Lược sử văn nghệ Việt Nam 4
Tiết 17
TRẦN ĐĂNG
(1922 – 1950)
Tiểu Sử.
Tên thật là Đặng Trần Phi. Sinh ngày 11/11/1922 ở Hà Nội, hy
sinh ngày 26/12/1950 tại mặt trận biên giới phía Bắc. Tác giả tập ký sự duy nhất
Truyện và Ký được tái bản nhiều lần sau 1950. Một lần tới Thủ đô là một trong
những ký sự chiến tranh sôi bỏng của thời kỳ kháng chiến.
MỘT LẦN TỚI THỦ ĐÔ
Trời vừa tối sầm lại thì bốn chiến sĩ xuống cầu vào tới trong
thành phố. Trong gió rét căm căm dưới trời mù tối và xám lạnh, sương tỏa vào phố
từ phía bờ sông, nên không nhìn rõ mặt mũi của bốn bóng người, hàng một, thấp
thoáng bước theo nhau. Nhưng chỉ nhìn những bộ quần áo đen xám mỏng tanh, chẽn
vào lưng, thắt vào bắp chân mỗi người, khẩu súng lớn đeo bên hông của người đi
đầu, hình con dao quắm bên sườn một người đi sau, cũng đủ biết đấy là bốn chiến
sĩ mới từ chiến khu về.
Dân chúng Hà thành từ hai, ba tháng nay đã quen thuộc với những
hình dáng ấy. Và những ngày chưa xa, chính những hình dáng ấy đã làm tất cả Hà
Nội sôi nổi, hân hoan.
Nhưng hôm nay mới về thì hình như chiến sĩ đến chậm quá ! mà
có bốn người thì ít quá ! Hình ảnh khêu gợi và quyến rũ của chiến sĩ đều trở
nên tầm thường rồi.
Vả lại những kẻ bán báo, những bác hàng rong, những anh em thợ
thuyền... nghĩa là tất cả những người còn thích xem chiến sĩ nhất, sau một vài
ngày vất vả làm ăn trong thành phố đã tản mát cả ra những ngoại ô, ngoài bãi,
trở về nhà ; hoặc đã chui vào mấy xó cửa ngay trong thành phố tránh cái rét,
càng về chiều càng buốt căm căm.
Nhưng mặc dầu, chỉ biết rằng chiều hôm nay, không có ai đi
đón chiến sĩ mà cũng chẳng ai đi theo xem. Nhớ lại có ngày ở chân cầu, thành cầu
đầy người bám ; và phố ở dưới chân cầu người xếp hàng hai bên dài tăm tắp.
Nhưng mà thực ra, chiến sĩ thản nhiên, im lặng bước, đi hàng
một – lối đi rừng – người đi sau giẫm lên dấu chân của người đi trước, không hề
chú ý tới chung quanh.
Cho tới đầu phố Hàng Ngang thì đèn thành phố bật sáng. Và
cùng với thành phố, một cảnh tượng tưng bừng cũng sáng bật lên. Lối đèn phòng
thủ tù mù vừa bỏ đi. Nhiều cửa hiệu im lìm suốt mấy năm chiến tranh đã sáng rực
hẳn lên. Những tủ kính hắt ra hè phố từng mảng ánh sáng vuông vắn. Ánh sáng rực
rỡ, ấm cúng lạ thường trong không khí lạnh dưới trời không trăng, sao. Và lòng
người như phấn khởi hẳn lên. Không ai bảo ai, tất cả mọi người đua nhau ra đường.
Mỗi lúc một đông thêm, từ các ngả đường người và xe dần dần như nêm như cối náo
nhiệt đổ mãi vào những phố Hàng Ngang, Hàng Đào, mạch máu của Hà Nội.
Thật là đằng đẳng mấy năm trời sau bao nhiêu biến cố, hãi
hùng và mong đợi, cảnh phồn vinh, lộng lẫy, sáng sủa như vậy mới trở lại. Nhưng
trở lại vội quá chăng ?
Nhiều thứ hàng thuộc về xa xí phẩm tưởng không bao giờ Kòn
Trông thấy nữa, hay còn dùng làm gì nữa, dã lại từ lúc nào hiện về, nằm im
trong tủ kính, quý giá và êm đềm như giấc ngủ của nàng công chúa trong truyện
thần tiên.
Hà Nội vội sống lại đêm nay những đêm nào của một thời đã qua
để xứng với tên kinh thành hoa lệ, và người của Hà Nội chiều này cũng thực là
những người của đất văn vật nghìn năm.
Rất nhiều kiều dân và võ quan ngoại quốc trong bộ đồ len ấm
áp, sang trọng tỏa ra những hương thơm ngào ngạt của nước hoa và của yên hương.
Những chiếc áo khoác trắng như tuyết trên vai những thiếu nữ Việt Nam hay những
thiếu phụ mới từ miền Bắc xuống đây, thấp thoáng trong những chiếc xe hơi kiểu
lạ, bóng loáng, xịch máy, từ từ trong phố. Mặc dầu những sự đã xảy ra, một võ
quan Nhật Bản vẫn lẫm liệt ngồi trong một chiếc xe hơi buông mui với gươm và
găng tay trắng, rẽ qua một cổng chào có hình thanh niên bạch nhật và hàng chữ
hoan hô Đồng Minh.
Thủ đô Việt Nam được tô điểm bằng bao nhiêu màu sắc quốc tế.
Đời sống Việt Nam cũng phản chiếu được cái ánh sáng phù hoa ấy. Phòng trà ở gốc
phố, bàng bạc một ánh sáng đều nhạt, dịu dàng. Những thanh niên tuấn tú ngồi
bên những chiếc áo thêu hoa, tiếng đàn rên rỉ ở những cung trầm. Xa chút nữa,
cánh cửa của một tiệm nhảy hé mở để một võ quan ngoại quốc cao lớn lách vào
cùng với một tà áo đỏ và để thoáng lộ ra những cặp thướt tha cũng như chợt
thoáng bay ra tiếng đàn lả lướt.
Tiếng đàn lả lướt vẳng trên trời và trong đêm Hà Nội. Những
ham muốn mạnh mẽ và hồi hộp nặng sa vào trong lòng mấy trang thanh niên bước vội
trên vỉa hè. Nước Hồ Gươm trong làn ánh sáng như giục giã. Chút sương mờ trước
mắt như đợi chờ.
" Ái tình trong giờ phút này đã phấn khởi hẳn lên trong
mắt những ai ai".
Nhưng trong ánh sáng ấy, giữa những luồng sinh khí ấy, bốn
chiến sĩ vẫn thản nhiên bước theo hàng một – lối đi rừng – người đi sau giẫm
lên chân người đi trước. Nét mặt họ lúc này đã trông rõ được bốn khuôn mặt to,
đen sạm, hiền hậu vô cùng, nhưng yên lặng và thản nhiên vô cùng. Những đôi mắt
chỉ nhìn thẳng để bước đều lên. Tiếng hát của một hộp tuyến điện có làm cho người
đi đầu nhìn ngang một chút; nhưng mà vẫn không nghe thấy. Vì tiếng hát đã hát rằng:
“... Buồn nhớ khóm trúc ngày xưa
Buồn trong tình xưa còn đó
Người xưa còn nhớ ta chăng?
Hay đã quên rồi ?...”
Thực vậy, mắt mở mà không trông, tai lắng mà không nghe, bốn
chiến sĩ đều bước theo người đi đầu dẫn đường. Không có một chút tình ý gì,
không có một giây liên lạc nào giữa những người ấy, giữa những cảnh tượng ấy. Kỷ
niệm âm u và xa vắng của rừng núi không tan biến trước ánh sáng của kinh thành.
Bốn chiến sĩ cứ tiến dần mãi ra ngoại ô. Họ tìm tới một trường quân chính. Đó
là mục đích của họ lần này về Thủ đô. Họ đến chậm rồi, nên có vẻ vội vã lắm.
Sáng mai ở bãi cỏ nhà trường, họ sẽ chào lá cờ đỏ sao vàng.
Những ngày ở lại đây, họ còn được xem nữa cái ánh sáng của kinh thành. Nhưng
xem mà vẫn không hề lưu luyến. Không bao giờ hai bên sẽ hiểu nhau. Một ngày
mai, trở về núi rừng, hay xông pha nơi khói lửa, có lẽ kỷ niệm của họ ở Thủ đô
chỉ là một lá cờ mỗi sáng kéo lên trên bãi cỏ ướt của nhà trường. Còn những cảnh
khác vô tình họ đã nhìn thấy thì lại sẽ vô tình lần lần phai mờ mà mất hẳn đi.
Và đấy là một kỷ niệm ấm áp độc nhất của một thành phố đầy
ánh sáng và len dạ.
TRẦN ĐĂNG
1–1948
(Trích lại trong “Truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1985”)
KỲ THỨ XI
Tiết 1
KHÁI QUÁT VÀ ĐỊNH NGHĨA VỀ VAI TRÒ ĐẶC BIỆT CÁC TÁC GIẢ CHIẾN
SĨ VĂN NGHỆ
Văn nghệ kháng chiến không cứ gì nhà văn chuyên nghiệp
khai thác hình tượng chiến đấu hay rung cảm trong giai đoạn toàn dân đứng lên
tranh đấu sau 80 năm nô lệ Pháp. Ở kháng chiến, có 3 loại người tham gia văn
nghệ: Công tác văn nghệ – Chiến sĩ văn nghệ và Văn nghệ sĩ kháng chiến. Loại
hai và ba là tác giả được giới thiệu trong tập này.
Tiếng nói của nhà văn trong phần trên có phần nghệ thuật và
điêu luyện hơn các tác giả chiến sĩ văn trong phần này, nói chung. Chiến sĩ văn
có phần trội về nội dung, đã đành rằng văn nghệ sĩ có thể chỉ nghe qua cảm xúc
và sự kể lại viết lại vẫn hay. Ngoài ra, lại còn những văn nghệ sĩ chiến sĩ như
Hoàng Cầm, Quang Dũng vv... tham gia mặt trận. Nhưng không phải hoàn toàn văn
nghệ sĩ đều như thế cả, sự sống có kinh nghiệm bản thân và có tâm hồn diễn tả
bao giờ cũng đúng với rung cảm; ý nghĩa hơn. Chiến sĩ nhà văn chiến sĩ ghi lại
rung cảm của mình sâu sắc qua sáng tác, bày tỏ qua thơ, văn, tạp bút. Nguyễn
Đình Thi nhận định về vai trò chiến sĩ văn trong tiểu luận “Tiếng nói văn nghệ”
như sau:
“… Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy
học thuyết luân lý, triết lý, mà tất cả những say sưa, vui, buồn, yêu ghét, mơ
mộng, phấn khích và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách,
bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ – chúng ta không nhận ra được hàng ngày
chung quanh chúng ta một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt
con người, trước kia ta chưa biết, nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn
đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa. Mỗi tác phẩm lớn
như rọi vào tất cả bên trong chúng một ánh sáng riêng không bao giờ nhòa đi,
ánh sáng ấy từ bây giờ biến thành của chúng ta và chiếu tỏa trên mọi sự việc ta
sống, mọi con người ta gặp, làm cho sự thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ. Những
nghệ sĩ lớn đem tới cho tâm hồn ta cả thời đại họ một cách sống..."
Chiến sĩ văn ở đây, qua rung cảm Nguyễn Đình Thi nhìn về họ,
có lý lẽ của sự khám phá cơ hội căn bản là mới lạ. Chứ chưa hẳn có cơ hội mới lạ
là thành văn nghệ sĩ chuyên nghiệp. Cách sống một người tù chính trị cách mệnh,
rồi nảy ra ý nghĩ diễn đạt tâm hồn mình có nghệ thuật – nếu nhà văn chuyên nghiệp
không sống trong cảnh tù đày, sẽ bị thua sút khi làm công việc tương tự. Đã
đành rằng tưởng tượng ưu thế của họ; nhưng tả cái chết của người nông dân có sống
khi diễn đạt lại thì thiếu sâu sắc như Chateaubriand, trí tưởng tượng của nhà
văn vẫn cần căn cứ vào sự thực đời sống cảm nhận được. Tố Hữu là tác giả tiêu
biểu; bởi lẽ ông rung cảm chân thành trong bốn bức tường thép, dây sắt chăng điện,
xà lim, buồng hẹp, giam cầm ngày qua đêm, âm thanh xích sắt, hình ảnh cơm nửa
mo, cứt nửa bãi, đã nói lên hình tượng bữa cơm tù, chẳng ai nhắc ai cũng tự động
tìm ăn. Thì chẳng ai bảo ai, mỗi lần nghe gọi tên mình là một lần nghĩ đến cảnh
cùm, kẹp, tra tấn. Tâm hồn người tù chính trị, cách mệnh, nảy ra ý nghĩ làm
thơ, nếu biết làm thơ, hát lên nếu có khiếu nhạc. Và vì thế Phan Bội Châu có Ngục
Trung Bút. Tố Hữu có Trăng Trối hay W.Churchill kể lại hồi ký của mình về thế
chiến thứ hai; tất cả đều muốn làm giảm sự đau khổ chồng chất lên trí não, cơ
thể, phổ biến sự đấu tranh trường tồn cho những người đến sau nhận kinh nghiệm
kẻ đi trước. Văn nghệ trở thành lợi khí nối liền gạch nối giữa con người và con
người qua thế hệ liên tiếp. Nhận định được vậy, văn nghệ là sức sống vô hình nối
lại khoảng cách quãng khi xã hội chuyển tiếp, hoàn thành đường thịnh trị nhân
sinh thành một giây không ngắt quãng.
Tiết 2
SAO ĐỎ (16)
Tiểu Sử.
Ông thuật lại chuyện Đánh Trường Bay của Tiểu Đoàn 110, mà
chúng tôi cho trích đoạn theo đây. Ông tả tỉ mỉ từng thái độ, động tác của một
trung đội xung phong vào trường bay. Hoàng, một chiến sĩ chỉ huy trưởng cầm
quân nhớ đến một đồng chí đã chết trong lần trước, lần này anh phải phục thù. Cần,
một trung đội phó rất hăng hái. Đông, em liên lạc viên táo bạo. Sau khi trung đội
của anh đốt máy bay thì Hoàng bị thương, Cần cứu thoát Hoàng rồi Cần lại bị
thương nặng. Địch đến gần, trung đội của Hoàng mất thêm Cần từ đêm ấy; lẽ là Cần
tự hủy mình và địch cũng bị thiệt hại theo. Qua âm hưởng truyện dưới đây, gây
cho người đọc ấn tượng ý niệm tranh đấu, nói lên được lòng chiến sĩ ngoài trận
địa đấu tranh mãnh liệt, cứu nguy xứ sở trong giai đoạn kháng chiến.
ĐÁNH TRƯỜNG BAY
Lúc ấy gần nửa đêm.
Những vệt sáng dài quét xuống sân cỏ, chạy tuột ra mãi đằng
xa tít và dừng lại bên bờ sông Đuống. Tất cả khu trường bay Gia Lâm đã chìm đắm
trong đêm tối, lác đác vài khung cửa sổ để lọt ra, ánh sáng nhờ nhờ ghi những
chỗ ăn chơi đàng điếm của bầy lũ thực dân.
Hoàng mắt đăm đăm nhìn mục tiêu, bên cạnh Hoàng, các đội viên
lặng lẽ bò rạp xuống đất, khi ngừng khi tiến theo hiệu tay của Hoàng. Toàn đội
nằm chờ, không một tiếng động, không một cử chỉ ai nấy đều nắm chặt khẩu súng
trong tay.
Hoàng cảm thấy thời gian lâu quá. Hoàng muốn nhảy chồm lên và
xông vào ụ súng của giặc cách đấy không bao xa.
Hoàng phải triệt để tuân thủ theo quân lệnh: trung đội Hoàng
và trung đội Hồng Kỳ sẽ đột kích vào trường bay đúng mười một giờ đêm nay, tấn
công sẽ ghi bằng quả pháo lệnh. Vẫn không rời mục tiêu, Hoàng thì thầm hỏi:
– Sẵn sàng chưa đồng chí Cần?
– Đã.
Hoàng nghĩ tới lần một tiểu đội trưởng có tài gan dạ tạm quyền
trung đội phó trung đội Hoàng. Rồi Hoàng lại vụt nghĩ tới Hân, nguyên trung đội
phó.
Mất Hân, Hoàng mất một đồng chí chân tay đắc lực, tài giỏi và
đêm nay Hoàng thề quyết trả thù cho người bạn xấu số đã chết trong một đêm tập
kích trường bay như đêm nay. Cả trung đội đều im phăng phắc, ngót bốn mươi con
người như chung một ý tưởng “ra đi là không trở về”.
– Đoàng.
Quả pháo lệnh là mồi lửa châm vào lòng rạo rực của các chiến
sĩ. Ngót bốn mươi con hùm sám xông vào vị trí quân Pháp.
Những tiếng quái gở bật ra.
Tiếng súng đủ các cỡ nổ sé trời.
Hỏa pháo tứ tung bay.
Hoàng hô anh em tiến, Hoàng xông pha giữa làn mưa đạn cả đội
mạnh dạn tiến theo sau.
– Giết, giết...
Những tiếng kêu uất hận, những tiếng thét căm hờn từ đáy lòng
dũng sĩ Việt Nam.
Đây là những kẻ giết cha, anh, vợ, con tàn sát đồng bào ta.
Đây là lũ dâm dục đã hãm hiếp bao đàn bà con gái.
– Giết.
– Giết! Đoàn quân say máu, vì đã thấy bao nhiêu khổ nhục, đã
thấy bao nhiêu cảnh đau lòng đã uất ức căm hờn máu trào đến tận cổ. Họ sọc lưỡi
lê vào những thằng Pháp, họ lăn sả vào thúc mạnh lưỡi dao găm vào thịt quân
thù. Giết...
Hoàng sau khi phá vỡ ụ súng máy, hướng dẫn anh em xông vào
nhà để máy bay. Cần, tiểu đội phó nguyên trung đội phó theo sát Hoàng. Đoàn
dũng sĩ ùa vào nhà tối như hủ nút, họ giơ hai tay quờ quạng… đây là bánh xe của
máy bay, còn đây là cánh quạt mờ mờ trong gian nhà lạnh lẽo.
Phải rồi, đây là những miếng mồi ngon của những con hùm sám,
của trung đội Hoàng.
– Anh Hoàng!...
Hoàng quay lại và nhận ra ngay giọng của Đông, em liên lạc của
trung đội Hồng Kỳ.
– Gì thế em?
– Anh Hồng Kỳ bảo em đến báo cho anh trung đội của anh ấy đã
vào tới sân bay và đang tính toán với bọn Pháp.
–Được.
Em liên lạc vụt chạy mất.
Hoàng hô anh em lấy “ét xăng cờ–rếp”(17) ra đốt máy bay. Thế
là các chai cứ choang choang vào thân máy, rồi một que diêm xòe lửa. Là con
chim sắt khổng lồ hàng ngày nhả đạn, tuôn bom khủng bố đồng bào Việt Nam bốc
cháy. Cả gian nhà rộng rãi sáng rực. Ánh sáng tỏa trên bãi cỏ, ngoài sân. Mùi
sơn, mùi dầu xăng sặc sụa!
Rồi hàng tràng liên thanh T2 ly7 và 13 ly 2 thi nhau sả vào
chỗ sáng vèo vèo. Hoàng và anh em đã rút khỏi bãi lửa, nhưng một tiếng thất
thanh:
– Trời ơi!
Hoàng đi sau cùng loạng choạng ôm bụng hô lớn:
– Anh em cẩn thận, rút lui mau.
Hoàng cố đi , máu bên máu mạng sườn trao ra ướt đầm cả cánh
tay áo đầu gối Hoàng run run thỉnh thoảng lại khuỵu xuống muốn ngã.
Theo lệnh của Hoàng, toàn thể rút lui khá xa. Súng liên thanh
bắn đuổi theo không ngớt. Hoàng lại ngã, đau lắm. Hoàng cố trỗi dậy theo anh
em, nhưng kiệt sức rồi máu ra nhiều quá. Hoàng nằm im, tiếng rên rỉ khi to, khi
nhỏ ngân rền. Ra khỏi vị trí Pháp, Cần kiểm điểm lại trung đội. Cần hoảng lên.
– Có ai thấy anh Hoàng ở đâu không?
– Thưa anh không ạ.
Cần không ngờ Hoàng đi sau lại chậm chậm như vậy. Anh giao
toàn đội cho một tiểu đội trưởng phụ trách dẫn về địa điểm, rồi băng mình về
phía trường bay.
Anh y tá Đương cũng chạy theo.
Cần hăm hở tức tối, con dao găm nắm chắc trong tay vung lên
như muốn cắm vào ngực quân thù. Hoàng nằm phục sau bức tường mà Cần vừa leo
vào. Hoàng đang rên rỉ giơ tay đón. Cần vừa leo lên định nhảy xuống thì một loạt
liên thanh xả tới và hắt Cần nhào xuống. Y tá Dương cõng Hoàng qua lại hốt hoảng
gọi Cần nhưng Cần đứng dậy lảo đảo:
– Mang ngay anh về đi. Kệ tôi mà… à!
Thấy Dương ngần ngừ, Cần thét:
– Mau lên, mệnh lệnh là mệnh lệnh!
Y tá Dương thoăn thoắt cõng Hoàng đi. Thấy hai bạn chiến đấu
đi rồi, Cần nhăn nhó ôm bụng, tay vẫn cầm khu khư con dao nhọn hoắt và… ngã gục
xuống, thở hổn hển; nhưng lại cố ngóc đầu dậy... Tiếng giầy lệt sệt và tiếng
nói sì sồ của bọn Pháp tuần tiễu đã đi tới.
Cần sức đã tàn, ngoắt tay rút quả lựu đạn khỏi dây lưng rồi
rút kíp nín thở đợi chờ. Toán địch cách Cần 15 thước, quả lựu đạn của Cần vút
bay tới với tiếng thét:
– Giết.. Giết.
– Đoàng!
Những thây to lớn đổ xuống
Tiếng quái gở lúc này lại tái diễn nổ rên ư ử theo tiếng nấc
của Cần. Trung đội Hoàng mất Cần từ đêm ấy.
SAO ĐỎ
(trích trong tập san Nhất Trí của tiểu đoàn 110)
Tiết 3
LÊ MINH
Tiểu Sử.
Lê Minh là tác giả Hành quân trú quân, được trích dẫn dưới
đây, của một chiến sĩ văn viết thật cảm động. Hình ảnh một chiến sĩ được nhìn
thấy cảnh hành quân trên màn ảnh quân đội đế quốc, đi đâu có xe đưa đến đó. Có
khi ngủ một giấc dài rồi mới đến chỗ hành quân. Là chiến sĩ nhược tiểu dân tộc
đấu tranh cho độc lập, chiến sĩ trong truyện như tác giả tả tất phải lam lũ, vất
vả trên đường độc đạo. Súng nặng hàng chục cân, đi bộ, trèo đèo, vượt suối, vừa
đi vừa ngủ, vừa dìu nhau vào mặt trận. Đôi khi chiến sĩ đi qua nơi thị trấn bị
tàn phá, lòng xót xa: “Quang cảnh chết! Thôi còn đâu nữa Đ.T thơ mộng, Đ.T nhộn
nhịp với những hiệu tạp hóa xanh, đỏ, với những quán trà, quán cơm thơm phức,
mùi phở sào và mùi cà phê, người đi lại đông đúc như Hàng Đào...Tàn phá và đổ
nát..” Rồi đến cảnh ngụy trang, từ thô thiển đến tinh vi từ thiếu kinh nghiệm đến
dày kinh nghiệm, tác giả diễn tả lại rất sống động. Có một điều đặc biệt, đáng
chú ý nhất là dù mệt mỏi gian lao bao nhiêu, người chiến sĩ vẫn tin tưởng vô
biên trong cuộc chiến đấu. Đọc văn Lê Minh để hiểu cảnh khó nhọc chiến sĩ,
nhưng không vì thế mà chán nản.
HÀNH QUÂN TRÚ QUÂN
“Thật thế, kể từ khi bước chân ra khỏi Thủ Đô, chúng tôi đã
lăn vào một cuộc hành quân dài đặc. Một cuộc trường chinh. Có thể nói thế –
chúng tôi đã vượt qua hàng ngàn cây số, qua không biết bao nhiêu sông, không biết
bao nhiêu suối, bao nhiêu rừng. Chỉ có thể nói là đi liên miên, từ miền đồng bằng
đến các tỉnh miền Việt Bắc.
Trong những ngày cuộc hành quân dài nhất của chúng tôi, có thể
kể cuộc hành quân trong thời kỳ Việt Bắc bị tấn công.
Từ ngày 10 –10 –1947 nghĩa là ba ngày sau khi quân Pháp nhảy
dù xuống Bắc Cạn, cho tới ngày 3 – 2 –1948 là ngày chúng thất bại, chúng tôi trở
lại hậu tuyến tạm nghỉ. Tiểu đoàn chúng tôi đã đi tới một ngàn năm mươi cây số.
Hỏi tới hành quân? Tôi lại nhớ tới ngày xưa đi xem chiếu bóng, những phim quay
nhiều mặt trận. Chà! Những cuộc hành quân trong phim ảnh mới thú vị làm sao!
Hàng chục xe vận tải, hàng chục chuyến xe lửa tốc hành chở quân ra mật trận. Đồ
đạc, quần áo lương thực có chuyến xe lửa riêng. Ngoài đồ vũ khí nhẹ, người lính
chả phải mang gì nặng nề, cứ việc lên xe ngồi. Thế là từ nơi đóng quân ra đến mặt
trận xa hàng trăm cây số. Trong nháy mắt, họ đã đến nơi, không mệt nhọc, không
mệt nhọc gì cả; có khi lại còn làm được một giấc ở trên xe rồi cũng chưa biết
chừng. Thật là mộng!
Lại nghĩ đến hành quân của chúng tôi bây giờ mà khiếp. Đi
hàng chục cây số. Có lần ở chợ mới, Bắc Cạn, một ngày một đêm đi luôn năm chục
cây số đường xấu và đường rừng núi mà lại đi bộ, đi chân không, người thì đầy
võ khí, đồ đạc quần áo.
Nhất là những chàng vác súng máy mới rầy. Nặng gần đến chục
cân có ít đâu. Nguyên bộ chân khẩu Browning, là hạng súng máy nhẹ hơn cả, cũng
đến bảy cân rồi còn gì! Lại còn phải đạn nữa chứ, những hòn đạn nặng chĩu phải
mang lấy, nếu không có ngựa để thồ. Anh vác Bazooka cũng khó nhọc không kém còn
nữa, còn nhiều thứ nặng nề mà không mang theo được. Ấy thế mà anh em đi đã đi
được đấy, đi một cách nhanh chóng và gọn gàng nữa là đằng khác. Mà nào các anh
có to, có khỏe gì cam. Anh nào cũng gầy giơ xương sườn. Ngày 10 tháng 10 bắt đầu
hành cuộc hành quân. Buổi tối hôm ấy, chúng tôi được lệnh xuất phát. Qua phố
Đ.T nhà cửa vừa có lệnh phải phá. Gạch ngói ngổn ngang. Không khí sặc mùi khói
tro khét lẹt.
Quang cảnh chết! Thôi còn đâu nữa Đ.T thơ mộng, Đ.T. nhộn nhịp
với những hiệu tạp hóa xanh đỏ, với những quán trà, quán cơm thơm phức mùi phở
sào và mùi cà phê, người đi lại đông đúc như Hàng Đào. Tàn phá và đổ nát. Ôi
chiến tranh thật là phũ phàng! Chúng tôi nhớ lại đêm nào rút khỏi thành Hà Nội,
cảnh tượng cũng chẳng khác thế này.
Đoàn chúng tôi đi. Trời đêm ấy mát mẻ, có trăng suông. Lại xa
mặt trận. Đi ung dung giữa đường dài, cầu chưa phá, đường chưa xẻ. Cuộc hành
quân quả có dễ chịu. Đi mất một ngày, bốn giờ chiều hôm sau tới Q.V. Ở đó chúng
tôi ở lại hai hôm rồi đi C.Đ. Cuộc hành quân bắt đầu vất vả. Chúng tôi phải đi
gấp. Hành quân suốt ngày đêm. Anh em lâu không đi nhiều cũng thấy hơi toái phở.
Chúng tôi đi đã mấy đêm rồi. Đêm nay lại đi. Tuy không mệt lắm vì ban ngày
chúng tôi được nghỉ nhiều: nhưng buồn ngủ dữ. Đi được vài giờ cơn ngủ ở đâu đã
kéo đến. Mấy thằng chúng tôi mắt cứ dính lại. Chân bước đi mà mắt thì cứ nhắm.
Chúng tôi đi lảo đảo. Chân nọ đá chân kia. Sau nghĩ ra được một cách, cứ hai thằng
dựa vào nhau đi. Mới đầu còn thằng nhắm mắt, thằng mắt mở. Về sau cả hai thằng
cùng chập chờn, nhưng vẫn không dám nghiền mắt lại thật mà ngủ lịm đi bao giờ
không biết. Ấy thế mà chân cứ bước đều.
Chúng tôi ngủ như vậy cho đến lúc hự một cái. Cả hai thằng
cùng choàng mở mắt thấy mình đứng dưới hố. Cảnh tượng ngộ nghĩnh quá. Chúng tôi
nhìn nhau phì cười đến đứt hơi.
Qua quãng đường xẻ, chúng tôi không dám ngủ. Nhưng đi khỏi
nơi ấy, đường láng. Không thằng nào bảo thằng nào chúng tôi lại tiếp tục theo
nhau gật lìa gật lịa. Tài tình một cái là vừa đi vừa ngủ như thế mà vẫn không
đâm ra ngoài hàng. Có anh chàng đi kém quá, ngã đến năm sáu cái, mở mắt ra mà
còn chửi đổng:
– Cây khỉ gì vậy lại mọc giữa đường!
Qua một cái cầu khó đi. Đầu tốp hành quân dừng lại. Thế là
như chuyến tàu hãm phanh, chúng tôi đâm mình vào nhau, thằng dưới nằm ngã đè
lên thằng trên dúi dụi. Nhưng chỉ những đêm nào tối trời, lại đi giữa đường
cái, hoặc đường khá tốt mà thẳng mới xảy ra những chuyện ngủ đường như thế. Chứ
phải hôm trời mưa đường trơn mà ngủ như thế thì cứ gọi là ngã trật mắt. Những
đêm hành quân dưới trời mưa, trái lại là những điều chúng tôi phải chú ý nhất.
Tinh thần luôn luôn căng thẳng. Không dám lơ đễnh một chút nào.
Đường đất thịt trơn lắm. Nhất là những quãng đường xẻ hoa
mai; đất vừa trơn lại vừa gồ ghề, đi càng trơn tợn. Chúng tôi đi sát vào nhau,
vì như thế thì một anh ngã là ngã cả nút. Anh nào cũng chuệnh choạng như say rượu
mặt cúi gằm ngón chân lấy xòe ra và bám chặt xuống đất. Chà! Trơn dữ quá càng bấm
chân xuống đất mạnh lại càng trượt đi. Chỉ nên chọn những điểm đất trũng có nước
hay lầy mà đặt bàn chân thì mới vững được. Nhưng trời vẫn tối lắm, làm thế nào
mà trông thấy được chỗ đất lầy với đất trơn. Đành cứ là đi phứa phựa. Bàn chân
bị phủ một lượt đất thịt lại đi lên chỗ đất thịt hai mặt trơn cọ vào nhau, nó
trôi tuột đi. Ấy thế là chân chổng lên giời thế là "phèo", là ngã. Có
võ lắm mới không việc gì chỉ trượt chân và lảo đảo một tí thôi. Nhưng những vố
hụt như thế cũng đủ làm toát mồ hôi lưng và dựng tóc gáy. Chốc chốc lại nghe
đánh huỵch một cái. Một anh vồ ếch. Mới con đầu còn có tiếng cười rúc rích,
nhưng về sau, nhiều vồ ếch quá, mà anh nào ít nhất cũng ngửi hơi ếch đến hơn một
lần thì thôi không còn ai buồn cười nữa. Hành quân trời mưa quả có vất vả và mỏi
mệt nữa. Mõi cả vật chất lẫn tinh thần. Và không phải chỉ chân với mình phải
làm việc tợn, mà mắt và nói chung, tất cả giây thần kinh đều căng thẳng dồn hết
vào sự chú ý xuống đôi bàn chân để chỉ có một công việc là đi khỏi ngã. Đã thế
mà thôi đâu còn lạnh còn buốt nữa chứ. Những hạt mưa như từng nắm kem ném vào mặt
người đi đường. Nó đọng trên tóc, trên lông mày rồi chảy dòng dòng xuống mắt,
xuống mũi, xuống mồm, lấy lưỡi liếm thì hạt mưa có chất mặn. Ra mưa có lẫn cả mồ
hôi và có lẽ cả nước mắt nữa. Quần áo dưới trời mưa ướt sũng, cả ba lô cũng ướt.
Chăn màn cũng ướt nốt. Thế là đêm nay, anh em đành cởi trần ôm nhau mà ngủ vậy.
Đi đường cái thì trơn. Đường đá vì bị xẻ và đào lên nên cũng
trơn, có khi còn trơn hơn đường đất vì lần đất thịt ở dưới bị đào lên chất
thành đống. Mưa lâu, đất bết vào nhau, quánh lại trơn không thể nói được. Đi đường
tắt cũng lội. Qua khe, qua cầu, những cái cầu dài làm sơ sài bằng hai ống tre
ghép lại, hay chỉ bằng một khúc gỗ tròn. Trời mưa, đi nhiều nó bị phủ một lượt
đất trơn như mỡ. Khi qua phải đi từng người một, không thì lăn xuống khe mất mạng.
Qua những rừng nứa hôm trời mưa cả là một cái nạn ghê gớm. Soạt! Soạt! Anh vừa
chạm phải những ngọn nứa. Lập tức anh sẽ thấy nhấp nhoáng ở gáy. Đưa tay lên vuốt,
anh tóm ngay được một chú vắt xanh lè, nhỏ bằng que tăm đang sắp sửa rút vào cổ
anh mà hút máu. Những con vắt nhanh như cắt và liều lĩnh không thể tưởng tượng
được. Trên cây cỏ, vắt, dưới đất lại còn nhiều nữa, anh thử cúi xuống mà xem
các kẽ chân anh đã thành những ngăn đựng vắt. Anh khiếp à? Anh bắt không xuể
đâu. Anh còn đi nó còn bám. Bắt vô ích. Chỉ nên đi nhanh lên thôi. Có cu cậu sợ
vắt, mỗi lần trời mưa phải hành quân qua rừng nứa là run người lại. Đi một lúc
lại cúi xuống dòm chân. Thế rồi cậu thấy một con vắt đen xì bám vào bụng chân.
Cậu giẫy nẩy lên, kiếm cho mau chóng một cái que gạt nó xuống đất. Ác là nó bám
chặt quá, cậu phải gạt thật mạnh bật cả máu ra nó mới chịu bám xuống bên đường.
Về sau bị bám tợn quá, cu cậu gạt không kịp đành cắn răng mà đi không dám nhìn
xuống chân nữa. Rồi dần dần nó cũng quen đi. Vắt không còn là một sự ghê gớm nữa.
Người ta phớt nó đi như phớt khi đá phải vành khăn xếp, nói nhỏ: “tiếng văn hoa
của bãi phân trâu”. Rồi đến nơi ở đua nhau mà bắt để thi ai có nhiều vắt bám nhất.
Hành quân đường tắt mà đi ban đêm không thấy nhau rồi. Mở mắt cũng như nhắm mắt,
chẳng còn nhận ra cái gì nữa. Chúng tôi cứ việc nắm lấy áo nhau mà đi theo em
liên lạc. Chân bước thấp bước cao, chẳng còn biết là mình dẫm lên cái gì, và đi
qua những chỗ nào đang đi mà vô phúc anh nào vấp ngã thôi thế là đứt liên lạc.
Anh nhỏm dậy bước gấp đuổi theo đoàn quân vẫn bước đều đi thật
nhanh. Tay anh giơ ra phía trước xoa xoa hòng tóm được cái vai hay cái ba lô của
người đi trước. Đuổi kịp thì thật là may. Anh sẽ thở đến phào một cái nhẹ nhõm.
Rủi lại chạy đâm vào một ngách khác, chạy mãi không thấy người đi trước đâu. Thế
là anh cất tiếng gọi sẽ? Không thấy tiếng trả lời anh hú lên. Mới đầu còn khẽ
và dè dặt. Sau anh đâm cuống hú tướng mãi lên, kỳ nghe thấy tiếng trả lời mới
thôi.
Những đêm hành quân thường xảy ra chuyện mất liên lạc như thế
và tiếng hú cứ nổi lên, đây một tiếng; đó một tiếng vang cả rừng. Hết cả bí mật.
Về sau bị sạt tợn quá, và để tránh cái nạn bị bỏ rơi, anh em nghĩ cách bắt đom
đóm bỏ vào trứng và nhặt những là mục có lân tinh sáng gài vào ba lô của nhau để
đi khỏi bị đứt liên lạc. Những cuộc hành quân của chúng tôi thường về đêm như
thế vì chúng tôi ở ngay sát mặt trận. Nhưng cũng có lần hành quân giữa ban
ngày. Hành quân ban ngày phải ngụy trang cẩn thận nghĩa là phải lấy lá gài khắp
người thật kín. Xa trông như những bụi rậm rạp. Mới đầu ngụy trang do kỹ thuật
còn kém, có anh chỉ gài phất phơ mấy cành cây to tướng cắm lên lưng nhác trông
như một cái cây biết đi. Về sau thì chúng tôi ngụy trang đã nghề lắm, có tổ chức
thống nhất. Từng tiểu đội ngụy trang một thứ lá cây giống nhau dùng dây bện
thành những tầng áo lá rậm kín và nhẹ. Lúc đi chỉ việc choàng vào người buộc lại,
thật tiện mà chắc chắn. Ngụy trang vào trông anh em cũng dữ dội lạ. Nhất là khi
đi, gió thổi làm đám lá trên mũ và trên vai bay phất phới, trông oai ghê có vẻ
chiến sĩ lắm.
Đến nơi đóng quân, chúng tôi ngồi nghỉ, tháo tấm áo ngụy
trang, thấy nhẹ nhõm cả người, bộ quần áo rách mướp của chúng tôi lại được phơi
ra ánh mặt trời. Những chỗ rách ở vai, ở khuỷu tay, ở đầu gối bay như cờ đuôi
nheo ngạo nghễ. Tiếng cười nói sau này vang thành một điệu hát “chúng ta cười
nhìn gió bay là tung manh áo tả tơi”.
LÊ MINH
Tiết 4
VŨ LINH
Tiểu Sử.
Vũ Linh cũng như chiến sĩ văn nghệ khác trong kháng chiến,
tác giả Hành quân chiến đấu. Khác với Lê Minh, câu truyện ghi lại hình ảnh một
cảnh sau buổi giao tranh nóng hổi. Sặc mùi khói lửa. Hành quân chiến đấu giữa
đêm khuya khoắt, gió, mưa. Lòng hăng hái của chiến sĩ đấu tranh quên đói, quên
mệt nhọc. Sau đó, tác giả đói quá và thái độ ấy được diễn tả linh động như sau:
“Tôi vừa “tước” được của anh đại đội trưởng một bắp ngô sống nhưng bị “xung
phong ngay”. Đề cao sự chia xẻ và lòng yêu thương chiến sĩ đối với nhau. Cho
nên không nỡ ăn cả một chiếc bắp ngô. Anh đại đội trưởng nhường; tác giả bị anh
em đồng đội xung phong mất, rồi chia mỗi người được vài chục hột. Đẹp bao
nhiêu! Lòng phấn khởi, khi đọc xong mẩu chuyện yêu thương của chiến sĩ kháng
chiến giành độc lập cho xứ sở. Tình cao cả của chiến sĩ đến gần với chúng ta
hơn như thế, là nhờ ở những mẩu truyện linh hoạt sống động.
HÀNH QUÂN CHIẾN ĐẤU
Đêm càng khuya mưa càng nặng hạt như trút nước xuống. Anh em
được lệnh lên trên một trái núi mà hầu như xưa nay chưa ai bước chân tới bao giờ
để ngủ. Mệt. Mấy đêm nay xuyên sơn; ai nấy ngủ lăn lóc, bạ chỗ nào đặt mình chỗ
ấy, anh nằm xuôi nằm ngược. Mặc cho có vắt và những trận ngâu liên miên, tiếng
xì xào ngớt hẳn. Yên lặng. Thỉnh thoảng vài tiếng o o ngáy vang lên, tuy bị những
trận mưa cố át đi. Năm sáu người một chỗ, họ gục đầu vào gối ngủ, anh kia dựa
lưng vào gốc cây ngủ. Có anh tính cẩn thận, không muốn lăn ra đất ra bùn, lên
những cành cây hốc đá trải chiếc áo mưa ra để nằm. Nhưng chiếc áo mưa không thấm
nước ai ngờ đã trở nên cái vũng nước để cứ tát đi hết một lượt thì mưa, rồi nước
từ trên cao tràn xuống và vũng nước bằng chiếc áo mưa lại đầy. Đoàn người ra đi
vạch lau rẽ cỏ thẳng gò núi tiến, qua nhiều đồi tranh quang quá phải ngụy trang
vừa đi vừa nhìn vị trí địch hai cái lều vừa dựng, một lá cờ ba sắc hai tên lính
Thổ đứng trên gò nhìn xuống vị trí Đ.. Thỉnh thoảng tiếng súng ở vị trí địch lại
vang lên. Mặc. Đoàn người vẫn tiến. Hôm sau bắt đầu hết gạo, đường lại khó đi
hơn, trời lại cứ mưa tầm tã, phải trèo qua những rặng đá răng mèo lởm chởm và
nhọn hoắt, có chỗ phải theo dây leo mà tụt xuống, chốc chốc lại đứng lại để
phát đường nhìn phương hướng mà lấy lối đi. Xâm xẩm tối tới một làng nhiều nhà
nhưng không thấy người qua lại chỉ trừ một nhà có đốt lửa và thấp thoáng mấy
bóng người: không phải là dân chúng mà là tiểu đội tiếp tế của địch. Chúng tôi
chuẩn bị sẵn sàng. Một đồng chí xung phong vào đầu bắn một phát, một tên ngã, định
bắn phát thứ hai thì bị ngay một viên đạn địch bắn trả lại xuyên báng vào nách
và ra đằng sau. Anh quỵ xuống. Một tên trông thấy đồng chí Kế ở cửa dơ báng
súng đánh một cái. Kế vội dơ súng đỡ và bị gãy báng súng. Vội vã anh xông vào
ôm cổ địch, hai bên cùng hăng hái vật nhau, mãi đến khi đồng chí Hùng ở trong
nhà chạy ra đánh tên giặc và lấy được khẩu súng.
Sau cuộc chiến đấu gay go, đột ngột chúng tôi lại ra đi và được
hai cây số lại gặp địch. Lần này kịch chiến, anh em tỏ ra hăng hái. Đồng chí
Hùng thét lên: “Các đồng chí ở trên cứ yên chí, có chúng tôi ở đằng sau đây”.
Đoạn anh nhắc khẩu "Bờ ren" lên lia một chập sang vị trí địch. Địch
rút lui. Cảnh vật lại em lìm. Mây đen kéo đến rất nhanh bao trùm lên núi rừng
trở nên âu. tiếng dế kêu buồn bã hòa lẫn với tiếng thác đổ mơ hồ dội vào lòng
những kẻ quen với súng đạn những ý nghĩ không đâu. Lòng họ tê đi, vì dọc đường
này, họ đã rỏ máu, họ đã mất những đồng chí thân yêu mà trước đây hai giờ còn
chung sống, cùng họ cam khổ, vạch lau rẽ lối để làm tròn nhiệm vụ. Vụt một cái
lòng họ sôi lên căm thù đầy ứ. Và đoàn người vẫn tiến trong đêm tối. Họ tiến
cho tới khi có lệnh cho nghỉ thì họ lại lăn ra ngủ, quên hết mọi khó khăn.
Đoạn đường khổ đâu đã hết. Mưa càng ngày càng nặng hạt hơn,
không ngớt một phút nào, họ co ro tìm những hốc đá, hốc đất mà ngủ vì chăn, áo
quần, ba lô cho tới cả thân họ đều ướt và rét, vắt vô kể, cầm sờ mà vất đi, chập
chờn thức ngủ như vậy cho tới sáng.
Sau mấy bữa không có gì vào bụng, bụng cồn cào, chân mỏi mỏi,
dốc lại cao, đại đội thẳng tiến qua những trái đồi chót vót, trèo dốc dựng đứng.
Mặc, vẫn cứ đi. Qua những rừng chuối đều bị ngả nghiêng bóc lõi ăn. Đói quá. Một
đồng chí bứt một thứ quả gì bé bằng ngón tay xanh ăn thấy ngon. Ai nấy đều thi
nhau ăn, tuy chát vô cùng. Tôi vừa "tước" được của anh đại đội trưởng
một bắp ngô nhưng bị xung phong ngay, và rốt cuộc cũng chỉ còn được mấy chục hạt.
Thế rồi đến chiều nay. Anh em reo lên, còn có tí sức nào cũng cố mà reo lên, vì
sau ba ngày đói, mưa nắng, đánh nhau, leo núi, chúng tôi đã toại nguyện và
khoan khoái trong tiếng hoan hô gặp bộ đội bạn: biên phòng.
Trích báo tay đại đội
VŨ LINH
Tiết 5
NGUYỄN TRINH CƠ
Tiểu Sử.
Nguyễn Trinh Cơ là một y sĩ trong ngành quân y chiến đấu. Tác
giả Em Ngọc, một mẩu truyện đầy cảm động mà chúng tôi trích dẫn dưới đây. Viết
Em Ngọc Nguyễn Trinh Cơ muốn đề cao lòng yêu nước của một em bé.
Ngọc là liên lạc viên. Tâm trạng khi đưa em đến bệnh viện là
sợ bị cưa tay. Em hỏi bác sĩ như vậy. Vì không muốn cho bệnh nhân thất vọng,
bác sĩ đành phải nói dối trái với sự nhận định xác thực của ông. Lòng thắc mắc
và tâm tư bị xáo động. Tác giả ghi lại tỷ mỷ từng thái độ nhỏ nhặt của em,
nhưng vô cùng tinh tế. Từ thái độ minh chứng em Ngọc có tác phong người lớn, em
không kêu đau, vòi, làm nũng cùng các nữ y tá đều nhận như vậy cả. Nhưng đến
khi mẹ em vào thì tình thương ấy lại trở về đúng chỗ của tình mẹ con: “dăm ngày
sau, bà mẹ được tin lại thăm em và ở lại chăm nom. Mỗi lẫn đi thăm em, tôi vẫn
thấy em tươi tỉnh, ngoan ngoãn. Nhưng các chị cứu thương cho biết rằng nhiều
lúc vắng người, em hay làm nũng bà mẹ, đò bà quạt, rót nước luôn miệng. Mỗi lần
ăn phải chính tay bà và cho em từng miếng một”. Tâm lý rất sâu sắc, quan sát kỹ
lưỡng. Ông còn cho chúng ta thưởng thức một đoạn văn linh động của em Ngọc trao
lại cho bác sĩ một bài học về tâm lý thời chiến tranh sau khi trở về đơn vị. Và
chính tác giả là người ham học; cho nên mới dám nhận bài học trường đời, không
cứ gì ở một người hơn tuổi, bằng tuổi. Ở đây đến cả một người kém tuổi: “Tôi đi
thăm các thương binh cũ của tôi lúc ra về, vì muốn đến thăm tiểu đoàn bộ, tôi đứng
xa hỏi thăm em Ngọc địa điểm tiểu đoàn. Không trả lời, em Ngọc vội chạy lại chỗ
tôi, lấy tay phải còn lại níu áo tôi, nghểnh hai chân lên vươn mình lên. Tôi hiểu
ý cúi mình xuống kịp để đón câu trả lời của em, câu trả lời nhỏ như tiếng: “Tiểu
đoàn bộ ở làng A.S.”. Tôi ôm chặt em bé vào lòng, thành thật nhận lấy bài học về
kín đáo mà vô tình em đã dạy tôi”. Văn nhẹ, thoát, tế nhị, nhiều đoạn đặc sắc,
tinh thần thông minh của một em bé được mô tả có nghệ thuật. Trong cuộc kháng
chiến. Nguyễn Trinh Cơ muốn chúng ta cùng nhận định còn biết bao nhiêu là em Ngọc
tham gia cuộc giải phóng xứ sở như thế!
EM NGỌC
Đây không phải một thiên tiểu thuyết. Chuyện mà em Ngọc kể ra
chỉ cốt ghi lại một kỷ niệm trong đời sống kháng chiến của một người thầy thuốc.
Hôm ấy từ hai giờ sáng tiếng súng nổ ran sau mấy ngày yên tĩnh. Tiếng liên
thanh kéo dài như những tràng pháo, đạn moóc chê nổ ầm rền vang trong đêm yên lặng.
Sáu giờ sáng chúng tôi ở bệnh viện đã dậy và người nào việc nấy. Theo lệ thường,
sau những tiếng dồn dập nhân viên đều sửa soạn sẵn, hấp đồ mổ thu xếp chỗ để chờ
cứu chữa số binh sĩ bị thương nơi mặt trận về. 9 giờ, 10 giờ việc thăm thương
binh cũ và băng bó đã xong mà vẫn chưa có thương binh mới đến. Chúng tôi vẫn chờ.
Vào quãng 11 giờ, một cái cáng từ từ tiến vào “nhà chờ” nơi các thương binh mới
đến nằm nghỉ tạm trước khi vào nhà mổ. Đi sau cáng là một anh cấp trung đội mà
tôi quen. Không chờ anh đến gần, tôi đã hỏi dồn:
– Thế nào anh, có nhiều không?
– Chỉ có một em bé này thôi ạ.
Lúc ấy tôi nhìn kỹ vào cáng: một thân hình nhỏ bé thu gọn vào
lòng cáng chiếc khăn màu xám phủ kín người, để lộ mặt ra, khuôn mặt đều đặn
sáng sủa của một em bé 11, 12 tuổi. Em bé nhìn tôi bằng đôi mắt mở to và nở nụ
cười để chào hỏi. Tôi vỗ nhẹ vào má em để an ủi và mở băng xem vết thương. Một
chị nữ cứu thương khẽ đỡ đầu em quay đi chỗ khác.
– Chị không phải giữ chị ạ. Chị cứ để em xem vết thương của
em.
Nghỉ một chút em bé lại tiếp, lần này nói với tôi:
– Tay em có phải cưa không bác sĩ?
– Em cứ yên tâm.
Tôi nói lảng, bằng một giọng cố bình tĩnh để dấu một nỗi buồn,
khuỷu tay em đã nát, không còn cách nào giữ được. Chị nữ cứu thương tiêm cho em
Ngọc một ống thuốc trợ lực và để em nằm nghỉ một lúc. Tôi ra hiệu cho nhân viên
sửa soạn ở phòng mổ, rồi cùng anh trung đội đi vòng sân nói chuyện.
Tôi ngậm ngùi bảo anh:
– Nát hết tay rồi, không thể giữ được.
– Tiếc quá. Em Ngọc giỏi lắm. Gan dạ, táo bạo, và đã giúp được
nhiều việc. Rồi thong thả, anh kể cho tôi nghe rõ tại sao em Ngọc bị thương. Từ
đêm địch bắn sang vị trí ta. Đến gần sáng, bộ đội gần đấy đoán được sẽ có cuộc
hành quân của địch. Ban chỉ huy cần liên lạc gấp với bộ đội ở phía sau. Em Ngọc
nhận lệnh ra đi sau lời căn dặn kỹ càng của anh chỉ huy. Khỏi đường qua đê thì
đến gần luồng đạn của địch. Em Ngọc ngừng lại một lúc, định đi vòng ra sau cho
chắc chắn. Nhưng nhớ lại anh chỉ huy nói là việc cần kíp lắm, em mạnh bạo bước
thẳng. Khỏi vài chục thước, một viên đạn moóc chê nổ làm em nằm rạp xuống. Ở
tay thấy đau chói. Em Ngọc cởi khăn quàng buộc chặt lấy chỗ tay đau, ép vào ngực
rồi đứng dậy cố lần bước tiến thẳng. Em đến nơi, mặt xanh nhợt. Anh y tá bộ đội
buộc vết thương cho em xong thì em xin phép đi nằm. Rồi thản nhiên ngủ một giấc
yên lặng như không có việc gì vừa xảy ra.
Trong phòng mổ đã sẵn sàng. Em Ngọc nằm thẳng trên bàn mình
che dưới những miếng vải trắng bóc. Trong phòng yên lặng. Hộp kền sáng loáng.
Mùi cồn, mùi vải hấp bốc lên. Cái khung cảnh quen thuộc dễ làm cho người say mê
công việc. Tôi đi rửa tay và mặc áo hấp. Cùng lúc ấy, người đánh thuốc mê chụp
máy lên mặt em Ngọc. Trong phòng ngủ yên lặng, chỉ có tiếng phập phồng của cái
bong bóng ở máy thuốc mê lên xuống theo nhịp thở của em Ngọc. Bỗng em rẫy mạnh
và la to: “Thực dân liệu hồn. Sao mày bắn gãy tay ông?”. Tất cả chúng tôi trong
phòng mổ đều mỉm cười vì câu nói đột ngột ở miệng đứa trẻ. Rồi tiếp luôn một
cơn dãy dụa mạnh nữa tiếng khóc xen và những câu nó dồn dập: “Thực dân nó bắn gẫy
tay tô..i rồ..i. nước mắt tôi còn đang đánh nhau với nó kia mà. Hu.. hu. Để tay
cho tôi, tôi đánh nó. Đuổi nó đi. Đu.. ổi..”. Tiếng em Ngọc bé dần, mất đi
trong giọng ú ớ. Rồi em Ngọc bắt đầu ngủ say.
Trong một phút tất cả nhân viên trong phòng mổ đều ngưng tay.
Người nào cũng cố ý nhìn đi chỗ khác. Một vài chị nữ cứu thương quay mặt đi lấy
vạt áo giấu giếm lau một giòng nước mắt.
Em Ngọc thành ra bệnh nhân được cưng nhất trong bệnh viện.
Luôn luôn có người ngồi nói chuyện hay đọc báo cho em nghe. Quà bánh nhiều đến
nỗi em ăn không hết. Mỗi lần thay băng, vài ba chị cứu thương xúm xít quanh em,
hát hay pha trò cho em quên đau. Nhưng lần thay băng nào em Ngọc cũng cười, nụ
cười nửa miệng, không thành tiếng, nhưng nó làm cho nét mặt em tươi hẳn lên và
khiến cho người gần em lây cái vui của em cũng theo em nói cười.
Dăm ngày sau, bà mẹ được tin lên thăm em và ở lại chăm nom. Mỗi
lần đi thăm em, tôi vẫn thấy em tươi tỉnh ngoan ngoãn. Nhưng các chị cứu thương
cho biết rằng nhiều lúc vắng người, em hay làm nũng bà mẹ, đòi bà quạt, rót nước
luôn miệng. Mỗi lần ăn phải chính tay bà và cho em từng miếng một. Làm nũng mẹ
có lẽ là tính tự nhiên của tất cả các trẻ em. Sau đó nửa tháng vết thương em Ngọc
lành hẳn. Hôm em về, tôi tiễn em ra đến tận cổng làng bắt tay em thật chặt như
bắt tay một người bạn nhớn. Rồi bẵng đi một dạo đến năm sáu tháng tôi không được
biết tin tức về em Ngọc.
Lần ấy, tôi đi thăm một An dưỡng đường ở cách bệnh viện tôi
vài chục cây số. Đến một tổ vừa bước chân vào nhà đã thấy em Ngọc chạy vội ra
chỗ tôi, thòng thòng một tay áo quá dài. Em kể cho tôi nghe hiện giờ em giữ vị
liên lạc cho tiểu đoàn ở đây. Tôi đi thăm các thương binh cũ của tôi. Lúc ra về
vì muốn đến tiểu đoàn bộ, tôi đứng xa hỏi em Ngọc địa điểm tiểu đoàn. Không trả
lời, em Ngọc vội chạy lại chỗ tôi, lấy tay phải còn níu áo tôi lại, nghển hai
chân, cố vươn mình lên. Tôi hiểu ý, cúi mình xuống kịp để đón câu trả lời của
em, câu trả lời nhỏ như tiếng thở: “Tiểu đoàn bộ ở làng H.S.” Tôi ôm chặt em bé
vào lòng, thành thực nhận lấy bài học về sự kín đáo mà vô tình em vừa dạy tôi.
Tôi nhìn lại khuôn mặt đầy đặn, sáng sủa của em Ngọc, rào rạt
trong lòng một niềm tin vô hạn về thế hệ ngày mai. Người tò mò đọc những dòng
trên đây có lẽ cố tìm cho biết em Ngọc là ai? Ở bộ phận nào? Cái tên của em có
quan hệ gì? Em Ngọc mà cũng có thể là Bình, Hải, là Chương, là những em nhi đồng
đang ghé vai bé nhỏ chia một phần công tác kháng chiến cùng các anh nhớn tuổi.
Em Ngọc ở đâu? Thuộc bộ đội nào? Chúng ta cần gì phải biết
rõ. Một bộ đội nào chiến đấu trên đất Việt Nam này mà không có em Ngọc?
NGUYỄN TRINH CƠ
Tiết 6
KHUYẾT DANH
Tiểu Sử.
Đây là ba mẩu nhật ký trích trong báo “Chiến Thắng” của Trung
đoàn Thủ đô. Tác giả là các chiến sĩ của trung đoàn ấy. Nhưng dấu tên. Mẩu Nhật
ký của một pháo binh, tác giả ghi nhận vào mùa đông độ rét đậm miền núi Tu Vũ
(Mộc Châu) trong cuộc hành quân. Văn bình dị, nhẹ nhàng, nhưng không kém phần sắt
máu.
Dưới Bèo, tác giả cặn kẽ tả trạng thái chịu đựng độ rét của một
trinh sát viên nằm dưới nước để dò vị trí địch. Ý chí nung nấu ấy là góp cho sự
chiến đấu chung của tổ quốc.
Mùa xuân đã tới, chiến sĩ thương binh là một phần tử của
Trung đoàn thủ đô cần được nhắc nhở. Sự săn sóc của một nữ đồng chí khiến người
chiến binh cảm động. Bọc băng, mua thuốc lá cho chiến sĩ, với cả lòng thương
yêu tương trợ giữa đồng đội, khiến những người còn một nửa sống cảm động và
nhìn thấy trước mặt mình một màn trong sáng mùa xuân.
1– NHẬT KÝ MỘT PHÁO BINH
Thật vậy, trận Tu Vũ ngày 18 – 3 – 48 bị một mẻ rét mà nay
tôi chỉ có thể viết là “rét không thể tả được”. Trước còn run như người lên cơn
sốt rét sau rét cứng người hẳn lại. Tiểu đội tôi hai giờ đêm thì khiêng súng đạn
tới vị trí. Làm xong công sự trời đổ mưa dữ dội. Anh trung đội trưởng ra lệnh cấp
tốc lấy chăn che làm bạt cho đạn khỏi ướt. Đạn để rải rác nhiều đống, lại cả
ngòi máy cắt đạn. Anh trung đội trưởng đi xem chỗ bố trí của đội yểm trợ, còn
chúng tôi lại thay nhau gác.
Mưa càng to, gió càng tạt mạnh, anh tiểu đội trưởng ra thăm đạn
và kêu lên. “Nguy quá!” Hai chăn mà nước vẫn thấm, mọi người cuống cuồng vì đạn
ướt thì đến sáng bắn làm sao được, chăn thì có mấy cái để phủ cả. Chỉ còn cách
cởi trần ra lấy áo phủ. Năm anh yếu được miễn. Phủ xong áo, chúng tôi xúm xít
vào nhau như đàn gà để mong được hơi ấm truyền từ người này sang người khác.
Người có áo đứng ngoài thành vòng tròn che cho người không áo. Gió vẫn rít, mưa
vẫn rơi. Ba tiếng sau, chúng tôi được lệnh sửa soạn bắn thì vừa lúc mưa bắt đầu
ngớt hạt. Chúng tôi ai vào việc nấy; bỗng lại thấy anh tiểu đội trưởng kêu lên,
cả đoàn xô đến anh. Anh đã ngã gục vì rét quá. Chúng tôi rút vắt nước đi đắp
lên cho anh. Một lúc sau anh tỉnh lại và câu nói đầu tiên của anh là “rét không
thể tả được”.
2 – DƯỚI BÈO
Trời rét buốt, anh trinh sát đi dò vị trí của địch phải nhảy
xuống ao gần giặc, giấu mình dưới đám bè. Dù suýt chết giá dưới nước, anh cũng
đem về được những điều bộ đội ta cần biết để đánh giặc. Dưới đây là lời anh kể:
“Nước giá buốt quá. Ướt đến đâu biết đến đấy. Tôi tưởng như
có hàng ngàn, hàng ức mũi kim châm vào da thịt. Khi nước đến cổ. Hai tay cứ run
rẫy quờ bờ phủ mặt, hở có mũi và mồm. Nhưng bây giờ thì cố nằm im. Rễ bèo man
mác và êm êm vào cả kẽ mặt và lỗ mũi. Nước bùn đọng ở rễ từ từ theo dòng mắt
tuôn vào miệng. Trước nó chỉ chườn qua môi rồi dần xuống má, xuống cổ nhưng bây
giờ thì không giữ nổi nữa. Hàm răng cứ đập vào nhau cồm cộp. Dù có hãm mặc
lòng. Và mỗi lần há miệng ra, nước bèo lại ồ vào. tôi không nhớ uống tất cả bao
nhiêu ngụm nữa và không rõ hương vị thế nào?
Người tôi cứ lững lơ như ở một quãng không. Chả biết nó đã tê
cứng hay đã chín trong khối nước lạnh rồi. Mới đầu tôi còn thấy buốt ngoài da
sau lần lần da ngoài cũng mất. Hình như có một người lột da rồi cầm một tảng đá
lướt từ sống lưng xuống đến ngực, đến bụng, khắp các thớ thịt. Và cứ thế, một lần
lột lại một lần xoa đá. Khi đến lần cuối cùng, nghĩa là vòa đến tim phổi, các mạch
máu tưởng đến ngưng lại được. Khổ nhất là mỗi lần có gió nổi lên. Mũi cứ như bị
xẻo bớt thịt đi. Tệ hơn nữa là không đau nhói một cái. Sự đau cư tê dại dần; đi
lê thê như không bao giờ hết. trong lúc khổ sở, tôi cố hình dung một cái gì để
vững tinh thần”.
3 – MÙA XUÂN ĐÃ TỚI
Tôi nổ ba phát súng liền lên ổ súng địch đặt trên cửa sổ tầng
gác nhà Lục lộ. Ba phát mất tích. Thằng Pháp cát két trắng nhấp nhô sau bị đất.
Nó tìm. Phát súng thứ tư, từ nòng khẩu khai hậu của tôi trúng ngay vào bị đất
đó, bụi mù. Nhưng thằng Pháp đã tìm thấy tôi rồi. Nó liền trút một tràng. Nó bắn
khá lắm. Lỗ bắn của tôi sát mặt đất, rộng một viên gạch, thế mà cách ba trăm
thước nó bắn trúng lỗ. Tôi bị đạn vào mắt tóe đỏ lòm. Cả một câu chuyện dài
trên đây để đưa tôi vào trạm, cứu thương khu. Tôi kính mời các bạn cùng tôi vào
thăm cái nơi yên lặng mà chúng ta bước tới, với một mối cảm động rưng rưng và
kính cẩn.... Tôi mang một cái mặt đỏ lòm vào cái cửa “nhà thương du kích” này
thì một chị đã vội vàng chạy ra đón tôi. Chị tưởng tôi bị thương nặng. Nhưng
tôi từ chối sự ân cần.
– Thưa chị, tôi bị đạn vào mắt, không đau lắm nhưng máu chảy
nhiều, chị xem cho.
Tôi ngồi xuống ghế. Ê te dội lên vết thương máu cầm và sạch.
Tôi bị mảnh đạn đum đum vào mắt. Mảnh đạn được bác sĩ gắp ra và tôi được băng
bó. Chuyện chỉ có thế các đồng chí ạ. Nhưng… có cái lạ này….
– Không việc gì anh ạ. Ba hôm nữa anh sẽ khỏi, vết thương nhẹ
không thôi mà. Ấy anh ngồi yên, tôi băng bó thật tốt cho anh ra trận ngay bây
giờ cũng được. Nhưng đừng ra vội nhé… ở nhà tịnh dưỡng vài hôm đã. Anh hút thuốc
không? Chúng tôi bận cả ngày mãi hôm qua mới ra được Hàng Buồm mà chả biết mua
gì, mua luôn gói thuốc lá cho các anh hút.
Tôi cảm động quá các anh ạ. Tôi ngồi yên. Băng vải nõn luôn
lượn nhảy trên mắt tôi, quanh đầu tôi. Chị cứu thương nói nhiều, nói nhiều. Mà
tôi thì loáng thoáng nghe, câu được câu chăng. Vì trời ơi! Tôi đương mơ một cái
gì xanh tươi như cỏ cây, cái gì trong sáng như ánh mặt trời trên làn nước phẳng.
Gió mát phương Nam thổi đâu đây và có tiếng hát êm lạ và hay lạ. Mùa xuân, mùa
xuân dịu dàng tươi sáng, luôn líu lo trên cành.
Trích báo “Chiến Thắng”
Tiết 7
ĐÌNH QUANG
Tiểu Sử.
Tác giả Bàn Tay thuật lại câu chuyện một anh thương binh mất
bàn tay. Tả lại tâm trạng của một chiến sĩ kháng chiến cụt tay, hình tượng thèm
khát một bàn tay mà biết bao nhiêu người đến thăm đều không mang lại cho chiến
sĩ một bàn tay. Tản văn trích dưới đây đăng trong báo Trung đoàn 77, là một
trong những truyện hay nhất của chiến sĩ văn. Người đọc thử hình dung một chiến
sĩ cụt tay mong muốn đến độ nào: “Hôm nay các mẹ có đem đến cho một bàn tay
đâu? Chỉ có một bàn tay, có lẽ họ cũng biết thế nhưng Không bao giờ họ dám bàn
đến nó. Tôi thấy nó, chiếc bàn tay nát rời, ở khắp nơi, mọi nơi...”
Thật đã đạt được độ rung cảm cao, sâu sắc, thâm trầm. Hình tượng
ấy nếu không là một người đã sống giữa lòng cách mệnh, giữa trái tim của họng
súng, giữa tâm hồn; làm sao diễn tả được sự mong muốn vô cùng giản dị của
thương binh cần một bàn tay. Cho đến cả: “anh vụt giơ tay cao lên. Anh ngưng
nói. Một lát đưa chỗ thương mới khỏi xuống sát mặt, anh thở dài đút nó vào túi
áo. Đâu cũng có nó nhưng không bao giờ được cầm lấy nó, đỡ lấy một chút hơi
nóng của nó truyền ra. Anh ơi thế này mới bực chứ anh xem đây này" còn bao
nhiêu thái độ, động tác nữa. Ý nghĩ mà chính là nạn nhân không bộc lộ diễn tả,
dù nhà văn tài ba đến đâu cũng khó tưởng tượng nổi, từ thái độ con ruồi đậu mà
không phủi được, hay bâng khuâng trong giấc mộng; khi gặp bàn tay nát về với
mình.
Nếu cuộc sống là đề tài cần thiết để làm bối cảnh cho tác phẩm;
Đình Quang đã trả lời rõ rệt qua một truyện hay tột độ Bàn Tay. Ngoài giá trị đề
cao chiến đấu còn nói lên tính nhân bản một cách tha thiết, chỉ nói riêng đến
khía cạnh thương binh.
BÀN TAY
Lúc ấy tôi không kịp biết đau, cũng không kịp nghĩ gì nhiều nữa.
Tôi man mác một nỗi tiếc có bao giờ tôi còn có thể tìm thấy nó nữa… Trời! Chiếc
bàn tay tôi cụt, máu phụt ra, bắn vào lòng bàn tay trái một vật cứng. Máu ra
mãi, người tôi yếu dần, mắt tôi mờ đi tôi còn nghe như có một tiếng lựu đạn thứ
hai nữa, tôi ngã xuống, thế rồi…
Tiếng cười bạn thương binh trầm trầm, ẩm và ướt hơn, trong
phòng tiếng ngáy đều đều. Anh khẽ chống khuỷu tay, xoay mình sang phía tường.
Ánh sáng sao lạnh lẽo tỏa trên mảnh vườn trước nhà. Anh nằm cong úp thìa hai
tay ôm màng tai anh, anh muốn giấu hai giọt nước mắt đọng ở thái dương.
– Thế rồi anh có biết không, sau hơn nửa ngày mê mệt với những
cơn ác mộng, tôi tỉnh lại nhìn xung quanh tối om, tiếng đồng hồ đâu đâu buông
hai tiếng gọn.
Đêm về khuya đã lâu rồi. Không có một tiếng động. Tối quá anh
ơi tôi muốn tìm chút ánh sáng mà không được. Tôi sợ cái màu đen của giấc mơ lắm
rồi. Giá khi đó cũng có anh nằm bên tôi như bây giờ này thì tôi cũng đủ thấy đời
đáng quý. Tôi nhìn mãi, ráng nhìn về phía dưới chân ngọn đèn bệnh xá lọc qua
bao lần màn đen đến chỗ tôi chỉ còn là tia yếu ớt. Tôi muốn ngửng đầu lên co
chân lại gọi lên một tiếng, nhưng không được, óc tôi cũng không đủ nhớ rõ, dù
là một hình bóng. Đau đớn thế là cùng! Mai mỉa thế là cùng! Tôi khóc, anh đừng
cười tôi nhé, tôi khóc thật anh ạ, tôi chưa bao giờ khóc nhiều hơn thế, tôi đau
đớn hơn khi bố mẹ tôi chết cái buồn tử biệt ấy nó có thể quên dần được khi người
ta không bị xáo động nắm tro lạnh ở trong lòng. Nhưng mà bàn tay nó ám ảnh tôi
mãi tôi có quyền có nó như tất cả mọi người khác cơ mà, anh có nhận như thế
không? Thế mà tôi đã mất nó, đã mất rồi …
Những ngày nằm liệt ở bệnh xá, là một chuỗi ngày sống khắc
khoải. Tất cả bác sĩ, các chị cứu thương, các bạn đồng ngũ, họ biết tôi buồn tủi
lắm họ thương tôi, họ cố làm cho tôi vui, họ hát, họ hỏi chuyện, họ an ủi. Tôi
biết thế, tôi gượng cười vì họ. Hàng ngày các mẹ đến thăm tôi, các mẹ muốn đem
đến cho tôi sức sống náo nhiệt ở bên ngoài. Khổ! Họ hết sức đấy, họ làm hết
cách cho tôi tươi lên rồi đấy, nhưng có bao giờ tôi nghe thấy: “Hôm nay các mẹ
đem đến cho con một bàn tay đây ?” Chỉ một bàn tay có lẽ họ cũng biết thế nhưng
không bao giờ họ dám bàn đến nó. Tôi thấy nó chiếc bàn tay nát rồi, ở khắp mọi
nơi, mọi lúc. Tôi thấy nó ở đình màn, trong nếp chăn, trên mặt chị hai, trong
tà áo mẹ hiền, đâu cũng có nó. Anh vụt giơ tay cao cụt lên. Anh ngừng nói, một
lát đưa chỗ thương mới khỏi xuống sát mặt, anh thở dài đút nó vào túi áo. Đâu
cũng có nó nhưng không bao giờ được cầm lấy nó; đỡ lấy một chút hơi nóng của nó
truyền ra. Anh ơi “... thế này mới bực nữa, anh xem đấy này …”.
Anh rút cánh tay đưa sang, đầu ống xương bắp thịt khẽ động đậy,
miếng khâu còn lại vài đường xám nhạt. Anh cười gằn một trang, vùng ngồi dậy
người loạng choạng. Tôi giơ vai cho anh dựa.
Không gì bực bằng tôi bị tù. Phải kể ra thì bị tù thật, tôi bị
câu thúc một cánh tay. Gặp lúc ngứa bắp trên tay trái thì chỉ cười trừ thôi, cười
như nắc nẻ đến khi các chị cứu thương sợ chạy hết rồi, thì đưa khăn lên mà lau
má. Những đường gân tôi chưa bị liệt đâu, đường gân ngón trỏ ngón, tay cái,
ngón út nữa đây này. Thỉnh thoảng tôi thoáng quên như bàn tay đang còn, tôi giơ
ra bắt tay một người bạn, đường gân chuyển là lạ, thân thể mất thăng bằng xòe
tay ra không được, nắm lại cũng không được, tôi bị như một sức mạnh nào bó chặt
lấy tay, Chao ôi ! còn nhiều cái bực mình như thế nữa kể không hết ! Từ đó tôi
mất cả hi vọng sau tôi nghĩ rằng tôi chỉ còn một tay, tôi phải làm việc gấp đôi
để theo kịp những người khác, không thể dung túng những tư tưởng yếm thế đứng
trên cái lụn bại để trông người khác tiến và có thế mới xứng đáng với bộ áo
xanh này chứ anh nhỉ. Kể ra thì tôi cũng chưa đáng buồn lắm! Còn có người cụt
hai tay, cái chân chết nữa cơ mà. Độc lập còn cần nhiều bàn tay rơi rụng anh đừng
cho tôi là tự kiêu nhé, càng hi sinh nữa…
Tôi tập viết tay trái, làm việc tay trái, tập quên dần tay phải
nhưng cũng có lúc sực nhớ đến nó, lúc giơ tay chào Quốc kỳ, đỡ lấy tờ mệnh lệnh
chẳng hạn. Thế rồi đêm nay tôi thấy nó về gắn liền vào cổ tay, tôi không lầm
đâu thật mà tôi không lầm : rõ ràng tôi cầm lấy nó hẳn hoi tôi đếm từng ngón sờ
từng cái móng tôi mừng quá tôi lấy ngay bút viết một bức thư báo tin cho tất cả
những người thân mến, thảo một bài báo đăng tin bàn tay đã trở về với thương
binh. Tôi cầm mân mê nó mãi nắn bóp nó, bấu nó để giữ lại xúc giác. Tôi không
thấy đau, tôi bấu mạnh nó vội vàng biến mất. Tôi giật mình tỉnh dậy thì thấy
anh giựt tay lại chính tay đó là tay anh. Từ đó tôi không còn nhắm mắt được nữa,
tôi ước mơ cứ kéo dài dài mãi để được sung sướng sống đầy đủ tứ chi như anh…
như tất cả người khác, dù chỉ là một giấc mơ thôi…
Trích từ Tập san TRUNG ĐOÀN 77
ĐÌNH QUANG
Tiết 8
AN BÁ ĐẢM
Tiểu Sử.
Sự diễn đạt tình cảm qua tác phong sống mới của đoàn quân đi,
là phản ảnh một trong những đề tài cách mạng. Đình Quang tả tình người sống động
trong tâm hồn; thì An Bá Đảm tả cái sống động bên ngoài hình ảnh của đoàn quân
lên đường mang theo lý tưởng chiến đấu cho dân tộc diễn biến qua nhiều thái độ
hi sinh. Ý kiến của một chiến sĩ văn tuy bộc lộ có phần ít nghệ thuật, nhưng
bao giờ cũng chân thành, Ở đoạn này chúng ta nhận định rằng rong hầu hết tác phẩm
của chiến sĩ văn là chép đúng sự vật, như một máy ảnh chộp đúng khách quan, và ảnh
đẹp hay xấu là tùy theo máy tốt xấu: "Anh đại đội trưởng luôn luôn thúc giục
thế mà hàng ngũ vẫn sộc sệch. Nghĩ mãi mới tìm ra cách động viên anh mỉm cười:
“Gần đến phủ lị đấy nhé. Đi đứng cho hùng dũng, hát cho to
lên “Bàn dân thiên hạ cười cho đấy”. Nghe đồn đây “chất Thủ đô tản cư về”.
Vui tươi thì có vui tươi, nhưng không tế nhị mà chỉ là một
hình ảnh khám phá cái xấu của một cơ hội căn bản cần cho tiểu tiết phóng sự.
Tuy nhiên mỗi mẩu đời ký sự gồm hai phần: hay và không hay hoặc chưa hay, mỗi
người nhìn một khía cạnh chép lại… để ráp lại một cuốn phim dài đầy công lao
trường kỳ kháng chiến dân tộc.
ĐOÀN QUÂN ĐI
Trời nắng chang chang. Đi một mạch gần hai chục cây số, anh
nào anh ấy mệt nhoài, chân không buồn bước, mặt nóng bừng bừng khát nước khô cả
cổ thở hổn hển : Dăm sáu anh yếu sức từ từ tụt hậu rồi xin phép ở lại sau, tinh
thần như bị căng thẳng. Cái ba lô lúc mới đi nhẹ thế, bây giờ nặng như đá quẳng
được đi thì khoan khoái con người quá. Những anh lém lỉnh nhất giờ cũng thực
hành ngậm miệng chủ nghĩa. Anh đại đội trưởng luôn luôn thúc giục thế mà hàng
ngũ vẫn xộc xệch. Nghĩ mãi mới tìm ra các động viên anh mỉm cười:
– Gần đến phủ lỵ đấy nhé! Đi cho hùng dũng, hát cho to lên
“bàn dân thiên hạ cười cho đấy. Nghe đồn đây lắm “ chất Thủ đô” tản cư về.
Hành quân toàn đi ban đêm cả, ít được ngắm sơn thủy hữu tình
chỉ thấy sương mù bao phủ, rừng núi lu bù.
Hành quân ban ngày tuy có cái hại là lộ bí mật quân sự nhưng
có cái lợi là biểu dương được lực lượng vũ trang và anh em còn ngắm được cảnh lạ.
Tuy chả non nước gì đâu, quân đội cách mạng chứ có phải ngày trước, nhưng không
biết tại sau hễ có tí chất là anh em cứ thấy vui vui rồi sự hoạt động tự đâu nó
phát ra. Gia đình có trẻ lắm lúc cũng bực mình, nhưng nhiều lúc vui cửa vui nhà
ra phết? Ăn thịt cá mãi cũng chán, thỉnh thoảng điểm bữa rau cũng ngon miệng.
Mô phạm nhiều rồi, dù có mở lòng phát huy một chút thanh niên tính cũng chẳng
sao miễn là đừng quá trớn. Gãi đúng chỗ ngứa, các Vệ tươi ngay mặt lên, chuyện
nở như ngô rang hai ba anh láu lỉnh nháy nhau: “thủ đoạn chính trị viên đấy
nhé”. Sau khi chỉnh đốn lại hàng ngũ đoàn quân hùng dũng bước theo nhịp đếm của
anh đại đội trưởng. Bài chiến sĩ ca được thét vang lên. Nghe thấy tiếng gáy,
hơn hai chục em nhi đồng nhi nữ trong phố chạy ùa ra, vô tay reo: “A các anh bộ
đội. Ra mà xem chúng mày ơi. Lắm súng quá!” Đoàn quân từ từ tiến vào hai hàng
phố đổ ra nhìn. Mấy ngọc nữ dăm Súy Vân, Súy Kiều tóc thề đã chấm ngang vai, áo
trắng, quần thâm kiểu đời sống mới, cười trầm trồ khen các anh ấy khỏe nhỉ. Họ
nhà Vệ mở từng khúc một lòng cứ cồn cồn như sóng nước sông Lô, nhưng mặt lạnh
như tiên, mắt nhìn thẳng rầm rộ hát, bụi cát bay mù mịt cho đến khi qua phố độ
nửa cây số, không biết tại sao phong trào hấp dẫn cứ thấp dần rồi đét một cái sụt
hẳn. Đêm càng khuya, sương rơi càng nặng hạt, gió thổi càng lộng. Đoàn quân ma
cứ im lìm từ từ tiến, lúc ẩn, lúc hiện, lúc chập chờn theo ánh sáng của mặt
trăng. Mấy tiếng chim kêu đi kiếm mồi đêm. Vài tiếng chó sủa và xa xa một ánh
đèn le lói, chỉ có thế thôi. Cảnh vật đều im lặng như tờ.
Trời rét ngọt. Họ suýt soa giở chăn ra khoác. Người nọ nối
đuôi người kia, đi ngoằng ngoèo như con rắn dài. Chốc chốc, một tiếng còi mồm
báo hiệu. Họ ngồi sụp xuống vệ đường mắt nhìn trước nhìn sau rồi lại tiếp tục
đi. Vài anh lại bắt đầu thúng thắng ho và ngáp vặt. Họ muốn nói chuyện cho đỡ
buồn ngủ nhưng ác quá hành quân ban đêm mà nói chuyện là điều tối kỵ. Dăm sáu
anh đi chậm lạch bạch chạy gắng đuổi kịp đoàn quân.
– Hố đấy nhé.
– Đi sao đứt quãng thế, nhanh lên.
– Tệ quá hỏa thực để nồi niêu lẻng kẻng cả.
Những câu thúc giục, truyền tin ngắn thỉnh thoảng thốt ra rồi
im hẳn.
– Sao đứng lại thế cậu?
Một tiếng gió phều phào trả nhời: “Qua sông”. Được lệnh nghỉ,
đoàn quân bỏ ba lô ra vuôn vai chia nhau từng tốp vào hàng nghỉ uống bát nước
chè nóng, hoặc rít điếu thuốc lào, mua cái bánh hoặc quả chuối để lau dầu cho bộ
máy. Cơm từ hai giờ làm gì kiến chẳng bò bụng tợn! Có anh ngồi xổm bên đường, đầu
gục trên hai cánh tay hỏa tốc vài phút cho qua cơn ngái ngủ. Hơn hai chục vừa
thuyền gỗ, thuyền nan luôn muốn thay đổi nhau chở đoàn quân qua sông. Sóng vỗ
vào mạn thuyền kêu oằm oặp. Trăng lúc bấy giờ lại tỏ. Những con thuyền cứ qua lại
vùn vụt trông đẹp mắt quá, giá ban ngày hát toang lên vài bài cho khoái con người,
nhưng tối mới chết chứ lị, hát để ai nghe.
Mấy anh chàng tức cảnh sinh tình, nhè nhẹ đập báng súng khe
khẽ hát bài Thủy quân ca. Đoàn thuyền cứ chở. Đoàn người cứ ùn ùn sang bờ bên
kia
– Báo cáo anh sang hết cả rồi. Một tiếng truyền đanh thép:
“Đi”.
Con rắn dài lê thê lại tiếp tục nhẫn nại bò. Những anh lái đò
ngơ ngác nhìn theo tặc lưỡi:
– Chà lắm moóc chê quá. Đông ghê! Dễ có đến mấy nghìn. Chắc
các anh ấy đi đột kích đâu hẳn. Trời rét mướt nghĩ ái ngại cho các anh ấy.
Có tiếng chửi đổng:
– Mẹ kiếp đêm nay Tây chết vô khối!
AN BÁ ĐẢM
Tiết 9
QUỐC CHÍNH
Tiểu Sử.
Sinh trưởng ở Thủ Đô và là một chiến sĩ văn nghệ sống trong đại
đội 212 đóng ở ven đô Yên Duyên, đang sửa soạn được đưa lên Tây Bắc. Ông tả lại
tâm trạng buổi sắp lên đường, như Hà Minh Tuân với Lên mặt trận. Tác phẩm nhỏ
bé ấy bắt nguồn từ con đường miền xuôi lên rừng núi Sơn La. Đoạn văn dưới đây,
tả tâm trạng anh em chiến sĩ sắp rời miền đồng bằng quen thuộc. Sự ngại ngần của
phút lên đường ấy, nhất là mặt trận Tây Bắc là một điều dễ làm nản chí, rừng hiểm
trở vô vàn khó khăn với chiến sĩ miền trung châu. Nhưng nhờ tinh thần cao để thắng
trở ngại. Tản văn này diễn đạt chưa khéo, ở đoạn đầu tả hoang mang của chiến sĩ
chưa xếp vào hệ thống suy cảm tiệm tiến, đoạn cuối điều động được chủ quan định
tâm viết thoát và có một kết thúc lập ý cao.
LÊN SƠN LA
Ngày 30–1–47 , Ông tiểu đoàn trưởng Tuần Sơn vừa đổi tới tiểu
đoàn 212 đông nam thành phố Hà Nội, hạ lệnh cho toàn thể cán bộ Đại và Trung đến
Tiểu đoàn bộ khai hội giới thiệu và ấn định công tác mới. Trưa hôm đó toàn thể
đã có mặt tại nhà trong làng Yên Duyên. Đại đội 15 với ông Xuân râu xồm, mặt
đen, đeo Chiêu Hòa và mặc áo vét tông tô-pi-can. Đại K với ông Quốc Đảm ngổ
ngáo. Đại 16 với ông Trang cao một thước tám mươi, bờ lu dông da và bát Mỹ, các
cán bộ trung đội trẻ măng, sừng ngổ, súng lục lệch người tíu tít đùa, họ quên
chết ư? Không, nhưng họ thích chết trong trận. Người ta không thể bảo rằng đó
là những cán bộ quân đội vừa ở tăng xê sát địch về khai hội; nếu người ta chỉ
nghe họ nói chuyện. Thế thật, họ nói chuyện cù Tây, họ chê nhau tử tế quá với
các chị cứu thương, họ rủ nhau chết ha ha, đây là những con cưng của thời đại lạnh
lùng vẩy súng. Một vài anh già đứng một góc nói chuyện về gia đình nhau; vẫn nhớ
đến gia đình chứ có quên đâu – một anh say sưa tuyên bố: “Nhà tớ bị Tây giết hết
rồi, có tin chắc chắn mẹ và ba chị em bị cháy thui ở Lò Đúc nhưng tớ giết được
bẩy thằng Tây ở Bát Tơ, xét ra vẫn lợi mà độc lập rồi khối người nhận tớ làm
con nuôi”.
Khai hội được nửa chừng, giây nói bộ Chỉ huy trung đoàn gọi
và hạ lệnh 212 cấp tốc sửa soạn cả tiểu đoàn ngày mai đi Suối Rút. Tin đến như
tiếng nổ của quả bom bay; toàn thể hội nghị lặng yên ngơ ngác. Ừ thì giá bảo đổi
đi mặt trận phía Tây hay bắc Hà Nội, hay cùng lắm toàn tiểu đội xung phong vào
tận thành Cửa Đông không làm cho anh em lạ bằng tin đi Suối Rút. Suối Rút hay
suýt ra lắm nhỉ, có lẽ toàn thể chưa ai có đến người họ nào mà ở xa đến thế. Thế
nhưng tất cả chỉ là trong hai phút vì bọn này đều quen phớt lạnh cả rồi. Anh tiểu
đoàn trưởng lên tiếng:
– Chắc là chúng ta đi Sơn La vì tôi nghe nói trên ấy mặt trận
nặng. Các đồng chí không lo đâu tôi ở Sầm Nứa về Sơn La, Sầm Nứa đều tốt cả,
hơi độc một tí thôi.
Anh nói thế để anh em yên tâm một chút nhưng chính anh em
không lo nữa, đời thằng lính thì những chia ly, những thay đổi, những què quặt
cả đến chết chóc nữa có ra mùi gì. Tình thần anh em chắc chỉ là bị giao động mạnh
vì tin đi đến đột ngột giữa lúc anh em đang bàn về kế hoạch đánh ở Thủ đô. Khai
hội chuyển sang bàn về chuẩn bị đi lại sôi nổi như cũ. Sau khi quyết định xong
kế hoạch hội nghị giải tán. Trang và Xuân kéo Quốc Đảm ra một xó, hội qua kinh
nghiệm đánh rừng Đông Triều, các trung đội trưởng bàn tán, toàn thể đều lo mà
cái lo chung là không biết đánh ử rừng có khó không? Sau đấy họ phân tán về nơi
đóng quân, Quốc Đảm còn dặn với:
– Này các cậu nhớ nhé; chớ có bố trí rừng gianh nó đốt thì chết
đấy. Mà có người cưỡi ngựa đi chợ thì phải xắt tỏi đầy mũi ngựa nhé, còn các cậu
phải ăn tỏi vào hổ nó mới sợ (19).
Họ còn dặn nhau về trữ ký ninh vàng và xin màn.
Bọn đại đội 16 kéo thêm con đê Thanh Trì về vị trí sát địch.
Đi trên đê cảnh sông Hồng Hà êm ả, trời về chiều mây vẫn tím, xa xa dãy núi Ba
Vì hiện rõ. Họ lặng thinh đi cạnh nhau, mỗi người nặng một ý nghĩ. Anh đại đội
trưởng nhìn vê phía thành phố Hà Nội. Hà Nội còn bốc khối, ngày mai anh xa Hà Nội,
nơi chôn rau cắt rốn, xa Hà Nội để đi xa lắm; đi về phía Tây Nam Hà Nội tít mù.
Anh chỉ dám nghĩ đến thế vì: anh quay lại thấy các trung đội của anh cũng tư lự
như luyến tiếc những đống gạch vụn giây máu của Thủ Đô anh dũng, anh phải xua họ
lên sự thực một sự thực mà vài giây trước đây anh cũng đã quên. Anh dối lòng một
chút:
– Này đồng chí Thanh Tùng, đồng chí có thấy khoái không? Tôi
thấy đánh mãi ở một mặt trận cũng buồn, cứ cho đi đây đi đó mãi, mỗi nơi một
vài tháng thế mà thú, rồi khối kinh nghiệm, già dặn lên đấy nhé. Mấy lại anh tiểu
đoàn trưởng trên ấy về mà khỏe gớm nhỉ?
Bị gọi khỏi cơn mộng, anh trung đội trưởng Thanh Tùng luống
cuống mỉm cười mà không đáp. Anh trung đội Tư Hải thắc mắc:
– Anh Trang ạ, sao trên ấy lại lấy 212 đi anh nhỉ, từ Hà Nội
lên mặt trận Suối Rút?
Biết ý anh này ngại ngần, anh Trang đánh luôn vào tâm lý ưa
phỉnh của tuổi trẻ:
– Ờ thế đồng chí không nhớ là Quốc Phòng chọn cơ mà, chắc là
trên ấy nặng nề nên phải đến 212 ra tay chứ.
Từ Hải thích quá, phởn, cười to:
– Vâng, oai thật đấy anh nhỉ, Chính đổi về đại đội 16 mình đấy
nhé.
Không muốn để Từ Hải lên điều, anh Trang phá lên cười lấp.
Còn anh trung đội trưởng Tuất từ nãy vẫn điềm tĩnh, vốn tính anh điềm tĩnh cười
theo.
Sáng hôm sau tiểu đoàn 77 từ hậu tuyến lên thay thế vị trí
cho 212. Hai đại đội 11 và 15 đã đi trước về Văn Điển địa điểm tập trung của tiểu
đoàn. Đại 16 vì đóng rải rác nhiều làng nên sự đổi chuyển chậm mà nhất là sáng
nay bên phía địch có nhiều hoạt động đáng nghi. Đại đội bộ đã sửa soạn xong và
đã theo anh chính trị viên về Yên Duyên trước. Máy chữ trên vai, cặp giấy ở
tay, những chàng lính bàn giấy học sinh trẻ măng vừa đi vừa hát. Anh em nhờ sự
giải thích của anh chính trị viên nên lấy việc đi làm thú, việc gì đã do lệnh
trên thì không những anh em phục tùng mà lập tức còn cố tìm cái thú của nó để
mà thú cơ mà, anh em thường nói : “Trong cái khổ nào cũng có cái sướng, mà
trong cái sướng nào cũng có cái khổ”. Anh em đã được nghe nhiều chuyện về rừng
thiêng nước độc, sốt rét, ngã nước… không những thế mà anh em toàn sinh trưởng
Thủ đô làm lính Thủ đô, ăn nước máy, ngủ quạt điện, nằm màn tuyn, đến nay tưởng
tượng cái cảnh ba năm lính thú… anh em không ngại cho đời sống thay đổi một
cách quá nhanh, nhưng trái lại ý nghĩ lớn nhất xâm chiếm đầu óc bọn người trẻ mạnh
ấy lại là : cái vinh dự được chọn lọc. Gần chiều toàn Đại 16 lục tục về Văn Điển
vào đình làng, ở đây hai đại 14 và 15 đã tập hợp. Các ban nhân sự tới tấp làm
việc, tiếng máy chữ rào rào, trong nhà dưới ánh đèn dầu lạc che lờ mờ. Các ban
quân khí kiểm điểm súng đạn, phát thêm vũ khí. Các thư ký chạy lung tung lấy
danh sách. Đại 16 khéo vào sân ,chỉnh đốn hàng ngũ trong một khu đã dành sẵn.
Anh đại đội trưởng kiểm số và báo cáo ông tiểu đoàn trưởng – ông này đăm đăm
nét mặt trẻ măng trước đoàn quân, ông bận quá, ngày hôm nay ông không bận
nghiên cứu kế hoạch đánh – mà lại bận ký giấy, bận giải quyết việc linh tinh
các văn phòng báo cáo và nhất là ông bận giải quyết những báo cáo xin đi. Có những
anh gầy béo, khẩu Anh-đô-xi-noa mang trên vai dài chấm gót lạch bạch đuổi theo
từ mặt trận về để xin đi Sơn La. Sao họ không sợ Sơn La nhỉ ? Vâng, thưa anh họ
không sợ Sơn La thật, vì dù Sơn La hay Văn Bú cũng là đất Việt Nam cơ mà.
– Thưa anh, anh cho cả đại đội đi mà anh nỡ để em lại.
Những người ở lại báo cáo và khóc rơm rớm. Ông tiểu đoàn trưởng
trả lời:
– Không đồng chí ạ, lên trên ấy vất vả, núi non hiểm trở, vì
vậy phải để đồng chí lại, lên lại ốm thì khổ. Đánh ở Hà Nội cũng thế thôi, quay
về đi.
Họ quay về vậy, quay về sau khi lại ôm vài người bạn thân
hơn, ngửi để nhớ lấy hơi, hơi yêu quý, hôi hôi thơm thơm của những người bạn
trai cùng nằm trong một lỗ đất, họ mở ba lô móc moi tìm lấy mấy viên thuốc lọ dầu
tặng kẻ đi xa đường ngược. Họ đổi quần áo bền tốt cho người lên đường, còn họ…
– Thôi mình đổi cả cho cậu bộ quần áo này đây đi rừng đỡ rách
nhé, cậu cởi bộ quần áo ra đưa mình ở dưới xuôi không cần.
– Thì cứ cởi ra, về người ta giặt được mà lỵ. Thế là cởi truồng
trong góc sân tối để đổi quần áo.
QUỐC CHÍNH
Tiết 10
NGUYỄN XUÂN HÒE
Tiểu Sử.
Cũng là một trong trung đoàn 97. Tác giả tản văn Quà Tết của
cô Thảo, đăng trong bích báo Lưỡi Lê xuất bản ở Việt Bắc, nghĩa là sau khi
trung đoàn này đổi tên khi lên mặt trận Tây Bắc. Ông tả lại một tình ý ở hậu
phương tiếp vận quà cho tinh thần anh em quân đội tiền phương ở mặt trận Sơn
La. Ở hậu phương, cô Thảo đề xướng lên cuộc thu góp quà bánh gửi cho anh em bộ
đội Sơn La. Tâm trạng cô Thảo, tác giả diễn đạt rất nhẹ nhàng, đôi khi sôi nổi,
và lòng yêu thương chiến sĩ vô biên. Sau khi đã thu góp được một số quà, bánh,
cô đi mua mảnh lụa “sát si” thêu tặng chiến sĩ.
Trong buổi giao tranh, một chiến sĩ cướp được súng của giặc,
được anh đội trưởng trao tặng thêm chiếc khăn tay của cô Thảo. Người chiến sĩ ấy
mừng mừng, tủi tủi và cố gắng nguyện chiến đấu hết lòng cho xứ sở. Thì một buổi
kia, gã được thưởng chiếc khăn tay cô Thảo bị thương ở tay, vì gã biết chiến đấu
hết lòng cho độc lập nên can đảm xung phong vào phòng tuyến địch. Gã bị thương,
gã dùng chiếc khăn tay băng bó. Gã thầm nhủ, giá người cho gã khăn tay biết nỗi
niềm này !
Một câu truyện rất thường, nhưng Nguyễn Xuân Hòe tả lại qua một
bút pháp nghệ thuật chững chạc, từ trạng thái nho nhỏ đến những thái độ tế nhị,
rung cảm một chiến sĩ nổi bật hẳn lên khiến cho người đọc vui buồn theo tác giả.
Một truyện hay ; linh động của chiến sĩ văn tài năng.
QUÀ TẾT CỦA CÔ THẢO
Năm ngoái, quà Tết của đồng bào Hòa Bình gửi lên Sơn La nhiều
quá! Nhất là cái khoản khăn tay thì như bươm bướm vỡ tổ. Thôi thì đủ các hạng
cái bằng lụa, cái bằng vải, cái trắng, cái phơn phớt mỡ gà đẹp quá ! Cái nào
cũng thêu quanh bốn mép có chữ ở góc. Chữ rằng: “Em thêu tặng chiến sĩ Sơn La”.
Nào cô Thu, cô Nguyệt, cô Xói, cô Mai ; nổi quá ! Khi quà tới nơi, anh em trông
thấy cái nào cũng muốn lấy. Lại còn thư nữa chứ. Thư chúc Tết vui vẻ. Có cái viết:
“em có lời hỏi thăm, em là phụ nữ cứu quốc Hòa Bình… chúc các anh mạnh khỏe để
đánh Tây”. Cảm động quá, cảm động nghĩ rơi nước mắt. Lại có cả nữ thi sĩ tặng
bài thơ không riêng cho ai tuy có vài chỗ lủng củng nhưng mà ai cũng muốn đọc.
Giận cho cô Thảo quá. Cô ấy thế mà cứ lo sốt vó, sợ quà của
mình rơi mất. Quà Tết là ý tình của hậu phương, làm sao đánh rơi ý tình ấy !
Trong cuộc khai hội cuối năm họ tập hợp trong đình Thượng thảo
luận về mục gửi quà Tết cho chiến sĩ. Kịch liệt lắm. Cô Thảo có ý kiến:
– Em xin có ý kiến ạ. Nghĩa là anh em bộ đội hy sinh chiến đấu
cho Tổ Quốc được hoàn toàn độc lập – Thì chúng ta phải tăng gia sản xuất đoàn kết
thân ái. Em xin tặng một chiếc mùi soa và một cân kẹo sừu. Xin có ý kiến thế là
hết ạ.
Họ vỗ tay đen đét. Hoan hô sự ủng hộ đầu tiên của cô Thảo. Cuộc
thảo luận gay go thêm, kẻ ủng hộ cái nọ, người ủng hộ cái kia. Ai cũng muốn cho
quà của mình có thể gọi là khá. Nhưng chẳng biết đâu cô Thảo hứa là làm ngay, để
chậm lúc lỡ tập trung quà lại không kịp. Khi giải tán cô mua luôn miếng lụa mỡ
gà. Bảo rằng lụa “sát si” hàng “Bôm bay” cơ đấy. Cô ướm thử con chỉ đỏ lên
trên. Chao ôi ! sao mà nổi thế ! Nổi như bèo ấy. Cô đem về thêu: “em tặng anh
chiến sĩ Sơn La”. Còn tên cô thì thêu to hơn xong đâu vào đấy cô mát cả lòng cả
ruột. Hôm hai mươi bảy, tháng chạp có một cuộc mít tinh đông lắm, hơn hai vạn
người dự. Quà Tết thu lại được hơn mười bộ kể cả to nhỏ. Trưởng ban tuyên bố kết
quả. Họ hoan hô náo nhiệt tệ. Cái đám thanh niên phiền lắm, vỗ tay đôm đốp như
đập hộp pháo một lượt. Còn phụ nữ chưa bình đẳng được ở vấn đề vỗ tay. Nghe nó
cứ đen đét như pháo tép cả ấy. Trẻ con thì nhộn. Thú vị cứ reo lên a a như đoàn
ông kêu. Kín đáo hơn, ông già bà lão tủm tỉm, ý chừng các cự thấy họ đoàn kết với
nhau nghĩ tới các con cụ đang chiến đấu thì các cụ thú. Có cười ra tiếng thì
cũng hì hì một tí thôi. Quà Tết lên đến Sơn La thì không xảy ra chuyện gì mất
mát cả, nhưng xảy ra một chuyện. Trận đánh cuối cùng năm ấy, gã vớ được một khẩu
súng của địch. Gã được anh đại đội trưởng thưởng thêm cho một chiếc khăn tay của
cô Thảo. Trông thấy nó đẹp và sạch sẽ quá phải chùi tay vào hai bên hông rồi mới
dám cầm nhè nhẹ và cảm ơn anh đội trưởng. Chao ôi ! Mùi lụa thơm quá, khiến gã
nhớ lại hồi còn nhỏ, mẹ gã may cho gã một chiếc áo mới. Gã tưởng tượng rồi cảm
ơn thầm người nào tặng gã chiếc khăn tay. Lòng gã càng thêm phấn khởi. Trong một
trận đánh đêm hôm mùng năm. Gã mặc cho đạn bay đạn nổ, xung phong chịu chết. Vì
gã biết rằng đồng bào gã đang trông ở tay gã và anh em khác. Nhưng gã bị trúng
đạn ở tay. Gã liền buộc bằng cái khăn của cô Thảo. Nếu cô Thảo biết thì sung sướng
lắm nhỉ!
Trích từ báo Lưỡi Lê Trung Đoàn 97
NGUYỄN XUÂN HÒE
Tiết 11
AN
Tiểu Sử.
Tác giả tập truyện Bến Tắm Cháy là một chiến sĩ trong một đại
đội đóng ở Cổ Vịt. Sinh hoạt của dân tản cư dựng ở khắp nẻo và đây là một hình ảnh
của Cổ Vịt. Tác giả rất khéo khi diễn đạt nếp sống dân tản cư, ghi lại được một
hình tượng của thời đầu khói lửa, dân cư bỏ làng mạc ra đi: “Trong phố đã có trẻ
con mới đẻ. Đã có người già mới chết hàng phố tổ chức đưa đám, khênh đòn tang,
viếng hoa. Dân phố đã quen hơi bén tiếng, thân nhau, tạm quên cảnh huống tạm thời”.
Và giặc khủng bố bỏ bom đốt phá. Cảnh tượng của sau giây phút
tàn độc ấy, tác giả viết: “Cổ Vịt cháy. Dân phố toán loạn chạy ẩn vào các khe
sâu, các khu rừng. Chiều đã nhạt mầu, người ta bước trên đóng tro còn đỏ lửa,
than vãn cơ nghiệp bị thiêu hủy, không chạy được một chút gì. Một số người ngược
lên Bắc, một số bồng con bế cái ngậm ngùi trở về vùng tạm chiếm…”
Và sự khủng bố của giặc chỉ là hành động nhất thời của một
thái độ giội nước đổ lên tổ kiến. Vì sự nhẫn nại chiến đấu âm thầm của dân
kháng chiến vẫn xây đắp âm thầm như kiến xây lại tổ: “ Trên đường về chúng đốt
Bến Tắm. Lần này dân phố bình tĩnh hơn của cải không mất gì và mấy ngày sau một
dãy phố khác lại dựng lên các khoảng đất cũ chừng năm trăm thước xích lại dưới
những chòm cây. Đoạn phố mới ngày cứ dài mãi ra, đó thêm những đồng bào không
chịu được cảnh áp bức của vùng tạm chiếm chạy lên…”
Sự bi quan của tác giả diễn đạt theo đúng hình ảnh con người
hành động, cả theo giác quan. Như khi nói tới hình ảnh số đông đồng bào trở lại
vùng tạm chiếm, chứng tỏ rằng tác giả tôn trọng hình ảnh thực tế, không sợ mất
lập trường. Nhưng bao giờ chính nghĩa cũng thắng, lẽ bọn vô chính nghĩa là thực
dân cướp nước không sớm thì muộn, chúng đều phải trả lại chỗ đứng cho nhược tiểu
dân tộc.
BẾN TẮM CHÁY
Khoảng vừa một năm, chợ ở cách đây chừng cây số, trong một
khu đồn điền. Chợ Cổ Vịt. Chợ dựng dưới bóng hai hàng thông cổ thụ. Dãy phố rộng
thênh thang thẳng tắp. Những gian nhà cỏ xinh, rèm cửa xanh vàng của các tiệm
giải khát, hàng hóa, vải lụa bày biện trong những tủ hoặc ngăn kính, dân tản cư
lái buôn ở các chợ khác kéo tới tụ họp mua bán, ồn ào, ngựa xe đạp qua lại rộn
rịp, gió nhẹ thổi bay tà áo mầu. Trong phố đã có trẻ con mới đẻ. Đã có người
già mới chết hàng phố tổ chức đưa đám, khênh đòn tang, viếng hoa. Dân phố đã
quen hơn bén tiếng thân nhau, tạm quên cảnh huống trợ thời. Họ rủ nhau gia nhập
đoàn thể, làm phòng thông tin, mở lớp học bình dân học vụ, bàn nhau vào ủy ban
quản trị. Người ta cố ở chật để nhường nhau một không gian nhà để khi tắt lửa tối
đèn có nhau…
Thế rồi giặc tiến đánh, súng moóc chê trên đỉnh núi rót mãi đạn
xuống dãy phố. Cổ Vịt cháy. Dân phố toán loạn chạy ẩn vào các khe sâu, các khu
rừng. Chiều đã nhạt mầu, người ta kéo ra bước trên đám tro còn đỏ lửa, than vãn
cơ nghiệp bị thiêu hủy, không chạy được một chút gì. Một số ngược lên Bắc, một
số người bồng con bế cái ngậm ngùi trở về vùng tạm chiếm. “Thôi cũng đành liều”.
Việc gì phải xót xa tiếc của. Thoát được người là quý rồi.
Còn người là còn của. Cho nó đốt cho nó phá. Chúng ta làm lại các phố khác lo
gì. Nhất quyết theo chính phủ anh chị em ạ.
Mọi người ùa theo. hai tuần sau dân phố Cổ Vịt kéo đến một
bên giòng suối. Người ta dựng lại một cái phố thật. Lại vẫn những mái cỏ xinh,
rèm cửa xanh vàng. Lại buôn bán náo nhiệt. Rút kinh nghiệm lần trước, đồ đạc
hàng hóa đều xếp gọn gàng để dễ chạy Tây. Mặt trận càng ngày càng lan rộng. Giặc
lại bị tấn công. Đồng bào được báo trước sơ tán hết đồ đạc. Giặc đánh vùng rặng
núi, trên đường về chúng đốt Bến Tắm. Lần này dân phố bình tĩnh hơn; của cải
không mất gì và mấy ngày sau, một dãy phố khác lại dựng lên cách khoảng đất cũ
chừng năm trăm thước xích lại dưới những chòm cây. Đoạn phố mới, ngày cứ dài
mãi ra, đón thêm nhưng đồng bào không chịu được cảnh áp bức vùng tạm chiếm chạy
lên. 19 – 8, Dân phố ăn mừng ngày Quốc Khánh. Cờ đỏ rực phố. Một người đương
say sưa ôn kỷ niệm cũ. Hai chiếc phi cơ hung hãn chao tới liệng cánh hai ba
vòng, trút xuống những băng đạn lửa dài. Bến Tắm cháy. Sáu người chết thiêu,
tám người chết đạn, hơn hai chục người bị thương vào quân y viện, bình tĩnh họp
mít tinh. Từng toán người vào rừng chặt gỗ xén trụi nhiều khoảng đồi gianh. Đàn
ông, đàn bà, cụ già, em bé, vác gỗ về. Dân phố lại làm nhà, lại dựng chợ, đào hầm
trú ẩn.
Ngoài đường ran lên những tiếng hát của đàn trẻ.
Người chủ tiệm giải khát treo tấm rèm vào khung cửa sổ tròn,
vách đất vừa trát chưa ráo, ngắm nghía mãi màu lụa thiên thanh sóng bên mầu đất
đỏ.
– Đời lại tươi!
AN
Tiết 12
LƯU HƯƠNG
Tiểu Sử.
Chiến sĩ văn Lưu Hương, tác giả truyện có hơi liêu trai Một
cuộc rút lui thần kỳ, tả một trân giao chiến với Pháp ở Pháp Cổ, Thủy Nguyên,
thuộc Liên khu Ba. Lưu Hương tả lại tỷ mỷ cảnh sống của ba nhân vật sống sót chống
lại đoàn quân xâm lược trong núi đá vôi miền Thủy Nguyên. Qua mấy đêm trường chống
đói, khát, lại lẩn lút. Một trong ba, An bị địch quân bắt được, còn Trung và
Phương thoát nạn. Đêm cuối cùng, họ vượt qua sông trở về Thủy Nguyên, bà cụ
già, mẹ bộ đội nấu cơm cho họ ăn. Ông diễn tả từng một cử chỉ rất nhỏ của sự xê
dịch khó khăn trong cơn hoạn nạn độc nhất vô nhị. Tả sự rét mướt trong hang
núi, Lưu Hương ghi lại thật tân kỳ của cảm giác những kẻ là chiến sĩ đã nếm mùi
chua chát: “Chợt một cơn gió lạnh ào tới. Tưởng như có thể đánh gập đôi người lại
được. Chúng tôi vừa thò lên đỉnh ngọn núi đã biết ngay mình bị lạc lối vì hướng
Nam gì mà gió bấc lại đánh thẳng vào mặt. Và từ đấy gió bắt đầu hú từng hồi
dài. Có lẽ đã lên cao lắm...”. Lưu Hương nghe tiếng đạn ca nông nhiều quá, đến
nỗi ông cho rằng nó đã đánh võng vào tai và phản ứng của tiếng súng chỉ là dỗ một
giấc ngủ: “Anh tính đánh nhau suốt ngày đêm, người bị hơi đạn đánh võng làm cho
quá mệt. Ai đâm dạn với tiếng ca nông như dạn với tiếng em khóc đêm ở nhà. Ca
nông tha hồ mà giã đò bên tai. Quá lắm thì cũng chỉ giật mình chồm dậy một cái,
rồi lại nằm vật ngay xuống đánh thông một giấc”. Kinh nghiệm chiến đấu của An,
Phương, Trung đã không còn là con lừa khi được vỗ về là báo hiệu thồ nặng, cho
nên Lưu Hương đã góp vào kinh nghiệm chiến tranh thêm một định luật mới. Đây là
đoạn tác giả tả Pháp và Ngụy binh dụ dỗ.. nếu nhẹ dạ là đưa đến cái chết vô
cùng thảm hại: “Chúng tôi nghe rõ tiếng ngụy binh dụ dỗ: lên ngay đi: quan lớn
băng bó cho. Đứa nào biết chữ Tây quan lớn cho làm bàn giấy…”. An vốn nóng tính
lại vừa bị thương nên máu càng hăng. An chửi vung tí mẹt. Chúng nó chuyển dụ dỗ
sang bằng một lô lựu đạn…” (.....) : “Bên ngoài ngụy binh lại càng đãnh mõ giục
nhặng củ tỏi “lên đi! Lên ngay đi thì quan lớn tha chết cho. Các quan lớn biết
hết rồi. Có ngay lên hay không ? Không quan lớn bắn chết.”
Nhưng kết quả ấy chỉ là một đòn vọt, cho nên ông đã lột mặt nạ
của đòn não tủy ấy, mua kinh nghiệm cho anh em bộ đội chiến đấu: "cứ đứng
ngoài chõ mõm vào cửa hang sủa nhặng thế thôi. Y như nó đã đánh hơi thấy mình”.
Khát nước đến nỗi phải đái cho nhau uống. Lưu Hương đưa chúng
ta đến đoạn đời đấu tranh đau khổ tột độ, nhưng lý tưởng chiến đấu vẫn bừng lên
khi hành động. Và nhu cầu vật chất đòi hỏi chỉ còn là phương tiện:
“Vậy trước khi leo lên, hẵng lam một cốc bia cho bốc máu.
Trung đứng ì ạch như xi em, khốn nỗi chỉ lách tách được vài giọt. Vì khát đã mấy
ngày giời rồi còn đâu nữa mà xi. Tôi san cho Trung tạm gọi là được nửa cốc”.
Và hành động cuối cùng đầy nước mắt mừng của tình quân dân nhất
trí chống xâm lăng… và hình ảnh nào đẹp hơn là một bà cụ già nước mắt ràn rụa
tưởng hai người bộ đội du kích đã chết; mà đêm nay còn được nghe tiếng họ gọi cửa.
Rồi một phút, cầm ngay chiếc rá vo gạo nấu cơm cho họ ăn. Một cuộc rút lui thần
kỳ của Lưu Hương viết như hơi văn Liêu trai; nhưng là một tập truyện vô cùng cảm
động, đề cao lòng chiến đấu. Và còn là một kinh nghiệm chiến đấu với địch, một
tỷ dụ của mức độ chịu đựng gian lao khi mắc nạn, cố gắng tạo hoàn cảnh nguy nan
thành chiến thắng.
MỘT CUỘC RÚT LUI THẦN KỲ
(…) Chúng tôi vừa ra đến cửa hang. Một cơn gió lạnh thun thút
luồn sau lưng. Tôi run lẩy bẩy đứng không vững. Mắt hoa lên vì ánh lửa chập chờn
dưới chân núi. Nhưng rồi… chúng tôi cũng phải rón rén đi như làm việc. Bàn chân
dò từng mô đá. Lần lần sang vách khác, bám cho chắc rồi mới dám đặt bước chân.
Đứt liên lạc phen này thì thật chết. sau tôi chỉ còn có Trung chạy đèn đỏ.
Chúng tôi là những người ở lại cuối cùng để bắn cầm canh ra ngoài hang. Phe yểm
hộ cho anh em rút trước. Tôi rảo bước để cố đuổi kịp anh em. Lắm lúc chân bước
hẫng một cái, tôi tưởng chừng người đến lao ngay xuống chân núi. Chợt tôi ôm chầm
ngay lấy cái bóng đen. Thì trán tôi va đánh bốp một cái. Úi giời! Bẩy đom đóm mắt.
Tôi ôm ghì lấy đá không thì đến lăn xuống núi mất.
Chỉ tại cậu Trung đi chậm quá. Một hòn đá lăn bong bong xuống
núi. Thế là chúng nó bắn lên như mưa. Chúng tôi phải dán người vào vách đá. Đạn
đi vun vút bên ngoài. Nhưng cái nghiệp chó nhà Thằng Lõ bao giờ cũng thế. Chỉ
được cái dọa anh em thì mả lắm. Tôi đương đợi cho yên yên, Trung đã chộp được
áo tôi. Anh chàng mừng quýnh. Chúng tôi cùng mò mẫm đi. Đá bắt đầu nổ lanh tanh
dưới chân. Nghe đương vui tai thì có tiếng gọi trên đầu, không biết là anh
chàng Trung đi thế nào lại ngồi được chòm chõm trên vách đầu vách đá tôi. Trung
loay hoay không xuống được tôi phải đứng tựa vào vách đá, làm thang cho Trung
xuống. Anh chàng vừa tụt xuống thì lại thấy một bàn chân đạp xuống đầu tôi. Lại
cả An nữa kìa. An không quên đưa cả báng súng vào đầu tôi. Hự một cái. Nhưng gặp
được An thôi thế là hết cả đau, thêm An đường đi sẽ gần lại. Chúng tôi leo. Người
nóng đến bốc khói. Chợt một cơn gió lạnh ào tới. Tưởng như có thể đánh gập đôi
người lại được. Chúng tôi vừa thò lên đỉnh ngọn núi đã biết ngay mình lạc lối:
vì hướng Nam gì mà gió Bấc lại đánh thẳng vào mặt. Và từ đây gió bắt đầu hú từng
hồi dài. Có lẽ đã lên cao lắm.
Sương xuống mênh mang. Một vài tiếng gà gáy dưới làng. Đạn
phuy-dê bắt đầu vùn vụt lên đỏ lóe mắt. Rồi trọng pháo cũng gầm gừ từ phía đồn
Mao Khê, Đông Triều và tận nơi nào xa lắm. Luồng đạn nó đi khoan gió vo vo. Tiếng
nổ ầm ầm trong núi. Ca nông đến ngày thứ ba trong nắng sớm là đã không thành
chuyện đối với chúng tôi. Anh tính, đánh nhau suốt ngày đêm, người bị hơi đạn
đánh võng làm cho quá mệt. Tai đâm dạn với tiếng ca nông như dạn với em khóc
đêm ở nhà. Ca nông tha hồ mà giã giò bên tai. Quá lắm thì cũng chỉ giật mình chồm
dậy một cái rồi lại nằm vật ngay xuống, đánh thông một giấc. Bao giờ đến tua
mình phải ra bố trí mới chịu dậy. Nhưng An và Trung thì mặc cho pháo lay trong
núi. Xương muối tha hồ xuống đẫm người. Tiếng nổ vừa dứt đã thấy hai cậu ấy
ngáy vo vo. Ngày đã hửng hửng lên. Sương càng mù mịt. Tôi đang thiu thỉu chợt
giật mình. Tai áp ngay xuống sườn đá. Mỗi lúc một rõ tiếng giầy đinh. “Nó lên đến
nơi rồi”. Tôi dựng ngay cổ An và Trung dậy. Đồng thời vơ luôn mấy khẩu súng rồi
tuột ngay xuống vách đá. Còn xót lại ruột bao đạn, tôi vừa thò tay ra chưa kịp
thì một thằng đen chùi chũi đã đứng ngay trước miệng súng của tôi. Nó đưa môi mắt
trắng nhã nhìn quanh quẩn, chợt trông thấy bao đạn liền hô hoán ầm lên. Tôi lên
đạn nó quay lại. Một phát hất nó lộn ra ngoài và tôi nhớ là lúc đó, người tuột
xuống, tôi không còn biết gì nữa. Tôi nằm ép người đợi khói lựu đạn tan dần mới
nhận ra An rên. Tôi ấn vội An vào một ngách đá. Trung kéo tôi lần vào sâu.
Chúng tôi nghe rõ tiếng ngụy binh dụ dỗ: "Lên ngay, lên ngay đi! Quan lớn
băng bó cho. Đứa nào biết chữ tây quan lớn cho làm bàn giấy”. An vốn tính nóng,
lại vừa bị thương, nên máu càng hăng. An chửi vung tí mẹt? Chúng nó chuyển ngay
sang dụ dỗ bằng một lô lựu đạn. Nếu đứng dưới mà chiến đấu thì thế nào cũng ăn
lựu đạn của chúng nó. Tôi và Trung đành lên sâu vào ngách ngang, nằm gục đầu cổ
thở qua lần vải áo. Trong vách chính đã bụi mù. Súng máy nổ ầm ầm. Hai thằng lõ
và một thằng đen đã tụt xuống từ lúc nào. Giầy đinh kéo lạo xạo. Đá hất loảng
soảng. Súng lục nổ dương đông kích tây luôn tay. Mồm chúng nó thét oang oang.
Những khẩu súng” bát” cầm trong tay lại thi nhau không bắn mà cứ lẩy bẩy. Chúng
tôi nằm trong ngách ngang không phải lo chết lại còn được một mẻ nhịn cười đến
đứt hơi. Thật là đúng điệu bộ khí phách của những ông tướng Đại Pháp nhưng mà
đi đôi với Đại Rát.
Cách chúng nó chừng hơn một sải tay, miệng súng của tôi đã đặt
vào bụng một thằng. Tôi cho một viên "mút" nhẩy khe khẽ lên nòng.
Trung gạt súng tôi ra cản lại. Tôi do dự vừa lúc một băng “tôm son” choảng vào
loảng soảng. Trung đã vội vuốt mặt, vuốt tay xem có thấy máu. Chúng tôi nhìn
nhau, lắc đầu cười. Đành phải lùi sang ngang nữa, tít tận vào trong vậy. Bên
ngoài ngụy lại đánh mõ dục nhặng củ tỏi: "Lên đi, lên ngay đi thì quan lớn
tha chết cho. Các quan lớn biết hết rồi. Có lên, có lên ngay không? Không quan
lớn bắn chết”. Thêm vào đấy tiếng chửi của An toáng lên. An bị bắt rồi. Tiếng
chúng nó đánh An huỳnh huỵch. Vẫn chỉ “có một mình bố mầy đó thôi thằng nào có
giỏi cứ việc xuống”. Lúc đó tôi và Trung hai đứa sôi người lên được. Làm thế
nào để cứu An ngay. Đã rơi vào tay của chúng nó thì thế nào cũng phải chết. Bàn
chỉ còn cách bắt chợt lẻn ra ngoài bắn lung tung cho chúng nó toán loạn. Lợi dụng
lúc đó để cứu An… Nhưng mà ai cõng An chạy trên núi này được?
Chúng tôi nằm bàn mãi cho đến khi trong hang đã tối hẳn. Đến
lúc phải quyết định mở ra. Khỏi vừa hang, tôi trượt chân ngã, đèn bin bật tứ
tung. Chúng nó đuổi mãi cho đến khi đèn chiếu lệch về hướng khác. Đạn cũng ngừng
rít trên đầu. Trung mới níu tôi lại, ngồi phệt xuống, kêu khát và đòi nghỉ. Tôi
phải cương quyết xách Trung dậy. Mới đi vài bước ngoảnh lại đã mất hút, không
thấy Trung đâu. Đương bực mình vì phải lộn lại, giận không để đâu cho hết, tôi
nghe thấy tiếng Trung đánh tiếng khe khẽ "Lại đây mà giải khát Phương
ơi!". Tôi lò mò lại tìm. Trung đứng loay hoay nhét khăn mặt vào các khẽ đá
để hút lấy nước. Rồi Trung vắt khăn ngửa mãi mồm ra hứng. Tôi không nỡ trách
Trung nữa. Nhưng tôi giục càng gắt, phải sớm ra khỏi khe núi sớm được giờ này
hay giờ ấy. Trung rủ tôi tha thiết quá. Tôi theo Trung đi ngắt những búp bong
bóng đọng nước. Lang bạt hết khóm này lần sang khóm khác. Trong đêm tối chỉ còn
nghe tiếng mút chùn chụt mà theo nhau. Gà chợt gáy dưới làng… Thôi chết. Sáng mất
rồi. Chân tôi muốn chạy nhưng bước đi không vững. Đói lả người. Đúng như chúng
tôi đã rút kinh nghiệm, mới sáng bảnh mắt ngụy binh đã nheo nhéo dưới chân:
"Ra đi các quan lớn biết hết rồi. A! nó kia kìa! Có ra ngay không? Không,
quan lớn bắn chết”. Cứ đứng ngoài chõ mõm vào cửa hang sủa nhắng thế thôi. Y
như nó đã đánh hơi thấy mình mồn một. Chỉ còn có đợi mình. Anh nào non gan chui
ra là hết đời. Nhưng được cái anh em “Lê Lợi” chúng tôi, chúng tôi đã đi guốc
vào trong bụng chúng nó. Tôi ngồi nghĩ bụng: “Chúng mày còn đứng chõ mõm vào
hang mà sủa, chứ chúng ông đã vắt chân lên cổ chúng mày”.
Thật là bảnh chọe trên một gốc si rậm, tận đỉnh vách thành
cao hơn đầu Tây hai mươi thước. Cởi thắt lưng, cởi giải rút, xé quần, thôi thì
tìm đủ các thứ giây để co cành si lại mà phủ kín lấy người. Thế là cứ yên chí
ngồi bình chân như vại. Chỉ có cái “xuỵt” cấm nói. Nói là chó đen, chó vàng nó
sủa ầm lên thì hết đường. Tôi và Trung ngồi: còn thêm một việc. Hết đưa súng
lên ngắm từ cái đầu, những bộ ngực phanh trần đến cái lưng nhánh mồ hôi: rồi lại
hạ súng xuống nhìn nhau đồng ý: “Đếch vào”. Để dành ra ngoài hãy hay. Ông với
chúng mày còn gặp nhau nhiều. Phởn lên bây giờ thì hết đời đấy. Bên dưới chúng
nó sủa chán ngồi nghiến răng nghiến lưỡi, bắn liên miên vào hang. Bắn cho tiếng
súng quan nghe, rồi nháy nhau chuồn thẳng. Chúng nó đi khỏi. Chúng tôi hết trò
để mà quên. Ngồi rảnh y như rằng lại khát. Sao mà khát khổ khát sở đến thế này.
“Mẹ kiếp”. Giá lúc nãy có lấy nước ao, nước cống!
Ngưng chúng tôi đã chịu ngay thế nào? Để cho cu Trung cứ lèo
nhèo mãi, anh em cũng lấy làm khổ tâm lắm. Phải cho chú mình cùng đi giải khát
một cái mấy được.
– Này Trung ơi! Cứ theo bà cụ mình ra bến ô tô thì được một
đôi giầy da láng oai ra phết. Mà chưa biết chừng có cả cốc kem hai xu. Thế mà
mình nhất định không thèm đi: chỉ đòi nằng nặc một đôi guốc mộc. Cậu có biết để
làm gì không? Để vào Đảng, mà điều kiện tối thiểu ngoài can trường không sợ đội
xếp ra, còn phải có một đôi guốc mộc. Thế thì hai giờ vào lớp chiều. Mười hai
giờ đã tụ tập ở bãi sân để phát động giờ: liệng guốc lên rào rào đấy. Cứ biết
thằng nào thằng nấy tọng đầy cặp và hai túi. Để hôm nào vô phúc giữa giờ giảng
bài. Anh em đương rì rào chia nhau thì ông giáo tóm ngay được dưới gậm bàn: một
dĩa muối ớt toàn những là me xấu.
Thế rồi từng lúc chúng tôi xuỵt xoạt nhau im để được cười một
mẻ như xì hơi bánh xe đạp. Trung cũng hứng lên kể huyên thuyên những chuyện giải
khát đâu đâu. Trung đang vui nhộn. Nhưng Trung đã ỉu ngay: “Anh Phương ơi lấy
đâu được ngụm nước bây giờ?” Thế là cái ỉu của Trung lép xẹp câu truyện. Thì lại
khát. Từ đấy chẳng còn buồn nhìn nhau. Khôn một ai muốn nói nữa. Cái tình trạng
bi đát kéo dài cho đến khi Trung quay lại xin tôi một mảnh giấy. Trung quấn
thành một cái phễu. Tưởng để làm gì? Tôi không ngờ là để hứng nước… nước tiểu.
Rồi Trung đưa lên một hớp. Hết. Vẻ mặt ngon lành như vừa nốc xong một cốc bia.
Tôi nhìn Trung mà sợ. Không nhanh lên khéo Trung ăn cỏ mất. Rồi đêm lại đến…
thêm một đêm nữa để đi. Mà đêm nào chúng tôi cũng nhủ thầm đêm nay phải vượt bằng
được cái hình lờ mờ của chóp núi trước mặt kia! Nhưng đã mấy đêm và mấy ngày
không được ngủ rồi. Chóp núi như lảng mãi ra để không bao giờ chúng tôi tới được.
Vẫn phải leo thôi. Cỡ nào cũng leo. Giời rét căm mà mồ hôi lúc nào cũng đẫm áo.
Ba lần chăn bọc bàn chân đã bương hết. Sương đêm thấm vào các kẽ lỗ, buốt đến nổi
chưa đặt bước xuống đã muốn co rụt ngay cẳng lại. Đêm thứ ba chúng tôi đi được
rất ít đã phải mò lên gốc si. Rét; đói khát, mà leo mãi, tôi và Trung đã kiệt sức.
Hết nằm co quắp lấy nhau lại nhổm dậy, chúng tôi ngồi bên nhau. Gió cứ vạch cổ
áo ra để bỏ tọt từng mảng nước đá xuống lưng. Rét chẳng ngủ được. Suốt đêm chỉ
lục cục bàn tính. Cuối cùng, tôi và Trung đồng ý: xé ống quần ra lau súng cẩn
thận. Để mai đợi chúng nó đến thật đông, bắn cho thật hả một trận cuối cùng.
“Nhất định mai cứ thế chứ?” – “Thì còn làm hơn thế nào hơn được nữa?”.
Tôi còn nhỏm dậy hỏi Trung một lần cuối cùng trước khi nằm úp
thìa vào lưng Trung. Rét quá. Không sao ngủ được. Tôi xoay người Trung cũng phải
xoay. Mãi sau tối cố nằm im để Trung ngủ, Trung mới rón rén nhổm dậy để phủ chiếc
áo trấn thủ lên đầu tôi, thật nhè nhẹ.
Tôi thú thực là đã bao nhiêu năm nay, những ngày sống ngang dọc
trên bến Bình Đông. Lúc này tôi mới tin là mình còn nước mắt. Trung nhắc đến
bao nhiêu tên bạn: “không biết lúc này các cậu ấy đâu rồi nhỉ?” Những kỷ niệm
thú vị trong những buổi đi tìm Tây để đánh, Trung nhắc nhở liên miên: đến bà mẹ
già hiền hậu, các em những thằng cháu nhỏ ở nhà. Những ngày cả huyện Thủy
Nguyên kéo đo đào hàng mấy chục cây số đường giao thông hào. Ca nông vẫn nổ ầm
bên kia sông. Hải Phòng… và những ngày mùa trên cánh đồng Thủy Nguyên, thi nhau
đập lúa với các chị ấy. Nhất là những đôi mắt một mí, cái mũi dọc dừa của đất
Thủy Nguyên thật là tuyệt vời!
Trung gợi lên cả một cuộc đời hoạt động nho nhỏ ngày ấy. Mới
đầu thì tôi còn thấy buồn buồn, sau đâm ra sốt ruột, sốt ruột đến điên người
lên đi được. Tôi kéo phăng Trung đứng lên. Nhưng đêm đã về sáng. Tôi và Trung
đành phải sửa soạn. Súng gác lên cành si. Bao đạn để ngỏ. Và rung đùi ngồi đợi.
Rung đùi đây không phải là ung dung. Rung đùi vì rét quá. Trung còn phải nhét rẻ
đầy mồm, nhưng anh chàng vẫn ho lục cục trong cổ như con gà sống thiến. Nhưng,
thật là phúc bẩy đời cho những thằng định lên đây hôm nay. Hai viên đạn mới nhất.
À quên bốn viên cơ đấy. Vì đạn của anh em lâu ngày dầm mưa cũng nghi lắm. Bốn
viên mới nhất mà tôi và Trung đã dặn nhau để cuối cùng: một hai… ba là cùng
đoàng vào nhau. Tôi và Trung đành phải ôm hận bỏ chúng nó vào bao vậy. Thì ra
đêm hôm trước chúng tôi đã mò gần đến chân vách của thành ngọn núi cuối cùng
trước rồi mà không biết. Đến nay là đêm thứ tư. Còn một mẩu đường thì đến chân
vách thành đã nhìn thấy rõ. Nhưng chúng tôi nằm ì ra không thiết gì nữa. May mà
còn có hai đứa đi với nhau, hễ thấy nhau nằm ì ra lâu quá, y như rằng thế nào
thằng nọ cũng nhỏm lên lôi cổ thằng kia dậy. Trung nhìn lên vách thành dựng đứng
cao vút. Trung nắn bắp chân tay. Chúng tôi nhìn nhau cùng lắc đầu. Nhưng lại
nghĩ đến bên kia là Trại Sơn, Pháp Cổ, là Bảng Trình và Thủy Nguyên. Là sống rồi,
thế thì nhất định phải leo. Chúng tôi cảm thấy người bừng mạnh hẳn lên. Hoặc là
sẽ lăn xuống chân núi cho nó chết hẳn đi. Nếu vượt được thì phải sống mãi. Để
phen này về, nhất định diệt chúng nó ngay trong làng. Không bao giờ còn dại dột
kéo nhau sang cái dãy núi đá khát chết người này nữa. Vậy trước khi leo, hẵng
làm một cốc bia cho bốc máu. Trung đứng ì ạch như xi em, khốn nỗi chỉ lách tách
được vài giọt. Vì khát đã mấy ngày rồi còn đâu nữa mà xi. Tôi san cho Trung tạm
gọi là nửa cốc. Rồi người đã ấm áp tôi bắt đầu bám rễ xi lên trước, còn không
quên ngoái cổ lại dặn Trung phải chịn mặt nhìn thẳng vào vách đá mà leo. Nhì xuống
hoặc nhìn lên thì thế nào cũng toi mạng đấy. Thế rồi hai chân bấu vào vách đá,
tôi với tay lên rễ si. Đây là lời Trung sau khi chúng tôi thoát cái trận gian
lao này.
Tôi nghe thấy tiếng rễ cây bật trên đầu và tiếng kêu của
Phương. Tôi biết mình chết đến nơi. Rồi sao mà lâu quá. Mãi chưa thất tới đất.
Tôi mở mắt lơ mơ tỉnh. Xương sườn như gãy hết, tôi không dám sờ vào. Cũng không
dám nhúc nhích không tin là mình còn sống thật. Một lúc lâu định thần rồi tôi mới
biết mình đang nằm giữa một cây bòng bong. Và không biết đã từ lâu chưa, tiếng
Phương gọi vẳng xuống. Tôi trả lời là còn sống nhưng đã gãy hết xương rồi.
Không lên không xuống không đi đâu được nữa bụng thì nghĩ thế, nhưng đến khi
Phương thúc: “Cố lên đến nơi” tôi lại thấy mình còn muốn sống quá. Tôi nhỏm
ngay dậy, bám rễ si leo lên. Đến lúc hoa cả mắt tay sắp buông ra, lại thấy tiếng
Phương thúc: “Cố lên, đưa tay đây” và “mấy lần cố lên, cố lên đưa tay đây” cho
đến khi đưa nắm được Phương thật rồi. Tôi chẳng thấy Tây nào cả. Chúng tôi ôm lấy
nhau. không còn biết nói thế nào. Mà sung sướng bao nhiêu, không còn thấy rét
hay khát nữa. Dưới kia là Trại Sơn, là Pháp Cổ, là Bảng Trình và con đường chạy
về Thủy Nguyên. Lách qua vị trí chúng nó thì thường lắm rồi, chúng tôi tự thấy
mình không còn đủ sức để bơi. Vậy chỉ còn một việc là tìm cách sang sông. Thật
là cái số chúng tôi chưa đến ngày tận, nên chiều hôm đó, nước lũ đánh rạt ở đâu
về một chiếc nan.
Cả buổi chiều thấp thỏm ngồi đợi. Lắm lúc giật mình thon
thót. Vì chúng nó thỉnh thoảng lại thập thò kéo nhau ra khỏi đồn điền Phúc Lai.
Chỉ sợ chó chúng nó đánh hơi thấy có chiếc nan mang rạt về. Nhưng cũng là may
suốt ngày chỉ có xe tăng lên xuống ầm ầm dốc đồn Pháp Cổ. Đêm hôm đó, dùng cành
cây héo nan chúng tôi qua được sông Kinh Thầy tương đối cũng dễ dàng. Rồi vượt
nổi khỏi vòng vây cuối cùng, chúng tôi vịn vào nhau lội bì bõm dưới ruộng. Hai
đứa cùng có một cảm giác lạ lùng thật là đúng hai anh Mán lảo đảo về xuôi.
Chúng tôi bị lạc trong hang Trại Sơn mãi đến quá nửa đêm mới đến nhà. Bà lão thấy
tiếng gọi quen. Gióng ngái ngủ đưa ra: “Anh Trung ấy à. Để lão mở”. Nhưng đã
xách đèn ra soi tận nơi vào mặt, bà lão ngơ ngác:
– Bà lão hỏi thế này không phải. Hai anh có phải là anh Trung
anh Phương người Thủy Nguyên không?
– Vâng đúng là chúng con đây ạ. Con là Trung mà cụ vẫn lùi
khoai cho con ăn đấy mà.
Hai hàm răng móm mém. Im lặng bà mẹ già của du kích Thủy
Nguyên chúng tôi cặp rá lập cập lần xuống bếp.
LƯU HƯƠNG
Tiết 13
MINH TIỆP
Tiểu Sử.
Chiến sĩ Minh Tiệp nổi danh một thời khi thi bản Bức tranh
sinh hoạt của ông ra mắt anh em bộ đội. Tả lại sinh hoạt đội, hòa nhịp với đời
sống dân chúng, khi sống và tranh đấu trong kháng chiến tả lại qua thi bản
trên, bùng bừng một sinh khí mới trong lứa trai vào thời khói lửa. Cách diễn tả
dung dị, nhạc điệu rồi rào, tư tưởng thoát, lập ý cao. Lại còn phản ảnh nhân bản
tính với người đồng chủng, ngoài ra vũ trụ tính “vạn vật nhất thể” rất thơ. Ông
là một chiến sĩ thi có tài vượt bực.
BỨC TRANH SINH HOẠT
Trung đội anh đóng bên bờ suối trong
Gió núi mênh mông rạo rực lòng
Xóm xa
Rừng rậm!
Đình trơ vơ đứng trên đồi nắng
Vùm che hai chục mái đầu xanh
Cây lũy,
Tre thành!
Giường kê cánh cửa
Bàn ăn lát nứa
Câu đối dán đè khẩu hiệu xinh xinh
Thương dân nhà chật chội
Bạn anh đóng ở đình,
Chẳng tu cũng cơm muối
Cô gái Mán thương tình
– Biếu anh dẫy sắn để dành trên nương
Đây cái giếng mới đào
Cầu ván ghép thanh tao
Nước trong xanh leo lẻo
Sỏi rải lối đi vào
Vường hoang anh phá làm ba luống
Vọng gác làm cao vút mấy lèo
Đây chẳng tiện nuôi heo
Công đâu mà cám bèo!
Anh nuôi đàn mái ghẹ
Lúa mùa rụng tung tóe
Thả một lúc đầy diều
Lớn mau như người thổi
– Bao giờ xong hội “đua ganh
Gà quay một bữa thết anh tiệc mừng”
Mấy hôm liền đi rừng
Lấy cây mai cây trúc
Mũ nan đan vài chục
Anh em tạm đủ dùng
Áo anh đan sợi chỉ tay
Tùm xanh tùm tía như cây trên rừng.
Thằng Tây có mắt như bưng
Đố mày biết được cây rừng hay tao!
Mái đình nâu mục thủng
Tường xiêu cột lao đao
Dô ta anh em ơi mau dựng
Phên nứa chăng lên chắn gió vào
Chim ơi mày ở nơi nào?
Ví không có tổ thì vào ở chung
Đình hoang mấy độ thôi hương khói
Giờ hửng đôi chiều ngọn lửa rung
Hành lang mờ vết chân in lối
Nay ngự nghênh ngang súng mấy từng!
Anh từ đâu qua đâu mở hội?
Chờ giặc lên sương máu mở ăn mừng!
Tôi vun đàn gà ri
Tôi vun vườn rau cải
Bao giờ đông đến thu đi
Rau kia tôi hái gà ri làm lòng
Bữa cơm đoàn kết tôi mong
Bà con đến dự cho đông đình này.
Mong đêm mong tháng mong ngày
Mong mùa đông tới cho Tây nhảy dù
Cho tôi thực hiện thi đua
Băm vằm xác giặc, tắm mưa máu thù.
Này giặc đói, giặc thiếu
Này giặc ốm, giặc xâm lăng
Cha cha, vạn, ức, triệu!
Bao vây mình hung hăng!
Anh ơi! Tôi vẫn ngang tàng
Tôi bắn, tôi cuốc, tôi đan, tôi trồng.
Tôi ăn quả chín, tôi uống nước trong
Phên đan che lạnh gió đông thổi về
Rừng rung cây lá hoa muôn thuở
Chim hát vang vang nhạc vạn đời
Hàm răng cầm cập cơn sốt rét
Chăn gối, đèo cao, vắt, muỗi ruồi.
Nứa xanh tôi chặt làm nồi
Cành giang tôi vót làm đôi đũa ngà
Anh ơi! Tôi đóng ở đây
Phá hoang tập luyện chờ ngày giặc lên
Thi đua tôi quyết nêu tên
Cho vui trung đội, cho yên dạ này
Đêm đêm súng chẳng rời tay
Ngày ngày dao cuốc không giây phút rời
Giữ căn cứ địa làm nơi
Ngàn năm ghi mãi mẩu đời đấu tranh.
10 – 1948
MINH TIỆP
Tiết 14
Em PHÙNG
Tiểu Sử.
Gộp công vào kháng chiến, không phân biệt trẻ già, trai gái,
em Phùng là Thiếu sinh quân chiến đấu bên cạnh các anh thanh niên, các chị phụ
nữ.
Một Em Ngọc của Nguyễn Trinh Cơ là một mẫu người anh hùng hôm
nay và ngày mai. Ở đây, một Phùng còn là thi sĩ ghi lại sinh hoạt trong
"Bước đường công tác". Diễn đạt cuộc sống chiến đấu; đưa vào thơ, lối
thơ ghi linh hoạt, sôi động (poème cinématographique); Minh Tiệp, Phùng đã
thành công. Đọc bài thơ dưới đây để hiểu, cảm thông những bước chân bé nhỏ dắn
dỏi lội khắp đồi, núi đất nước trong thời kỳ kháng chiến, mà đáng lẽ trong thời
bình, họ là học sinh cắp sách đến trường. Khả năng thơ ở bước đầu đã vững; hẳn
rằng thiên tài không chờ tuổi ở Phùng.
BƯỚC ĐƯỜNG CÔNG TÁC
Lời ai còn nhớ mãi
Lời ai còn bên tai
Lời ai còn vang dậy khúc đường dài
Lời ai khiến ta thêm dai nhịp bước
Tầu qua Yên Bái
Tầu đến Lào Cai
Rồi đỗ lại
Ồ kìa biên giới
Cờ hồng bay phấp phới
Ai đi Phố Lu
Ai rẽ Bắc Hà
Làm ơn nhắn hộ ta
Hỏi thăm đoàn Thiếu Sinh Quân
Qua Bắc Hà công tác
Đường Bắc Hà lác đác
Có bóng đoàn ta
Ngựa thồ đi xa
Rồi đến đoàn ta đều bước
Ai lên Mường Khương trước
Ai đã tới Cổng Giời
Nhắn hộ tôi
Rằng: Đoàn Thiếu Sinh Quân ngồi đợi
Hãy chờ tôi với
Hãy cho tôi theo cùng
Đoàn quân bé nhỏ oai hùng
Bước đi mạnh dạn chập chùng đồi nương
Trích báo Vệ Quốc Em Khu X
Em PHÙNG
Tiết 15
HÀ KHANG
Tiểu Sử.
Hà Khang là chiến sĩ văn Liên khu Bốn, phụ trách đặc biệt ở mạn
Bình Trị Thiên. Tác giả nhiều thi bản mầu sắc địa phương, khiến chúng tôi nhớ đến
Bùi Hiển ở ngày kháng chiến vừa nhận định ở trên, văn thơ là đoạn phim đời. Ở
đây Hà Khang đã góp: "Có một mùa chiêm". Tả cảnh chiến đấu của người
có bổn phận gìn giữ từng thước đất, từng ngọn lúa vàng khỏi rơi vào tay địch;
được Hà Khang đưa vào thơ vô cùng linh diệu. Thơ Hà Khang mạnh, ý mới, kĩ thuật
bình dị, nhưng không vì thế mà sơ sài.
CÓ MỘT MÙA CHIÊM
Rằng nghe Bình Trị Thiên
Mùa chiêm toàn lính gặt
Bữa cơm vội bên đèn
Ngờ ăn lầm máu giặc
Nắng đỏ chiều sông Gianh
Xương lam xa, màu lành núi Ngự
Lúa chiêm thơm làng tê xóm nớ
Lúa chiêm thơm mát nẻo sao rừng
Những đồng chí Đàng trong
Gặt xong bị đột kích
Đến sớm mai về, hai vai áo rách
Tôi làm lính Thanh
Điểm giờ đổi canh
Trao lại bạn đủ từng thước đất
– Đây có mùa chiêm lúa chín bồng bềnh
Ngoài khơi súng giặc bâng quơ tiếng
Người lính Thanh
Áo phanh trên bãi biển
Quỳ hai chân bên sóng mái đại đao
Biển Sơn bọt trắng cù lao
Hòn nọ vườn dao sóng biếc
Lắm kẻ đến nay ưa chém giết
Như Bình Trị Thiên
Có một mùa chiêm
Tiêu diệt địch ngay trên ruộng lúa
Con cháu ngày sau
Thấy đề trong sử sách
Có một mùa chiêm máu đọng đen ngòm
Chê hôi tanh bò để cỏ xanh um
Đôi bóng lính thay canh trên ruộng lúa
Chân vấp phải đầu lâu bên dứa dại
Mùa chiêm 1948
HÀ KHANG
Tiết 16
SIÊU HẢI
Tiểu Sử.
Tên thật Nguyễn Siêu Hải, sinh 1926, nguyên quán Hà Nội. Đã
xuất bản Voi Đi (1949)...
Tác giả Voi Đi, ghi lại câu chuyện sự khó nhọc chuyển vận khí
giới. Một câu chuyện không có gì mới, nhưng sự diễn tả và sống động trong cảnh
chuyển vận được ghi lại thật linh động tuyệt độ cao của một trong những truyện
kháng chiến hay "Voi Đi"; Bàn Tay Đình Quang, hoặc Một truyện rút lui
thần kỳ của Lưu Hương
Qua các làng anh em chuyển vận khí giới khi mệt thì nghỉ
chân. Nhưng phải bọc kín khí giới để tránh sự nhòm ngó, e lộ bí mật quân sự. Rồi
anh em bèn nghĩ ra cách mượn trâu để kéo. Một bà chủ nhận lời ngay vì có con
trâu bất kham. Khí giới đưa đến địa điểm, người dắt trâu ăn được mới một bữa
cơm (một bữa cơm đàng hoàng nhất của bộ đội), ấy thế mà người lao động vẫn kêu.
Tác giả dùng thể so sánh chưa thịnh soạn, báo hiệu cho người đọc nhìn thấy khía
cạnh khổ ở độ cực kỳ khổ của bộ đội. Thêm vào đây, tác giả còn cho độc giả biết
thêm vì quá khổ, ăn đói; nên anh em lao công kia phải đi ăn thêm trả chó, trước
khi về.
Thái độ nho nhỏ như thế được Siêu Hải đưa vào trang văn, tỏ
ra là chiến sĩ văn biết quan sát và quan sát sâu sắc. Thái độ chữa bệnh sầy da
của trâu kéo khí giới, chữa bằng phân trâu non của chính nó, mua kinh nghiệm
cho những ai chưa biết và với những người đã sống thực hành môn thuốc đó cảm thấy
phục tác giả. Nhận xét về thái độ, rung cảm, phản ứng của sự ngỡ ngàng khi thấy
anh em khiêng súng; tác giả cho người đọc nhìn thấy nếp sống của mỗi người nông
thôn nhìn khác nhau. Chẳng hạn với anh thợ mộc sống khôn ngoan hơn cho rằng là
bộ đội đi làm cầu đường. Người nông dân khác cho là một bộ phận máy bay, cầu
mong nước nhà chóng có máy bay để trả thù Pháp độc quyền thả bom trong chiến
tranh. Lập ý cao viết truyện này và thật hào hoa trong sáng.
VOI ĐI
Thấy để nguyên cả súng kéo đi không được nữa, anh đơn vị trưởng
cho lệnh tháo rời ra từng bộ phận để khiêng vậy. Một cảm giác hãi hùng và thất
vọng lướt thông qua mọi người. Anh em lặng lẽ tháo. Vài anh đội viên láu cá bám
theo ngay cái lá chắn hoặc cái máng, bộ phận nhẹ, để được gánh đi trước. Còn
cái nòng nặng nhất trở lại sau với hai mươi anh em, anh San và tôi. Tôi cho buộc
đòn dọc, rồi đòn ngang “nào hai, ba, lên vai… ích…”. Cái nòng được nhắc lên khỏi
mặt đất, nhưng đi một cách rất chậm. Anh em rất lúng túng, vì quả thật không có
chỗ, chân dẫm vào nhau, vai cánh sít nhau. đi được vài thước đã ồn ồn:
– Ái đau quá, ối này, ôi thôi.
– Sao chả đi cho người ta đi!
– Hố thì đi thế nào được?
Thế là lại đặt phịch xuống. Mặt mũi vẫn còn nhăn nhó.
– Cái dây buộc ngắn thế này, làm gì chẳng chết vai người kia,
buộc lại đi.
Anh Tân tiểu đội trưởng đứng đó nói thêm:
– Anh em buộc cho đều dây, chứ lệch là có người nhẹ không, có
người sụm lưng đấy.
– Gớm tôi biết rồi ông nói trang mẹ.
– Chứ không ư. Thôi đi, cái máng có lẽ đến nơi rồi.
Nói xong lại lên vai đi. Được vài chục thước, lại đặt xuống để
thở vì ngực bị nén xuống nhiều quá, khó thở. Đứng ra xa nhìn thấy bao cái mồm
méo xệch, há hốc kêu oai oái, bao nét mặt nhăn nhó khi dẫm phải gai, bao cái
lưng trông lom khom thật thảm hại. Nhất là lúc đó lại ở giữa hai bên núi cao
chót vót, lau lá mọc chỉa ra tua tủa, sương đêm giỏ giọt mưa lún phún từ đêm
chưa ngớt, không khí ướt át hơi thở ra phì phì càng thêm nặng.
Sức lao động tốn nhiều mà liệu đường đi dài được một phần
nghìn từ đây đến chỗ đánh chưa? Theo chương trình, tất cả phải đến một địa điểm
cách đây tám cây số, thì ăn cơm sớm và nghỉ tại đó, tránh cái nắng ban ngày, tối
lại đi. Nhưng thực ra mới đi được hai cây số. Tôi và anh San phụ trách ở đây
không dám giục nhiều, chỉ ôn tồn bảo anh em đi thôi. Tuy biết là chậm đấy nhưng
chả sao đi nhanh được, hố tác chiến đào ngang, đào dọc, đang khiêng hụt chân, tụt
xuống luôn. Anh Đát hay bẳn nhất, luôn mồm với anh Thịnh đi liền trên:
– Đi không có mắt à? Đi trước sáng sủa hơn, đi liếc mãi, người
đi sau vướng, nó tối mắt chả biết chỗ nào để nhắc chân mà trên cứ đi biền biệt.
Đồng chí Thịnh nhe răng cười hềnh hệch:
– Ối giời ơi! Việc gì phải bẳn, mình làm con trưởng chống gậy
đấy thôi, thời mình phải chịu khó nhọc hơn các em thứ bé; ít tuổi hơn, nó đi
trước mặc nó.
Thế là tất cả lại rộ lên cười.
Trên con đường đã có người qua lại. Xe đạp, gánh hàng từ xa
thấy vậy đã phải nhảy xuống hoặc đứng dạt sang bên. Thoáng có bóng vài chiếc yếm
trắng và giải thắt lưng xanh cùng đứng đợi ở đó. Tất cả phá lên cười. Anh Thịnh
đang khiêng huých câu nói:
– Này thôi đi chứ. Kìa rồi sắp tươi rồi.
Khi gần đến các chị công nhân nói trên, tiếng khóc đùa bật
lên:
– Ối cha ới, ới mẹ người ta ơi!
– Ối cha ới mẹ người ta ơi, nặng thế này!
Người khóc; người cười rộ, người nhắp nháy mắt. Anh Thập lúc
đi ngang quay sang nói:
– Các chị ơi gánh giúp chúng tôi với.
– Ủng hộ bộ đội mà.
–Úi cha thế thì thú quá! Các chị nọ cũng cười theo, tỏ ý
không giận dỗi. Đấy chỉ cần một vài phút khuây khỏa đó mà cũng có thể đi được một
quãng khá dài. Phía trên cũng có tiếng ồn ào. Tôi rảo bước lên thời các bộ phận
kia cũng đang còn ở lại đó.
Anh em đang nghỉ. Cái nào đã nghĩ lâu thì lên vai đã
– Tôi tưởng các anh đã đi xa rồi.
– Thưa Anh nặng lắm, đói quá!
Luôn muôn bên tai nghe tiếng hai, ba vọng lại. Tôi vượt lên một
quãng lại gặp cái bánh xe. Thứ bánh xe này khiêng bốn người thời nhẹ, mà thật
ra không đủ người mà khiêng hai người thì nặng quá. Anh Toàn và anh Chúc co rúm
người lại mới đi được. Chân run run, cái bánh xe vì vậy mà lắc lư theo cái đà ấy
mà nặng. Kết cục rơi phịch xuống. Hai anh kịp lui vội nếu không ắt phải điếng
chân. Anh Toàn ngồi xuống lân la ra chỗ bệ nói với anh Mạch:
– Mạch giúp hộ tớ một buổi, tớ nát cả vai rồi.
– Ánh có gánh được không?
– Được
Mạch đổi sang chỗ Toàn, lại chỗ bánh xe, chặt ngắn cái đòn
đi, xuyên qua lỗ bánh xe mà lúc lắp là cái lỗ của cái trục. Anh bảo Chúc đi lom
khom giữa cái đòn, còn anh, anh lấy tay lăn bánh xe cho nó bon đi trên đường.
– À được đấy, đỡ gánh khổ, các anh đi sau nhé.
Tôi nhìn theo trong bụng vui mừng, lúc khó là lúc nhiều mẹo
nhất. Đi nữa qua cái cầu chợ Ràng, gặp nhiều bộ phận. Tám người khiêng đang đặt
chổng kềnh bên đường. Anh em ngồi nghỉ. Tôi lại định đi tìm lời khuyến khích
thì có bộ phận anh em lại lẳng lặng lên vai. Anh em đi, anh em nghỉ rồi lại đi
mặc lòng! Mỗi cái tôi giao cho một anh cán bộ phụ trách, khoán trắng cho họ chịu
phần trách nhiệm đôn đốc, vì biết thế nào họ cũng đến được địa điểm đã định
theo chương trình. Anh Lệnh phụ trách coi cái bệ, anh ta vui tính hay quậy với
anh em nên vui, đi nhanh hơn cả. Đám đó đi thỉnh thoảng Lệnh ta đi sau lại xướng
câu: “Khởi chinh cổ… ổ ổ…” tất cả anh em lại đồng thanh .. ối a ới a.. anh Lệnh
ơi… hoặc “cử ai – ối a ới a anh Lệnh ơi”… các người làm ruộng bên đường đều
ngưng việc; nhìn anh em cười theo như nắc nẻ.
– Các anh gánh cái gì mà nặng thế?
– Cái máy nước dẫn về Bắc để làm ruộng đó!
– Tôi vượt cái bệ, tìm cái máng xem sao. Được non một cây số,
lại gặp Mạch và Chúc loay hoay với cái bánh xe. Lần này ngoài cái đòn ngắn gác
ngang trục bánh xe Mạch ta còn lấy hai cây nứa kẹp hai bên phía ngoài như cáng
xe bò.
– Anh Chúc này đi trước cầm như kéo xe bò nhé, tôi đi sau đun
nào.
Nhưng lại chả được, vì có một bánh nên nó hay đổ sang hai
bên, lại bẹp gãy nữa.
Người đi trước cũng nhọc, người đi sau cũng khổ. Tôi vội hỏi:
“Sao kế trước lại thôi?”
Lối đó tốt lắm nhưng anh Chúc mệt không giữ được, mà tôi giữ
thì cao quá, cúi mãi đau lưng quá!
Nhìn lại tôi thấy người anh Chúc bé nhỏ trắng trẻo đang thở hổn
hển mồ hôi lấm tấm như giây mọc quanh miệng, mặt tái nhợt. Anh nói: “Mệt quá
hay nghĩ đã, bao giờ đến thì đến”.
– Cố tí vậy, cho kịp cái bánh trước, làm cả hai cái tốt lắm,
bớt người được mà nhàn.
– Mệt lắm!
– Thế anh cầm ba lô nhé.
Nói xong Mạch đưa cái ba lô bằng giây thép đan cho Chúc, một
mình vần cái bánh đi. Mạch cho bánh đứng vững bắt đầu đun đi. Nó nghiêng sang
phải lại hất sang trái, nó sang trái tay phải điều khiển luôn. Nó chạy chậm lại
phải đủ nhẹ cho nó đi nhanh để dễ khiển. Lúc lên dốc vừa đu lại vừa lái, thúm cả
lưng. Lúc đổ dốc lại có nhiều hố mới nguy. Nên không kìm nó lại thúm xuống thời
cũng chết, tay cứ phải giữ từ cái nan hoa này lại bỏ ra víu vào cái kia, co lại
để nó khỏi lăn mạnh. Gặp cái dốc nào, không phá hoại cho nó lăn mạnh, nó chạy ầm
ầm, lộc cộc như xe goòng ai cũng phải tránh cho xa. Có một lúc Mạch chạy bở hơi
tai để kịp nó, vì nó vừa va phải hòn đá suýt đổ nghiêng. Vừa lúc đó tôi tới gặp
cái máng. Anh Dư phụ trách coi hốt hoảng báo anh em tránh ngay kẻo què. Bánh xe
ầm ầm qua. Song Dư lại phải ba hoa với tôi:
– Gớm anh ạ, máng bịt kín thế này ai cũng chả hiểu là cái gì,
họ cứ hỏi vớ hỏi vẩn, duy có một người đàn bà Mán đi qua, chỉ vào nói là cái
máng súng. Chúng tôi lặng cả người đi anh ạ – có lẽ con voi nào đi qua đặt ở
nhà người ta đấy.
– Thôi che nữa vào, còn cái bánh nữa đâu?
Các anh ấy đi xa lắm rồi, có lẽ họ ăn cơm xong rồi. Anh em
đói lắm anh ạ..
Thấy các bộ phận này có thể tới N.Đ. ăn cơm sáng được. Còn
cái nòng thì chả thế nào đến được. Anh em ăn từ hôm qua, suốt đêm rồi còn gì!
Tôi vội viết mảnh giấy con nhắn anh Giáp làm hỏa thực mang cơm xuống, và dặn
các bộ phận khác, nhất là cái bánh xe qua N.Đ. là nơi đông đúc phải che đậy,
còn tôi quay lại với cái vòng lúc đó mới lê tới gần chợ Bang đang hò reo ầm ầm.
Anh San thấy tôi tới, tiến lại: “Anh cho hỏa thực mang cơm lại chứ” tôi ngắt lời:
“Bảo rồi, bảo rồi, liệu cầu này thế nào? tre bương mong manh lắm?”
– May ra đi được, tuy vậy chắc chắn.
– Nòng tới đầu cầu.
– Cầu đấy, cầu đấy.
– Cẩn thận sẽ chứ, kẻo lại hụt, nguy hiểm. Tôi nhìn cảnh chen
nhau mới có một chỗ đứng trên mặt cầu, chả còn nom thấy cái nòng đâu. Chân cũng
phải lê thì mới đi được. Hồi hộp nhìn theo. Nó ra được giữa cầu rồi. Bỗng các
tre bương chống đỡ cầu kêu răng rắc.
Anh San hét:
– Bỏ xuống chạy.
Như cái thông phong vỡ, vụt một cái anh em chạy xô lên bờ. Tiếng
cười ầm ĩ. Anh Tuyên vừa nhảy cỡn vừa tuyên bố : “Suýt nữa bị xô xuống suối, gớm
thật!”
– Thôi im đi, này đồng chí Thịnh. (San khẽ lôi cái giây vào để
kéo.)
Anh Thịnh và San vừa bò ra ngập ngừng. Cầu lại rắc rắc rồi. Lại
lùi vào. Sau một mình Thịnh ra, nắm được đầu giây. Anh cúi xúm lại kéo. Nòng từ
từ chuyển rồi tới đất. Tiếng thở ra khoan khoái. Mặt trời đã lên cao gay gắt.
Anh em như mất sắc cả. Chúng tôi đều vào nghỉ tại vài quán ở đó. Tính ra mới đi
được ba cây số. Anh San và tôi trong lòng như không yên, đều thủng thỉnh đi
lên, vừa đi vừa ngó cơm mang đến chưa, anh em đói lả cả rồi. Vừa đi tôi sực
nghĩ đến cái xe quẹt của đồng bào thiểu số vẫn dùng để lấy củi .
– May ra cái lối ấy dùng được cho anh San nhỉ?
– Tôi cũng đang nghĩ đến cái lối xe đó, nhất định được. Nếu
không, có lẽ chả đến mặt trận đâu.
– Ta quay lại bàn với anh em đi
Chúng tôi đều quay lại nói với anh em ý định như vậy. Đồng
chí Tân cướp nhời:
– Anh chưa bảo anh em, nhưng anh em đang nghĩ đến rồi; định
nói với anh, thế anh cho thực hành chứ? Tôi đang ngồi nói chuyện với anh San và
Tân quanh cái điếu bát thời bên ngoài tiếng cây súng nổ đánh rầm một cái, lá
vương vào mái nhà sàn. Anh San cười:
– Thật là Vệ nhà ta đi đâu đổ ầm đến đó.
Một lúc sau xe quẹt đóng xong, thời cơm vừa mang đến. Nguội
ngắt anh em xúm lại ăn. Anh Lưu vừa đến đưa giấy. Mới ghế (19) một nồi mang đi
ngay, sợ ở đây đói.
Bên ngoài nắng gắt. Trong khi anh em nghỉ tôi cho anh Tân và
một đồng chí nữa đi vào xóm làng trong mượn hoặc thuê trâu.
Một lúc sau, San gọi anh em thử để xem sao, kết quả xe đi một
cách ngon lành. Núi rừng buổi trưa êm ả lại, chuỗi cười khoái trá ròn tan của
anh em. Tư tưởng an nhàn xô đến. Có tiếng bàn tán:
– Chiều nay tươi nhé. Thôi đi đi!
– Ái chà, anh Tân mang trâu về nhà rồi, đi thôi.
Anh Tân về báo cáo chỉ mượn một con thôi, và đã cho đồng chí
Đào đi trước mượn một con nữa. Trâu được đóng vào. Đánh một roi nó vội dần quỵ
cả chân trước xuống xe mới chuyển lệch kệch loạc quạc trên đường đá. Anh em hớn
hở theo sau ruỗi tay ruỗi chân, xương mỏi kêu răng rắc. Nhưng được vài trăm thước,
trâu chùn lại thở hổn hển. Rồi lại phải buộc giây hai bên kèm đỡ cho trâu. Đồng
chí Tân dắt trâu đi giữa cho nó khỏi tụt xuống hố. Riêng tôi thú thật là cái xe
này có thể đi qua các hố tác chiến như thường rất tiện và nhanh, không phải bắc
ván. Cỏ bên đường chết đi, đá non vụn lả tả, thân xe lẹt xẹt mòn dần. Nắng quá
lắm lúc phải có đòn bẩy mới đi nổi, vất vả tương đối bớt đi chứ không sao tránh
khỏi. Tay anh em kéo giây rát phồng cả lên. Và tận hai giờ chiều hôm đó tôi mới
tới N.Đ. mà chương trình đã định đến từ sớm nay. N.Đ. đông đúc, buôn bán vui vẻ.
Dân chúng xô ra xem. Họ bàn tán xôn xao. Cảnh tượng tám hoặc mười người khiêng
một bộ phận che lá kín mít. Người nào cũng quần áo, chân tay lấm láp, xốc xếch,
tay chống cái gậy, chân từ từ bước một, khiến một cụ già phải rộ cười.
– Gớm ông cụ nào mà nặng thế kia, những tám người chống gậy
cơ đấy, hà hà.
Một anh nông dân chống cán thuổng bảo vợ:
– Các anh ấy khiêng một bộ phận máy bay bu mày ạ.
Người vợ nhấp nháy mắt:
– Ta cũng có máy bay à?
– Sắp sắp.
Anh hàng phở có vẻ thạo hơn:
– Toán công binh này họ đi làm cầu ở đâu đấy?
Bà đi buôn thân mật hơn hỏi:
– Các anh mang cái gì mà nặng thế?
– Mang ống về dẫn nước làm ruộng đấy.
Một anh com-măng-đô cưỡi ngựa đeo sao vàng đứng sang bên,
nhìn anh em chúng tôi từ đầu đến chân. Đọc trong đôi mắt màu hạt dẻ, tôi thấy
như anh đã tìm thấy cái bí quyết tại sao quân đội Việt Nam đã thắng nổi Pháp. Ở
đây các bộ phận khác đi cả rồi. Chỉ còn cánh hỏa thực còn ở lại xếp trả bát
đũa, nồi niêu. Anh em mới đến sau quyết rượt đuổi theo. Vượt qua đèo Mon lúc
còn sáng, để đến V.C. đích thứ hai, chứ không chịu kém. Được một quãng khỏi phố
N.Đ. tôi đi trước gặp hai anh Cù và Điều đang ngồi bên đường. Cái bánh xe lăn một
bên. Đồng chí Điều vừa xong cơn sốt rét. Kê vài cái độn lên cỏ nằm. Tôi đến, Điều
đang lau mồ hôi và kêu nhức đầu. Tôi hỏi: “Bánh xe dẫn đầu nhất, sao lại tụt
đây?” Anh Cù trả lời “số là đã bỏ xa toán đi sau hàng bảy tám cây số, nhưng vì
gặp Lưu liên lạc bảo phải lấy lá che kín, không được bon qua phố đông N.Đ. nên
lại phải khiêng. Lúc đó ở giữa đồng chả có nhà nào không có đòn dài phải khiêng
bằng đòn hai đốt tre làm ngõng lăn lúc trước. Vì vậy nặng quá anh Điều nhăn nhó
khóc. Qua phố, anh Điều kêu nặng phải đặt chân nghỉ. Một ông cụ già thấy đòn ngắn
quá, bảo đợi để ông cụ lấy cho hai cái đòn khác dài khiêng cho nhẹ nhưng lại bé
quá. Hai anh phải nhập lại để khiêng, một quá yếu đã gãy trước. Còn một cái
nhưng vẫn phải khiêng. Đi được một quãng, hai cái nó kẹp lại, nghiến vai anh Điều
đau quá. Đồng chí Điều lại mếu máo lần nữa. Ra khỏi phố vừa vừa tầm cơn sốt
rét, nằm lỳ tại đây đến tận bây giờ khát quá chả có nhà nào xin nước và lo ốm
đi sau lạc chết, lại khóc”.
Tôi đành để cho hai anh tháo ra bon theo lối trước. Đi được một
quãng tới hàng quán, bánh xe lại dừng lại. Họ vào gặp anh Đào đi mượn được một
con trâu mộng nữa đang ăn cỏ. Con trâu này to lắm. Chủ nó là một bà trong làng.
Trái với lần hỏi mượn hoặc thuê, lần này mượn dễ quá. Bà vui lòng ngay lại cho
cả một người nhà đi theo để đem trâu về. Sau vỡ lẽ ra con trâu mộng nay khỏe lắm.
Không ai trị nổi nó, thế là nó phá lên rừng, trâu mất nết, bà chủ chỉ than vậy
thôi. Nay gặp bộ đội cần mượn trâu, bà ta trong bụng có ý là nhờ luôn bộ đội trị
hộ con trâu này cho nó vào khuôn phép. Bà ta còn dặn nhỏ anh người nhà: “Nếu cần
cứ để cho các ông ấy mang đi mấy ngày cũng được. Ăn uống đi với anh em lo
gì?"nghe anh Đào kể vậy. Chúng tôi cười ầm lên. “Được cứ cho nó ra đây
trâu nào cũng phải vào khuôn phép ngay”. Quả vậy lúc mới đóng trâu mộng này, nó
đi băng băng khiến con theo sau cũng phải theo mệt.
– A ha khoái cha chá.
– Cứ thế thì lại tươi hơn cả cái kia.
Trời đổ nắng; gió hây hây lay đồng ngọn lúa xanh. Cánh đồng
bát ngát. Lúc này ai cũng có thời giờ ngắm cảnh vật quanh mình, hưởng gió mát.
Thoáng một cái đã đến chân đèo M. trâu vẫn còn hăng, xe bắt đầu lên rồi, nhưng
lại bắt đầu chậm dần. Trâu dừng lại thở hồng hộc. Tất cả anh em lại phải vào
giây kéo để đỡ cho trâu mà cũng chỉ lê được vài chục bước lại phải nghỉ lấy
hơi. Lúc đó độ năm giờ chiều mặt trời còn đấy nhưng đường cây lá nhiều quá nên
tối, người qua lại ít chim xào xạc về tổ, ngoài tiếng hò hét nào chả còn tiếng
cười đùa nữa. Anh em đi lắc la lắc lư vừa kéo giây chăng hai bên dọc đường. Anh
Tân chuyên môn giắt trâu đi giữa. Có vài chị phụ nữ đi trên xuống thủng thỉnh.
Tối chỗ anh em chăng giây, các chị cứ vô tình len vào giây, hai hàng giây đó.
Tiếng cười bị nhịn từ lâu bật ra. Hai chị nhanh chân lui lại đi vòng ra phía
ngoài, còn một chị cuống quít vẫn đứng trong giữa, trước mặt anh Tân:
– Ô kìa chị, đi đấy ô kìa!
Anh em phá lên cười. Hai hàng giây lúc này khép lại. Chị ta
càng lúng túng. May giữa hai anh Thành và Dần có chỗ hở. Chị liền chui qua chạy
lùi lại, nhưng chưa hết chuyện. Một chị thiểu số đi rừng về, cứ cười hềnh hệch:
– Ô kìa con trâu tắng, tâu tắng.
Nói xong lại cười.
Anh em nhại lại:
– Tâu tắng, tâu tắng, tình nhỉ?
– Pi noọng ơi ơi (20)
– Gớm thương sao được!
Lần này chị ta đi khỏi, chả ai cười nữa. Thực ra con trâu mới
lên được đèo nhưng cũng mất nhiều thì giờ về nó. Đây là một khuỷu sườn đèo một
bên thành đứng cao chót vót, phía dưới là rãnh nước, một bên khe sâu trâu mộng
phá ngang, kéo xe lọt xuống cái rãnh đá, còn mình nép vào thành núi ì ra đấy.
Đánh thế nào nó cũng không đi. Cho xà beng đẩy đít nó ra cũng chỉ nhích xệu xạo
vài bước chân rồi lại ép vào tường. Lôi đến rách mũi cũng không đi. Trâu muốn
thi gan với người. Lại đến lượt anh Tân hăng tiết gạt roi và xà beng ra lại nắm
chặt lấy giây luồn qua mũi trâu, mặt anh ta gân hẳn lên. Răng nghiến chặt: “Hừ
hừ có đi không?” vừa nói anh ta vừa đấm mạnh vào mặt trâu huỳnh huỵch? Mặt nó đỏ
tưng bừng. Anh em hôi hộp. Anh Biên cầm chặt khẩu súng sẵn. Một thôi anh Tân
ngưng tay nói: “Thôi bây giờ ai vào dắt đi được rồi. Nào xem nào”. Trâu thong
thả đi. Anh em cười xòa. Anh Tân có vẻ lắm. “Trâu mộng có vẻ sợ tớ rồi đấy”.
Còn con trâu kia thời nép vào bờ đi cùng người anh em. Lúc này phải cho nó đi
trước kẻo con trâu mộng hay phá lắm. Đi qua một cầu gỗ ngắn, chúng tôi cứ cho
đi bừa. Ngờ đâu gỗ lâu ngày quá, gãy rắc, con trâu tụt cả bốn chân xuống co
chân lên co xuống mà chả hơn gì. Phải có người xúm lại lôi lên mới qua. Con
trâu mộng đi sau nữa. “Nếu nó cứ bước dài thì không tụt”. Hồi hộp nhìn theo.
Trâu cũng lưỡng lự. Chợt nó bước ào đi nhưng loạng choạng vài bước nó qua được.
Anh Tân ba hoa. “À con này khôn nó dẫm vào cái sà dọc nên không tụt như con
kia”. Đến một chỗ nguy hiểm nữa, phải tháo trâu ra vậy. Đường chỉ còn vỏn vẹn một
sống lại gồ ghề ở giữa chỉ đủ người và xe đi thôi. Muốn xe khỏi lăn xuống hố,
phải có người đứng dưới kê đòn, một đầu vào đường một đầu lên vai mình, nếu có
xe thêm một tí có đòn đỡ rồi. Tôi chưa kịp chỉ ai. Anh Hạnh đã vội tụt xuống với
cái xà beng:
– Để cho tôi đỡ cho.
Xe đi qua, sống trạch ở giữa đường, gặp chỗ hơi cao, nên đến
một chỗ nó trơn lăn vèo xuống đè vào xà beng. Đồng chí Thành đỡ vẹo cả lưng
không đỡ nổi phải buông tay. Xà beng vụt xuống đất rồi lại vút lên lăn kềnh. Đồng
chí Hạnh cũng đủ thời gian nhảy sang bên cho bị khỏi chết dí, nhưng cũng không
sao tránh được xà beng vụt qua sườn.
– Úi giời ơi, úi giời ơi...
– Y tá đâu?
Anh em xúm lại lôi anh Hạnh lên đang nhăn nhó.
– Thật không nhanh có chết không?
May chỗ phá hoại ấy không sâu lắm, nhưng xe lăn kềnh xuống rồi
muốn lên phải đánh dốc. Anh em đều mệt nhoài, trời lại tối hẳn.
– Cho trâu ăn cỏ đi không nó chết.
Anh San có ý kiến “Thôi đi nghỉ đã, sằn rừng nứa các cậu vào
lấy thật nhiều nứa ra, làm đuốc đi nhanh lên”. Anh em làm theo. Tiếng chặt nứa
kêu san sát. Số còn lại tản mát dần. Người lính hút thuốc lào, người ngồi châm
thuốc lá hút. Thấy đồng chí Thành đang cầm thanh nứa quyệt đống phân trâu mới
bôi vào chỗ xát chảy máu lúc tụt cầu ở bên chân cho trâu nọ. Tôi hỏi để làm gì?
– “Thưa anh, ở quê tôi cứ lấy phân mới của nó bôi vào vết
xát, trâu chóng khỏi lắm. Không có chủ nhà họ chửi cho chết”.
Đồng chí Thành còn chỉ cho tôi xem cái vết lằn ngang dọc rớm
máu ở đít trâu.
– Các anh ấy cứ sẵn nứa tươi đánh như pháo, cạnh nứa sắc chẩy
cả máu trâu, tôi bảo phải lấy đòn gỗ mãi, các anh ấy không nghe.
Tôi ra chỗ con trâu mộng đang ăn cỏ dàn dạt. Tôi nhẩy lên
lưng nó vỗ vài cái. Nó thủng thỉnh đi. Gặp vài chị phụ nữ đi lại. Các chị ấy
nói bâng quơ:
– Gớm nhàn hạ nhỉ. Chính phủ nuôi ngày ăn hai bữa cưỡi trâu
chơi.
Tôi không muốn trả lời. Đồng chí Thành thấy vậy tiến lại hỏi:
– Anh không nói gì à?
Nửa giờ sau tôi lui về. Bao nhiêu bó đuốc được đốt sáng lên rực
cả đường đi. Chúng tôi xúm đông lại, người xà beng, người đầu gối, người cánh
tay vần mới lật xấp xe lại được. Bên trên mấy anh hì hục phá đường làm lối lên.
Người tháo giây thép lôi riêng cái nòng lên.
– Tiếng hai ba ầm hét lên.
Nào lại lún xuống đất, xà beng nẩy cành cạch mới lên được.
Cái xe gỗ không, gần mòn hẳn rồi cho lên dễ dàng lắm. Trong khi anh em lau mồ
hôi, anh Tấn ra chỉ xe bảo:
– Tôi đã bảo mà, phải chọn cây gỗ trần mới tốt, xe này gần
tiêu rồi, mai nhớ nhớ…
Anh em cười với nhau:
– Đông người chả sợ gì cả làm xong tuốt.
– Gớm ông cụ này ghê thật, mỗi lần ông ta chuyển mình là bỏ
cha con cháu.
Tính ra mất hơn một giờ mới lên đóng trâu vào để đi. Nhưng tối
trời đóng trâu vào khó quá. Nó chỉ lẩn quanh. Người nọ lừa không được lại người
khác.
– Họ, họ họ…
Anh Tân vào. Vào cái lùa được trâu lại. Càng dễ lên râu.
– Tối trâu hay phá ngang, muốn về chuồng mà phải khéo mới được.
Tôi thét: “Cho đi” đoàn người lại đi rầm rập. Anh Tân luôn mồm
gắt với anh Nhượng câm điếc.
Tôi bảo mà, trâu đi tối phải có lửa, gai mặc, anh phải đi cạnh
đây, soi cho nó đi.
Bó trước, bó sau linh tinh trông đến đẹp mắt. Lúc này nhớ cơm
nên tiếng hò bớt dần. Cũng may mà rẽ vào một quãng đường đất không phá hoại,
mưa hôm qua vẫn chưa ráo, con đường trơn như mỡ. Trâu hết phá thối rồi, đành phận
theo đóm đi giữa hai hàng rào người. Người nào người nấy đầy rẫy sát khí, đòn
ngắn, đòn dài trong tay. Đường đi vậy lại càng dễ đi hơn. Xe như lướt trên bùn
đi băng băng. Chúng tôi vừa đi vừa chạy mới kịp. Nỗi vui mừng quên cả mệt và
đói. Gặp chỗ bùn sâu, bắn vung cả lên người, chân tay ống quần bê bết nhưng vẫn
đi. Tàn đuốc rơi lả tả… cứ phải phủi luôn, không thì cháy ra quần áo. Đang cơn
vui, mang cơm đến. Nhưng xét ra chả có chỗ nào cao ráo mà cái đà đang đi nhanh.
Một số đông anh em đều muốn thôi để đến C.V. ăn một thể cho sạch sẽ đường
hoàng, duy có anh Tân cứ nheo nhéo:
– Thôi anh em ăn cơm đã.
Tôi gạt đi:
– Thưa anh, anh em đói lắm.
Tôi phải bảo anh ấy im. Cuộc hành quân vẫn cứ đi với cái đà
có lẽ đến sáu bảy cây số một giờ. Tới bờ suối lúc nào không rõ. Lúc đó mới có
chín giờ tối. Chỉ còn lội qua cái suối nông là đến C.V. trái hẳn với ý tưởng
chung là có lẽ 12 giờ mới tới được. Ai ai đều thấy hớn hở vô cùng. Đến đây một
là dùng thuyền qua, hai là cho lội qua. Tôi đang dùng dằng, thời anh em đều muốn
lội qua bừa, vừa để rửa chân, thay gột quần áo thân thể. Thế là tất cả ùm xuống.
Nước chảy xiết quan chân đi, đóm soi rực cả mặt suối. Tàn “rơi” xuống xèo xèo tắt
ngấm. Trâu gặp nước đi bạt mạng. Cái xe nặng thế mà nước có chỗ lật hơi nghiêng
đi. Chúng tôi đều phải thò tay ấn xuống.
– Thôi chết rồi, chết cha đồng hồ xuống nước rồi. Nguy, nguy!
Người anh em đang vắt quần áo, thấy vậy cười ầm lên:
– Lại mấy chục rồi. Thôi anh thiếu gì tiền.
– Gớm các cậu tưởng tớ giầu lắm à?
Vừa nói anh San vừa cam sót sa lắc đồng hồ cho ráo nước. Đồng
chí Lưu, liên lạc viên đưa tin là trên kia thu xếp nhà cửa đủ cả rồi. Các bộ phận
khác đã đến từ sớm. Anh em ngủ cả rồi. Tôi rảo bước về trước với hỏa thực xong
qua chỗ ăn nằm bảo dọn cơm sẵn ra. Tôi lên nhà đánh thức đồng chí thư ký dậy
làm báo cáo, kể qua kinh nghiệm cho tiểu đoàn rõ để phổ biến cho các hạng “anh
cả” sắp đi sau. Làm xong mãi chả thấy ai về. Tôi lại chi Lưu ra xem, thì té ra
cái xe quẹt mòn gãy đôi không đi được nữa. Anh em phải lê cái nòng vào gốc cây
si. Cho gọi người gác mai làm cái khác. Tất cả kéo về ăn cơm. Cơm nguội ngắt, hỡi
ôi! Vài hạt muối, bát canh măng lạo xạo. Tôi cùng ngồi ăn một mâm, có bốn anh
em với người nhà của bà chủ cho mượn trâu mộng. Vừa ăn anh ta vừa thủ thỉ với
tôi:
– Thôi mai cháu xin ông cho cháu mang trâu về, bà chủ cháu dặn
thế. Gớm cháu đi với các ông mệt quá. 11 giờ đêm mới được ăn cơm. Suốt ngày mệt
lả. Cơm lại chả có gì mà các ông vẫn khỏe mạnh đều, vẫn vui ghê thật.
Đúng 12 giờ khuya, tôi mới phụt tắt đèn đi ngủ. Sáng hôm sau
chúng tôi dậy đã thấy anh người nhà hôm qua dắt trâu mộng về, sau khi đã trả
xong tiền bà hàng cơm hơn chục gắp trả chó.
10/8/1949
SIÊU HẢI
Tiết 17
NGUYỄN CÔNG MỸ
Tiểu Sử.
Sự vươn lên của ánh sáng cách mạng trên hai công tác: kiến
thiết và chiến dấu. Chiến đấu để bảo vệ kiến thiết. Kiến thiết để hàn gắn phá
hoại. Những anh Vệ quốc ngoài mặt trận chống Pháp, miền hậu tuyến chống giặc dốt.
Giặc dốt là một sự kiện đầy ải, từ bọn thống trị không muốn chúng ta vươn lên,
thì nhở ở ánh sáng kháng chiến, nhân dân ta ai ai cũng phải biết tiếng mẹ đẻ,
viết và đọc. Sau những giờ làm việc là đến buổi học tập. Những người biết chữ
không quản giắt người mù chữ trên con đường tiến tới mọi người biết chữ. Ý
nghĩa đó được Nguyễn Công Mỹ diễn đạt lại qua “Giáo viên bình dân học vụ".
GIÁO VIÊN BÌNH DÂN HỌC VỤ
(...) Họ xúm nhau lại bàn định, chia nhau đi bốn phương, vào
từng ngõ hẻm đường sâu. Người ra bờ bể, kẻ trèo núi cao. Có người nhận việc ở
giữa luống cày, có người mang nhiệm vụ vào trong xưởng máy. Họ lầm lì dấn bước
với gánh nặng trên vai. Trên đường đi, họ giơ tay hoan hỉ đón chào bạn mới.
Đoàn của họ mỗi ngày một đông kể tới vài vạn rồi. Họ còn muốn cho đoàn đông gấp
năm gấp mười nữa. Ai hỏi tên họ, họ niềm nở lắc đầu không nói, chỉ cho xem bó
nhiệm vụ trên vai. Tự cho mình là chiến sĩ, họ quyết xứng đáng với tên chiến
sĩ. Không biết gọi họ là gì, người ta đặt cho họ một cái tên rất hiền lành
“Giáo viên bình dân học vụ”. Giáo viên BDHV là tất cả, bất cứ ai đã biết chữ, nếu
lòng tha thiết với tổ quốc. Cô giáo viên mười lăm tuổi gọi một giáo viên khác
năm mươi tuổi bằng ông nội. Cô giáo viên mặc quần áo lối binh sĩ Hoa Kỳ màu cứt
ngựa sẫm, lại có giáo viên quần đùi, chân đất chưa sạch vết bùn. Anh ta buộc vội
trâu ngoài sân đình vừa thở vừa chạy vào lớp học, vai vẫn vác cày. Đây là một
cô gái xanh lướt, mỏng manh con nuông của một nhà giầu, đây là một người thợ đầu
húi ngắn, luôn luôn thổi sáo. Ai cũng vui vẻ với việc, quyến luyến với nghề, lo
lắng trước trách nhiệm. Chả thế mà tuần nào họ cũng họp nhau lại để một lần bàn
bạc để đến hôm sau cuộc hội họp, người nào người ấy vui vẻ hơn vào việc, quyến
luyến hơn với nghề, lo lắng hơn trước trách nhiệm. Có một hôm, một giáo viên bảo
học trò thân mến rằng: “Các ông các bà ạ. Bữa này là vừa bắt đầu. Ba hôm nữa là
hết giấy. Chúng ta làm thế nào bây giờ.
Bấy nhiêu nét mặt xa xầm xuống. Giáo viên nước mắt chạy
quanh. Chẳng muốn nói gì, chẳng chẳng đợi một chốc, nuốt ực nước bọt rồi tiếp:
– Các ông các bà không sợ. Tôi đã có cách. Miễn là các ông
các bà đến sớm cho một chút.
Hôm sau giáo viên đội một thúng sách tới đình. Học trò vắng mặt
mất một người. Chàng gọi con số còn lại ra sân.
– Từ nay chúng ta học ngoài sân.
Chàng dốc thúng. Thì ra toàn gạch non, những hòn đủ thứ các
hình, đủ các cỡ. Bút đấy, mực đấy, viết đi. Những bàn tay ngượng nghịu, nhưng
chăm chỉ mài gạch trên gạch thành những móc câu, những quả trứng, với mối hy vọng
ngập trời. Bọn thực dân hãy vào sân dân tộc này mà xem họ học tập. Họ bất chấp
đói kém, thiếu thốn. Họ muốn sớm trở nên người dân độc lập. Trên đường giải
phóng họ mang nào sách, nào bút, nào bảng, nào câu đối sơn đen, nào que tính,
nào phấn, nào đất sét nặng, nào cánh cửa gỗ, nào mảnh sành, mảnh gạch. Để tập đọc
thông thạo cả. Để bồi bổ tinh thần, để tuyển gan dạ mà(...)
Trích một đoạn đăng trong TIỀN PHONG
NGUYỄN CÔNG MỸ
Phần B
NHÀ VĂN MIỀN NAM
1945–1950
Tiểu Sử.
BÌNH DIỆN VĂN NGHỆ MIỀN NAM
1945 – 1950
a) Hoàn Cảnh Chính Trị và Văn Nghệ
Sau ngày 29–12–46 ở Việt Nam có hai mặt trận kháng chiến chống
xâm lăng:
Mặt trận thứ nhất kháng chiến chủ lực ở miền Bắc và miền
Trung, còn miền Nam coi như kháng chiến bổ sung.
Nói riêng về mặt trận văn nghệ, chúng tôi cũng chia ra làm
hai phần như phân tiùch bình diện chính trị. Dù muốn dù không, đành rằng văn
nghệ không là chính trị; nhưng mặc nhiên bối cảnh văn nghệ và chính trị có
tương quan song hành với nhau.
Trong tập sách này, chúng tôi nói đến các nhà văn miền Nam
1945–1950 hoặc nói một cách khác, nhà văn kháng chiến bổ sung. Nhưng tinh thần
đấu tranh phải được coi như một.
Trở lại mặt trận chính trị Nam Bộ, Pháp chiếm Sài Gòn và các
thị trấn vào 23 tháng 9 năm 1945. Phong trào kháng chiến bùng nổ khắp mọi nơi.Ở
miền Nam, chính phủ tự trị Nguyễn Văn Thinh chỉ là bù nhìn cho Pháp sai khiến.
Sau cũng biết vậy là có tội với lịch sử, nên ông tự tử để cứu vãn danh dự phần
nào. Hoàn cảnh chính trị như thế; nhưng bối cảnh văn nghệ cứu vãn được một phần
lớn thúc đẩy tinh thần yêu nước trên bình diện thật rộng lớn.
Lập trường ủng hộ kháng chiến của các nhà văn miền Nam tạo được
một lượng đáng kể. Nhóm Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Dương Tử Giang và Thẩm Thệ Hà
nặng về phần sáng tác. Nhóm Tam Ích, Thiên Giang nặng phần lý luận theo hướng
Mác xít tự phát.Các nhà văn độc lập khác như: Hoàng Tấn, Bình Nguyên Lộc, Anh
Huy, Việt Quang, Mai Văn Bộ (Bách Việt), Hợp Phố (nữ), Sơn Khanh, Phi Vân, Vũ
Xuân Tự, Quốc Ấn, Nguyễn Bảo Hóa, Trúc Khanh, Hồ Hữu Tường vv...Nhóm văn nghệ có khuynh hướng về lãng mạn cách mạng
(romantisme révolutionnaire) như Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Dương Tử Giang, Thẩm
Thệ Hà…Nhóm sáng tác theo duy vật biện chứng (tự phát) như Tam Ích,
Thiên Giang, Thê Húc, phê bình và lý luận theo duy vật sử quan là nhóm Chân Trời
Mới, hướng về cộng sản khi hoàn cảnh “văn” và “chính” đang trong thời kháng chiến.Qua các bộ môn, ngành văn phát triển hơn cả. Lối văn nhẹ
nhàng lồng trong tác phẩm rung động của Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà,
Dương Tử Giang… Về thơ, như Vũ Anh Khanh, Hoàng Tố Nguyên, Ái Lan…. Sau các
nhóm đến các nhà văn độc lập.Một số nhà thơ không nói đến ở đây; vì trong tập này cũng như
các tập trong bộ phê bình văn học của chúng tôi, nặng về bộ môn văn. Và bộ môn
thơ chỉ nói điển hình, các nhà thơ không nhắc đến xin hiểu thế mà châm chước
cho.Tiết 1KHÁI QUÁT VỀ NHÓM LÝ VĂN SÂMLý Vân Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang thuộc
nhóm nặng phần sáng tác. Hai nhà văn sáng tác, điển hình là Lý Văn Sâm và Vũ
Anh Khanh.Tuy nhiên, Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang có sáng tác và hai
nhà văn sau này còn viết lý luận văn nghệ, mà có thể nói là đặt cơ sở sáng tác
cho nhóm về nguyên tắc.Về thơ, Vũ Anh Khanh còn là nhà thơ điển hình trong số hai
nhà thơ nổi tiếng nhất của miền Nam giai đoạn 1945 – 50 thêm vào là Hoàng Tố
Nguyên. Chúng tôi phân tích tỷ mỷ ba nhà văn điển hình: Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh
Khanh và Lý Vân Sâm và nhà văn Dương Tử Giang.Sau 1950, sáng tác của Vũ Anh Khanh (1), Hoàng Tố Nguyên
không khác trước. Trên tuần báo Văn Nghệ (Hà Nội) thỉnh thoảng mới thấy một bài
thơ của Hoàng Tố Nguyên được đăng; nhưng không có gì đặc sắc như vừa đề cập ở
trên.Thẩm Thệ Hà thành lập nhà xuất bản LÁ DÂU cùng với Nguyễn Bảo
Hóa, nhưng không có tác phẩm nào đặc sắc (tính đến hôm nay). ĐỜI TƯƠI THẮM của
Thẩm Thệ Hà tả mối tình văn nghệ, đề cao văn nghệ; nhưng tình tiết sắp đặt lỏng
lẻo không rung cảm người đọc và nhất là cốt truyện bố cục chưa vững.Tiết 2DƯƠNG TỬ GIANG(1914 – 1956)Tên thật Nguyễn Tấn Sĩ, quê Bến Tre. Bạn văn với Lý Văn Sâm,
Vũ Anh Khanh , Thẩm Thệ Hà thành lập nhóm văn nghệ, dựa trên lập trường dân tộc
chống xâm lược 1949.Tác phẩm TRANH ĐẤU (truyện dài). Có tác phẩm xuất bản trước
năm 1945 như Con Gà và Con Chó (tiểu thuyết), MỘT VŨ TRỤ SỤP ĐỔ (truyện ngắn,
1949), CÔ SÁU TÂM THUNG (truyện thơ, 1949) và các bài viết về văn nghệ quốc tế
trên báo Thế Giới (tạp chí) cũng như các bài phiếm luận bàn về nhân vật mới
trong tiểu thuyết phải có sức khỏe (santé morale danh từ của Dương Tử Giang).Truyện của ông vì quá say sưa với tinh thần kháng chiến (đôi
khi siêu mác xít) nên cực đoan. Chính điểm ấy người đọc tin rằng đó là sáng tác
được chỉ huy; chất giả tạo phơi bầy rõ rệt, thiếu chất truyền cảm thực. Hầu hết
các nhân vật trong tập truyện ngắn MỘT VŨ TRỤ SỤP ĐỔ xây dựng với kiểu cách như
thế. Ở Đồng Sinh Đồng Tử (trang 21), ông muốn người tranh đấu đừng quá tin đàn
bà.Ở Ngày Độc lập, tác giả chưa phân tiùch rõ được tâm tình cởi
mở của một tù binh được Pháp trả lại tự do như thế nào là phải là đúng? Và đôi
khi ông muốn uốn nắn nhân vật theo chủ quan định hướng của tác giả, thành thiếu
nghệ thuật.Ở Một vũ trụ sụp đổ, tả thái độ một cô gái Bắc vũ nữ tên Nga
với cách đối thoại không đúng với miền Bắc, mà tác giả muốn lồng tác phong của
họ có địa phương tính, nói về lối sống của một cô gái miền Bắc. Vì thế ngô nghê
và giả tạo.Dương Tử Giang, nhà văn lý luận cơ sở sáng tác cho nhóm và là
cây viết cực đoan nhất trong nhóm. Tiểu thuyết của ông không phải là tiểu thuyết
có đặc tính truyền cảm độc giả qua nhân vật có cảm quan mà lồng lý luận máy móc
vào; nên văn Dương Tử Giang ở TRANH ĐẤU cũng nhữ MỘT VŨ TRỤ SỤP ĐỔ chưa thành
công trên địa hạt tiểu thuyết.Nhưng ông là một cây viết lý luận vững vàng ở hôm qua và tiểu
thuyết của ông chỉ là phương tiện văn dĩ tải đạo dẫn đến tiểu thuyết chính trị
chưa đạt nghệ thuật cao.Tiết 3THẨM THỆ HÀ(1923 –...)Tiểu SửTên thật Tạ Thành Kỉnh. Sinh năm 1923 ở Trảng Bàng (Nam Phần).
Sống trong gia đình tiểu tư sản nên chịu nhiều ảnh hưởng giai cấp và sau này phản
ánh qua văn thơ.
Học hết chương trình ban Trung học, ông để một thời gian
nghiên cứu văn học quốc tế trước khi viết văn.Năm 1942, bắt đầu viết đăng thơ rải rắc trên các báo. Làm thơ
ký Thành Kỉnh, ông dùng tên thật ở ban đầu khi làm thơ. Tác phẩm đầu tay của
ông là Vó Ngựa Cầu Thu, tiếp đến là Gió Biên Thùy, Người Yêu Nước (tái bản hai
lần, Tân Việt Nam, Sài Gòn 1949) vv...Năm 1953, ông bị động viên, thời gian trong quân ngũ, là chủ
bút báo quân đội Quốc gia Phụng Sự. Năm sau, ông được giải ngũ, trở về viết văn
và làm giáo sư văn chương các trường Trung học Sài Gòn. Ông còn là tác giả: Việt
Nam trên đường cách mệnh tân văn hóa.Tác phẩm mới xuất bản: Đời Tươi Thắm (Lá Dâu Sài Gòn, 1957).Khuynh hướng – Đứng trong nhóm Lý Văn Sâm và là cây bút nghị
luận, sáng tác trong trường phái lãng mạn cách mệnh. Những tác phẩm có luận đề ấy,
Thẩm Thệ Hà phục vụ kháng chiến chống xâm lược ở miền Nam.Phân tách tác phẩm chính – Nói đến Thẩm Thệ Hà điển hình
trong tác phẩm, phải kể đến tác phẩm Người Yêu Nước. Cốt truyện gồm ba nhân vật:
Vũ, Bão, Phượng. Vũ là con nhà quan, Bão là người cách mệnh thực thụ, Phượng là
người yêu của Vũ. Nhờ Bão, Vũ từ giã triết lý sách vở để đi vào con đường chiến
đấu trong hàng ngũ giải phóng dân tộc; khi Pháp đổ bộ vào Việt Nam, 1946 lấy cớ
tước khí giới của Nhật. Phượng yêu Vũ, nhờ người yêu nàng cũng lao đầu vào cách
mệnh. Qua nhiêu chặng đường chiến đấu, vào tù ra ngục; Phượng bị đi đầy (phát
vãng) nhưng thoát khỏi án tử hình nhờ một đại úy Pháp. Kết luận Người Yêu Nước
qua lá thư Phượng gửi cho Vũ, dù nàng ở trong trại cải hóa, nhưng không bao giờ
cải hóa nổi lòng yêu nước của Phượng và bao giờ tình yêu tổ quốc cũng song hành
với tình yêu Vũ đang chiến đấu ở phương trời xa.Thẩm Thệ Hà hòa đồng tâm hồn người đàn bà bừng tỉnh vào giờ
khởi điểm cách mệnh; rồi hướng dẫn họ tranh đấu dành độc lập.Ông đưa nhân vật Bão làm điển hình cho vai trò lãnh đạo cách
mệnh giải phóng ở miền Nam. Tâm trạng chiến sĩ ấy phải biết hy sinh, mặc dầu họ
không hẳn là người khác thường, vẫn có tình yêu cá nhân, gia đình, đồng loại,
xa quê hương biết vọng tưởng. Đây là một Bão, Bão của Thẩm Thệ Hà diễn tả lòng
nhớ thương ấy, qua một đoạn văn linh động:“… Có những đêm đứng tựa bên sông cửa, lòng tôi tha thiết nhớ
quê hương. Chẳng rõ khi hay tin tôi bị bắt gia đình tôi sẽ khổ đến bực nào, những
người bạn thân yêu của tôi sẽ lo lắng đến bực nào? Có lẽ họ tưởng tôi đã chết.
Có người hẳn đêm đêm cầu nguyện cho tôi. Nhiều khi những ý tưởng rùng rợn đến với
tôi, tôi nghĩ biết đâu một khi chết, tôi sẽ không được an nghỉ dưới miếng đất
êm đềm của quê nhà, mà tôi phải vùi thây ở một phương trời lạnh lẽo, thân mình
dẫy đầy những vết đạn. Tuy nghĩ thế, tôi vẫn không nao núng…” (trang 29, quyển
tái bản kỳ 2).Đoạn văn trên phân tách tâm lý đúng, không phải đã làm cách mệnh
là không sợ chết. Sự khác biệt chỉ là biết mình chết nhưng vẫn hy sinh. Tình
yêu quê hương của Bão khiến chúng ta nhớ đến một nhà cách mệnh Việt Nam đã từng
ca tụng rằng: ở trên đời này tình bạn và tình quê hương là đáng kể nhất. Vũ là
bạn Bão. Ảnh hưởng cách mệnh đã đưa tâm hồn Vũ đến xáo trộn. Khởi điểm của thức
tỉnh là đọc sách chính trị giai cấp đối lập mà Vũ đang sống trong đó. Vũ là con
quan, thì tất nhiên người cha phải bênh vực giai cấp thống trị. Khi thấy con đọc
sách tả đối lập; ông Phủ bực rọc và bắt con theo mình bằng cách cho đọc sách chống
tả đối lập. Thẩm Thệ Hà ghi lại ở đây một hình ảnh:“… Ông Phủ, tay cầm một quyển sách thong thả bước vào. Mặt
ông không có vẻ giận, cũng không có vẻ vui. Ông kéo ghế ngồi, đặt quyển sách
lên bàn bảo Vũ:– Mẹ con nói độ rày con ham đọc sách, nên cha đã chọn quyển
này cho con đọc. Vũ liếc mắt nhìn lên quyển sách thấy hàng tựa MẶT NẠ CÁCH MẠNG...”
(trang 34).Đoạn này, ông đã làm tròn sự kiện nhận xét tâm lý và tận dụng
mọi khả năng lột mặt nạ tâm địa ác độc bọn phong kiến.Một vài đoạn ông viết rất tâm lý như tả tâm trạng một người
làm cách mạng (giai cấp tiểu tư sản) phải sống với nhân dân ban đầu bỡ ngỡ, khó
chịu:“… Càng sống chung lộn với hạng bình dân, Vũ cảm thấy cái khó
khăn của nhiệm vụ. Họ là những người yên phận, ưa tịnh, nhưng chàng phải kiên
nhẫn lắm mới chịu nổi với tánh tình và cách sống của họ. Đừng ai cố bào chữa họ
là một người tốt đẹp, đáng ca ngợi. Vũ đã lầm khi bực mình vì những tiếng chửi
mắng nhau của họ suốt đêm vì những chuyện nhỏ nhặt như mất một cái quần hay
dành nhau một trái ớt. Những chuyện trộm cắp thường xảy ra luôn, những cuộc
đánh nhau một cách tàn nhẫn không thương xót. Họ sống như thế, ngày này qua
ngày khác, tháng này qua tháng khác. Họ không nhìn lên trời, không nhìn ra xa
và không muốn gì khác hơn kéo lê cuộc đời như thế trong tăm tối…”Điều động triết lý trong sách và ngoài đời (lý thuyết và hành
động) Thẩm Thệ Hà nhắc cho người đọc thấy sự tiếp nhận nền triết lý giáo dục học
đường cũng như sách vở khác hẳn nhau. Đoạn này khiến chúng ta nhớ đến đoạn kết ở
truyện một người bạn đường của Maxime Gorki. Gorki tả cuộc sống đãng tử của ông
hòa đồng trong sinh hoạt dân chúng với người bạn đưa đi cùng trong bốn tháng;
khác xa hẳn mớ triết lý của bác học, triết nhân trong sách vở (Mon Campagnon–
trong tập Vagabonds)(21) (Ed. Albin Michel). Thì đây, ở Thẩm Thệ Hà ghi lại:“… Sự thật, không có gì là lạ. Nếu một bài học trong cửa ngục
giúp cho anh Bão thành vĩ nhân, nếu những sự thật ngoài đời giúp cho anh vượt
khỏi chỗ huyền vi của Mặc Tử đi tìm một tôn giáo khoa học, thì sự diệt hết dục
vọng cá nhân của em (Phượng) để bước vào lề xã hội cũng là một sự thường” (Thư
Phượng gửi cho Vũ).Bức thư còn là đoạn kết cuốn truyện, Phượng bị đưa đi phát
vãng, gửi thư cho Vũ; tạo cho người đọc buồn thấm thía; nhưng không vì thế tiêu
cực. Đoạn văn đặc sắc nhất trong tâm thư ấy, khiến chúng ta cảm phục con người
cách mệnh từ chối hôm nay nghĩ đến ngày mai và họ hy sinh thân họ đầu tiên:“… Đêm đó, đời em bắt đầu sa vào tăm tối. Cánh cửa ngục chắn
ngang cuộc đời tự do và cuộc đời tù hãm, ngăn cả tiếng gió lộng, ngăn cả ánh
trăng xanh. Em còn đợi gì đây? Một ngày mai, người ta sẽ đưa em đến bãi đất
hoang vu, lựa cho em một nơi yên nghỉ tốt và gởi cho em một phát đạn. Thế là hết!
Em sẽ yên phận em, mặc cho trận cuồng phong dầy xéo trên mảnh đất thân yêu. Có
cái gì chua xót động ở lòng em và trào lên mắt em. Em thấy tâm hồn em cũng đau
thương như hồn nước. Một buổi em đang ngồi tĩnh tâm ở góc khám để hồn theo dõi
những hoạt động của những người bạn xa. Chẳng hiểu anh Vũ hiện đang làm gì? Anh
Bão đã rút quân đội về đâu?...” (trang 65).So ưu và khuyết trong văn Thẩm Thệ Hà không là bao! Có lẽ nhiều
khi nhân vật Thẩm Thệ Hà yêu nước quá nồng nhiệt đến nỗi đi đâu cũng vỗ ngực là
đang làm cách mạng. Thái độ của Vũ chứng tỏ điều ấy trong Người Yêu Nước.Văn Người Yêu Nước khô khan, thiếu hấp dẫn, nhưng đi vào chiều
sâu con người. Nếu người đọc không nhận định được rằng cần phải theo dõi tác giả;
thì có lẽ sẽ buông ngay từ đầu cuốn. Như vậy, chứng tỏ nghệ thuật viết tiểu
thuyết Thẩm Thệ Hà chưa cao. Đôi khi nhân vật tiểu thuyết thiếu tự nhiên, có vẻ
sắp đặt theo luận đề. Người Yêu Nước không gần gũi với mình thì lẽ tất nhiên
thiếu tác động cảm hóa người đọc; mà chính ý định của tác giả là mong cảm hóa độc
giả trong đường lối chính trị qua tiểu thuyết. Ông là nhà văn không giầu tình cảm,
có lẽ một phần Thẩm Thệ Hà bị ảnh hưởng trước đã từng viết lý luận. Nói thế,
không phải là nhà văn biên khảo hay lý luận không viết được tiểu thuyết hay.Văn Thẩm Thệ Hà khô khan, nhưng ông cho rằng lối tả thực xã hội
cần phải thế. Ông bênh vực sự thiếu nghệ thuật viết tiểu thuyết của mình bằng mấy
lới thanh minh ở bài tựa: “Người Yêu Nước”."Nếu trong có vài đoạn tả tình, đó chỉ là tính cách lãng
mạn cách mạng (Rr) (22). Các danh tác như Stribling, Ostrovski, Boris Gorbatov
cũng thế...Trong lúc cao trào cách mạng đang bốc lên, ông cho rằng nếu tả
tình thì e lãng mạn, nên ông giải thích mong đừng hiểu lầm chăng? Sự thật thì
nào đâu có thế, một La Mère (Người Mẹ) của Maxime Gorki, một Gorbatov viết Tình
Bạn của hai người liên lạc với nhau trong điện thoại biết bao nhiêu là tình tiết
sâu đượm, mà tình ấy còn thiêng liêng hơn cả tình yêu thanh xuân. Hoặc
Constantin Paoustovski đã dùng lối tả tình cảm con người theo giác quan (đã có)
và đồng hóa theo mình (diễn tiến hóa chủ quan định hướng) thì từ sự hướng dẫn ấy
mới đem lại kết quả, nghĩa là người đọc thấy rằng tâm lý không xa họ bao nhiêu
và cái kết thúc trong tương lai của họ phải như hoàn cảnh tương đồng tác giả hướng
dẫn thì mới là nghệ thuật cao đồng hóa truyền cảm. Bất tất, ông phải giải thích
như trên (Chuyến xe đêm của Constantin Paoustovski do Trúc Đường dịch).Kết luận – Thẩm Thệ Hà và Dương Tử Giang là, nhà văn khác hẳn
Lý Văn Sâm và Vũ Anh Khanh, nghĩa là ở bình diện tiểu thuyết họ chưa có nghệ
thuật cao. Sự phân định rõ rệt trong nhóm có hai phe phản ánh sâu sắc trong văn
của bốn tác giả trên. Lý Văn Sâm và Vũ Anh Khanh có lối văn của cây viết kháng
chiến chỉ biết yêu nước không nhìn xa; viết những gì sống đượm nồng nàn của dân
tộc chống xâm lược. Còn Thẩm Thệ Hà, con người lý luận đặt cơ sở sáng tác và
sáng tác giải quyết kết thúc theo cương lĩnh đã đặt ra.Tuy vậy, Người Yêu Nước của ông hòa đồng cách mệnh và hướng dẫn
dân Nam Bộ yêu nước chống xâm lăng vào 1946 khi Pháp tái xâm lược Việt Nam.Ngưới Yêu Nước chưa hẳn là cuốn tiểu thuyết phong phú tình cảm,
đặc sắc; nhưng điều ấy không làm lu mờ được ý định có công của tác giả đề cao
và hướng dẫn lòng yêu nước qua tiểu thuyết lãng mạn cách mạng.Năm 1957, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Đời Tười Thắm. Cuốn
truyện này với bố cục lỏng lẻo, tình tiết nghèo nàn. Một lần nữa minh chứng Thẩm
Thệ Hà chỉ là nhà văn có giá trị ở giai đoạn 1945–1950 mà thôi.Tiết 4LÝ VĂN SÂM(1921 – 2000)Tiểu SửLý Văn Sâm là tên thật dùng trong các tác phẩm văn chương của
ông. Sinh năm 1921 ở Tân Uyên vùng Sông Bé, thuộc Biên Hòa (Nam Phần) trong một
gia đình trung lưu.
Học ở Pétrus Ký (Sài Gòn) sau ở Hồ đắc Hàm (Huế). Thời gian
này ông quen biết nhà văn Thanh Tịnh dạy học. Ngay lúc còn trên ghế nhà trường,
ông đã tỏ ra là người có khiếu văn chương.
Năm 1947–48, Lý Văn Sâm là một trong hai nhà văn xuất sắc nhất
ở miền Nam. Tác phẩm đầu tay của ông là Kòn Trô (Tân Việt). Ông đã có một kỹ
thuật riêng biệt và nội dung truyện ngắn chững chạc. Ông viết cho các tuần báo
miền Nam và Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Vũ Đình Long ở Hà Nội (trước 1945) hoặc Việt
Bút ở Sài Gòn. Ông còn viết kịch (VÀNG) diễn trên sân khấu, hoặc những vở khác
đặc sắc như Sậu Lệnh, Trùng Dương, Đường Vào Xứ Phật... đăng trên báo Tiếng
Chuông. Sau này ông cho xuất bản những truyện ngắn: Nắng Bên Kia Làng, Sương
Gió Biên Thùy, Ngoài Mưa Lạnh... và nhiều truyện ngắn như Đời Tàn Trong Ngõ Hẹp
đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy (truyện ngắn 1950), Một Con Chó Sủa Hóng Chiều Ba
Mươi Tết (Giai phẩm Canh Dần), Một Cốt Truyện Mới (Xuân Vĩnh viễn, 1950).
Chúng tôi có trích đăng Tôi Viết Văn của ông đăng trên báo
Xuân Sống Mới (1950, Sài Gòn) để hiểu thêm cuộc đời và văn nghiệp của ông:
"... Tôi vốn có khiếu văn chương từ năm tôi ngồi lớp nhất
trường Biên Hòa. Tôi giỏi Việt văn là lẽ cố nhiên, nhưng tôi không có mộng trở
nên văn sĩ sau này. Hồi ấy, tôi rất thích quyển Lời Hoa của Trí đức văn đoàn
Đông Hồ tiên sinh ở Hà Tiên xuất bản. Tôi thích quyển ấy vì những ngọn gió quê,
của những đồng lúa Tân Ba Biên Hòa thổi vào lòng tôi một cảm giác thơm ngọt ngọt
và khởi cho tôi hồn văn của tôi một hứng thú mới. Lạ có một điều khi tôi lên học
năm thứ nhất trường Lê Bá Cang, tôi không viết văn nữa. Có lẽ vì ông giáo Việt
văn Trần Văn Hoàng (không phải là ông Nam-Vân) hồi ấy đã khiến cho giờ học
chúng tôi thành ra buồn tẻ nên chúng tôi chán là phải.
Rồi cuộc xung đột giữa ông giáo Vĩ (trường Pétrus Ký) và tôi
đã đưa đời học sinh tôi xa Sài Gòn. Tôi định ra Hà Nội học, nhưng rồi tôi dừng
chân ở Huế, đặng vào trường Hồ Đắc Hàm.
Từ ấy, cảnh nắng vàng trên sông Hương và sương xanh trên núi
Ngự đã đưa cái hồn lãng mạn tôi lên tuyệt vời. Tôi đâm ra yêu làm thơ vì tôi đã
lấy nguồn thơ của anh Xuân Lữ (Nguyễn Khắc Lữ hiện ở Xiêm) tác giả tập thơ Tiếng
Trống Trường.
Năm sau tôi qua trường Phú Xuân và chỉ thích đá banh ở sân
S.E.P.H hơn là học hành. Là vì hồi ấy tôi sợ giờ toán như ngán thuốc bắc. Hồi ấy
tôi ao ước học quốc văn với ông Hoài Thanh nhưng ông này lại dạy Pháp văn nên
tôi bỏ học.
Một hôm anh Lê Mẫn, giới thiệu tôi với một người đàn ông còm
lưng, trong bộ đồ nỉ xám hường và bảo rằng: “Đây là giáo sư Thanh Tịnh”.
Tôi biết Trần Thanh Tịnh từ đó.
(Nếu đến ngày nay có người bảo tôi rằng tôi viết văn có phần
giống tác giả “Quê Mẹ” tôi xin nhận là đúng). Nhưng tôi lại không phải là học
trò của Thanh Tịnh mà lại là bạn đồng mâm đồng chiếu. Người yêu Thanh Tịnh nhất
không phải là tôi mà là anh Lê Mẫn. Trái lại, người mà Thanh Tịnh thương (xin
hiểu nghĩa khác) không phải là Lê Mẫn mà lại là tôi. Là vì Thanh Tịnh thường
nói: “Cái giỏi không phải là ở chỗ chăm học quốc văn mà ở cái thiên tài của
anh. Rồi anh sẽ đi xa…” Chính hồi này tôi bắt đầu nghe lời Thanh Tịnh học viết
đúng luật hỏi ngã.
Nhưng tôi vẫn không làm vừa lòng Thanh Tịnh vì tôi rất lười
biếng. Qua năm sau, một thiên tài được nhiều người biết ở Huế lại là anh Trương
văn Hai (Khổng Dương) tự lực xuất vốn in quyển thơ Ly Tao ở Huế và viết nhiều
truyện ngắn cho các báo ở Hà Nội.
Tôi về Nam ít lâu, ham đọc sách hơn là viết. Cái thú bỏ nhà của
tôi rất hợp với anh Lê Văn Đức (Huyền Đức) mà không hợp với tiếng gọi trở về
gia đình của Thống chế Pétain.
Mãi đến lúc tôi thấy ba tôi cai quản lò than “Cái Thác Nước” ở
Trị An, tôi rất thiếu bạn bè. Quanh tôi chỉ có rừng và thác. Trước mặt tôi, bút
giấy là bạn. Tự nhiên tôi cần phải viết để quên buồn, chứ không phải để gởi
đăng báo. Truyện thứ nhất hồi ấy là truyện Kòn Trô trong ấy tôi tả nỗi xa đời của
một nhân vật bị đời xa. Viết rồi cất đó, để đọc chơi. Một hôm tôi cao hứng liền
gởi bài ấy lại, nhưng không gởi đi báo nào cả. Bài thứ nhất nhắc tôi gởi đi Tiểu
Thuyết Thứ Bẩy là bài Cây Nhị Sông Phố và bài thứ hai là Cái Ống Tiền. Đến khi
nhận được một số báo, tôi mới biết rằng bài ấy sẽ được đăng. Tôi liền gởi tiếp
bài Kòn Trô.
Tuần lễ sau tôi nhận được thư khuyến khích của anh Vũ Bằng.
Không bao lâu chúng tôi trở nên đôi bạn thân , chỉ yêu quí nhau bằng thơ chứ
không gặp mặt nhau lần nào hết.
Từ ấy, tôi ham viết, viết chơi chứ không bị sanh kế thúc bách
như bây giờ”.
Tác phẩm chính – Kòn Trô (Tân Việt), Ngoài Mưa Lạnh (Sống
Chung 1950), Sương Gió Biên Thùy (Tân Việt), Sau dẫy Trường Sơn (truyện dài), Lắng
bên kia làng (truyện ngắn), Nga và Thuần (truyện dài – Phạm Văn Sơn Sài Gòn
1950) vv...
Hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng đến tác phẩm –Cũng như Vũ Anh
Khanh , Lý Văn Sâm đặt bối cảnh nhân vật trong một khung cảnh chính trị tương tự
ở miền Nam Bộ. Vào giữa giai đoạn ấy đang bột phát tinh thần chống Pháp, bổ
sung sự kiện tranh thủ độc lập cùng với Bắc bộ và Trung bộ.
Hầu hết các văn phẩm của ông mang đề tài kháng chiến chống
Pháp, Nhật; bằng cách lôi cái xấu xa bỉ ổi của mặt trái đô thị (bas–fonds) và
gián tiếp đề cao Giải phóng quân.
Ông viết nhiều truyện ngắn hơn truyện dài. Có thể nói rằng
ông có hai truyện dài độc nhất đã ấn hành. Sau Dẫy Trường Sơn và Nga và Thuần.
Truyện ngắn của ông đi sâu vào tâm lý hơn của Vũ Anh Khanh. Đánh địch, ông còn
đánh vào tâm não con người qua nhát cuốc tâm lý thật sâu để rồi người đọc tác
phẩm của ông nhìn thấy rõ hình tượng của con người khói lửa Nam bộ trong giai
đoạn ấy.
Phân tách tác phẩm chính – Lý Văn Sâm thiên về ngành văn, những
truyện ngắn của ông có sắc thái riệng biệt, một hình ảnh nhẹ nhàng bao trùm. Nếu
so sánh truyện dài, truyện ngắn của Lý Văn Sâm SAU DẪY TRƯỜNG SƠN với NẮNG BÊN
KIA LÀNG thì KÒN TRÔ, truyện ngắn đặc sắc hơn.
Chúng ta bắt đầu phân tách tập truyện ngắn đầu tay của ông :
Kòn Trô (1949). Kòn Trô gồm những truyện ngắn: Thâm U và Cao cả (Thay lời tựa),
Kòn Trô, Thần Ngư động, Xác Mu Mi trên núi đá, Răng Sa Mát, Voi đội đèn, Ngăn rạch
bắt sấu, Mũi Tổ. Hai truyện đặc sắc nhất là Kòn Trô và Mũi Tổ. Sau Lan Khai,
nhà văn thiên về truyện đường rừng, Thế Lữ với Vàng Và Máu; bây giờ chúng ta thấy
có Lý Văn Sâm đi sâu vào việc khai thác tâm lý hình tượng sống người miền rừng
Nam Bộ.
Kòn Trô là một truyện đường rừng, tác giả viết trong khi lên
cộng tác với ông cụ thân sinh ở lò than Trị An. Tác giả chịu ảnh hưởng của núi
rừng, hiu quạnh không bạn bè, nên viết lại cuộc đời của một tướng cướp bị đời
quên lãng. Tác giả muốn nhấn mạnh : tình yêu rất dễ phá sự nghiệp. Một Từ Hải của
Nguyễn Du vì cô Kiều mà bó tay về với triều đình, một Kòn Trô của Lý Văn Sâm bị
một nàng thiếu nữ đẹp nghiêng sắc nghiêng thành đạp đổ sự nghiệp oai hùng vào một
buổi hẹn hò năm sau: Tâm lý cô Kiều nào muốn giết Từ Hải, thì tâm lý Phụng có nỡ
giết Kòn Trô đâu ? Phụng đi qua thác Mu Mi bị lạc. Gặp một tướng cướp ở khu rừng
này, nàng bị sa tay vào đất đai của họ. Tướng cướp đối đãi với Phụng rất tử tế.
Phụng định tâm giết tướng cướp, nhưng không thành. Tướng cướp hỏi tại sau nàng
lại muốn giết Kòn Trô thì nàng giải thích tự muốn thoát vòng vây. Rồi tướng cướp
thả người đàn bà đẹp ấy. Tình đầu chớm nở hẹn nhau đến mùa xuân năm sau. Ba năm
sau Phụng có chồng lại đi qua thác ấy. Chồng nàng kể cho nàng nghe, Kòn Trô
không còn ở đây nữa bị bắt vì một cô gái đẹp. Kòn Trô hứa với nàng gặp lại vào
năm sau, vô tình cô ấy kể cho bạn nghe và hai cô bạn báo tin cho ông đồn Châu Mạ.
Kòn Trô sa lưới.
Chúng ta nghe Lý Văn Sâm tả đoạn Phụng sa vào trại Kòn Trô và
hình dung của một tướng cướp trẻ tuổi hiên ngang của một góc trời :
“… Nàng vừa hỏi vừa đưa mắt nhìn người đàn ông từ đầu đến
chân. Gã còn trẻ lắm. Mặt tròn, mắt sáng, đôi môi lúc nào cũng dành sẵn một nụ
cười. Màu da ngăm ngăm đen, láng như đồng tỏ rằng gã có nhiều sức mạnh. Gã mặt
theo kiểu những người đi săn: đầu đội nón vành lớn, chân đi ủng da đen. Trông
gã oai nghi hùng dũng lắm..." ( trang 18 – 19).
Đoạn tả cảnh về xử thế của tay tướng cướp trẻ tuổi, thông
minh; Lý Văn Sâm cho độc giả phải suy nghĩ, tỏ thái độ sau khi đọc “như thế mới
là tướng cướp:”
"...Phụng xem Kòn Trô không dữ tợn như người ta tưởng,
nên lòng cũng bớt lo. Lại nghe chàng nói năng lịch thiệp thì nàng không tin rằng
con người ấy là một kẻ đã là tướng cướp của, giết người.
Thấy Phụng ra chìu tư lự , Kòn Trô nói với nàng:
– Bà hãy yên lòng đừng nghĩ xa xuôi gì hết. Tùy bà muốn đi
lúc nào cũng được, hay bà ở đây tôi xin sẵn sàng tiếp đãi bà như một quý khách.
Bây giờ xin mời bà ra trại ngoài dùng bữa sáng với tôi rồi tôi sẽ đưa bà đi viếng
những vùng quanh đây. Trong trại tôi có rất nhiều ngựa tốt.
Phụng nghe ruột đói như cào, liền mạnh dạn bước theo Kòn Trô
ra trại ngoài " (trang 20).
Tả đoạn một chàng trai trẻ dẫn một nàng đang tuổi thanh xuân
dạo quanh vùng rừng, và chàng kể cho nàng nghe cảnh hùng vĩ bản doanh. Nàng lắng
tai nghe say đắm. Lý Văn Sâm tỏ ra rất thành thạo tả một tay tướng cướp lý tưởng
trong giao đoạn tranh tối tranh sáng ấy:
“… Hai người xuống ngựa, trèo lên đồi. Lên tới đỉnh Phụng mệt
ngất tựa mình vào một thân cây. Kòn Trô lấy nón quạt mát cho Phụng.
Ve sầu ra rả trên các ngọn cây cao. Tiếng chim chóc vui ca
trong nắng hạ, Phụng chóa mắt dòm khắp bốn phía. Hơn sau chục cái nhà sàn giống
nhau vây tròn lấy trái núi.
Kòn Trô nói với Phụng:
– Bọn thủ hạ của tôi hơn một trăm người đều sống chung với
nhau trong những căn trại ấy. Họ toàn là giống mọi Châu Mạ (Tcau Mạ) gan dạ và
đanh thép.
Tôi dùng họ rất được việc mà bọ rất trung thành với tôi. Tôi
bảo chết, họ chết. Tôi bảo sống, họ sống. Họ thương tôi và kính thương như cha.
Bà nghĩ lòng khắng khít hơn lòng thương của những kẻ vô gia
cư, không cha, không mẹ, thân thích và cuộc đời gần giống in như nhau. Không cần
phải cắt máu ăn thề mà họ ăn ở với nhau niềm chung thủy. Ấy cũng bởi sự chung đụng
trường niên nó gây cho cái giây đoàn thể bền bỉ, không ai có thể cắt được. Ở
đây, không có sự phản bội, không có sự man trá, không có sự ghen tị nó làm cho
người ta phải cực lòng lo nghĩ vì nhau. Tâm hồn họ đã hòa hợp cùng cây cỏ hoang
dại… ( trang 21).
Chúng ta cảm thông một sự kiện của thái độ bọn cướp. Không phải
là bọn cướp vô lương tri, mà là bọn cướp tổ chức có hệ thống, nội quy, hành động
thống nhất. Giữa giai đoạn nước bị thống trị, đã có kẻ bất mãn ra đi, bỏ làng mạc,
bỏ phố phường, bỏ quê hương, để mưu tính cuộc đảo chính chống cường quyền thực
dân. Nhưng đâu phải chăng thành công cả, được làm vua, thua làm giặc, hùng cứ một
phương thì đã là kẻ bất đắc chí trong một hạn định nào đó của cao độ:
“… Bà coi. Bọn chúng tôi trồng khoai, cấy lúa, gieo bắp, gây
riêng một thế giới phóng khoáng, xa hẳn gió bụi chốn kinh kỳ. Chỉ vì một năm gạo
thừa lúa kém, chúng tôi phải ép lòng đón giật của và cướp kho lương của ông đồn
tại đây. Từ đó, tôi chỉ bạo động trong một năm ấy thôi, rồi thì, cái ác tùng
thiện, trở về chốn cũ, cầm lại cái cầy, quơ lại cái cuốc, sống một cuộc đời
lương thiện như những kẻ nông dân. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại bị bao vây,
nhưng vì không thuộc đường lối nên trăm người vào đây, khó mà trở về cho đủ. Cuộc
đời tôi, từ đó càng ngày càng nặng tội, càng lem luốc, càng ngày càng xa nhân
loại. Người đời cho bọn tôi là một lũ quỉ sống, uống máu người không
tanh…(trang 22–23).
Qua ít ngày đôi trẻ thân mật, giai đoạn chớm yêu nẩy nở, thì
phút ra đi lại là phút khiến lòng người buồn thảm. Lý Văn Sâm tả cuộc biệt ly ấy
rất đẹp:
“… Có cuộc tống biệt nào mà không làm bằng nước mắt và có cảnh
chia rẽ nào lại không có ly bôi. Cô uống chén rượu này gọi là chén rượu kỷ niệm
buồn chia tay này vậy… (trang 25).
Và chính giây phút tình yêu của Kòn Trô đã tiết lộ sự chết đến
sau một cách vô tình bởi lời hứa hẹn. Giây phút Kòn Trô buồn, giây phút Phụng sầu
man mác; thì vẫn là pha cuối cùng của xen từ biệt:
“… Phụng làm thinh. Lòng nàng hiu hiu một cảm hoài nhè nhẹ.
Nàng thấy mình chỉ thương hại Kòn Trô thôi. Tuy nhiên nàng cũng an ủi chàng:
– Mùa hè năm sau, em sẽ tìm về đây thăm anh. Một năm có là
bao…
... Kòn Trô cảm giác như mình ngồi trên ngựa không vững nữa.
Trời sáng mau quá. Kòn Trô không giữ được cảm động, ngùi ngùi ngâm lên, như một
người say rượu..."
Và còn đó một cử chỉ âu yếm nhất của đôi trẻ yêu nhau. Tình
yêu ấy đẹp như bài thơ hay. Lý Văn Sâm u hoài tặng thêm người đọc một cảm giác
nữa, vẫn muôn vàn sầu nhớ:
“… Phụng vẫn cúi mặt, im lặng. Những loạt lá trổ đổ xuống ào
ào phá tan sự im lặng giữa hai người.
Bỗng Phụng ngẩng mặt lên chăm chú nhìn Kòn Trô. Thiếu niên
(23) cảm giác như trái tim mình ngưng đập. Rút một chiếc khăn tay ở túi ra, rồi
hái một đóa trang rừng gói vào trong, Phụng mỉm cười nhét vào tay Kòn Trô để
làm trọn một cử chỉ xã giao.
– Đây. Em chỉ có cái này làm kỷ niệm. Anh hãy giữ lấy nó đừng
làm mất, em bắt thường đó.
Kòn Trô đưa hoa lên mũi. Nước hoa tẩm trong chiếc khăn tay
thoảng một mùi hương nhè nhẹ, thơm như mái tóc của một giai nhân. Lúc ấy đúng
vào mùa hoa chai nở. Những cánh hoa li ti điểm trắng rừng xanh, lờ mờ như có một
lớp tuyết phủ. Mặt trời đỏ chói, trồi lên sau ngọn Bạch hổ sơn, rực rỡ như một
vừng hào quang tỏa quanh đầu đức Phật.
Phụng ngước mặt nhìn trái núi. Ngọn Bạch hổ sơn hình như cũng
đang nhìn nàng. Phụng nói:
“Suốt đường về, mắt em sẽ không rời ngọn núi tri kỷ này…”
Đoạn kết đưa người đọc đến với thái độ rút kinh nghiệm; mà từ
cổ đến kim vẫn chẳng khác nhau là bao! Là tướng cướp còn có khi mềm lòng, vô
tình thổ lộ yêu đương, quên cả mục đích, để rồi sa vào lưới kẻ thù. Lý Văn Sâm
còn cho người đọc thưởng thức một cảm giác đẹp nữa, trước khi dẫn đến sầu thảm.
Đoạn tả tình cảm dĩ vãng sống động khi Thể Phụng qua thác Mu
Mi với chồng:
“… Rồi chợt nhớ ra điều gì, nàng giật mình chớp lia đôi mắt ướt.
Lờ mờ trong dĩ vãng xa xăm, nàng mang máng sống lại cảnh một đêm sương của mùa
hạ cũ. Hình ảnh một chàng trai trẻ đã đưa nàng qua những tấm rừng dày về thác
Mu Mi, bỗng hiện về trong trí nhớ. Niềm cảm xúc reo động trong quả tim non, sâu
sa và thấm thía vô cùng. Có ai ngược về lối cũ của thời gian mà không thấy lòng
mình bối rối rung động, khi dòng tư tưởng ngưng lại ở một quá vãng quá khứ đầy
kỷ niệm…”.
Kỷ niệm là vật vô hình, linh thiêng vô biên hóa. Dù xã hội đổi
thay, hoàn vũ thay đổi: nếu con người còn mang kỷ niệm thì kỷ niệm còn sống sâu
đượm mãi trong thâm tâm theo năm tháng, kỷ niệm còn tồn lại theo tháng năm dài.
Đoạn kỷ niệm của Kòn Trô khi chết còn úp tấm khăn của người đàn bà tặng (Thể Phụng)
lên mặt trước khi chết, Lý-Văn-Sâm đã không bỏ quên:
“... Kòn Trô quả thật không thẹn với tên. Thật là một người
anh hùng dũng mãnh. Tuy khắp người bị thương, nó cũng còn sức ngồi trở mặt ra
phía đuôi ngựa, thúc chân một cái, con tuấn mã nhảy khỏi vòng vây. Con ngựa phi
nước lớn. Nó ngồi trên mình con thú tinh khôn nhắm bắn ngã luôn mấy người lính
đồn rồi kiệt sức, rơi nhào xuống ngựa. Người ta xúm lại quanh nó. Nó nằm ngửa
trên mặt lá ủ, mắt mở trừng trừng. Lúc người ta sắp khiêng nó đi thì nó xin nán
lại vài phút. Đến khi nghe tiếng kèn xe hơi của ai vọng lên ở xa xa, nó mỉm cười
mấp máy đôi môi. Nó đưa một chiếc khăn tay đàn bà cho ông đồn và ra biểu hiệu đắp
dùm mặt nó. Đem “Kòn Trô” về đến đồn thì nó chết...”(trang 33).
Kết quả của cái chết là do ở truy nguyên lụy tình ái. Nhớ một
Hồ Tôn Hiến và Kiều; một Từ Hải của Lý Văn Sâm là nhớ một Thể Phụng, con một
quan Châu:
“… Vì quá nặng lòng trìu mến nàng, nó còn hẹn với nàng rằng
nó sẽ theo và tiễn chân nàng một lần chót trên đoạn đường về. Cũng bởi mạng nó
đã cùng nên mới khiến cô nữ sinh kia đem khoe chuyện ấy với hai bạn học cùng lớp.
Hai người kia lên báo tin cho ông đồn Châu Mạ hay…” (trang 37).
Nữ sinh bảo với bạn và người bạn đó là vợ của người đang kể
chuyện bây giờ. Chồng nàng không biết nữ sinh đó chính là Thể Phụng. Và chính
cách diễn tả tâm lý của Lý Văn Sâm vững, bố cục chặt chẽ đem lại cho người đọc
một xen hồi hộp. Đoạn kết về cô nữ sinh kia nghĩ thế nào về chuyện ngày xưa ấy:
“… Thiếu phụ ngước mắt lên. Núi Bạch Hổ đứng cũng trong một
cõi mịt mù của khói ngàn xanh xám. Một miếng mấy trắng quấn qua đầu đỉnh non xa
như một bức khăn tang. Hình ảnh trái núi kia, trải bao nhiêu năm cách biệt, vẫn
còn nguyên vẹn như tấm lòng không thay đổi của một người tri kỷ.
Thiếu phụ chùi mắt nói với chồng:
Nắng hạ gay gắt quá làm em chói mắt, khó chịu. Mình coi đây.
Nước mắt em cứ ràn rụa mãi thế này …”(trang 34).
Nghệ thuật viết của Lý Văn Sâm ở chỗ tả cảnh thiếu phụ khóc mối
tình xa xưa bằng giọng văn vô vàn thiết tha và tinh tế. Người chồng làm thế nào
mà hiểu được vì nắng hạ mà vợ đã khóc một đời chồng lý tưởng của tuổi thanh
xuân. Hầu hết tập truyện KÒN TRÔ là chuyện đường rừng, điển hình nhất là KÒN
TRÔ. Bây giờ phân tiùch tập truyện ngắn nhiều mầu sắc xã hội, rất sâu tâm lý.
Đó là tập NGOÀI MƯA LẠNH.
Ngoài Mưa Lạnh (1950) gồm những truyện: Ngoài mưa lạnh, Vực
thẳm, Tàn một mùa ve, Ngàn sau sông Địch, Nửa mảnh ngân tiền, Đờn Chìn Kha La,
Một cốt truyện mới, Thèm một ngọn đèn, Oan Gia, Mưa Sài Gòn, Ngày ra đì. Truyện
hay nhất tập cuốn là truyện tiêu đề cuốn sách (Ngoài Mưa Lạnh), đến Ngàn sau
sông Dịch và Thèm một ngọn đèn.
Ngoài Mưa Lạnh, tác giả tả một đôi vợ chồng làm văn nghệ. Chồng
ngâm thơ, đọc báo cho vợ nghe tin một người chết ở Đường Hai Mươi (24). Lâm, nhà
văn bảo vợ: Thố tử hồ bi thì vợ cho là những chuyện không đâu, việc gì hoài nước
mắt khóc người dửng dưng.Hai vợ chồng đem đề mục đó thảo luận mãi. Khi đêm khuya có tiếng
người đi qua. Lâm và vợ lắng tai nghe. Người gọi cửa là một kẻ bị đạn lạc gõ cửa
nhà hàng xóm. Và người bị đạn ấy cũng chẳng gõ cửa nhà Lâm. Nhưng chính sự kiện
ấy, đưa đến ý nghĩ buồn trong thâm tâm Lâm. Lâm thức suốt đêm trước trang giấy
trắng. Cốt truyện rất giản dị. Nhưng ông đưa ra được nhiều ý mới. Là kẻ ăn cắp,
nếu đối với những kẻ học mọt sách luật thì sẽ khép án bị tù theo điều khoản
nào? (luật cứng dắn–constitution rigide). Nhưng đối với thẩm phán có tâm hồn là
thẩm phán có tư tưởng tiến bộ, cách mệnh linh động hóa vấn đề, xét việc không bị
đóng trong khung nhất định, tránh được chỉ biết mình, không quan liêu tính –
(bureaucratie) thì lại khép án khác (có thể là luật mềm dẻo–constitution
souple). Chúng ta cùng đọc: “… Nếu kẻ khốn nạn ấy là một kẻ trộm thì cũng không
có gì đáng ghét. Giữa lúc ta no cơm ấm áo ngồi đây, ta rất lấy làm yên ổn. Ngày
mai ta thức dậy, ta đã có gạo rồi. Nếu ta không có gạo ta sẽ vay hàng xóm hoặc
ta sẽ bán đi một cái áo, một cái quần để qua cơn túng ngặt. Còn kẻ bạc mạng kia
biết đâu đã nhịn đói trong bao nhiêu ngày giữa một cơn kịch bệnh không người
săn sóc thuốc thang. Đêm ấy giữa lúc đồng bào gã yên việc sau khi đã no cơm, no
cháo, no sắc đẹp, và kim tiền thì gã vì sự đòi hỏi thúc bách của dạ dầy đến nỗi
phải trả nợ đời trong tiếng súng…(trang 11).Ở Lý Văn Sâm, nói riêng bao giờ cũng kết tội cá nhân cho xã hội
trách nhiệm. Điều ấy là thái độ tiến bộ của nhà văn. Đành rằng không thể ngồi
không mà đi ăn cắp rồi đổ tội cho xã hội – đi làm mà không có việc – đi làm mà
không đủ ăn – bị bóc lột thặng dư – trong lúc thúc bách đòi hỏi – nói chung –
mà mình không được hoặc bị được giải quyết theo hoàn cảnh cấp thời. Cho nên nếu
cứ áp dụng luật A là thế này, B là thế kia; không tùy hoàn cảnh biến hóa thì sự
kiện, hậu quả lịch sử tiến bộ sẽ lạc hậu dần đi. Thí dụ, một cái cửa bao giờ
cũng phải là hình chữ nhật ngắn 1 thước 5, dài 2 thước thì chẳng bao giờ có
khuôn cửa hình cánh cung (arche), hoặc hình tròn hình vuông cả. Một cái nhà bao
giờ cũng phải theo khuôn khổ nhất định có mái dốc mới là nhà thì làm gì có mái
bằng. Tất cả sự chống lại hoặc thắng lại sự kiện cũ là cải tiến. Với kiến trúc
sư dựng nhà không mái là có óc tiến bộ. Và bây giờ trở về với vai trò thẩm phán
xử án cũng phải tùy thời cải biến luật là có tư tưởng tiến bộ. Và như vậy sống
để còn có nghĩa phục vụ cái đẹp (Nhân sinh phục vụ nghệ thuật–Vie pour Art).Ngoài Mưa Lạnh, truyện ngắn nhiều mầu sắc tiến bộ linh động
hóa vấn đề cần phải thay đổi.Đến Ngàn sau sông Dịch, Lý Văn Sâm tả một gia đình nghèo túng
tiếp bạn đồng hành thất cơ lỡ vận. Trọng và vợ con thường thường hay giở tập ảnh
có chân dung một người bạn rồi hỏi “ Đây bác Cương của bây đây…”. Không những
Trọng, vợ Trọng mà các con Trọng không thể quên chân dung người bạn ấy. Thế rồi
một buổi Cương đến nhà Trọng ở. Ban đầu còn đằm thắm, tình bạn tha thiết, nhưng
từ nửa tháng về sau, vì quá nghèo; nên Trọng phải cho vợ đưa tiễn người bạn bằng
bài diễn văn mà Cương cho là hỗn láo. Buổi trưa hôm ấy, Trọng đi làm về nhưng
không dám về nhà, đứng bên bờ lau chờ bóng bạn khuất nẻo sau bãi lau thưa.Sự diễn tiến tâm lý, tình cảm theo đúng giác quan đi đôi với
thực tế, nghĩa là cuộc sống eo hẹp nên xử sự với nhau thêm nhẹ bớt phần thân, rồi
đi đến táng tận lương tâm. Lý Văn Sâm nhận xét tỉ mỷ, diễn đạt sâu sắc, ông rất
thành công trong loại tân truyện tả chân mới (néo–réalisme). Nhập đề, ông tả sự
mong chờ của người bạn (Trọng) đối với người bạn tri âm (Cương):“…Trong những buổi mát trời sau bữa cơm chiều, Trọng thường
giở cuốn sách dán nhiều hình chỉ cho các con thấy chân dung của một người đàn
ông rồi bảo:– Đây, bác Cương của bây đây.Ba đứa trẻ không biết bác Cương là người thế nào đối với
chúng, nhưng chúng cứ nghe ba chúng nhắc nhở tới hoài thì cũng đâm yêu người
đàn ông có đôi mắt sáng trong cuốn sách dán nhiều hình của ba chúng…”(trang
43).Đến những phút vợ Trọng phát cáu vì lẽ lúc nào chồng và con
cũng nhắc đến bác Cương, cũng có phút vợ Trọng phải thừa nhận con người trong ảnh
có một dung mạo hiên ngang. Chúng ta đọc:“…Tay này không phải vừa, đôi mắt trông sáng quắc như ông tướng
hát bội. Và chồng sung sướng về vợ mình thừa nhận có một người bạn khác thường.
Trọng cao hứng liên tưởng đến quá vãng :“…Mình nói đúng. Cương quả là tay chọc trời khuấy nước, lại
có tài đóng những vai anh hùng nghĩa khí trong những vở kịch.Tôi còn nhớ trong một vai Kinh Kha. Tôi lãnh vai Thái Tử Đan.
Sân khấu bầy một cảnh sông nước mênh mông. Ấy là bến Dịch Giang. Tôi đứng giữa
một đám tân khách, ráng hết gân cổ ngâm:“Nước sông Dịch cho dù không lạnhCũng rét lòng ta đến não nùng…” (Trúc Khanh)Đám tân khách và tôi đều mặc toàn áo trắng. Trong vai Kinh
Kha, anh Cương đã làm cho khán giả cảm động. Người tráng sĩ hắt chén rượu xuống
sông Dịch sang Tần… (Trang 46–47).Và người chồng bao giờ cũng mong mỏi người bạn ấy sẽ về ở với
mình. Tâm lý rất đúng, vọng một người bạn ở xa thì có thể chia ngọt sẻ bùi, thề
nguyện sống chết có nhau:“… Mình ơi! Giá bây giờ anh Cương có về thăm tôi và ở luôn
đây thì vui biết mấy. Chúng ta sẽ diễn lại cho mình xem cảnh Thái tử Đan tiễn
Kinh Kha qua sông Dịch Thuỷ…” (trang 48).Và cuối cùng, tiếng vọng của Trọng đã đưa đến ý muốn từng
mong đợi trong tiềm thức. Có người gõ cửa:“… Đêm ấy là một đêm cuối mùa mưa. Trọng đang cắn bút để tìm
một tứ mới cho bài thơ sắp thành hình bỗng nghe có tiếng đập cửa cấp bách. Trọng
vội vàng đứng lên, che bớt ánh đèn rồi cẩn thận hỏi:– Ai đó?Tiếng bên ngoài:– Tôi đây, Trọng.Nghe tiếng kêu đúng tên mình, Trọng toan mở cửa thì thấy vợ
chàng khoát tay ra hiệu bảo đừng. Trọng đang lưỡng lự thì tiếng nói bên ngoài lại
tiếp:– Trọng ơi! Cương đây, mở cửa mau lên…(trang 50)”.Kết quả của một sự mơ ước đã toại nguyện thì tình cảm con người
đối xử với nhau không còn tốt đẹp nữa. Mặt trái của tình thương yêu ấy, khi đã
chung đụng rồi thì:“…Vợ Trọng bắt đầu thấy khó chịu. Chị đã nói cảnh khổ của
mình cho hàng xóm nghe. Và sau cùng, nhân một đêm tâm sự, vợ Trọng thỏ thẻ bên
tai chồng:– Mình ơi. Em không phải là con đàn bà kém lịch sự. Nhưng anh
nghĩ mà coi, nhà không đủ ăn, lại chật hẹp… (trang 51)”Khi người đàn bà tức bực thì rất ít chịu đựng. Thường thường
đàn bà nông nổi được phán xét qua ca dao có câu: Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Khi đã không nói được uất ức của mình cho chồng con nghe và chưa hả thì sang
nhà hàng xóm giãi bày. Ông đã nhận xét rất tế nhị. Rồi đi đến kết quả cuối cùng
của sự yêu mến bạn là Trọng đành lánh mặt:"Không biết vợ chàng đã dàn xếp ra sao mà hồi gần trưa
Trọng đứng rình ở bên sông, thấy bóng Cương lủi thủi xuống đò...".Và tâm trạng đau khổ của Cương:“… Anh Trọng. Cương muốn nán lại chờ Trọng nói ít lời từ biệt.
Nhưng Cương liệu không thể nào ở lại được nên đành mang lỗi với Trọng vậy. Vợ
Trọng hỗn quá…”.Nhưng Cương chỉ sống vì Trọng thôi. Đàn bà kể gì (trang 52).Cương còn dành lại phong thư cho con Trọng: những người cháu
quý mến Cương. Cương ra đi vì lệnh ông không bằng công bà. Lá thư để lại vô
cùng cảm động:“… Cháu Nhân, Chú rất đau lòng khi phải từ giã cháu, Đây chú
hiết tất cả gia tài của chú dành cho cháu ăn bánh.Trưa nay, khi Nhân về thì chú đã đi xa rồi. Quả đất tròn thì
rồi chú cháu mình rồi sẽ gặp nhau…Cháu Nghĩa và cháu Tín,Đây chú biếu hai cháu quyển vần quốc ngữ. Hai cháu rán qua vần
ngược nhé. Sợ khi chú đi rồi, hai cháu sẽ bỏ học, nên chú phải mua cho hai cháu
cuốn vần. Thôi chú đìa chú đìa (trang 53).Lý Văn Sâm đưa người đọc cùng thưởng thức đoạn buồn như ngắm
chiều xuống trên bến sông cô liêu. Chẳng qua tất cả cũng chỉ vì nghèo:“… Chiều nào Trọng cũng dẫn bầy con ra đứng bờ sông để chờ
mong một người. Nhưng khách bến đò toàn khách lạ. Trọng nhìn mây khói cất lên ở
chân trời thở dài…”(trang 53).Thèm một ngọn đèn, cũng là cảnh sống bi đát của người văn nghệ
mà xưa kia Nguyễn Vỹ đã ta thán: Thi sĩ Việt Nam khổ như chó. Lời thơ không quá
đáng, người văn nghệ xây đắp một phần lớn cho xã hội tiến bộ, cho cách mệnh,
cho hòa bình, cho độc lập, tự do nhưng là người chịu đau khổ riêng nhiều nhất.
Thậm chí sốt sắng bênh vực quyền lợi cho giai cấp khác; nhưng chính giai tầng
mình bị bóc lột, rẻ rúng thì để mặc hoành hành…Trong các nhà văn miền Nam, Vũ Anh Khanh thường tả lý tưởng
vô vàn tốt đẹp của nhà văn nghệ, nghĩa là cái đẹp ở văn nghệ là lẽ dĩ nhiên rồi
(thượng tầng kiến thiết). Còn Lý Văn Sâm thiên về cảnh khổ não, chật vật của
văn nghệ (hạ tầng cơ sở).Trong Đời tàn trong ngõ hẹp, Lý Văn Sâm nêu lên một thực trạng
của kiếp tơ tằm như thế nào? Chết vì không có tiền mua thuốc khi ốm đau, tiền
bài có, nhưng chủ báo chưa chịu thanh toán. Thì đến Thèm một ngọn đèn Lý Văn
Sâm giãi bày hoàn cảnh đời sống văn nghệ qua nhiều khia cạnh sống thực người
văn nghệ.Huyền, từ giã khám đường vì lý tưởng độc lập chiến đấu khi được
giải phóng lại lo nghĩ về hoàn cảnh trắng tay bản thân. Nghèo khổ để rồi phải gạt
nước mắt cho vợ về quê sống, còn Huyền lang thang trên trên vỉa hè đô thị. Huyền
hứa với vợ con trong một thời gian ngắn đi làm sẽ cố gắng thuê một gian nhà lá ở
ngoại ô; sau đó đón vợ con lên. Mười bốn tháng trời sống nhà bạn, không đủ tiền
để mua lấy một ngọn đèn (cả nghĩa bóng và nghĩa đen).Chúng ta đọc đoạn kết của truyện. Đây là trong muôn vàn kiếp
sống người văn nghệ; như Maxime Gorki, đại văn hào Nga, cho rằng họ đã hoàn
thành một nửa cuộc cách mệnh thành công:“… Trong một bức thư gần đây, vợ chàng đã viết: “Mình ơi!
Mình ráng kiếm một cái nhà riêng cho mẹ con xuống ở. Mỗi lần đi thăm mình, tốn
kém tiền xe lắm mà có được ở lại đêm nào để nói tâm sự với mình đâu! Chợ búa
bây giờ ế lắm. Em bán buôn một ngày một thua lỗ. Thằng Hùng đau yếu phải chạy
thuốc từng ngày. Ngực em bây giờ đau lắm. Em sợ tránh không khỏi chứng ho như
chị em độ trước.Mình tệ quá! Làm gì mình không sắm nổi một ngọn đèn. Em đã
mua cho mình một cây đèn nhỏ, thắp ít hao dầu, đỡ tốn cho mình. Chừng em xuống
em sẽ đem xuống cho.Huyền nghe lòng đau buốt. Vợ chàng không hiểu nghĩa bóng của
câu “anh ao ước một ngọn đèn” trong thư chồng đã viết cho vợ.Chồng thương thân, lẩm nhẩm một mình:– Mười bốn tháng rồi, mình chưa sắm nổi một ngọn đèn…” (trang
91).Sau dẫy Trường sơn truyện dài, một truyện dài độc nhất ở hôm
qua và hôm nay của Lý Văn Sâm không chừng? Giai đoạn 1945–1950, Lý Văn Sâm viết
truyện dài không xuất sắc bằng truyện ngắn, hãy cùng tóm lược cốt truyện để hiểu
bố cục, đạo diễn tâm lý nhân vật của tác giả.Hai vợ chồng có đứa con trai 16 tuổi là Quý. Sống trong giai
đoạn trước đại chiến thứ hai ở lãnh thổ Việt, Nhật và Đồng Minh giao tranh; nên
hai vợ chồng Phú có ý định rời sang Lào, miền Paksé (Sau dẫy Trường Sơn). Từ
Sài Gòn đến Kratie, Cao Miên rồi đến Paksé. Quí có người bạn gái Ánh Mai (người
Lào ở Việt) cùng tuổi rất tương đồng.Phú có người bạn là Tùy ở Paksé nên lên đó nhờ và đồng thời
cũng là có phương tiện tuyển mộ nhân công (Phú làm cho Nhật) , Quý luôn luôn viết
thư cho Ánh Mai.Sống ở Paksé ít lâu, Phú có một người khách trú đến ngủ nhờ rồi
chết ở đó. Theo tiếng đồn đại, Tùy biết là Phú được người xấu số trao cho một bản
đồ giấu vàng. Tùy rủ Phú đến một nơi nguy hiểm và đẩy Phú xuống hố sâu. Mẹ Quý
buồn vì con qua đời và cũng qua đời. Một hôm, Quý nhận được thư, Quý phải về
Paksé vì Nhật sắp tiêu diệt bọn cùng cánh với họ để tránh tiết lộ bí mật. Trong
thư dặn đến nơi trú ẩn thì sẽ bắt gặp người thân. Quý gặp Phú bất ngờ. Sau bố
Phú kể cho nghe tại sao Phú không chết và Tùy đã nhầm tưởng bản đồ kia là kho
vàng nên trốn biệt tích. Kho ấy chỉ là kho súng của một người mua khí giới chôn
dấu, trước khi ông chết cho Phú ý muốn cảnh tỉnh Phú vào con đường tranh đấu chống
đế quốc. Sau Tùy chết. Quý nhận được thư của Mai báo tin. Và cả tin cha mẹ Quý
qua đời, hiện nay nàng đang ở trong một cơ quan cứu thương, mong một ngày kia
người yêu sẽ là chiến sĩ, để chính nàng được săn sóc. Cốt truyện bố cục không lỏng
lẻo và có mục đích chống đế quốc; nhưng tình tiết sắp đặt không ăn khớp với
nhau. Tỷ dụ những lá thư của Quý (16 tuổi) ở Paksé gửi cho Mai viết như một
chính trị gia lỗi lạc, tài ba, hay một sử gia thuộc lịch sử thế giới viết.
Chúng ta nghe:“… Giống người Thái vào đất Thục, sanh sản nhiều thêm rồi
xuôi giòng sông Mé–nam tràn xuống cõi bình nguyên lập nên nước Syam, đóng đô ở
Ayuthia, sau rời Bangkok.Một số người Thái khác lại theo những giòng sống Mã, sông Gấm,
sông Thao, sông Bờ đem nhau vào sau lưng dẫy Trường sơn lập quốc và đặt hiệu là
La Xang tức là Vạn Tượng (Vientaine) ngày nay.Tới thế kỷ XVII trong nước bị nội loạn kế nước Xiêm bị tiêu
diệt.Kinh đô Lan Xang bị người Xiêm tàn phá. Hoàng thành tàn đổ. Gần
mười ngày nóc nhà bị đốt cháy. Dân chúng lầm than. Nhưng kẻ ái quốc bị gông cùm
đày ải. Đàn bà thì bị làm món đồ chơi cho kẻ thắng trận…”(trang 44).Cho đến hết trang 45 (bàn về chính trị quốc tế Đồng minh) khối
Đại đông Á qua đến trang 46; vẫn một giọng của người lão luyện về chính trị và
thuộc sử, khảo cổ và lịch sử thế giới. Ở tuổi của Quí không thể thế được, và
xét rộng ra; nếu là trường hợp Quí vượt khỏi cuộc đời thường, liệt vào ngoại hạng,
sao tác giả không giới thiệu từ đầu. Đó là khuyết điểm. Khuyết điểm kế tiếp là
Quí (một đứa trẻ bình thường) viết thư cho người yêu không bao giờ làm như vậy,
ít bộc lộ sử tính, chính trị tính; mà chỉ nói tâm tình thì mới đúng. Hầu hết những
lá thư có tính cách khoe kiến trúc trong lá thư tình của cậu bé 16 tuổi ở những
trang 37, 38, 39, 40, 41, 42…Khuyết điểm nữa còn là một cố tật khó tránh trong truyện dài.
Không phải riêng Lý Văn Sâm mắc lỗi; đến cả nhà văn sáng giá về truyện dài như
Khái Hưng ở Đẹp cũng mắc tật cho Lan vô tư hiểu đời như một triết nhân sâu sắc
(25). Cốt truyện này mang tính cách mở rộng kiến thức cho người đọc; nhưng
không đúng chỗ cho sự phát ngôn qua nhân vật Quí. Ở Lý Văn Sâm truyện dài không
phân tích tâm lý vững và truyền cảm như truyện ngắn, có lẽ rằng hơi truyện ngắn
mới là sở trường của ông chăng?Kết luận – Sở dĩ qua phân tích Lý Văn Sâm và Vũ Anh Khanh, Thẩm
Thệ Hà vào chi tiết hơn trong nhóm; vì họ là nhà văn điển hình.Lý Văn Sâm, nhà văn của truyện ngắn xã hội và tâm tình vô
cùng đặc sắc. Ông còn tiến bộ rất nhiều trong thể truyện ngắn tâm lý, là nhà
văn có tài, phong phú tình cảm, văn chau chuốt, hào hoa phong nhã qua diễn tả ở
Kòn Trô và xã hội tính bộc lộ trong Ngoài Mưa Lạnh và trang nhã, buồn nhè nhẹ
trong Nắng bên kia làng.Sở trường Lý Văn Sâm không là truyện dài. Truyện dài hay, đòi
hỏi nhiều công phu và chính những người viết truyện dài hay là ở tiền chiến như
Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Đình Lạp… còn mắc nhiều khuyết
điểm không nhỏ (26).Tiết 5VŨ ANH KHANH(1926 – 1956)Tiểu Sử và Tác Phẩm.Vũ Anh Khanh tên thật là Vũ Văn Khánh (26) sinh năm 1926 ở
Phan Thiết.
Vào Nam hoạt động văn nghệ với Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà và
Dương Tử Giang.Tác phẩm chính đã xuất bản: Bên Kia Sông (truyện ngắn), Đầm Ô
Rô (truyện ngắn), Chiến sĩ Hành (thơ trường thiên), Sông Máu (truyện ngắn
1946), Ngũ Tử Tư (truyện ngắn 1950), Nửa Bồ Xương Khô (truyện dài tập I và II,
1950)v.v…Cuốn này bị cấm lưu hành.Hoàn Cảnh Xã Hội Ảnh Hưởng Đến Tác Phẩm.Tình trạng chính trị miền Nam, khác hẳn miền Bắc và Trung.
Chính phủ trị tự trị Nguyễn văn Thinh chỉ là bù nhìn ở thành. Còn hoạt động
kháng chiến rất tự do ở thành, ở thôn quê, rừng núi. Bảo vệ lấy tính mệnh để
cùng chiến đấu chống xâm lược. Cho nên tất cả đề tài viết đều hướng về kháng
chiến.Những tác phẩm của Vũ Anh Khanh phần nhiều (có thể là hầu hết)
là truyện ngắn; mà bất cứ truyện ngắn nào cũng bắt nguồn ở đề tài kháng chiến
và lột mặt trái xấu xa đô hội bị ngoại bang chiếm đóng. Vũ Anh Khanh khác Quốc Ấn
ở điểm: đề tài của Vũ Anh Khanh thoát, còn đề tài của Quốc Ấn đôi khi giả tạo
và nghệ thuật non tay. Đọc truyện của Quốc Ấn truyền cảm ít, trái với Vũ Anh
Khanh, dồi dào.Truyện dài Nửa Bồ Xương Khô (2 tập) của Vũ Anh Khanh có nhiều
tác dụng trong quần chúng, khiến chính quyền lúc ấy phải hạ lệnh cấm. Cũng như
Nguyễn Bảo Hóa bị cấm quyển sử Nam Bộ Chiến Sử hay Thiếu Sơn bị cấm lưu hành
tàng trữ cuốn Hai Cuộc cách mệnh 1789 và 1945 (Pháp và Việt Nam) Nhìn vào tác dụng
Nửa Bồ Xương Khô, chúng ta nhận thấy nghệ thuật văn không có gì đáng kể so với
truyện ngắn. Tác dụng chính trị ở truyện dài tất nhiên có ảnh hưởng lớn.Vũ Anh Khanh còn là nhà thơ. Trường thiên thơ CHIẾN SĨ HÀNH
hoặc một THA LA đăng trong tuyển tập thi ca THƠ MÙA GIẢI PHÓNG (1949) xác nhận
thêm vai trò thơ rất quan trọng trong đời văn Vũ Anh Khanh. Còn là thi sĩ có
bút pháp vững vàng, tứ thơ mới, nội dung mang nhiều hình tượng; có thể nói rằng
hai nhà thơ đáng kể nhất của miền Nam lúc bấy giờ là Vũ Anh Khanh và Hoàng Tố
Nguyên… Trong khi ấy, các thi sĩ khác như: Trúc Khanh, Bân Bân, Tố Phong, Thẩm
Thệ Hà, Khổng Dương... có làm thơ; nhưng thích dùng từ sáo mòn, cổ; dùng rượu
tiễn, gươm chuốt, trong cuộc tiễn đưa nào mà chả có ly bôi – Không hợp với hoàn
cảnh hiện tại bom đạn chiến tranh là hình tượng mới.Phân Tách Tác Phẩm Chính.Trước hết, chúng tôi mở xẻ tập SÔNG MÁU (1950). Sông Máu gồm:
Sông Máu, Trên Thái Bình Dương, Sài Gòn ơi, Tiếng Dịch Sông Ô, Cây đàn câm, Hai
lá thư chưa gửi, Mai Phi, Cầu chìm. Trong tập này chuyện đặc sắc nhất Sông Máu,
Cầu chìm và Trên Thái Bình Dương. Tập truyện ngắn này nói chung về nghệ thuật,
giữa các truyện không chênh lệch là bao, tác giả viết đều tay.
Trong Sông Máu, nhân vật chính cô lái đò và khách qua giang.
Huyền, cô lái xinh tươi có mẹ già. Gặp khách trẻ tuổi vào một buổi chiều trên bến
đò Phố Phủ. Khách ưa ngâm thơ và khách còn là chiến sĩ. Gặp duyên trên bến đò,
cô lái yêu thơ, còn chiến sĩ yêu cô lái. Thế rồi hai người yêu nhau. Chàng trai
còn vương thêm bệnh yêu tổ quốc nên bắt buộc dẹp tình yêu nhỏ bé để lên đường.
Có một đêm, mẹ của cô lái âu yếm nhìn con mình, nhìn khách thắm đượm duyên, cất
tiếng hỏi:
“… Ở khoang trước, mẹ Huyền trở mình bà còn thấy ánh đèn leo
lét sáng bà bảo:
– Hai con chưa đi ngủ ư? Khuya rồi đấy nhỉ?
Huyền dạ một tiếng rồi tắt đèn. Trong bóng tối lờ mờ, hai mái
đầu xanh son trẻ dựa vào nhau im lặng.
– Anh ngâm thơ Huyền nghe nhé.
Huyền gật đầu, ông khách giọng trầm ngâm:
Phong tiêu tiêu hề, dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất hề, bất phục hoàn.
– Buồn lắm anh ơi! Anh ngâm làm gì những vần thơ ấy cho lòng
em đau đớn”.
Tả cảnh trao duyên rất đẹp, nhưng có một điều các nhà văn miền
Nam trong thời kỳ đó mắc phải bệnh hay dùng điển cố và khuyết điểm này khiến độc
giả mất phần hứng thú, với chuyện nửa cổ, nửa kim.
Tả đoạn chia ly. Một buổi mai còn sương sớm, khách lên đường,
cô lái đò ở lại bến sông. Ông viết với giọng say sưa, quyến rũ:
“… Sáng hôm sau, trời còn lờ mờ sương, Huyền đã vội nhổ sào,
chống đò sang ngang tiễn đưa ông khách về phố Phủ. Đến bến, Huyền bịn rịn cầm
tay khách, mắt mờ lệ trắng nhìn trời, lâm râm khấn:
– Lạy Giời cho chóng bình yên mà trở về với thiếp.
Ông khách vội quay đi, quả quyết giựt tay lại rồi bước nhanh
lên như trốn chạy.
Huyền nghẹn ngào đứng im nhìn theo. Mẹ Huyền lẩy bẩy đi lại gần
Huyền để tay lên vai Huyền, hỏi nhỏ:
– Nó đi bao giờ thì nó về?
Huyền chùi nước mắt nhìn mẹ.
– Không về nữa mẹ ơi!
Nói xong thì Huyền khóc, những giọt nước mắt làm xao xuyến
luôn tấm lòng già. Mẹ Huyền chợt hiểu càng sụt sùi…”
Khách bị xử tử, Vũ Anh Khanh đưa tới kết luận sầu thảm để
kích thích lòng yêu nước của đồng bào đang chống lại ách thống trị. Vũ Anh
Khanh nhấn mạnh "Vì hôm nay có cả cụ lớn Tuần Vũ và qua Công sứ đại thần về
chủ tọa". Vũ Anh Khanh không đưa chủ quan của ông vào, nhưng chính sự
khách quan trong chủ quan định hướng cũng đủ kích thích độc giả yêu nước. Vũ
Anh Khanh như chịu ảnh hưởng Nguyễn Tuân, một Nguyễn Tuân tiền chiến trong tập
truyện Vang bóng một thời (27) có hề nguyền rủa bọn thống trị đâu? Vẫn khách quan
nhận định, nhưng lối viết tế nhị châm biếm, mai mỉa ấy thì người đọc hiểu tác
giả khích động bằng giọng văn căm hờn đưa đến lật đổ chế độ.
Người khách yêu nước bị xử tử. Cô lái đò buồn man mác. Huyền
vẫn đưa khách sang sông. Rồi một đêm Huyền mơ thấy khách về gọi Huyền để sang
đò. Thì bên kia phố Phủ, gần bãi pháp trường có bóng một người xách đầu mình tới
bến. Huyền giợn người… Đoạn văn này Vũ Anh Khanh đã truyền cảm độc giả:
“… Một đêm mưa lớn, Huyền ra cột lại sợi giây neo cho chắc
thuyền. Bỗng Huyền giật mình, giữa một đêm mưa khuya bão mà có người gọi đò:
– Huyền ơi, cho anh sang đò.
Bên kia bờ phố Phủ, ngày ở bãi pháp trường thấy lờ mờ một
bóng người mặc áo chàm xanh, một tay xách đầu mình, một tay ngoắc nàng.
Huyền giợn cả người, đứng bơ vơ nhìn giòng sông cuộn sóng, tự
nhiên Huyền đưa tay lên giụi mắt. Lạ quá! Nước sông khi không đổi sắc đỏ hồng
như máu một sắc máu quen thuộc của một người…”
Đoạn kết, cô lái đò bỏ khoang thuyền, bỏ khách sang sông, đi
mất. Không biết cô lái đi đâu? Đi trả thù cho người yêu đã bị bọn thống trị xử
tử hay bỏ trốn để quên cảnh xưa? Kết luận ở thể hoài nghi, một Vũ Anh Khanh có
lập ý cao viết truyện như Anatole France, Hoffmann, Edgar Poë, Khái Hưng…:
“… Thời gian qua…
Ba năm rồi, ly loạn, con thuyền đưa khách vẫn neo chỗ cũ
nhưng không ai biết Huyền bỏ đi đâu?
Huyền hẳn không về phố Phủ mà chắc là đi qua phía cánh đồng
dâu tằm, tìm đường về bến Ké lần vào dẫy núi Tà–Khoun chằng chịt rễ cây già.
Con sông tỉnh Quảng giờ hết trong mà lúc nào dòng nước cũng đỏ
ngàu ngàu. Người Phố Phủ đó ngẩn ngơ không hiểu vì sao?...”
Đến truyện Trên Thái Bình Dương lối viết theo dự tượng, đoán ở
hậu bán thế kỷ hai mươi (1960) sẽ có trận thế giới chiến tranh thứ Ba. Khói lửa
bao trùm từ Âu sang Á; Tây Âu đến Đông Âu, Bắc đến Nam Cực. Phía bên Pháp có những
dũng sĩ Việt, bên Việt có những dũng sĩ Pháp.
Truyện kể dưới đây xảy ra trên Thái Bình Dương. Cottier và
Vương Dung được lệnh lái thủy phi đoàn ĐOÀN KẾT thám thính tàu nghịch. Cottier
lái chiếc phi cơ đậu trên tiềm thủy đỉnh, sau khi đã giao tranh với địch.
Cottier và Vương Dung ôm nhau nhìn bờ cõi Việt Nam chờ tàu tiếp
viện lương thực. Nhưng tới khi họ gần chết đói, Cottier nhớ đến Catherine,
Vương Dung nghĩ đến người tình của anh. Đoạn tả mối tình giữa Dung và Tấn, Dung
kể cho bạn nghe:
“… Khi còn đi học, tôi đã yêu thương một cô gái nhỏ hiền lành
làm thư ký cho mẹ tôi để biên sổ sách và bán hàng. Nàng mồ côi cha mẹ, tôi con
nhà giàu, nàng ngây thơ tin tưởng ở nơi tôi bởi những lời hò hẹn vu vơ không có
gì đảm bảo.
Khi ra trường, sẵn có khiếu văn chương, tôi đeo đuổi nghề
văn. Tiếng tăm tôi lừng lẫy trong nước một thời. Tôi lén lút đem nàng về ở tại
tại một gian nhà ngoại ô. Nàng khuyến khích tôi viết, nàng chăm nom sức khỏe
cho tôi để đến một ngày, tôi nghe cha mẹ mà phản nàng.
Người vợ mới của tôi đẹp hơn nàng, học giỏi hơn nàng về nhất
là giàu hơn nàng nhưng lại thua nàng ở chỗ không phải yêu tôi mà lấy tôi.
Hôm tôi nói thật tất cả cho nàng hay và tặng nàng một số tiền
lớn, nàng im lặng ngồi nghe và im lặng đem sách vở, quần áo tôi mà xếp vào va
ly tiễn tôi đi lấy vợ.
Nàng có một vẻ lạnh lùng gần như không cần gì cả, nhưng tôi
biết nàng đau khổ vô cùng. Chúng tôi xa nhau, một hôm tôi nhận được do nhà giây
thép, số tiền của tôi tặng nàng và một lá thư vỏn vẹn mấy chữ: “Tình yêu của
người con gái này không thể trả bằng tiền. Tôi xin gởi trả lại cho ông để ông tặng
lại người khác”.
Thế rồi năm 1945 trận chiến tranh huynh đệ, giữa hai nước Việt–
Pháp bùng nổ. Tôi bỏ văn theo võ, sống với anh em chiến sĩ trong những ngày liều
lĩnh nhất của quê hương. Vợ tôi đi lấy chồng khác, còn nàng, tôi không biết
nàng sống ở phương trời nào?
Cottier bỗng rú mừng:
– Dung ơi có tàu đằng xa kìa.
Hai người chăm chú nhìn Dung hốt hoảng:
– Tàu địch đúng rồi tàu địch! Chúng mình chết mất! Một loạt
súng bắn tới, chiếc thủy phi đoàn trúng đạn chìm xuống từ từ. Dung và Cottier
nhẩy xuống biển bập bềnh theo lượng sóng.
– Cottier liệu có lội được không?
– Yếu sức quá! Vĩnh biệt Catherine!
Chàng ngay chân mặc dòng nước cuốn đi, Dung trườn tới kéo bạn
nhưng mắt chàng cũng hoa lên. Một viên đạn trúng ngay vào đùi. Dung hét
to..."(trang 22,23).
Diễn tả sự trung thành một người đàn bà Việt Nam giàu lòng hy
sinh. Chính điều đó nói lên đặc tính người đàn bà ta để thế giới nhận định về
luân lý cổ truyền và nếp sống trầm mặc của người Á Đông sẵn căn bản đạo đức vững
vàng, bao giờ cũng sẵn lòng tha thứ kẻ không biết giác ngộ hôm nay; sau chính
nghĩa sẽ cải tà vi thiện ở mai hậu.
Còn Dung tưởng mình đã chết. Nhưng Dung đã gặp lại Tần, người
vợ ngày xưa ấy nay trở thành y tá. Sau khi được mổ xong, Dung tưởng gặp Tần
trong ảo mộng. Dung hỏi Tần để tang ai, người thiếu phụ trả lời để tang Dung bằng
mắt. Bồi hồi cảm động:
“… Em có giận anh không?
Tần không trả lời, nàng nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời cao và
xanh, gió dịu hiền thổi rung rinh những cành hoa lựu đỏ tươi như màu máu thắm.
Đôi chim sẻ miùa đang mớm mồi cho nhau trên cành bàng.
Im lặng.
Bỗng xa xa một điệu khúc tuyệt vời….”
Đến Cầu Chìm, trình bày cuộc đấu tranh giữa tình yêu cá nhân
và tình yêu đất nước. Chế Cầu, người Chàm là họa sĩ. Khi nhà Trần đem quân vào
đánh phá thành Đồ Bàn giết vua Chàm và bắt nàng Mỹ Ê về đất Việt thì Chế Cầu được
lệnh nhận nhiệm vụ hạ sát vua nhà Trần.
Ra đến Thăng Long sống bằng nghề vẽ. Họ yêu nhau. Chế Cầu
quên tình đất nước mà say đắm nguyệt hoa. Bỗng một phút tỉnh ngộ, nhờ lời thề.
Chế Cầu sách gươm vào để giết vua Trần, nhưng khi vừa giết được võ quan hầu vua
thì sa lưới: Và đây là đoạn kết:
“… Những ngày cuối cùng trong ngục, Chế Cầu được phép tự
trích máu của mình pha màu để vẽ một bức tranh. Chàng dùng hết tài lực, đem hết
tâm trí tạo một tác phẩm cuối cùng của mình để gửi lại người yêu tạ tội chàng
đã giết cha nàng…”
Ông muốn cảnh tỉnh thanh niên Việt giữa thời loạn khi tổ quốc
lâm nguy, giặc cướp nước mình thì chớ bao giờ quên bổn phận. Đó cũng là hình thức
kích thích lòng yêu nước để thanh niên khỏi sa vào đường bội phản. Bội phản tổ
quốc bao giờ cũng đắc tội hơn hết.
Đầm Ô Rô (1949) tập truyện ngắn gồm những chuyện: Miếng đỉnh
chung, Hối tắc, Đầm Ô Rô, Ma Thiên Lãnh, Khổ nhục kế, Tóc Thề...
Trong tập truyện ngắn này, ông chia ra làm hai đề tài: kháng
chiến và trong thành. Sự hy sinh ở ngoài chiến địa, sự sa đọa trong thành; tuy
hai là một đều lên án một đối tượng và đề cao một đối tượng chính nghĩa.
Miếng đỉnh chung cũng thuộc vào loại đề tài ấy. Gồm ba nhân vật:
Thơ, Hoàng và Phổ. Thơ là vợ Hoàng. Phổ là người tình cũ của Thơ đi kháng chiến.
Hoàng sống với Thơ ở thành, nhưng Thơ rất khinh miếng đỉnh chung. Nhưng một buổi
Hoàng đưa cho vợ xem lá thư của Phổ. Phổ nhờ Hoàng chăm nom Thơ vì chàng sắp chết.
Từ đó Thơ cảm động, ngờ oan chồng. Thì ra Hoàng tốt cũng như Phổ.
Truyện trên viết thoát, tuy nhiên một vài chỗ sắp đặt chưa vững
(đoạn Thơ nghi chồng chạy theo miếng đỉnh chung hơi lộn xộn). Và chính tiêu đề
chuyện cũng không đặt đúng trọng tâm. Cốt truyện không là thế, chắc chắn rằng
khi ông viết câu chuyện này mục đích đả kích nhân vật Hoàng. Nhưng cuối cùng
ông cho Hoàng thành người yêu nước. Chính thế, câu truyện lủng củng, sắp đặt luộm
thuộm.
Hớt tóc, truyện xảy ra trong phòng đánh tài sỉu trong thành.
Huyền bị thua bạc rồi ra sa ngã, bán rẻ nhan sắc để có tiền đánh bạc. Tả đoạn
Huyền thua bạc, say sưa nhìn người khác đánh thèm thuồng. Quả Vũ Anh Khanh đã vững
tay nắm được tâm lý nhân vật. (đoạn nói về những cặp đùi đàn ông láu cá):
“… Trời bức lắm. Mặc đầu trên trần nhà có quạt máy, Huyền vẫn
thấy nóng lạ thường. Hơi nóng của những người đàn ông đứng sát vào người Huyền
làm nàng khó chịu. Nàng khẽ sửa lại cách đứng cho bớt mỏi chân và sực nhớ một cảm
giác lạ tự nhiên làm cho nàng đỏ mặt, nàng áp mình vào bàn để tránh những cặp
đùi láu cá vẩn vơ cọ mãi vào đùi nàng.
… Hết tiền nên Huyền không đánh nữa, tuy vậy nàng vẫn đứng
yên một chỗ để xem người khác đánh cho đỡ nghiện…”(trang 17).
Thế rồi, một ông khách đứng bên Huyền được bạc. Sau đó ông
khách ra về, khiến Huyền nhìn theo. Huyền chạy ra, khi khách hỏi đến. Và hai
người cùng đi trên đường khuya. Khách mời Huyền đi ăn cháo, tuy đói nhưng Huyền
không dám nhận. Rồi ý nghĩ không đẹp, Huyền giằng tay khách để chạy. Nhưng
khách đáp lại rất tâm lý: sẽ hoàn lại số tiền nàng thua. Huyền im lặng. Vũ Anh
Khanh nắm vững về tâm lý cũng như về nhân vật của ông lần đầu tiên định bước
vào sa ngã:
“… Đường về khuya gần giờ giới nghiêm nên vắng bóng người qua
lại. Một cảnh tượng lạnh lẽo, hiu quạnh cho hai kẻ lạ lùng cùng đi sát vào
nhau.
Chúng mình đi như một cặp vợ chồng.
Nghe khách nói thế Huyền bỗng rùng mình lo sợ. Lần đầu tiên
trong đời người con gái, nàng đã đi cặp với một người đàn ông xa lạ lúc đêm
khuya, giữa một thành phố lắm điều giả trá này. Một ý nghĩ chua xót đến trong đầu,
tự nhiên Huyền chùn chân chậm bước và muốn chạy trở lại. Khách kéo tay nàng
kinh ngạc:
– Kìa Huyền tính đi đâu?
Giọng nói ấm áp, dịu dàng, có vẻ tử tế của khách làm cho nàng
hơi yên lòng. Nàng trả lời trong hơi thở gấp:
– Em…em sợ…ông buông tay em ra.
Trong bóng tối, Huyền thấy ông khách nhếch mép cười thương hại.
Nàng thấy tủi nhục nghẹn ngào:
– Em hiểu ông muốn gì rồi. Nhưng ông lầm vì em không phải làm
nghề này? (trang 19).
Mạt sát sự sa đọa con người dân tỉnh thành bị trụy lạc cám dỗ,
bị tiền chi phối lương tri; tiếp theo, thắt nút:
“… Hai người đi vào nhà ngủ Tàu. Ánh đèn xanh làm cho Huyền
thấy ngượng. Lần đầu tiên, vì tiền nàng bước vào ngưỡng cửa này. Thế là hết.
Nàng bẽn lẽn cúi đầu để tránh những cặp mắt tò mò của mấy người bồi phòng cứ
chăm bẳm nhìn nàng. Khách nói một thôi tiếng Tàu với bồi, rồi họ mỉm cười ý nhị,
đưa hai người vào một căn phòng rộng đẹp.
Huyền bằng lòng gian phòng này không?
Huyền đứng im, khách âu yếm:
– Em cởi áo cho mát.
Một cái gì chặn lên cổ. Huyền thấy nghẹn lời. Nàng nhìn quanh
phòng, nhìn khách, nhìn bàn ghế, nhìn bốn vách tường vôi im lặng, nhìn chiếc
giường lót nệm trắng (màu trắng của trinh bạch). Một ý nghĩ chua xót mỉa mai chốc
nữa mảnh vải trắng sẽ hoen ố, cũng như đời con gái của nàng…sẽ bỗng dưng… Huyền
tối sầm mặt lại rồi không cầm được lòng nữa, nàng gục đầu vò vách khóc nức nỡ…(trang
20).
Mối thắt nút ấy có hai tác dụng: một:) hấp dẫn người đọc;
hai: làm nổi bật tâm trạng một nhân vật của tác giả người khác thường. Tác giả
muốn diễn tả tâm trạng giắt người tình đến đích (rủ được thiếu nữ đến phòng ngủ)
thì tất nhiên không thể nào vượt được mục đích (ý nghĩa giao hợp). Nhưng đối với
nhân vật có ý thức của Vũ Anh Khanh là chiến sĩ kháng chiến nên đoạn cởi nút của
ông lý tưởng, ở chỗ:
“… Giờ tội lỗi. Đèn phòng ngoài đã tắt. Khách với tay sửa lại
cái chao đèn bằng lụa xanh cho khỏi chói mắt Huyền. Nàng nằm yên, mở mắt thao
láo nhìn khách chờ đợi.
Khách im lặng, chàng đã châm hai điếu thuốc rồi, chàng lấy
thêm một điếu nữa, thỉnh thoảng cúi đầu xuống thành giường, mãi mãi chàng mới
chậm rãi nói sau tiếng thở dài:
– Anh xin lỗi Huyền tự nãy giờ anh đã đóng kịch với Huyền và
đã cố ý dùng những câu không được nhã để cho Huyền phải tủi lòng.
Khách uống một ngụm nước, buồn rầu nói tiếp:
– Đêm đêm, anh đã gặp, từ những sòng bạc công khai đi ra những
chàng trai điếm đàng và những con gái trẻ đẹp. Và đêm đêm, trong những gian
phòng kín đáo giữa châu thành có những người con gái sượng sùng neo thuyền đậu
lại một bến Tầm Dương cùng kẻ đàn ông xa lạ đánh bản đàn lỗi nhịp, xót xa đau.
Những người con gái trẻ, dại khờ sau khi thua, bạc đã liều lĩnh nghĩ rằng:
“Mình bậy bạ một đêm ai mà biết được! Ấy thế rồi một lần, rồi hai lần họ thành
ra một bầy đĩ thập thành, để cho đời mình lăn mãi xuống dốc trụy lạc, không bao
giờ trở lại được nữa! Trong số ấy có những bà phong lưu, đài các, những người
trẻ tuổi cao sang, những cô gái quê mùa, nhưng chị bán hàng rong chợ búa…?
(trang 21–22)”.
Kết thúc câu chuyện, anh chàng đó không ngủ với Huyền, vì lẽ
chàng là một trong những kẻ mới về thành, lại sắp nhận công tác (kháng chiến).
Trình bầy cảnh sa đọa của thành thị như vậy, Vũ Anh Khanh đã thành công: lột mặt
nạ bỉ ổi bọn thực dân đọa lạc tinh thần người dân thành thị bằng tiền, tổ chức
sòng bạc, khuyến khích mãi dâm. Có như thế thì người dân mới không bao giờ nghĩ
đến chống đối chúng. Nhưng kết luận:
“… Nàng nghiêng mình âu yếm nhìn khách đang ngáy ròn đều trên
bốn chiếc ghế lỏng chỏng ở một góc phòng…”(trang 24)
Đoạn này có nhược điểm; đành rằng người lính kháng chiến lý
kia tưởng đã cứu vớt một người ra khỏi trụy lạc, nhưng tác dụng vẫn chỉ là cứu
một người; còn bao nhiêu người khác vẫn sa vào vòng trụy lạc. Chữa nhà cháy chỉ
cần mang một đồ vật ra khỏi nhà lửa, thì hẳn là tác dụng không đáng kể là bao!
Và tác dụng một người giác ngộ hẳn không phải là không hay; nhưng ý định của Vũ
Anh Khanh là trình bày một xã hội đi xuống; chẳng cần phải tạo ra một nhân vật
kịch cỡm như vị khách đó, vì thiết tưởng rằng cách cấu kết nhân vật lý tưởng,
hóa ra một nhân vật lý tưởng đứt giây trên trời rơi xuống. Giá mà khách không
được bạc thì liệu tư tưởng cứu Huyền có hay không?
Đầm Ô Rô tiêu đề một truyện ngắn đặt cho cuốn truyện. Nhân vật
chính: Hai chị em Quý và Nhân và hai thanh niên chống đế quốc. Trong khi họ đi
tìm con gà mái bị lạc, Quý và Nhân bắt gặp hai chiến sĩ có một người bị thương.
Một chiến sĩ nhận rằng họ đã chót bắt gà mái của gia đình Quý mổ làm thịt cho bạn
ăn. Quý cảm động thương xót. Cả hai về nhà nói dối mẹ không tìm thấy gà, dấu diếm
giúp đỡ chiến sĩ nồng hậu. Một chiến sĩ bị thương quá nặng chết, một chiến sĩ
khác lưu lại trong giây lát để nhận sự tiễn đưa của một thiếu nữ ràng buộc với
quê hương. Và tình yêu của họ bộc phát quá sớm; và phút lên đường chiến sĩ
không thể nán dừng. Vũ Anh Khanh tả truyện này rất cảm động và thành công trong
việc phân tích tâm lý nhân vật cũng như kết cấu:
“… Quê hương này còn ly loạn, biết bao giờ tôi, và cô, em
Nhân lại gặp nhau? Bây giờ tôi phải lên đường lo cho trong sứ mạng. Ngày mai,
ngày mốt, dù hay, hay là dở, dù có thế nào tôi vẫn nhớ buổi tiễn đưa não lòng
này;
Quý cố cầm nước mắt gượng cười:
– Chúc đầu năm nay may mắn.
– Chúc cô và em Nhân đầu năm nay may mắn.
Ông khách cúi đầu nhìn nấm hở bùi ngùi
– Chưa chắc tôi trở lại đây lần thứ hai thăm cô và em Nhân,
thăm mộ bạn tôi nhờ cô, em Nhân.
Chàng nghẹn lời, bóp chặt tay Quý một lần nữa rồi vội vã đi
mau như muốn tránh một lần làm yếu chí người đi.
Bóng ông khách đã khuất mờ trong sương, Quý có cảm tưởng rằng
người ấy một ra đi còn có bao giờ trở lại.
Nàng hắt hiu nhìn vào trong xóm vắng và thẫn thờ nghĩ đến
ngày mai tang tóc lạnh lùng.
Rồi không thể cầm được lòng, Quý ngồi bịch xuống đất, gục đầu
khóc…(trang 36)
Bên kia sông gồm những truyện ngắn: Ly bôi, Ngày xưa, Đèn Sài
Gòn. Một đêm Trăng, Tráng khách, Cười mưa tan, Bát canh rau má, Người khách viễn
phương, Chiều hôm qua, Thư của mẹ tôi...Những truyện ngắn này đều khai thác bối
cảnh đề cao kháng chiến.
Đọc Ly bôi, nhân vật chính Năm Đen làm chúng ta nhớ lại truyện
anh chàng Cai Xanh với hộp thuốc lào của Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời.
Vũ Anh Khanh chịu ảnh hưởng Nguyễn Tuân rất sâu sắc. Ngũ Tử Tư, gồm những truyện
ngắn: Con trâu giấy, Theo khói nhang rằm, Nhạc Thần, Phổ Xiếu Hùng lìn xì, Qua
sông, Thần vòng. Một truyện đặc sắc là Theo khói nhang rằm. Tác giả tả mâu thuẫn
giữa anh vợ và em rể, để rồi vì lập trường chính trị em rể bị giết. Thuận là em
rể, một chiến sĩ vào tù ra tù vì chiến đấu cho độc lập. Nhưng hai người anh là
tay sai cho phe thống trị nên lừa đem giết người em rể. Và mỗi lần có nhang
khói là bóng ma lẻng về thăm vợ. Tác giả tả rất tế nhị, không siêu thực như
Liêu trai hoặc mê hoặc đồng bào qua bóng dáng ma mãnh. Tác giả phải dùng một
hình thức: nửa thực, nửa mộng; diễn tả để che mắt bọn đại diện thống trị kiểm
duyệt. Chúng tôi cho trích dẫn đoạn văn vô cùng đặc sắc mà Vũ Anh Khanh tả hồn
ma nói chuyện với nhau, một hồn sắp được về thăm gia đình:
“… Tiếng gà gáy bắt đầu đua nhau gáy điểm canh. Hồn Thuận nói
với bạn:
Gần sáng rồi, ta phải về. Anh chịu khó tạt qua nhà vợ tôi để
xem mặt cháu.
Dọc đường trăng sáng, hai bóng ma thẫn thờ nhìn những đưa bé
ăn mày nằm ngủ cạnh vỉa hè, dưới manh chiếu rách, hồn vẩn vơ buồn nhẹ.
Gió khuya hiu hắt lạnh hơi sương. Trên từng cao giữa vời, con
chim đêm hấp háy bay đi tìm mồi. Hồn Thuận đi sát vào bạn thủ thỉ:
– Cháu dễ thương lắm anh ạ. Tôi mong nó sau này nó giống tôi.
Trong lá tâm thư viết bằng máu tôi dặn vợ tôi sau này ráng dạy con làm sao để
nó đừng ham tiền tài, danh vọng. Những thứ ấy chỉ hạ thấp nhân cách con người
xuống thôi.
– Chị ấy hiện giờ làm gì?
Nghe bạn hỏi, Thuận bỗng dưng thấy xót xa:
– Vợ tôi lâm vào cảnh túng. Giá nói đi làm công nhật cho một
hãng nào đây cũng được. Nhưng nhà tôi nó sợ, nó ngại.
Vả lại thiên hạ thấy thế làm sao chẳng đồn rằng vợ tôi là gái
nạ dòng không này thì nọ. Hai anh vợ tôi thì ruồng rẫy đứa em gái chót làm vợ một
người thù, hơn nữa họ ghét thằng con tôi. Đối với cử chỉ hai anh mình, lòng tự
ái của bà mẹ biết thương con tôi như vợ tôi, nó không bao giờ nhờ vả, thăm viết
dầu là anh ruột.
Trước cảnh gà cùng chuồng thù nhau, mẹ vợ tôi khóc mãi, người
thương con gái cháu ngoại, nhưng lại nể hai con trai. Làm thế nào?
Hồn Thuận reo lên, đưa tay chỉ một gian nhà lá leo lét ánh
đèn vui vẻ.
– Nhà vợ tôi đấy, mời anh vào chơi.
Dừng chân trên nhịp cầu tre chân khỉ bắc ngang lạch con đầy
bèo tím, hồn Thuận thở dài nhìn lại cảnh xưa.
Bởi đây đìu hiu, nghèo nàn quá! Cách vài trăm thước, đám nhà
lá bị đốt còn đang lên mùi lá khét như mùi đất ẩm gặp cơn mưa ngày. Những con ễnh
ương kêu dưới ruộng nghe vừa buồn vừa lạnh.
Vào nhà, hồn Thuận rón rén lại hôn lên tay vợ, đưa tay xoa
trán con. Thằng bé kháu khỉnh nằm nghiêng rút đầu vào vú mẹ.
Hồn ma thứ hai tằn mằn đứng nhìn tấm ảnh bán thân của mình để
trên bàn thờ. Qua làng khói nhang ngun ngút, hồn ma mỉm cười với ảnh bạn.
Vợ Thuận trở mình, chiếc giường tre cót két rung. Giọng nàng ảo
não vang giữa bầu trời khuya vắng. Thằng bé nín, nàng ẵm con lại bàn thờ chồng
thay lại tuần nhang rồi nức nở khóc một mình” (trang 49).
Đọc truyện trên của Vũ Anh Khanh, cảm động vì hồn một nhà văn
về thăm nhà; trước cảnh đói kém thiếu thốn của vợ U Linh(28). Và Vũ Anh Khanh
không bao giờ quên cứu cánh của tổ quốc là độc lập, nên chẳng bao giờ quên
phương tiện chính: đề cao cách mệnh, chiến sĩ.
Sự rung động sâu sa như tác giả kể chuyện lại (truyện thực)
căm thù thương xót cho hai đối tượng, tác dụng sâu rộng được Vũ Anh Khanh khai
thác triệt để, đề cao chính nghĩa dân tộc kháng chiến 1945. Chiến Sĩ Hành, tập
thơ trường thiên của Vũ Anh Khanh, đề cao người chiến yêu nước, tương tự đề tài
viết trong tiểu thuyết. Kỹ thuật thơ Vũ Anh Khanh cao, nội dung truyền cảm,
chính nghĩa sẵn có; cho nên Vũ Anh Khanh và Hoàng Tố Nguyên là nhà thơ điển
hình bậc nhất ở miền Nam thời đó.
Tuy nhiên Chiến Sĩ Hành chưa hẳn làm Vũ Anh Khanh nổi bật, mà
khả năng thơ Vũ Anh Khanh nổi bật lại là Tha La (Thơ Mùa Giải Phóng, 1949).
Đường ra biên ải kém xa so với Tha La (một thi bản đẹp gần
như toàn diện).
Lời thơ bình dị trong một nội dung phong phú: rừng xanh, xóm
đạo, già trẻ gái trai bừng bừng khuyến khích kẻ lên đường trả nợ núi sông.
Kết Luận.
Vũ Anh Khanh còn là nhà thơ có tài. Nhưng về văn thì Vũ Anh
Khanh không trội bằng Lý Văn Sâm. Bình diện văn miền Nam trong giai đoạn ấy, Vũ
Anh Khanh cũng là nhà văn có tài, sau Lý Văn Sâm. Vũ Anh Khanh gây được một âm
hưởng rộng lớn, thức tỉnh lòng yêu nước người dân Việt sau trăm năm bị Tây thống
trị. Về thơ, Vũ Anh Khanh có phần trội hơn (nói chung). Thơ mang một hình tượng
mới, lồng trong kỹ thuật vững vàng, không sao chép, không dùng điển cố như các
nhà thơ cùng thời.
THA LA
– Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh, rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng
Khói đùn quanh nóc tranh
Gió đùn quanh mây trắng
Và lửa loạn xây thành.
Viễn khách ơi! Hãy ngừng chân cho hỏi
Nắng hạ vàng hoa gạo rưng rưng
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng
Có trái ngọt, cây lành im bóng lá
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ
Ngày êm đềm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây, khách hỡi, có ai chờ?
Ai đưa đón?
– Xin thưa,
Tôi lạc bước.
Không là duyên, không là bèo kiếp trước
Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng
Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng
Tha La hỏi: – Khách buồn nơi đây vắng!
– Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn
Khách nhẹ cười nghe gió nổi từng cơn
Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít
Bỗng đâu đây vắng véo von tiếng địch
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa trưa, ngây ngất buồn xưa xưa
Lòng viễn khách bỗng tê tái lạnh
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh
– Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng
Đang đón mây xa, khách bỗng ngại ngần
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rinh râu trắng
Nhẹ bảo chàng: Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù
Người nước Việt ra đi vì nước Việt
Tha La vắng vì Tha La đã biết
Thương giống nòi, au đất lầm than
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng
Ngày hiu quạnh. Ờ…Ơ… Hơ… tiếng hát
Buồn như gió lướt, lành đài đôi khúc nhạc
Tiếng hát rằng: Tha La giận mùa thu
Tha La hận quốc thù
Tha la hờn quốc biến
Tha La buồn tiếng kiếm
Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh.
Ờ… Ơ… Hơ. Có một đám chiên lành
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy
Quỳ cạnh Chúa đám chiên lành run rẩy
– Lạy Đức Thánh Cha
Lạy Đức Thánh Mẹ
Lạy Đức Thánh Thần
Chúng con xin về cõi tục để làm dân
Rồi... cởi áo trả tu
Rồi... xếp kinh cầu nguyện
Rồi... nhẹ bước trở về trần
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ
Trời Tha La vân vũ đám mây tang
Vui gì đâu mà tâm sự
Buồn làm chi cho bẽ bàng
Ờ… ơ… hơ… ơ…hơ…tiếng hát
Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đó
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay
Giờ khách đi! Tha La nhắn câu này:
Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tha La dưng ngàn hoa gạo
Và suối mát rừng xanh
Xem đám chiên hiền thương áo trắng
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh
Trích Thơ Mùa Giải Phóng
VŨ ANH KHANH
Tiết 6
KẾT LUẬN VỀ NHÓM LÝ VĂN SÂM
Trước khi kết luận về nhóm Lý Văn Sâm, xin nhắc lại một lần nữa,
sở dĩ viết Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà kỹ lưỡng hơn cả, vì những nhà
văn này điển hình cho nhóm. Cũng như Tự Lực văn đoàn, nói về văn điển hình là
Nhất Linh, Khái Hưng. Về thơ: Thế Lữ, Xuân Diệu… hoặc Hàn Thuyên; văn là: Nguyễn
Tuân, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Đức Quỳnh, Trương-Tửu-Nguyễn-Bách Khoa. Chúng tôi
không thể phê bình tất cả các nhà văn kỹ lưỡng trong cùng một lúc. Và như thế,
theo chúng tôi, khó mà tóm tổng quát vấn đề nhìn viễn cảnh đâu là chính yếu nhất.
Nói thế, không có nghĩa đả kích lối viết phê bình của ông Vũ Ngọc Phan (Nhà văn
học hiện đại).
Nhóm Lý Văn Sâm, gây được tiếng vang trong giai đoạn kháng
chiến bổ sung khi Pháp định tâm cướp đất miền Nam, làm bàn đạp phủ lên xứ sở Việt
Nam chúng ta thêm lần Tây thuộc thứ hai.
Hình tượng thời thế trong văn chương, tâm trạng người yêu nước
trong giai đoạn ấy, điển hình về văn là: Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Dương Tử
Giang, Thẩm Thệ Hà. Và các nhà văn độc lập khác cũng tạo được độ cao cực thịnh
(kể theo miền) trong lịch sử văn nghệ Nam Bộ nói riêng của văn nghệ Việt Nam,
nói chung.
Tiết 1
KHÁI QUÁT VỀ NHÓM CHÂN TRỜI MỚI
Nhóm này gồm ba cây bút có trình độ, liên kết chặt chẽ với
nhau: Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc. Chủ trương nhóm không là sáng tác mà là
biên khảo chính trị.
Chẳng khác nào một nhóm Hàn Thuyên trong giai đoạn kháng chiến
bổ sung ở miền Nam. Quan niệm sáng tác tân tả chân: phê bình là duy vật sử
quan. Sự khai triển duy vật sử quan tùy theo tri thức tiếp nhận của ba nhà văn ấy.
Cũng đề cao lối tự phê (auto-critique) lột xác như Jdanov; cho nên Tam Ích đả
phá Nhất Linh, Khái Hưng theo quan niệm biện chứng duy vật sử quan.
Hãy cùng đọc:
“… Về nghệ thuật tiểu thuyết, không phải mỗi lúc lại có thể
có được một Khái Hưng hay một Nhất Linh. Phải bao nhiêu năm mới kiếm được những
văn sĩ ấy. Chỉ tiếc một điều là phần nội dung nghệ phẩm của họ không hợp trào
lưu và đứng trên phương diện ý thức hệ, thì nghệ sĩ này đã đối lập với nghệ sĩ
kia…”(Văn nghệ và Phê bình, Nam Việt xuất bản 1949).
Chúng tôi trả lời câu hỏi này ở đoạn kết nói về Khái Hưng(28)
và tiểu mục về Nhất Linh. Đôi Bạn là cuốn tiểu thuyết như thế nào? Đả đảo phong
kiến hướng dẫn cách mệnh, vậy ở giai đoạn tiền chiến lại là yêu nước. Yêu nước
trong giai đoạn ấy là đuổi Pháp ra khỏi biên giới nước Việt tạo lập một quốc
gia độc lập. Ý thức hệ quốc gia không cần bàn tới trong khi Pháp còn trên đất
nước, đuổi xong Pháp, người ta sẽ liên hiệp để cải biến quốc gia theo một hình
thức nào thích nghi, với diễn biến lịch sử dân chúng đòi hỏi.
Chẳng hạn thành lập cộng hòa hay quân chủ lập hiến, tùy ý. Sự
đả kích của Tam Ích mà ông cho rằng ý thức hệ đối lập với nhau, chỉ vì ông cho
rằng nó khác với Mác xít mà thời ấy ông, nói riêng, nhóm Chân Trời Mới, nói
chung, tin rằng thích nghi để canh tân lịch sử theo đà tiến hóa mới.
Nay nhóm ấy đã từ chối lập luận Mác xít để phê bình văn
chương Việt Nam mà trưởng nhóm (chef de file) cho rằng trước đây chỉ là giai đoạn
thử thách, nghiên cứu, học hỏi mà thôi. Cũng không lấy gì làm lạ về thái độ
chuyển biến này. Một Jean Paul Sartre từ chối tham gia Hội Pháp Nga thân hữu
(Alliance franco-russe) sau 1935, một Henri Lefèbvre trung ương ủy viên kiểm
soát chính trị đảng Cộng sản Pháp, kể lại thành tích 30 năm đảng viên của ông
trong bài L’exclu s’inclut đăng trên báo Les Temps modernes của Jean Paul
Sartre, tháng bảy 1958.
Cũng chính lý do Nga đàn áp nhược tiểu quốc: Ba Lan, Hung,
vào năm 1956, sai lạc hẳn lý thuyết mà Henri Lefèbvre đã tán dương (Tác giả những
cuốn Marx (Que sais je), L'existentialisme (Sagittaire, 1946) Critique de la
vie quotidienne, Pour connaitre la pensée de Karl Marx (Bordas) viết tựa cuốn
sách dịch của Politzer La liberté humaine (nguyên bản của Schelling). Và chính
Politzer, đại lý thuyết gia đảng Cộng Sản Pháp, tác giả cuốn sách triết học
Principes fondamentaux de la philosophie” tôn Henri Lefèbvre bậc thầy.
Hay minh chứng trong đời sống các nhà làm nghệ thuật Pháp, một
André Gide, tác giả Retour de l’URSS sau để viết lại Retouche le retour de
l’URSS(29). Một Charles Plisnier (Belgique) đã từng Sois remercié Staline trong
cuốn Faux passeport (Corrêa), một Panaðt Istrati nhà văn Lỗ Mã Ni (Roumanie) viết
văn bằng tiếng Pháp đã thất vọng tìm một nhân bản mới trong Vers l’autre
flamme. Còn bao nhiêu trường hợp tương đồng như thế nữa…
Cũng chẳng riêng gì một Chân Trời Mới về sau; trước kia còn
có một Hàn Thuyên. Cùng một ý nghĩa(30).
Tiết 2
TAM ÍCH
Tiểu sử.
Tên thật Lê Nguyên Tiệp. Sinh năm 1918 ở Thanh Hóa, chính
quán ở Quảng Ngãi. Tác phẩm đã xuất bản: Văn nghệ và Phê bình (Nam Việt, 1949),
Nghệ Thuật và Nhân Sinh (1949) viết chung với Thê Húc và loại sách (Tìm hiểu biện
chứng pháp), (dịch POLITZER, Tủ sách Chân Trời Mới) gồm Tam Ích, Thê Húc và
Thiên Giang chủ trương.
Phân tích tác phẩm chính.
Trong tập sách này chỉ phê bình về văn nghệ và không chủ ý
phê bình học thuyết chính trị. Cho nên những cuốn Tìm hiểu biện chứng pháp
không nói đến cả Nghệ thuật và Nhân sinh cũng không nhắc tới; mặc dầu quan niệm
tiếp nhận chủ nghĩa Mác của nhóm này có phần cực đoan(31) Thứ nhất, phản đề bằng
cách phủ nhận sự nghiệp quá vãng các nhà văn tiền chiến. Cùng đọc một vài dòng
ông trang tặng các nghệ sĩ lột xác; thì nào có khác gì cuộc môi giới trước khi
bước vào chỉnh huấn. “… Trang tặng tất cả những nghệ sĩ tiền cách mạng đã phủ
nhận xu hướng nghệ thuật cũ của mình...” Như vậy theo ông, thì Khái Hưng cũng
như Nguyễn Tuân không nên có quá vãng; mà ông cho là không hợp thời. Hẳn rằng
trong lúc các nhà văn tiền chiến sáng tác chống phong kiến và hướng dẫn cách mệnh,
thì ông Tam Ích và nhóm Chân Trời Mới ngồi chờ hoàn cảnh nào đúng ý thức hệ mới
tham gia. Và điều đó, chúng ta thấy rằng nhờ có kháng chiến bùng nổ, thì các
nhà văn lý luận như Tam Ích mới có cơ hội nói về ý thức hệ Mác.
Phê bình Khái Hưng ông viết:
“… Cái thế giới của Khái Hưng tạo ra những gì? Mỗi nhân vật của
Khái Hưng chỉ là một thế giới biệt lập, người này cảm thông riêng với người
kia, nói chuyện riêng của một số người riêng. Cái thế giới ấy đã tạo ra được một
số thanh niên lãng mạn vậy thôi. Có ai muốn xây dựng một cuộc đời lý tưởng, một
xã hội lý tưởng hẳn là phải xây dựng trên một hạng người khác chứ không thể xây
bằng một cậu Ngọc, một cô Tuyết, một ông giáo Chương hay một họa sĩ như Nam.
Phát nguyên của nghệ thuật Khái Hưng là ở một thế giới riêng, chứ cứu cánh lại
cũng ở đó. Ở chỗ khúc quanh của lịch sử, thế giới của Khái Hưng phải đổ, có gì
là lạ...
“… Chỉ có thế giới nào làm lịch sử mới sống. Maxime Gorki chết
lâu rồi, thế giới của Gorki tạo ra trong cuốn “Người Mẹ” vẫn là một thế giới
linh động và sống lâu…”(trang 34).
Phê bình Khái Hưng của Tam Ích hỏng trên nguyên tắc, vì:
– Phê bình một chiều theo biện chứng pháp tiếp nhận cầu may của
Mác.
– Phê bình một tác phẩm nào không chịu đặt tác phẩm ấy song
hành với hoàn cảnh ấy.
– Thiếu điều kiện so sánh tác phẩm với hoàn cảnh xã hội.
Chúng tôi sẽ phân tích từng điểm ba tiểu mục trên, mà ông Tam
Ích đặt cơ sở nhận định về sự nghiệp Khái Hưng.
I) Phê bình một chiều theo biện chứng pháp tiếp nhận cầu may
của Mác.
– Tại sao chúng tôi lại gọi là phê bình theo biện chứng cầu
may của Mác (đã bàn khái quát ở trên). Là phê bình sự kiện hôm qua bằng con mắt
hôm nay chỉ là một thái độ phản đề xuống dốc nhất, tức là đả kích quàng xiên,
gián tiếp bắt mọi người thừa nhận giá trị đưa ra. Nếu tạm theo phương pháp phê
bình của ông, thì không một tác phẩm cổ điển nào mà không thiếu điều kiện tương
đồng với ý thức hệ của ông Tam Ích quan niệm cả.
II) Phê bình một tác phẩm nào không chịu đặt tác phẩm ấy song
hành với hoàn cảnh song hành. – Như ở trên đã biết sự tai hại đốt giai đoạn
(bruÂler les étapes). Một khi đốt giai đoạn, thì tất cả những giá trị có, chỉ
là giá trị giai đoạn, tự mình làm rồi lại phá đi rồi làm lại chỗ phá đi khi cần.
Tỷ dụ hôm nay đề cao Vũ Trọng Phụng, hẳn không phải Vũ Trọng Phụng viết theo chủ
nghĩa hiện thực, ngay từ khi viết sách; nhưng ở tác phẩm Vũ Trọng Phụng có điều
kiện tương đồng có thể khai thác thích ứng với phương tiện của duy vật sử quan ở
giai đoạn ấy.
Còn những tác phẩm khác hay chăng nữa, không thích ứng và thấy
có ảnh hưởng bao trùm đối nghịch là đập phá và gán cho tác phẩm ấy không giá trị.
Trường hợp này trả lời cho Đẹp của Khái Hưng mà ông Tam Ích thấy rằng không
đúng với lập trường của ông – bởi Nam là một họa sĩ tiểu tư sản.
III) Thiếu điều kiện so sánh tác phẩm với hoàn cảnh xã hội. –
Mạt sát, lên án Khái Hưng nghĩa là lên án chung cả một Tự Lực văn đoàn; nghĩa
là chế độ cấu kết văn hóa của Tự lực văn đoàn chẳng khác mấy với chế độ tín nhiệm
một vị bộ trưởng của một chế độ nội các thủ tướng.
Đề cao Maxime Gorki rồi đem so sánh với Khái Hưng, cho Khái
Hưng là một tiểu thuyết gia có cũng không hại gì hoặc có đôi khi còn có hại; rồi
lại đặt câu hỏi tại sao Khái Hưng lại không viết lại Người Mẹ Việt Nam của
M.Gorki Việt Nam?
Đó là một lối ngụy biện, so sánh của biện chứng pháp. Chẳng hạn
khi định nghĩa một vấn đề gì, không bao giờ thảo luận về vấn đề liên hệ đến vấn
đề ấy, mà tìm tỷ dụ khác đối tượng, rồi kết luận đối tượng ấy không đúng, vì nó
sai với sự kiện tỷ dụ so sánh kia. Chúng ta nên nhớ rằng trong giai đoạn Pháp
chiếm đóng Việt Nam, hệ thống công an, lưỡi lê, súng tận răng, mà Tự Lực văn
đoàn còn có một Đôi Bạn lên án quan liêu, đề cao cách mệnh, là một sự kiện cần
nhận chân giá trị.
Chúng ta nên nhớ rằng Người Mẹ của M.Gorki viết đề cao kháng
chiến, đạp đổ Nga hoàng sau thành công vĩ đại, vì lực lượng chính trị cách mệnh
kháng chiến Nga đặt ở ngoại quốc. Và khi Gorki viết cuốn Người Mẹ ấy, không phải
Khái Hưng, Nhất Linh, Tự Lực văn đoàn ở trong xứ viết Đôi bạn, Tiêu Sơn Tráng
Sĩ… mà M.Gorki viết ở Capri trước khi họp ở Luân đôn vào 1907. Như vậy thử hỏi
rằng sự kiện tìm vật so sánh là một điều kiện quan hệ. Không thể nào tìm một sự
vật so sánh với sự vật khác mà hai cái không ăn nhập với nhau. Chẳng hạn, chê
người đẹp hơn con rệp đẹp… Cho nên khi chúng ta thấy ông đề cao Ehrenbourg ở những
trang 36, hoặc Howard Fast; vì họ là nhà văn nòng cốt có lợi cho ý thức hệ mà
ông đang theo đuổi.
Kết luận.
– Vẫn một lập luận như trên, ông phê bình Nguyễn Khắc Hiếu, Hồ
Hữu Tường, Xuân Diệu và ca tụng Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân lột xác… Chúng tôi
chỉ đồng ý rằng phê bình một nhà văn thơ nào phải đặt ở bối cảnh chính trị song
hành…
Sau 1954, ông Tam Ích có sự chuyển biến quan niệm khi viết nhận
định văn học (các bài viết phê bình thơ Vũ Hoàng Chương trên báo “Nguồn Sống Mới”
1954); chúng tôi muốn nói đến sự chối bỏ duy vật sử quan phê bình văn chương. Bằng
chứng, có thể căn cứ vào câu trả lời của chính ông trong bài Nhà văn Tam Ích
theo thuyết hiện hữu? (Nhân Loại, bán nguyệt san bộ mới số 1, ra ngày 22–8–1958
do ông Ngọc Linh thuật lại:
"Riêng anh Tam Ích, anh hứa sẽ viết những bài viết về
văn hóa, nói chung, về văn nghệ, nói riêng; để bầy tỏ ý kiến một cách phong phú
hơn. Con người trước kia thường viết về chính trị (vào thời 1946, 1947. 1948)
và về phê bình văn nghệ từ 1948, hình như ít nhiều thay đổi về chi tiết, về
thái độ tri thức của mình”.
Và chính Tam Ích trả lời thái độ về mình; chúng tôi không phê
bình, cũng không nhận định rằng hiện tại ông đứng trong lập trường nào? Và chỉ
làm một việc ghi lại các giai đoạn tư tưởng diễn biến của ông Tam Ích mà thôi:
“TAM ÍCH: – Xưa kia tôi chưa từng áp dụng triệt để phương
pháp duy vật biện chứng trong những bài phê bình văn học của tôi. Tôi là người
ham học, ham tìm hiểu; tôi nghiên cứu thuyết ấy cũng như tôi đọc kỹ bộ Nho Giáo
của Trần Trọng Kim chẳng hạn… Nói rằng xưa kia tôi đã thử thách thì đúng hơn…”
Tiết 3
THÊ HÚC (32)
Tác phẩm của Thê Húc viết chung với Thiên Giang Dân Chủ và
Dân Chủ, Tìm Hiểu Biện Chứng Pháp (dịch Politzer), Nghệ Thuật và Nhân Sinh (viết
chung) và cuốn duy nhất của ông là cuốn truyện dịch quốc tế Tia Nắng, Tủ sách
(Chân Trời Mới, Nam Việt ấn hành 1949).
Sự kiện thâm nhập văn nghệ giữa quốc gia này với quốc gia kia
(Interpénétration des littératures) là một sự kiện cần thiết. Nước Pháp có thể
gọi là nước đã thể hiện phong phú vào bậc nhất những tác phẩm chọn lọc của ngoại
quốc, đủ loại văn học và kỹ thuật được in ra. Ở nước ta trình độ hưởng thụ, tiếp
nhận, dịch thuật còn trong thời kỳ phôi phai nên chưa phổ biến được tác phẩm dịch
nhiều (nói chung).
Tia Nắng thu góp văn phẩm quốc tế hoặc hồi ký những nhà văn nổi
tiếng; Carlos Monternegro (Cuba), Jtanislaw Palinski (Ba Lan), Lev Nikoulin
(Nga)vv... Cuốn ấy gồm những truyện được Việt hóa qua các nhan đề: Thu về chim
hạc sang ngang, Bạch phu nhân, Ông thầy bói, Đoàn xe lửa nổi loạn, Đức thánh
hàng hải.
Trước khi nhận định về quan niệm dịch thuật, thường ra hay mắc
phải tật cho rằng hễ nói đến nhà văn Nga, Ba Lan, là nghĩ ngay đến vấn đề mất lập
trường chính trị. Thực ra không hẳn thế, rất nhiều nhà văn Nga, Ba Lan có tinh
thần quốc gia xã hội chứ không hoàn toàn là Mác xít. Tỷ dụ Maxime Gorki, nhà
văn đúng nghĩa, khi thành công cách mạng ở Nga, ông lại phản đối Lénine và
chính vì thế Lénine cho ông xuất dương sang Capri (Ý Đại Lợi)… hoặc Lỗ Tấn, Ba
Kim, Lâm Ngữ Đường(34) từng dùng duy vật biện chứng phục vụ Mác xít một thời
gian rồi trước hoặc sau đã có một thời phục vụ văn nghệ theo tinh thần dân tộc.
Như một Ả. Q. Chính Truyện, một Lạc Thú Ở Đời (Importance of living) là một tỷ
dụ. Thê Húc dịch truyện còn là một thái độ sáng tác. Vì ông phải chọn lựa sáng
tác thích thú nhất thì động tác ấy cũng phải mất công lao hòa đồng sáng tạo diễn
dịch sang Việt ngữ. Những truyện trong tập Tia Nắng hầu hết là chọn lọc như Ve
kẹo đường của Carlos Monternegro mang một triết lý nhân sinh đầy thú vị. Phê
bình Thê Húc, Hoàng Hạ Huệ viết (35):
"... Cả ý nghĩa lâm ly của Ve kẹo đường chẳng những là bức
tranh truyền thần của cả một xã hội trần truồng mà còn là một tài liệu đã đánh
giá cả một giá trị nghệ thuật của cả hai nhà văn Carlos Monternegro và Thê
Húc...”(trang 72).
Thê Húc việt hóa một cách rất thoải mái, người đọc cảm thông
được với nhân vật chính một cách gần gũi, một cảm tưởng rất Việt Nam, nghĩa là
từ cách chuyển nhân vật chính của xứ sở Cuba sang thái độ, hành động, hình tượng
như nhân vật Việt Nam.
Thê Húc đã làm một việc rất có ích, bổ sung nền văn học nước
nhà thêm phần phong phú, cũng như Thiên Giang dịch cuốn La fille du capitaine
(Giữa chốn ba quân) của Pouckhine. Và Thê Húc (Phạm Văn Hạnh) còn là thi sĩ tiền
chiến trong Xuân Thu Nhã Tập (tác giả tập Giọt Sương Hoa).
Tiết 4
THIÊN GIANG (1911–197?)
Tên thật Trần Kim Bảng. Sinh năm 1911, ở Đà Nẵng, anh ruột nữ
văn sĩ Hợp Phố. Tác phẩm đã xuất bản: Văn Chương và Xã Hội( viết chung), Nghệ
Thuật và Nhân Sinh (viết chung), Tìm Hiểu Biện Chứng Pháp (viết chung), Dân Chủ
Và Dân Chủ (viết chung), Lao Tù( NXB Việt Nam), Giữa chốn ba quân (Đông Phong),
dịch Lịch Sử Thế giới (chung với Nguyễn Hiến Lê, NXB Nguyễn Hiến Lê)…Thiên Giang viết ba loại: biên khảo, dịch thuật, sáng tác. Về
biên khảo và dịch thuật, trong lập trường duy vật sử quan, chúng tôi phê bình
ông Tam Ích và bao trùm chung cho Thê Húc, Thiên Giang. Tập truyện LAO TÙ hiện
nay là sáng tác độc nhất của Thiên Giang cũng như nhóm Chân Trời Mới.LAO TÙ gồm: Mẹ Con, Tình Người Chuột, Miếng Thịt Heo và Ông
Bạn Già, Dưới Nắng Hè, Nguyện Vọng Cuối Cùng, Người Bạn Đường Của Tôi, Trong chỗ
quạnh hiu.Hai truyện đặc sắc nhất là Mẹ Con và Tình Người Chuột. Tập
này hoàn toàn khai thác đề tài lao tù, gần như là hồi ký tác giả, cũng như đồng
đội chiến đấu. Ngay ở đầu, ông viết :“… Thế mà có những người thản nhiên đi vào nhà tù, đầu họ đã
biết chỗ đó một ngày ngàn thu và đã vào đó rồi, lắm khi họ muốn làm một con muỗi
để hưởng đôi chúc tự do.Họ đi vào đó một lầnHọ đi vào đó hai lầnVà bao nhiêu lần nữaVà có khi họ ở trọn đó một đời…”Trong đời người, nhất là người bị tù vì yêu nước, khát tự do,
độc lập, thật đáng kính! Ở nước ta thời khi thực dân thống trị, biết bao nhiêu
thanh niên bị tù đày. Ở đây, Lao Tù, hồi ký của thanh niên ở trường hợp ấy. Có
những bà mẹ một con, con một mẹ, bỏ gia đình theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ
quốc lâm nguy ra đi, không ham sống đời bình thường. Và tình mẹ con không bao
giờ xa cách, dù hoàn cảnh khe khắt dến đâu chăng nữa? Thiên Giang giới thiệu với
chúng ta một pha cảm động của mẹ con gặp nhau trong nhà tù. Phút thiêng liêng ấy
chỉ được kéo dài mười lăm phút:“... Đây là muối mè, đây là cá kho, đây là thịt nguội, đây là
chè… Mẹ đem những vật này cho con. Và đây là những món quà cuối cùng của mẹ.
Con mạnh giỏi không?Vì ước mong con mình mạnh giỏi ở chỗ nước độc ma thiêng, bà
quên con bà ở tình trạng nào?Tên lính giục:– Gần hết giờ.Giờ khắc cay nghiệt quá, nó sấn tới để bứt tình mẫu tử của
người ta.– Còn lại hai phút nữa thôi.Tên lính cho hay một cách lạnh lùng.Bà mẹ già cởi chiếc áo nâu ngoài, cởi cả chiếc áo cụt và cởi
luôn chiếc áo cánh, bà trao áo cánh cho con, bảo :– Con giữ chiếc áo này, khi nào nhớ đến mẹ con bận để lấy
hơi. Mẹ đến thăm lần này để chết…”(trang 31–32).Tình thương cao độ của một trong muôn vàn người mẹ có những đứa
con ra đi không bao giờ trở lại, được ông diễn tả lại rất linh động và chính là
sự kiện của đoạn đường ai có qua cầu mới hay. Và đây là tâm trạng người con
trai gặp mẹ:"... Mặt trời đổ nắng chói lòa. Tiến ngồi trong trại
đan, vừa chuốt nan vừa nhìn lên cây xoài. Một con chim vừa bắt được con sâu, nhẩy
lần về tổ.Mặt Tiến trầm ngâm, người ta đoán được chàng nghĩ tới bà mẹ
già. Nhưng chàng mỉm cười tự hào: Sau khi ta bị bắt, nhà cửa tan tành, cha mẹ
anh em phải bỏ quê hương đi tìm sinh kế ở một xứ xa, ta không sợ mẹ ta sẽ vượt
nghìn trùng để đến đây.– Im và làm việc.Ông xếp tới, người lính canh trại cho hay.Tức thì mọi người đều chăm chú vào việc mình làm, mặc kệ thời
gian trôi, lôi cuốn nó theo tất cả việc đời...”Tình Người Chuột, người đọc nhớ đến một truyện của John
Steinbeck Of mice and men. Thật là một câu truyện hòa đồng giữa người và vật. Ở
Steinbeck, đó chỉ là giải quyết nỗi lòng chán chường của nhà văn sống trong xã
hội tư bản chán tình người, để rồi rút niềm ẩn ức viết áng văn bất hủ về Người
và Chuột. Thì Thiên Giang chung đề tài ấy; nhưng hoàn cảnh sống đã trải qua một
tài liệu thực kết bằng máu và xương, kinh nghiệm sống thực viết hồi ký nhớ chuột.
Vào tù, tác giả sống cô độc trong hầm nhỏ (cellule) thì chỉ còn chuột đến thăm.
Lá thư viết rất linh động, bất hủ của tác phẩm nhỏ bé nhưng giá trị. Từ mối căm
thù đổi thành một tình thân giữa chuột và người, Thiên Giang hẳn là nhà văn
giàu nhân loại tính xây bằng lớp vữa để sinh vật này cảm thông nổi với sinh vật
kia.Và tình yêu mến ấy, Thiên Giang tả lại hay như thế nào?:“... Bạn có nhớ không? Chính lúc tôi cầu xin một chút yên
tĩnh, để mà sống thì bạn đã đang tâm dầy xé thêm cái thân hình dở sống, dở chết
của tôi. Bạn và bà con đã ngấu nghiến một cách ngon lành những miếng máu đọng
trên lưng trên đầu, trên bụng, trên tay chân của tôi, và hôm nay tôi còn rùng
mình khi nhớ đến bộ răng bé nhọn của bạn đã gậm những miếng thịt thười lười
trên thân thể tôi…… Có ngờ đâu sau cái đêm ấy chúng ta lại có thể trở nên đôi bạn
chí thân…”(trang 10).Sống trong tù phải nuôi hy vọng gần gũi nhất đối với mình là
phải mượn hình ảnh người đi trước đau khổ, để tự an ủi.Sự kiện tâm lý xác đáng này được Thiên Giang nhớ đến
Bakounine: (35)“… Ngày xưa nhà cách mạng Bakounine bị giam chín năm, không
thấy một người, không biết có ánh sáng, trọn ngày chỉ nghe những tiếng giầy của
tên lính gác làm khuây. Thì ngày nay tôi có vợ chồng bạn, đôi sinh vật xinh xắn,
mắt sáng đuôi dài, lông mượt, bộ tịch lanh lẹ…”(...)… Và có một buổi, người tù được trả lại tự do trong một
phút bất ngờ mà thâm tâm chỉ dàm nghĩ rằng đó là đi lĩnh cơm, cho nên không tiễn
biệt được đôi bạn chung đời...”Thiên Giang ghi lại hình tượng nhớ mong luyến tiếc của sự
quen lệ đến bữa cơm mà vắng bạn đời, hẳn chuột buồn lắm. Mà cả đến tình người
nhớ chuột cũng không kém. Đoạn văn ấy đẹp như bài thơ hay:“… Chúng ta gặp nhau mùa xuân, nắng ấm trời trong… – Phút
chia tay lại làm cho chúng ta, nhứt là tôi chín gan nẫu ruột, cái cảnh phân ly
của ta còn đau đớn hơn cảnh phân ly của đôi vợ chồng son trẻ, chưa vui xum họp
đã sầu chia phôi…”Từ đó đến đây, mười lăm năm qua, mỗi độ đông tàn, xuân đến là
mỗi lần tôi lại tan nát cõi lòng. Nhưng bạn ơi, việc đời là thế, biết ăn nói
làm sao bây giờ?Hôm nay, trong lúc người ta đua nhau may áo lông cừu gửi ra mặt
trận cho những kẻ chịu đau khổ để tạo nên cảnh yêu vui, thì tôi lại nghĩ đến
cái tình giữa bạn và tôi.Hơn mười lăm năm qua, sự đời vẫn không có gì thay đổi, loài
người chúng tôi vẫn tiếp tục giết tróc lẫn nhau…” (trang 47).Lao Tù chỉ cần hai truyện ấy đủ tạo thành hội xuân loại văn
tân tả chân ở giai đoạn văn nghệ bổ sung kháng chiến rồi.Về dịch thuật, Giữa Chốn Ba Quân của Pouckhine, tác giả mạt
sát, lên án bọn quan lại của thời phong kiến Nga Hoàng rất điển hình.Nếu Pouckhine đã thành công trong chính tác và sự diễn đạt
qua Việt ngữ của Thiên Giang đã tỏ rất thận trọng khi dịch thuật, bình văn.
Bình luận về Pouckhine trong Giữa Chốn Ba Quân (La fille du Capitaine), Thiên
Giang nhận xét cho là cải cách, vì sự thỏa hiệp của nhà văn đối với Nga Hoàng,
nên không dám nghĩ đến cách mạng toàn diện.Về sáng tác, Thiên Giang là nhà văn chủ lực trong nhóm Chân
Trời Mới với lối văn định hướng, diễn đạt thể văn tân tả chân; tuy ông chưa
thành công lắm trong địa hạt tiểu thuyết – nhưng trong giai đoạn ấy ông là một
nhà văn đáng kể.Truyện ngắn Thiên Giang mang hình tượng thời thế, nhân vật có
tinh thần tranh đấu, song về nghệ thuật viết thì nhiều truyện chưa hấp dẫn; nghệ
thuật chưa cao. Văn khô khan ở các truyện ngắn trong Lao Tù (trừ hai truyện kể
trên) không khác gì vở kịch thiếu biến động kịch khiến nên buồn nản.Thiên Giang đi vào loại tiểu thuyết tả thực ấy và nếu trau dồi
nghệ thuật lên cao hơn, tất ông trở thành nhà văn xã hội chính trị nổi tiếng của
bình diện văn học kháng chiến Nam Bộ thập niên 1950.Tiết 5KẾT LUẬN VỀ NHÓM TAM ÍCHSau nhóm Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà và các nhà văn
độc lập, nhóm Tam Ích kháng chiến bổ sung góp một Thiên Giang, một Thê Húc, những
nhà văn có nhiều khả năng văn nghệ và tài năng.Ngoài Tam Ích ra, hẳn Tam Ích không là một Trương Tửu hoặc một
Nguyễn Đức Quỳnh còn sáng tác mà Tam Ích chỉ là nhà chính trị chuyên lý luận biện
chứng pháp tiếp nhận Chủ nghĩa Mác cầu may. Nhưng phải nhận rằng Chân Trời Mới
góp công vào văn học kháng chiến bổ sung đáng kể.Nếu một Voronsky-Trương-Tửu của Hàn Thuyên coi như một thí
nghiệm văn hóa, một Tam Ích đã bị coi như là nhóm trí thức kháng chiến xa lông
(résistance au laboratoire). Hẳn rằng sự chuyển hướng nhóm này đã bắt đầu bằng
Thiên Giang quay sang giáo dục thuần túy. Phê bình nhóm Tam Ích qua duy vật biện
chứng, chúng tôi chỉ căn cứ ở giai đoạn đó, không liên lạc gì về tư tưởng biểu
hiện diễn tiến hôm nay. Và chúng tôi đã nói sự diễn tiến nhóm ấy ở phần khái
quát và mỗi tiết nói về mỗi cây bút.Phần thứ BaNHÀ VĂN ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNHTiết 1KHÁI QUÁT VỀ NHÀ VĂN, THƠ ĐỘC LẬP ĐIỂN HÌNHCác nhà văn độc lập, là nhà văn không đứng trong nhóm nào
cùng thảo luận, sáng tác và có sinh hoạt văn nghệ chung.Ngoài các nhóm Lý Văn Sâm và Chân Trời Mới còn có các nhà văn
độc lập như: Hợp Phố (nữ), Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Quốc Ấn, Vũ Xuân Tự, Liên
Chớp, Việt Tha, Bùi Nam Tử, Võ Hoàng Khanh, Phạm Thu Cảnh… Về biên khảo, bình
diện văn nghệ miền Nam, nói riêng, thật vô cùng nghèo nàn. Quay đi quay lại
cũng vẫn chỉ có một Thiếu Sơn, một Nguyễn Bảo Hóa, một Tam Ích, một Triều
Sơn...(36)Riêng Thiếu Sơn tiền chiến, chúng tôi đã viết ở Nhà Văn Tiền
Chiến, 1930-1945. Thiếu Sơn hậu chiến không có gì đáng nói, vì xét rằng ông đã
phát triển khả năng tận cùng ở giai đoạn trước rồi.Các nhà văn độc lập điển hình như Hoàng Tấn thiên về đấu
tranh xã hội, Bình Nguyên Lộc lãng mạn cách mạng…Về thơ, đề cập đến hai nhà thơ điển hình là Hoàng Tố Nguyên
và Vũ Anh Khanh .Tiết 2HOÀNG TẤNTiểu sử.–Hoàng Tấn tên thật Hoàng Đức Tấn, sinh 1920 ở Hà Nội. Tác giả
tập bút ký CỨU LẤY QUÊ HƯƠNG (Nam Việt, 1949) và tác giả nhiều bài thơ như
Giang san khói lửa v.v... đăng trong tuyển tập thi ca THƠ MÙA GIẢI PHÓNG
(1949).Phân tích tác phẩm chính. –Hoàng Tấn, bạn văn đồng thời với Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh,
Trúc Khanh… Nhưng sở dĩ chúng tôi liệt ông vào nhà văn độc lập, vì lẽ ông không
sinh hoạt với nhóm trên, mặc dầu đối với nhà văn trong nhóm ông là bạn thân. Có
những đêm Lý Văn Sâm đã viết văn ở thảo ốc Hoàng Tấn (Thèm Một Ngọn Đèn).Nói chung, tác phẩm là sáng tác riêng, cũng không trao lại
cho nhóm đọc; có nghĩa là không có sinh hoạt văn nghệ chung.Cứu Lấy Quê Hương tả tâm trạng một thanh niên yêu nước phải bỏ
bưng về thành chữa bệnh. Ông diễn tả tâm lý nhân vật vững vàng, có nhiều đoạn đấu
tranh tư tưởng an phận, hưởng thụ, quên đấu tranh rất sôi nổi trong nội tâm dằn
vặt. Thi trong truyện xưng hô bằng tôi. Vợ chồng anh Điển là nhân vật phụ.Thi nằm ở nhà vợ chồng Điển điều trị. Điển cũng là thi sĩ.
Vài trò thi sĩ trong thời đại hiện hữu như một kiếp sống khổ ải nhất. Hoàng Tấn
phác họa:“… Ôi! Nếu thi sĩ ở nước ta có thể gọi được là một nghề? Điển
còn có một nghề mọn rất phổ thông bất cứ ở thời nào. Nếu gặp lúc công việc trôi
chảy, thì có thể nuôi đủ một gia đình sung túc gồm có: cha, mẹ, bốn người em
bé, vợ và một đứa con gái nhỏ… (trang 7).Điển hình cho cuộc sống một thi sĩ vào giai đoạn 1949, Hoàng
Tấn còn lạc quan nhiều, chính ra thực trạng và cuộc đời còn đốn mạt túng bấn
hơn nhiều; mà Lý Văn Sâm đã viết trong “Đời Tàn Trong Ngõ Hẹp”(đăng trên báo Tiểu
thuyết thứ bẩy 1949). Khi Thi trở về thành, nhìn lại nơi ở cũ, ông nói lên một
ý tưởng chua chát của một người phải nhìn lại quãng đời ngày xưa; hiện đang sống
lại qua ngoại cảnh liên tưởng. Ông viết rất thành khẩn về một tâm trạng đau đớn.“… Khi về tới đầu đường Bạch Đằng – chỗ ở cũ của tôi – tôi có
một cảm tưởng kỳ dị rợn lòng. Tất cả bày ra trước mắt tôi một cảnh tang thương.
Nhiều giẫy nhà đã rủ nhau về cát bụi. Ngổn ngang gạch và ngói, từng nếp tường
xiêu, ngôi nhà của tôi còn sừng sững thi gan cùng khói lửa, in trên nền trời
sám ngắt… “(trang 15)Và khi Thi vào đến ngưỡng cửa nhà – không luyến tiếc đồ đạc mất;
nhưng chỉ buồn vì mất bản thảo và di cảo của các bạn văn. Ông diễn tả tha thiết,
khiến người đọc liên tưởng đến một bảo tàng viện VICTOR HUGO ở Pháp, chứa sách
và bản thảo của văn hào. Người đọc lại nhớ đến công trình thu góp văn hóa của tất
cả dân Pháp:“… Đồ đạc thì chả kể làm chi sau hồi loạn lạc, chỉ ngẩn ngơ
tiếc nhưng tập bản thảo, những chồng sách quý, nhất là di cảo của những bạn
làng văn quen biết sớm mệnh chung…” (trang 16).Cuối cùng, đến bản thảo của ông, mà một người con gái yêu thơ
đến tột độ, thêu thơ đến rỏ máu cả năm đầu ngón tay. Kỷ niệm ấy được diễn tả lại
thật cảm động và ở đây chỉ tán tụng thái độ yêu văn thơ người ấy:“… Mất thực rồi ư? Mất thực rồi tập SUÔI GIÒNG SÔNG NHUỆ. Đó
là một tập thơ lịch sử dầy năm mươi trang, thêu bằng chỉ vàng, đều đề bằng tơ đỏ
trên giấy lụa toàn tơ Hòa Mạc, thêu năm ngày năm đêm bởi bàn tay của Hiền, người
thân mến. Hiền đã sả hình hài ra mà thêu, hối hả nức nở mà thêu, thêu quên ngủ,
thêu bỏ ăn. Thêu đến rỏ máu cả năm đầu ngón tay. Mỗi chữ tức là một giọt nước mắt,
mỗi giòng là một giòng máu. Mỗi trang thấp thoáng ít nhiều hình hài của kẻ thêu
thơ…” (trang 17).Rồi Thi sang ở nhà vợ chồng Thịnh. Sự săn sóc của vợ Thịnh đối
với Thi trong khi đang ốm; khiến Thịnh bực bội:“… Tôi thở ra à họ lại ghen tuông với nhau gì đây? Tôi ngồi dậy,
lập cập quơ chân kiếm chiếc guốc văng tận gầm giường. Tiếng chị Thịnh bỗng vọng
ra dữ dội.Anh Thi, xin mời anh vào trong nhà này, xin mời anh…Đấy anh vào đây. Nói lạy giời chứng cho lòng tôi. Tôi thấy
anh mệt không ai săn sóc, tôi nấu giùm anh nồi cháo có thế thôi mà…” (trang
33).Đó là sự ghen tuông đưa đến mục đích:“… Sở dĩ tôi phải nấn ná mãi nguyên do, nói ra mà xấu hổ, chỉ
vì một người đàn bà. Thật thế, muôn vạn trùng dương mình có thể vượt được. Đèo
núi gập ghềnh mình có thể qua được, vậy mà tôi lại hèn nhát để đến nỗi đền giọt
nước mắt người đàn bà trói chặt chỉ tay. Người đàn bà đó anh thừa hiểu là vợ
tôi. Bao nhiêu phen tôi định rũ áo ra đi là bấy nhiêu phen bị nó dày vò đay
nghiến…” (trang 39)Và không biết tìm cớ gì hơn vu oan vợ mình thông dâm với bạn,
để đủ can đảm lên đường cứu nước; thì quả là một thái độ rất hỏng của tác giả
đã chép sự thật ở ngoài đời, thiếu chủ quan định kiến, Hoàng Tấn đặt sai đối tượng
và như thế sẽ đưa đến mục đích sai. Một người lính chiến đấu có thực tâm yêu nước
không thể dày vò bằng một thái độ đê mạt như vậy được!Dàn bài cốt truyện, tác giả có mục đích tuyên truyền cho người
đọc một ý niệm yêu nước. Bố cục tổng quát vững, nhưng từng đoạn hỏng. Ở Hoàng Tấn
còn có một thái độ hỏng nữa, đó là bội thực sự hiểu biết. Sự hiểu biết thu góp
được ở ngoài đời cứ vội vã tuôn ra và không đúng chỗ:“… Gia đình của Điển đối với tôi nồng hậu quả, nhưng tôi có
thể đóng vai quý khách mang tiếng là một kẻ Tề nhân mãi sao?(...) Tôi liên tưởng đến thuở An Lộc Sơn mang quân yểm bách
Tràng An, khiến vua Minh hoàng phải chạy vào Thục. Quân An lộc Sơn trùng điệp
thắt vòng vây làm cho Đỗ Phủ bị nghẽn trong thủ đô thoát ra không kịp… Tứ
phương đùn lên những áng mây đỏ, chuyển hẳn lại khung cảnh của trời cao chót
vót như hình những giải núi Yên…”Điển cố ấy nên tránh dùng trong sáng tác. Nếu không căn cứ
vào thực tế hôm nay so sánh, thì người đọc làm thế nào mà hiểu được ông muốn
nói gì? Thái độ bội thực sự hiểu biết ở đây không còn là cách dùng để so sánh nữa.Kết luận.Văn Hoàng Tấn tương đối hấp dẫn. Nội dung Cứu Lấy Quê Hương
tiến bộ, có chính nghĩa. Đoạn kết vẫn là khích lệ người yêu nước lên đường chống
trả xâm lăng đe dọa – Tây thuộc lần thứ hai. Sẽ tạo được kỹ thuật cao hơn tránh
được điển cố dùng gò ép và không đúng chỗ vào tiểu thuyết khi thực hiện sự
không cần thiết.Tiết 3
BÌNH NGUYÊN LỘC (1914 – 1985)
BÌNH NGUYÊN LỘC (1914 – 1985)
Tên thật Tô văn Tuấn. Sinh năm 1914 ở Tân Uyên Biên Hòa. Cùng
quê hương với nhà văn Lý văn Sâm. Tác phẩm đã xuất bản Nhốt Gió (truyện ngắn,
Thời Thế 1950 xuất bản).Ông viết cho nhiều báo văn nghệ ở Sài gòn và là tác giả rất
nhiều truyện ngắn, như: Bà sao giữa giời… chẳng hạn.Nhốt Gió gồm mười ba truyện: Nhốt gió, Chó điên, Lò chén chòm
sao, Bàn tay năm ngón, Qua lối cũ, Gái bách xê, Đất không chết, Hai buổi giúm
cù, Trụ thứ mười, Vướng bận, Thèm người, Còn yêu, Không trốn nữa. Truyện hay nhất
là Lò chén chòm sao và Thèm người … Còn truyện như Cái bách xê trào phúng hoạt
kê ít chất nghệ thuật, nhạt nhẽo.Đọc truyện Bình Nguyên Lộc luôn nhận ra rằng ông thích đem
triết lý nhân sinh đời sống, từng cử chỉ nho nhỏ đưa vào hình tượng văn nghệ.
Cái lý thú đọc nhất đọc văn ông là nhẹ nhàng, bình dị, truyện phiêu lưu rất
bình tĩnh giải quyết vấn đề gai góc (Thèm người). Cái tế nhị và buồn thấm thía
sau khi đọc xong Lò chén chòm sao. Nếu Bùi Hiển tiền chiến viết rặt cái gì thuộc
về quê mình thì hôm nay Bình Nguyên Lộc cũng vậy. Ông chỉ viết cái gì gần gũi ở
quê hương hoặc truyện chứng kiến rõ rệt.Lò chén chòm sao tả chú Hoa kiều Minh hương, có một phút thấy
thương mẹ và nghe lời mẹ để nặn chén, vẽ hoa cho chén bát đẹp hơn lên. Lần ấy
trong đời, hắn thấy yêu quê hương là nơi mà hắn sinh ra. Thật tuyệt diệu khi
ông diễn tả tâm trạng được người Minh Hương yêu quê mẹ như thế nào?So tác phẩm đầu tay đến nay, chúng ta thấy ông chuyển dịch
tâm lý nhân vật bề mặt đến bề sâu nhân vật và nội dung hướng về giai cấp nghèo.
Chẳng hạn như xóm Đề Pô đăng dở dang trên tuần báo Nguồn Sống Mới (1954), diễn
tả cuộc sống bên người dân đô thị sống chui rúc trong các kho hàng hoặc lề xã hội
rất cảm động.Bình Nguyên Lộc có một hơi văn độc đáo về truyện ngắn. Ông
không là nhà văn tranh đấu như Lý Văn Sâm hoặc Vũ Anh Khanh, cũng không phải là
nhà văn xã hội đứng trong trường lãng mạn cách mạng trong giai đoạn miền Nam
kháng chiến bổ sung.Nhưng Bình Nguyên Lộc là nhà văn thích đem những thái độ sóng
nho nhỏ hàng ngày để cải tiến lại cho đời đẹp hơn lên.Với lối văn dung dị, tế nhị, nhất là kỹ thuật viết bình thản,
dù nhân vật phản diện, Bình Nguyên Lộc cũng không bao giờ nỡ lên án tệ hại mà
chỉ châm biếm nhè nhẹ mà thôi.Tiết 4HOÀNG TỐ NGUYÊN (1929–1975)
Tên thật là Lê Hoàng Mưu, quê quán ở Gò Công (Nam Bộ). Về
bình diện thi ca miền Nam 1945–1950 chỉ có hai nhà thơ điển hình nhất là Vũ Anh
Khanh và Hoàng Tố Nguyên. Họ bao trùm cho các nhà thơ khác như: Ái Lan, Tố
Phong, Trúc Khanh, Khổng Dương vv…Ái Lan, một nữ thi sĩ có nhiều triển vọng loại thơ tranh đấu
như Thu bất hủ; cũng như Trúc Khanh có trong loại thơ tâm tình lành mạnh, một
thứ Nguyễn Bính non tay trong kháng chiến miền Nam.Hoàng Tố Nguyên trội hơn hết, sau Vũ Anh Khanh. Tác giả nhiều
bài thơ đăng rải rác trên báo, mặc dầu chưa in một tác phẩm nào… Những bài như:
Vọng hướng sao rơi, Xuân về say ý nhạc… đăng trong tuyển tập thi ca Thơ Mùa Giải
Phóng (5.1949).Thơ Hoàng Tố Nguyên đi vào thực tiễn cách mạng, kỹ thuật cao,
truyền cảm người đọc như Tha La của Vũ Anh Khanh. Như Vũ Anh Khanh, Hoàng Tố
Nguyên nổi tiếng vì thơ có hình tượng sống mới, tiết tấu âm thanh mới, không
dùng sáo ngữ, hoặc điển cố, như bài thơ Sa Cơ của Thẩm Thệ Hà hoặc Hoàng Tấn với
Giang san khói lửa mù bay…Xuân về say ý nhạc là bài thơ của một đồng đội chiến đấu chống
xâm lăng Tây thuộc lần thứ hai; mà tác giả là Hoàng Tố Nguyên, nhà thơ xuất sắc.Về bình diện văn nghệ Nam bộ 1945 –1950, hẳn không thể quên
văn Lý Văn Sâm, thơ Vũ Anh Khanh, thơ Hoàng Tố Nguyên... là những người góp vào
nền văn học cực thịnh của Nam Bộ.XUÂN VỀ SAY Ý NHẠCAnh đi miền Sông HậuTôi về khám thị thànhĐêm đêm, nhìn Bắc đẩuNôn nao lòng nhớ anh.Trời nơi anh sáng chứ?Hoa đời nở ý xanh?Máu sông sầu cuồn cuộn,Có vương tình trăng thanh?Gió muôn trùng… gió lộng.Vẫn vang khúc viễn hành?Bạn bè còn đủ cảHay cuối bãi đầu ghềnh?Tương tàn bao thảm cảnhCó hiện vào mắt anh?Xuân về say ý nhạcCó cạn chén tâm tình?Ngựa Hồ thương Gió BắcCó vẹn lời sắt đanh?Hay men Tần dễ bénMà say khúc hậu đình?Mà quên thề cổ biệt,Mà nguôi hận bất bình?Nơi đây sầu phong tỏaHương đời cạn ý xanhMây giăng mờ tám hướngNắng loãng bụi kinh thànhCó lắm phường cẩu nhãnCòn mơ chuyện Đế Đình.Gái trai cười phấn lụaCao hát khúc Ân tình(Còn mong gì tuyết trắngMà dâng hồn thơ xanh)Sầu đông cay độc ẩmHồn đau nghẹn bất bìnhĐêm đêm nằm đếm tócNghĩ thẹn kiếp phù sinh.Xuân về say ý nhạcĐôi câu gọi chút tìnhTrăng liềm chênh chếch đổVề phương nào đó anh?(1949)Trích trong “ Mùa Giải Phóng”HOÀNG TỐ NGUYÊN.
Phần thứ Tư
SƠ LƯỢC CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP
Phần thứ Tư
SƠ LƯỢC CÁC NHÀ VĂN ĐỘC LẬP

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét