“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Ở bình diện thể loại, tác phẩm được xem như một trường ca
mang tính biểu tượng, trong đó hệ thống hơn 36 loài hoa vận hành như những mã
ký hiệu văn hóa. Những hình ảnh tưởng như bình dị lại mở ra chiều sâu nhân
sinh: “những con người bình dị như những bông hoa thủy sinh… thủy chung cùng
phèn mặn, kiên gan bom đạn thuốc khai hoang”. Ở đây, thiên nhiên không chỉ được
miêu tả mà còn được nhân hóa và biểu tượng hóa, trở thành phương tiện để diễn
giải lịch sử và thân phận con người. Tác giả đã cất công sưu tầm hình ảnh trên
20 liệt sĩ và những con người đã trở về sau cuộc chiến. Góp phần làm cho tác phẩm
thêm chân thực và xúc động.
Trong chương một – Hoa thủy sinh, tác giả triển khai một thi
pháp sinh thái đặc sắc. Những loài như bèo, lục bình không chỉ mang đặc tính
sinh học mà còn gợi mở những tầng nghĩa xã hội: “khi viết về bèo… là những phận
bèo trôi dạt, mà khát khao sinh sôi”, hay với lục bình: “tự do và vô ưu, trôi
trôi và trôi, nở nở và nở”. Cách lặp cấu trúc cú pháp này tạo nên một nhịp điệu
ám ảnh, đồng thời khắc họa tính chất vừa mong manh vừa bền bỉ, rất gần với cuộc
sống đời thường.
Sang chương hai – Hoa tôi gặp trên đường thiên lý, trường ca chuyển từ không gian sinh thái sang không gian lịch sử – xã hội, nơi mỗi loài hoa gắn với một số phận cụ thể. Những câu thơ như: “trao may mắn duyên tình cho kẻ khác, tuổi thanh xuân nào muốn đi tu…” hay “hòa bình chồng con hy sinh hết, giờ mẹ mới thật tu đây” đã khắc họa sâu sắc bi kịch và vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Ở đây, tác giả xây dựng một diễn ngôn về chủ nghĩa anh hùng mang tính nhân bản, không tách rời đau thương khỏi vinh quang.
Đặc biệt, hình ảnh dừa được triển khai như một biểu tượng ký ức
gia đình – dân tộc, với những câu thơ giàu tính tự sự:
“ông cố tôi giữ tài liệu cách mạng…
ông ngoại tôi treo cờ Tổ Quốc trước tầm súng giặc…
cháu tôi bị trói dưới gốc dừa chết còn rất trẻ…”
Chuỗi hình ảnh này tạo nên một trường liên tưởng lịch sử, nơi
ký ức cá nhân hòa vào ký ức tập thể, làm nổi bật chiều sâu của mất mát và sự tiếp
nối giữa các thế hệ.
Không dừng lại ở quá khứ chiến tranh, chương ba – Hoa thời hậu
chiến – mở ra một góc nhìn khác của hiện thực. Những câu thơ như: “Tôi lớn lên
thời bao cấp… đồng ruộng mênh mông mà dân chịu đói” hay “những đứa trẻ thời hậu
chiến, chiều cao không quá một mét năm mươi” đã phản ánh một cách chân thực những
nghịch lý của đời sống. Ở đây, trường ca mang màu sắc tự sự đời thường, khi tác
giả nhìn lại quá khứ không chỉ để ca ngợi mà còn để chiêm nghiệm. Tác giả dẫn
người đọc ngược dòng chảy để cảm nhận những được mất sau ngày giải phóng. Những
câu thơ như tiếng nấc nghẹn của tác giả: … “Hoa đậu biếc mà không biếc, hoa thường
xuân không xuân, hoa giành giành không giành nổi chút danh phận cho mình…”
Trường ca đã làm rung động trái tim giới nhạc sĩ: Bùi Khánh
Nguyên đã cho ra đời hai bài hát dựa trên ý thơ của chị. Bài-Xuyến Chi và Hoa của
nước. Nhạc sĩ Trần Quốc Dũng đã phổ bản nhạc: Hai lần làm mẹ. Những bản nhạc
này đã được công chúng đón nhận.
Một điểm đáng chú ý là chất liệu khoa học được tích hợp tự
nhiên vào tác phẩm. Việc tác giả “am hiểu tường tận từng loài hoa, ngọn cỏ” và
cung cấp đặc điểm của hơn 36 loài đã tạo nên một diễn ngôn lai ghép giữa văn
chương và sinh học, góp phần làm giàu thêm giá trị nhận thức của trường ca. “của
nước là tre”
“Trăm năm hoa mới nở ..” “của nước là mắm là đước là vẹt là gừa..hoa
ẩn mình li ti không dễ gì nhìn thấy mà biến ảo thần kỳ. Phận bèo trôi dạt mà
khao khát sinh sôi, giấu uẩn khúc trong những bào thai mắt thường…”
Về tổng thể, “Hoa của nước” có thể được xem như một bản đồ ký
ức bằng thơ, nơi mỗi loài hoa là một điểm neo của lịch sử, mỗi câu thơ là một lớp
trầm tích của thời gian. Những câu như “đường độc đạo tiến về thành phố đầy
xương trắng” hay hình ảnh “hoa Dã Quỳ… giặc cột tóc chị vào gốc cây… đốt cháy
chị tan vào đất mẹ” không chỉ gây ấn tượng thị giác mà còn khơi dậy một trải
nghiệm cảm xúc mạnh mẽ, buộc người đọc phải đối diện với những thăng trầm của lịch
sử dân tộc.
Việc trình bày song ngữ Việt – Anh cũng mở rộng khả năng tiếp
nhận, đưa tác phẩm vào một không gian đối thoại liên văn hóa, nơi những giá trị
bản địa có thể được chuyển tải ra ngoài biên giới ngôn ngữ. Trong giai đoạn hiện
nay rất cần những tác phẩm thi ca được chuyển tải sang nhiều ngôn ngữ để có sức
lan tỏa nhịp cầu văn hóa thế giới .
Dẫu không phải là một nhà phê bình chuyên nghiệp, người viết
bài này tiếp cận tác phẩm với tư cách một bạn đọc, nhưng chính trải nghiệm đọc
đã cho thấy “Hoa của nước” là một công trình nghiêm túc, giàu giá trị nghệ thuật
và nhân văn. Đây không chỉ là một trường ca về hoa, mà là một trường ca về con
người Việt Nam – kiên cường, hy sinh và luôn hướng tới chân, thiện, mĩ .
Trân trọng sự làm việc cần mẫn của chị và hai cộng sự đắc lực (con gái và con
trai nhà văn) đã dịch thuật chuyển tải hết ý tưởng của tác giả qua ngôn ngữ
Anh. Xin chân thành cảm ơn món quà của chị. Tôi trích bốn câu thơ, có lẽ rất
tâm đắc chị đã trân trọng viết lên đầu tác phẩm .
Trên đường thiên lý tôi đi
Nước cuốn theo bao câu chuyện thần kỳ
Cảm ơn những bông hoa thủy sinh
Cho tôi hiểu máu trộn bùn có màu gì
(Trầm Hương)
22/4/2026
Lê Thi
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét