Văn Cao - Tư tưởng là
cốt tủy của thi ca
Di sản thơ Văn Cao tuy không đồ sộ nhưng giàu tính cách tân và thấm đầy nhân bản. Đưa thơ đi về phía suy tư và triết luận, Văn Cao đã góp phần mở ra một khuynh hướng nghệ thuật đáng chú ý. Với ông, sức mạnh cốt tủy của thơ là tư tưởng và chiều sâu của cái nhìn. Kết hợp một cách khéo léo thơ- nhạc-họa, bằng bản lĩnh nghệ thuật cao cường, Văn Cao đã đem đến cho thơ Việt một tiếng nói độc đáo, trình hiện những khám phá sâu sắc của ông về thực tại. Thơ Văn Cao là cả một thế giới mở. Mở vì tính dự báo sâu xa. Mở để mời gọi người đọc chia sẻ và kích hoạt ở họ những suy tưởng về các giá trị tinh thần trong những cơn trở mình của lịch sử.
“Tôi không đi qua tôi
để lại gì?”
Văn Cao
Văn Cao là ‘một thác lũ nghệ thuật trùm lấp vòm trời Kinh Đô
Văn Nghệ” (Tạ Tỵ)1 và “sang trọng như một ông Hoàng” trong âm nhạc (Trịnh
Công Sơn)2. Cho dù cuộc đời và số phận những đứa con tinh thần của ông có lúc bị
bầm dập theo thời cuộc thì tầm vóc của Văn Cao không vì thế mà bị suy giảm.
Trái lại, qua thời gian, những kiệt tác nghệ thuật của ông ngày càng lộng lẫy.
Bởi ông là một tài năng xuất chúng. Không ít lần Văn Cao chạm bút là những lần
ông khởi tạo những dòng châu ngọc đạt ngưỡng thiên tài. Thiên thai, Trương
Chi, Tiến quân ca, Sông Lô, Mùa xuân đầu tiên… là những bảo chứng nhãn tiền.
Trong lĩnh vực thi ca, Văn Cao viết không nhiều. Sinh thời,
ông chỉ cho xuất bản duy nhất tập Lá gồm 28 bài, và sau ngày ông mất, Tuyển
tập Văn Cao Thơ cũng chỉ có 59 bài3. Nhưng di sản nghệ thuật Văn Cao có khả
năng tồn tại lâu dài bởi đó là sự kết tinh về chất chứ không phải áp đảo về lượng.
Tài năng Văn Cao hiện rõ trong thơ, nhạc, họa nhưng so với nhạc và họa, thơ là
lãnh địa thể hiện rõ nhất bản ngã Văn Cao. Tại đó, ông trực diện lựa chọn thái
độ: Giữa sự sống và sự chết/ Tôi chọn sự sống/ Để bảo vệ sự sống/ Tôi chọn
sự chết (Chọn, 1957), nhận thấy mặt trái của những tấm huân chương: Người
ta đôi khi bị giết/ bằng những bó hoa (Những bó hoa, 1974) và cô đơn, rạn
vỡ: Có lúc/ một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ/ Có lúc/ ban ngày
nghe lá rụng sao hoảng hốt/ Có lúc nước mắt không thể chảy ra ngoài được (Có
lúc, 1963). Thơ cũng là nơi Văn Cao tự tri nhận về số phận mình trong các mối
tương quan:
Tôi không được làm trái đầu mùa/ Những trái
cây/ cao giá/ Tôi/ Một trái cây muộn/ còn sót lại
cành/ Vị cuối cùng/ Mùa cuối cùng/ Rớt xuống…/ Mới thật hiểu/ Sự
sống thật của mình– (Sự sống thật, 1970)
Thơ Văn Cao độc đáo ngay từ khởi đầu bởi đó là sản phẩm của
những chiêm nghiệm sâu sắc đậm chất triết luận. Sâu đến mức lặng lẽ, sự lặng lẽ
xoáy xiết của sóng ngầm: Như viên đá rơi vào im lặng. Vì biết đào sâu vào lõi
trầm đời sống mà Văn Cao bỏ qua cái sặc sỡ thời thượng bề ngoài để “xuyên tường”
tìm ngọc. Thức dậy những linh cảm nhạy bén, Văn Cao thấy rõ nguyên ủy của tồn
sinh bằng huệ nhãn: Những tiếng hát đuổi nhau trên các ngọn núi/ Còn lại một
hồ nước/ Trên họng một ngọn núi cạn lửa (Cạn). Hồ nước không chỉ là biểu
tượng về sự sống mà thực ra cũng là nơi soi bóng bản thể Văn Cao. Tổ chức cấu
trúc thơ Văn Cao chủ yếu thi triển theo nguyên tắc này. Từ những tình thế và
các mối tương quan trong đời sống thường nhật, ông đẩy đến cùng mạch suy tư,
chiêm nghiệm để ngộ ra những điều sâu xa của thế giới, nhân tâm. Có lẽ vì thế
mà Văn Cao thường nhắc đến mối tương quan đầu tiên- cuối cùng. Đầu tiên là khởi,
nhưng cũng là đích. Cuối cùng là đích nhưng cũng là khởi. Giữa chúng là cả một
thế giới, “có xót xa có cả vui mừng”, có bĩ- thái đan xen.
Đi qua những biến dịch thời cuộc và hỉ, nộ, ái, ố, những trạng
thái sâu xa của đời sống được chắt lắng lại qua những trải nghiệm cá nhân, Văn
Cao tìm thấy nghĩa lý nhân sinh trong những điều còn lại. Còn lại trong cảm
giác: Dĩ vãng giữ trong tôi như một mùi cỏ/ Thơm ủ trong tóc người yêu.
Còn lại sự giác ngộ: Vị cuối cùng/ Mùa cuối cùng/ Rớt xuống/ Mới thật hiểu/ Sự
sống thật của mình. Còn lại những tinh hoa: câu thơ còn xanh, bài hát còn xanh.
Còn lại tình yêu đích thực: Ôi khuôn mặt sáng trong và bình lặng/ Tôi được đầu
tiên và còn lại cuối cùng… Những thuận lý và nghịch lý này đi vào thơ Văn Cao,
qua phóng chiếu của tâm hồn ông, không bao giờ đứng yên mà luôn triển nở, rồi
bùng vỡ lúc tới độ cao trào. Khi độ căng mỹ học thơ được giải phóng, đó là lúc
bài thơ “mở ra vạn lối” cho người đọc từ hiệu ứng giữa sáng tạo và tiếp nhận. Từ
đó, những lớp sóng nghĩa sẽ xâm chiếm người đọc như những dư âm còn mãi Nhớ
một điệu đàn/ Vũng sao khuya sóng sánh. Mỹ học thơ Văn Cao là thứ mỹ học mở.
Mở vì tính sự báo sâu xa và những tiên cảm vượt thời. Mở để mời gọi và kích hoạt
suy tưởng của người đọc về những giá trị nhân sinh trong những cơn trở mình của
lịch sử. Từ độ mở của văn bản, người đọc sẽ tự phát hiện ra những bí mật theo
cách của mình. Tựa như khi đứng trước bí mật của biển khơi:
Đảo chìm/ Xanh biển/ Đáy sâu khỏa nắng/ Chân
trưa/ Ngàn đáy sâu tới đáy khôn cùng– (Đảo, 1970).
Sự độc đáo của Văn Cao là ở đấy. Thực tại trong thơ ông không
hiện lên theo chiều tuyến tính hay cấu trúc mặt phẳng mà luôn biến ảo và chuyển
động. Vì Văn Cao biết nối các khoảng không/ thời gian vào một thể, đặt những sự
vật xa nhau lại gần nhau để tạo bùng nổ thẩm mỹ. Nói thế để thấy, bên cạnh sự
nhạy cảm thiên phú, gốc rễ tạo nên tầm vóc Văn Cao là chiều sâu tư tưởng và ý
thức mài sắc cá tính. Đó là tư tưởng nhân văn và tinh thần duy mĩ. Nhân văn
giúp Văn Cao biết căm ghét ngụy tạo, giả dối, biết yêu tự do và gắn bó số phận
mình với số phận dân tộc. Duy mĩ giúp Văn Cao đề cao cái đẹp và sự thanh khiết
của những giá trị tinh thần. Ý thức xác lập cái riêng trong nghệ thuật đã giúp
cho cách nói của Văn Cao là tiếng hát của chàng Trương Chi hiện đại không hề bị
lẫn, lặp.
Mặc dù hấp thụ tư tưởng nghệ thuật phương Tây và khí quyển
văn hóa thời đại nhưng việc bám sâu vào gốc rễ văn hóa Phương Đông đã giúp cho
Văn Cao biết cách chiết xuất các nguồn dưỡng chất này thành những kết tinh nghệ
thuật mang đậm dấu ấn cá nhân. Điều đó có thể rất rõ trong các giai đoạn nghệ
thuật của Văn Cao: lãng mạn thời đầu; hùng tâm tráng khí và đầy tính hiện thực ở
chặng thứ hai; dằn vặt, trăn trở và đầy bản lĩnh ở giai đoạn thứ ba. Nếu như ở
thời lãng mạn, Văn Cao mơ về một thế giới mộng ảo với những khúc hát u hoài, xa
vắng thì về sau, thơ ông gần gũi với lời ăn tiếng nói thường ngày, nhưng được
chắt lọc, ươm ủ kỹ càng. Vì thế, thơ ông đạt tới sự uyên súc, giản dị, thứ giản
dị mang chứa cả một sự khéo léo lớn, một nội lực thâm hậu. Sợi dây triển khai
thi tứ trong thơ Văn Cao chủ yếu được tổ chức theo hướng từ một giọt ánh sáng
mà nhìn thấy sự vô tận của trời xanh, từ một hạt bụi mà mường tượng được cả những
con đường và những dấu xe. Đó không phải là những dấu xe của hiện thực thông
thường mà là dấu xe của suy tưởng vì nó là sản phẩm của nỗ lực “mở ra những
quãng ngược và quãng xuôi, những cái không nói tới mà người đọc càng tìm thấy
mãi” (Mấy ý nghĩ về thơ, 1957). Mỹ cảm và tầm nhìn của Văn Cao đích thực là mỹ
cảm, tầm nhìn của một nghệ sĩ có tư tưởng.
Ý thức khám phá thực tại ở bề sâu đã thôi thúc Văn Cao khởi tạo
khuynh hướng đưa thơ đi về phía suy tư, triết luận. Đó không đơn thuần là câu
chuyện hình thức bề ngoài, vì sâu xa, nó gắn liền với những nghiền ngẫm của ông
về các hệ hình nghệ thuật: “Chúng ta đã qua một thời kỳ dài thiên về cảm xúc và
một thời kỳ cảm giác. Cái thời kỳ thiên về tư tưởng có phải đang bắt đầu
không?”. Điểm quan trọng nhất trong “thời kỳ thiên về tư tưởng” là “nhà thơ phải
chủ động thành lập nên sự thẩm mĩ mới cho người đọc, chủ động xây dựng con người
biết tư tưởng, cảm xúc và cảm giác tinh tế như mình trong xã hội đương thời và
cả xã hội sau này” (Mấy ý nghĩ về thơ). Muốn thế, nhà thơ không thể là kẻ ăn sẵn,
anh ta phải khám phá tầng lõi của thực tại để kiến tạo thế giới nghệ thuật bằng
cái nhìn cá nhân. Điều đó lý giải vì sao thơ Văn Cao thường ghìm nén cảm xúc,
nói ít gợi nhiều. Ông biết cách để giấu nồng sau đậm. Và nó cũng lý giải vì sao
Văn Cao luôn nhấn mạnh vai trò của ego trong sáng tạo nghệ thuật. Đó phải là
cái ego bản ngã chứ không phải một phiên bản vay mượn nào khác:
Con thuyền đi qua/ để lại sóng/ đoàn tàu đi
qua/ để lại tiếng/ đoàn người đi qua/ để tại bóng/ tôi
không đi qua tôi/ để lại gì?– (Không đề, 1967)
Đi qua tôi thực chất là một xác tín về tự do cá nhân trong
lĩnh vực tinh thần. Tại đó, nhà thơ tự do cất lên tiếng nói của mình trong tư
cách là một nghệ sĩ và một kẻ sĩ vì sự tiến bộ nghệ thuật. Dĩ nhiên đã có thời
điểm, vì ý thức bảo lưu cái tôi mà Văn Cao và một số cây bút có xu hướng cách
tân bị coi là “xa rời quần chúng”. Cuộc tranh luận văn nghệ Việt Bắc năm 1949
cho thấy sự khác biệt về quan điểm mỹ học thi ca qua trường hợp Nguyễn Đình
Thi. Riêng với Văn Cao, thơ ông vẫn rất giàu cảm hứng công dân mà Những
người trên cửa biển là trường hợp điển hình. Tuy nhiên, ông luôn kiên định
với ý hướng cách tân và mài sắc lối viết đề cao tư tưởng và bản sắc cá nhân.
Nhà thơ trân trọng những kẻ dám mở đường vì mục đích cao nhất của nó là “mở cho
tất cả những giấc mơ, những sáng tạo của con người tự do phát triển bay đi xe mật
về ổ”. Đó cũng là là khát vọng lớn nhất của Văn Cao trong sáng tạo nghệ thuật.
Có lẽ vì thế mà khi đọc Văn Cao, Đặng Tiến đã dành thời gian phân tích biểu tượng Lá.
Lá Văn Cao, qua cái nhìn Đặng Tiến là Lá Khát vọng4 Song, nếu đặt
ký hiệu/ biểu tượng này trong tổng thể thơ Văn Cao, tôi nghĩ, có thể hình dung
về nó như một thứ lá lá tư tưởng của Văn Cao. Một tư tưởng dấn thân và dám chấp
nhận: “Người ta yêu những người cố mở đường mà thất bại, yêu những người biết
thất bại mà dám mở đường” (Mấy ý nghĩ về thơ). Về bản chất, quan niệm này rất gần
với Nam Cao: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một
vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết
tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa,
1943). Những tài năng nghệ thuật bao giờ cũng thế, luôn tìm kiếm cái mới vì cái
mới là hiện thân sống động nhất của tiến bộ nghệ thuật.
Cái mới trong thơ Văn Cao trước hết hiện lên qua mỹ cảm và
cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ. Văn Cao viết nhiều về thu, những mùa thu đượm
buồn và mang theo những khát vọng đẹp sau những phôi pha. Nhưng khi nói về hi vọng,
Văn Cao thường chọn gam sáng của mùa xuân. Nhưng dù viết về mùa nào, chủ đề nào
thì thơ Văn Cao vẫn là những suy tư ráo riết về lịch sử, thời thế và phận người.
Văn Cao không cũ vì ông ít hứng thú với kiểu cao đàm khoát luận. Ông lặng lẽ
phát hiện cái đẹp bình dị thường ngày. Đó có thể là một “lòng núi”, “đường rừng”
hay “một đêm Hà Nội”, một “đêm phá Tam Giang”, một ngẫm ngợi khi “tuổi già đến”…
Vấn đề là từ những thứ tưởng như không mấy ai để ý, Văn Cao nhận ra sự trinh
nguyên và vĩnh cửu của cái đẹp. Đó là là kết quả của “một khám phá về chất” như
M. Proust đã từng nói về phong cách nghệ thuật nhà văn. Văn Cao lạ bởi ông biết
rọi vào đối tượng bằng cái nhìn “tương giao” giữa cảm giác và trí tuệ theo quy
chiếu thẩm mỹ cá nhân. Nếu ở những sáng tác đầu tay như Ai về Kinh Bắc,
Đên mưa, Đêm ngàn, mỹ cảm Văn Cao vẫn còn bị ám bởi mỹ học lãng mạn và hơi
thở Đường thi thì đến Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Văn Cao đã
hoàn toàn thoát bóng Thơ mới.
Trong cái nhìn của ông, thực tại lúc bấy giờ mang khuôn mặt của
‘một mùa địa ngục”. Nhà thơ tái hiện nạn đói khủng khiếp Ất Dậu 1945 một cách ấn
tượng bằng bút pháp tượng trưng: Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa/ Chập chờn
ảo hóa tà ma…/ Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa/ Rũ rượi tóc những hình hài địa
ngục/ Lạnh ngắt tiếng ca nhi phách giục/ Tình tang…. Não nuột khóc tàn sương/
Áo thế hoa rũ rượi lượn đêm trường/ Từng mỹ thể rạc hơi đèn phù thể/ Ta đi giữa
đường dương thế/ Bóng tối âm thầm rụng xuống chân cây… Đây là thi phẩm
đánh dấu sự thay đổi mang tính bước ngoặt: từ một Văn Cao lãng mạn sang một Văn
Cao hiện thực, một Văn Cao mộng ảo sang một Văn Cao trần thế với nỗi đau người.
Có thể cắt nghĩa về sự thay đổi trong quan niệm và thực hành nghệ thuật Văn Cao
từ nhiều lý do khác nhau như sự tác động của Vũ Quý, quá trình tham gia cách mạng,
lòng yêu nước của người nghệ sĩ biết gắn bó với đất nước, nhân dân nhưng trước
hết, đó là sự thay đổi xuất phát từ thức nhận của chính nhà thơ về thực tại. Vì
thế, nếu ở Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc chứng kiến một Văn Cao buồn
đau ai oán thì đến Ngoại ô mùa đông 1946 là một Văn Cao hân hoan trước trước sức
mạnh thác lũ của những người cùng khổ đứng lên tự giải phóng mình khỏi vòng nô
lệ:
Reo lên! A reo lên/ Xóm cùng khổ/ Reo lên! Reo
lên!/ Băng mình vào đạn lửa/ Cuồn cuộn chảy xô lòng Hà Nội vỡ/ Sóng
lũ Hồng Hà
Cùng với “tam tuyệt thi” là Nhớ máu (Trần Mai
Ninh), Hải Phòng 19/11/1946 (Trần Huyền Trân), Đèo Cả (Hữu
Loan), Ngoại ô mùa đông 1946 của Văn Cao đã góp phần xác lập kiểu diễn
ngôn nghệ thuật mới của thời đại ngay trong những ngày đầu kháng chiến. Đó là
kiểu diễn ngôn tràn đầy lạc quan, khác hẳn kiểu diễn ngôn buồn thương thời Thơ
mới mà trước đó chưa lâu ông vẫn còn bị ảnh hưởng.
Có một thực tế là Văn Cao làm thơ nhiều nhất trong thời kỳ
“bóng tối”, khi ông bị đẩy ra “bên lề” sau tai nạn Nhân văn – Giai phẩm. Thời
gian này, Văn Cao chủ yếu lo mưu sinh, lặng lẽ tập trung vào đồ họa và viết nhạc
khi có đặt hàng. Đó là cả một quãng thời gian dài, thậm chí rất dài Văn Cao
chìm trong cô đơn. Người ta hầu như không còn nhìn thấy nụ cười trên “khuôn mặt
nhàu nát” của ông. Phương cách tự cân bằng sinh thái tinh thần duy nhất là ký
thác nỗi uất nghẹn “bất phùng thời” vào thơ ca, “vịn vào câu thơ mà đứng dậy” để
không bị “ngã lòng”. Đây cũng là giai đoạn Văn Cao viết nhiều về bè bạn. Chủ yếu
họ hiểu nhau qua những giao cảm không lời vì đó là cách giao cảm của những kẻ
“cùng một lứa bên trời lận đận”. Vì thế, viết về bạn bè là cách để Văn Cao được
nhìn thấy mình trong họ, thấy họ trong mình, từ đó vững tin hơn về sự trường tồn
của các giá trị: Cái chết của anh cái chết một nhà văn/ Không bao giờ là
cái chết (Với Nguyễn Huy Tưởng, 1960).
Trong thơ Văn Cao, mắt xuất hiện nhiều như một ám ảnh. Mắt là
tâm hồn. Là tiếng nói. Là nơi phân biệt thật, giả, ngay thẳng và đớn hèn. Đặc
biệt, mắt là biểu tượng lớn về một tình yêu thanh khiết, thủy chung mà Văn Cao
may mắn có được. Nó trở thành báu vật đi suốt đời ông, giúp ông vượt lên mọi ngặt
nghèo số phận: Và đôi mắt em/ như hai giếng nước. Và chính Văn Cao, trong
sự tự biểu hiện, vẫn biết nhận chân thế giới này bằng con mắt “lặng lẽ lấp
lánh” còn lại, khi mà con mắt kia bị che phủ bởi “bóng đen” người khác (Nguyệt
thực). Đó là bi kịch của chữ tài bị vùi dập bởi chữ tai. Nguyễn Thụy Kha đã hiểu
được Văn Cao trong những thời điểm khốn khó ấy: “Lọc chắt từ đáy những tâm trạng,
số phận, nỗi niềm, thơ Văn Cao đã sáng lên những kinh nghiệm qua những éo le”5.
Tôi nghĩ, thứ kinh nghiệm lớn nhất mà Văn Cao có được chính là bản lĩnh để tồn
tại, kiên định sáng tạo để vượt tình thế. Khi cuộc sống có quá nhiều bất trắc,
hẳn không phải một lần mà rất nhiều lần Văn Cao rơi vào thảng thốt: Có
lúc/một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ/ có lúc/ ban ngày nghe lá rụng
sao hoảng hốt/ có lúc/ nước mắt không thể chảy ra ngoài được (Có lúc,
1963). Thậm chí, một tiếng động cửa cũng tạo nên những giật mình kinh sợ:
Một tiếng động khóa/ Xin mời vào/ Cánh cửa mở ra thật
rộng/ Chỉ thấy/ Một chiếc cầu thang nhà trên gác/ Và ánh
sáng/ không động đậy/ Một giọt mồ hôi/ Lăn trên trán tôi– (Cánh
cửa, 1960)
Hóa ra, đó là tiếng động của ảo giác. Thế mới biết những phấp
phỏng, lo âu đã ăn sâu vào vô thức nhà thơ. Nhưng vượt lên nghịch cảnh, Văn Cao
là một “khúc thép đỏ” được tôi rèn từ nghiệt ngã: Tiếng kêu ở trong tôi/
Có xót xa có cả vui mừng/ Tiếng kêu của một khúc thép đỏ/ Trong chậu nước (Cạn,
1958). Là “khúc thép đỏ”, Văn Cao lặng lẽ nuốt vào mình những nỗi đau thân phận.
Bản lĩnh của Văn Cao là ở chỗ, ngay trong quãng thời gian trớ trêu nhất của số
phận ông chưa bao giờ rời xa mỹ cảm nghệ thuật mà ông đã kiên trì theo đuổi.
Nhưng Văn Cao không đi về phía duy ngữ kiểu Trần Dần, Lê Đạt, cũng không đưa
thơ trôi về phía tượng trưng kiểu Hoàng Cầm mà tăng cường chất triết luận và
màu sắc suy tưởng. Sức gợi của thơ ông bắt nguồn từ “khoảng trống giữa lời” và
khả năng tiết chế cảm xúc để tạo hàm súc dư ba. Thơ Văn Cao giản dị nhưng hết sức
tinh lọc. Các tầng nghĩa được nẩy sinh từ những tương quan mà Văn Cao nối kết,
phát triển tới cực đại, từ đó mở ra các chiều ngẫm ngợi cho người đọc. Đó cũng
là phương cách tạo hiệu quả thanh lọc (catharsis) của riêng ông. Không phải ngẫu
nhiên mà Văn Cao nói nhiều về mơ, vì mơ cũng là một thực tại, nơi ấy “cái tôi ẩn
giấu” được thức dậy sau những ngủ vùi: Khi đêm tối tất cả người tôi thức dậy/
Những đam mê quên ngủ suốt ngày (Thức dậy). Trong số những thi phẩm của
Văn Cao viết vào thập kỷ bảy mươi, Giấc mơ là một bài thơ độc, lạ:
Dưới mái nhà/ Một người đang ngủ/ Với giấc mơ của
những vì sao/ Những vì sao đang kể chuyện/ Giấc mơ của mái
nhà/ Giấc mơ của một người đang ngủ.
Sự tài hoa của Văn Cao là ông đã nối kết các không gian rất
tinh tế: giấc mơ của những vì sao và giấc mơ của mái nhà, của một người đang ngủ.
Đây là những giấc mơ hô ứng, có khả năng xuyên qua mọi giới hạn để con người được
sống trong sự ‘toàn nguyên” bản thể. Với bài thơ này, Văn Cao đã góp vào tư duy
thơ Việt hiện đại một phóng chiếu khác, táo bạo vì những đường kỷ hà nghệ thuật
khác lạ. Đó là những giấc mơ bình dị nhưng mang chứa sự giàu có nội tại. Nó là
phía khác của bản lĩnh dám vượt qua sự kìm tỏa của “thức”. Cái phi thực trở nên
rất thực bởi nó phản chiếu khát vọng tự do trong thực hành nghệ thuật.
Nếu trong những sáng tác đầu tay của Văn Cao, sự kết hợp thơ-
nhạc là hết sức nổi bật thì ở giai đoạn sau, cái nhìn hội họa chi phối cách kiến
tạo cấu trúc thơ ông rất rõ nét. Đó là thứ kiểu họa lập thể chứ không phải là hội
họa dẹt, phẳng, một thứ họa có khả năng đánh thức động trong tĩnh. Yếu tố nhạc
chìm xuống bề sâu qua cách xây dựng nhịp điệu và tổ chức cú pháp. Hệ quả, vang
dội thơ Văn Cao chính là sự vang dội nội tâm. Một vang dội đủ sức tạo nên những
khoái cảm thẩm mĩ bất ngờ:
Từ trời xanh/ rơi/ vài giọt tháp Chàm/ quanh
Quy Nhơn
Chùm thơ về Quy Nhơn gồm ba bài được Văn Cao viết vào giữa thập
kỷ tám mươi, khi những éo le, nghịch cảnh bủa vây ông đã bắt đầu lùi lại phía
sau. Văn Cao nhìn, nghĩ về đất và người Quy Nhơn – Nghĩa Bình bằng cái nhìn đôn
hậu, ấm áp. Cả ba đoản khúc này tạo nên chuỗi liên hoàn về Quy Nhơn. Nếu Quy
Nhơn 1 là bức khảm đầy mỹ thuật về địa lý nhân văn, Quy Nhơn 2 là
chiều sâu văn hóa và những khuôn mặt thân thương thì Quy Nhơn 3 là tiếng
vọng của lịch sử và khát vọng của một vùng đất. Dẫu viết về một Quy Nhơn mỹ lệ
hay một Quy Nhơn hào hùng, giàu có thì đọng lại trong cảm nhận của Văn Cao vẫn
là cái đẹp của tình người. Nhà thơ đã phát hiện vẻ đẹp Quy Nhơn bằng chiều kích
mỹ học mới, đi qua lối mở không gian từ điểm nhìn trên cao để nhận thấy cội nguồn
sâu thẳm làm nên sự vĩnh cửu: đất này/ mọc lên/ từ/ nước mắt!… Đó
không phải là kiểu “đứng về phe nước mắt” của Dương Tường mà mang chứa một nội
hàm khác. Nước mắt của đau thương, của ý chí và sức mạnh, nước mắt của hy sinh,
tình yêu và khát vọng mới là khởi thủy làm nên Quy Nhơn nói riêng và sự vĩ đại
của đất nước này nói chung. Từ trong nước mắt, đi qua gian khó là những nụ cười,
niềm hy vọng mà ông nhìn thấy ở Quy Nhơn hiện tại, và trước đó là Hải
Phòng: Sau những ngày động biển/ Nhu nhú trên những cành mận non/ Những nụ
hoa đang nở hồng hồng/ Mát hai vai dưới rặng cây bóng lá/ Đôi lứa thanh niên đến
tự tình (Những người trên cửa biển). Sự thống nhất trong cách cảm nhận thế giới
của Văn Cao nằm ở đấy: lắng sâu để nghe thấu mạch đời và những nguồn nhựa sống.
Bí mật trong cách kiến tạo thi giới của Văn Cao một lần nữa hiện thị trong Người
đi dọc biển (1970): Người đi/ dọc biển/ Bình minh dưới chân/ Một cái chai
lấp lánh/ Sóng biển còn hơi rượu/ Người đi/ dọc biển/ Lối cát chưa có dấu chân/
Chân trời còn gối biển/ Người đi/ dọc biển/ Không để lại/ Dấu chân. Nếu ở
khổ thơ đầu, còn sắc (một chai lấp lánh, sóng còn hơi rượu) thì đến khổ thơ
sau, sắc mất dấu chỉ còn lại không. Trong sự chuyển dịch sắc- không, tất cả đều
“trôi” và người đọc sẽ phải tự xác định tọa độ tùy thuộc vào sự lịch lãm, kinh
nghiệm thẩm mỹ của họ. Đó là thời điểm “tác giả đã chết”, quyền “phán quyết” được
trao cho người đọc. Đây cũng là biểu hiện của lối viết mở, không bao giờ đóng
kín, vì với Văn Cao “sự thất bại thường gặp trong một bài thơ là sự khép lại”.
Tôi nghĩ, cách tổ chức cấu trúc lạ hóa, cách nhìn thời gian qua không gian, lấy
không gian để đo ướm thời gian cũng như lối viết xuống dòng trong thơ Văn Cao hẳn
sẽ giúp cho lớp hậu sinh say mê thơ thị giác một kinh nghiệm sống còn: dẫu
phiêu lưu trong những cuộc chơi bất tận thì cuối cùng, vẫn phải đạt tính hàm
súc vì đó là một yêu cầu rất cao của loại hình nghệ thuật tinh tế này6.
Về phương diện thể loại, Văn Cao cũng để lại nhiều cách tân
đáng chú ý. Có khi ông chọn hình thức ngắn như Nguyệt thực, Cạn, Thức dậy,
Quên, Chọn, Đảo… Nhưng khi cần biểu đạt những bức tranh hoành tráng của lịch sử,
ông tìm đến thơ dài. Những người trên cửa biển (1956) là một thử nghiệm thành
công của Văn Cao. Với trường ca này, Văn Cao đã cắm dấu mốc quan trọng trong lịch
sử phát triển trường ca Việt Nam hiện đại. Nếu tính một cách chi li, trước Văn
Cao, trường ca/ thơ dài đã từng xuất hiện với Tiếng địch sông Ô của Huy Thông
hay Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông của Xuân Diệu. Nhưng điều đáng nói là Văn
Cao đã thi triển trường ca của mình bằng một chiến lược táo bạo và cái nhìn độc
đáo:
Tôi yêu Hải Phòng như Việt Nam nhỏ lại/ Tôi yêu Việt Nam
như tôi biết yêu tôi.
Đó là một Hải Phòng hiện lên từ những chi tiết nhỏ nhưng có
khả năng khắc sâu được khí chất, đặc tính Hải Phòng:
Sinh tôi ra đã có Hải Phòng/ Đầu nhà mới trồng cây mận/ Bãi
sú bồi thành bến/ Nhà máy xi măng đã dựng bên sông/…Hải Phòng mênh mông
nhiều mây nhiều nước/ Mênh mông bốn phía chân trời
Thế mạnh của tư duy nghệ thuật và khả năng phối kết các chiều giác quan đã được Văn Cao thể hiện sinh động trong bản giao hưởng thi ca này. Ông đã làm sáng lên chân dung Hải Phòng từ góc nhìn địa lý nhân văn, góc nhìn lịch sử, khảo cổ học, xã hội học,… Đó là một Hải Phòng chân thực, lam lũ, khó nhọc nhưng ngang tàng, quyết liệt, đầy khát vọng. Bản lĩnh nghệ thuật Văn Cao là ông triển khai trường ca trên nguồn cảm hứng sử thi nhưng không bị sử thi chi phối mà biết tạo nên những góc nhìn phản tỉnh. Điều đó giúp Văn Cao nhận thấy trong Hải Phòng hôm nay có cả cái xấu, cái ác, cái cơ hội đang ẩn mình chờ thời- những “loài sâu nằm tròn trong cuống”. Đây là những những phát hiện rất tinh nhờ khả năng tiên báo vượt thời gian của Văn Cao. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự và trữ tình, giữa thực tại ngổn ngang và dự tưởng tương lai, giữa chi tiết cụ thể và tầm khái quát cùng với cách tổ chức cấu trúc Ai biết Hải Phòng là đâu- Tình yêu và khát vọng -Những ngày động biển- Những ngày báo hiệu mùa xuân để biểu đạt những chuyển mình của lịch sử rồi ra sẽ được thế hệ cầm bút về sau kế thừa và phát triển.
Khi nói đến tầm tư tưởng và những cách tân nghệ thuật của Văn
Cao không thể bỏ qua những bài thơ viết theo lối giả tưởng mà Năm buổi sáng
không có trong sự thật (1960) là một thi phẩm được nhiều người nhớ. Bài thơ có
cấu trúc hết sức độc đáo. Bốn buổi sáng I, II, III, IV là sự “biến mất” của thực
tại. Chỉ đến buổi sáng thứ V, sự sống mới tái sinh bởi hơi ấm tình yêu và vũ điệu
giao tình đưa “chúng ta đi vào bí mật của mùa xuân”. Chìa khóa đi vào giấc mơ
phi lý này nằm ngay trong đề từ tác phẩm, nó tương hợp mới độ mở trong mỹ học
Văn Cao: Những mái nhà ủ những cánh chim đêm/ Ủ những giấc mơ dưới sao trời
lồng lộng. Về bản chất, đó cũng là một trạng thái khác của mơ, không phải giấc
mơ của một người đang ngủ mà là giấc mơ nảy sinh từ dự phóng về tương lai của một
người hiểu rõ bản chất của tồn tại, sức mạnh của tình yêu và sự thăng hoa của
khát vọng. Bởi thế, việc Văn Cao cảnh báo về sự hoang vắng của một thế giới vô
cảm thực chất là đối thoại với cái nhìn sơ lược, lãng mạn một cách thái quá
trong văn học giai đoạn này. Biện chứng của tinh thần đối thoại này là ở chỗ,
đi qua những chấn thương tinh thần, Văn Cao vẫn hằng tin vào những giá trị nhân
văn cao cả, tin vào tình yêu và sức mạnh của nghệ thuật chân chính. Tất thảy đều
in dấu trong Thời gian, một thi phẩm thể hiện sinh động quan niệm, cá tính và
khuynh hướng thẩm mĩ của Văn Cao:
Thời gian qua kẽ tay/ Làm khô những chiếc lá/ Kỷ niệm
trong tôi/ Rơi/ như tiếng sỏi/ trong lòng giếng cạn/ Riêng
những câu thơ/ còn xanh/ Riêng những bài hát/ còn xanh/ Và
đôi mắt em/ như hai giếng nước
Thuộc số những nghệ sĩ mở đường tài năng, dám vắt kiệt mình để sáng tạo, di sản nghệ thuật Văn Cao là bất tử. Nhưng dường như ông chưa muốn dừng lại. Đâu đây như vẫn còn vọng bước chân ông, và trong những bước chân trĩu nặng suy tư ấy là một khắc khoải được chạm vào vô lượng của biển khơi: Tới bao giờ tôi gặp được biển!.
Chú thích:
1. Tạ Ty: “Văn Cao - Một tinh cầu riêng biệt”, In
trong Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, Lữ Huy Nguyên tuyển chọn, Nxb
Văn học, H.1996, tr 185.
2. Trịnh Công Sơn: “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như
một ông Hoàng”, in trong Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, Lữ Huy Nguyên tuyển
chọn, Nxb Văn học, H.1996, tr247.
3. Tập Lá do Nxb Tác phẩm mới- Hội Nhà văn Việt
Nam xuất bản, H. năm1988; Tuyển tập Văn Cao Thơ do Nxb Văn học xuất bản,
H. năm 1994.
4. Đặng Tiến: Thơ thi pháp& chân dung, Nxb Phụ nữ,
H.2009, tr266.
5. Thụy Kha: “Về một bản lĩnh thơ”, In trong: Văn
Cao cuộc đời và tác phẩm, Lữ Huy Nguyên tuyển chọn, Nxb Văn học, H.1996, tr 343
6. Thơ bậc thang của Maiacovxky có ảnh hưởng rất lớn đến những cây bút cách tân thập kỷ 60-70 thế kỷ XX. Có thể nhìn thấy rất rõ sự ảnh hưởng này trong thơ Lê Đạt, Trần Dần, Dương Tường và cả Văn Cao. Dĩ nhiên, từ tiếp thu đến tiếp biến ở mỗi tác giả là hết sức khác nhau.
8/11/2023
Nguyễn Đăng Điệp
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét