Thơ Nguyễn Đình Minh: "Khi thi ca
càng nén lại thì âm hưởng
càng lan tỏa"
Trong số những nhà thơ Hải Phòng đang trăn trở tự thay
đổi thơ mình để vươn tới những trường thẩm mỹ mới của thi ca hôm nay thì Nguyễn
Đình Minh là một gương mặt thơ đang được chú ý. Gương mặt thơ anh đã dần hiện
lên trong hành trình của thi ca đương đại và thi ca Hải Phòng những tháng năm
này.
Thời gian trước đây, thú thực tôi ít đọc thơ Nguyễn Đình Minh và không có ấn tượng gì nhiều về anh. Chỉ đến lần này, khi đọc một cách tổng thể và nghiêm túc 3 tập thơ: Mắt cỏ, Thức với những tập mờ và Lặng lẽ đời cây của anh, tôi mới thấy hiện lên một chân dung đời – sống – thơ khá đặc biệt và đẫm chất thơ Hải Phòng nơi Nguyễn Đình Minh.
Vậy, phải chăng thời gian này, ngay cả những người làm thơ
chuyên nghiệp như chúng ta cũng rất ít khi đọc thơ nhau một cách cẩn trọng và
nghiêm ngắn? Có lẽ vì thời gian sống của con người đương đại đang bị đời sống
đô thị, đời sống công nghệ – điện tử nghiền thành những mảnh vụn nên đời sống
ký ức thi ca của người viết cũng bị nhấn chìm trong những mảnh vụn ấy?
Nhà thơ Nguyễn Đình Minh sinh năm 1961, quê Vĩnh Bảo, Hải
Phòng, tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Hà Nội năm 1982, làm giảng viên Trường
Sư phạm Lai Châu từ 1982 – 1989, tu nghiệp thạc sĩ khoa học tại Đại học Quốc
gia Hà Nội năm 2002, hiện là Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Khuyến, thành phố Hải
Phòng. Anh là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng từ năm 2010, hội viên Hội Nhà văn
Việt Nam từ năm 2013, ủy viên BCH Hội Nhà văn Hải Phòng năm 2013, trưởng Chi hội
Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng năm 2017.
Nhận xét về mấy tập thơ mới của mình, nhà thơ Nguyễn Đình Minh cho biết: “Khi in những tập thơ này, tôi những mong các bài thơ nhỏ bé của mình làm sáng lên được một vài những khuất khúc, sự tàng hình của đời sống nhân gian với những đạo lý, Tổ quốc, tình yêu… chúng tập hợp lại trong cái logic của những “tập mờ” ngay bên cạnh những gì trước đây ta đã làm ta nghĩ suy về nó”.
Vốn là một nhà giáo, người thơ Nguyễn Đình Minh thường lặng lẽ,
khiêm tốn trong chốn văn chương vì những điều cần nói, cần giãi bày, biểu cảm
thì anh đã đưa hết vào thi ca mình rồi. Điều rất may, trong hành trình viết của
mình những tháng năm này, tuy không được dư luận thi ca và dư luận phê bình nhiều
chiều nhắc đến như những hiện tượng thi ca nổi trội khác, nhà thơ Nguyễn Đình
Minh vẫn lặng lẽ thể nghiệm thơ mình ở các chiều kích khác nhau của ngôn ngữ
thơ với sức viết khá bền bỉ, càng viết càng đào sâu tới được các vỉa tầng đời sống
của thi ca đương đại.
Một trong các biểu tượng nghệ thuật chính làm nên gương mặt
thơ Nguyễn Đình Minh là không gian văn hóa, hơi thở đời sống của các vùng đất
mà anh từng sống, từng đi qua. Tôi khá ấn tượng với bài thơ “Khèn Mèo nghe dưới
đêm trăng” của Nguyễn Đình Minh với những câu thơ:
Có những ngày nắng
chín mùa nương
Sắc Mèo nở muôn màu xuống chợ
Chung chiêng yên ngựa
Nhấp nhánh sợi cầu vồng
Hoa nhờ gió gửi hương tìm bạn
Rủ tiếng khèn dìu dặt đi theo.
Đêm hồi hộp, thầm thì,
sao cài ngang tóc núi
Chân cầu thang mòn gót trai Mèo
Cây khuya rừng kết cầu ân ái
Túi hạt tình trong tiếng khèn anh để lại
Trăng đã vẹt rồi
Em có nhận ươm gieo?
Bài thơ này như một khắc họa trên đá núi Hà Giang, một khắc họa
về không gian sống của người H’mông đã hiện lên trong tiếng khèn u uẩn cô đơn cả
ngàn đời nay phiêu bạt trên vùng cao nguyên đá nhọc nhằn và nghèo khó. Và qua
bài thơ “Khèn Mèo nghe dưới đêm trăng”, Nguyễn Đình Minh với trái tim thi sĩ đầy
duy cảm và duy mỹ của mình hình như đã rung động được tới bề sâu cái vẻ đẹp
cô độc – du mục của văn hóa H’mông.
Cũng với biểu tượng nghệ thuật trong trường thẩm mỹ ấy, ở một
bức tranh khác là “Trà đêm hồ Núi Cốc”, Nguyễn Đình Minh lại dẫn chúng ta đi
qua những thao thức, trăn trở của miền chè Thái Nguyên khi tình yêu và cái đẹp
lên hương như những búp trà non tươi phải trải mình qua lửa nóng, qua chà xát,
bầm dập của nỗi đau chè để được hồi sinh:
Đất uống trăng và đắng chát
nhuộm lá chè màu lục
Nắng sương chan nỗi cơ hàn
đọng vị kết hương
Em hoá than hồng, đêm rét thấu
Thái Nguyên
Ta lãng đãng say hương chè
Để tự giắng tơ tình hồ Núi Cốc…
Những lá chè mọc sóng đôi bị ngắt
Đâu lá chồng, lá vợ?
Đâu chàng Cốc, nàng Công?
Thân xác rã rời, nát tan vì chà xát.
Những mơn mởn vón đen
thành khô đét
Bao căng tràn thiêu lửa hóa
quằn queo…
Em tủm tỉm chế trà, nước ấp úng
sôi theo
Chút bùa mê lúng liếng vào trong ấy
Đêm đỏ má, làn hương thơm sống dậy
Bầm dập nỗi đau chè
Tan thành nước ngát xanh trong
Một chút chát bâng khuâng,
Một chút đắng buồn thương
Còn vị ngọt đê mê đọng nơi cuống lưỡi
Ta uống lửa nồng, uống giọng em
cười nói
Hồn trà phiêu diêu mặt đất hóa
thiên đường.
Cứ ngỡ rằng tan chảy
chẳng còn vương
Trong vòm họng sáng đèn xua bóng tối
Như nước chảy, mây bay, như gió thổi
Giữa cõi người
Từng chớp mắt hồi sinh?
Chỉ qua 2 bài thơ “Khèn Mèo nghe dưới đêm trăng” và “Trà đêm
hồ Núi Cốc” cũng có thể cảm nhận hết được âm hưởng, hình tượng của thơ Nguyễn
Đình Minh trong một vùng thi cảm và thi ảnh của không gian văn hóa đặc trưng của
các miền đất đã được anh cất dựng thành biểu tượng nghệ thuật chính của thơ
mình.
Trong thơ Nguyễn Đình Minh, ta có thể thấy ấn tượng thị giác
luôn đi cùng ám ảnh thính giác khi nhà thơ quan sát và phát hiện những nỗi đau
của con người trong đời sống hôm nay. Trong bài thơ “Tiếng nhị giữa Biển Hồ” là
âm thanh xa xót của cây nhị trên tay ông già mù người Việt trên bước đường tha
hương:
Thốt nhiên tiếng nhị cứa vào đêm
bóng ông già mù run run gầy guộc
chuốt những sợi âm thanh tê buốt
gửi Biển Hồ
hoang lạnh mênh mông…
Tức tưởi những giọt nước mắt
rỏ vào trăng bệch bạc khoang thuyền
chiết ra từ vòm ngực ly hương
nỗi lẻ loi tái tê người xa xứ
chìm nổi bọt bèo.
Tiếng nhị chạm vào tôi.
Còn trong bài thơ “Đóm đóm đêm Cổ Loa” biểu tượng nghệ thuật
của thơ Nguyễn Đình Minh lại là nỗi đau thăm thẳm ngàn năm của những vòng thành
ốc với mối tình oan nghiệt “Mỵ Châu – Trọng Thủy” như bài học vỡ lòng của lịch
sử dựng nước và giữ nước thuở xa xưa.
Những con đom đóm bay ngẩn ngơ
đêm Âu Lạc
Đom đóm muốn tìm gì
Nơi thành Cổ Loa một thời
tự đựng trong mình cơn bão
Hình xoắn ốc.
Nuôi một tình yêu mong manh
như cầu vồng bảy sắc
Tan nhanh
Hóa thành những cơn mưa xác chết.
Tin một lời thề lọc lừa viết vào gió rỗng
Để ngàn năm đánh mất trời xanh?
Đất nghiêng xiêu những chiếc cờ tang
bằng lông ngỗng
Phơ phất đêm đá không đầu
Vô hồn Bách Việt?
Qua 3 tập thơ, nhất là cuốn “Thức với những tập mờ” – một tựa
đề khá mới và hiện đại, ta có thể thấy đề tài lịch sử và nỗi đau của đời sống
con người hôm nay luôn trở đi, trở lại và là mối quan tâm lớn trong nhiều bài
thơ của Nguyễn Đình Minh. Qua đó, ta nhận thấy sức vóc của một năng lực thơ muốn
vươn tới, muốn khái quát hóa những chuyển động đang còn khuất lấp đâu đó trong
dòng chảy của thi ca đương đại.
Nguyễn Đình Minh bước đầu đã có những phát hiện mới lạ về mặt
hình tượng thơ và lập ngôn về mặt tư tưởng. Điều quan trọng, trái tim duy cảm của
anh ở không ít bài thơ lại lấn át phần nội quan duy lý – vô thức trong con người
thơ nên còn thiếu sự phát hiện độc đáo về mặt ý tưởng thơ. Đây là điều mà thơ
anh cần khắc phục trong thời gian tới để các bài thơ có sự cô đọng, hàm súc khi
thi ca càng nén lại thì sự âm vang càng phát xạ, lan tỏa.
6/11/2023
Nguyễn Việt Chiến
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét