Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
(Tham luận đọc tại cuộc tọa đàm thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của
Lương Minh Cừ)
Rất vui khi nhận được tập thơ DỌC TRỜI HOA LỬA của Nhà
thơ Lương
Minh Cừ qua Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn mang đến gửi tôi. Đây là món quà thơ
đầu xuân Bính Ngọ dày dặn mà anh giải phóng quân – Cựu chiến binh Lương Minh Cừ
thai nghén sinh ra từ những năm 70 thế kỷ 20 cho tới bây giờ, và thơ Lương Minh
Cừ đang độ xuân thì dù anh đã bước sang mùa xuân thứ bảy mươi lăm rồi.
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng
riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như
trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được
gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây
Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Đọc 54 bài thơ trong tập thơ này, tôi thấy có đến 34 bài như
tác giả nói đó là: Những bài thơ còn sót lại trong đáy ba lô, tứ tán khắp
nơi mà dần dần mới tìm ra và sao chép lại. May cho anh vì đó là hồn cốt của
DỌC TRỜI HOA LỬA. Người lính Lương Minh Cừ gác bút, cầm súng đánh giặc mà câu
thơ cứ ngân nga dịu vợi, tạo ra cái chất anh hùng ca nhân văn cuộc đời và tình
yêu. Từ làng quê Thái Bình ở Đồng bằng Bắc bộ, cùng đồng đội vượt Trường Sơn đến
với chiến trường Nam bộ, cái chất thơ con trai đồng bằng trong từng bài thơ vẫn
cứ bay bổng lâng lâng, hiển hiện như cánh cò đồng nội mênh mông.
Bình minh ở đây đẹp như phim màu
Với bầu trời cao trong xanh vời vợi
Và sáng nay trong làn nắng mới
Có những sư đoàn xuất kích trước bình minh
(Bình minh biên giới)
Thế mới lạ, ở cái chốn gai góc ấy, trước lúc ra trận mà vẫn lạc
quan tinh tế lạ thường. Từ lúc hành quân đến khi vào sát ngay bốt đồn địch, nhà
binh Lương Minh Cừ bình tĩnh lạ thường và người chiến sĩ ấy đã bắt gặp ánh mắt
từ trái tim thiếu nữ, tạo nên những áng thơ bật dậy mà xốn xang con tim:
Em gái ra bìa rừng đón chúng tôi
Em không nói vì nhà kề bên bốt giặc
Không nói được bằng lời thì nói bằng ánh mắt
Đôi mắt em như một ngọn đèn
(Trái tim ngọn đèn)
Quả là một sự tinh tế lạ thường. Câu thơ anh trong ánh mắt cô
giao liên sáng lên như một ngọn đèn dẫn đường vượt qua sống chết mong manh.
Chính trong sự im lặng ấy, hơi nóng trái tim đã muốn nói thay lời, lý trí trong
tâm can đã bật ra trong tiếng thơ:
Nghĩ gì mà cứ lạ lùng mãi thế hả em
Điều khó hiểu là điều đơn giản nhất
Giữa cuộc chiến tranh này, em đã cho chúng tôi hiểu về tình yêu của đất
Hơi nóng trái tim đã nói thay lời.
(Trái tim ngọn đèn)
Chính trong ánh mắt ấy – đó là tín hiệu của sự sống đang tỏa
ra từ những trái tim ấm áp. Câu thơ của người lính đã dội vào tâm trí con người
ra trận, bởi ánh mắt long lanh, cùng sự nóng hổi của con tim đang thay lời muốn
nói:
Sau trận chống càn bỗng gặp lại em
Nỗi mừng vui cứ ùa về bất chợt
Giữa ánh lửa chập chờn, mắt em long lanh như giọt nước
Bờ vai tròn, khẩu súng cứ xoay nghiêng
(Sau trận càn và cô du kích)
Phút nghỉ ngơi giữa hai đầu trận đánh vẫn trong vùng máu lửa,
đôi mắt con gái cứ làm xốn xang bao rung cảm, bồi hồi mà thầm kín đến lạ trước
người lính trẻ, trong khi em: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay
nghiêng". Ở khổ thơ này xảy ra hai tình huống: Tại sao khẩu súng không cầm
lên với tư thế sẵn sàng chiến đấu hay hướng nòng súng xuống đất mà khẩu súng cứ
xoay nghiêng? Một sự vân vê tinh tế của người con gái đã tạo ra cảm xúc câu
thơ: "Bờ vai tròn khẩu súng cứ xoay nghiêng". Chính câu thơ ấy
đã tạo nên cái đỉnh của bài thơ đẹp. Cũng từ cái phút chốc lạ lùng ấy, anh đã
nhận ra:
Trong nồng nàn hương rạ đồng khô
Nghe rất nhỏ có tiếng cười khúc khích
Thì ra người vừa bắn vào đồn địch
Lại là em nữ du kích Đức Hòa
(Đêm pháo kích Đức Hòa)
Câu thơ rất thật nhưng ý tứ bật ra sự cảm phục những người
con gái đồng bằng sông Cửu Long bình dị. Lẽ bình thường ấy lại là cô du kích Đức
Hòa:
Em như ngôi sao xanh
Sáng giữa bầu trời dọc ngang chớp giật
Em dẫn chúng tôi vượt qua đồn giặc
Ngôi sao xòe chỉ hướng tiền phương.
(Cô gái giao liên)
Một sự liên tưởng đẹp, không phải ngôi sao đỏ, sao vàng mà
ngôi sao xanh dịu vợi trong màn đêm của những ngày tháng khốc liệt, giữa sống
chết mong manh vẫn tin vào sự sống. Bản lĩnh và ý chí của người cầm súng vẫn vững
niềm tin trong những vần thơ đẹp, mặc dù:
Pháo giặc bắn cầm canh tiếng nổ ném vào đêm sâu
Tắt đi rất nhanh trong hương đồng gió nội
Dù trong hoàn cảnh của pháo gầm đạn xé, sự chuyển tiếp ý tứ
trong cái nhìn thực tế của chiến trường đã thể hiện ý chí sâu sắc của bản lĩnh
trong tư thế của người vào trận. Câu thơ của người lính như dặn lòng mình bình
tĩnh trước gian nguy. Bài thơ Đêm như một minh chứng, triết lý nhân
văn. Sự sống chiến trường với tiếng thơ từ mặt trận vụt lên bởi khẩu súng trong
tay biết nói, tạo nên vần thơ hay:
Chúng tôi ít lời vì khẩu súng trong tay biết nói
Vì cuộc chiến tranh đâu chỉ mới bắt đầu
(Đêm)
Điều đặc biệt trong thơ Lương Minh Cừ thời kì chiến tranh đầy
cam go ác liệt ấy, hình ảnh người con gái luôn luôn là hình ảnh đẹp, là chan chứa
yêu thương. Đọc qua tập thơ Dọc trời hoa lửa ta dễ nhận ra tình cảm
dành cho phái nữ chiếm rất nhiều trong tập thơ này. Đây nhé, xin dẫn hai khổ
thơ ở bài thơ tình thứ nhất, trong nhiều bài thơ tình, người lính từ năm
1972 đã viết:
Yêu mà không cần nói
Có phải vậy không em
Anh tin cây thốt nốt
Hiểu được lời con tim
… và rồi:
Tóc thề em xõa rũ
Vòm ngực tròn thơ ngây
Hàng mi dài cong chớp
Đưa anh về chân mây
Và ở giảng đường hôm nay trong giờ phút này, nơi đây có nhiều
du học sinh trên đất nước Ăng Co đang theo học, các bạn đang có một người lính
tình nguyện năm xưa bây giờ là thầy giáo hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long
kính yêu của các bạn. Các bạn thân mến, năm xưa khi các bạn chưa sinh ra, Nhà
giáo Lương Minh Cừ đã đến nước bạn cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc cho các bạn
ở tỉnh Xoài Riêng, đã làm nên bài thơ tình đẹp của mối tình hữu nghị. Trong khổ
kết bài thơ ở thời điểm đó mà viết như thế này thì táo bạo lắm vì những lý do tế
nhị:
Ơi cô gái Khơmer
Một đời anh nhớ ấy
Vòm ngực em bỏng cháy
Xin gửi trái tim mình
(Bài thơ tình thứ nhất gửi Tha Ny)
Và rồi lời động viên nhắn gửi, mối tình phải đành đoạn chia
tay khi đất nước của em đang chồng chất đau thương:
Bây giờ hãy lau nước mắt đi em
Cầm lấy súng đứng vào mặt trận
Lửa chính nghĩa đã cháy lên vô tận
Vào mùa này bên ấy đã sang khô
(Vào mùa này bên ấy...)
Tôi vẫn tâm đắc với bài thơ anh viết sau chiến tranh "Lời
hát gửi về cây thùy dương" từ chiến trường biên giới Tây Ninh, lời
tâm sự với người yêu trên xứ Bạch dương xa xôi khi người lính vẫn đang cầm súng
trên chiến hào biên giới:
Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe
Bài hát về cây thùy dương năm ấy
Những năm đại bác gầm, những cánh rừng lửa cháy
Thùy dương ơi anh sẽ đón em về
Giọng thơ mượt mà dịu vợi, tạo nên hình bóng người thương xa
xôi trên đất khách quê người bằng những lời tâm tình qua cây thùy dương mà trái
tim tuổi trẻ thầm nhắc: "Đánh giặc xong rồi anh sẽ hát em nghe".
Câu thơ nghe sao mà xao xuyến bồi hồi.
Khi em biết nhìn về phía trước
Nơi có chùm sao yêu dấu của mình
Những chùm sao mở lối vào hạnh phúc
Không bất ngờ lại mọc giữa trái tim
(Chùm sao yêu dấu)
Khi biên giới chưa im tiếng súng, tiếng thơ Lương Minh Cừ gửi
về nơi hậu phương "Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm" sao mà
xao xuyến vậy:
Ở biên giới này chúng tôi hành quân
Những mũi súng hướng chân trời mở cửa
Những mũi súng hóa thành tia chớp lửa
Ở nơi em bông lúa trổ hương thầm
Biên giới này giữa cuộc chiến tranh
Giữ Tổ quốc thiêng liêng, chúng tôi đánh giặc
Nên Vàm Cỏ vẫn ngàn năm xanh sắc
Ánh mắt em cười lấp lánh sắc phù sa
(Khúc hát mùa xuân)
Cả 54 bài thơ trong Dọc trời hoa lửa, anh viết về thời
hoa lửa chiếm đến ba phần tư số bài thơ, bởi đó là phần hồn cốt tác phẩm của
tháng năm tuổi trẻ. Ý chí, lý tưởng, ước mơ, hoài bão, tình yêu thương bắt đầu
từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ nơi chiến trận chắp cánh nên tình yêu những vần thơ, vững
vàng niềm tin yêu dù trong hoàn cảnh nào.
Điều còn lại một phần trong tập thơ này, anh viết về những
nơi anh đến với những cảm nhận đẹp, ấn tượng, nhưng nổi trội hơn cả vẫn là
bài "Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa" – Thái Bình
quê anh. Ở miền quê luôn luôn nhung nhớ trong tâm trí anh, nơi tuổi thơ đẹp đẽ,
nơi có Mẹ, Cha tạo nên con người Lương Minh Cừ – một nhân cách đẹp của thơ. Anh
đã viết về quê chèo, quê lúa, quê anh mượt mà đằm thắm lắng sâu:
Phù sa sông Hồng nhuộm dây nón quai thao
Quai nón buộc lòng anh với bờ với bến
Mùa xuân về như lời ước hẹn
Em "sắp qua cầu" sao gõ nhịp "lưu không"
Quả là hay… và anh nhớ Mẹ:
Cứ đến mùa hoa nhãn trắng bờ đê
Những đàn ong tự bay về hút mật
Anh thương Mẹ ra đồng đi chân đất
Nắng rát mặt người, cái rét cắt thịt da
(Mùa xuân ở miền đất hát chèo và cây lúa)
Có tình thương nào thương hơn thế nữa không? Ở đây, càng đi
xa, càng lớn lên thì tình yêu quê hương, gia đình, cha mẹ càng đong đầy nhung
nhớ. Bài thơ càng đọc càng thấy yêu quê hơn, nơi quê anh "Tiếng trống
năm ba mươi còn lay động đến bây giờ", nơi tiếng hát chèo "Em sắp
qua cầu sao gõ nhịp lưu không" mà vang vọng tâm can, tạo nên tứ thơ
sâu sắc mà đẹp hồn nhiên.
Những cảm nhận trên của riêng tôi với nhà thơ Lương Minh Cừ
khi mạn phép bay ngang DỌC TRỜI HOA LỬA của anh. Đó là một sự ghi nhận
trên văn đàn thi ca mà anh đã gặt hái thành công nhất. Xin cảm ơn Nhà thơ – Phó
Giáo sư – Tiến sĩ Lương Minh Cừ đã cho chúng ta đi Dọc trời hoa lửa và
cảm ơn quý vị trong niềm vui hôm nay.
Tp.HCM, 21/4/2026
Nguyễn Vũ Quỳnh
Nguồn: Báo Văn Nghệ
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét