Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Tiếng lòng nhà văn Trần Quốc Huấn trong "Người lính kèn về làng"

Tiếng lòng nhà văn Trần Quốc Huấn
trong "Người lính kèn về làng"

Dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn Trần Quốc Huấn, mặt trái của chiến tranh hiện ra muôn hình muôn vẻ. Nếu trong truyện ngắn “Mùa lá rụng nhiều” (1991), linh hồn của những người lính vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường bi phẫn ra sao với hình tượng các bóng ma không đầu, thì đến kịch bản điện ảnh “Người lính kèn về làng” (1991), tác giả lại hướng chúng ta vào khía cạnh khác. Với những người lính may mắn được trở về quê hương, số phận của họ liệu có hạnh phúc không?
Thái – nhân vật chính của truyện – là người lính kèn trở về quê hương sau tám năm phục vụ trong Đoàn Quân nhạc, Thái phục viên về làng vì căn bệnh hiểm nghèo – có “khối u dẹt, vùng dưới lá lách…”, nhưng trong hồ sơ chỉ ghi là yếu sức khỏe. Là một nhạc công trong quân đội, Thái tinh tế, nhạy cảm hơn người. Bởi âm nhạc là ngôn ngữ kỳ diệu của âm thanh nghệ thuật. Nó có khả năng diễn đạt những gì khó nói, khó vẽ, khó chạm khắc nhất của tình cảm, suy nghĩ, tâm trạng sâu kín phức tạp nhất trong mỗi con người. Điều mà các bộ môn nghệ thuật khác, kể cả văn học đều bất lực. Đặc biệt chất trữ tình văn hóa đã thấm sâu vào từng đường gân, thớ thịt, cảm xúc nhạy bén trong anh. Và anh từng gửi nó vào các giai điệu phong phú của cây đàn contrebass – tri âm tri kỉ – đồng thời là một người lính, khi hiểu rõ tinh tế tình thế của mình: phải phục viên ở tuổi hai mươi tám đang sung sức vì căn bệnh mà bác sĩ cũng “ái ngại” bởi “xiết bao hiểm họa”, anh vẫn không tuyệt vọng. Anh xin thủ trưởng đơn vị không cho mình đi điều dưỡng dài ngày trước khi ra quân, mà được trở về  quê ngay với hy vọng “Biết đâu sự hoạt động và không khí gia đình, thôn xóm sẽ có lợi cho sức khỏe của tôi”. Song, với suy nghĩ chủ động tiến công chống chọi lại bệnh tật của “người lính kèn”, Thái đã đối mặt với thực tế quê hương và đã sống ra sao khi về làng?
Khúc dạo đầu bản giao hưởng quê hương không êm đềm như người ta tưởng. Trái lại tiết tấu nhanh, mạnh và đây đó những nốt nhạc cao thấp bất ngờ đã gieo vào lòng Thái nỗi lo âu mơ hồ. Về làng buổi chiều hôm trước thì sáng hôm sau, Thái như một người lính có tính kỷ luật cao, đến trình diện ngay tại Ủy ban xã. Thời buổi chiến tranh đàn ông trai tráng ra tận hết. Ở lại quê hương chỉ có ông bà già, phụ nữ và trẻ em. Nên Thái không hề ngạc nhiên khi gặp Lài – chị phó chủ tịch ủy ban kiêm Hội trưởng Hội phụ nữ xã, từng là bạn học thời cấp II. Trong cuộc tiếp xúc này, điểm nổi bật ở Lài là thái độ hách dịch, cách nói năng cụt lủn, bỗ bã theo tính chất gia đình ngay ở nơi công sở của một người có quyền chức cao chốn làng quê. Trước một người nông dân “Tóc đốm bạc, tay cầm cuộn dây thừng, ống chân lấm bùn” đến xin giấy khai sinh cho con với thái độ khẩn thiết, quan trọng:
– Báo cáo chị phó chủ tịch…
– Việc gì? – Người phụ nữ dựng xe, hỏi, mặt không ngẩng lên.
– Báo cáo chị… Nhà tôi đẻ đã ba ngày, tôi đến xin chị làm cho cái giấy khai sinh.      Bà phó chủ tịch bước thoăn thoắt vào thềm, hỏi:
– Thế nào? Lại đẻ? “Bộ đội” hay vẫn “Thanh niên xung phong đấy?”
– Dạ.. vẫn… “bướm bay lèn đá” đấy ạ. Khổ quá! Người đàn ông tóc bạc, hom hem, gãi tai nhăn nhó, bước theo bà phó chủ tịch.
Ý thức về quyền lực và thái độ khẳng định ý thức đó đã làm mất đi nét nữ tính mà thoạt tiên Thái tưởng là chị đã có. Giây phút đó, trước mắt anh, không phải là người bạn cùng học xa xưa, mà là “một phụ nữ trạc ba mươi, da rám nắng, tóc chải ngôi giữa, áo xanh trứng sáo, cổ lá sen nằm, quần lụa chéo xắn lưng bắp chân, xuống xe đạp, dắt vào trụ sở, chị nhìn xéo qua Thái, mủm mỉm… Thái bước tới:
– Chào chị, chị làm ơn cho biết đồng chí Chủ tịch có ở đây không ạ?
– Chủ tịch họp trên huyện. Chỉ có phó chủ tịch ở nhà – chị thôi tủm tỉm, lấy bàn chân nọ gạt ống quần chân kia xuống”.
Rõ ràng: gọn gàng, trẻ trung, tình tứ, hóm hỉnh là vẻ đẹp tự nhiên vốn có ở Lài. Nhưng tất cả đã bị chị tự lẳng đi để cố tôn cao mình bằng tư thế và giọng điệu kẻ cả, bề trên, oai vệ đến khô cứng.
Trong cuộc trò chuyện tiếp giao tiếp với Thái tại trụ sở, thái độ của Lài cũng rất thất thường. Ban đầu, trong lúc đọc hồ sơ của Thái, khi anh gợi nhớ tới mình thời từng đi học xa xưa, Lài hồn nhiên khẳng định:
“ – Quên là thế nào. Học với nhau suốt cấp hai. Anh học lực trung bình nhưng được cái hát hay, đúng chưa? – Lài trả lời chậm rãi, mắt vẫn không rời tập hồ sơ.”
Câu nói của Lài đầu tiên như một đợt sóng tình cảm êm đềm mơn man ký ức Thái, khiến anh “mỉm cười, đưa mắt nhìn ra ngoài sân nắng”. Nhưng lập tức tín hiệu một cơn sóng ngầm dữ dội cũng xuất hiện cùng một lúc trước luồng mắt của anh. Giữa trưa, nắng ngùn ngụt, một ông già đang cào tải thóc phơi”. Một đoạn văn ngắn chỉ có hai câu mà chứa đựng hai hình ảnh đối lập nhau: một bên là Thái với nụ cười nhẹ, hiền hướng về ánh sáng ấm áp của kỷ niệm hay hay tuổi học sinh vẫn được cô bạn cũ lưu giữ, với một bên là hiện thực gay gắt, chói chang, nóng như lửa đốt, sẵn sàng thiêu cháy tất cả… Thứ nhất là ngọn lửa nghi ngờ lóe lên ngay sau lời khẳng định của Lài.
“ – Tốt rồi, giấy tờ hợp lệ cả. Nhưng anh bị bệnh gì mà lại phải phục viên vào lúc này? Lài hỏi, và vồ lấy cái quạt nan, quạt phành phạch như bất chợt nhận ra là nóng quá.”
Thực vậy! Đang trong thời kỳ ác liệt của chiến tranh, nhìn bề ngoài Thái vẫn nguyên vẹn thân thể, không hề hấn gì, sao lại về quê phục viên. Có lẽ Lài cảm thấy mình mất cảnh giác chăng? Hay kỷ niệm thời học sinh đã làm mờ mất sự sáng suốt của lý trí? Câu hỏi như mũi dao ngờ vực xói móc vào trái tim Thái. Cử chỉ hành động bất ngờ, nhanh, mạnh, dồn dập “hỏi”, “vồ lấy”, “quạt phành phạch”, “bất chợt nhận ra là nóng quá” diễn tả đúng tâm trạng tức tối, bực bội, khó chịu đang diễn ra trong Lài. Không chỉ thô bạo trong hành động, mà Lài còn cay nghiệt trong những câu hỏi mỉa mai, đay nghiến, tàn nhẫn đối với một bộ đội phục viên vì “sức khỏe yếu” do căn bệnh hiểm nghèo, đến nỗi bác sĩ cũng không nỡ ghi thật cụ thể vào hồ sơ bệnh án.
“Thái hơi cúi mặt. Anh cảm thấy như mình có lỗi.
– Tôi… ốm luôn ấy mà.
– Ở quân nhạc cũng nhàn, mà vui lắm nhỉ?
– Vâng, vui…nhưng cũng vất vả.
– Thổi kèn mà cũng vất vả?
– Vâng, nó… tốn hơi lắm – Thái vẫn cúi mặt.”
Trước mắt chúng ta, đây không phải là cuộc trò chuyện bình đẳng giữa hai người đồng chí, hai người bạn cũ mà là một cuộc hỏi cung trá hình. Là một chiến sĩ nhạc công nhạy cảm, có chút mộng mơ và giàu lòng tự trọng, Thái cảm thấy đau đớn. Cử chỉ, thái độ của anh không phải là yếu đuối hay nhẫn nhục. Dáng vẻ “cúi mặt”, ý thức “cảm thấy mình có lỗi” của anh không phải là với Lài mà là với căn bệnh xuất hiện không đúng lúc. Giá như nó đến chậm hơn khi chiến tranh đã kết thúc, hoặc khi anh đã nhiều tuổi hơn thì tốt biết bao. Tuổi hai mươi tám của anh lúc này đang rất cần cho sự nghiệp của Đoàn Quân nhạc, tám năm phục vụ trong quân đội đâu phải là nhiều. Hơn nữa anh không thể làm cho Lài hiểu được sự “vất vả”, “tốn hơi” của nhạc công contrebass “trong dàn nhạc, nó chỉ được dành cho phần đệm vì đứng ở hàng cuối cùng”. Anh cảm thấy mình bất lực trước số phận nghiệt ngã của mình.
Còn Lài sau một hồi “tra tấn” tinh thần tay bộ đội phục viên không đúng lúc, có lẽ chị cảm thấy ngoài chức vụ chẳng kém gì nam giới là “phó chủ tịch”, mình còn “kiêm Hội trưởng Hội phụ nữ xã” nữa, nên cần bớt cứng cỏi cảnh giác đi và quan tâm lo sắp xếp công việc ở quê nhà cho anh ta một chút. Nhưng để tỏ rõ mình không chỉ có quyền lực mà còn là người lãnh đạo đầy năng lực quản lý và tổ chức, chị cho biết anh “không đủ sức khỏe phục vụ quân đội, thì về phục vụ cho phong trào của xã. Cần lắm đấy!… Nghe nói đồng chí có mang về cái kèn to lắm phải không?” Trước sự ngạc nhiên của Thái “Lài cười độ lượng, giọng đã mềm lại.
– Bất cứ ai trở về làng chúng tôi đều biết trong túi họ đựng cái gì…”
Mềm – cứng – mềm là biểu hiện và diễn biến thất thường của Lài – một phụ nữ trẻ, có quyền lực ở nông thôn miền Bắc trong kháng chiến tranh chống Mỹ. Điều đó gây cho Thái sự phấp phỏng chờ đợi trong hi vọng và lo âu: “tôi muốn biết, tôi sẽ làm gì, ở đội sản xuất nào?
– À, việc đó nói chung là…kể cũng khó đấy, tôi còn phải bàn với ban quản trị hợp tác. Chẹp, trước mắt cứ nghĩ cứ nghỉ ngơi cho lại sức đã.”
Ngay câu trả lời kết thúc cuộc nói chuyện cũng ỡm ờ nửa lí nửa tình. Có lẽ cái tình sẽ nặng hơn chăng? Quả thật, một phụ nữ trạc ba mươi tuổi chưa xây dựng gia đình, ở thời buổi chiến tranh, gặp lại người bạn học cũ cũng chưa có vợ như Thái, thật là một cơ duyên hiếm có. Lài đã khéo léo kết hợp việc công: lo sắp xếp công việc cho một bộ đội phục viên với chút cảm tình riêng: cơ hội kiếm chồng, để phân công Thái phụ trách việc coi cá ở Đầm Sen của hợp tác: “- Hợp tác sẽ dựng cho anh cái lều, đêm đêm anh ở đó canh. Bọn ma đói trộm cá nhiều đấy. Anh chịu khó… rồi chúng tôi sẽ tính công điểm cho anh đầy đủ. Được không?
– Nhất trí!
Lài mỉm cười, cánh mũi nở nang, mắt đưa lúng liếng:
– Nhất anh đấy. Trăng thanh gió mát, tha hồ tĩnh dưỡng.. Lài khẽ véo vào tai Thái – rồi thỉnh thoảng tôi sẽ ra “kiểm tra” xem anh bảo vệ thế nào được không?”
Hai lời thoại của Lài không còn ở mức độ nước đôi như trước nữa. Lời thoại thứ nhất là trao việc về lí; lời thoại thứ hai là bộc lộ tình ý kèm theo một cử chỉ “véo khẽ vào tay Thái” khá thân mật, gần gũi cùng với nụ cười, ánh mắt tình tứ, lẳng lơ. Trước đợt sóng tình ào ạt ấy, Thái hoàn toàn không quen. Tám năm trời trong Đoàn Quân nhạc, anh chỉ quen cảm nhận thế giới xung quanh và tình cảm con người bằng những giai điệu không lời nhưng vô cùng tế nhị, kín đáo, sâu lắng và phong phú của âm nhạc. Những nốt trầm bổng, tươi vui, hào hùng hay u buồn… là tiếng nói kỳ diệu đến với tâm hồn anh. Với anh, tình yêu không có lời, mà chỉ thể hiện hoặc êm đềm trong sáng hoặc bí ẩn xa xôi như lời thì thầm của mùa xuân hay mùa thu trong giai điệu âm nhạc mà thôi. Vậy mà người phụ nữ này chưa chi đã “trao” cho anh một công việc cùng với “gửi” một lời hẹn hò như thắt buộc mối quan hệ tình cảm không hề có ở anh. Có lẽ nào thứ tình cảm khó diễn đạt ngay cả đối với các nhạc sĩ danh tiếng trên thế giới như Sôpanh (Ba Lan); hay Tchaicovsky (Nga)… lại bị thể hiện một cách thô bạo như một cuộc trao đổi giữa lý và tình như thế này ư?
Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của Thái có một chiều sâu riêng, đủ sức cưỡng lại sự xô đẩy của con sóng tình lộ liễu đến mức thô thiển ở Lài. “Không trả lời câu hỏi mang tình ý riết róng ấy… anh chỉ biết cười bối rối” là thái độ chân thực đúng mực của Thái. Bởi dầu sao, Lài là người duy nhất trong Ban quản trị quan tâm đến tình trạng sức khỏe “đang yếu đau, thổi kèn còn chẳng nổi, sao nói chuyện đi cày” của Thái. Ít nhất, Lài có ơn với anh, nên Thái phải thật tế nhị.
Có thể thấy Lài thực sự yêu Thái nhưng chị lại không có văn hóa tình yêu. Về ý thức tự giác, Lài không hiểu một tình yêu đẹp phải có từ cả hai phía và phải thực sự hiểu thấu, cảm thông niềm vui, nỗi buồn và khát vọng của nhau. Về mặt tâm sinh lý, Lài yêu với bản năng của người đàn bà muộn chồng, khát khao cuộc sống lứa đôi trong thời chiến. Hơn nữa lại sẵn quyền lực trong tay nơi làng xã nông thôn cho nên Lài tưởng cứ quan tâm bố thí cho Thái một công việc nhẹ nhàng như một sự ban ơn để thắt buộc; cứ đề cao Thái trong một lễ cưới anh đến dự là “một hạt giống văn nghệ quý, sẽ thổi bùng lên phong trào văn hóa văn nghệ của xã nhà”. Thậm chí, Lài còn tìm cách gặp riêng Thái ở nhà anh ban ngày, rồi ở lều coi cá vào buổi tối, để liếc mắt đưa tình, “nghiêng mặt mủm mỉm” với “Cặp mắt một mí liếc xéo sang Thái một đường sắc ngọt”… là có thể quyến rũ được “con mồi” khờ khạo này. Lài không hiểu được rằng, tất cả những mánh khoé ấy chỉ làm Thái mất tự nhiên, miễn cưỡng bối rối khi gặp mặt chứ không hề có chút cảm xúc yêu đương nào.
Cuối cùng, Lài gợi tình sát sạt thô bạo tới mức nhắc lại ấn tượng từ ngày xưa, trong một lần sinh hoạt Đoàn trường, “Tôi vô tình chạm đùi vào tay vào đầu gối anh… anh cứ để nguyên. Tôi cũng cứ để thử xem sao. Đến lúc nóng cả lên mà đầu gối anh cũng không rụt lại… khiếp! Thế mà anh quên đấy…” Cho đến lúc đó, chắc chắn  Thái không dấu nổi nỗi ghê sợ đến mức ghê tởm đối với người đàn bà muộn chồng có “tiếng cười ran lên”, “giòn giã lạ lùng” tiếp ngay sau lời nói quấy rối tình dục bất thường ấy. Hành động “đứng dậy, đi lại phía cột”, “gỡ khẩu súng” xuống để đi tuần của Thái đã bộc lộ thái độ khinh bỉ, muốn xua đuổi con quỷ cái dâm đãng ra khỏi cái lều trong sạch của anh, ngay lập tức như thế nào! Vẫn biết về phương diện văn hóa tình yêu kết hợp với tình dục là đạt đến sự thăng hoa tuyệt vời. Nhưng tình dục không hề có tình yêu kiểu của Lài thì chỉ là phút điên cuồng ngu muội của thể xác mà thôi. Hậu quả là, từ đó trở đi thái độ đối với Thái ở Lài chỉ còn là sự thù ghét.
Chương 2 của bản giao hưởng quê hương là giai điệu hỗn độn âm thanh của những thái độ bêu rếu, khinh bỉ, sỉ nhục trong đám đông dân làng ở đình, đối với các đứa con lầm lỗi: ba người đào ngũ. Từ miệng lũ trẻ trâu “khóe miệng, gò má lem nhem bụi than” vì nướng ngô ngoài đồng đến “cô gái sát bên tai Thái” trong đình; từ đám xã viên ngày một đông ở thềm đình đến những người đàn bà làm cán bộ phụ vận trong xã đều thống nhất ở một điểm: những kẻ đào ngũ là bọn “hèn”, “khốn nạn”, “thật là nhục!” Duy nhất và thật ngạc nhiên chỉ có một “bà già mặc áo vá vai, quần xắn đến gối, để lộ hai cẳng chân gầy guộc, đen nhẻm thủng thẳng:
– Nhục thì nhục rồi… nhưng cũng nghĩ cũng tội nghiệp…”
Có lẽ đây là tấm lòng thương xót chân thực nhất của một người mẹ già có hai con là liệt sĩ. Không ai tìm hiểu nguyên nhân đào ngũ của ba người kia, nhưng bà mẹ hiểu những suy nghĩ, những đắn đo, những nỗi đau và nỗi nhục của họ. Họ cũng như con bà, trẻ trung, cầm súng ra chiến trường, và đằng sau họ là cả một cuộc đời bao mơ ước, còn cả gia đình với bao trách nhiệm chưa tròn. Ham sống sợ chết là tâm lý chung trước bom đạn hiểm nguy. Và trong một phút yếu lòng họ đã đầu hàng cái chết để được sống trở về quê hương. Nhưng tuổi trẻ bồng bột, thiếu suy nghĩ chín chắn, họ đâu biết rằng phơi xác trên chiến trường là cái chết anh hùng còn quẳng súng quay về quê hương là tự lao đầu vào cái chết nhục nhã. Thật thế, trước toàn thể dân làng và Đoàn chủ tịch ngồi trên thềm đình chứng kiến buổi xử tội làm gương cảnh báo cho dân này, những kẻ đào ngũ thực sự là tử tội. “Một dãy gồm ba tên đào ngũ trói giằng lại với nhau. Đằng sau là ba người áp tải: một của huyện đội, hai người là dân quân xã”. Song đối lập với cảnh tượng u ám khắc nghiệt đó lại là cử chỉ hồ hởi vui vẻ của hai anh dân quân xã. Vì không hiểu áp tải tù nhân phải có thần thái uy nghiêm, cứng rắn, đúng mực; hai anh này lại có thái độ như nguyên thủ quốc gia trước sự đón tiếp nồng hậu của dân chúng: “giơ tay vẫy vẫy, miệng cười rất tươi, hồn nhiên phơi bày tính chất áp tải nghiệp dư của mình”. Cái cười châm biếm sự kém cỏi về nhận thức làm nổi bật nét tàn nhẫn của cảnh quan: người hành pháp hân hoan trước nỗi khổ nhục của đồng loại lầm lạc.
Những người đào ngũ chắc chắn đã chịu kỷ luật của tòa án quân sự. Khi trả về địa phương, họ còn phải nhận sự sỉ nhục, phỉ báng của chính quyền. Trước mắt Thái, “Ba kẻ đào tẩu đứng trơ trọi giữa sân nắng. Ba cái đầu cạo trọc cúi gục, hệt như ba quả bưởi rụng, héo rũ. Trước ngực mỗi tên đeo tấm biển gỗ quét hắc ín, nổi rõ hàng chữ bằng vôi đặc:
AI CŨNG ĐÀO NGŨ NHƯ TÔI THÌ MẤT NƯỚC!”
Phải chăng những người lãnh đạo xã này không hiểu về bản chất của pháp luật nhà nước ta: chuyên chính với kẻ thù, còn dân chủ với nhân dân. Những kẻ đào ngũ này cũng là con em nhân dân trong làng xã. Là con người bằng xương, bằng thịt đâu phải vật vô tri. Người mắc tội lỗi phải được cải tạo, giáo dục bằng lao động, bằng học tập để họ hoàn lương, trở về cuộc sống như những người dân lương thiện khác. Tại sao lại làm nhục họ một cách thô bạo, độc ác, vô văn hóa đến như vậy? Không tuyên bố lý do cuộc họp tại đình làng; không cho biết ba kẻ đào ngũ tên tuổi là gì; không cho từng người lên trình bày hoàn cảnh và thành khẩn nhận lỗi, sửa lỗi; mà đã vội vã dáng xuống đầu họ một hình phạt tinh thần chẳng khác nào quả tạ khiến họ gục ngay. Mất hết tinh thần, cử chỉ của họ như cái máy nhưng vẫn không quên sự nhục nhã. Trước tiếng hô “Nghiêm” của cán bộ huyện đội. “Ba kẻ đào tẩu nảy người theo bản năng, đứng cứng lại, đầu vẫn cúi gập.”
Dường như cảm thấy làm nhục người có lỗi chưa đủ, từ hàng ghế đoàn chủ tịch trên thềm đình, một “tiếng the the phát ra” chẳng khác nào viên đạn “nhân đạo” kết liễu cuộc tra tấn bằng cực hình đối với kẻ tử tù:
“Ngẩng cái mặt lên để bà con nhìn cho rõ!”
Với những người đào ngũ, đây quả là cái chết thực sự. Nhưng sự tiếp nhận cái chết của họ khác nhau. “Ba quả bưởi héo nặng nhọc cất lên không đều nhau. Hai người trong tốp tội phạm nhắm nghiền mắt lại.” Có lẽ hai người này cảm thấy rằng cái chết đáng sợ đến đâu cũng không bằng hành cách hành tội sỉ nhục tinh thần khủng khiếp của người xử tội – ngồi ở hàng ghế lãnh đạo, nên họ không dám nhìn vào ai. “Duy có một kẻ mắt vẫn mở, trân trân nhìn vào đám đông, như thể sau một loạt đạn, anh ta may mắn là người sống sót, chơ vơ, ngơ ngác.” Cái nhìn ấy của anh là một phản ứng mạnh mẽ lại thái độ của đám đông dân làng và người lãnh đạo: Chúng tôi chạy trốn cái chết ngoài chiến trường bom đạn, để rồi trở về quê hương sống cuộc sống như dưới hỏa ngục như thế này sao?
Tuy nhiên, cuộc hành tội bọn đào ngũ cũng gây được một hiệu quả rõ rệt. Đó là đe dọa, khủng bố, uy hiếp đến cùng cực tinh thần của những người chứng kiến. Gia đình họ hàng làng xóm và bản thân những người đàn ông nhập ngũ sau này nhớ đến cảnh tượng hôm nay, chắc hẳn không dẫm chân lên vết xe đổ nữa, và nhất là sẽ không ai dám sống thật với lòng mình. Họ chỉ là một thứ người máy duy ý chí, hành động theo mệnh lệnh mà thôi. Nếu vậy, họ có hơn gì người chinh phu thời phong kiến:
Sứ trời sớm giục đường mây
Phép công là trọng niềm tây sá nào.
(Đoàn Thị Điểm – Chinh Phụ Ngâm)
Là một nhạc công cảm nhận cuộc sống và đến với cuộc sống bằng âm nhạc, ắt hẳn Thái không thể chịu nổi âm thanh chói tai, gay gắt của cuộc hành tội này. Vì thế anh từ chối thẳng lời nhắn của Lài qua cậu em trai là nhờ anh “thay mặt anh em bộ đội hoàn thành nghĩa vụ quân sự phát biểu… gọi là mắng cho chúng nó mấy mắng.” Bởi anh hiểu rõ rằng những kẻ đào ngũ này cũng là con người khác, nhân cách khác, ở một lúc nào đó trong anh. Có điều, họ không vượt được sự yếu lòng mà thôi. Nhưng họ cũng là con người. Anh cần cư xử cho phải lẽ.
Không cảm hóa, thuyết phục, giáo dục người lầm lỗi bằng tình yêu thương, sự cảm thông và thái độ tôn tôn trọng mà chỉ bằng quyền lực duy ý chí thao túng dư luận của đám đông và áp chế thể xác cũng như tinh thần người mắc lỗi là biểu hiện sự bất lực vì kém cỏi về nhận thức của người nắm quyền. Sau này, khi quyền lực không còn nữa thì họ sẽ ra sao trong mắt người dân? Còn đâu tình làng nghĩa xóm những khi tắt lửa tối đèn?
Nỗi đau khổ của cá nhân Thái nằm ở chương ba bản giao hưởng quê hương. Không chỉ tình yêu, mà nỗi đau của tâm hồn anh cũng không thể diễn đạt bằng lời. Nó đòi hỏi người đối thoại với anh nếu chưa phải tri âm tri kỷ thì ít ra phải là bạn đồng hành. Điều này anh có được ở Đoàn trưởng Đoàn Quân nhạc. Ông đã đáp ứng hai yêu cầu của anh, trong đó một là cho phép Thái “mượn chiếc kèn contrebass” về dùng trong một thời gian ngắn… Vì anh hiểu thời gian sự sống của mình “Chắc cũng không lâu…” Một câu hỏi đặt ra Thái mang cây kèn này về quê để làm gì? Có lẽ chỉ cho đỡ nhớ, đỡ buồn mà thôi. Vì thứ nhất, anh đâu còn sức khỏe để thổi kèn nên anh buộc phải phục viên. Thứ hai, khi rời khỏi Đoàn Quân nhạc, đặc thù của cây kèn contrebass không giống như ghi-ta, vi-ô-lông hay Pi-a-nô… là ở chỗ “không phải để độc tấu. Trong dàn nhạc, nó chỉ được dành cho phần đệm và đứng ở hàng cuối cùng…
Tóm lại tôi không thể thổi một mình trong một bài hoàn chỉnh được…” Song người dân quê không hiểu điều đó. Dù giải thích mấy, từ phó chủ tịch xã Lài đến thanh niên, thanh nữ trong một đám cưới mời Thái dự, họ chỉ coi là một thứ của lạ – một thứ “kèn tây”, “nặng tới hàng yến, âm thanh phát ra lạ lùng “phòm phòm” cứ như tiếng bò mẹ gọi bò con khiến họ tò mò “chằm chặp nhìn hết về phía Thái” “họ xem anh thổi kèn chứ chẳng phải nghe kèn”. Họ nhất loạt bắt anh thổi đệm đơn độc cho một dàn đồng ca nhốn nháo bài “Tiến về Sài Gòn”. Người lính phục viên vì bệnh nan y đã khổ rồi lại còn là “người lính kèn contrebass” thì còn vô dụng biết bao nhiêu. Trình độ hiểu biết về nhạc cụ và âm nhạc bác học của người nông dân ở làng quê thời chiến tranh thì quá ít ỏi nếu không muốn nói là chẳng hiểu gì. Họ chỉ có lòng nhiệt tình ca hát và cứ tưởng có nhiệt tình là vượt qua tất cả. Họ đâu hiểu rằng nhiệt tình cộng với dốt nát thì thành đại phá hoại. Đến nỗi một người đàn ông mù đeo kính đen có mặt ở đám cưới này sau khi nghe âm thanh lạ lùng của cây “kèn tây” do Thái thổi đã toan “chính thức mời anh vào đoàn bát âm của ông ta. Số phận Thái cùng với cây kèn contrebass khi trở về quê hương đúng là một bi hài kịch “Dần dần Thái lọt vào giữa một đám đông vây quanh… lạc lõng, tội nghiệp như chính tiếng kèn phát ra miễn cưỡng, cô độc của cây kèn contrebass khi bị tách ra khỏi dàn nhạc. Anh muốn yên thân với cây kèn của mình mà cũng không xong.”
Không có sức khỏe để làm nghề nông cày bừa, cấy hái; nghề nhạc công trong quân đội thành vô dụng mất rồi. Để được làm một việc phù hợp với sức khỏe là trông coi đầm cá hợp tác xã lại phải chịu ơn một người đàn bà mà mình không thể đáp lại điều mong muốn của người ta. Thái chỉ còn biết sống với bản tính trung hậu bẩm sinh của mình. Bản giao hưởng quê hương trong tâm hồn Thái có hẳn một chương dịu êm. Đó là nỗi lòng anh khi gặp lại hai người bạn thời thơ ấu. Người thứ nhất là cu Thiêm – Thiêm trọc – Thiêm Lỗ Trí Thâm, người vẫn giữ cái áo mà hồi chăn trâu bị Thái xé toạc vì muốn bảo vệ một bé gái bị bắt nạt quá đáng. Cuộc gặp gỡ quá éo le vì Thái bắt gặp Thiêm trọc đang câu trộm cá ở bờ đầm hợp tác xã. Lẽ ra Thái phạt Thiêm, nhưng anh nhận ra hình ảnh chính mình ở “kẻ trộm đứng trước mặt anh”. “Đó là một thương binh về làng đã lâu. Hắn chống nạng bước chệch choạng về phía anh. Một bên ống quần buông thõng thượi, nước rỏ tong tong.” Cũng như Thái, Thiêm chăn vịt tại một chiếc lều, nghèo túng “cơm tương cà mãi xót ruột quá. Liều kiếm con cá ranh về cho cháu nó làm nồi cháo”. Trong lòng Thiêm từ lâu cũng muốn truyền cho Thái bài tập “Đạt ma cân kinh” tiêu trừ bách bệnh mà anh học được từ Đại tá Viện trưởng hồi nằm Quân y viện. Gặp nhau trong tình huống éo le này, hai người bạn thời chăn trâu – hai bộ đội phục viên, người bị cụt một chân, người mắc bệnh hiểm nghèo – chẳng giúp gì được nhau. Có lẽ, nước mắt của cả hai người đàn ông khốn khổ ấy đều chảy vào trong. Đối diện trước nhau, họ vẫn là hai người bạn thời niên thiếu – và là hai người đàn ông trung hậu trong hiện tại.
“Anh ta lọc xọc quay lại cầm lấy cái cần câu và lôi lên một xâu cá còn đang giãy giụa. Thiêm gỡ cá ra thả xuống đầm… còn lại một con khá to anh ngập ngừng. Thái mỉm cười:
– Thôi con ấy mang về cho cháu!
Thiêm tặc lưỡi. Rồi bằng động tác thành thạo, anh ta cho tọt con cá vào ống quần bên chân cụt buộc túm lại, đứng lên.
Cái ống quần sũng nước giãy lên đành đạch.
– Đi thôi! Cái chân tôi lại đau dữ. Giở trời, sắp mưa to đến nơi đấy!”
Giai điệu dịu êm nhưng cũng thật buồn. Số phận những bộ đội phục viên là thương binh, là bệnh binh như Thiêm, như Thái là một câu hỏi to tướng đối với nhà nước và xã hội. Cần có chế độ đãi ngộ thế nào cho phù hợp và xứng đáng? Chỉ vì thương cảm lẫn nhau mà phải cho “trộm” hay xin “trộm” thì đâu còn là tư thế đàng hoàng, kiêu hãnh của những con người đã cống hiến một phần cơ thể, sức khỏe cho cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc?
Người thứ hai Thái gặp là Thao. Cô bé cắt cỏ năm nào bị bọn trẻ trâu bắt nạt mà Thái dũng cảm bênh vực bằng cách một mình đánh lại cả đám, trong đó có Thiêm trọc. Một tình cảm như em gái nhỏ đối với anh trai nảy sinh. Những lần cùng ăn củ khoai nướng vàng rộp lăn tăn trên đôi tay nhỏ, trong tiếng xuýt xoa của cô bé Thao; những lần Thái lao xuống bờ đầm mất hút sau cú nhảy làm bé Thao bật khóc vì tưởng Thái chết đuối… mãi cho tới khi Thái lóp ngóp bước lên bờ lại dỗ dành “Thao mới òa lên nửa khóc nửa cười”… Tất cả những kỷ niệm tuổi thơ êm đẹp để lại trong Thao một niềm tin. Cho đến khi trở thành vợ của một người chồng đi đánh giặc xa, như linh cảm được những bất trắc sẽ đến trong cuộc đời mình, Thao vẫn như cô em gái nói với người anh trai là Thái – anh bộ đội phục viên – lời nũng nịu ngày xưa:
“- Nếu có người bắt nạt, anh vẫn phải bênh em đấy nhé!”
Quả thật Thao đã phải chịu một số phận bi thảm. Lài – chị chồng Thao không chấp nhận sự thật là Hoàng – em trai chị, chồng Thao đã vì quá nhớ vợ, trốn đơn vị về gặp vợ trong đêm trước khi đơn vị “vài hôm nữa chuyển quân sâu vào trong kia… Anh lại đi”. Nên Lài đã tát Thao, đuổi mẹ con Thao ra khỏi nhà sau khi thao sinh ra đứa con trai – giọt máu của chồng cô để lại. Ôm lấy cái danh dự hão về một người em trai “bỏ mình ngoài trận mạc, hi sinh anh dũng” đứng trước tấm truyền thần phóng to của Hoàng mà thân dưới giống hệt bức tranh khác “mũ mão, quân hiệu, quân hàm đầy đủ”, Lài đã ngu xuẩn để mất đi người vợ và đứa con trai duy nhất của em mình. Thờ cúng tấm hình giả gián tiếp giết chết hai mạng sống thật. Vì Hoàng thật sự vẫn còn sống, chỉ do báo tử nhầm mà thôi. Còn Thao vì quá bế tắc, đau khổ nên cô để lại đứa bé trong túp lều coi cá của Thái với niềm tin Thái sẽ nuôi sống con mình. Còn Thao thì nhảy xuống đầm tự vẫn.
Lòng trung hậu và dũng cảm của Thái một lần nữa xứng đáng với niềm tin của Thao. Anh không chỉ nhảy xuống đầm cứu sống cô mà còn cứu cả danh dự cho đứa trẻ. Khi phó chủ tịch Lài và công an xã ập đến định bắt quả tang Thái và Thao quan hệ bất chính thì “Thái nghiến răng, cúi đầu. Anh bước chậm đến bên mẹ con Thao, đặt bàn tay lên vai cô, giọng trầm trầm, rành rọt:
– Các người chẳng cần điều tra, hành hạ cô ấy làm gì nữa. Đứa bé này chính là con tôi đấy.”
Thái đàng hoàng, công khai, mạnh mẽ bảo vệ vợ con, giọt máu quý giá của đồng đội mình ngoài chiến trường – chiến sĩ Hoàng. Một mình anh dám đấu tranh với cả bộ máy lãnh đạo quan liêu, háo danh, thô bạo ở làng xã. Anh xứng đáng với tư cách người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa ở hậu phương. Phó chủ tịch Lài phải chấp nhận một sự thật “Thì đã rõ như ban ngày” rằng: Thái thà nhận một đứa con không phải của mình chứ chẳng bao giờ yêu một người phụ nữ có quyền lực nhưng độc ác, thô bạo như cô. Còn “Ông công an xã như quả bóng xì hơi, phảy tay, nhăn mặt – thế này thì còn biên bản, biên bung cái chó gì nữa” để phủ nhận mệnh lệnh vô ích của Lài: “Ông Khoát lấy giấy bút ra đi!”
Trò hề quyền lực đã hạ màn trước sức mạnh của tình yêu thương và lòng dũng cảm.
Nhưng, đó chỉ là sự chống đối trong tình huống ngắn ngủi. Về lâu dài, Thái không thể đem lại cuộc sống bình thường cho mẹ con Thao. Là đứa trẻ vô tội nhưng cháu không được đi học như các bạn cùng lứa. Ngày ngày cháu nhìn các bạn nhỏ được đến lớp học hành, vui chơi với sự mong ước, thèm thuồng của một đứa bé ngây thơ. Sinh ra là một người những cháu không được công nhận chính thức vì không có giấy khai sinh. Có nghĩa cháu không có quyền làm người như các trẻ em khác. Không có giấy khai sinh thì không xin đi học được – là kẻ vô học từ tấm bé. Định kiến và cuộc xử tội kẻ đào ngũ không chỉ khiến Hoàng – bố cháu bé quá sợ hãi vì bị sỉ nhục nên tức tưởi, phẫn uất trở về đơn vị ngay. Còn Thao, mẹ của cháu cũng không dám nói cho chồng biết mình đã có mang vì sợ anh sẽ đào ngũ không ra trận nữa. Phó chủ tịch Lài, bác ruột của cháu bé vì sợ mất thanh danh gia đình – có em trai đi bộ đội lại trốn đơn vị về với vợ một đêm nên để lại giọt máu duy nhất này – nên cố tình không chấp nhận sự thật và cư xử tàn nhẫn với mẹ con cháu.
Cuối cùng, Thao buộc phải bế con rời bỏ quê hương làng xóm ra đi tìm đường sống vì không thể ở lại nơi đây. Ngay cả đoàn thanh niên ở xã cũng bắt cô kiểm điểm và khai ra ai là bố đứa trẻ này. Truy bức, sỉ nhục, khinh bỉ bằng mọi cách là không khí ngột ngạt, căng thẳng bao vây cuộc sống của bất cứ ai dám sống thực với chính mình. Chuyên quyền, giả dối và thô bạo là cách cư xử với dân của một số cán bộ nơi làng xã. Liệu những người lính ở chiến trường có vững tay súng trước kẻ thù không nếu họ biết vợ con mình ở quê hương bị cư xử như thế này? Cho nên đau đớn, phẫn uất là nốt nhạc chủ âm trong chương bốn bản giao hưởng quê hương của tâm hồn Thái. Dù cố gắng đấu tranh đến cùng vì số phận của cháu bé vô tội, Thái đến ủy ban xin khai sinh cho nó thì anh bị chặn đứng bởi không có giấy giá thú theo đúng quy định. Đồng thời khi anh gửi lòng thương cháu ruột của Lài bằng lời nói “rất khẽ:
– Chị cứ cố nhìn kỹ thằng bé chưa có tên này đi… xem có nhận ra điều gì không?”
Thì bất ngờ nhận được câu trả lời tàn nhẫn, ác độc hơn viên đạn của kẻ thù. “Chị cười nhạt:
– Tôi nhận ra… nó là kết quả tội lỗi không thể tha thứ của các người.”
“Rầm” – Thái nghiến răng đấm tay lên mặt bàn. Sự dồn nén khiến anh không ghim giữ được nữa. Mấy cái chén nảy lên, một cái đổ nghiêng… Một mảng nước chè đặc loang ướt trên tờ giấy khai sinh”
Căm giận, đau đớn và bất lực và Thái cuối cùng đã hiểu: tình yêu thương và lòng dũng cảm của anh chẳng giúp được gì cho ai. Cháu bé con của một chiến sĩ ngoài mặt trận – vĩnh viễn bị tước đoạt quyền làm người. Mà kẻ gây ra tội lỗi đó lại là người ruột thịt của cháu, cùng quê với anh và có quyền lực thao túng nhiều việc quan trọng ở nơi đây.
Chương cuối cùng của bản giao hưởng quê hương lặng đi trong giai điệu buồn tiễn đưa Thái về nơi vĩnh viễn. Thái mất ở bệnh viện huyện. Không có ai ở quê hương biết anh đã ra đi. Nhưng bên “chiếc xe “băng ca” phủ vải trắng toát từ từ lăn ra”, có những đồng đội cùng anh tám năm quân ngũ. Hai người lính quân nhạc, một già, một trẻ lặng lẽ bỏ mũ cúi chào. Cuộc đời Thái tiêu biểu cho bi kịch của không ít chiến sĩ quân đội phục viên về quê hương vì thương tật chiến tranh, vì sức khỏe yếu do mắc bệnh hiểm nghèo. Một hình ảnh được mô tả ở trang đầu truyện ngắn là “cái hành lang rất hẹp, rất dài” nơi Thái ra đi một mình, dọc hành lang quét vôi trắng xóa, sau khi nhận hồ sơ bệnh án được lặp lại hai lần ở các trang cuối. “Hành lang dài hun hút của bệnh viện thấp thoáng những cái bóng trắng của nhân viên y tế” đưa Thái vào phòng cấp cứu. Và cuối cùng “Trong tiếng ve râm ran, nhức nhối họ đi theo chiếc băng ca dọc hành lang sâu hun hút” đưa Thái đến nơi an nghỉ cuối cùng. Hình ảnh đó gợi ra một sự khái quát: Từ lúc nhận bệnh án, phục viên trở về quê hương cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, Thái như đi trong một chiếc quan tài đặc biệt “rất hẹp, rất dài”, “dài hun hút”, “sâu hun hút”. Bệnh tật, cuộc sống quê hương như một không gian tối đen, bao quanh bốn phía, anh muốn thoát ra để thờ, để sống nhưng bất lực. Anh chỉ còn biết đi theo chiều dài, chiều sâu vô tận không thể kháng cự của nó mà thôi.
Ngay cả những sĩ quan quân đội tưởng đã chết vì báo tử nhầm, nay lại vẫn sống trở về quê hương như Hoàng – em trai của Lài, chồng của Thao, cha của đứa con mà anh không hề biết mình đã có – số phận cũng chẳng tốt đẹp gì.
Anh giữ trọn vẹn được sinh mạng mình sau khi chiến đấu ngoài mặt trận, giữ được danh dự cho gia đình vẻ vang vì không đào ngũ mà hết mình cho Tổ quốc. Nhưng về tới quê, cuộc sống của anh có hơn gì cái chết, vì anh đã mất tất cả gia đình. Vợ con anh bỏ đi nơi đâu anh không biết vì họ nghĩ anh đã chết, làng xóm đã làm lễ truy điệu, trên bàn thờ có cả ảnh truyền thần của anh. Tình chị em ruột thịt cũng mất đi, nếu còn chỉ là vết thương không bao giờ liền sẹo. Bởi Lài đã dứt tình máu mủ, đuổi em dâu và cháu ra khỏi nhà, không cấp giấy khai sinh để nó được công nhận là con một người bình thường được quyền sống như bao trẻ em khác. Cho nên, khi được một “Thằng bé hồn nhiên:
– Mẹ con cô thao đi lâu rồi – nó vung tay chỉ – đi lối kia kìa…
Hoàng lặng người nhìn theo…
Không có một bóng người, ngoài ụ pháo bỏ hoang và triền đê quen thuộc, phơ phất những cụm lau trắng bạc lẫn trong màu xanh của cỏ.
Đó chính là ngả đường duy nhất để người dân làng này đi, hoặc về.”
Trước mắt Hoàng, đó là nấm mồ hay là con đường duy nhất dẫn đến nấm mồ của vợ con Hoàng, của Hoàng và người dân làng này? Liệu Hoàng có thể tìm ra một con đường khác tươi sáng hơn không hay cũng sẽ chịu chung số phận với Thái – chịu bao chặt trong một hành lang “rất hẹp”, “rất dài”, “dài hun hút”, “sâu hun hút” như một chiếc quan tài đặc biệt?
Phản ánh số phận những người lính phục viên trở về quê hương trong chiến tranh chống Mỹ ở miền Bắc, nhà văn Trần Quốc Huấn bộc lộ cảm hứng buồn và lo lắng. Những người lính này có hoàn cảnh khác nhau. Người thì bị thương cụt mất một chân, kinh tế khó khăn như Thiêm trọc; người là chiến sĩ trên lĩnh vực văn hóa – là nhạc công trong Đoàn Quân nhạc đã tám năm, nhưng mắc bệnh hiểm nghèo, sức khỏe yếu như Thái; người bị báo tử nhầm nên vợ con ly tán, tình cảm gia đình nát tan như Hoàng. Nhà nước, các cấp lãnh đạo địa phương và nhân dân ở quê hương có cách gì để giúp đỡ họ, khi chính cuộc sống trong chiến tranh của người dân miền Bắc cũng khó khăn không kém?
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật của truyện phim, Trần Quốc Huấn đã thành công với chiến sĩ trên lĩnh vực văn hóa – “người lính kèn về làng” trong hình tượng Thái. Các cảnh trong truyện không theo thời gian truyền thống: cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau, mà nó hiện ra tùy theo diễn biến cảm xúc dòng hồi tưởng của Thái: hiện tại – quá khứ xa – hiện tại gần – quá khứ xa – hiện tại gần hơn – quá khứ gần hơn – hiện tại. Thái độ, tình cảm, hành động của Thái ở cảnh này hay cảnh khác, trước mỗi tình huống đều thể hiện chủ đề tư tưởng trong truyện phim:  Lòng nhân ái có văn hóa là một trong những biểu hiện làm giảm bớt nỗi đau của con người trong chiến tranh.
Qua cách cư xử của nhân vật Lài – người đại diện cao nhất của chính quyền xã trong truyện, ta hiểu được cái nhìn phê phán của Trần Quốc Huấn. Nếu Lài có được văn hóa cư xử đối với người dân khi đến làm giấy tờ hành chính, văn hóa trong tình yêu, văn hóa gia đình, trong quan hệ với vợ chồng em trai, với cháu ruột, với những người mắc lầm lỗi… thì những nỗi đau mất mát về thể xác, về tinh thần của con người trong chiến tranh sẽ giảm đi rất nhiều. Ngược lại, Thái chỉ là một bộ đội phục viên vì bệnh tật nan y, không có sức khỏe và nghề nghiệp cơ bản, chỉ trông coi đầm cá của hợp tác xã. Nhưng với tấm lòng nhân ái, trung hậu bẩm sinh, kết hợp với bản lĩnh cương cường của người lính, cùng với tâm hồn tinh tế, phong phú của một nhạc công, anh đã có được lòng cảm mến, tin yêu của bè bạn, chỗ dựa tinh thần của phụ nữ và trẻ thơ khi gặp khó khăn trắc trở. Anh biết đồng cảm, đồng tình với cái đúng, biết phản ứng, dám đấu tranh với cái sai. Thái chính là nhân vật bi kịch. Tình thương yêu, lòng trung hậu, dũng cảm của anh bị chặn đứng bởi hai yếu tố khách quan quá lớn: bệnh tật hiểm nghèo và quyền lực cao nhưng tầm nhìn văn hóa quá thấp của người lãnh đạo.
“Người lính kèn về làng” là một truyện phim hay, cảm động, chân thực như tấm lòng của nhà văn Trần Quốc Huấn đối với cuộc đời. Tài hoa của anh thể hiện ở chỗ khiến chúng ta cảm thấy vô cùng kì thú khi tiếp xúc với truyện phim. Ta bị lôi cuốn theo những cảnh tưởng như lộn xộn nhưng rất hợp lý về bố cục thời gian với tâm lý trẻ thơ khi nhìn vào ống kính vạn hoa muôn màu sắc hấp dẫn. Đồng thời, ta lại có được những cảm nghĩ sâu sắc, những triết lý sống tâm đắc của con người từng trải, lắng lại giữa cuộc đời. Nhưng điều ấn tượng hơn cả đối với người đọc chúng ta là: Từ bản giao hưởng quê hương của lính nhạc công Thái, ta thấy vang lên tiếng kèn contrebass của Trần Quốc Huấn “dành cho phần đệm” trong dàn nhạc, “đứng ở hàng cuối cùng”. Đó chính là tiếng lòng cảm thông, thương yêu và trân trọng của nhà văn tài hoa đối với những mảnh đời mặt trái của chiến tranh. Cùng với cả dàn nhạc văn chương hướng về đề tài này, Trần Quốc Huấn đã làm lấp lánh hơn “những giọt nước mắt đời không thấy” – nhan đề một chuyện ngắn của nhà văn Nga Anton Tchekhov – bằng truyện phim tuyệt vời “Người lính kèn về làng”.
Hà Nội, 30/4/2022
Thái Thị Hải
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

"Một thời…" của Nông Thị Ngọc Hòa

"Một thời…" của Nông Thị Ngọc Hòa Bài thơ “Một thời…” của nhà thơ Nông Thị Ngọc Hòa không chỉ có giá trị một thời bởi âm điệu ấy...