Nghĩ về thủ thuật
làm phim câu khách
Công thức làm phim ăn khách, người làm điện ảnh đều nắm được. Nhưng cũng như công thức nấu ăn, đọc kỹ sách nấu ăn không có nghĩa ai cũng có thể làm được món ngon. Để làm được phim thực sự câu được khách cũng đòi hỏi những thủ thuật và xảo thuật nhất định. Và những phim thuộc loại khá cũng đáng xem, nếu như người ta cần một chút giải trí để vượt thoát một thực tại nghiệt ngã và bấn loạn.
Điều ẩn giữa những dòng chữ
Hemingway thường lảng tránh bình luận phim Ông già và biển
cả chỉ vì không nỡ nói ra những lời nặng nề. Phải nhiều năm sau khi
Boris Pasternak đã mất, người ta mới có thể dàn xếp để làm phim Bác sĩ
Zhivago, bởi khi còn sống ông từng không muốn cho làm phim và nói nếu phải xem
phim Zhivago thì chắc ông sẽ bỏ về giữa chừng. Milan Kundera sau khi
xem phim Kiếp chúng sinh nhẹ khôn kham (The Unbearable Lightness of
Being) thì viết: “Thời đại mới đang sục vào tất cả những gì được viết ra trước
đây để chuyển thành phim, thành chương trình truyền hình hay thành phim hoạt
hình. Vì thế điều quan trọng nhất trong tiểu thuyết chính là cái không thể nói
bằng cách nào khác hơn tiểu thuyết, khiến cho mọi sự phóng tác nó đều không thể
được. Nếu một kẻ điên nào hôm nay vẫn còn viết mà muốn giữ được những tiểu thuyết
của mình thì hắn ta phải viết sao cho không ai có thể phóng tác được chúng, nói
cách khác, viết sao cho không thể thuật lại được”[1].
Tưởng không gì rõ ràng hơn thế. Tiểu thuyết thực sự là tiểu
thuyết khi nó chỉ hay bởi ngôn ngữ và không thể chuyển thể sang bất cứ một hình
thức nào khác. Milan Kundera còn quyết liệt hơn: trong mỗi cuốn sách của mình,
ông đều ghi cảnh báo không được chuyển thể nó sang phim ảnh, không được đọc
trên đài phát thanh, và chuyển sang bất cứ thể loại truyền thông nào. Ta hiểu,
tất cả đều sẽ làm hao hụt ngôn ngữ và độ tinh tế của tác phẩm. Nói khác đi thì
khi “bị” chuyển sang một loại hình khác, văn chương đích thực không còn là
chính mình. Nó… chết.
Về phía người đọc, điều này được chứng thực là hầu như độc giả
đều không hài lòng với bộ phim chuyển thể từ cuốn sách mà họ yêu thích.
Người chuyển thể tác phẩm văn chương hầu hết đều phải theo đuổi
mục tiêu mua chuộc khán giả. Tác phẩm nghệ thuật nào cũng cần công chúng, nhưng
nếu đặt mục đích là đại chúng bình dân thì tinh thần dân túy dụ dỗ người xem phải
đặt lên hàng đầu. Điều đó khiến họ phải lái con thuyền tác phẩm đi chệch hướng
văn chương gốc.
Nhưng lý do cơ bản là tính đọc hiểu, mà có nhà văn gọi là “đọc
không vỡ chữ”. Không vỡ chữ. Nói đơn giản là những người làm phim không hiểu
tác phẩm. Độ tinh tế của những Ông già và biển cả, những Kiếp
chúng sinh nhẹ khôn kham… thì người làm phim không cảm nhận được, không với tới,
và họ đã “diễn nôm” nó theo cách hiểu bình dân. Những bộ phim ấy tất nhiên được
đại chúng hoan nghênh rộng rãi, được một số giải thưởng. Nhưng tác giả và những
người hiểu văn chương của họ thì bất bình.
Trường hợp gần gũi với người đọc Việt Nam là tiểu thuyết Đất
rừng phương Nam. Từ khi ra đời năm 1957 cho đến thập kỷ 1980, có thể nói hầu
như các thế hệ thanh thiếu niên của gần bốn thập niên đã thêm yêu miền đất Nam
bộ nhờ tác phẩm ấy. Đất nước bị chia cắt, nhưng người Bắc đọc sách càng hướng về
Nam bộ ruột rà, khắc khoải thương nhớ, mong ước sum họp, và góp phần xương máu
để cho hai miền gần lại. Nhà văn Nam bộ trên đất Bắc đã phả vào tác phẩm nỗi nhớ
phương xa khiến con người và cảnh sắc Nam bộ càng đẹp, càng da diết.
Báo chí và các sản phẩm văn hóa nghệ thuật đã thành một lối
mòn khi luôn đưa ra một công thức về tính cách Nam bộ: hào phóng, giản dị, thẳng
thắn, mạnh mẽ, ngang tàng… Điều này đúng, nhưng đó mới chỉ là cách nhìn gần. Chỉ
có Đoàn Giỏi mới nhìn ra cái sang, cái đàng hoàng, cái hào hiệp nghĩa khí trong
tính cách Nam bộ. Chú Võ Tòng ở rừng, đi phục kích giết Tây rồi chỉ lấy bộ quần
áo của Tây mà mặc, còn súng đạn thì đưa cho anh em du kích. Anh Ba thủy thủ mơ
mộng nói về con chim cánh cụt ở xứ sở anh đi qua và cho chú bé An chiếc la bàn
đầy ước vọng. Vợ chồng ông già bán rắn nhận nuôi chú bé An như một sự tất
nhiên, và sau khi giết chết con mụ gián điệp, ông già chỉ nói một câu: Vì thù
mà phải báo, chứ tía đâu màng tới chuyện giết một con đàn bà… Các nhân vật đều
không nhiều lời (xin nhấn mạnh: không nhiều lời) và trong cách hành động, trong
cư xử, trong ý nghĩ… đều đàng hoàng nhất mực, ân oán báo đền đều sòng phẳng và
đầy tính hiệp sĩ. Không khí đàng hoàng hiệp sĩ ấy bao trùm toàn bộ tác phẩm và
Nam bộ hiện lên càng đẹp, càng độc đáo hơn bao giờ hết.
Là người Nam bộ, Đoàn Giỏi cũng biết những truyền thuyết dân
gian về bác Ba Phi, có chuyện thật, có chuyện chỉ là giai thoại, chỉ là đồn đại,
được người đời thêm mắm thêm muối. Đoàn Giỏi biết nhưng ông không hề đưa nhân vật
Ba Phi vào Đất rừng phương Nam. Nhân vật dân gian ồn ào bông phèng xuề xòa
ruột ngựa không phù hợp với không khí Nam bộ đàng hoàng hiệp sĩ hào sảng nghĩa
khí mà Đoàn Giỏi tạo dựng trong Đất rừng phương Nam.
Người làm phim nếu thích chuyện bác Ba Phi thì hoàn toàn có
thể tự viết lấy một kịch bản riêng, làm một phim riêng về nhân vật đó. Còn đưa
Ba Phi vào phim Đất rừng phương Nam[2] có nghĩa là đọc không vỡ chữ,
không hiểu tác phẩm, dẫn đến sự tùy tiện. Có thể nhân danh sáng tạo để bịa thêm
một vài nhân vật cho phim, nhưng phải là nhân vật phù hợp với phong cách tác phẩm
văn chương gốc, còn Ba Phi là nhân vật dân gian mang màu sắc khác hẳn, nếu như
không nói là đối chọi với không khí chung.
Chú Võ Tòng của Đoàn Giỏi dù mất nhà cửa gia đình, phải sống
trong rừng, nhưng vẫn là người điềm đạm nghĩa khí, có chút hào hoa, không phải
là một anh người rừng phì nộn bù xù thô thiển như trong bản phim truyền
hình Đất phương Nam[3]. Người làm phim có thể tránh nói đến mục tiêu câu
khách của mình mà ngụy biện rằng họ làm phim xuất phát từ tình yêu tác phẩm. Hầu
hết những người yêu đơn phương đều không hiểu đối tượng của mình. Họ nhìn ngắm
đối tượng và tưởng tượng ra một hình mẫu theo cách họ thích. Và sự tưởng tượng
đó tất nhiên sai lạc vì chưa đủ tinh tế, chưa đủ hiểu biết về đối tượng. Người
yêu Đất rừng phương Nam một cách tinh tế thì đã nhận thấy bản thân
tác phẩm là một thực thể trọn vẹn. Trong ấy đủ các yếu tố để khai thác cho một
bộ phim hay. Có câu chuyện chú bé thất lạc đi tìm cha mẹ. Cấu trúc phiêu lưu của
tác phẩm dẫn nhân vật đi vào đất và rừng Nam bộ. Lưu ý là cả đất và rừng, không
phải tùy tiện cắt bỏ phần rừng như trong bản phim truyền hình. Người am hiểu
nghệ thuật sẽ khai thác thể loại tiểu thuyết phong tục thành một bộ phim phong
tục, nếu như có tham vọng hướng đến người xem nước ngoài. Phong tục ở đây là cảnh
vườn chim, chợ nổi, là rừng đước rừng tràm, là xóm ấp ven sông, là đình chùa,
là cảnh đi câu rắn, đi lấy mật ong, hoạt động của phường săn cá sấu… Trong điều
kiện thiếu thốn, người ta có thể nếm mật nằm gai mai phục cả thời gian dài, chứ
không nêu khó khăn huy động kinh phí để cho ra những sản phẩm đẻ non chín ép.
Nghệ sĩ có thể đao to búa lớn nói về sự hy sinh, sự cống hiến, sự tuẫn tiết cho
nghệ thuật nhưng phải những lúc thế này mới thấy đâu là người vội vàng hấp tấp
ăn xổi ở thì. Cho nên dù có hai tác phẩm dựa theo tiểu thuyết, hay nói tránh đi
là “lấy cảm hứng”, thì tác phẩm vẫn còn nguyên đấy, vẫn là thách thức cho những
thế hệ điện ảnh sau này.
Ở trên đã nói đến chất đàng hoàng sang trọng Nam bộ mà không
phải người làm nghệ thuật nào cũng thấy. Trong cấu trúc phiêu lưu và du ký của
một tiểu thuyết phong tục, Đoàn Giỏi cũng đủ tinh tường để đưa vào đó những yếu
tố gây hấp dẫn. Một tác phẩm dù hay mà không hấp dẫn thì vẫn chưa đạt tới tầm
vóc lớn. Đoàn Giỏi đặt chú bé đi tìm cha mẹ vào bối cảnh Nam bộ kháng chiến chống
Pháp. Tính cách nghĩa khí quật cường của người Nam bộ được bộc lộ khi họ không
chịu cảnh giặc Tây xâm lược tàn sát dân Nam. Nhưng tác giả đủ tỉnh táo để không
làm chệch hướng tác phẩm phiêu lưu phong tục, chú bé An cùng các nhân vật chính
chỉ lướt qua trên nền bối cảnh kháng chiến. Trên cái nền đó, tất cả đều thoáng
qua: những chiếc thuyền tải lương và chở người kháng chiến, những đối thoại về
chiến sự, nhân vật vợ chồng mụ Tư Mắm gián điệp, trận phục kích Tây và cái chết
của chú Võ Tòng, rồi kết ở cảnh du kích trong rừng và chú bé An lên đường theo
bộ đội… Cái kết phù hợp với tiểu thuyết phiêu lưu, một chú bé lưu lạc, trải qua
thăng trầm trong vùng đất và vùng rừng, rồi đạt ước nguyện tung cánh giữa thời
loạn.
Đoàn Giỏi tập trung vào cuộc phiêu lưu để giới thiệu cảnh sắc
và tính cách Nam bộ. Ông đã mê hoặc người đọc phía Bắc suốt bốn thập niên (và
cho đến tận bây giờ) để họ cùng ông thương nhớ phương Nam. Và đi đến tận cùng
dân tộc mình, ông đã ra được với thế giới rộng lớn ngoài kia. Tiểu thuyết phong
tục là món ưa thích cho cả người ngoại quốc. Sách đã được dịch ra tiếng Nga, tiếng
Trung, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha… là minh chứng.
Nhắc lại điều này để thấy người không hiểu tác phẩm, hoặc cố
tình không hiểu, vì mục đích dân túy, lấy lòng người xem bình dân, đã chủ ý giảm
nhẹ chất phong tục mà nhấn vào cuộc đánh Tây. Và với mục tiêu này, họ tìm cách
gài cắm những thông điệp cá nhân gây phản cảm.
Một điều mà những nhà văn như Hemingway, Pasternak, Kundera
không hài lòng với bộ phim dựa theo tác phẩm của mình bởi vì sự thiếu tinh tế của
người làm phim. Từ câu chuyện của nhà văn, nhà biên kịch và đạo diễn đã dàn dựng
tình huống theo cách điện ảnh: những điều tế nhị không cần nói ra đã được nói
to lên thành lời. Những chuyển đổi tâm lý chỉ cần diễn tả bằng sắc mặt ánh mắt
thì bị tung hê lên thành hành vi. Những thông điệp tư tưởng không được biến
thành hình ảnh mà được đặt vào miệng nhân vật, nhân vật trở thành loa phát ngôn
thô thiển… Tác giả Đất rừng phương Nam nếu còn sống chắc cũng phải sượng
sùng khi xem hai bản phim, trong đó các nhân vật có những câu nói sống sượng hoặc
bông phèng, những hành động thô thiển, những hình ảnh tung hê hết ý tưởng mà lẽ
ra chỉ nên cảm nhận tinh tế và trầm lắng. Là người rộng lượng và hiền hậu, chắc
ông sẽ kìm nén bộc lộ sự bất bình như Hemingway, cũng không bỏ về nửa chừng như
Pasternak. Ông sẽ kiên nhẫn ngồi lại để thấy Nam bộ đầu thế kỷ XX trong phim chỉ
là một sự chắp vá tân trang theo cách bây giờ người ta tô son trát phấn cho tượng
và lợp mái ngói mới đỏ lòe cho đền chùa cổ.
Hướng đến đối tượng bình dân
Một cuốn sách mua về có thể để lâu lâu mà chưa vội đọc. Nhưng
một bộ phim ra rạp không thể để rạp không có người xem.
Người làm điện ảnh có thể dẫn ra điều này để bảo vệ quan điểm
bộ phim phải có tính dẫn dụ, tức là dứt khoát phải lôi cuốn hút. Lôi cuốn là
bán được vé, bán được vé tức là có doanh thu. Doanh thu là mục đích cuối cùng
và cao nhất, tức là phim tất nhiên phải có tính câu khách.
Quan điểm này có thể phù hợp với số đông người làm điện ảnh
hiện nay nhưng không hẳn đúng với những tài năng lớn như Andrei Tarkovsky (Chiếc
gương), Anderei Konchalovsky (Siberiade), Satyaji Ray (Thế giới của Apu), Abbas
Kiarostami (Hương vị anh đào)… Những đạo diễn này theo thuyết tinh hoa, thậm
chí họ làm phim theo kiểu chỉ dành cho 10 người ngồi lại trong rạp trong khi 90
người bỏ về. Những người làm phim này và những người xem phim này quan niệm rằng
trong thế giới ngày nay nghệ thuật đã chết. Những thứ con người đang thưởng thức
không phải là nghệ thuật đích thực. Đó chỉ là những sản phẩm mà người làm ra nó
ảo tưởng rằng mình đang làm nghệ thuật, người xem ảo tưởng rằng họ đang thưởng
thức nghệ thuật, nhà quản lý ảo tưởng rằng họ đang có quyền thúc đẩy và quản lý
sản phẩm nghệ thuật. Đó mới chỉ là thứ cận nghệ thuật, á nghệ thuật, thậm chí
là ngụy nghệ thuật. Đừng vội nghĩ rằng đó là cuộc chơi xa xỉ của văn nghệ xa
lông và những kiệt tác chỉ có ảnh hưởng hạn hẹp trong giới tinh hoa. Nhờ có những
nghệ sĩ như vậy mà các thế hệ tương lai còn biết rằng thời này chúng ta có làm
nghệ thuật. Những bọt bèo váng mỡ ngày hôm nay sẽ tan biến vô tăm tích trong hố
đen thời gian. Nhưng người đầu tư cho nghệ sĩ đích thực làm phim cũng như mười
người ngồi xem họ đủ nuôi dưỡng tinh hoa cho một thời đại và lưu giữ ảnh hưởng
lâu bền. Chân lý rất nhiều khi chỉ thuộc về thiểu số. Nghĩ cho cùng, có thể những
nghệ sĩ ấy quá quyết liệt và cực đoan, nhưng đó là điều khiến cho nghệ sĩ và
công chúng đương đại cần phải bình tĩnh xét lại chính mình.
Ngay tiếp sau những nghệ sĩ elite là những người dung hòa giữa
nghệ thuật đích thực và nghệ thuật câu khách. Tên của những đạo diễn trung dung
này có thể tạm kể trong những bộ phim chuyển thể từ văn chương: Steven
Spielberg với Bản danh sách Schindler, Anthony Minghella với Bệnh
nhân người Anh, Joel và Ethan Coen với Người già không chốn nương
thân, Phillip Noyce với Người Mỹ trầm lặng…
Phổ cập hơn, vì phổ cập mà nổi danh hơn, ở dòng chủ lưu, là
những nghệ sĩ làm ra nghệ thuật thị trường. Trong điện ảnh, họ làm phim câu
khách, mục đích của họ dù che phủ bằng những ngôn từ cao cả thì mục tiêu cuối
cùng vẫn là doanh thu, vẫn là lợi nhuận. Họ có thể không thừa nhận nhưng tác phẩm
của họ không gì khác là sự dụ dỗ và mua chuộc công chúng. Ngay chính trị đương
thời cũng có xu thế thiên về chủ nghĩa dân túy, mỵ dân, lấy lòng quần chúng.
Các lĩnh vực kinh tế xã hội hầu như đều vậy. Điện ảnh cũng không đi chệch dòng
chủ lưu của thời đại. Tinh thần dân túy là một cách hạ thấp tiêu chuẩn, đặt mọi
thứ thấp xuống một vài bậc cho vừa lòng bình dân. Suy cho sâu xa thì đó thực chất
là một cách coi thường công chúng mà lại khiến công chúng hân hoan hài lòng.
Bài bản mua chuộc công chúng thực ra đều có công thức.
Phim không thể thiếu những tình huống éo le cực kỳ hấp dẫn.
Người ta phải nghĩ ra những câu chuyện tình có sự tham gia của nhiều đối tượng,
thật trắc trở, thật nhiều khúc ngoặt lối rẽ, nhiều xung đột gây sức ép tâm lý
cho người xem, nhiều hành động võ thuật ngoạn mục, cuối cùng được tháo gỡ như một
tiếng thở phào.
Phim không thể thiếu chất lâm li. Câu chuyện sẽ được bi kịch
hóa, được thêm vào đó những tình tiết gây mủi lòng, làm người xem rưng rưng, thậm
chí sướt mướt.
Bữa cơm điện ảnh không thể thiếu một vài gia vị kiểu gây cười.
Phần nhiều là hài bình dân bông phèng, thậm chí gây cười dễ dãi. Ấn tượng để lại
sau khi xem phim là người ta cũng được cười, cười rồi quên, không phải loại cười
để ám ảnh.
Món gia vị điện ảnh cũng không thể thiếu sự gãi ngứa. Gãi ngứa
cho khán giả và cho chính người làm phim, giải tỏa ẩn ức bức xúc. Các nhà làm
phim vẫn ảo tưởng là họ có tư tưởng, ít nhiều gì cũng cần gài cắm vào đó đôi ba
thâm ý. Như ta thấy, những cái gọi là thâm ý trong phim cũng không thâm sâu gì,
hầu hết đều bị lộ thiên. Nhân vật và tình huống trở thành loa phát ngôn tư tưởng
chủ đề cho bộ phim. Người làm phim yên tâm người xem bình dân sẽ hiểu rõ ý mình
và phim có thể qua cửa ải kiểm duyệt.
Thêm vào đó, con người vốn ưa nịnh. Người xem phim cũng không
thể khác. Hình ảnh trong phim phải lộng lẫy choáng váng, thậm chí là lòe loẹt sặc
sỡ, nó đánh thẳng vào thị giác người xem. Âm nhạc cũng phải thật du dương uốn
lượn tấn công trực tiếp vào thính giác. Một thứ hình ảnh nịnh mắt và âm nhạc nịnh
tai vuốt ve các giác quan. Người ta có thể biết trước nội dung và nghệ thuật
phim cũng làng nhàng thôi, nhưng vào rạp mà được chiêu đãi thứ hình ảnh và âm
nhạc nịnh mắt nịnh tai đó rất có thể bị lung lạc lôi kéo, bị thao túng cảm xúc
đến mức có thể xao xuyến và rưng rưng. Như vậy là hình ảnh và âm thanh đã giúp
bộ phim chuyển bại thành thắng.
Công thức làm phim ăn khách, người làm điện ảnh đều nắm được.
Nhưng cũng như công thức nấu ăn, đọc kỹ sách nấu ăn không có nghĩa ai cũng có
thể làm được món ngon. Để làm được phim thực sự câu được khách cũng đòi hỏi những
thủ thuật và xảo thuật nhất định. Và những phim thuộc loại khá cũng đáng xem, nếu
như người ta cần một chút giải trí để vượt thoát một thực tại nghiệt ngã và bấn
loạn.
Dựa vào một tác phẩm văn chương, người ta có thể làm một bộ
phim trung thành với văn chương mà vẫn là tác phẩm điện ảnh tốt. Tiểu thuyết Đất
rừng phương Nam đã bao hàm trong đó đầy đủ tính xi nê: cuộc phiêu lưu qua
những miền đất, sự trình hiện phong tục, đường dây câu chuyện mang tính du ký,
những tình huống chiến tranh đầy nghĩa khí, câu chuyện đuổi bắt bí ẩn… Trên nền
phong phú đó, người tài có thể thỏa sức sáng tạo mà không cần kịch tính hóa, bi
lụy hóa, đùa giỡn hóa, thô thiển hóa câu chuyện, thông tục hóa ngôn ngữ… Thực tế
điện ảnh đã cho thấy có nhiều phim chỉ tỉa lấy một tuyến nhân vật, tỉa lấy một
cốt truyện trong một tác phẩm đa cốt truyện, thậm chí chỉ chọn một nhân vật hoặc
một tình huống trong sách để làm phim. Một ít phim thành công nhưng phần lớn những
phim bị phê bình đều do sự chắp vá kém cỏi. Cần nhắc lại lần nữa: có thể tự do
chuyển đổi, nhưng nếu đã mượn tên tác phẩm, thừa nhận dựa theo tác phẩm, hoặc lấy
cảm hứng từ tác phẩm, thì phải hiểu phong cách của nó, và phải trung thành với
tầm vóc sâu sắc và tinh tế của nó. Nếu không thì phim chỉ là sự mạo danh, là sự
nấp bóng, sự ăn theo, vì mục đích lợi nhuận mà thôi.
Như ta thấy, công thức làm phim câu khách trình bày ở trên
khiến cho người làm phim thị trường dứt khoát phải đi chệch khỏi cái uyên áo
cái tinh tế của chữ nghĩa. Đó là điều khiến Milan Kundera “cấm” người ta chuyển
thể sách của ông sang phim ảnh. Những nhà văn đồng thời là nhà văn hóa như ông
không chịu được khi thấy sự hàn lâm của mình bị văn hóa đại chúng “giày xéo”.
Và ông cũng đã thành công sau đó với tiểu thuyết Sự bất tử, Chậm… trong đó
ông đã cho người đọc lạc trong mê cung chữ nghĩa đa cốt truyện. Chắc một ngày
nào đó, một nhà làm phim đại tài mới có thể tìm cách giải mã được tác phẩm của
ông theo kiểu điện ảnh. Đó sẽ là thách thức lớn.
Nhưng trong một môi trường mà có thể mượn câu thơ của Chế Lan
Viên “giấc mơ con đè nát cuộc đời con”, các tác giả vẫn thường hãnh diện khoe
nhau rằng sách của mình được dựng thành phim màn ảnh lớn hoặc phim truyền hình
nhiều tập.
Quay lại với Đất rừng phương Nam. Về lâu dài tác phẩm này vẫn là nguồn cảm hứng, đồng thời vẫn còn nguyên đấy một thách thức khó vượt qua, cho các đạo diễn điện ảnh, và có thể cả sân khấu nữa.
Chú thích:
[1] Tiểu thuyết Sự bất tử (trang 342), Milan
Kundera, Ngân Xuyên dịch, Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn tái bản 2019.
[2] Phim Đất rừng phương Nam, kịch bản Trần Khánh
Hoàng, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng 2023.
[3] Phim truyền hình nhiều tập Đất phương Nam, kịch bản và đạo diễn: Nguyễn Vinh Sơn, 1997.
23/10/2023
Hồ Anh Thái
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét