Ngôn ngữ trong thơ Trần Hùng
Tập thơ mới “Mắt mắt khuya từng đàn” của tác giả Trần Hùng (Nxb. Hội Nhà văn, 2023) “có kết cấu hiện đại và tối giản”. Cái tạo nên sự hấp dẫn của tập thơ về mặt ngôn ngữ là gồm các yếu tố: có cấu tạo nhan đề đặc biệt; có kiến trúc âm thanh (thông qua việc sử dụng thanh điệu và nhiều kiểu lặp từ ngữ, lặp cấu trúc) giàu tính nhạc, tạo được giọng điệu riêng; có các kết hợp từ phi lí mà có lí; cấp cho từ nghĩa mới, biểu tượng mới; có những so sánh độc đáo. Bên cạnh những yếu tố trên, tập thơ còn có sự xuất hiện của một trường từ vựng mang màu sắc liêu trai, cổ tích, siêu thực; cùng với những đại từ phiếm chỉ, không xác định đã tạo cho thơ Trần Hùng một vẻ đẹp huyền bí, mê dụ, mời gọi người đọc đồng sáng tạo.
Nhà thơ Trần Hùng đã được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học
nghệ thuật, trước đó ông đã từng nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và
giải thưởng của ASEAN. Tập thơ “Mắt mắt khuya từng đàn” (2023) là tập
thơ mới nhất của ông. Tập thơ được nhận định là “có kết cấu hiện đại và tối giản
hơn so với những tập thơ đã in” (Mai Văn Phấn). Nhiều người đọc có chung đánh
giá và cảm nhận đây là tập thơ hay nhưng để giải mã nó bằng ngôn ngữ cụ thể, rõ
ràng (không phải bằng ngôn ngữ hình tượng) thì không hề dễ dàng.
Trước đây, Đoàn Phú Tứ có bài thơ “Màu thời gian” mà
hầu như ai cũng biết đó là một bài thơ hay, song, thật khó giải mã bài thơ một
cách thuyết phục. Ngay cả Hoài Thanh và Hoài Châncũng cho rằng “có khi cả ý
nghĩa bài thơ cũng không hiểu nổi” nhưng vẫn cảm thấy: “Ấy là một lối thơ rất
tinh tế và kín đáo. Thi nhân ghi lại bằng những nét mong manh những cảm
giác rất nhẹ nhàng”. Nguyễn Sơn thì cho rằng đó là một bài thơ “không hiểu
nổi”, “nó thanh thoát, nó lâng lâng, như khi nhìn áng mây trôi, khi ngắm
dòng sông chảy…, nó lung linh như một khúc nhạc thiều…, nó chập chờn như một
bóng Liêu Trai!”. Thơ của Trần Hùng cũng là một trường hợp tương tự.
Dịch giả Phạm Hữu Quang và nhà thơ kiêm biên dịch người Mỹ Bruce Weigl khi dịch
tập thơ “Mùa vân tay” của Trần Hùng cũng đã nhận xét về thơ ông như vậy. Còn
đối với tôi, cái tạo nên sức hấp dẫn của tập thơ về mặt ngôn ngữ phải chăng là
vì cấu tạo nhan đề tập thơ đặc biệt, vì kiến trúc âm thanh giàu tính nhạc, tạo
được giọng điệu riêng khó lẫn; vì các kết hợp từ phi lí mà có lí, cấp cho từ
nghĩa mới; vì những so sánh độc đáo. Bên cạnh đó, tập thơ còn có sự xuất hiện của
một trường từ vựng mang màu sắc liêu trai, cổ tích, , cùng với những
đại từ phiếm chỉ, không xác định tạo cho thơ Trần Hùng một vẻ đẹp huyền
bí, mê dụ mời gọi người đọc đồng sáng tạo. “Mắt mắt khuya từng
đàn” – một tập thơ hay, được xác định vị trí như một điểm nhấn trong
dòng chảy của thơ đương đại Việt Nam.
1. Cách đặt nhan đề độc đáo với kết hợp từ mới lạ gợi liên tưởng
Nhan đề là một tín hiệu chỉ dẫn nghệ thuật, đòi hỏi tác giả
phải suy nghĩ lao động nghiêm túc. Nhan đề càng độc đáo, càng hấp dẫn thì càng
khơi gợi sự tò mò. “Nhìn vào nhan đề sẽ “hiểu nỗi lòng người sinh thành ra nó,
hiểu nội dung chủ yếu của tác phẩm và khát vọng sáng tạo của tác giả” (Nguyễn
Đăng Na). Bởi vậy, giải mã nhan đề cũng tức là giải mã được một phần nội dung
tác phẩm.
Nếu như nhan đề trong các tập thơ trước của Trần Hùng đơn giản
và “thật thà” (như: “Gọi bạn” (1991), “Mơ
quê” (1998), “Thảm thắc” (2015), “Vườn khuya” (2015), “Thơ
Trần Hùng” (2018), “Mùa xa”(2019)), thì nhan đề trong tập thơ mới nhất
của ông là một kết hợp từ lạ: “Mắt mắt khuya từng đàn” tạo ra ấn tượng
trực giác, gây sự chú ý, gợi nhiều liên tưởng đối với người đọc. Kiểu đặt tên
này đã xác quyết thêm một bước chuyển của nhà thơ Trần Hùng về cách tân thi
pháp. Mắt mắt khuya có thể là biểu hiện của nhiều đêm thức triền
miên (không phải vì mất ngủ) mà vì mải mê sáng tạo nghệ thuật (“Đêm / Lại
đêm / Muốn tắt mình mà không công tắc”, “Đêm đêm gục đầu vào giấy trắng”). “Mắt
mắt khuya” cũng có thể là mắt của những thi ảnh mà nhà thơ nhìn thấy trong
đêm khi mọi người đã chìm vào giấc ngủ (“Những cuốn sách trên giá sách nhìn tôi /
Những chiếc áo trên mắc áo nhìn tôi”; “Đêm đêm cúc như mắt thức”); “mắt
mắt” cũng có thể là ấn tượng về cố hương có ngôi nhà bà cụ Phó mà gian giữa
chỉ có hai cái cửa không có cánh cửa, được Trần Hùng hình dung như hai con
mắt thức…); từng đàn có thể là “phím trắng từng đàn chơi
vơi”; từng đàn cũng có thể là từng đàn đàn, lũ lũ (ảo giác nhiều mắt,
từng đàn mắt mở, “mở to trong veo đi nào”). Thời gian đêm (“khuya”) cũng
chính là thời gian nghệ thuật quen thuộc trong các truyện có màu sắc liêu trai,
chứa đầy sức mạnh huyền linh của lực lượng siêu nhiên trong thế giới ảo; nó
cũng là đối tượng nghiên cứu của huyền thoại học (mythology). Có lẽ vì thế mà tập
thơ “Mắt mắt khuya từng đàn” đã xuất hiện nhiều hình ảnh thiên nhiên và
hình ảnh con người nhoè mờ trong không khí liêu trai, cổ tích.
2. Kết hợp âm thanh, từ ngữ thơ giàu tính nhạc
Thơ Trần Hùng rất giàu nhạc tính – một thứ “nhạc
lòng” có mã gen rất riêng. Trước hết, đó là do sự có mặt của các biện pháp
tu từ ngữ âm, từ vựng (như cách sử dụng thanh điệu, phép lặp, phép láy âm, láy
từ…). Valéry từng nói: “Thơ là sự giao động giữa âm thanh và ý nghĩa” và
như vậy thì âm thanh cũng góp phần tạo nghĩa.
Về mặt thanh điệu của tập thơ “Mắt mắt khuya từng đàn”, có thể
thấy rõ số lượng thanh bằng chiếm tới 2/3 số lượng tanh trắc. Ngoài
ra, những dòng thơ được kết thúc bằng thanh bằng cũng
chiếm số lượng áp đảo, lớn gấp hai lần số dòng thơ kết
thúc bằng thanh trắc. Điều đó cho thấy, “chủ âm của tập thơ thiên về
thanh bằng”. Tuy nhiên, ông lại sử dụng thanh không nhiều hơn thanh
huyền nên hiệu ứng âm thanh tạo ra sẽ bay hơn, trong hơn và nhẹ
hơn. Đặc điểm thanh điệu ấy hiển nhiên là tạo được một không gian
thơ dường như rộng hơn, mênh mang hơn và khiến âm hưởng của các
bài thơ nhẹ nhàng, dịu dàng hơn; nhịp thơ sẽ đi chậm hơn. Mỗi nhà thơ
thành danh đều có hơi thơ riêng, nét âm hưởng, nhịp điệu riêng. Mỗi người mỗi tạng,
người thì thích nhịp điệu của nhạc rock, người thì thích nhạc pop, người thì
thích bolero, người thích Jazz, người thích flamenco… Và dĩ nhiên Trần Hùng
cũng đã lựa chọn cho mình một loại nhạc lòng để khi nghe thơ ông người đọc nhận
ra ngay giọng điệu có “thương hiệu”. Giống như khi nghe các loài chim hót, ta
nhận ra ngay giọng hót đẳng cấp của họa mi: “Đâu phải lúc nào cũng hót /
Đâu phải cứ hót là mê ly / Nhưng chỉ cần cất tiếng/ Biết đó là họa mi” (tr.70).
Cấu trúc trùng điệp (âm thanh, nhịp điệu…) là yếu tố để phân
biệt thơ với văn xuôi nên hầu như nhà thơ nào cũng sử dụng phép lặp. Tuy nhiên,
Trần Hùng lại sử dụng với tần số dày đặc và với rất nhiều kiểu lặp phong phú: lặp
cách quãng, lặp đầu, lặp cuối, lặp giữa, lặp đảo, lặp cấu trúc câu, lặp kiểu nhấn
lại từ,…
Đặc biệt, tôi thấy, kiểu sử dụng liên hoàn các từ lặptoàn
bộ dường như rất đắc dụng và có mặt trong hầu hết các bài thơ của Trần Hùng, tạo
ra sự trùng điệp âm thanh và nhấn mạnh ý nghĩa. Chẳng hạn: “mắt
mắt”, “xoe xoe”, “mê mê”, “giọt giọt”, “dòng dòng”, “mầm
mầm”, “dâng dâng”, “nấm nấm”, “hong hong”, “tầng tầng”, “chữ
chữ”, “bay bay”, “cát cát”, “sóng sóng”, “ngón
ngón”, “xanh xanh”, “xiu xiu”, “cao cao”, “nâu
nâu”, “phơi phơi”, “âm âm”, “ngàn ngàn”… Đặc biệt “chữ chữ” được
nhấn đi nhấn lại tới bốn lần như khắc sâu nỗi trăn trở, vất vả, khó khăn của
người nghệ sĩ trên con đường sáng tạo ngôn từ: “Chữ chữ / Hút vào nếp
nhăn/ Trên những gương mặt/ Vừa nghẹn vừa nuốt/ Chữ chữ / Như tóc rối /
Trong ống nước / Như mắt cá / Trong bùn/ (…) / Vụm
nước / Trên mắt sàng / Mắt sàng trên sa mạc / Mầm chữ trong cát” (Phận
chữ). Chúng ta thử hình dung, tóc rối trong ống nước thì sẽ dễ bị tắc, mắt cá
trong bùn thì khó mà tìm thấy; nước chỉ có một “vụm” mà lại đựng bằng sàng thì
đọng được bao nhiêu giọt, số giọt ít ỏi đó lại rơi trên sa mạc cát thì độ ẩm được
bao nhiêu, gieo mầm chữ trong cát ấy thì bao giờ mới có thể nẩy thành cây? Qua
những thi ảnh đó, người đọc hình dung và cảm nhận sâu sắc hành trình sáng tạo
nghệ thuật ngôn từ quả là một công lực nhọc nhằn; đúng như Vladimir Mayakovsky
(Владимир Маяковский) đã viết trong bài: “Thơ” (“Поэзия) mà Hồng Thanh Quang dịch
từ nguyên bản tiếng Nga: “Để tinh luyện ra một từ duy nhất / Phải lấy
nghìn tấn quặng chữ mà nung / (…) / Ngôn từ đó làm bừng bừng
chuyển động/ Hàng nghìn năm hàng triệu con tim…”
Ngoài ra, tác giả còn có nhiều kiểu lặp khác. Chẳng hạn, lặp
cuối: “Thế giới sẽ ra sao / Mặt người ngước lên cao / Ánh
sáng đổ về / Vô vọng đổ về / Tàn tích đổ về ; Mùa xa
rồi / Áo lá buông xa rồi”…; lặp cả đầu, lặp giữa, lặp cuối và lặp
cả cấu trúc câu: “Cửa mở ra một người / Cửa đón
vào một người / Cửa khép lại một người / Chạm vào lá đã rơi / Chạmvào cuống đã buông”; “Nước ru
tôi im / Rêu ru tôimềm / Cát ru tôi nằm /
Rác ru tôi thừa”… Hoặc vừa lặp cấu trúc vừa đối một phần: “Công
chúa là em đây/ Chàng già là anh đấy”; “Cao cao lân
tinh thân cau/ Nâu nâu rơm phơi trăng thâu; Ngày hoa tạnh
chỉ còn mây / Đêm mây tạnh chỉ còn hoa”…
Trần Hùng sử dụng đa dạng các kiểu lặp nhưng ông đặc biệt ưa
thích cách lặp liên hoàn, tiếp nối giữa các dòng thơ: từ/ ngữ cuối cùng của
dòng thơ trước được lặp lại ở liền ngay đầu dòng thơ kế tiếp theo, để cho dòng
thơ sau gối lên dòng thơ trước, tạo nên sự liên hoàn, vấn vít, đan quyện. Đấy
cũng là một trong những dấu hiệu hình thức đặc trưng để nhận ra thơ ông:
“Từng cơn nhớ về bình yên / Bình yên thắp
lên nếp cắn nhẹ nhàng / Nhẹ nhàng đỡ sương”…; “Dưới vực
sâu là một lâu đài / Lâu đài đầy khói”; “Hoa
đêm bốn mùa / Bốn mùa mưa hoa”; “Câu hỏi hình như
cho hoa lau / Hoa lau bận lao xao từ đèo tới đèo”… Đây
là kiểu lặp được sử dụng trong nhiều tập thơ khác của Trần Hùng, chẳng hạn,
trong tập “Mùa xa”: “Trôi dưới mây / Dưới
mây trôi” (Trên tàu bay); “Hoa cải vàng bay bay
trên sông / dòng sông im mơ mơ cánh đồng / Cánh
đồng thơm như tóc” (Sương hương bay); “Như tiếng sương cánh hoa
lối về thiêm thiếp / Thiêm thiếp con đường xưa / Con
đường xưa người người nối nhau” (Vời vợi mùa xa)… Kiểu lặp này cũng
đã từng xuất hiện trong Chinh phụ ngâm (bản dịch của Đoàn Thị Điểm): “Cùng
trông lại mà cùng chẳng thấy / Thấy xanh xanh những mấy ngàn
dâu / Ngàn dâu xanh ngắt một màu” (Chinh phụ ngâm)… Vì thế,
thơ Trần Hùng có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Tính hiện đại trong
thơ của ông nằm trong hệ thống thi ảnh được sắp xếp trong không gian ba chiều,
được kết nối bằng những liên tưởng của chính người đọc.
3. Từ ngữ mang màu sắc liêu trai, siêu thực, đa nghĩa
Mỗi tập thơ của Trần Hùng ghi dấu một chặng đường thơ của thi
sĩ. Và ứng với mỗi khoảng thời gian sẽ có một nét trạng thái tinh thần chủ đạo.
Nếu như “Thảm thắc”, “Vườn khuya” là sự trong trẻo, “trinh tĩnh đầu nguồn” (chữ
dùng của Văn Giá) thì đến “Mùa xa” (2015) là một tinh thần “buông”, là trạng
thái “dứt”: “Thôi nhé ta đi đây ta không chơi với em đâu”, bởi “mũi
tên ra đi cao xa bao nhiêu rồi cũng trở về mặt đất”, tất cả trở thành quá
khứ, kỉ niệm “mùa xa”… Cái tâm trạng ấy dù có che đậy kín đáo bao
nhiêu cũng bị phơi ra trên câu chữ. Ta dễ nhận thấy sự góp mặt của trạng
thái vô thức trong sáng tạo ngôn từ của tập thơ “Mắt mắt khuya từng
đàn”. Trong tập thơ này, chúng ta thấy dường như có thế giới tâm linh tồn
tại, “giao ứng” với thế giới thực tại. Thiên nhiên cũng có linh hồn, chúng nhập
vào con người và con người nhập vào thiên nhiên. Sự hiện hữu ấy phát ra những
tín hiệu đặc biệt mà chỉ nhà thơ nào đặc biệt nhạy cảm, có khả năng giao hoà
các giác quan mới có thể cảm nhận được. Màu sắc cổ tích được thể hiện qua những
hình ảnh “công chúa ngủ trong rừng”, người già thành hài nhi, chiếc “trâm
gài bóng cỏ”, “lâu đài” dưới vực sâu “đầy khói”… Và trường từ ngữ
gợi không khí liêu trai, ảo diệu, ma mị ấy xuất hiện đồng thời với những thi ảnh
như: “mộ trăng”, “mồ sương”, “núi ma”, “lân tinh thân
cau”, “trăng lu”, “trăng thâu”, “chồn nhung trong truyện Bồ Tùng
Linh”, “ai tru âm u”, “sương nữ khóc ai trên đường khuya”, “tiếng
khóc đâu đó cao như tiếng sếu”, “tiếng đạp rào qua canh tư”…, qua sự xuất
hiện của những cái bóng: “bóng người (phất áo xa xăm)”, “bóng người
buông từ tầng cao”, “bóng bóng lặng im”, “bóng cũ”, “bóng cỏ”, “bóng Sương
nữ”... Văn Cao có “Sơn nữ ca”, Trần Hùng lại có “Sương nữ
ca”. “Sơn nữ ca” là bài ca người con gái miền núi. Còn “Sương nữ
ca” phải chăng là bài ca người con gái trong sương hoặc như sương (?).
Nhan đề bài thơ đã gợi một vẻ đẹp liêu trai, có một độ nhoè mờ về hình ảnh.
Thêm vào đó, Trần Hùng còn có xu hướng sử dụng một số từ có ý nghĩa nhòe mờ, siêu thực, đa nghĩa; vàcòn sáng tạo ra những từ mới, biểu tượng mới dựa trên tri thức nền của văn hóa truyền thống phương Đông.
Ở mỗi giai đoạn sáng tác, mỗi nhà thơ thường để lại ấn tượng ở
một vài kí hiệu trung tâm neo vào trí nhớ người đọc. Với Trần Hùng, trong tập
“Mắt mắt khuya từng đàn”, trước hết, đó là thích màu “trắng” mang
dấu ấn tâm linh, siêu thực (khác với “trắng trong thơ Lê Đạt luôn gợi dẫn
đến sự trắng trong và hình hài trắng đẹp của thiếu nữ” (Lê Huy Bắc); thơ Hữu Thỉnh
nhiều màu tím; thơ Xuân Quỳnh có nhiều màu xanh…). Màu trắng hình như ám ảnh
nhà thơ Trần Hùng một cách vô thức. Trước đây, trong tập “Mùa xa” đã xuất hiện
những màu trắng ấn tượng như: “cá trắng”, “kiến trắng”, “chữ trắng”, “chim trắng
trắng”, “thời trang trắng trắng”… thì đến tập “Mắt mắt khuya từng
đàn”, màu trắng càng trở nên ám ảnh, siêu thực trong thi ảnh “mưa trắng”, “trái trắng”, “cỏ trắng”… Từ
“trắng” trong thơ Trần Hùng có rất nhiều nghĩa, có thể là màu trắng, là
không có gì, là khôi nguyên, trinh trắng: “Khi đêm trắng mây trắng mưa trắng /
Cây sinh trái trắng”; (Trăng như) “phiếu trắng bầu vào
đêm trắng”; “Cỏ thi cỏ thi / Bao nhiêu trắng hết đêm
nay đi / Trắng hết những đêm xuân sang hè”… Có thể thấy, nhiều
hình ảnh trong thơ Trần Hùng luôn gợi sự liên tưởng liên văn bản. Chẳng hạn,
hình ảnh “cỏ thi” (có màu trắng, tên khoa học là Achillea) là một loài cây họ
cúc sống khỏe hết mình nên dân gian đã dùng nó làm vật tâm linh để bói
toán xin thần linh tiết lộ thiên cơ. Hình ảnh “cỏ thi”, “lá đôi phủ mặt” của Trần
Hùng cũng gợi liên tưởng tới “cỏ bồng thi”, tới chiếc “lá diêu
bông”, tới hành động “xòe tay phủ mặt chị không nhìn” mà Đỗ Lai Thúy đã
phân tích như là ẩn ức tính dục kín đáo trong thơ Hoàng Cầm. Nhà thơ Hữu Việt
nhận xét: Thơ Trần Hùng “luôn thấp thoáng bóng hình một người phụ nữ”. Điều đó
đúng. Nhưng nếu như biểu tượng người phụ nữ hiện lên trong thơ Hoàng Cầm
là “yếm” thì trong thơ Trần Hùng là “tóc”. Tập “Mùa xa” nhắc đến
tóc nhiều lần như là một biểu tượng kín đáo của tình yêu: “Một sợi tóc rơi
xuống hồ lặng lẽ / thật nhẹ nhàng mà không thể cầm lên”; “Tóc giữ
câu thề, tóc mãi không về”; “Mơ những ngón kem ngủ
trong tóc ẩm”; “Tóc em như đàn kiến đêm miên man”; “Người
bay về bên trời / Kia xa xa bồng bênh tóc trôi”; “Ước gì được ngậm tóc em /
Làm hạt mầm nằm sâu trong tuyết”; “Tóc nước ngậm đầy”; “Em miên
man sợi tóc lạc bầy”; “Đâu đâu cũng tóc em thủy mặc”…
Tóc cũng trở thành một ám tượng trong thơ Trần Hùng. Cho nên trong tập thơ mới
này, nó được bật ra vô thức khiến ông sáng tạo ra một từ láy độc lạ “lơn
tơn lóc tóc” (đóng dấu bản quyền Trần Hùng) trong bài “Đồng dao” mang âm
hưởng dân gian hiện đại: “Rồi mưa rung mưa rây zích zắc / Ai mang áo
tơi mang áo tôi / Đồi gai lên lơn tơn lóc tóc/ Sấm lên măng sấm ngồng”...
Ngoài những kí hiệu như “trắng”, “sương”, “tóc”…
thì từ “hoang” cũng neo vào trí nhớ người đọc. Nếu như ở tập
“Mùa xa”, những kết hợp với từ “hoang”: “Ta như cây rơm đồng
hoang”, “mùa mùa muỗi hoang”, “đường hoang”, “rừng hoang”, “hoang
ca”, “cây hoang”, “gieo hoang”… còn có thể giải thích được bằng
nét nghĩa có trong từ điển, thì đến tập thơ “Mắt mắt khuya từng đàn”, nhiều kết
hợp với từ hoang rất lạ lẫm: “vó hoang”, “dòng hoang”, “sóng
hoang”, “vây hoang”. Tuy nhiên, chúng lại dường như tạo sinh nghĩa mới bằng
cách tổng hợp nét nghĩa của nhiều từ: hoang vu, hoang sơ, hoang dã, hoang liêu,
hoang mang, hoang tưởng, đi hoang…: “Tận cùng dòng hoang sóng hoang rồi /
Ngập ngừng làm sao vây hoang ơi”…
Thơ Trần Hùng có nhiều tiếng gọi kết hợp với đại từ: “đâu
đó ơi” tạo sự mơ hồ, phiếm chỉ, không xác định. Cũng như vậy, đại từ “ai” trong
tiếng Việt là một đại từ phức tạp, đa nghĩa, đa ngôi, vốn có tính chất nước
đôi, “ỡm ờ”, xuất hiện nhiều trong ca dao, trong thơ của các bậc tiền nhân
và cũng góp mặt nhiều trong thơ Trần Hùng. Chẳng hạn, từ “ai” trong
ca dao: “Nước non một gánh chung tình / Nhớ ai, aicó nhớ mình
chăng ai?”; “Ai đi đâu đấy hỡi ai / Hay là trúc đã nhớ
mai đi tìm”; “Trăm năm ai chớ bỏ ai /Chỉ thêu nên gấm,
sắt mài nên kim”; “Có ai thêm bận vì ai/ Không ai giường
rộng chiếu dài dễ xoay”… Và đây là từ “ai” trong thơ của các bậc
tiền nhân: “Cái tình là cái chi chi / Ai chi chi cũng chi
chi với tình”(Nguyễn Công Trứ); “Khóc vì nỗi thiết tha sự thế/ Aibày
trò bãi bể nương dâu” (Nguyễn Gia Thiều); “Ai đương độ ấy lăm
răm mắt/ Tớ đã bây giờ lún phún râu” (Tản Đà); “Ở đây sương
khói mờ nhân ảnh / Ai biết tình ai có đậm đà” (Hàn
Mạc Tử)…
Đại từ phiếm chỉ “ai” trong thơ Trần Hùng đã
có sự tiếp nối với truyền thống thơ ca Việt trong nhịp điệu đồng dao nhưng có dấu
ấn tâm linh huyền bí, ảo mờ khi kết hợp với nhiều nguyên âm tối (u, â,
ơ): “Tiếng ai tru âm u trăng lu / Tiếng ai hong
hong như tơ giăng”; “Lơi vơi ới a rã rơi / Ai ngây ngấy
trong mắt ai / Ời lua lua đêm thu trăng lu / Ời hạ huyền then
gài bóng cũ”; “Hình như mạch hở trong vườn / Sáng
nay ai chân trần trên cỏ / Ơi đâu đó ơi”... Trong cảm nhận của
nhà thơ, thiên nhiên cũng có linh mạch: “mạch cây” trong đất, “mạch
hở” trong vườn…
Trong trường từ ngữ ảo mờ, siêu thực của thơ Trần Hùng, từ “này” cũng
trở nên đa nghĩa, bởi nó đảm nhiệm cả hai vai trò cùng một lúc: vừa là đại từ
chỉ định (này, kia, ấy, nọ, đó, đấy) vừa là trợ từ nhấn mạnh: “Cài hoa
vàng lên mặt / Hôn lên bức tường này / song cửa lạnh này /
Miết một đường lam vào u tối này / Mực ứa vào giấy trắng”. Từ “nào” trong
thơ ông cũng vừa là đại từ để hỏi vừa là trợ từ biểu thị sự nhấn mạnh thêm
về điều vừa nêu ra với người đối thoại, với hàm ý thuyết phục (Hoàng Phê, 2000:
657): “Lên cao xem ngọn chuông nào / Chìm sâu tìm rễ
chuông nào”. Vì thế, chủ thể của câu thơ vừa là của tác giả vừa là của
chính người tiếp nhận, tạo ra sự gần gũi trong giao tiếp. Không khí liêu trai,
hình ảnh tượng trưng và những đại từ phiếm chỉ, không xác định… đã tạo cho thơ
Trần Hùng một vỏ bọc khó hiểu và càng trở nên huyền bí, mê dụ.
4. So sánh tu từ độc đáo
Thơ Trần Hùng có rất nhiều so sánh đắt, độc, lạ. Ở những tập
thơ trước của ông, người đọc đã từng ấn tượng với cách ví von như: “Em vời
vợi mơ xa rồi cuối cùng cũng trở về anh / Về đau như nhung” (Vời
vợi mùa xa). “Đau như nhung” là đau thế nào? Phải chăng đó là nỗi thấm
đau vô cùng êm ái, dịu dàng. So sánh của ông vừa hiện đại vừa truyền thống, ví
dụ:“Người đi như sương gót sương tinh khiết / người như là
cây da mồi nẩy lộc” (“Sương hương bay”) thì hình ảnh “da mồi nẩy lộc” lại
gợi nhớ câu ca dao: “Chớ than phận khó ai ơi / Còn da lông mọc, còn
chồi nảy cây” biểu thị sự lạc quan của con người. Hoặc câu thơ: “Em như cá
trong đàn / Mê man đường vây trong trùng trùng ánh nước” thì lại gợi
liên tưởng tới những câu ca dao ví thân phận người nữ với cá: “Em như con
cá rô thìa/ Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu”; “Thân em như cá giữa
rào (sông) / Kẻ chài người lưới biết vào tay ai”… Tuy nhiên,
tính chất, trạng thái của “em – cá” trong thơ Trần Hùng đã
rất khác.
Đến tập thơ mới “Mắt mắt khuya từng đàn”, so sánh của Trần
Hùng vẫn vừa quen vừa lạ, nhưng ấn tượng hơn. Quen vì cái được so sánh vẫn là
những hình ảnh cụ thể, gần gũi trong tâm thức Việt, nhưng cái tính chất, trạng
thái của sự vật lại là những phát hiện cực chính xác mà rất ít người nhận
thấy. Có thể dẫn ra vài trường hợp, chẳng hạn: “Ý nghĩ / như chiếc
võng / Muốn mắc vào / Mà hiên nhà chỉ còn một cột”… Hoặc bài thơ
ngắn có nhan đề là “Bình yên”nhưng lại được diễn giải như sau: “Đêm
qua / Tim tôi như cánh đồng / Cánh đồng đầy bóng giặc”. Thử hỏi,
khi “Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn / Ruộng ta khô / Nhà
ta cháy…” (Hoàng Cầm) thì làm sao trái tim còn có thể bình yên? So
sánh này chính là một cách nói ngược tạo ấn tượng mang dấu ấn dân gian kiểu
như: “Bao giờ cho đến tháng ba / Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng”…
Và như vậy nghĩa là chưa thể bình yên. Làm sao có thể bình yên về một đời sống
hiện đại còn nhiều bất trắc, căng thẳng khi “Tay đơm nước đục / Lưỡi lam
trong phù sa”, khi “rắn xanh” có mặt ở khắp nơi: “Rắn xanh trong giầy / Rắn
xanh trong nhà trong vườn”… khiến cho “Đám đông thất vọng / Đám đông
hoảng loạn”…
Thêm vào đó, Trần Hùng còn có những so sánh hiện sinh mang
màu sắc hậu hiện đại: “Em bên anh / Như bên đống quần áo cũ
lên men / Trong gác xép”. Nó gợi nhớ đến sự ví von trong thơ Hoàng
Hưng: “Đã một nghìn đêm mưa trắng đêm / Điên cuồng nhớ mùi
anh như con bò cái nhớ mùi phân rác” (Mùi mưa hay bài thơ của
M). “Anh” được ví như đống quần áo cũ ẩm mốc lên men bốc mùi khó chịu
trên cái gác xép chật chội tối tăm; vậy mà “em” vẫn chấp nhận, vẫn ở
bên không rời xa thì chỉ có thể nói đó là do chữ “duyên (chữ “Duyên” cũng
chính là nhan đề được nhập luôn với ba dòng thơ này để hoàn thành một bài thơ
có kết cấu tối giản). Duyên chính là cái chất keo để đôi lứa gắn bó với
nhau. Thực tế cuộc sống đã có những trường hợp mùi khó ngửi của người này lại
là xạ hương của người kia. Chả thế mà Hoàng đế Napoleon từng gửi thư cho hoàng
hậu Josephine với lời nhắn: “Em yêu, đừng tắm rửa. Ta sắp về rồi!”…
Có thể nói, tập thơ “Mắt mắt khuya từng đàn” đã tạo được ấn tượng ngôn ngữ: về cách đặt nhan đề độc đáo, gợi liên tưởng; về việc sử dụng nhiều thanh bằng, phong phú các phép lặp, đặc biệt là lặp liên hoàn, tiếp nối giữa các dòng thơ đã tạo cho câu/ bài thơ có nhạc tính riêng; về trường từ ngữ mang màu sắc liêu trai, siêu thực, đa nghĩa; về những so sánh mới lạ. Tập thơ mang dấu ấn của một giai đoạn sáng tác mới của Trần Hùng. Vì thế, hệ thống ngôn từ trong tập thơ đã gián tiếp phản ánh tâm trạng, suy nghĩ của tác giả trước hiện thực đời sống còn nhiều bất trắc. Đồng thời cũng cho thấy dấu ấn vô thức trong sáng tạo của người nghệ sĩ đã góp phần tạo nên những bản quyền chữ nghĩa độc đáo.
15/6/2024
Hoàng Kim Ngọc
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét