều này cũng không thể cho là vọng kháng chiến, bởi dễ gì người ý thức nào cũng phân biệt được ranh giới khi nào, và vào lúc nào kháng chiến đã mất thực chất?
Trong bài Ám Ảnh, có đoạn:
“... Áo trắng lời ai qua nước mắt
Kinh thành chân lạnh bé con con
Ngỡ ngàng có kẻ cười ghê rợn
Hãy gẩy dùm ta một khúc đờn?
Nức nở đêm nao bao mái tóc
Hướng về cố quận mấy giang sơn
Nức nở đêm nào bao mái tóc
Giờ đây không biết mất hay còn?
Oscar Wilde (33) quan niệm rằng tâm trạng bất mãn, là khởi đầu tiến bộ; dầu không cho biết rõ tiến bộ như thế nào? Tiến bộ của tiến bộ thực sự hay cải lương nửa chừng, hoặc tiến bộ chỉ ý nghĩa một khi áp dụng trong văn chương nghĩa lý, tư tưởng? Hẳn trong ý thơ Huyền Chi hoài nghi, bất mãn; nhưng thơ chán chường Huyền Chi rung động thực, cảm hóa tình cảm thực sự truyền cảm, hơi thơ có hồn, có sinh khí như thơ hay là biết thở như người sống. Thơ truyền cảm nói về quê hương chiến tranh mẹ chờ con đến bạc lòng. Bài thơ Thuyền Viễn Xứ của Huyền Chi được nhạc sĩ tài ba Phạm Duy phổ nhạc thật tuyệt vời, nhạc tha thiết, buồn mênh mang hòa hợp với thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường, chẳng còn cảnh nào làm lòng não người nghe hơn thế! Đến cảnh, thu dễ làm cho người đọc bồi hồi, qua Bài Thơ Viết Đầu Mùa Thu, có đoạn:
“... Ta biết lâu rồi một sớm kia
Đường đi cách biệt chẳng quay về
Biên thùy hai ngả chia bằng máu
Dâu bể hai đường không đủ che
Có những chiều tang vắng bóng người
Mây tàn giăng mắc ngập muôn nơi
Có người đếm mãi mùa thu rụng
Hoen ố vườn xuân của cuộc đời...”
Rồi mơ ngày được đi xa khi tâm hồn bị kìm hãm; người thơ chỉ còn biết trút hình ảnh, nỗi lòng, thái độ, vào Thuyền viễn xứ, trên kia. Và ở đây còn phải nói thêm một lời nữa, tiết tấu nhạc Phạm Duy phổ trong ca khúc, vút lên giọng sầu vạn cổ:
“... Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viên xứ nhổ neo lên đường...”
Những bài thơ khác: Rớm Máu, Rượu Tiễn dùng nhiều điển tích, sáo ngữ, công thức, thiếu rung cảm chân thành. Bước đường cùng của chiến sĩ chiến đấu trong bốn bức tường thành phố; thơ tầm thơ thường ước lệ. Như lối nói của văn học Pháp résistance au laboratoire (tạm hiểu là chiến đấu bằng lỗ miệng)
Kết luận.
Cô gái tóc thề chấm ngang vai ở tuổi này không được bạn bè thúc hát, gẩy đàn ca khúc Dư Âm (26), mà cô lại làm thơ – Thi phẩm Cởi Mở, ý thơ rung động, tư tưởng già dặn sâu sắc. Giá trị thơ Huyền Chi cho người đọc kinh ngạc thực sự về thi tài nhà thơ nữ Huyền Chi! Thơ có không khí tranh đấu ở hậu phương nhìn ra tuyến đầu kháng chiến khói lửa như thơ Laurent Daniel (bút danh khác Elsa Triolet) thời kháng chiến Pháp chống Đức 1939 – 1945.
Trích thơ:
LẠC LOÀI
Bơ vơ quá giữa kinh thành
Có ai may áo viễn hành nữa đâu?
Lạc loài từ độ xa nhau
Đường phai dấu cũ, nhạt mầu thời gian
Ở đây nhung lụa bạc vàng
Trăm màu sa mã, muôn ngàn phồn hoa
Giá băng cạn chén quan hà
Giang hồ chỉ có mình ta với người
Bụi đời mờ nẻo ngược xuôi
Năm năm tháng tháng ngâm lời thơ điên!
Sang ngang lỡ một mái thuyền
Để về đây sống giữa miền hoang vu
Mấy mùa khói lửa âm u
Mấy mùa ly loạn mịt mù muôn nơi
Đêm đêm nghe gió vọng lời muôn phương
Có trăm cánh gió điên cuồng
Về đây giữa lúc phố phường tối đen
Dập dìu ong bướm đua chen
Riêng mình ta chẳng người quen, lạ nhà
Lạc loài giữa xứ tha ma
Sống bơ vơ quá nghĩa là thế thôi!
1952
(Trích trong Cởi Mở)
HUYỀN CHI
Tiết 2
HOÀI MINH
Tiểu sử.
Tên thật Nguyễn Thế Khâm. Sinh 2.11.1924 ở Gò Công (Nam Phần). Cùng với Thanh Thanh, Xuân Huyền, Như Trị (Bùi Chánh Thời) ... trong nhóm Xây Dựng ở Huế, chúng tôi đặt vào phần thi ca miền Trung, giai đoạn 1950 – 1954.
Phân tích.
Tác phẩm: Nhạc Ngày Xanh (Xây dựng, Huế 1951), viết chung với Thanh Thanh, Xuân Huyền, Như Trị. Một số bài thơ khác đăng trên báo Đời Mới (Sài Gòn), Mùa Lúa Mới (Huế) ... Về Bình Minh, hình tượng mới, rung động, hồn thơ xúc cảm; nói lên thân phận thiếu phụ bị sa ngã trước bả sa hoa đô hội, lãng quên chồng chiến đấu ngoài mặt trận. Tác giả dùng thơ kể chuyện, diễn đạt chuyện bằng thơ. Phải là những tác giả có tài như Hoài Minh mới thành công về loại kể chuyện thơ. Thời kháng chiến Hoàng Lộc với Viếng Bạn, Hữu Loan với Mầu Tím Hoa Sim, Hoàng Cầm với Ai về Bên Kia Sông Đuống… Trở lại Hoài Minh trong Lửa Binh Tàn Lụi, đây là bài thơ hay truyền cảm, xúc động người đọc:
“... Trút áo phù hoa
Tôi về quê cũ
Tìm anh
Siết chặt bàn tay
Nhìn sâu giếng mắt
Môi nở tâm tình
Ngậm ngùi kể chuyện ngày xanh
Góp sức dựng ngày tươi sáng
Có mầu trắng
Có nắng vàng
Có đồng lúa xanh ngút ngàn
Có cô thôn nữ hò vang giọng hò
Anh không là Nông nô
Lều tranh vách đất
Vợ yếu con gầy
Tôi không là Địa chủ
Ruộng cả ao sâu
Nhà cao, mái đỏ
Ruộng chia từng mảnh nhỏ
Cho tất cả dân cầy
Lúa vàng lên sóng mắt
Nắng rụng xuống bờ dâu
Mồ hôi tôi tẩm đất mầu
Cho dưa kết nụ, cho bầu đơm bông.
(Trích tuần báo Đời Mới)
1954
Kết luận.
Tâm trạng diễn biến với ý thức hệ tư tưởng, song hành với biến chuyển thời cuộc. Có nghĩa ông nhìn thấy được giai đoạn phân hóa kháng chiến mất thực chất. Và miền Quốc Gia, đất quê hương đang sống đang là một chính quyền thực sự. Sáng tác Về Bình Minh phản ánh qua thơ, ông lên án xã hội bị sa đọa hóa là thật. Miền đất Quốc Gia khi ấy; tiếng hót chim có hay thật, thì chim vẫn nằm trong lồng son (Liên Hiệp Pháp). Nhìn sang đời sống chính trị bên kia, đấu tranh giai cấp sang hành động ông viết bài Lửa Binh Tàn Lụi. Thơ Hoài Minh không là thơ công thức; thơ làm theo yêu cầu tuyên truyền, nhưng chính thơ rung động của nhà thơ sáng suốt ý thức.
Trích thơ:
VỀ BÌNH MINH
Thôi con nhé! Lặng im đừng khóc nữa
Mẹ về đây, tim giá ủ lòng côi
Mẹ về đây, hồn ngập bóng xa xôi
Để thoát khỏi vũng bùn nhơ nhầy nhụa
Ánh điện cháy ngập tràn muôn lối nhựa
Xây đài mơ đốt vạn cánh thiêu thân
Mẹ về đây, đôi bước nhỏ ngại ngần
Xa con dại, mẹ xa đời quang đãng
Môi đỏ mọng đang lên giờ dâm loạn
Má hồng tươi pha nhạt ý mầu xanh
Vạn hồn nhơ trụy lạc bốc xây thành
Ngàn gió lộng mùa thu đầy anh dũng
Tha cho mẹ, hỡi con giòng máu nóng
Ủ hồn đơn, nguồn ấm của lòng thơ
Mẹ về đây dập tắt của cuồng mơ
Và lãnh đạm trước nguồn say rạo rực
Thoảng vạn cánh lá vàng gieo tiếng nấc
Lòng giá băng trào ngập ý thu xưa
Một mùa thu nhạt bóng tự bao giờ?
Hồn tội lỗi nghe vang lời chinh chiến
Mùa lá ấy non sông bừng rung chuyển
Cha say sưa lòng nhẹ chuyện thê nhi
Vẻ hiên ngang hướng bóng ngọn quốc kỳ
Mẹ tiến bước tim sầu căng suối lệ
Nhưng khôn tắt lửa lòng trai thế hệ
Mẹ bâng khuâng e ngại hỏi Ngày về
Cha mỉm cười nhìn mây trắng lê thê
Và khẽ bảo đến khi tàn binh lửa
Mẹ đã hứa trên hồn thiêng lá úa
Cùng cha con sẽ dạy dỗ trẻ thơ
Khóa lòng xuân, vạn thuở vẫn mong chờ
Lòng mẹ dõi bóng mây niềm quan tái
Hương mong nhớ mang ướp lòng con dại
Mẹ sầu, mơ ngày rũ bụi nhung y
Một ngày tươi che rợp bóng Tinh kỳ
Con và mẹ đón người cha anh dũng
Nhưng ảo mộng, mẹ xây tràng ảo mộng
Một chiều thu trời nhỏ vạn hàng mưa
Mẹ hay tin cha bị sa cơ
Hình đá lạnh khép nhìn đôi cánh rộng
Sau những tháng giữa tường cao thu bóng
Cha bị đày ra đảo vắng xa xôi
Đến thời gian, ôm mối hận câm lời
Bao diễm mộng chừ đây đang đổ vỡ
Sống giữa chốn ngạt mùi hương cám dỗ
Mẹ nghiêng dần bên vực thẳm truy hoan
Và say mê trong cuộc sống huy hoàng
Hồn nhạt bóng người chồng vương thảm cảnh
Cha co quắp giữa tường rêu giá lạnh
Mẹ duỗi mình trên nệm ấm giường cao
Cha xót lòng lùa vội bữa cơm rau
Mẹ thừa thãi thức cao lương mỹ vị
Cha nuốt hận xây hờn nơi dũ lý
Mẹ tươi cười kết mộng giữa xa hoa
Cha tả tơi gió bấc tái màu da
Mẹ tha thướt trong quần tơ áo lụa
Cha cay đắng tai nghe lời chửi rủa
Mẹ mơ màng đôi khúc nhạc du dương
Và đã bán linh hồn cho thú dục
Bỏ lạc lõng mảnh lòng non côi cút
Con thơ ơi! Kẻ tội lỗi về đây
Tìm nguồn vui bên cạnh trẻ thơ ngây
Đừng khóc nữa con ơi! đừng khóc nữa...
1951
(Trích trong Nhạc Ngày Xanh)
HOÀI MINH
Tiết 3
THANH THUYỀN
Tiểu sử.
Tên thật Nguyễn Định. Sinh 1933 ở Huế. Bạn học Diên Nghị, Tạ Ký, Kiêm Đạt… Tác giả nhiều bài thơ đăng trên tuần báo Đời Mới (Sài Gòn), Nguồn Sống Mới (Sài Gòn) bắt đầu từ 1952…
Phân tích.
Thanh Thuyền chưa xuất bản thi phẩm nào, nhiều bài đăng tải, thơ có bản sắc riêng nhà thơ đích thực tài năng. Thơ viết nhiều bằng cảm giác, ngụ tình, ẩn dụ, thiết tha với thiên nhiên, cây cỏ, cảnh vật. Thơ nhuốm tiêu cực, tiêu cực đây không phải vô duyên cớ, chẳng hạn bài thơ Cách Biệt hao hao không khí Lạc Loài của Huyền Chi. Tiếng thơ Thanh Thuyền nghẹn ngào thời thế. Chính tác giả tự nhận không thể mạnh chân cất bước lên đường dấn thân hành động, trước cảnh tha hóa thành thị đọa lạc, chưa có chủ quyền.
Kết luận.
Thế giới thơ Thanh Thuyền giàu âm thanh, ngôn từ mượt mà, nội dung phong phú, tư tưởng tiến bộ. Xuân Thế Hệ đọc lên, cảm được luồng cảm khí bừng bừng tuôn qua mạch máu, phát sinh hơi ấm trong tâm hồn. Một ý khác đánh giá tiêu cực thơ Thanh Thuyền, ở chỗ có thể hơi thơ còn yếu, chưa đạt đỉnh cao tạo sức mạnh tiêu cực vũ bão như Maxime Gorki chẳng hạn. Nhà văn Nga này có thể góp công lớn lật đổ Nga Hoàng phong kiến thối nát. Như vậy không thể cho rằng thơ Thanh Tuyền than mây, khóc gió, như thơ tiền chiến, trốn mình trong vỏ sò tình ái; khi non sông nghiêng ngửa. Và thơ ông có khác đây là tiếng nấc nghẹn ngào thương cảm thời thế.
Trích thơ:
1. CÁCH BIỆT.
Anh một phương trời, tôi một phương
Núi mờ chia biệt mấy biên cương
Ở đây mây trắng buồn hiu hắt
Lá rụng mùa thu đỏ dặm đường
Ở đây nắng tím mầu thương nhớ
Gác trọ mênh mang gió cuộc đời
Thơ trắng sầu hoen dóng bắc lụn
Võ vàng, trăng lạnh lắm anh ơi!
Đêm nay biên giới mờ sương khói
Ai hát bài ca giữa núi rừng
Áo bạc vai gầy nghe lá rụng
Mầu chiều bên ấy có rưng rưng?
Ai đi đêm ấy trời sao biếc
Mắt ướt lênh đênh bóng nguyệt vàng
Sương đổ bờ tre, buồn dậu thắm
Nhạc mùa quê cũ chớm âm vang
Cánh mộng ngày xanh chưa nhạt lối
Tâm tình chưa mướt mấy trang thơ
Biên cương ngút lửa mờ trăng gió
Sắc phấn hoàng hôn ngợp bóng cờ
Tôi ở phương này thương nhớ anh
Đêm đêm chợt lắng khúc quân hành
Cố đô mây khói trời vân vũ
Kẻ núi rừng thương kẻ thị thành
Máu lệ chia đôi bờ cách biệt
Nỡ nào nghẹn chết cả dòng thương
Tâm tư, núi biếc ngăn đường mộng
Người ở phương trời, kẻ cuối phương.
Đêm nay chợt tỉnh trong mây gió
Gối lạnh còn vương mộng Thái Hòa
Tám hướng đời không còn cách biệt
Biên thùy chim trắng, nắng dâng hoa.
1954
(Trích tuần báo Đời Mới)
2. XUÂN THẾ HỆ
Đời chưa chết một mùa xuân thế hệ
Nên dòng thơ vẫn ướt giữa làn môi
Đời chưa hát bài kinh sầu tận thế
Nên hồn thơ sáng rực ánh sao ngời
Cửa Thiên đường trần gian còn khép chặt
Máu trần gian còn đỏ ngập đường đi
Ta ngửa mặt chờ mùa xuân nguyên thủy
Liệm đau buồn trong giếng mắt lưu ly
Xuân không nở, nhưng máu đời nở thắm
Bờ không gian quằn quại giữa biên thùy
Trong đêm tối, hôn xuân về lướt thướt
Nhạc muôn đời vang vọng khúc phân ly
Những biên thùy, những biên thùy rớm lệ
Người cuối sông khóc biệt kẻ đầu sông
Dựng thành trì những trời mây ngạo nghễ
Tình ngăn, bờ âm hưởng nhạc chờ mong
Đêm nay say, xuân về trên gối lạnh
Ta lắng nghe ý nhạc tự muôn đời
Cửa Thiên đường trần gian còn khép cánh
Nhưng hồn thơ ánh rực sáng sao ngời.
Xuân tượng hình, xuân tượng hình trinh bạch
Trời kỷ nguyên xao xuyến nhạc ngàn xưa
Mùa xanh nở, mùa xanh lên huyền diệu
Đường trần gian biêng biếc mộng gây vừa
Vì em ơi, khúc kinh sầu tận thế
Chưa âm vang lặng lẽo giữa trần gian
Vì em ơi, vườn đời đang ướt lệ
Nhưng ngày mai ai bảo nắng không vàng?
Những biên thùy, những biên thùy rớm máu
Hát lên em, đời nở trắng hoa lê
Trên gối mộng, ta say trời hợp tấu
Dìu biên cương giữa biển nhạc xuân về.
1955
(Trích tuần báo Đời Mới)
THANH THUYỀN
Tiết 4
TIỂU MỤC
1. HỒ ĐÌNH PHƯƠNG
Sinh 1927 ở Phước Tính, Thừa Thiên. Tác phẩm: Sưởi Nắng (thơ), Hai Cuộc Sống (thơ), Ai Tìm Lý Tưởng (kịch thơ, Huế xb 195?)... Còn vở kịch khác ký Nguyệt Cầm đăng trên tạp chí ở Trung và Bắc, và gần đây trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong (Sài Gòn, 1954). Ngoài một số bài thơ trữ tình, thơ Hồ Đình Phương phản ánh đời sống xã hội, nhưng ít rung động, truyền cảm. Tốt nghiệp Trường Quốc Gia Hành Chánh những năm sáu mươi.
Trích thơ:
ĐÔI BẠN
Trùng dương ôm héo quạnh
Sương xuống phủ rừng côi
Một góc trời hoang lạnh
Hai khối thịt chôn vùi
Không hương trầm khói tỏa
Cỏ dại với hoàng hôn
Thì thào trong kẽ lá
Như tiếng loạn âm hồn
Hỡi bạn lòng thiên cổ
Có còn nhớ ngày xưa
Khi tôi là tên thợ
Anh trọc phú đầu cơ.
Anh đem tiền sỉ mạ
Tôi kẻ khó làm công
Lương công anh mặc cả
Tôi vợ đói con đông
Giàu sang ba thước đất
Giai cấp kể làm chi
Còn đâu lầu cao ngất
Và những giọng khinh khi
Chỉ có lòng bác ái
Mới bất diệt muôn đời
Chỉ có tình nhân loại
Mới đáng kể mà thôi
Nhưng chắc cho chuyện cũ
Huyệt chết đã kề nhau
Ta bắt tay kết lũ
Và xây mộng ngày sau
Nếu sau này tái kiếp
Đừng chia rẽ nghe anh
Ta yêu nhau thắm thiết
Cho cuộc sống an lành.
Trong rừng sâu u tối
Hai đốm lửa chập chờn
Song song cùng một lối
Như kết chặt tình thương.
1952 (Trích tập san Gió Lên)
HỒ ĐÌNH PHƯƠNG
2. XUÂN HUYỀN
Tên thật Lê Văn Ký. Sinh 1930 ở Đà Nẵng. Nguyên quán miền Nam. Tác phẩm: Xuân Thế Hệ (thơ, 1949). Nhạc Tuổi Xanh (thơ, in chung). Thơ Xuân Huyền nhẹ nhàng âm tiết, xúc cảm, chưa có bản sắc riêng biệt.
Trích thơ:
CÁNH HOA NHÂN LOẠI
Tôi nhặt cành hoa của tháng ngày
Ép vào tâm sự nỗi chua cay
Buồm căng gió lộng từ phương ấy
Sông, núi, men đời lên ngất ngây.
Bài ca nhân loại tình chưa chín
Nắng nhạt hờn môi: trái vẫn xanh
Mây hạ, trời thu, mầu khói xám
Nhạc cuồng, bọt trắng thiếu hương lành.
Thân ngà, áo mỏng, chôn lòng chết
Mơ bóng dầm thân, ai đói no
Những chiếc thân tàn mang khổ rách
Gầm cầu tẻ lạnh đón trăng mơ
Ai gọi hồn tôi một sớm nào?
Đặt vòng hoa lệ với nghìn sao
Một đàn em bé chờ thoi thóp
Vài nắm cơm thừa tận kiếp sau.
Một biển hoa tươi hẹn cuối trời
Hòa bình cơm áo mộng ngày vui
Chuỗi đời liên tiếp lòng ưu ái
Dệt thắm vần thơ những ý cười.
1952
XUÂN HUYỀN
3. THANH THANH
Tên thật Lê Xuân Nhuận. Sinh 1925 ở Huế.
Tác phẩm: Ánh Trời Mai (thơ, 1950), Nhạc Tuổi Xanh (thơ, in chung)...
Thơ Thanh Thanh không nổi trội, hay dùng sáo ngữ, nghèo tiết điệu, ít xúc cảm. Bạn văn thơ đồng thời với Hồ Đình Phương, Tố Như, Như Trị, Xuân Huyền, Quốc Dân, ...
Trích thơ:
THƠ TA.
Có nghĩa gì đâu biển máu hồng?
Và xương chất núi lệ thành sông
Đã thành sáo ngữ nhàm tai quá!
Gió lửa, mưa bom, suối đạn đồng.
Ha hả, thân ai thì nấy lo
Ngày tiêm mươi điếu kéo ro ro
Tối vào hí viện đêm trà tửu
Khuya dắt dê âm xuống ngủ đò.
Cũng một thân trai một kiếp người
Bụi mờ lên mái tóc xanh tươi
Vi trùng khoét giữa đường gân cốt
Tội ác nhen trong ánh mắt ngời.
Bám cái khư khư nghệ sĩ hồn
Tình tan, duyên héo, mộng vương tôn
Để khi phủ nhận triều chân giả
Mùa cảm thông về bên xóm thôn.
Ấy đấy thơ ta chỉ thế thôi
Một tay bút nhỏ hướng trăm người
Võng chiều xéo cả nghìn trang giấy
Như đã, và đang xéo mãi ngươi.
1952
THANH THANH

Sài Gòn - Chợ Lớn, 30/9/1957
Thế Phong 
Theo https://vietvanmoi.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cánh hoa chùm gửi XXXXXX

Cánh hoa chùm gửi Chương 1 Những năm dài trôi qua, tôi là của mẹ, mẹ là của tôi, gian phòng này là của hai người. Thế mà bây giờ, chỉ mộ...