Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2026

Mưa không ướt đất

Mưa không ướt đất

Tác giả Trùng Dương, tên khai sinh là Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1944 tại Sơn Tây, di cư vào Nam và lớn lên tại Sài Gòn từ 1954. Nguyễn Thị Thái nổi danh rất sớm, qua hai sáng tác Vừa đi vừa ngước nhìn và Mưa không ướt đất.

Sau thời gian du học Hoa Kỳ trở về, bà đứng tên Chủ nhiệm báo Sóng Thần (1971-1975) mà nhóm chủ biên gồm nhà văn Chu Tử và nhà báo Uyên Thao. [Trước khi du học Hoa Kỳ, Nguyễn Thị Thái là sinh viên ĐH Kiến Trúc Saigon khóa 1964.

.

Mưa Không Ướt Đất

Năm 1956 tôi vượt tuyến vào đây với hai bàn tay trắng. Nói là vượt tuyến thì không đúng. Thực ra tôi vào đây với sự thỏa thuận của ông Hồ, sau khi chịu thế chân bằng những sản nghiệp tôi có dạo ấy. Nếu tôi không trở về thì coi như mất cả sản nghiệp đó. Cố nhiên là tôi chẳng dại gì trở về. Tôi ở lại đây, vay tiền buôn bán làm ăn và tạo nên cơ nghiệp như ngày nay. Năm nay tôi ba sáu tuổi đầu rồi mà vẫn chưa lập gia đình. Tôi không được may mắn như các anh các chị được học hành. Điều mà tôi ân hận là đã không làm sao mang được mẹ tôi vào để cùng hưởng với tôi...

Tiếng người đàn ông chủ nhà tan loãng vào trong bầu không khí cô tịch của buổi chiều nơi cư xá. Xa xa có tiếng trẻ con hát líu lo trong một cuộc rước đèn. Mặt trời đã lặn nhưng bóng tối chưa kịp buông xuống.

Thư dựa đầu vào thành ghế, lơ đãng nghe. Những âm thanh vội vã hấp tấp của người đàn ông có giọng nói đặc biệt của những người Bắc sinh sống trong các trại định cư, thỉnh thoảng có đá vào một đôi tiếng Nam với một pha trộn ngây ngô vụng về - những âm thanh ấy rơi xuống khô khan, không đủ khơi dậy một hào hứng nào. Thư xoải chân trong một dáng ngồi thoải mái, đôi mắt khép hờ nhìn về phía Phấn, góp chuyện một cách uể oải:

- Chưa lập gia đình, chắc tại anh còn kén đấy chứ phải không ạ?

Người đàn ông đối diện với Thư hơi có vẻ lúng túng. Duẩn quay nhìn Thư bắt gặp cái cười mỉm trên khuôn mặt trắng im lìm trong bóng chiều chạng vạng. Tự nhiên anh có cảm tưởng đó là khuôn mặt của một pho tượng. Cái ý nghĩ đó Duẩn có từ dạo quen biết Thư khi hai người còn học ở dự bị Văn khoa. Thuở ấy còn có cả Cương. Dạo ấy thật vui. Mỗi người đều như có điều gì muốn nói nhưng họ muốn nói lảng sang những chuyện khác để vui nhộn và quên đi những xao động mà chính họ không biết phải đặt tên cho chúng là gì. Duẩn, như tất cả những người đàn ông mập mạp khác, ưa giễu cợt, mặt luôn đỏ gay (có lẽ vì cười nhiều?) và không có ác ý. Anh quen với Thư qua lời giới thiệu của Cương. Về sau anh được biết hai người yêu nhau. Nhưng anh không hiểu được vì sao họ có thể yêu nhau, vì theo Duẩn nhận xét, họ như hai thái cực. Cương yếu ớt, hơi giống con gái, mặc dù nhiều lúc anh tỏ ra là một người trầm tĩnh - thực ra, Cương thiếu tính chất nóng nảy của một người đàn ông thật sự và vì người anh quá mảnh khảnh. Thư, ngược lại, tính nết cứng cỏi, hơi lạnh nhạt, mặc dù vẻ dịu dàng của những đường nét trên khuôn mặt và thân hình. Rồi Cương du học. Duẩn mất tin Thư. Bây giờ gặp lại, bắt chợt cái vẻ im lìm cố hữu trên nét mặt người con gái, Duẩn tưởng mọi sự chả thay đổi bao nhiêu. Có lẽ trông Thư trầm hơn, ở vẻ đẹp và lối nói chuyện. Ba năm rồi còn gì.

- Tôi đã gặp nhiều cô, nhưng họ làm tôi thất vọng. Tôi mong lấy được một người vợ làm cô giáo, làm cô giáo thì hẳn là biết dạy con hơn...

Duẩn cười trong cổ, có vẻ ngơ ngẩn:

- Thật hả anh?

Phấn, người chủ nhà cười hờ hờ. Thư tự hỏi không biết Phấn có biết là Duẩn đùa anh ta không. Thư có ý nghĩ mỗi lần gặp lại Duẩn, nàng thấy anh béo hơn và giễu hơn - phải chăng những người béo thường hay giễu? Thư không tin như vậy. Ông cụ nàng béo, nhưng ông chẳng giễu bao giờ. Lúc nào cũng lầm lì. Có lẽ ông không giễu được vì tuổi già và cái chết đang chờ ông. Những lúc về sau này ông đánh bạc nhiều hơn và thua đậm hơn, lầm lì và buồn bã hơn. Thư sống trong gia đình với cái bóng của ông đè nặng trong tâm hồn. Nói như vậy không có nghĩa là Duẩn hay giễu vì Duẩn trẻ và cái chết còn ở xa tầm tay anh.

Vài đứa trẻ cầm lồng đèn đi qua, gọi nhau ríu rít, mắt nhìn bọn người ngồi bên trong hàng rào, vẻ tò mò. Thư nhìn quanh lơ đãng:

- Có lẽ nên có vài cái đèn xếp treo lủng lẳng cho nó có vẻ...

Phấn bảo:

- Tôi quên mất vụ đó. Nhà có trẻ con thì tự nhiên mình nghĩ đến điều đó...

Giọng anh ta có vẻ bùi ngùi. Thư kiếm một cái cớ để đi ra ngoài. Nàng thấy thèm đi tung tăng - vẫn thèm đi tung tăng.

- Duẩn đi ra chợ Thủ Đức với tôi đi. Hình như nhà cũng không có đèn cầy phải không anh? Chả lẽ lại ăn và nhảy dưới ánh đèn tube hoặc trong bóng tối mò?

Duẩn:

- Định chơi ''lumière hay'' sao?

Tuy vậy anh cũng đứng dậy, bảo Khánh đưa chìa khóa xe và theo Thư ra ngoài. Một đôi người trong bọn ngồi hoặc đứng rải rác trên nền đất lẫn lộn gạch vụn và cát, hỏi Duẩn đi đâu đấy.

- Ra chợ mua đèn, Duẩn đáp.

Lúc hai người ra khỏi cư xá trời đã bắt đầu tối. Thư ngồi sát vào người Duẩn. Duẩn nhấn ga cho xe vọt đi. Con đường dẫn vào Thủ Đức cong cong. Những cây thánh giá trắng nhờ nhờ trong một nghĩa địa bên đường. Những ánh đèn dầu le lói trong một vài mái tranh. Tòa nhà cao của một trường đạo đối diện với những bức tuờng dài của trại lính bên kia đường. Chợ Thủ Đức tưng bừng dưới những ngọn đèn sáng. Những buổi chiều tan học kéo nhau lên đây cả bọn bốn năm đứa duy có mình Thư là con gái. Tại sao thích tham dự vào những buổi họp mặt của bọn con trai hơn là gần gũi với các bạn gái mà Thư thường cảm thấy quá e dè ngại ngùng? Duẩn nhớ rằng mình vẫn chỉ coi Thư là một người bạn trai, dù Thư là người yêu của Cương. Cương vừa thích có Thư tham dự vào những cuộc họp mặt này vừa không. Ở người con trai ấy có nhiều điều u ẩn và hơi lãnh đạm. Từ ngày anh đi ngoại quốc, trong những lá thư gửi về, Thư chợt “nhận ra” Cương. Người ta (không?) yêu người khác vì những tương đồng mà vì những điều có thể rất trái ngược. Thư sống như một con mèo hoang thì Cương khép mình trong khuôn khổ mực thước, hoàn toàn lệ thuộc gia đình. Cố nhiên chẳng phải vì người này hay người kia muốn thế, hay có muốn thì cũng chỉ một phần. Đứng trước Cương, Thư cảm thấy quá cô đơn nhưng không thể không yêu. Cương thương và yêu người con gái với một lý do gần giống thế.

- Thư nghĩ gì vậy?

Thư cười một tiếng ngắn:

- Ngày xưa dạo bọn mình thường kéo nhau lên đây ăn và bây giờ tôi thấy đói. Có lẽ mình nên ăn một cái gì đi.

Duẩn tán thành. Hai người vào một quán ăn trong chợ.

- Duẩn còn nhớ anh chàng Vĩnh không nhỉ?

- Nhớ, nhớ quá ấy chứ. Thỉnh thoảng tôi vẫn gặp hắn ở phố.

- Còn sống với “ma-đàm” kia không không biết?

- Hình như còn. Không thấy nói đến. Hắn vào biệt kích rồi.

- Tôi không thấy ghét anh ta một mảy may. Tôi phục tài hoạt bát của anh ta. Làm sao mà anh ta đóng kịch giỏi thế?

- Thư còn nhớ một hôm anh ngồi ở trên xe đi chơi suối Lồ Ồ, anh ta giảng cho Thư nghe về danh từ “biên tế” không?

- Nhớ. Tôi chỉ thấy mơ hồ hơn sau khi nghe anh ta giảng - mơ hồ như... biên tế vậy! Nhưng tôi lại nghĩ những người học cao thường có một lối định nghĩ tối tăm nên tôi vẫn tin được. Đâu ngờ anh ta chỉ là một thứ mật vụ quá tài tình! Chính vì cái tài tình đó tôi lại thấy quí anh ta mới lạ chứ! Tôi còn nhớ một hôm anh ta cho tôi xem lá thư tình của một cô mà anh ta bảo là fiancée, cùng học lớp với bọn mình. Anh ta trỏ cho tôi cô gái ấy. Tôi cũng có dịp đứng ở xa nhìn thấy anh đi cặp kè và nói chuyện với cô nàng. Cô ta là một cô gái e lệ, tóc thề buông xỏa vai, lúc nào cũng ngậm góc khăn tay. Ở xa nhìn vào, làm gì mà không tin là nàng e thẹn trước vị hôn phu. Nghĩ cũng buồn cười. Tôi thấy thương bọn mình dạo ấy lạ, thương cái quá khứ hồn nhiên đến thơ ngây đó. Sau vụ phát giác đó, tôi thấy như có một mối nghi kỵ rơi xuống giữa bọn mình... Không biết Duẩn ra sao, tôi thấy Cương có vẻ buồn thành thật. Anh ta vốn sẵn tính đăm chiêu...

Những kỷ niệm kéo về chập chùng chập chùng và ô hợp. Giọng Duẩn trầm hẳn xuống:

- Cũng may hắn chưa khai thác gì được ở bọn mình. Mà nói cho ngay mình có hoạt động gì đâu mà khai thác?! Toàn một bọn chỉ đấu láo phất phơ...

Ừ tại sao mình chưa hề một lần tham dự? Mình sống như một kẻ đi dạo vậy. Một kẻ đi dạo không mấy chút hăng hái hay thảnh thơi. Làm như thể sinh ra thì phải sống, sống cho hết cuộc sống để chết. Và sống trở thành một bổn phận. Một bổn phận? Phải chăng tôi khất lần việc lấy Thục cũng chỉ vì sợ không dám chuốt thêm một thứ bổn phận nào khác? Tại sao không đủ can đảm hủy bỏ lễ đính hôn để cho Thục đi lấy chồng? Tôi không yêu nàng, không hề yêu nàng. Tôi không hủy bỏ lễ đính hôn vì có lẽ tôi chẳng đủ can đảm và cố gắng làm một việc như vậy. Tôi có hèn nhát lắm không? Tôi có bi quan không? Bạn bè thấy tôi cười nhiều - mặt tôi lúc nào cũng đỏ gay, hiện tượng của một người nhiều sinh lực? Buồn cười thật thôi! - chúng nó tưởng tôi không lo âu. Thực ra, tôi ngao ngán quá đấy thôi, ngao ngán hơn cả là mỗi bữa cơm tôi về nhà, thấy mâm cơm úp lồng bàn phần tôi trên bàn và mẹ tôi đi với một trăm hai chục quân, thằng em mười bốn tuổi bỏ đi lang thang. Chẳng có gì giữ tôi ở trong gia đình cả. Tôi cũng thiếu một cái điều mà tôi cho là đẹp và đáng theo đuổi ở ngoài đời. Tôi đi dạy như một cái máy, mê học trò con gái (một cách thầm kín cố nhiên vì bắt buộc thế) như một cái máy và không thấy điều đó là quan hệ, lê la các tiệm cà-phê quen tán dóc với tụi bạn như một cái máy, và đây chính là điều tôi cần. Duẩn nốc cạn ly ba ba, nhìn người con gái đối diện, đôi mắt cận thị không đeo kính - (Duẩn kỵ đeo kính cận) - hồn buồn bã...

Duẩn bước ra hiên, mở banh khuy áo ngực và thở ra: một ly sec làm anh chuếnh choáng. Thư ngồi bó chân trên bậc thềm, ngẩng lên, thấy anh, mỉm cười. Không biết có phải rượu làm Duẩn thấy Thư đẹp lạ thường hay vì khuôn mặt trắng của Thư hiện trong bóng mờ mờ trông đẹp như một pho tượng. Duẩn có cái cảm giác như một người sống ở ngoài thời gian. Mọi sự vật như ngưng đọng lại, ngưng đọng lại trên khuôn mặt im lìm của Thư. Anh hỏi mà như không nghe tiếng mình hỏi:

- Ngồi ở đây à?

- Trong ấy ngột ngạt quá.

- Có lẽ vì thế mà vừa nhảy với tôi cô Thủy vừa quạt... Cũng có lẽ cô ấy quạt hơi rượu...

Thư cười nhẹ, ngồi nhích sang một bên khi thấy Duẩn ngất ngưởng bước xuống khỏi thềm nhà. Tự nhiên Duẩn có cái ý thích ngồi dưới chân Thư. Điều đó gây cho anh một cảm giác vỗ về. Điều đó làm cho Thư cảm thấy diệu vợi...

- Còn nói được như vậy à?

Duẩn ngơ ngẩn một lúc, rồi bật cười:

- Thư tưởng tôi say à?

Thực sự là Duẩn chuếnh choáng. Mấy lần trong khi ôm Thủy, anh giẫm phải chân nàng. Duẩn tưởng tượng lại lúc ôm Thủy trong vòng tay. Ở Thủy có một vẻ mộc mạc của một cô gái miền Nam. Nàng không tỏ vẻ bực bội mỗi lần Duẩn giẫm phải chân, cũng như Duẩn coi việc nàng phe phẩy chiếc quạt trên tay là một điều thú vị. Ý nghĩ đó làm cho Duẩn bật cười một mình.

Bên ngoài, tiếng hát của bọn trẻ rước đèn quanh cư xá đã ngưng từ hồi nào. Trăng đã lên cao. Ánh sáng như có màu xanh. Trước giậu, vài ba cái đèn xếp bị cháy xém còn treo lủng lẳng.

- Trông Thư có vẻ buồn?

Duẩn rút điếu thuốc xòe lửa châm hút. Anh đưa bao thuốc mời Thư. Nàng mỉm cười lắc đầu:

- Tôi bỏ thuốc từ gần mấy tháng nay vì tự nhiên sợ mùi khói thuốc.

- Tôi hút có phiền không?

- Không, không...

Thư nói như cố không nói ra một điều mà trong thâm tâm nàng muốn nói, muốn khoe, với tất cả sự hân hoan. Duẩn cất bao thuốc vào túi áo, thở ra từng vòng tròn khói nhìn theo chúng uốn éo dưới ánh trăng thành từng sợi mỏng dài và tan loãng. Một sự im lặng bao quanh hai người. Tiếng một bản nhạc có tên Adieu Tristesse từ trong phòng vẳng ra hòa lẫn tiếng giày đi trên sàn nhà của những người khiêu vũ. Máy hát cũ quá. Tiếng kèn nghe rè rè.

- Bao giờ thì mình có thể “adieu tristesse” được?

Thư lên tiếng. Duẩn quay lại (anh có giọng nói hơi cao, như có một cái gì vừa gay gắt vừa giễu cợt ở trong đó), nhìn dáng Thư chao động:

- Hết buồn thì còn vui thế quái nào được!

- Nói là nói vậy thôi... Nỗi buồn thực ra tô điểm cho cuộc sống...

- Tối nay Thư vui chứ?

- Vui. Và thanh thản nữa... mặc dù bữa tiệc có phần nào luộm thuộm. Tôi tưởng Duẩn quen với anh Phấn.

- Quen gì. Tôi mới biết ông ta sáng nay.

- Nhân vật ấy cũng hay hay.

- Bây giờ ông ta chỉ thiếu có một cái, là một cô vợ có học thức một chút để cho ông ta có cái cảm giác là mình cũng có dính dáng tí chút trí thức.

Thư cười một tiếng ngắn:

- Kể ra việc đó đâu khó gì, đối với một người có của như ông ta. Nghĩ cũng buồn cười. Không biết ông ta nghĩ sao... Theo tôi, báu gì cái trí thức, nhất lại là một người đàn bà trí thức.

Duẩn quay nhìn Thư:

- Sao có vẻ chửi bới ghê thế?

- Nhiều khi tôi có ý nghĩ giá đừng học, đừng đọc nhiều, mình lại sống dễ hơn. Suy nghĩ lắm đầu óc đâm trì trệ. Lỡ rồi, đành chịu. Tôi có con, sẽ để nó sống hồn nhiên, như cây cỏ... Nói vậy, cũng khó làm như mình muốn. Có thể, rồi thế hệ con mình sẽ khác, không như bọn mình. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng thế hệ bọn mình sinh ra để chịu một cuộc thí nghiệm...

- Thư nói như thể là Thư sắp có con rồi ấy!

Thư bỗng im, xúc động. Một lát nàng cười nhẹ:

- Tôi sắp có con thật, chẳng phải “như thể” đâu.

Duẩn không tin. Thư cảm thấy không thể không bộc lộ niềm vui vẫn lo âu của mình với Duẩn.

- Không tin tôi nói thật à? Hai tháng rồi...

Thư nói giọng run run, nhưng vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh. Duẩn nhìn Thư, vẻ ngạc nhiên pha lẫn nét vui mừng trên khuôn mặt. Anh đặt tay lên bụng Thư giản dị, tự nhiên như Thư là người yêu của anh, và dường như đó là điều anh mong đợi.

- Thế... sao trông Thư... tỉnh thế?

Hỏi xong, Duẩn mới thấy mình có vẻ ngây ngô. Giọng Thư ráo hoảnh, thật nhỏ:

- Không tỉnh, thì say à?

Duẩn rút tay về, nói như nói một mình:

- Vui nhỉ?

Trong phút giây, Duẩn có cái ao ước được úp mặt vào lòng Thư và được Thư lùa những ngón tay vào trong tóc anh, cái cử chỉ của những người yêu nhau thường làm. Nhiều lúc cảm thấy quá thiếu thốn. Duẩn cần một thứ tình yêu pha lẫn tình bạn trong đó. Điều đó nghe thật giản dị. Nhưng sao trong thực tế thật hiếm.

Duẩn nghĩ đến Thục. Mặc dù đã đính hôn với nhau, Duẩn vẫn nghĩ đây là một việc làm trái với ý muốn của anh. Tại sao Thư không là Thục nhỉ? Và tại sao Duẩn không là người đàn ông đã cho Thư đứa con nhỉ? Duẩn lẩn thẩn tự hỏi. Tiếng Thư nghe xa vắng:

- Tôi giữ đứa nhỏ lại, dù tôi biết mình sẽ phải trả một giá rất đắt. Tôi nghĩ biết đâu sự có mặt của nó sẽ thay đổi cuộc sống và những suy nghĩ của mình phần nào chăng? Có thể nó sẽ là sợi dây ràng buộc tôi vào cuộc sống mà nhiều lúc tôi thấy quá chán ngán?...

Thư cảm thấy bị lôi cuốn bởi chính những điều nàng vừa nói ra. Mình có đang ngụy biện? Nàng thầm hỏi. Thực sự Thư không biết những gì đang chờ đón mình ở cuối cùng chặng đường này. Mặc, nàng cứ dấn bước.

Duẩn cảm thấy bất cứ câu hỏi nào đặt ra bây giờ cũng là thừa. Anh hút hơi thuốc cuối cùng, khum hai ngón tay cái và ngón giữa, búng điếu thuốc văng ra xa sang bên kia hàng rào, điếu thuốc đụng phải bức tường của ngôi nhà trước mặt, những tia lửa tóe vỡ như từ một quả pháo bông tí hon, và rơi xuống trong đám cỏ dưới chân tường. Anh đứng dậy:

- Thư vào nhảy với tôi bản này đi?

- Không. Tôi muốn ngồi nghỉ. Tôi muốn được yên tĩnh. Duẩn vào nhảy đi.

Duẩn tần ngần một lát, rồi quyết định đi vào nhà:

- Tôi đi kiếm rượu uống... Thư uống một ly nhé?

Tiếng Duẩn ngập đi trong tiếng nhạc dồn dập ồn ào...

Chiếc xe rời đường Võ Di Nguy rẽ qua đường Chi Lăng. Trời về khuya, đường phố xe cộ thưa thớt. Thư tưởng tượng cách đây vài tiếng, từng bầy trẻ náo nức cầm đèn lồng đi tung tăng trên các đường phố, và trên những sân thượng, từng mâm cỗ trông trăng được bày ra với bưởi, cam, hồng, bánh nướng bánh dẻo, và những con giống xinh xắn đủ màu. Xa rồi những ngày rằm cùng anh chị em náo nức mua sắm. Thư nhớ lại mùa trung thu dạo nào, mấy bố con xúm lại làm một cái đèn kéo quân. Thư có bổn phận vẽ và cắt những hình người - những hình người vẽ lại những mẫu chuyện cóp nhặt trong thần thoại cổ tích. Ông Lư và Thức vót tre làm đèn và dán giấy. Đèn đốt lên, ba vòng tròn đầy những hình người quay tròn quay tròn. Bố con cùng ngắm tác phẩm hoàn thành và đang sinh hoạt. Cô bé Lọ Lem đuổi theo nàng Bạch Tuyết và những chú lùn nối đuôi cô bé quàng khăn đỏ, xen vào đó là những nàng công chúa thủy cung nửa người nửa cá, những hoàng tử cưỡi ngựa uy nghi... Cả một thế giới thần thoại được dựng lên, đúc kết, sống động. Bây giờ là những buổi tối trống rỗng cần sưởi ấm bởi một ngọn lửa từ bên ngoài, từ những người bạn, từ một vòng tay của người khác phái. Nhưng những tìm kiếm đó chỉ khơi thêm lỗ hổng cô đơn. Vẫn mặc. Như bị lôi cuốn bởi cơn thác lũ, Thư vẫn tiếp tục lao đầu vào, với một đam mê cuồng nhiệt không tên. Bất giác Thư đặt tay lên bụng. Giọt máu này cũng giống như cơn đam mê kia. Nó chưa có hình dạng, chưa có giống, chưa có tên gọi. Và chưa được nhìn nhận bởi một ai ngoài người mang nó. Và Thư nhìn nhận nó với một nỗi ngây ngất kỳ diệu. Phải chăng đó chính là cái bản năng đầy nữ tính? Cử chỉ của Thư làm Duẩn thôi nhìn về phía trước quay nhìn theo bàn tay của Thư rồi nhìn Thư, mỉm cười. Thư tìm đọc trong nụ cười đó một ý nghĩa. Nàng chỉ thấy trong đó một sự bao dung có pha lẫn vẻ lạ lùng.

- Nó... đạp chưa?

Duẩn hỏi nhỏ vừa đủ cho Thư nghe. Thư lắc đầu, cười nhẹ:

- Làm gì mà mau thế?

Phấn im lặng lái xe không nghe những lời đối thoại giữa hai người. Với hắn, buổi họp mặt vừa rồi coi như lui vào dĩ vãng. Hắn không đạt được điều mà hắn mong muốn, là tìm được một cô vừa ý hắn. Có lẽ hắn thích Thư. Khuôn mặt có vẻ trong sáng. Cái nhìn khôn ngoan lanh lợi. Lối nói chuyện chứng tỏ người có học. Tính nết thâm trầm. Nhưng từ lúc Thư nhận lời đi với Duẩn, hắn tự ý loại nốt Thư khỏi đầu óc.

Thư cảm thấy bàn tay Duẩn vỗ vỗ nhẹ lên vai nàng. Và chiếc xe rẽ vào một ngõ hẹp đường Chi Lăng. Đường hẻm vẽ một hình cong, vắng ngắt, không một ánh đèn. Lờ mờ một vài bóng cây màu đen sậm. Chiếc xe quẹo thêm một lần nữa về tay trái và nằm lọt giữa hai dãy nhà có những bức tường cao, vôi loang lổ, ít những khung cửa sổ. Hẻm có vẻ một nơi gồm những xưởng - xưởng gì Thư không rõ - nhưng Thư có cảm tưởng như vậy. Vành trăng hiện ra trên bờ một bức tường cao đổ xuống lòng hẻm một ánh vàng nhạt mờ mờ. Thư có cảm giác đang đi vào một thế giới xa lạ không tên gọi. Điều đó gây cho Thư một thích thú như người tham dự vào một cuộc phiêu lưu. Thư có thể hỏi Phấn và sẽ được giải thích. Nhưng nàng im lặng để giữ cho mình cái cảm giác ban đầu. Thư cũng có thể bảo với Phấn và Duẩn nàng muốn về nhà và nàng sẽ trở về nhà, sẽ dùng chìa khóa riêng mở cửa, sẽ bỏ giày leo lên căn gác nhỏ bé thiếu khí trời, sẽ thay quần áo trong im lặng, sẽ nằm sấp trên chiếc giường sắt một người của nàng và sẽ tiếp tục nghe ngóng cái sự sống nhỏ bé đang nẩy mầm trong thân thể nàng với một niềm lo-âu-pha-lẫn-thích-thú-riêng-tư-không-chia-xẻ, không-thể-chia-xẻ. Nhưng một sức lôi kéo làm Thư vẫn cứ tiếp tục yên lặng. Bất giác Thư tự hỏi mà mình mong mỏi gì ở họ, ở Duẩn chứ? Thư biết rằng nếu nàng cứ tiếp tục im lặng, như thế có nghĩa là ngày mai trở về nhà, nàng phải chịu đựng cái nhìn trách móc và dò hỏi của bà Lư. Tại sao từ bao giờ đến giờ hai mẹ con vẫn vô cùng cách biệt? và dường như bà Lư cũng chẳng tỏ vẻ buồn bã, hay ít ra, ý thức về sự cách biệt này. Bà chỉ có một mối bận tâm: đi nhà thờ và cầu nguyện, cầu nguyện như một cái máy cho bà và cho phần hồn của cả gia đình đang dần dần phân tán, mỗi người một ngả. Từ đó Thư có ý tưởng cầu nguyện là một chứng tỏ của sự bất lực. Và Thư khước từ sự bất lực đó. Thư muốn được tin tưởng ở tương lai, tương lai của cuộc sống này, chẳng phải cuộc sống ở bên kia cõi sống phân cách bằng sự chết.

Phấn cho xe dừng lại trước một khung cửa sắt. Ánh đèn từ bên trong hắt ra đổ dài trên mặt hẻm thành một vệt sáng mờ. Một con chó bẹc-giê từ bên trong nhảy xô ra sủa vang. Âm thanh chát chúa như chợt đánh thức Thư dậy cùng với tiếng máy xe vừa tắt ngấm. Không gian tĩnh mịch của con hẻm bị xé toang, kéo theo vài tiếng sủa khác đáp lại từ xa. Phấn mở cửa xe xuống, quát khẽ:

- Ky Ky! Im nào! Đi vào trong nhà!

Con chó nghe tiếng chủ, im bặt, nhưng vẫn còn gầm gừ trước hai người khách lạ lúc ấy cũng vừa bước xuống xe. Tiếng giày đi, lết trên sàn xi-măng. Phấn loay hoay mở cửa sắt. Tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa và đọan xích sắt đập vào cửa vang lên những tiếng động khô khan. Con chó quýnh quít đập đuôi phía bên trong. Nhưng cửa vừa mở nó thoát ngay ra ngoài. Phấn quát gọi:

- Ky Ky! Đi đâu? Vào nhà mau!

Con chó không nghe, làm một vòng quanh chiếc xe đậu trước cửa rồi cuối cùng theo ba người vào nhà, lúc quấn bên chân chủ, lúc theo đánh hơi hai người khách. Thư bước chậm chậm, nhìn những khung gỗ la liệt trong ánh đèn vàng kệch hắt lại từ một ngọn đèn tù mù treo lủng lẳng cuối xưởng. Nàng đoán chừng đây là một xưởng dệt. Đồ đạc lộn xộn chật chội. Phấn bước vội vào phía trong bật thêm một ngọn đèn nữa rồi trở ra loay hoay tra chìa khóa vào ổ khóa một cái cửa ăn thông sang căn bên mặt. Thư đứng lại trong bóng tối. Bây giờ nàng mới cảm thấy mỏi rã rời, chỉ muốn được ngả lưng xuống một cái giường nệm nào đó. Nàng ngó Duẩn lúc ấy đang nhìn quanh dáo dác, vẻ chán chường. Tuy nhiên Duẩn đã có vẻ tỉnh táo hơn lúc ngồi ở tiệm cà-phê. Anh thọc tay vào túi tìm diêm quẹt lửa châm điếu thuốc. Bàn tay run run. Ánh sáng rung động hắt lên khuôn mặt nhiều thịt, lúc nào cũng đỏ gay của anh và mái tóc bơ phờ. Các bạn thường gọi đùa Duẩn là “Tây say”. Duẩn nhận biệt hiệu đó không phản kháng, không buồn phiền một cách dễ dãi như anh đã dễ dãi chấp nhận nhiều sự việc khác, như việc đính hôn với Thục, chẳng hạn. Tất cả chỉ là một lô những sự tình cờ đến nỗi đôi khi làm Duẩn ngơ ngác mỗi lần nghĩ lại. Duẩn còn nhớ những lý lẽ người ta đưa ra để buộc anh phải làm lễ đính hôn với Thục. Giá Duẩn đừng ra thăm Thục khi nhận được điện tín của nàng báo tin mẹ nàng chết... Thật ra mùa hè đó Duẩn cũng muốn có một lý do để rời Sài Gòn. Những người như Duẩn có thể làm bất cứ việc gì, đi bất cứ nơi nào không cần lý do. Nhưng đôi lúc để thi vị hóa cho một chuyến đi, Duẩn mong có một cái cớ. Và không có cái cớ nào mà lại thi vị cho bằng ra thăm người yêu và chia xẻ với người yêu nỗi buồn mất mẹ. Sự hiện diện của Duẩn trong đám tang đó ngày hôm sau được truyền đi khắp cái thành phố nhỏ bé nơi ông cụ thân sinh ra Thục giữ một chức vụ quan trọng, để rồi tiếp đó là một cuộc đính hôn giữa Duẩn và người con gái hơn anh đến ba tuổi. Vì thể diện của gia đình Thục và cá nhân Thục, Duẩn về Sài Gòn với chiếc nhẫn đính hôn trên ngón tay mà bà cụ Duẩn đã nghiêm trang đeo vào tay anh, chiếc nhẫn cưới của bà. Bà mẹ anh lại quí Thục vì tính nết hiền lành, ngoan ngoãn. Duẩn chỉ ý thức một điều là anh không thể yêu Thục và ngược lại anh không thể làm trái ngược với ý muốn của mẹ anh. Anh thường ngơ ngẩn mỗi khi nhắc lại cuộc đính hôn bất đắc dĩ này. Duẩn chỉ còn một cách là kéo dài thời kỳ đính hôn để có thể tự do sống với mấy người bạn trai mà anh thương hơn bất cứ ai, ngoài mẹ anh, ở trên đời, kể cả những người con gái mà anh đón nhận bằng một đam mê cuồng nhiệt nhưng chỉ trong một thời gian ngắn ngủi vài ba tháng để rồi lại nguội lạnh. Mặc dù Duẩn ý thức mình sống không thể không đam mê một hình bóng, nhưng đồng thời không thể sống mãi với một đam mê. Duẩn nghĩ mình là một nguời tình nhân không chung thủy song không thể không yêu đương.

Cái gì đã thúc đẩy Duẩn muốn đổi mới mãi? Có lẽ vì mỗi ngày anh mỗi phải tiếp xúc với bầy học trò con gái lúc nào cũng náo nức trong lứa tuổi dậy thì, những người con gái mang đầy sức sống, những người con gái chứa đựng trong họ sự tươi mát mà cuộc sống nhàm chán và tù túng đang tước đi dần ở người con trai hai nhăm là anh, là những người bạn đồng nghiệp còn trẻ của anh. Chỉ ở họ, ở những người con gái mới lớn, nhiều mơ mộng ấy còn mang cái nguyên vẹn, không âu lo về thời cuộc về trận chiến đang cướp đi dần của anh những người bạn, những người bạn hôm nay còn cười nói trong một kỳ nghỉ phép, ngày mai ngày mốt đã nghe tin chết hay bị cụt tay cụt chân trong một trận đánh nào đó trong trăm ngàn những trận đánh đang diễn ra mỗi ngày. Tuy nhiên Duẩn cũng tự hào là anh chưa để khổ cho một người con gái nào. Bởi tình yêu của anh dành cho họ đến mau rồi cũng rụng mau, trước khi nó đưa đến những liên hệ sâu xa. Điều mà anh quan tâm, mà anh tha thiết, vẫn là những người bạn trai, cái đám bạn trai còn sót lại, đi học, đi dạy, tụ họp, đấu hót, giễu cợt - nhất là giễu cợt - và càng giễu cợt mỗi khi cuộc sống dồn họ vào ngõ bí, khép họ vào những mặc cảm nặng nề, không lối thoát, hoặc có, thì cũng là một ngỏ thoát để rồi lại rơi vào một bế tắc khác. Thỉnh thoảng, một đôi người trong bọn anh, như Cương, may mắn, có một lối thoát không phải là lên đường nhập ngũ, mà là du học. Và trong những lá thư họ gửi về, Duẩn đọc thấy một chán nãn khác mọc rễ, một thứ mặc cảm khác nẩy sinh. Trong bọn có người, như Quảng, đi xây dựng lại một mớ giá trị đã bị vuột mất, đã bị giễu cợt hóa, bằng cách đi xa, nhận việc huấn luyện những lớp người từ các nông thôn về theo học các lớp đào tạo một căn bản chính trị, tại Vũng Tàu. Quảng đã thành công một phần nào trong việc đi tìm lại những giá trị cần thiết đó. Nhưng phải nhận là Quảng trước đó, vẫn còn ít nhiều quan niệm đứng đắn trong đầu, nhờ giáo dục của ông bố. Duẩn bỗng nhớ đến cái nhìn tha thiết của Quảng lúc anh quyết định lên xe với Thư về đây và nhờ Quảng sáng mai đến trường xin phép hộ. Duẩn, mày về tao ngủ đi sáng mai mọi sự sẽ bình thường lại, hoặc mày sẽ đi dạy, hoặc mày sẽ nghỉ và ở chơi với tao. Duẩn nói như gắt, sáng mai nếu tao chưa về kịp mày cứ đến trường bảo là tao ốm, tao chán lắm nếu mai phải nhìn mặt tụi học trò, vì thực sự tao cũng đang chán tao nữa đây này. Khi Duẩn nói điều đó Duẩn nghĩ là đêm nay sẽ được nằm trong vòng tay Thư, có thể chỉ nằm trong vòng tay Thư hoặc anh sẽ ôm Thư vào vòng tay vuốt tóc nàng, an ủi nàng để nghe như chính mình an ủi mình. Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây. Duẩn có cảm tưởng từ mấy năm nay quen biết với Thư, lần đầu tiên anh biết nàng. Lúc ấy Thư im lặng trong xe nhìn Duẩn và Quảng dằng co nhau trên hè đường sau khi cả bọn ra khỏi tiệm cà-phê. Cuối cùng Duẩn lên xe, đóng cửa lại, bảo Phấn anh cứ lái đi. Phấn cho xe chạy đi. Tiếng Quảng gọi với theo Duẩn và mất hút ở phía sau. Có lẽ chính Quảng cũng đang cần sự có mặt của Duẩn. Qua tấm kính chiếu hậu, Duẩn thấy Quảng lầm lũi băng qua đường. Tự nhiên Duẩn thấy thương Quảng xót xa.

Phấn xô cánh cửa mở rộng. Duẩn bước theo Phấn vào phòng. Căn phòng bừa bãi những sổ sách và thư từ. Đằng cuối phòng có một khung cửa che rideau thông vào một căn buồng phía trong, Duẩn thả người xuống một chiếc ghế xa-lông kiểu cũ không có nệm đặt ngay chỗ ra vào, thở ra, đôi mắt nhắm lại. Phấn bật đèn ở trong buồng trong rồi quay ra nói với Duẩn:

- Trong này có giường màn, anh với cô Thư có thể nằm nghỉ.

Duẩn ôm lấy đầu bắt đầu nặng chình chịch. Mỗi lần uống rượu vào, Duẩn thường bị nặng đầu khi cơn say bắt đầu nhạt. Biết vậy nhưng Duẩn vẫn không thể không uống.

- Anh nhức đầu à? Có thuốc đấy. Hồi nãy uống có nhiều không? Nhảm quá. Lẽ ra phải có soda. Tôi quên khuấy mất chỉ vác có chai whisky lên... Để tôi lấy thuốc anh uống.

Duẩn xua tay, nói và cảm thấy xa lạ với giọng mình:

- Không sao đâu. Anh cứ để bọn này tự nhiên. Làm phiền anh quá đi.

- Có gì mà phiền. Bây giờ tôi để hai người ở đây. Cần gì cứ tự tiện. Có nước lạnh ở phía sau...

Thư bước vào phòng ngồi xuống trên chỗ tì tay của chiếc ghế Duẩn đang ngồi bóp trán:

- Anh không ở lại với tụi này? Anh đi đâu bây giờ? Giọng nàng bình thản, hơi mệt mỏi.

- Không, tôi phải trở về Thủ Đức.

- Bây giờ có lẽ đã tới giờ giới nghiêm anh về tận Thủ Đức, làm sao kịp?

- Kịp mà. Mới có mười một giờ rưỡi. Cô đi ra phía sau với tôi, tôi chỉ cho một vài nơi cần thiết...

Thư rời chỗ Duẩn, đặt chiếc ví tay lên mặt bàn, bước ra sau với Phấn. Phía sau là một cái xưởng lớn hơn chiếm cả hai căn, nhưng trống hơn. Những khung cửi đặt ngổn ngang. Thư ngước nhìn mái nhà cao, xung quanh gần như không có gì che đậy từ mép tường cao hai thước lên đến mái. Phấn trỏ tay về phía một khung cửa nhỏ nằm tận cuối xưởng:

- Nếu cô cần đi ngoài, lại đó...

Thư nói cám ơn anh. Thấy nàng nhìn cái máy điện đặt ở giữa xưởng, Phấn giải thích:

- Ở đây chúng tôi dùng điện để chạy máy.

Thư bắt gặp cái cảm giác lạc lõng giữa khung cảnh của một xưởng dệt vào lúc ngưng hoạt động. Nàng thấy mệt mỏi. Thoạt tiên là một bữa tiệc, rồi Duẩn say rượu và yêu cầu nàng ở lại với anh. Thư nhận lời với ý nghĩ là Duẩn đơn độc và cần sự có mặt và săn sóc của nàng. Thư đã từng có những lần say rượu nhưng lần say rượu làm Thư nhớ hơn cả là hôm đi ăn với Cương và Duẩn sau khi tan học ở Văn khoa. Lâu rồi. Hôm ấy Cương đã thức cả đêm với Duẩn, để săn sóc cho nàng. Trong cơn nửa say nửa tỉnh Cương đã hỏi nàng nhiều lần lý do khiến nàng khóc sướt mướt trong khi say. Làm sao có thể nói được? Một nỗi cô đơn thình lình úp chụp xuống và tôi bị mất hút trong đó, và cái thế giới vô thức trong phút chốc được cởi tung như một đoàn quân ô hợp kéo vây kín mọi ngả tâm hồn. Từ đó mở đầu cho một rạn nứt trong tình yêu giữa Cương và tôi. Tôi tưởng sự có mặt của mình có thể làm gì được cho Thư nhưng bây giờ tôi thấy rõ là mình chẳng làm được gì cả tôi bất lực hơn tôi tưởng. Thư cố níu kéo, anh nhầm rồi em không thể nói chẳng phải vì cố tình muốn giữ cho mình sự riêng tư, lỗi không ở anh, đừng nói như vậy. Nhưng dù muốn dù không, họ đã xa nhau. Một hôm, Cương đến cho Thư biết anh sắp đi Pháp. Họ trải qua với nhau một ngày trong dịp Cương có việc phải đi Kiến Hòa và đến rủ Thư đi cùng cho biết. Thư vẫn thích những chuyến đi xa gọi là “giang hồ vặt” như vậy. Thư nhớ lúc hai người ngồi ở bờ một cái hồ ở Kiến Hòa và tưởng tượng như đó là hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội - cái kỷ niệm cuối cùng họ có với nhau trước khi Cương lên đường sang Pháp. Chúng mình đã ngu xuẩn đâm đầu đi tìm cái tuyệt đối. Nhưng lạ là tôi chẳng hề hối tiếc. Mỗi một vấp ngã của tuổi trẻ là một kinh nghiệm, một kỷ niệm đáng yêu, nó giúp cho cuộc sống thêm sâu thêm phong phú. Có lẽ một đôi khi tôi thèm cái tuổi trẻ bình thản của nhiều người con gái bình thản và an phận. Nhưng tôi cũng còn kiêu hãnh về cuộc sống nhiều gai góc của tôi hơn. Phải chăng vì điều đó làm tôi thấy tôi là “một-người-nào-đó” chẳng thuộc về cái số đông?

Thư quay lại:

- Xưởng này của anh?

- Vâng.

- Ở tuổi anh mà gây dựng được một cơ nghiệp như thế này, thật là giỏi. Bọn chúng tôi bị chữ nghĩa, sách vở làm mụ đi và mất hẳn vẻ hoạt bát linh động cần thiết...

Phấn nói:

- Nhưng cô và các bạn cô có tuổi trẻ, có học thức...

Phấn có vẻ thành thực mến phục bọn Thư. Thư bật cười lên một tiếng ngắn, nói và biết là chẳng bao giờ Phấn nghĩ và thông cảm với điều nàng nói:

- Tuổi trẻ và học thức như bọn tôi mà làm gì, hả anh? Ra đời, có lẽ còn thua những người tháo vát như anh.

Thư bắt gặp một nỗi chua chát. Hình như chính mình cũng còn thích làm ra vẻ chua chát như vậy nữa? Thật khôi hài. Mình có đang sống thực tại hay thật ra đây chỉ là một lớp kịch? và Thư cũng ý thức là tra hỏi xem mình có thực không, chỉ làm cho mình trở nên không thực, mơ hồ hơn.

Thư hỏi mượn Phấn khăn mặt. Gã đàn ông sốt sắng một cách không ẩn ý, chạy đi lấy khăn mặt và không quên mang ra cho Thư một bánh xà-phòng thơm.

Thư nói: - Cám ơn anh. Thật phiền anh quá!..

Rồi nàng nói luôn, không đợi Phấn lên tiếng:

- Có lẽ Duẩn vẫn còn say. Duẩn là bạn thân với tôi từ dạo ở Văn khoa. Tôi không muốn để Duẩn nằm một mình đêm nay...

Thư ngừng lại, bỗng thấy sự lố bịch của mình. Việc gì phải phân trần với Phấn? Đêm nay mình sẽ trải qua một đêm ở đây với Duẩn, ngày mai rời đây, không tìm hiểu không cần tìm hiểu nơi này, và gã đàn ông này rồi sẽ chẳng bao giờ mình gặp lại, hắn không có gì để mình lưu luyến bận tâm, thì việc gì phải phân trần làm chi vô ích? Thư múc nước, xấp tay cho ướt rồi xát xà-bông và rửa tay. Nàng tưởng tượng khi vục nước lên rửa mặt, mùi thơm của xà-bông còn vương lại trên hai bàn tay sạch sẽ sẽ tỏa ra ôm lấy khuôn mặt mệt mỏi của mình, và làm dịu đi những suy nghĩ day dứt đang xâm chiếm tâm tư nàng. Thư rửa sạch nước xà-bông ở tay, múc một gáo nước khác và thực hiện ý nghĩ trên. Nước lạnh thấm vào da mặt, thấm vào đầu óc, thấm vào tâm hồn! Nàng nghe người nhẹ nhõm. Nàng muốn cứ tiếp tục vục nước lên mặt như vậy hoài hoài. Thư nhớ có một dạo nàng thích tắm buổi sáng, và ra phố với những hạt nước lấm tấm trên da thịt. Từ cái ý thích đó, ở nàng nảy sinh ra cái thú đầm mình dưới mưa cho nước mưa ngấm vào tận tâm tư. Nhưng từ hai tháng nay, Thư mất thói quen tắm sáng. Nàng đâm sợ nước.

Tiếng giày của Phấn đi lên đi xuống thu xếp một vài vật dụng. Có tiếng hắn bảo Duẩn đi rửa mặt cho mát. Tiếng Duẩn đáp lại vâng anh mặc tôi, phiền anh quá bây giờ anh lại về Thủ Đức à. Tiếng Phấn đáp thường tôi về trên ấy ngủ đêm, nhưng nhiều khi bận công việc tôi cũng ngủ lại dưới này, anh thấy bớt chưa. Dạ cũng khá ạ. Tiếng Phấn, chắc hồi nãy ở tiệm cà-phê anh ói ra hết. Duẩn nói vâng cũng nhờ ói ra hết với ly nước chanh nên mới khá thế này, không hiểu sao lần này tôi uống rượu tồi thế, bậy thật. Phấn nói may mà lúc nãy không gặp gió; anh có nóng cứ bật cái quạt này nó tự động, mà cứ chạy một giờ thì nó ngừng lại, tôi gắn thêm cái đồ tự động này để đề phòng đêm mình có ngủ quên đi cũng không sợ, à tôi dặn anh và cả cô Thư đừng đụng gì đến những lọ thuốc này của tôi. Duẩn hỏi sao thế anh. Phấn nói dặn là dặn phòng hờ vậy vì có thể nguy hiểm. Duẩn cười, được mà anh yên trí...

Thư đổ gáo nước xuống hai bàn chân trong khi dùng khăn mặt lau khô nước trên da mặt, và cọ hai chân vào với nhau gượng nhẹ, cố không gây tiếng động. Phấn trở xuống nhà:

- Tôi phải xem xét lại một vài thứ máy móc xem buổi chiều họ đã tắt đi chưa...

Tiếng giày của Phấn đi về phía cuối xưởng. Thư chống tay lên miệng lu nước, một nửa người nghiêng về phía trước, nàng soi bóng mình trong nước. Mái tóc xõa về phía trước. Mặt nàng là một khoảng tối tăm. Trong cái khoảng tối tăm ấy, những ý nghĩ ngổn ngang. Mình đến đây trong đêm nay, làm gì nơi nầy. Nơi đây là sự xa lạ. Duẩn cũng trở thành một kẻ xa lạ. Thư nhớ lại ngày nào còn có cả Cương. Bây giờ hình ảnh đó không còn đủ sức gợi cho nàng dù một chút thương nhớ. Lâu quá rồi. Sau Cương đã có những khuôn mặt khác đến thay thế. Họ đến rồi đi như những cái bóng. Thư chấp nhận dễ dãi và cũng dễ dãi buông lỏng vòng tay khi thấy đã đến lúc không thể lưu giữ. Buồn chán ngập tràn, tình yêu chẳng phải là một phép mầu. Nhưng mình vẫn cố sục sạo tìm kiếm ở mỗi một người đàn ông - tìm gì? một mảnh bản ngã chưa chịu tìm lấy đường về? Cũng phải có một thay đổi nào đó. Thư đã lựa chọn, dù biết rằng mình sẽ phải trả một giá rất mắc về sự hiện diện của đứa con trong tương lai. Vả lại, có gì đâu mà phải băn khoăn kia chứ? Thư mơ hồ cảm thấy như chính mình cũng muốn nhận một thử thách. Thư nhớ dạo còn ở bậc trung học, mỗi lần phải lựa một trong những đề tài giáo sư ra, Thư thường chọn những đề tài khó và phức tạp. Đôi khi phải bỏ dở và lựa một đề tài khác dễ hơn. Nhưng Thư biết lần này không thể bỏ cuộc. Thư đã đánh cuộc và nàng sẽ phải đi đến cùng. Phấn trở ra, móc túi đưa cho Thư mớ chìa khóa:

- Tôi đưa cho cô chìa khóa cổng sắt. Sáng mai khi rời đây cô mở cổng rồi để chìa khóa lên nóc cái hộp đựng công-tơ điện ở bên tay mặt - tôi sẽ chỉ cho cô thấy cái hộp đó - rồi cứ thế dập cửa vào. Nếu mấy người thợ của tôi lại, cô cứ để cho họ vào nhưng nhớ là để chìa khóa nơi tôi dặn cô...

Thư gật đầu nói vâng vâng. Hai người cùng lên nhà. Thư có ý nghĩ giá hồi nãy cứ đóng kịch với Phấn và biết đâu... Nàng mỉm cười với ý nghĩ đó. Hắn có của nhưng không phải là type người của mình và nhất là hắn có nhiều cái tinh ranh nhỏ nhặt và buồn cười. Vả lại, dẫu chưa có ý niệm gì về giọt máu trong người, Thư cũng cảm thấy không muốn đứa nhỏ sẽ có một ngộ nhận về người cha của nó. Mình đã, đang và sẽ còn nhìn thẳng vào cuộc sống với đôi mắt mở lớn, không lý gì đứa con làm bằng xương bằng thịt bằng máu của mình lại có thể mang trong nó một sự ngộ nhận lớn lao như vậy về cái thân thế của nó. Hãy phán đoán tôi, hãy xa lánh, nếu cần. Nhưng xin cho tôi được sống chân thực. Thư cúi mặt nhìn xuống hai chân, nghe xót xa dâng lên. Phấn đi rồi, Thư dập và khóa cổng xong bước chầm chậm trở vào nhà. Duẩn đã bỏ ra sau rửa mặt. Tiếng nước rơi lã tã trên nền xi-măng vỡ. Thư nghe cả tiếng súc miệng sục sục của Duẩn. Nàng kéo chiếc rideau che cửa thông vào buồng trong sang một bên và bước vào. Bên trong đồ đạc cũng gồm những sổ sách và chai lọ lộn xộn bừa bãi. Một chiếc tủ gương kê tại cuối phòng. Các bàn kê gần bên. Không có ghế. Nơi duy nhất có thể ngã lưng là một chiếc divan. Một đống chăn màn xếp tại góc divan. Không có chiếu. Thư ngó chiếc divan, nàng vừa thất vọng vì đó không phải là một nơi nằm mà nàng mong muốn, vừa ngượng ngập. Thư vẫn thường có những ngượng ngập như vậy mỗi khi nhìn vào nơi nằm nghỉ của một người đàn ông. Thư chưa làm quen được với hình ảnh về nơi sinh hoạt thân thiết đó của người đàn ông, dù người đó là một người bạn thân hoặc có thể là một người tình. Thư cũng biết là nỗi ngượng ngập của mình có vẻ vô lý. Thư không xa lạ gì với người đàn ông cả. Nhưng nàng cũng không cố gắng bỏ sự ngượng ngập đó. Đối với nàng đó là sự nguyên vẹn duy nhất nàng còn giữ được. Thư bước lại đứng trước gương. Nàng nhìn vào đôi mắt mình rồi thả cái nhìn xuống thân thể đang nẩy nở hơn lúc bình thường. Thư đưa tay vuốt bụng. Nàng rời chỗ đứng lại divan ngồi khi nghe tiếng chân Duẩn bước vào phòng. Duẩn vừa đi vừa lau mặt lau cổ bằng khăn mùi-xoa riêng. Anh dừng lại nhìn quanh căn buồng rồi đến ngồi xuống bên Thư. Một bầu không khí im lặng bao phủ lên hai người. Duẩn úp hai bàn tay lên đầu gối. Một lát Thư lên tiếng:

- Duẩn thấy đỡ chưa?

- Còn mệt. Đầu nhức như búa bổ.

Anh ngó chung quanh, như chợt ngạc nhiên về sự có mặt của mình giữa một nơi hoàn toàn xa lạ này. Duẩn bật cười một tiếng ngắn, tiếng cười nhuốm vẻ chua chát thoát ra từ một bất lực. Những cố gắng để thoát ra khỏi cuộc sống chật chội tù túng chỉ làm cho con người ngột ngạt hơn và muốn phát điên. Chấp nhận không phải là một ổn định cho tất cả. Đó chỉ là một giải pháp tạm thời để rồi đến một lúc nào đó... Duẩn nắm lấy bàn tay Thư áp lên má. Những giọt nước lạnh còn lấm tấm nơi chân tóc anh. Tiếng Thư hỏi nhỏ:

- Cười gì vậy?

Duẩn lắc đầu từ chối trả lời. Anh khép đôi mắt lại trong giây lát, nghe sự êm ả thoát ra từ lòng bàn tay người con gái.

- Duẩn biết tôi đang nghĩ gì không?

Duẩn đáp không, vẻ chờ đợi. Thư nói, mắt ngó thẳng về phía trước, giọng mơ hồ:

- Tôi nghĩ giá mình đang sống ở miền biển lúc này đây tôi sẽ chạy ra bãi biển, sẽ bỏ dép chạy chân không trên nền cát ướt lạnh và đôi khi đứng lại lắng nghe tiếng sóng từ xa dội lại như những lời thì thầm đầy bí mật.

- Còn tôi, tôi tưởng như ngày mai mà phải thức dậy, phải vác bộ mặt mô phạm vào lớp, phải nhìn bọn học trò chắc tôi chịu không nổi. Nhiều buổi sáng thức dậy, chỉ còn mười lăm phút để rửa mặt đánh răng mặc quần áo và uống vào một ly cà-phê pha vội, tôi thấy ngao ngán kinh khủng. Nhưng vẫn không đủ can đảm thay đổi lại cuộc sống. Cuộc sống mà tôi hiện đang sống tuy cũng đòi hỏi sự cố gắng, nhưng là những cố gắng thụ động. Có lẽ tôi hèn nhát. Có lẽ...

Duẩn chặc lưỡi, ngưng nói. Nét mặt anh đăm chiêu, buồn bã. Anh ngửa bàn tay lên đùi và nhìn vào đó bất động.

- Độ nhỏ tôi có một giấc mơ, cho đến bây giờ mỗi lần nghĩ đến tôi vẫn còn tưởng như mới đêm qua mình nằm mơ vậy thôi. Tôi mơ thấy tôi trôi giạt vào một hòn đảo nhỏ xíu ở giữa biển sóng lớn nước mênh mông. Ở giữa đảo là một cái cây trụi lá, lớn như một cây cổ thụ và rễ chiếm hết đảo. Tôi như không thấy mình đâu nữa. Và tôi mơ hồ lo sợ một lúc nào đó cái cây bị sóng biển đánh bật rễ và mình sẽ không còn nơi nào để bấu víu...

Duẩn im lặng nghe Thư kể. Anh cảm thấy một nỗi xúc động mãnh liệt đang xâm chiếm người con gái.

- Rồi ra sao?

- Chả ra sao cả. Những giấc mơ vẫn vậy. Duẩn tưởng tôi nghĩ đó là một cái điềm gì à? Không đâu. Tôi vẫn nghĩ và tin là cuộc sống của tôi do tôi tự tạo một phần lớn. Tôi kể lại giấc mơ đó vì thấy là đã lâu rồi mà cái hình ảnh đó vẫn có thể làm tôi thấy sởn gai ốc mỗi khi nghĩ đến.

Duẩn châm điếu thuốc, hút một hơi, rồi sực nhớ ra cơn nhức đầu của mình, anh dụi điếu thuốc, đứng dậy đi vòng quanh phòng nhìn vào đống chai lọ nhiều màu sắp lộn xộn trên các kệ đóng sát vào tường. Thư trải một tấm mền lên divan và ngã lưng nằm xuống, tâm hồn lãng đãng. Một tay nàng để sau đầu làm gối, tay kia đặt trên bụng. Mong con sẽ là con trai, làm con trai để chịu đựng, chịu đựng cuộc đời, và nhất là để thương mẹ. Đôi khi tôi cũng tự hỏi mình có đang bi thảm hóa cuộc sống? hay thực sự tự nó cuộc sống đã có cái vẻ bi thảm? Tôi băn khoăn và thường chọn thái độ dửng dưng. Chả ích gì. Tất cả chả ích gì. Tôi nhắm mắt lại và tôi tự nhủ với tôi tạm thời hãy quên đi hết cả. Tôi cảm thấy Duẩn đang đến và ngồi xuống bên tôi, cúi nhìn tôi. Tự nhiên tôi muốn khóc lạ. Tôi lấy tay bưng mặt và cười lên một tiếng ngắn, nghe khô và buồn, như tiếng một viên sỏi bị vất xuống lòng giếng cạn nước, mất hút trong bóng tối của đáy sâu.

Vào cái lúc người con gái chờ đợi nhất để sẵn sàng buông thả vào trong cơn sốt rạo rực của cơ thể, Duẩn bỗng ngừng lại, im lặng, đăm chiêu. Hơi thở anh bớt dồn dập hơn trong một cố gắng tự kìm hãm. Duẩn mím môi, thở một cách khó khăn như người bị nghẹt mũi. Khoảng cách còn lại thật dễ dàng để vượt qua. Duẩn ngừng lại, ngơ ngẩn, chợt nghe buồn bã. Anh khẽ buông tiếng thở dài, gục đầu xuống vai người con gái, mắt nhắm lại. Rất lâu, trong bóng tối, anh nghe tiếng người con gái cất lên, rụt rè:

- Sao thế?

Có một cái gì như hờn tủi và cũng thật ráo hoảnh trong giọng nói. “Tôi cũng không hiểu sao tôi lại ngừng lại. Tôi tự thấy mình không có quyền tiến xa hơn.” Duẩn đáp và cũng nghe giọng mình thật ráo hoảnh:

- Tại... không muốn...

Duẩn bỏ lửng câu nói, một sự im lặng rơi xuống giữa hai người. Duẩn mơ hồ thấy mình khổ sở, day dứt: Trong phút giây tôi muốn được gọi Thư là “em” và xưng “anh” với em, Thư ạ. Em im lặng, có thể em đang hờn giận. Nhưng anh không muốn anh sẽ ân hận bởi anh bắt đầu cảm thấy yêu em. Điều đó có vẻ khôi hài. Nhưng điều đó làm anh xúc động. Cũng như anh vẫn khôi hài trong cuộc sinh hoạt của anh đồng thời cảm thấy một xúc động sâu xa. Hình như trong khi mình giễu cợt là mình ý thức rõ hơn cả về cái thân phận của mình giữa cuộc sống ồ ạt xô bồ này, giữa cuộc sống mà cá nhân chẳng nghĩa lý gì và người ta bị cưỡng bức phải làm những việc mà mình không muốn. Và anh, anh muốn không làm cái việc mà anh rất đang tha thiết. Để mọi sự còn nguyên vẹn. Vả lại, cái giọt máu mà em đang mang trong người với anh đã là một cái gì, một con người mà anh tự thấy mình không được quyền xúc phạm. Cho anh được quý trọng. Đó là điều duy nhất anh muốn giữ lại, một cách tự nhiên, không cố gắng, như một thứ báu vật.

Thư trở mình, vuột khỏi tay anh, xoay lưng lại phía Duẩn. Duẩn cảm thấy có một sự vùng vằng. Lẽ ra anh phải kéo em lại, ôm chặt lấy em, vuốt ve và nếu cần giải thích. Nhưng anh sợ chính anh rồi sẽ không giữ nổi bởi thằng người phá phách trong anh đang trổi dậy, đòi hỏi. Duẩn nằm yên lặng nhìn khoảng da thịt trắng hiện ra mờ mờ dưới mắt thành một vệt chảy dài bất động. Một nỗi nghẹn ngào chận ngang cổ. Tự nhiên anh thấy thèm vô cùng được gục vào chỗ trũng nơi chiếc gáy trắng mờ mờ kia, và nếu có thể, để khóc lặng lẽ...

Thư mở mắt. Phải một lúc nàng mới định thần và nhớ ra mình đang nằm ở đâu. Bên cạnh gã con trai đã thiếp ngủ, lưng trần lớn quay lại phía nàng trong một dáng nằm rút cong như con tôm, hơi thở đều đều của một người say ngủ. Thư nghe cổ họng mình khô ran. Thư cảm thấy muốn ra sau vô cùng. Nhưng nàng nằm nán lại, ngần ngại khi nghĩ đến lối đi chật chội, lỗ mỗ và tối mò của xưởng dệt. Trong yên lặng có tiếng vó ngựa gõ lóc cóc và tiếng xe thổ mộ lăn uể oải qua trước nhà. Có lẽ vào khoảng bốn năm giờ sáng gì đó. Thư cảm thấy rã rời và nghe cô đơn kỳ lạ. Hình ảnh những đêm thao thức bên người đàn ông thiếp ngủ một cách thoả mãn đến trong trí nhớ. Tại sao không bao giờ mình thấy thoả mãn cả? Luôn luôn là một khoảng trống sau đó với những dày vò không nguyên do không đối tượng. Và với một biến đổi một mình mình biết một mình mình hay. Tôi bỗng cảm thấy tất cả cái cô đơn mênh mông của một Grégoire khi hóa thân thành con bọ để rồi chết khô trong sự cô đơn và bị ruồng bỏ. Tôi đã khủng khiếp khi đọc đến đoạn Grégoire tuyệt vọng nhìn xuống sự thay đổi của thân thể mình. Có lẽ tôi tuyệt vọng và bàng hoàng, nhưng tôi còn cảm thấy một-cách-không-thể-tự-kiềm-chế-được một sự rung động kỳ lạ...

Tôi đang hóa thân để trở thành một người mẹ, một người đàn bà thực sự. Có lẽ tôi đang tìm về tôi, cái TÔI thực sự...? Thư khóc lúc nào không hay.

Thư mở mắt lại vào lúc có những tiếng động đổ xuống, thoạt tiên từ từ, đều đều, rồi nhanh dần, và nàng bỗng cảm thấy bị vây tỏa trong một thứ âm thanh dồn dập của một cơn mưa rào. Trời mưa...! Thư nhẩm với mình. Căn phòng vẫn tối om. Thư nghe một cảm giác lành lạnh. Nàng kéo tấm mền lên ngang ngực, lần hồi nhớ lại những việc đã xảy ra. Thư thấy hai má mình khô. Nàng nhớ ra vào lúc gần sáng hình như nàng đã khóc. Cũng có lẽ mình khóc trong giấc mơ. Trời mưa...! Trời mưa làm Thư thấy nhẹ nhõm hay chính vì những giọt nước mắt trong đêm...? Thư chỉ thấy một sự thanh thản. Bên cạnh Duẩn vẫn thiếp ngủ. Vẫn dáng nằm cũ. Và một hơi thở đều đặn, mệt nhọc. Thư cảm thấy tức bụng. Nàng lần mò trở dậy, vén màn bước ra, lấy chiếc áo sơ-mi của Duẩn vất trên bàn mặc vào rồi lặng lẽ vén rideau đi ra. Trời đã sáng rõ. Thư sững sờ nhìn qua lớp cửa sắt. Bên ngoài trời khô ráo. Thư chợt nhận rõ ra tiếng rào rào mà nàng nghe lúc còn nằm trong màn thực ra là tiếng của những chiếc khung cửi bắt đầu hoạt động ở xung quanh hàng xóm. Thư bước nhanh ra phía sau. Những khung gỗ nằm bất động. Lát nữa đây bọn thợ sẽ đến và bắt đầu làm việc một cách ồn ào... Thư bỗng cảm thấy bị tràn lấn bởi những tiếng động đều đều dồn dập xung quanh. Nàng súc miệng rửa mặt, rồi trở lên nhà. Duẩn vẫn còn ngủ. Thư mặc áo quần, chải đầu xong vén màn lay bạn dậy. Duẩn ú ớ một lúc rồi tỉnh hẳn. Sự mệt mỏi còn nặng trĩu trên đôi mắt đỏ ngầu. Anh ngáp dài, nhận ra Thư.

- Sáng rồi à? A... Trời mưa?!...

Thư bật cười:

- Không phải đâu! Tiếng máy dệt đấy. Lúc nãy tôi cũng có cảm giác như Duẩn...

Duẩn nhỏm dậy, hai tay vòng lấy đầu gối, vẻ ngơ ngẩn, giọng anh đặc sệt:

- Thế à?

Thư nói:

- Duẩn dậy sửa soạn đi. Bọn thợ sắp đến bây giờ. Mình nên rời đây trước khi họ đến.

Duẩn uể oải đứng dậy, bước ra sau. Khi Thư đang loay hoay thu dẹp chăn màn thì có tiếng gọi và đập vào cửa sắt. Tiếng Duẩn trả lời tôi ra đây. Thư đứng trong phòng ngó ra, Duẩn mình trần loay hoay. Một tốp bốn, năm người đàn ông kéo vào, tiếng nói chuyện giọng ngái ngủ, đứt quãng...

Lúc Duẩn trở vào, Thư đang dở xem một tập hình trên bàn. Anh nhìn mái tóc nghiêng của Thư và cảm thấy một bông hoa nhỏ vừa hé nụ trong anh. Anh đứng lại bên khung cửa, bỡ ngỡ ngây ngất. Anh tự hỏi tại sao từ mấy năm nay, bây giờ anh mới cảm thấy thế, từ dạo quen Thư đến giờ. Người con gái có cảm giác bị nhìn. Nhưng nàng vẫn giữ nguyên thế đứng cũ, không nhìn thấy gì trong những tấm hình trên tay - như thể nàng biết là quay lại sẽ làm cho bông hoa e thẹn không nở nữa.

(Sài Gòn, 13-10-1966.)

Loài Chim Trên Cát

Bức ảnh duy nhất coi được cũng có một vẻ tức cười thế nào. Chị Châu đẫy đà tuy hơi buồn trong bộ у phục ngày cưới, đứng gần như tựa lưng vào gốc cây trứng cá trước nhà, bên cạnh chị, cách đó mấy chục phân, ông chồng đứng lạc lõng, bối rối, thấp hơn chị vài phân (thật ra chị đi giày cao) hai tay chắp phía trước, vẻ mặt ngơ ngẫn, đen sạm...

Nhiên cầm tấm ảnh trên tay, bật cười, nghe cay cay ở hai mắt. Điều đó sao đối với nhiều người lại đẹp đẽ và rực rỡ quá?! Người ta thêu hoa vẽ bướm cho cái cảnh cô dâu bước lên xẹ hoa về nhà chồng. Còn chị Châu... Và cả Nhiên nữa… Nhiên thầm nghĩ: đó chỉ là một cách thoát ly ra khỏi một nhà tù để bước vào một nhà tù khác, chỉ khác ở chỗ người ta kết hoa lá cho cái nhà tù thứ hai này nhưng điều đó chẳng làm vui được chị Châu. Chị chỉ có một ý nghĩ trong đầu: lấy chồng, cho xong. Chị chẳng hề thương yêu người đàn ông đó. Có lẽ chị cũng chưa hề yêu thương ai trong cuộc sống trễ muộn của chi. Nhiên thầm hỏi: làm sao có thể chịu đựng được thân thể của một người đàn ông mình không hề thương yêu và có lẽ cũng chẳng thấy thích.

Đêm đầu tiên Nhiên nằm một mình trong căn gác lần đầu vắng hơi thở của chị Châu, câu hỏi đó lởn vởn trong đấu Nhiên. Bỗng nhiên nàng bật cười lớn, tiếng cười nghe như tiếng thủy tinh vỡ va chạm vào nhau nghe lạo xạo. Nhiên kinh hoàng trước giọng cười lạ lẫm của mình. Nghe như của một người nào xa la. Tiếng bà Vũ đột ngột cất lên ngạc nhiên:

- Con Nhiên cười cái gì đó?

Nhiên cắn chặt lấy môi, để nén tiếng cười cho trở vào trong cổ, nằm nín lặng. Sau một hồi nghe ngóng thấy không động tịnh gì, bà Vũ trở mình, lẩm bẩm:

- Cái con nhỏ, chắc lại nằm mơ?

Lức sau. Bà thiếp đi trong giấc ngủ mệt nhọc sau mấy hôm quá bận rộn với đám cưới của Châu, đứa con đầu tiên trong ba đứa con bà đã khó nhọc cho ra chào đời, đi lập gia đình. Ở tuổi bà, gần sáu chục tuổi đầu; nhiều người đã sắp có chắt mà bà vẫn chưa có lấy một mống cháu đố bỗng bế, đễ íhăy mình được gọi bẳng bà để thấy mình được thưởng thức các khung cảnh có đàn cháu vây quanh tíu tít. Ngày xưa khi lấy chồng, bà mới mười sáu, mười bảy. Sinh con trễ, bà khao khát được làm mẹ, và bây giờ bà mong mỏi được làm bà. Với một người đàn bà quanh quẩn trong nếр sống gia đình, bà không mong ước gì khác hơn những mong ước muôn đời đó ở mỗi một người đàn bà. Nhiều lúc bà không hiểu bọn trẻ bây giờ nhất là những người con gái Nhiên, Châu, nghĩ gì. Họ sống thực khác xa với bà, ít ra về phương diện tư tưởng. Nhất là Nhiên. Nàng lảng tránh mỗi khi bà đề cập đến chuyện chồng con. Ngày xưa, lớn lên, bà chỉ mong có người tới hỏi để có chỗ nương tựa sau này. Vì vậy, từ đó suy ra, bà nghĩ: có lẽ vì các con gái bà không biết nghĩ xa chăng? Chúng tưởng sống nhờ bố mẹ mãi được à? Bố mẹ rồi cũng già cũng phải chết chứ, sống mãi để cho chúng nó nương tựa hoài sao? Tuy nhiên, trong thâm tâm, bà cũng cảm thấy sự trì hoãn lấy chồng của Châu và Nhiên có một cái gì đó mà bà không hiểu nổi. Bà thì bà chẳng hy vọng gì ép Trọng, đứa con trai cả, lấy vợ rồi. Chủ trương của Trọng là phải có một sự nghiệp vững chắc đã. Bà cho như vậy có lý. Bà đâu có biết những lý do thầm kín nào khiến cho Trọng say mê cuộc đời độc thân hiện tại, Trong nhà có lẽ chỉ có Nhiên hiểu được anh. Bà chỉ còn trông nhờ ở con gái. Nhiên thoái thác là mình nhỏ nhất nhà và còn đang học dở dang.

Một lần bà đã cố tình ép Nhiên phải lấy một người anh họ xa. Nhiên hết sức phản đối. Mỗi bữa cơm là mỗi bài thuyết trình Nhiên đâm ghét cay ghét đắng nguời anh họ mà có một dạo Nhiên rất quý mến, đến nỗi có lúc Nhiên tưởng mình yêu anh ta, vì những tư tưởng của anh. Cho đến bây giờ Nhiên cũng không hiểu rõ lắm. Vì sao mình lại có một thái độ phủ nhận quyết liệt như vậy đối với hôn nhân.

Nhiên xin phép bà ra Nha trang tìm đến anh Trọng lúc ấy là Trung úy Quân у đóng tại đây. Ông bà Vũ bằng lòng nhưng không quên gửi ra cho Trọng một lá thư nhắn nhủ: ‘‘ Anh gắng thuỵết phục em nó còn nhỏ dại...’’

Nhiên hồi tưởng lại những ngày sống với anh Trọng ở biển thật thần tiên. Trọng tổ chức những cuộc đi chơi bằng xe jeep riêng của anh để giải khuây cho em, tuyệt nhiên không đá động gì đến việc ông bà Vũ nhờ anh. Những lúc Trọng bận việc tại bệnh viện, Nhiên thường nằm dài nơi một ghế bố thuê mất năm đồng kê dưới hàng cây dương phóng tầm mắt ra ngoài xa tìm nbững cánh chim nhỏ, những cánh buồm phiêu dạt giữa vùng trời nước mênh mang và triền miên trong những tư tưởng dằn vặt buồn bã.

Nhiên vẫn gọi đó là những điều cổ điển và có tính cách sách vỡ - những day dứt dằn dặt đó. Nhưng nàng vẫn thấy chúng có mặt như một thứ thực tại không thể phủ nhận, như cái thực tại làm thân con gái của nàng.

Tại sao. Nhiên tự hỏi, mình không thể sống và chấp nhận cái thực tại làm thân con gái đó, như những đứa bạn gái khác, như Hương, như Vân, như Hải chẳng hạn? - Có lấy một người tình chọn trong đám bạn trai quen biết, rồi xây dựng bằng một cuộc lễ ăn hỏi và vui vẻ hồn nhiên chờ đến ngày ‘‘đại đăng khoa’’ của hai đứa rồi ‘‘tiểu đăng khoa’’ luôn? Điều đó giản dị mà. Thầy mẹ mình cũng chỉ chờ đợi một cái gật đầu của mình là mình sẽ trở nên như những đứa bạn gái kia. Nhiên nhớ lại một cuộc đối thoại với thầy mẹ trong một bữa cơm. Bà Vũ:

- Mẹ vẫn nghe con nói con quý mến anh Khoa mà?

- Thì vẫn. Con quý mến anh ây vì con tưởng anh ấy hợp với con.

- Thế bây giờ mày không thấy người ta hợp với mày nữa vì cái gì?

- Con không biết nữa. Con chỉ cảm thấy thế từ khi nghe tin anh ấy hỏi cưới con.

- Cái con bé này, nói chuyện nghe hay nhỉ? Thế nghĩa là làm sao? Mày muốn cái gì bây giờ?

- Con chả muốn cái gì cả...

Nhiên suýt lãnh cái tát của ông Vũ nếu không có bà Vũ cản ngăn. Mày muốn gì? - Chả muốn gì cả. Thực ra nếu tôi nói cái ý muốn của tôi ra, nhiều người sẽ cho là điên rồ. Tôi muốn được tự do chọn lựa, chọn lựa cái thân phận của tôi.

Làm sao được?. Nhân vật của Georghiu bị đẩy từ nhà tù này vào một nhà tù khác. Người bạn chụp hình chị Châu với ông chồng đã vô tình nói lại cái câu nói mỉa mai: ‘‘ Cười lên nào! Cười lên nào! Kết quả: mặt chị Châu buồn hơn và anh chồng thì ngơ ngẩn. Nhưng mình có đang bi quan quá lắm không?

Hoặc là nếu không sống giản dị được như mọi người thi ít ra cũng cố lấy một chút ít can đảm như Hiển, để sống theo ý mình muốn, bất chấp tất cả? Hiển. Hiển. Đối với Nhiên, Hiển xa vời như một vùng đất lạ ở đâu tít mù ngoài khơi kia. Nhiên tự hỏi có bao giờ Hiển cảm thấy đơn độc quá lắm trên con đường một mình mình dấn bước và không biết có cái gì đang chờ đợi mình ở cuối đường đằng kia? Nhiên có cảm tưởng hạnh phúc của Hiển chính ở sự liều lĩnh và cái ham muốn phiêu lưu. Nét mặt Hiển có vẻ cương nghị đến lạnh nhạt khi trách Nhiên

- Tại sao Nhiên ít nói, it có phản ứng hay phản ứng chậm đến gần như không có phản ứng!? Đôi khi tôi cảm thấy nói với Nhiên mà như mình độc thoại vậy!

Mỗi một lời nói của Hiển đối với Nhiên tựa như một nhát dao chém xuống, không làm tóe lửa trên mặt đe thì cũng làm cái mặt thớt có vết hằn Nhiên cảm thấy đau đớn thực sự trước nhận xét đó của Hiển. Nhiên định phản đối, nhưng cái ý định đó lại quá yếu ớt đến không thành một quyết định Hiển ấm ức thất vọng về bạn, về mình Hiển không hiểu được Nhiên yêu Hiển đến độ nào. Cái tình yêu đó manh nha nơi Nhiên khi hai người còn học chung ở Trung-học. Hiển dạo ấу còn nhí nhảnh như một con chim non. Tuy nhiên, ở con chim non ấy đã thấy như lên cái mầm quyến rũ của sự nổi loạn, quyến rũ đối với Nhiên cố nhiên. Nhiên thán phục Hiển những lúc đấu lý tay đôi với giáo sư trong lớp, bất chấp cả hai con số không hạnh kiểm có thể có. Khác với những người con gái khác thường khóc tấm tức mỗi khi vì một lý do gì bị bớt một vài điểm hạnh kiểm.

Những điểm hạnh kiểm ấy chúng làm được cái gì? Bản tính nhút nhát của Nhiên thường đem lại cho Nhiên những con số đầy đặn, tròn trịa về phương diện hạnh kiểm. Điều đó đã làm Nhiên cười thầm mỗi lần nhận được giấy ban khen. Nhiên thương Hiển, nhưng những cố gắng để đến gần với Hiển thường chẳng giúp được gì. Hiển bay nhảy như một con chim non. Và con chim non mong chờ ngày đủ lông đủ cánh để vượt khỏi bức tường cao của nhà trường. Ngày tựu trường của năm học cuối cùng, Nhiên chỉ gặp Hiển mấy lần rồi biệt hẳn! Những nguồn tin Nhiên biết được về Hiển làm Nhiên mơ hồ khổ sở cho những giờ học kéo dài buồn nản giữa những đứa bạn chẳng bao giờ biết được những gì Nhiên mang trong tâm tư, giữa những triết thuyết khô khan Nhiên đang tập làm quen và những giờ khoa học Nhiên lơ đãng nhìn khoảng trời xanh thấp thoáng sau những vòm cây cao lá um tùm nơi sân trường... Nhiên sống như một kẻ mang trong hồn một nhớ nhung - nhớ nhung gì Nhiên không rõ. Chỉ thấy là mình nhớ như một người không có quê hương nhớ về một thứ quê hương quá đẹp do mình vẽ ra trong tưởng tượng, hay một cái gì tương tự như vậy... ‘‘ Nhiên phản ứng chậm đến gần như không có phản ứng’’. Có nhẽ Hiển nói đúng. Tôi không có phản ứng, ngay cả với cuộc sống, với thân phận của tôi. Và tôi sống buông thả trong cái dòng sông muốn đưa mình đến đâu thì đưa. Đôi khi tôi gặp phải một đôi tảng đá chặn đường. Tôi không tìm cách trườn qua chúng để tiếp tục cuộc hành trình. Tôi lách tránh chúng.

Đời con gái của tôi thật buồn và cũng thật bình thản. Rồi tôi gặp Hiển trong cái làn sóng những khuôn mặt trẻ ngơ ngác và hoan hỉ một cách khôi hài trong những ngày đầu chen chúc tìm cho mình một chỗ ngồi trong giảng đường văn khoa. Hiển làm quen với viết lách và có một người tình cùng học. Hắn cao, gầy, có nụ cười rất sáng. Hiển càng có vẻ xa tôi hơn mặc dù chúng tôi gặp nhau thường hơn, đi với nhau thường hơn, nói với nhau nhiều hơn - thực ra thì tôi nghe Hiển nói nhiều hơn là tôi nói. Tôi chả có gì để nói về đời tôi, cái cuộc đời bình lặng như mặt nước hồ đã đóng băng. Còn Hiển say sưa kể về mình, về những chuyến phiêu lưu, thường là có thêm sự hiện diện của một người đàn ông. Tội khám phá ra con người đam mê ở Hiển - đam mê cuộc sống và đam mê chính sự cuồng nhiệt của mình. Và Hiển ích kỷ một cách lạ lùng. Nhưng ít ra Hiển còn hơn tôi. Nàng còn có thể yêu - (Có thể gọi một người yêu nhiều như Hiển là ích kỷ hay chính thực ra những kẻ như tôi mới Ịà ích kỷ vì chưa yêu bao giờ? Tôi cho là mỗi người đều ích kỷ, chỉ khác nhau ở chỗ mỗi người ích kỷ theo một lối riêng của mình mà thôi.) - Những lúc nghe Hiển kể chuyện một cách say sưa tôi thấy như mình không có ở đấy. Đôi khi tôi cũng bắt gặp ở Hiển những nét ân hận, xót xa thoáng qua.

Bầu trời xanh như thế kia mà cũng còn có những lúc xám xịt nữa là, phải không? Tôi quay vào thơ thẩn buồn bã trong căn nhà trống trải của tâm hồn mình. Đôi khi Hiển ngừng nói, trách tôi ít nói khiến cho Hiển cảm thấy là mình đang độc thoại. Tôi có thể nói thẳng với Hiển thực ra tôi ghen với sự đam mê của Hiển. Nó nằm giữa tôi và Hiển - sự đam mê ấy - ngăn cách tôi đến với Hiển, dù bằng câu nói ‘‘tôi yêu Hiển’’, tôi cũng chẳng thể làm cho chúng trở thành sự thật bằng âm thanh, bằng ngôn từ ‘‘Tôi đi Nha trang để tìm lại con người của mình - thực ra, tôi cũng không biết chắc mình có con người thật của mình không mà tìm? Tuy nhiên tôi cảm thấy phải đi xa Hiển với ý nghĩ mơ hồ - biết đâu đó chẳng là một hy vọng? - sẽ gây nơi Hiển một vết thương? Bởi vì tôi chẳng thể nói thẳng với Hiển như Thy, người bạn gái của chúng ta, là tôi yêu Hiển. Một câu nói như vậy ở cửa miệng tôi nó có vẻ... rẻ tiền thế nào ấy!...’’ Nhiên úp cuốn sách đang đọc dở lên mặt. Tôi không thể đọc được nữa. Những hàng chữ nhảy nhót, giả hình. Ý nghĩ tôi bị lôi về thành phố, về những con đường đầy những cơn mưa lá me mà tôi với Hiển thường đi dạo trong những giờ đáng lẽ phải đi cours.

Bỏ học đã không còn gây nơi chúng tôi cái mặc cảm phạm tội như dạo còn ở dưới trung học nữa. Và danh từ trong sách vở trở thành hư vô, kịch cỡm. Tôi viết tá thư đó cho Hiển, bỏ vào phong bì dán kín lại ngoài để chữ ‘‘khẩn’’ to tướng – khẩn như những tâm tình tôi đã gửi lại cho Hiển, khẩn như tiếng gọi của biển thúc đẩy tôi rời xa thành phố, rời xa với một vẻ hờn giỗi, để tìm đến sự cô đơn tuyệt đối như một khóa lấp. Đó là tất cả một sự mâu thuẫn lớn lao mà tôi có. Bây giờ ngồi đây, tôi đoán chừng phản ứng của Hiển khi nhận được thư tôi và sau khi đã đọc hết bẩy, tám trang giấy xé trong tập giấy nháp ra. Tôi mong nhận được thư Hiển dù biết là chẳng thể có vì tôi đã cố tình không ghi địa chỉ của tôi cho Hiển. Ghi để làm gì? Có nhẽ tôi đã có vài vẻ khôi hài? Biết đâu là thư ấy chỉ để gây cho Hiển một chút bâng khuâng day dứt, rồi Hiển sẽ quên đi? Loay hoay mãi tôi lại tự trách đã viết lá thư ấy. Biết đâu tôi lại chỉ làm cái việc tầm thường là ve vãn cái tự ái nơi Hiển cái tự ái đó vốn dĩ đã được ve vãn nhiều. Tôi tự nhủ đó là lá thư tình đầu tiên và cuối cùng của tôi.

Nhiên nhắm mắt lại. Gió từ ngoài khơi đem muối vào rải trên da thịt, quần áo và tóc Nhiên. Nàng thiếp đi trong nỗi buồn bã của cả tâm hồn lẫn thể xác. Nhiên không biết là mình đã ngủ trong bao lâu cho đến khi thức giấc, dở cuốn sách úp trên mặt ra và thấy Trọng đã bắc ghế nằm bên cạnh từ hồi nào. Trọng nói:

- Anh gọi mấy lần, biết là cô ngủ, nên để yên cho cô ngủ.

Nhiên cười gượng, lấy lại dáng ngồi, hỏi аnh dáng bâng quơ:

- Anh đi làm về lâu chưa?

- Chừng một giờ.

- Thế em ngủ lâu thế cơ à?

- Gió biển đã cuốn cô ra khơi hay đẩy cô vào sâu trong đất liền?

Nhiên cười:

- Chẳng biết nữa. Vẫn thấy mình ngồi đây từ trước khi thiếp đi và lúc thức dậy, giống như...

Nhiên định nói ‘‘như nỗi buồn em có khi đi vào giấc ngủ’’ nhưng nàng bỏ lửng câu nói, chỉ ngại đó là một cớ để Trọng đưa ra những câu hỏi mà chính nàng không muốn đối diện. Nhiên cũng tự hỏi tại sao mình không có lấy một lần để dứt khoát tất cả. Trọng cười:

- Cô lúc nào cũng như một diễn viên trên sân khấu nói những lời do một thằng khùng viết!

Nhiên sa sầm nét mặt:

- Anh cho là em sống giả tạo chắc?

- Cô đừng vội nổi khùng với anh. Câu đó, cô nên hỏi lại chính cô thì hơn. Tôi lâu nay sống xa cô, làm sao biết có cái gì trong cái đầu khùng khùng của cô?

Nhiên chua xót nghĩ thầm: ‘‘chính đó là điều làm chúng ta xa nhau hơn, em, con người luôn luôn bị canh giữ, nếu không muốn dùng chữ ‘‘bi coi sóc’’, còn anh, con người của tự do, của vẫy vùng…’’ Tiếng Trọng đượm buồn, nghe xa như tiếng sóng vỗ:

- Những điều cô viết cho anh, anh muốn nói những lá thự cô viết cho anh những lúc về sau này, mỗi lần đọc là một lần đầu óc anh phải làm việc nhiều hơn. Anh không biết có phải vì mỗi ngày cô chịu ảnh hưởng sâu xa của sách vở? Hay thực ra chính vì anh chung đụng quá nhiều với thực tế, với những thân thể con người quằn quại, đau đớn vì những vết thương do chiến tranh gây ra, đòi hỏi những cứu cấp cấp thời hơn sự suy nghĩ về thân phận của nó. Anh không biết phải viết trả lời cô những gì, phần quá bận rộn, phần nhiều lúc anh có ý nghĩ chúng mình hình như đã không cùng một ngôn ngữ. Anh nhớ ngày xưa mới làm quen với у khoa, anh thường tạo cho mình những cơ hội để mình có dịp suy nghĩ về thân phận con người. Chẳng hạn như, dạo còn học ở năm thứ nhất, anh đâu đã được tiếp xúc với các tử thi dùng trong việc mổ xẻ. Nhưng anh thường mượn cái danh nghĩa sinh viên у khoa để vào thăm cơ thể học viện để nhìn hàng dẫy những xác chết vô thừa nhận ngâm trong các bể chứa chất formol, để suy nghĩ về đời người, hoặc vào nhà thương nhìn những người bị bịnh nặng hoặc tai nạn nào khác... Bây giờ ra hành nghề, mình không còn thì giờ để suy nghĩ viễn vông nữa. Vấn đề hệ trọng là làm sao phải hành động cho mau để cứu sống các thương binh.

Trọng chợt ngừng nói, cười thành tiếng:

- Đặc biệt với cô hôm nay, anh mới lý sự như vậy. Hôm qua anh thấy cô cười khi thấy trên đầu giường anh một chồng sách kiếm hiệp. Cô có hỏi anh, anh mà cũng đọc cái này cơ à. Cô thấy đấy, nhiều lúc anh còn muốn tránh suy nghĩ như tránh một thứ vi trùng nguy hiểm vậy. Cô có thể thấy là anh khác xa với thằng Trọng dạo còn là sinh viên. Nhiên cười vẻ tính quái:

- Em biết. Chẳng những khác xa mà còn khác xa lắm nữa ấy chứ! Nguyên cái vu cô nào ở đây cũng biết anh thì anh đâu phải của vừa!

Trọng cười:

- Thực ra, anh cũng chẳng quá lắm đâu, cô đừng ngại...!

- Em đâu có ngại cho anh. Đặc quyền của con trai mà!...

- Cô có vẻ chua chát rồi đấy.

- Chua chát hay không, cũng thế mà thôi.

Một sự im lặng rơi xuống giữa hai anh em. Nhiên cầm cuốn sách, lật lật vài trang rồi đóng lại. Trọng ngã lưng ra ghế, phóng mắt ra khơi. Anh thấy những gì vừa nói với Nhiên chính là một xác định cho những điều bấy lâu anh mơ hồ cảm thấy trong thâm tâm mà chưa có dịp thành hình. Quá khứ của thời tôi là sinh viên trở nên xa vời như một thứ đồ cổ đẹp đẽ người ta trưng lên để mà ngắm nghía, Ngay cả về phương diện tình cảm của anh cũng vậy. Tình yêu trở thành một danh từ cổ điển và xác thịt lên ngôi. Đã bao lâu rồi, Trọng không dám dùng đến danh từ ‘‘yêu’’ đó, anh cũng không nhớ. Anh yêu em, em yêu anh, điều đó nói lên được cái gì? Anh không nghĩ là mình coi thường tình yêu. Anh không dám dùng đến chữ ‘ yêu’’, chỉ vì anh chưa thấy mình có thể dùng được chữ đó. Có một cái gi đó anh muốn tôn thờ - một cái gì đó hết sức tuyệt hảo... Chính thế. Khi tôi tuyên bố xác thịt lên ngôi chẳng phải tôi là người tôn thờ xác thịt. Tôi vẫn nghĩ rằng cái gì mà tôi quí báu là cái mà tôi giữ cho riêng tôi, mà tôi ít đem nó ra dùng và khi chết tôi sẽ đem nó theo với tôi - nó, cái mà thực sự chưa bao giờ thành hình cả và tôi thường xuyên vuốt ve nó... ít ra phải cho tôi được thận trọng lấy một lần, dù chỉ là trên cái phương diện dùng hay không dùng một danh từ nào đó.

- Nếu cô là con trai, anh sẽ khuyên cô bỏ vài năm ra sống đời quân ngũ, tự nhiên cô sẽ thấy cô đổi khác ngay.

Nhiên cười nhạt, vẻ lơ đãng. Nếu, nếu, nếu... Có nói đến hàng trăm, ngàn lần như vậy cũng chẳng thay đổi được gì.

- Đôi khi anh tự hỏi giả thử cô cứ chấp nhận cuộc sống như mọi người, như các bạn có chẳng hạn... Cứ tự coi mình như một diễn viên. Giả thử bây giờ hết những vở tuồng có vai trò thích hợp với cô, bắt buộc cô phải nhận một vai trò một người vợ hay một người mẹ chẳng hạn, có phải tỏ ra cô là một diễn viên có tài chứ!...

- Nhưng em không có tài thì sao?

- Này Nhiên, anh hỏi cô, cô chống đối như vậy ích lợi gì cơ chứ?

- Chính em cũng tự hỏi như vậy.

- Vậy thì tại sao không bỏ quách những ỹ nghĩ gàn bướng đó đi có phải đỡ làm nhọc lòng những người có bổn phận phải lo cho cô không?

Nhiên cười nhạt, nghe cổ nghẹn ngào. Bỗng nhiên nàng giận mình, giận Trọng, giận mọi người. Phải chi cho tôi được si mê ai đó một lần và tôi sẽ lấy người ta, rồi xong. Ừ, sao tôi không thể hành động như Thérèse Desqueyroux? Cần gì phải si mê? Lấy chồng để được yên thân. Nhưng Thérèse có thực sự được yên thân? Nàng đã đầu độc chồng không nguyên cớ rõ rệt để rồi kéo dài một cuộc sống hiu quạnh trong một căn phòng nhỏ tại thành phố Paris đầy dẫy những thú vui vật chất mà nàng chẳng thế tham dự. Nàng là hiện thân của xa lạ. của lạnh lẽo - một thứ thần tiên bị đầy ải, không biết cả đến cái vui thú mà một thể xác lành mạnh có thế mang lại trên phương diện tình yêu, không biết cả đến tình yêu, dù là thứ tình yêu dành cho đứa hài nhi tách ra từ chính thân thể mình! Có thể nào như vây được chăng? Nhiên nhớ lại hôm đi xem phim Thérèse Desqueyroux, lúc ra khỏi rạp, nàng bàng hoàng như người mất trí, mặc cho chị Châu kéo đi đâu thì đi. Có một lúc, hai chị em dừng lại trước một cửa tiệm bán vải, chị Châu chỉ trỏ một thứ vải đẹp. Nhiên nhìn, nước mắt ứa ra lúc nào không hay. Nàng giấu mặt vào phía sau tóc chị Châu, chờ cho nước mắt tự ý khô cạn, không cố gắng kềm chế. Chị Châu nhìn nàng, đôi mắt mở to, ngac nhiên cùng độ.

Hai anh em ra xe về câu lạc bộ sĩ quan ăn cơm tối. Nhiên để anh tự ý gọi thức ăn. Ngay cả đến ăn uống, tôi cũng cảm thấy xa lạ. Tôi ăn như thể sống thì phải có ăn, vậy thôi. Ngày mai anh Trọng phải đi, công tác xa, tôi lại trở về Sài-gòn. Anh muốn tôi trở về vì cho là tôi ở một mình ở ngoài này lúc không có anh, bất tiện. ‘‘Nếu cô là con trai...’’. Vẫn cái câu mở đầu ấy! Tôi im lặng, không phản ứng - ‘‘gần như không có phản ứng’’. Tôi ăn uống lơ là, nhìn những người đàn ông xung quanh vừa ăn vừa uống vừa hút thuốc vừa nói chuyện. Tôi cảm thấy như mình đang chờ đợi và tôi biết rằng anh Trọng sắp đề cập đến vấn đề Khoa. Khoa. Khoa, Sao anh không cho tôi được quý anh mãi mãi? Sao anh không cho em được quý anh mãi mãi?

‘‘Anh bắt đầu yêu em trong dịp nghỉ hè năm ngoái tại Đà-lạt chúng mình đã cùng đi chơi chung với cả gia đình. Có nhẽ em đang cười anh: một người như anh mà lại có thể lẩm cẩm và cổ điển đến cái độ phải viết thư tỏ tình như cái việc anh đang làm với em đây? Nhưng Nhiên ạ, anh chân thành nhắc lại một lần nữa: anh yêu em. Ở em không có những lời nói giả tạo trống rỗng như ở những người con gái mà anh đã gặp, ngay cả ở các cô em gái của anh. Mỗi câu em nói ra đều làm anh phải suy nghĩ. Em là một người con gái tế nhị mà anh đã gặp...’’

Nhiên bật cười. Nhiên vẫn cảm thấy những điều đó sáo và rỗng thế nào. Sao mình không tin tưởng được cái gì hết vậy kia? Nhiên cũng phải thú nhận là sau kỳ nghỉ hè năm ấy, nàng thấy mình người đen đi, khoẻ hơn. Nàng vui hoàn toàn trong chuyến đi ấy và nàng nghĩ đến Khoa thật nhiều sau đó. Nhưng vẫn có một bức rào ngăn cách giữa nàng và Khoa - một bức rào mà Nhiên không muốn tìm hiểu.

- Anh thành thật muốn biết vì sao cô không nhận lời Khoa?

- Chính em cũng không rõ lắm. Em chỉ biết là hiện giờ em chưa muốn lấy chồng, chưa thể chấp nhận một người đàn ông nào đi vào đời mình....

Tôi chưa hề nghĩ rằng có thể có một người hiểu mình. Và tôi không muốn thấy mình khổ sở khi sống bên cạnh một người không hiểu mình. Những day dứt của riêng tư đã quá đủ rồi tội gì mà phải làm tội làm tình mình thêm? Tôi cũng biết rằng mình đừng nên đòi hỏi cuộc sống nhiều quá...

- Cô không còn nhỏ nữa. Hãy thử phóng cái nhìn về tương lai một chút.

- Tương lai là cái gì sẽ đến, đương nhiên là phải đến, cứ để nó đến, có được không, anh.

- Cô không được nói bướng như vậy.

- Anh có đang ra lệnh không? Nếu có thì em sẽ im.

- Tôi không muốn bó buộc cô gì hết. Tôi chỉ muốn cô suy nghĩ lại, thế thôi.

Trọng uống một ngụm bia, nhìn Nhiên. Tự nhiên anh thấy thương em lạ lùng. Trong cái đầu nhỏ bé kia, đoàn quân tư tưởng nào đang hoành hành? Từ ngày ra khỏi gia đình, thoát khỏi vòng ảnh hưởng của thầy mẹ, Trọng hầu như không hề nghĩ gì đến hai cô em gái nếu không là chỉ hỏi thăm qua loa về sức khoẻ, việc học hành, làm ăn. Những ngày cơ cực xưa đã xa rồi, bấy giờ cuộc sống gia đình đỡ chật vật hơn. Trọng cứ nghĩ là Châu và Nhiên phải sung sướng và hài lòng lắm. Nhưng anh đâu biết những gì đã đến vây tỏa lấy cuộc sống của Châu và Nhiên, nhất là Nhiên. Mỗi lần về thăm nhà. Trọng cảm thấy một bầu không khí ngột ngạt, khó thở thế nào. Nhưng anh không tìm hiểu nguyên do và cũng chẳng ai nói với anh. Có lẽ chính những người trong nhà cũng không ý thức được những gì đang diễn ra ngấm ngầm giữa họ và trong họ...

Trọng đẩy chai bia về phía Nhiên

- Cô bỏ nước ngọt, uống cái này. Say thử lấy một lần trước khi rời đây xem sao?

Nhiên ngước nhìn anh một thoáng ngạc nhiên rồi cười nhẹ, rót bia ra lỵ. Mùi nồng của bia bốc lên mũi, chất say của bia ngấm vào cơ thể. Mặt Nhiên đỏ bừng. Tâm tư ngất ngây. Nhiên đi chân đất trên cát ngướt mắt nhìn về biển cả trong đêm tối. Một vài ngôi sao trên nền trời đen chẳng làm bóng tối bớt dầy hơn, Nhiên tưởng tượng đến những sinh vật sinh sống dưới lòng biển, thốt nhiên rùng mình và thấy mình quá nhỏ bé đến lạc lõng

bơ vơ…

Và thế là chị Châu đi lấy chồng. Anh Trọng vẫn nay đây mai đó với cuộc sống phóng khoáng, đặc ân của con trai. Còn lại Nhiên, Nhiên tự hỏi mình thế này đến bao giờ? Nhiên có cảm tưởng mình như một loài chim trên cát. Chim thì thường ở với cỏ cây chứ. Nhưng con chim Nhiên đã quên màu xanh của lá để có thể tìm đường về với cây. Nó đang ngóng ra bể, tìm kiếm dáo dác và ngóng đợi...

(12 -1966)

Theo Chân Mây I

Vũ bảo là có cảm tưởng là tôi yêu Vũ? Vũ nhầm rồi. Vũ cho rằng vì tôi đã rủ Vũ ra miền biển sống vài ngày nên Vũ cho là tôi yêu Vũ? Không đúng? Vì việc tôi bằng lòng để Vũ vuốt ve tôi đêm đầu tiên và nhận lời ngủ với Vũ đêm thứ hai? Vũ nói đúng thế? Tôi vẫn nghĩ rằng tâm hồn Vũ đôi lúc còn thánh thiện quá, nên chẳng hoài nghi và có phần thiếu tâm lý nữa. Khoan, xin Vũ đừng ngắt lời tôi. Tôi biết Vũ không bằng lòng về nhận xét đó của tôi về Vũ. Nhưng Vũ cứ để tôi nói đến những ý nghĩ của tôi đã. Vũ đồng ý?

Sự thực tôi không định cho Vũ biết rõ những ý nghĩ của tôi làm gì, như Vũ vẫn thường trách tôi quá khép kín như con ốc khép mình trong cái vỏ của nó. Kể về mình vẫn làm tôi khó chiu, nhưng không vì thế mà tôi thiếu chân thành nếu vì một lý do gì đó tôi phải nói về mình. Bởi Vũ đã hiểu nhầm như vậy nên tôi thấy cần phải ‘‘tố cáo’’ với Vũ về con người thật của tôi.

Lý do thứ nhất, Vũ có thể hiểu dễ dàng. Tôi là người, một người cô độc, cô độc ngay cả đối với những ý nghĩ mâu thuẫn của mình. Trong lúc cô độc, người ta thường khao khát, đôi khi cũng không ý thức là mình khao khát, thèm muốn nữa. Đêm thứ hai nằm với anh, tôi nhận là mình cảm thấy thèm muốn. Sao không chứ? Anh đã thỏa mãn tôi. Xin lỗi anh. Anh không cho tôi là sỗ sàng? Sự thực đối với tôi, sự việc ấy khá tự nhiên. Tôi ít gần đàn ông. Nhưng tôi yêu con người nên tôi yêu những gì gọi là tự nhiên của con người, như những đòi hỏi сủа nó chẳng hạn. Tôi nhớ một nhà văn nào đó, người Ý thì phải, đã coi động tác yêu đương là một việc làm rất người, không có tuổi. Có thể anh không cùng nghĩ như tôi, cũng như sẽ có rất nhiều người quan niệm khác tôi. Nhưng anh ạ, tại sao chúng ta phải hổ thẹn khi đề cập đến việc ấy chứ? Tôi cho rằng phần lớn chúng ta đã bị thành kiến nhiễm độc rồi. Thật rạ, việc yêu đương nào phải là một tội lỗi. Tôi cho rằng chỉ có những người biết yêu con người, như những nhà văn yêu thương và nâng niu những nhân vật của mình, mới hiểu được ý nghĩa sâu xa của sự thụ hưởng này.

Nhưng tôi đã dong dài quá phải không? Tóm lại, khi gần gũi với anh, nhất là trong lúc cô độc và bị những ý nghĩ mâu thuẫn dày vò, tôi đã trao thân cho anh và ý thức việc làm của mình. Tội không hối hận, không xấu hổ về việc làm ấy.

Lý do thứ hai, xin anh đừng giận nếu tôi nói thật. Anh bằng lòng? Vậy tôi xin kễ. Cùng với sự thánh thiện đến ngây thơ đáng mến của ạnh, tâm hồn anh lại chứạ chất những khúc mắc kỳ lạ đã lôi cuốn tội muốn có một cái nhìn gần gũi, thân mật hơn. Tôi tìm hiểu anh, để một phần thỏa mãn lòng ưa chuộng những tâm hồn không bình thường, và cũng là để sửa soạn cho một nhân vật trong tương lai. Anh không ngắt lời tôi và cũng không giận tôi, tôi thành thật cảm ơn anh. Và tôi xin tiếp tục.

Tôi chưa nói với anh là tôi có ý định viết văn nhỉ? Chưa? Tôi ít nói điều đó với ai vì đôi khi mình cũng sinh hoài nghi cái khả năng của mình chứ.

Thực ra từ ngày quen với anh, những gì anh biết về tôi chỉ là do sự phỏng đoán của ạnh. Có, khi sai, có khi đúng. Cả đúng lẫn sạị, tôi đều im lặng, phần vì lười viết thư trả lời, phần vì tôi sợ phơi trần mình ra trước mắt kẻ khác. Nhưng không lúc nào tôi không lắng nghe anh nói. Anh có tin là mỗi một lá thư anh gửi cho tôi, dạo anh còn theo học khóa huấn luyện ở Rạch Dừa, tôi đều đọc đi đọc lại nhiều lần và cất làm tài liệu? (Có một điều phiền là nhiều khi anh đoán về tôi bậy quá, như việc anh bảo tôi có ‘‘một tâm hồn muốn nổi loạn để kiểm soát vũ trụ’’. Tôi cứ những muốn cải chính lời phỏng đoán này nhưng lại thôi. Tiện đây tôi cũng muốn nói rõ với anh sự thực tôi không định kiểm soát cái gì cả, không định kiểm soát ai cả. Tôi nhớ một câu đọc được trong Kinh Thánh: ‘‘Điều gì mình không muốn kẻ khác làm cho mình thì đừng làm điều ấy cho kẻ khác.’’ Tôi không muốn ai kiểm soát tôi hết. Cũng như không hề có tham vọng kiểm soát ai hết. Huống hồ là vũ trụ. Đôi khi tôi nghĩ rằng mình tự do trong hư vô...)

Vâng, tôi có ý định viết văn. Nói ra điều ấy tôi không khỏi nhột nhạt thế nào. Nhưng, sự thực, đối với tôi, viết là một cách biểu lộ lòng yêu mến con người với những hoạt động, nhất là những ước vọng sâu xa của nó. Tôi không có tham vọng gì trong việc viết cả. Thú thật với anh tôi viết cho tôi. Tôi không quan tâm đến điều gì hết ngoài sự thỏa mãn cho chính mình.

Tôi yêu con người từ khi biết nhận xét và ngạc nhiên về sự hiện hữu của nó qua bản thân tôi, qua các bạn tôi. Khỏi phải nói rằng cái con người đó còn mang trong nó những băn khoăn suy tư thắc mắc về cái thân phận của mình. Tôi dành sự chú ý đặc biệt cho những tâm hồn khác thường ấy. Mà anh là một.

Anh vẫn nghe tôi nói tiếp đấy chứ? Tôi không muốn giấu anh nữa về những gì tôi đã nghĩ về anh, từ ngày quen anh đến những lúc về sau này. Anh có bất mãn về thái độ đã coi anh như một nhân vật của tôi và coi đó là một sự thiếu thành thật, một thái độ ‘‘phản trắc’’ trong sự giao thiệp của chúng mình, tôi cũng đành chịu. Nhưng tôi biết tính anh. Tâm hồn anh tuy chứa đây băn khoăn thắc mắc nhưng lại không bị vẩn đục vì những nỗi bi quan yếm thế trước cuộc sống, Và tôi tin là anh không giận tôi. Sở dĩ tôi phải nói trước như vậy, bởi vì tôi đã từng có những người bạn ‘‘sợ’’ tôi ‘‘biết’’ về họ và đem biến họ thành một nhân vật nào đó của tôi - họ không biết rằng tôi cũng còn yêu họ nữa? - ; đến nỗi rằng họ ghét tôi như thể tôi là một thứ phù thủy có phép biến đổi họ khi nào muốn, không bằng. Nhưng chính cái khía cạnh tâm lý đó của họ đã làm tôi thích thú. Bởi vì nó đã nói lên được phần nào cá tính con người của họ.

Nói cho có vẻ ‘‘rầm rộ’’ vậy thôi, chứ sự thật đâu có ghê gớm như vậy hả anh. Như tôi đã nói với anh, tôi tìm hiểu về con người và mới có ý định viết về nó thôi. Nếu trong thái độ tìm hiểu của tôi có đôi chút gì ‘‘ trịch thượng’’, thì nào phải tôi muốn làm ra như vậy. Đó chẳng qua là sự nhận xét đòi hỏi một cái nhìn bao quát, cũng như mình chỉ có thể nhìn thấy toàn diện một thành phố khi đứng trên một mô đất cao. Sống gần và hòa để lấy chi tiết, rồi lùi ra xa và cao để lấy toàn diện và bao quát.

Thực ra, anh ạ, trong thế giới văn chương tôi mời chỉ là môt kẻ tập sự, một thứ tập sư nhiều khi đã muốn bẻ bút để quay về cuộc sống bình thường như mọi người không ưa thích văn chương và đối với họ văn chương là một món vô bổ và vô ích. Mặc dù đã định gác bút nhiều lần, nhưng có những lúc lòng yêu mến con người từ những cao vọng đến những ham muốn tầm thường nhất của nó, xâu xé tôi đến cùng tận của tâm hồn và như chẳng chịu buông tha trả tôi về với nhịp sống bình lặng như của mọi người. Rồi một buổi nào đó, ngồi tư lự bên ly cà-phê trong một quán nước, quan sát những bộ mặt, những cử chỉ của những người xung quanh, tôi chợt thấy cái hương vị đậm đà của cuộc đời tràn đầy tâm tư và thấm đượm lên đầu lưỡi một vị kỳ diệu. Những lúc ấy, tôi thèm cầm đến cây bút vô kể. Ngươi tôi rúm lại. (hay tôi có cảm tưởng là người mình rút lại) trong một niềm khoái lạc vô bờ, tay tôi muốn được bóp chặt vào một vật gì để biểu lộ tình yêu thương ứ đầy cho cuộc sống ấy. Tôi trở về hôm ấy trong lòng hớn hở như vừa được tiêm thuốc hồi sinh. Lazarus sống lại chưa chắc đã cảm thấy thú vị như tôi. Và tôi tự hứa sẽ viết. Sẽ viết Đã nhiều lần tôi tự nhủ với mình như vậy. Sẽ viết. Tôi sẽ viết. Đã nhiều lần tôi thử viết. Rút cục bỏ dở. Tôi đi tìm căn do. Có những lúc người ta bực mình vì phải đi dò dẫm chính mình. Đôi khi tôi nghĩ mình không có tài. Nhưng tại sao vô cớ, nếu không có tài, tôi lại cứ bị ngộp đi vì cái tình thương dành cho cuộc đời kia? Chắc chắn tình thương đó không để tôi trở thành một bác sĩ đem tình thương và thuốc men hàn gắn những thương đau của nhân loại, vì tôi không ưa khoa học và khó làm quen với bệnh tật. Và cũng chắc chắn không để tôi trở thành một chính trị gia tranh đấu mang lại công bình và no ấm cho con người, vì tôi không có khuynh hưởng chính trị.

Anh ạ, trong khi cái tình thương yêu con người của tôi, nó có một cái gì kỳ diệu lắm. Và tôi muốn viết về những nhận xét của tôi về nó, về cái biến chuyển trong con người, về những niềm hy vọng khát khao, nỗi vui mừng cho đến cả những sự tuyệt vọng, đau khổ, tủi nhuc của nó.

Nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn chưa thực hiện được cái gì. Có thể là vì tôi còn trẻ. Tôi còn ở trong thời gian tập sự. Tôi chưa sống đủ. Và những nhận xét của tôi chưa chín mùi. Một nhà văn đã khuyên tôi đừng vội hái trái xanh vì nó sẽ chát. Tôi chờ đợi bằng cách lao đầu vào cuộc sống. Kể thì đối với người con gái, việc ‘‘săn’’ kinh nghiệm như thế không khỏi bị dị nghị. Nhưng làm thế nào được. Có những cái còn hơn cả những điều dị nghị ấy nữa ấy chứ.

Thực sự thì tôi không muốn thế. Tất cả những gì ở tôi nó có như thế nào, tôi chấp nhận như thế ấy. Tôi không tự tạo. Tất cả chỉ là một sự tình cờ, một lô những tình cờ.

Cố nhiên, trong việc đi ‘‘săn’’ kinh nghiệm, tôi đã phải trả bằng ‘‘giá chợ đen’’. Kinh nghiệm không bày bán ở chợ công khai bao giờ.

Anh bảo sao? Méo mó? Đôi khi cũng méo mó chứ! Tránh sao được, hả anh? Bởi quen quan sát phân tích sự kiện và sự việc, có những lúc mình bỗng dưng không hiểu gì cả. Chẳng hạn như có những sự việc thật giản dị, nhưng vì thói quen phân tích, tôi lại làm chúng trở nên phức tạp hơn.

Anh hỏi rằng có bao giờ tôi cảm thấy việc làm của tôi - sự quan sát và phân tích cuộc sống - là vô ích không? Tất nhiên là có. Chẳng những thế, nhiều khi tôi bỗng có cảm tưởng là mình làm những việc thừa nữa. Thay vì hưởng cuộc sống như mọi người, thì tôi lại tự mua lấy những vất vả khổ sở trong việc đi phân tích nó. Tâm hồn tôi luôn luôn bị xáo trộn vì những biến сố từ ngoài được thu nhận vào một cách xô bồ, đến độ nhiều khi tôi không biết phải ghi nhận cái nào trước, cái nào sau. Tôi viết một cách chật vật, đến nỗi rằng nhiều khi phải tự hỏi mình có thật muốn viết và có tài viết không? Hay là đây chỉ là một cuộc chạy bắt ảo ảnh? Tuy nhiên một đôi khi tôi cũng hoàn thành được cái gì. Nếu không vì cái thú - thú quan sát, thú phân tích và cũng phải kể đến cái thú... sống một cuộc sống nhiều xáo trộn - có lẽ tôi đã chẳng bám riết lấy cái ý định viết văn này làm gì. ích gì đâu khi mà danh vọng đối với mình vô nghĩa như những công việc của mình làm. Xin lỗi anh nếu những lời tôi nói với anh có vẻ vô nghĩa … À, vâng, tôi vẫn nghĩ rằng cái đó - cái nghĩa lý của cuộc hiện sinh của chúng ta - vẫn là thắc mắc then chốt của anh- Không, tôi quên thế nào được điều đó, bởi chính điều đó ở anh đã chẳng lôi kéo sự chú ý của tôi vệ anh là gì?...

Chắc anh không thể ngờ là anh đã ám ảnh tâm trí của tôi như thế nào, cùng với những suy tư thắc mắc của anh trước cuộc sống

Anh còn nhớ lần đầu tiên mình gặp nhau ở hành lang trường L.? có nhẽ anh còn nhớ điều đó hơn cả tôi ấy chứ.

Dạo ấy, dưới mắt tôi, anh không có gì đặc biệt cả, nếu không nói trái lại, Người anh thấp bé. Tôi còn nhớ anh hay mặc chiếc áo sơ-mi màu nâu bằng hàng, chân đôi khi đi dép, nhưng cũng có lúc đi giầy và nếu có đi giầy thì anh lại chẳng chịu đi bít-tất. Anh cũng khá đẹp trai tuy đôi lông mày của anh không làm tôi ưa lắm vì mỗi khi anh nhìn anh nhướng lên, anh nhướng lên trông tếu thế nào ấy. Tôi còn nhớ hôm đầu tiên ngồi đối diện với tôi trong giảng đường, anh chả hỏi tôi cái gì ngoài câu: ‘‘Chị mua cái classeur này ở đâu đấy?’’ Tôi không biết anh hỏi để làm quen hay vì không biết thật. Tôi nghĩ rằng cả hai vì trông anh có vẻ như chẳng biết gì. Có thể đó cũng là một chiến thuật riêng của anh. Nhưng tôi nghi ngờ điều sau này.

Nửa niên học, anh bỏ đi ghi tên vào lớp huấn luyện cảnh sát. Hôm ấy anh đến L. gặp tôi và cho tôi mượn một cuốn sách học mà tôi thiếu. Anh có ý định nhờ tôi lãnh bài hộ. Nhưng nếu chỉ có thế thôi thì tôi chẳng ngạc nhiên về anh làm gì cho đến ngày anh đến đòi lại cuốn sách đã cho tôi mượn sau khi tôi đã thi xong. Đột nhiên anh nhờ tôi một việc, một việc nhỏ nhặt nhưng làm tôi ngạc nhiên về anh không ít. Tôi tự hỏi không biết nên xếp anh vào loại người nào, ngây thơ hay vô vị lợi? Anh nói anh còn dư vài tập bài học. Anh định cho tôi mượn hết nhưng tôi lại không cần vì đã có chúng. Anh bèn viết một mảnh giấy đại ý nói ai thiếu cours thì anh cho mượn và định đem dán ở cửa văn phòng nhà trường. Anh định nhờ tôi giữ tập cours ấy và liên lạc thay anh với người nào muốn mượn chúng. Tôi nhìn anh ngạc nhiên:

- Sao anh lạ thế? Cho mượn bài bất kỳ là ai như vậy, lạc mất bài của mình thì khi cần học, anh sẽ lấy gì mà học?

Anh cười:

- Trong khi có nhiều người không có cours học mà mình không học thì cho mượn giữ làm gì?

Tôi lắc đầu cười:

- Quả thực tôi chưa gặp ai như anh. Cho bạn mình mượn sách mượn vở học thì đi một nhẽ đi rồi. Đằng này anh... Tôi thú thật là mình không được rộng rãi như anh. Tôi ích kỷ hơn anh nhiều.

Tôi còn nhớ trước khi từ giã L., anh đã lãnh thuyết trình một đề tài do giáo sư M. cho. Hôm anh thuyết trình tôi cũng có đi dự. Qua máy khuếch âm tôi nhận rõ hơn cái giọng nói của anh. Giọng nói của anh không có tính cách hùng biện, hơi uể oải nhưng tha thiết và đầy trẻ -thơ- tính,.. Tóm lại, tôi có cảm tưởng như, qua giọng nói và cách thức diễn tả của anh, tôi không tìm thấy một vết tích của cái tâm tư sôi sục và luôn luôn đặt dấu hỏi của anh. Nhìn chung anh có vẻ hồn nhiên hơn là băn khoăn, vui vẻ hơn là hằn học. Những lúc về sau này, được biết anh rõ hơn, tôi nhận thấy anh buồn nhưng không bi quan, bất mãn nhưng không hằn học. Cũng như tôi không thể tưởng tượng đôi lông mày lúc nào cũng nhướng lên của anh lại có thể dúm dó vì một cơn giận dữ nào đó.

Trở lại khoảng thời gian anh sửa soạn từ giã L. Hôm ấy, sau khi thuyết trình xong, anh đến tìm tôi. Trực giác đàn bà cho tôi biết tình cảm anh đang hướng về tôi. Anh cho tôi biết ngày mai anh lên đường rồi. Anh ngỏ ý xin đưa tôi về cho biết nhà, nhưng tôi từ chối. Tôi không ưa lắm những sự giao thiệp vì bản tính thích cô độc. Nhưng chính tôi lại muốn anh biên thư cho tôi. Bởi đối với tôi, mỗi một người bạn cùng học bỏ đi đều không ít thì nhiều gây cho tôi một mối xúc động. Sự xúc động trước một cuộc sống mới mở ra cho họ; và chính tôi cũng thèm khát cái kinh nghiệm ấy vô cùng. Đã hơn một lần tôi muốn được làm con trai như các anh để ‘‘tận dụng’’ cuộc sống của mình. Bởi đối với tôi, không gì thú vị bằng sự hiểu biết mọi cuộc đời, không gì ý nghĩa hơn là sự triệt để khai thác mọi cảm xúc của mình trước cuộc sống. Tôi ghét sự tù túng. Tôi muốn thực hiện câu ‘‘La vie n’est qu’un instrument de la connaissance’’ của Nietzsche. Mặc dù biết rằng biết nhiều sẽ không khỏi làm mình mệt mỏi, chán chường đôi khi...

Rồi anh đi. Và tôi ở lại.

Bẵng đi tới hai tháng tôi không được thư từ gì của anh. Nhưng một hôm anh về chơi và tôi được biết sở dĩ anh không viết thư cho tôi vì do dự, phần sợ tôi không đọc hoặc gia đình sẽ kiểm soát làm rầy rà. Tôi cười nói anh cứ yên trí, tôi không thiếu lịch sự đến thế đâu, và ở gia đình tôi không có sự kiểm duyệt thư từ. Và tôi thấy mình mong đợi thư anh.

Ngay trong tuần đó, tôi nhận được lá thư đầu tiên của anh. Trong đó anh tự giới thiệu về anh: một con người rất ghê sợ sự tầm thường và luôn luôn bất mãn về mình, về người. Anh còn cho tôi biết sơ qua về kiến thức của anh,, những tác giả anh đã đọc...

Qua lá thư đầu tiên của anh. rõ ràng là anh có thiện chí muốn trao đổi kiến thức văn hóa với tôi, dù là chỉ mới biết về tôi qua một người bạn gái học cùng lớp cũng chỉ hiểu biết về tôị một cách rất giới hạn. Dạo ấy tôi đang gặp một chuyện buồn về tình yêu. Xin anh đừng vội cười tôi vì tuổi trẻ chỉ có hai cái đáng buồn: tình yêu và tương lai; và cũng chỉ có hai cái đó ìàm cho người ta thấy mình còn trẻ. Tôi yêu một người con trai và tôi đã ngu xuẩn khi cố gắng bỏ quên mình để chạy theo mẫu người của người mình yêu, một con người mực thước và quân bình. Kết quả: tôi lạc mất tôi.

Kích thước mới của người yêu chật hẹp quá đối với tôi. Tôi lại tự ý chối bỏ kích thước cũ của mình nên tôi sống trong tình trạng cô độc khắc khoải. Một người bạn thân đã gọi đó là thái độ tình-nguyện vào ngồi-trong nhà-tù-của kẻ khác. Tôi hiểu rằng mình đã đi sai đường. Và, anh ạ, anh không thể hiểu được rằng khi nhất quyết lột bỏ cái bộ áo đi mượn kia, tôi sung sướng tìm lại đựợc tôi, tôi sung sướng là sự khắc khoải đã giúp tôi khỏi lạc mất tôi… Từ đó tôi sợ mọi quen biết, giao dịch.

Tôi tiếp được hai lá thư kế tiếp của anh với những lời phỏng đoán về tôi. Tôi thích thú theo dõi anh. Anh bảo rằng tôi đã đối tượng-hóa anh? Anh nói quá đấy chứ. Quan sát anh nói riêng, và con người nói chung, là một cái thú của tôi. Không gì hơn là tạo cho mình một cái thú trong cuộc sống, anh ạ. Cái thú của tôi đã giúp tôi có cái ý thức về sự liên quan tương trợ giữa tôi và những người chung quanh. Tôi hiểu tôi hơn: mặc dù ưa thích cô độc, nhưng tôi tự biết không thể sống xa mọi người. Tôi yêu con người và tha thiết với những biến chuyển trong nó. Không, xin anh đừng dùng danh từ ‘‘lớn’’ quá như vậy. Xin anh đừng nói rằng tôi bao dung. Có thể trong cách nhìn đời của tôi không có cái khe khắt của một nhà luân lý thật đấy, nhưng tôi không hoàn toàn bao dung như anh tưởng đâu. Tôi ích kỷ hơn anh nghĩ kia. Tôi vẫn nghĩ rằng sự tha thiết của tôi đối với sự hiện hữu kỳ diệu của con người trên cõi đời này không cùng một tính chất với sự tha thiết của những nữ tu trong một cô nhi viện, của những vị bác sĩ v..v... Tôi không giải thích được với anh cái điều khác biệt mà tôi cảm thấy ấy. Tôi chỉ biết rằng không baọ giờ tôi muốn ngừng sự quan sát và tìm hiểu nó, tìm hiểu con người... Ồ, tôi nói về tôi nhiều quá, phải không?

Anh nên ngăn cản tôi đi chứ? Đôi lúc tôi có vẻ cuồng nhiệt và hình như tội say mê cả chính tôi mặc dù cũng chính tôi lại ghét tôi nhiều lần một cách cẩn thận.

Theo Chân Mây I (tt)

Một lần, tôi ngỏ ý định muốn tìm một chân kèm trẻ cho một gia đình nào đó đi nghỉ mát ở miền biển để có thể sống ở miền biển một thời gian nhân dịp hè, điều mà tôi vẫn thèm khát. Nhiều người bảo rằng đời sống ở biển tẻ nhạt quá. Riêng đối với tôi, tôi lại thích sự tẻ nhạt ấy- Tôi thích những bãi cát chạy dài hoang vắng. Tôi yêu những buổi tối nằm dài trên bãi, ngắm sao trên trời, nghe sóng vỗ ngoài xa và thả lỏng tâm tư vào cõi hư không. Mới chỉ tưởng tượng đến điều đó thôi mà tôi đã thấy lòng êm ả hẳn đi. Anh nói không thích ngắm sao? Không thích nhìn biển? Tôi cũng nhớ anh đã viết cho tôi như vậy- Anh cũng khác tôi nhỉ? Tại sao thế? Vì cả hai việc đó cùng gợi lên trong anh cái ý tưởng về sự giới hạn của con người anh? Ngắm sao làm anh thấy mình tầm thường ti tiện? Tôi thì tôi nghĩ ngược hẳn với anh. Anh ghét đường chân trời của biển vì nó làm cho tầm mắt anh bị hạn hẹp. Còn tôi, tôi bằng lòng về sự có mặt của nó vì nó cho mắt tôi đựợc nghỉ ngơi và một điều thú vị cho trí tựởng tượng của tôi là: bên kia đường chân trời kia có rất nhiều cái lạ… Anh ghét ngắm sao và không chịu nổi sự phải thấy cái tầm thường ở trong anh, và ở cái cuộc sống xung quanh anh. Còn tôi, tôi tìm thấy sự thoải mái trong khi ngắm sao. Tôi nghĩ rằng trên đời này không có gì nhẹ nhàng và đáng ỵêu bằng các vì sao. Chắc anh cũng đã đọc bài ‘‘Les étoiles’’ của Alphonse Daudet? Tuyệt phải không? Nhưng anh vẫn sợ ngắm sao. Thoạt tiên tôi nghĩ là anh hợm mình khi nói rằng anh ghê sợ sự tầm thường. Tôi cho rằng anh thiếu thành thật, thích ‘‘làm ra vẻ’’ và tự cao tự đại... Dĩ nhiên đó là ý nghĩ dạo mới quen biết anh.

Khi tôi ngỏ ý định muốn tìm một chân kèm trẻ như vậy, anh không ngần ngại giới thiệu tôi với bà mẹ đỡ đầu của anh. Bà ta đến tìm tôi và đưa ra điều kiện. Nhưng khi nghe nói phải kèm cả một đứa học đệ tứ đang sửa soạn thi, tôi chùn lại. Thế là tôi bỏ lỡ dịp đi nghỉ hè ấy, bỏ lỡ dịp sống với biển và bỏ lở dịp gần gũi với anh từ Rạch Dừa về Vũng Tàu mỗi ngày chủ nhật để có dịp thảo luận với anh về cuộc sống mà tôi rất thích. Tôi bậy quá phải không? Anh có bất mãn về tôi không? Tôi không biết nếu anh giận tôi thì cho đến bao giờ anh mới hết giận được? May mà anh không ‘‘sợ’’ tôi như vài người bạn mà tôi đã kể với anh. Mặc dù tôi thích thấy nhân vật của tôi băn khoăn, khắc khoải, đau khổ thật đấy, nhưng tôi cũng còn thích rằng nó đừng tuyệt vọng, hay nếu có thì đó chỉ là mối tuyệt vọng về một sự đỗ vỡ trong hiện tại, một mối tuyệt vọng nhất thời…

Anh vẫn nghe tôi nói đấy chứ? Tôi biết rằng sự kể lể của tôi hôm nay đã đi ra ngoài cái thông lệ khép kín thường ngày của tôi. Anh ngạc nhiên là phải. Từ người quan sát anh tôi bỗng trở thành kẻ bi quan sát bởi anh. Buồn cười nhỉ? Nhưng ít ra điều này cũng gỡ tôi ra được phần nào cái mặc cảm ‘‘ thiếu thành thật’’ của mình trong sự giao thiệp với anh. Cũng tại anh cứ khăng khăng một mực là tôi yêu anh, yêu bằng tình yêu của một đứa con gái cho một thằng con trai. Bởi vậy tôi mới phải nói lên cái ý định của tôi. Tôi ‘‘tố cáo’’ tôi trước anh.

Tôi kể đến đâu rồi nhỉ? À, phải rồi, đến chỗ sau khi tôi bỏ lỡ dịp làm préceptrice cho mấy đứa con của bà mẹ đỡ đầu của anh trong thời gian nghỉ hè tại Vũng Tàu.

Sau đó anh vẫn tiếp tục gửi thư cho tôi. Những lời lẽ trong những lá thư kế tiếp gửi về dần trở nên thân mật. Tôi cứ để anh tiến xa hơn mà không tỏ ý ngăn cản lại. Bởi chính trong lúc để anh tiến xa như vậy, tôi được dịp quan sát anh gần hơn. Về cảm tình của tôi đối với anh ư? Dĩ nhiên là tôi cũng quý mến anh chứ. Nhưng yêu thì chưa bao giờ... Đôi khi tôi cũng tự hỏi là liệu mình còn có thể yêu được ai?

Sau lần làm préceptrice hụt đó tôi tiếp tục những ngày nghỉ buồn nản trong cái thành phố đang lên cơn sốt vì một cuộc khủng hoảng tôn giáo mang màu sắc chính tri. Đen tối. Tôi không còn thì giờ nào nghĩ đến anh với những băn khoăn của anh. Chẳng phải vì tôi bận tham gia tranh đấu như bao nhiêu những người bạn của tôi đang làm. Tôi tự tách ra khỏi cuộc tranh đấu, vì thực sự không hiểu gì cả. Tôi hoài nghi. Tôi sống trong tình trạng ngơ ngác. Tôi muốn theo gót mọi người và xuống đường. Nhưng tôi vẫn đứng nhìn họ. Tôi bỗng bị ném vào trong một sự cô độc kỳ lạ. Họ hợp ở đâu? Họ biểu tình ở đâu? Họ bãi khóa như thế nào? Tôi hoàn toàn không biết gì cả. Tôi biết rõ là mình không sợ những bắt bớ giam hảm, cầm tù. Nhưng tôi vẫn không xuống đường theo gót họ. Có một lúc tôi nghĩ rằng tại mình suy nghĩ nhiều quá nên không chịu nhìn vấn đề áp bức, khủng bố dưới chính hình thức thật của nó. Có những lúc tôi hoảng sự với ý nghĩ rằng mình hỏng mất rồi vì đã không còn bất mãn, căm thù trước những gì gọi là bất công, có những lúc tôi không hiểu tôi nữa. Trong khi mọi người xuống đường, tôi buồn nản và lang thang và sợ sệt trước sự hư đốn của mình cùng với nỗi cô độc. Chả lẽ bây giờ tôi nhảy vào nắm tay với mọi người, gạt ra ngoài những ý nghĩ mâu thuẫn đang xâu xé tôi - mà làm sao gạt chúng ra cho được?- hành động đó khôi hài quá đi. Đấy, rồi rút cục tôi chẳng làm gì cả...

Tôi bỗng đâm ra thù chính trị vì vậy. Đứng trước những vấn đề chính trị, tôi thấy mình trở thành không ý kiến, vô lập trường, vô nghĩa...

Bởi vậy khi cuộc đảo chính xảy ra, tôi càng day dứt khổ sở và có vẻ thản nhiên trước sự nao nức của mọi người. Tôi không hiểu mình nữa. Hoặc cũng có thể những biến cố tôi tiếp nhận còn quá xô bồ. Tôi nảy ra ý định rời bỏ cái thành phố đang sôi sục và điên cuồng về bộ mặt mới của mình. Từ sau cuộc đảo chính, để tìm đến miền biển, miền của sự trầm lặng muôn đời trước mọi đổi thay của cuộc đời, thiên nhiên, vũ trụ, để ngắm lại những đường chân trời, những vì sao về đêm và để nghe tiếng sóng vỗ mà tôi hằng yêu thích và khao khát. Tôi nghĩ rằng Biển đối với tôi như hình ảnh người Mẹ mà mỗi lần cần sự êm ả, cần sự lắng đọng cho một tâm tư đang sôi sục, tôi thường nghĩ tới, mơ tưởng tới giây phút được ngắm nhìn và chỉ nguyên sự nhìn ngắm ấy thôi, lòng lôi sẽ được xoa dịu lại...

Anh đến vào chính lúc tôi đang cảm thấy cô độc. Tôi cũng cần một người bạn đồng hành. Một người bạn đồng hành và tôi quên hẳn sự coi anh như một nhân vật của mình.

Tôi hỏi anh làm gì trong mấy ngày qua. Anh đáp:

- Bị quân đội cách mạng giam giữ.

- Sao lại...? À, tôi hiểu rồi. Ít ra anh cũng đã giúp việc cho chế độ cũ. Anh không tham gia cuộc biểu tình của sinh viên?

Anh lắc đầu, kể cho tôi biết qua về mấy ngày ạnh bị giam:

- Tôi đang ở trường - như tôi đã nói với chị (tôi nhớ anh còh gọi tôi bằng chị) là sau khóa huấn luyện, tôi còn theo học lớp Tình-báo. Đêm xẩy ra biến cố, bọn này bị quân đội vào lùa hết vào trại giam. Ngày thứ ba tức hôm nay, mới được thả ra và chưa biết người ta sẽ giao cho mình chức vụ gì.

Tôi hỏi anh nghĩ sao về cuộc biến động - một câu hỏi tất nhiên. Anh đã trả lời tôi:

- Khéo rồi cũng như Đại Hàn mất.

Tôi nói và chợt nhận thấy mình cũng có ý kiến:

- Còn tôi, tôi hoài nghi vì chúng ta là một nước chạm tiến, Đảo chính là bệnh kinh niên. (Tôi không giấu gì anh là tôi vừa đọc bản dịch ‘‘ Guồng Máy’’ của Sartre được vài hôm. Ảnh hưởng sách vở là cái bệnh của tụi mình, có phải? Mình muốn có ý kiến trong khi thật sự mình chả có ý nghĩ quái gì cả.)

Tôi và anh nhìn nhau im lặng. Tôi bỗng pha trò.

- Thế ra anh là người của chế độ cũ đấy nhỉ? Bỗng dưng lại làm một thứ ‘‘tôi trung bất đắc dĩ’’!

Anh cười, khẽ nhún vai, hai bàn tay xoè ra, và đôi lông mày của anh nhướng lên. Tôi không biết anh đang nghĩ gì lúc ấy. Nhưng tôi thấy thú anh. Tôi đưa ý định rủ anh cùng ra Cấp nằm vài hôm. Anh nhìn tôi, ngạc nhiên, có lẽ anh không ngờ rằng tôi lại đưa ra đề nghị đột ngột như thế, phải không? Nhưng anh lại nhận lời sau một thoáng giây ngạc nhiên, với một vẻ vội vàng. Tôi thầm nghĩ: có gì đâu. Có gì là quan trọng đâu. ‘‘ Và bỗng dưng tôi ghét cái vẻ ngạc nhiên ấy của anh.

Những ngày ở Cấp đối với anh có một ý nghĩa khác và đối với tôi lại có một ý nghĩa khác. Nhưng chúng mình, dầu sao, cũng mang cùng một tâm trạng lẩn trốn, lẩn trốn đối với cái rạo rực ở đằng sau, của đám người cuồng nhiệt kia mà chúng mình không một mảy may tham dự ngoài một cảm giác chua chát thế nào. Cả tôi lẫn anh cùng không hiểu vì sao, hay đúng hơn không muốn hiểu vì sao, vì cùng một lúc, mình có thể đưa ra nhiều lý do khiến mình không cùng tham dự với mọi người. Đôi khi tôi tự hỏi rằng chúng mình lẫn trốn như vậy có hèn nhát? Nhưng tôi đi đến kết luận chúng mình đâu có bị bắt buộc phải như mọi người. Mỗi người có quyền có một phản ứng riêng, trước một biến cố. Ý thức không phải là một sự hèn nhát. Nhưng thôi, nếu cứ loanh quanh trong vấn đề này thì ngàn đời mình vẫn chẳng đi đến một kết luận nào cả, nếu một khi còn sống và còn tiếp tục suy nghĩ và phải tiếp nhân những biến cố xung quanh, không, ảnh hưởng của những biến cố xung quanh thì đúng hơn.

Thành phố Vũng Tàu những ngày ấy vắng kỳ lạ. Nếu không có âm thanh của chiếc haut-parleur ở bãi trước luôn thông tin về những gì xảy ra từ sau biến cố ở Sài-gòn, nào tuyên ngôn, nào thông, cáo, nào danh sách những người tặng quà các chiến sĩ cách mạng..v.v… nếu không có lệnh giới, nghiêm từ tám giờ tối ở cái thành phố nhỏ bé ấy, thì có thể nói rằng cái mà người ta gọi là cách mạng chẳng hề làm cho bộ mặt của thành phố thay đổi. Rút cục, tôi với anh, hai kẻ trốn chạy đã bị đuổi và tóm được…

Trên bãi, hơn chục người ngoại quốc, lác đác một hai bộ mặt Sài-gòn, còn thì toàn là dân sinh sống ở đấy cả. Tôi hơi cảm thấy lạc lõng. Thêm anh vào làm tôi cảm thấy lạc lõng hơn. Anh ngạc nhiên về điều đó? Giản dị mà. Tôi ghét sự đồng lõa. Mà chúng mình là hai kẻ đồng lõa. Bởi vậy, tôi cảm thấy bực bội. Những gì anh suy nghĩ, làm sao tôi đoán được. Nhưng nhìn cái vẻ mãn nguyện của anh, tôi không khỏi khó chịu. Nhưng, anh ạ, đôi khi những thành kiến chưa bị tiêu diệt hẳn trong tôi. Tôi sống trong một trạng thái xung đột triền miên: Tôi và sự khe khắt của một ý thức đạo đức, tôi và cái biến cố vừa qua ở Sài-gòn, tôi và... tôi và... Và tôi, và tôi muốn được yên thân một mình vì vậy. Nhưng tôi không đủ can đảm nói thẳng với anh điều đó, tôi cũng không đủ can đảm phân tích tôi đến tận tường nữa và tôi cũng không đủ can đảm chịu đựng sự cô độc sau khi anh đã đi rồi, mặc dù chính tôi lại mong được cô độc. Tôi chỉ có thể im lặng theo anh đi kiếm một cái khách sạn có lối kiến trúc cổ điển mà một lần tình cờ đi sục sạo trong cái thành phố này, anh bắt gặp và thích thú. Anh không nhớ tên đường, chỉ lờ mờ biết rằng tòa nhà ấy nó nằm trên con đường đi ra bãi sau. Cuối cùng chúng mình cũng kiếm ra nó. Nhưng nếu nó đã làm anh chú ý về vẻ cổ điển của nó khi nhìn thoáng qua thì sự thiếu tiện nghi của nó đã làm anh thất vọng. Còn tôi không có ý kiến. Vì đối với tôi, sự quan trọng không phải ở những tiện nghi. Chiếc cầu thang bằng gỗ, sàn gác bằng gỗ, vách cũng bằng gỗ - thứ gỗ lâu đời, ọp ẹp, mối đục lung tung, cả ở một vài bậc thang khiến, nếu không cẩn thận, có thể bị mất thăng bằng hay trượt ngã vì một chỗ mục nào đó.

Người bồi phòng dẫn tôi và anh vào một căn phòng, ngay kế bên cầu thang rồi bỏ xuống. Tôi vất túi hành lý xuống sàn nhà và ngồi phịch xuống giường. Anh đưa mắt nhìn xung quanh rồi ngừng lại ở tôi. Có lẽ anh tưởng tôi thất vọng về cái khách sạn mà anh đã hết sức ca ngợi khi chưa đi sâu vào nó. Có thể tôi cũng hơi thất vọng vì nó không như cái hình ảnh tưởng tượng của tôi có về nó khi nghe anh tả. Nhưng điều đó quá thật chẳng quan trọng gì. Anh nói, vừa với tôi vừa với một mình anh:

- Mình không thể ngờ là nó lại thiếu tiện nghi và tồi tàn đến thế này!

Tôi khẽ nhún vai nói:

- Đi sâu vào bao giờ cũng vậy. Bỏ đi thì mình cũng tầm thường nốt. Vậy hãy chấp nhận. Vả lại cái xung quanh thật sự có qụan trọng gì.

Anh nhìn tôi một lúc lâu. Tôi khẽ nhún vai một lần nữa, cười, bỏ đi ra balcon và bỗng dưng suy nghĩ về những điều vừa nói bởi vì chính tôị cũng không ngờ rằng mình đã nói ra những điều đó. Anh ra đứng cạnh tôi. Tôi chờ đợi anh hỏi một câu hỏi thông thường là tôi có ân hận gì không. Nhưng anh không hỏi gì hết. Có lẽ như vậy lại hay. Dầu sao tôi cũng tự lừa dối rằng anh không thắc mắc về cái điều tôi đang băn khoăn. Tôi sợ việc mình phải nhìn thấy một cách rõ ràng quá sự hiện diện của một ý thức đang-chiếu-vào mình. Anh có thể cho rằng tôi giả dối. Đôi khi sự tự lừa dối là cần thiết, nếu thấy phải tranh thủ lấy đôi phút thoải mải cho tâm hồn. Nhưng có điều chắc chắn rằng lừa dối mình vài lần, mình sẽ có được một thói quen. Nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn tự hỏi rằng có thật anh là một người chưa hề bị thành kiến tiêm nhiễm nên đã chấp nhân việc tôi đi với anh là tự nhiên và rất nhiều sự việc khác anh cũng cho là tự nhiên? Sở dĩ tôi nói rằng ‘‘anh chưa bị thành kiến tiêm nhiễm’’ mà không nói ‘‘anh gạt ra ngoài những thành kiến’’ là vì căn cứ vào cử chỉ và những lời nói của anh, tôi vẫn thấy một tính chất hồn nhiên, ngay cả sự suy tư của anh về cuộc sống vẫn có vẽ thuần khiết khiết thế nào. Tại sao tôi lại mang những ý nghĩ ấy về anh? Tôi chịu không thể giải thích được vì sao? Vì sự tiếp xúc đầu tiên với tâm hồn nhiều tin tưởng ngây thơ và vô vị lợi của anh chăng? Tôi ngờ là thế nhưng cũng không biết đích xác và không dám cả quá quyết. Chỉ biết rằng cái ý nghĩ của tôi về anh nó như thế, không thay đổi. Đáng lẽ rằng sau lần ngủ với anh, ý nghĩ đó phải mất đi, thì trái lại nó được củng cố thêm lên. Kẻ bỉ ổi và đáng giận lại là tôi.

Tôi thay bộ áo dài và khoác bộ đồ đi biển rồi lên nằm dài trên giường.

- Dù sao, khung cảnh xung quanh cũng vẫn đẹp.

Anh ngồi xuống bên tôi, xoay lưng lại phía tôi và cúi xuống lấy mấy cuốn sách mang theo trong túi hành lý ra xếp trên bàn ngủ.

- Nếu không ưng ý, mình có thể rời khỏi đây?

Anh đột ngột quay lại phía tôi hỏi. Tôi nghĩ đến sự di chuyển và cái đám đông ở một khách sạn tiện nghi trong thành phố mà ngại. Tôi nói, ở đây yên tĩnh hơn.

Rồi tôi trở mình nằm sấp, tì cằm trên cánh tay và nhìn vào những vật anh đang lôi ở túi đựng hành lý ra: một cuốn của Camus và hai cuốn thơ của Prévert.

Trong khi mọi người ở Sài-gòn hân hoan trước một sự xụp đổ - dù rằng họ chưa ý thức và có lẽ cũng chẳng nghĩ đến những gì sẽ đến kế tiếp cái xụp đổ ấy -, thì anh và tôi nằm ở đây trong một cái khách sạn cổ điển, cũ kỹ, ọp ẹp, ở một cái miền mà ‘‘ hơi hướng cách mạng’’ chỉ thể hiện qua cái haut-parleur ở ngoài bãi, lệnh giới nghiêm từ tám giờ tối, những trang báo được cấp tốc gửi từ Sài-gòn ra nói về cái mà người ta dự định thành lập v.v... và anh và tôi đọc những cái được viết ra từ một phương trời xa lạ, bởi những con người với những suy tư và cảm xúc trong một điều kiện no đủ nhất! Thôi đi, anh, đừng nói rằng sự suy tư về thân phận con người đó là vấn đề chung cho nhân loại. Tôi cũng muốn tin như thế lắm, cũng như tôi cũng rất muốn tin quan niệm của một số người cho rằng: vấn đề chính trị và cơm áo là vấn đề tiên khởi của người dân nước chậm tiến, và vấn đề giới hạn con người, hay nói cách khác, sự suy tư về than phận con người trước cuộc sống hữu hạn haỵ gì gì đó, phải đến sau khi không còn những thiếu thốn, đói khổ nữa. Và rút cục, tôi không muốn tin gì cả. Tôi bất mãn tất cả, bất mãn tôi, bất mãn mọi người, bất mãn cuộc đời. Nhưng tôi vẫn phải tiếp tục suy nghĩ. Và đi đến kết luận để mong chấm dứt một sự xâu xé về quan niệm trong tôi: chính những đói khổ, những thiếu thốn làm cho sự suy tư về thân phận con người thêm nung nấu, chua xót. Nhưng suy tư rồi để làm gì chứ? Nếu chỉ để viết ra những điều đó thì tôi thấy còn vô ích hơn nữa. Thú thật với anh, tôi không biết mình phải làm gì cả

Xin lỗi anh, tôi đã lạm dụng một sự liên tưởng để nói về mình hơi nhiều. Tóm lại tôi không phiền trách mình về những gì đã qua. Tôi chỉ thương cho anh, thương cho tôi, thương cho những người trẻ chúng mình: chúi đầu vào sách vở để rồi chỉ thấy chua sót và bất bình, chua xót vồ bất bình mình, chua xót và bất bình cuộc đời, chua xót và bất bình tất cả, và nhất là để thấy mình không ăn nhịp với cái dòng sống xung quanh…

Theo Chân Mây II

Vũ đuổi kịp Thy đúng lúc trời đổ mưa tầm tả. Thy chỉ kịp kêu lên: ‘‘A, anh Vũ!’’ và họ, không ai bảo ai, cùng chạy vào trú mưa dưới mái hiên tiệm nước gần đấy, cùng với những người khác. Thy phủi những hạt mưa bám trên áo và tóc, đưa mắt ngơ ngác nhìn xung quanh. Vũ nhìn Thy làm những cử chỉ đó, nói:

- Tôi đuổi theo Thy mãi. Thy đi đâu đấy?

- Cũng như anh. Dong phố. Vậy thôi. May mà không có cái tắc-xi nào. Nếu không... Hồi nãy tôi cũng trông thấy anh, nhưng không gọi.

- Tại sao?

- Đừng hỏi tại sao. Đôi lúc tôi sợ nói chuyện, sợ gặp người quen, sợ tiếp xúc.

- Vậy đi phố làm gì?

- Ấy đấy, đấy chính là điểm mâu thuẫn mà tôi không giải thích được vì sao. Tôi ghét đám đông, nhưng tôi lại không thể không có cái thèm muốn được trà trộn với họ, được quan sát họ.

Một vài con mắt quay lại nhìn hai người. Thy nói nhỏ:

- Ngôn ngữ của mình lạ lắm sao?

Vũ đề nghị vào quán ngồi. Thy nói:

- Tôi cũng định vây.

Hai người đi vào tiệm nước, chọn một cái bàn khuất nhất.

- Anh về bao giờ?

- Hôm qua. Đến tìm Thy mấy lần mà không gặp.

- Tôi có nhà nhưng không muốn tiếp.

- Tại sao?

- Đã bảo đừng có hỏi tại sao. Nó như thế đó. Chẳng tại sao cả. Bao giờ anh lại lên?

- Một tuần nữa.

- Anh về để lo giấy tờ?

- Chính thế.

Người bồi đi lại. Thy ngẫm nghĩ một lúc rồi gọi nước trà. Vũ gọi bia 33. Người bồi trở vào trong.

- Tôi đợi thư của Thy.

- Sao anh lại đợi thư tôi? Anh không biết...

- Tôi biết. Nhưng vẫn đợi. Cũng như tôi biết rằng mình không yêu tôi...

Thy nhăn mặt vẻ khó chịu. Người bồi mang đồ uống lại. Thy xoè hai bàn tay úp trên miệng tách trà để đón lấy hơi ấm của nước, nhìn những hạt mưa bên ngoài:

- Những cơn mưa thật bất thường. Mọi sự việc ở đây cũng bất thường. Mình cũng bất thường nốt... Tuy vậy, bất thường nhiều sẽ thành tự nhiên!

- Tại sao lại không cho tôi gọi mình?

- Vì tôi không yêu anh. Tiếng ấy làm tôi khó chịu.

Vũ ngồi im lặng nhìn Thy.

- Này Vũ, anh không thấy chúng mình là bạn vẫn thú hơn à? Tôi ghét tình yêu.

- Tại sao?

- Vì nó làm mình mất nhiều thứ. Hai người bạn đang chơi với nhau yêu nhau, bỗng nhiên nhận thấy họ không còn chuyện gì để hỏi với nhau nữa.

- Bởi vì nhìn nhau đối với họ đủ lắm rồi.

Thy khẽ nhún vai:

- Có thể đó là quan điểm của anh.

- Tôi vẫn nghĩ rằng Thy có một trái tim sắt đá.

- Thế thì anh nhầm to rồi, Vũ ơi. Tôi biết tôi. Có thể tôi có nhiều lý trí, tôi hay suy xét phân tích, nhưng con tim tôi cũng còn biết cảm nữa. Ở đây tôi cũng muốn đề cập đến một điều anh viết cho tôi trong một lá thư anh gửi về. Anh bảo tim tôi sắt đá như vậy thì có thể làm chính trị được. Tôi bác bỏ điều phỏng đoán ấy của anh. Tại sao tôi cứ phải nghĩ đến việc chinh phục anh và tại sao chính anh lại cứ muốn thế? Chính mình không đủ những cái để suy nghĩ lắm sao mà lại còn muốn buộc thêm vào những phiền toái khác? Nhưng thôi, nếu tôi đã yêu anh thì có lẽ bây giờ chúng mình cũng chẳng còn ngồi đối diện nhau như thế này nữa.

- Tại sao?

- Sao anh hay hỏi tại sao thế? Tại tôi không tin vào tình yêu bất tử. Từ bao giờ, tôi cũng không biết nữa. Có thể vì những biến chuyển quá phũ phàng trong tôi và xung quanh tôi đã làm cho tôi không còn bám vào một tin tưởng nào được nữa. Hẳn là anh không muốn là một kẻ bị đào thải đối với tôi chứ? Tại sao anh lại yêu tôi? Đôi khi tôi nghĩ rằng anh đã đặt cho tôi những giá tri mà thật ra tôi không có, nhưng anh không tin thế hay không muốn tin như thế...

- Thôi đủ rồi. Thy đừng tự sỉ nhục mình nữa.

Thy chớp mắt.

- Tôi không tự sỉ nhuc. Tôi chỉ nói về một sự hiểu lầm, một sự ngộ nhận. Thế thôi.

Sự im lặng rơi vào giữa hai người. Tiếng mưa rơi bên ngoài nghe sầm sập như muốn chôn vùi tất cả người, vật, đồ vật. Nhưng rút cục sau cùng tất cả sẽ tồn tại у như trước khi cơn mưa đến. Đây chưa phải là đoạn kết. Thy nghĩ thế. Một sự nôn nao chợt đến trong Thy, Thỵ biết rằng mình chỉ nôn nao. Thy nôn nao khi nghĩ đến cuộc đời mở rộng trước mắt, phong phú quá, bất ngờ quá. Mà đôi khi Thy có cái thèm muốn vốc lấy mà uống cạn...

Nhiều người trú mưa vào quán ngồi uống nước. Một số đứng ngoài. Tiếng nói chuyện lẫn với tiếng mưa rơi làm thành một tiếng ồn ào liên tục.

- Kể cho tôi về cái thành phố anh vừa rời khỏi.

Vũ đang ngồi trầm ngâm bên ly bia, ngẩng lên nhìn Thy và cười mơ hồ:

- Chẳng có gì để kể cả.

- Có một lần chán thành phố, tôi định lên anh. Nhưng tôi thích là giá khi nào mình muốn là có thể đi ngay, chứ đợi đến ngày hôm sau, tôi e không cón lý do để mình từ giã Sài-gòn nữa. Điều đó khó thực hiện quá vì họ bắt phải mua vé xe từ hôm trước.

- Nơi tôi ở là một thành phố nhỏ bẩn thỉu. Trời mưa, đất đỏ nên lại càng bẩn hơn. Nhưng đêm về thì nhiều sao vô kể. Nhất là vào những ngày mưa, đêm đến mưa tạnh, sao càng nhiều và càng sáng. Có những đêm ra nhìn sao...

- Bây giờ anh lại ưa nhìn sao?

- Đôi khi. Tôi ưa nhìn sao có lẽ vì ở cái nơi đèo heo hút gió ấy chỉ có môn giải trí thú nhất là nhìn sao, đếm xem mỗi đêm được mấy vì sao rụng. Tôi hy vọng sẽ được nghe kể tiếp câu chuyện Vũng Tàu bằng một lá thư...

- Những lúc về sau này tôi thấy mình tê liệt hẳn đi. Những ý nghĩ lộn xộn, nhảy múa trong đầu. Mỗi lần tôi định viết thì lại thấy mình rỗng tuếch. Vả lại, câu chuyện Vũng Tàu ra sao, anh cũng tham dự, thì anh còn nghe kể làm gì nữa? Đáng lẽ anh phải giận về những gì tôi đã tiết lộ với anh về con người tôi mới phải.

- Không đâu, Thy. Tôi không giận ai bao giờ. Cái nhìn của Vũ thật hiền lành.

- Tôi cũng nghĩ như thế. Và tôi tự hỏi anh là ai? Xã hội này đâu phải để cho anh? Anh ở đâu ấy. Và cái sinh hoạt hàng ngày của anh chỉ là những cử động máy móc... Tôi cũng không hiểu sao mình lại có ý nghĩ ấy. Nhưng thôi bàn đến chuyện đó làm gì? Chúng mình sẽ mất tích mất thôi!

-... Xin cho nghe tiếp những ý nghĩ của Thy ở Vũng Tàu?

- Anh định để tôi phạm vào sự xuẩn ngốc lần thứ hai sao?

- Tại sao?

- Tại vì. Anh không thể hiểu được sau khi kể chuyện với anh lần trước, về nhà tôi thấy chán ngán mình quá, tôi thấy mình xuẩn ngốc quá. Tôi ghét tôi. Tôi không ngờ mình lại rẻ mạt đến thế!

- Thy vẫn thường nói là không hối tiếc?

- Tôi nói là không hối tiếc về những gì đã qua, những gì đã qua ấy là những gì ở Vũng Tàu với anh kia. Nhưng tôi hối tiếc vì đã kể về mình một cách dông dài như vậy. Thật ghê tởm. Tôi không thể viết, nghĩa là sáng tác, chính vì sự ghê tởm ấy. Anh vẫn biết khi mình sáng tác, mình đem chính con người mình ra làm chất liệu, vì tôi không muốn nói những điều bịa đặt, những điều mà chính mình không rung cảm, không tham dự. Nhưng nói về mình thì mình tránh sao khỏi sự ghê tởm mình, nếu không muốn đem mình ra mà nguyền rủa, mà sỉ nhục thay vì nói đến những điều đó bằng thái độ chủ quan?

- Tại sao không thể dung hòa giữa hai cái, sự tự sỉ nhục và sự chủ quan?

- Nếu được như vậy... Nhưng thường là mình chua cháu cay đắng rồi rút cục tự thương xót và chấm dứt bằng cách xé bỏ.

Thy sửa lại dáng ngồi, nét mệt mỏi trong cái nhìn chiếu vào quãng không:

- Thực ra chính sự biến chuyển trong tôi làm tôi nhọc mệt quá. Và tôi nhìn người khác qua chính những biến chuyển, suy nghĩ về mình nên đã có những lúc tôi tưởng là tôi quan sát người ta, thí dụ lấy trường hợp anh đi, tôi tưởng là tôi nhìn thấy anh phơi trần trước mắt tôi, và tôi nhìn thấy anh thấu suốt, tôi gán cho anh những giá trị do tôi đặt tên. Nhưng rồi đột nhiên có những lúc tôi thấy rằng tôi đã nhầm lẫn những gì tôi nghĩ về anh và cho rằng anh bỗng trở nên trong suốt. Chúng trong suốt, đúng thế... Anh không hiểu à? Đó chẳng qua là kết quả của sự hoài nghi. Đây này ạnh cứ tưởng tượng có những chữ bằng thủy tinh thay vì anh đọc được những chữ ấy nếu nó làm bằng những khối đặc. Nhưng bởi nó làm bằng thủy tinh nên mắt anh không dừng lại ở nó mà anh lại nhìn qua nó, ra cái khoảng trống ở phía sau. Anh hiểu những gì tôi định diễn tả không? Nghĩa là... nghĩa là... mọi ý nghĩ của mình, mọi suy tư của mình bỗng dưng trở nên trong suốt. Tìm tôi để đặt định chúng lại trạng thái cũ là cả một sự khó khăn. Tôi không muốn suy nghỉ thêm nữa. Tất cả cái trạng thái đó phát sinh từ sự chủ quan ở trong chính mình. Người khác, anh chẳng hạn, có thật sự hiện ra dưới con mắt tôi như tôi vẫn nhìn thấy?

Hay đó chỉ là kết quá của một mớ những ý nghĩ chủ quan của tôi?

Hôm ở Cấp, sau khi ngủ với anh, anh còn nhớ tôi đã bỏ đi xuống bãi rất sớm vào sáng hôm sau. Anh không biết được lúc ấy tôi thèm cô độc đến bực nào. Để suy ngẫm về tôi, như tôi đã nói với anh. Từ trước tôi vẫn nghĩ rằng mình ghê tởm vấn đề sinh lý. Nhưng lần đầu tiên tôi nhận thấy mình thèm muốn thật sự. Tôi ngạc nhiên về sự thèm, muốn ấy, nhất là tôi lại thèm muốn anh, một người đàn ông, và là một người đàn ông tôi không yêu. Tôi khám phá ra khía cạnh ‘‘bête’’ của con người tôi, một khía cạnh mà sự nó đến đã hoàn thành con người của tôi. Anh cười? Vâng, ý nghĩ có thể kỳ cục, tầm thường, thông thường. Nhưng tôi trưởng thành, con người sinh lý trong tôi trưởng thành. Đó không là một ngạc nhiên thích thú về phương diện khám phá sao?

Tôi say sưa với sự khám phá ấy và quên hẳn anh... và sự hoài nghi bắt đầu từ đấy. Tôi không hiểu sao?

Nhưng hình như những điều tôi nói chẳng ăn khớp gì với nhau?

Tóm lại, tôi không thể viết về chính sự biến chuyển trong tôi và vì có những lúc tôi sinh hoài nghi tất cả. Tôi đi đến kết luận: tôi có những rung cảm, nhưng là những rung cảm quá cái độ để mình có thế ghi nhận chúng một cách thứ tự. Anh thấy đấy, tôi nói lăng nhăng không đâu vào với đâu cả. Tôi không hiểu tôi. Bỗng dưng mọi giá trị đảo lộn...!

Thy ngừng nói, cánh tay phác một đường trong khoảng không bỗng dưng như mất hết sinh khí rơi rớt xuống, Vũ nhìn bạn. Như có một sự rẫy chết vô hình nào đó.

- Một người nào đó, hay nhiều người, sẽ cười vào mũi tôi sao lại mộng làm văn sĩ. Thú thực tôi muốn viết văn và chỉ muốn viết văn mà thôi. Không hề muốn làm nhà văn bao giờ. Cứ hễ ai muốn viết văn thì tức là ôm mộng làm nhà văn ư? Nhưng đấy là chuyện quá khứ. Tôi đã suy nghĩ và nhận thấy rằng cuộc sống, cố nhiên là tôi yêu nó, yêu đến độ có lúc đã thèm muốn uống lấy nó và chỉ việc sống hưởng nó thôi cũng đã là bận rộn lắm rồi. Lại còn viết nữa thì bận rộn đến đâu nữa!? Vả lại, tôi thiết nghĩ cái khuynh hướng mà nói theo đó tôi sẽ sáng tác không ích gì. Bởi tôi đã chót đọc những cuốn sách mà chúng ta vẫn đọc và suýt soa với nhau về những dòng tư tưởng thơm đẹp nhưng xa xỉ ấy. Tôi đã đón nhận những ảnh hưởng ấy và từ nay tôi có nói ra thì những gì tôi nói ra ấy sẽ có lẫn trong đó cái hơi thở của những tư tưởng kia. Tôi không thể thay đổi nếp suy tư của mình ngay được. Phải có vấn đề thời gian... Nếu tôi có dăm ba cuộc đời...

Thy cười buồn. Nếu tôi có dăm ba cuộc đời...? Thì sao?

- Thy đang nghĩ gì?

- Tôi sẽ gửi một cuộc đời đi theo chân mây.

-... Thy đã gửi rồi đó.

- Thật vậy sao?

(1963)

Thư Mùa Hạ

Sài-gòn (không ngày)...

‘‘ Thưa anh,

‘‘ Tôi rất tiếc lại phải viết thư cho anh một lần nữa, với một lời lẽ có nhẽ sẽ thiếu lịch sự đôi chút. Tuy nhiên tôi cũng mong anh bỏ qua và tôi cũng hy vọng đây là lần cuối cùng tôi viết cho anh. Tôi nhớ lần đầu tôi viết cho anh, đó là khi nhận thấy liên hệ giữa tôi và anh có kéo dài thêm cũng vô ích, một phần chính anh muốn dãn ra mà chỉ vì anh không muốn tự ý chấm dứt vì ngại trách nhiệm, một phần tôi tự thấy mình suy nhược quá lắm nếu cứ tiếp tục giữ mãi với anh một thứ liên hệ ngô-không-ra-ngô-khoai-không-ra- khoai và tôi cảm thấy mình cần phải tự cứu vãn lấy trước khi bị sa lầy thật sự. Vì vậy, tôi đã viết lá thư trước gửi đến anh, đồng thời tôi giữ lại một bản cho tôi, không, giữ lại cho con trai tôi thì đúng hơn vì tôi nghĩ rằng sau này, khi lớn lên, nó cần phải được hiểu rõ về cái thân thế của nó. Tôi không muốn nhiều người khác giấu nhẹm những lầm lỡ tuổi trẻ của mình đối với con cái, và có khi đối với cả chính nó. Tôi không muốn như vậy. Tôi phải khác và con tôi cũng phải khác mọi người. Dựa trên cái căn bản về sự chân thực, chúng tôi, tôi và con trai tôi, sẽ kiêu hãnh đi vào cuộc sống. Có thể anh không tin, song rồi anh sẽ thấy.

‘‘ Và hôm nay đây, tôi lại cầm bút viết cho anh, không phải là không có lý do chính đáng. Nhẽ ra tôi nên im lặng thì hơn. Một đôi người bạn đã khuyên tôi như vậy. Nhưng tôi vẫn viết, vì tôi thấy rằng cần phải có lấy một lần cho tất cả, để thanh toán với anh một vấn đề quan trọng đối với tôi thì ít, nhưng đối với tương lai của con trai tôi thì nhiều.

‘‘ Thưa anh, tôi có được nghe những điều anh nói về mẹ con tôi. Theo một người bạn đã cho tôi biết, thì, cho đến bây giờ anh vẫn khăng khăng phủ nhận đứa con trai mà tôi đã cho ra đời cách đây vừa đúng một năm, đứa con trai mà anh từ chối đứng tên trong khai sinh viện cớ vì lý do anh trốn lính, không muốn ra mặt, đứa con trai mà tôi khai theo họ tôi và đã nhân hai chữ ‘‘không cha’’ to tướng trong bản khai sinh của nó và hiện giờ đây nó đang đứng trong chiếc giường nhỏ bé của nó, hai bàn tay mũm mĩm bám chặt lấy thành giường, giương đôi mắt to lớn và hồn nhiên nhìn tôi viết - và anh đã phủ nhận nó là con anh vì căn cứ vào lý do anh mới quen tôi có bảy tháng tôi đã sinh nó, để đi đến kết luận: anh chỉ là nạn nhân của một câu chnyện bỉ ổi, dâm đãng, để có thể phủi sạch hai bàn tay nói rằng mình trong sạch trước mặt người đàn bà mà anh dự định sẽ cưới làm vợ.

‘‘ Thưa anh, thế ngoài lý do chúng ta quen nhau mới bảy tháng (?) anh chẳng còn lý do nào khác nữa hay sao?!?

‘‘ Thú thật với anh, tôi đã bật cười lớn khi nghe người bạn kể lại với tôi điều đó. Và cả một buổi sáng hôm nghe câu chuyện đó, tôi đã vui vẻ ồn ào với các bạn tôi, tôi đã không từ chối một điếu thuốc nào của họ mời tôi mà không kèm theo một nụ cười một nhận xét đầy tính cách tán tỉnh cho họ và chiếc cantine nhỏ bé mới được mở lại ở trường tôi đã vui vẻ rộn rã với tiếng cười của bọn chúng tôi, trong khi ánh nắng nhảy múa trên những tàu lá chuối xanh mướt trong khoảng sân nhỏ trước cantine. Những người bạn của tôi vui khi thấy tôi cùng vui với họ. Tôi tự nhũ trong khi ngồi với họ và nước mắt tôi muốn ứa ra: tôi chưa đến nỗi nào cô đơn. Tôi bỏ giờ học để kéo dài cái giây phút ồn ào đó, để rồi khi trở về, trước nét mặt sáng rỡ của con tôi khi nhìn thấy mẹ nó, tôi đã ôm lấy nó vào lòng và thấy mình bật khóc nức nở lúc nào không hay, khiến thằng bé ngơ ngác, lạ lùng, đưa bàn tay thơ dại lên quờ quạng một cách tình cờ trên những dòng nước mắt của mẹ nó.

‘‘Anh ạ, từ mấy tháng nay, nghĩa là từ ngày tôi viết cho anh lá thư để chấm dứt liên lạc giữa bọn mình, tôi đã cố gắng để không nghĩ đến anh, tôi đã cố gắng để hoàn tất bổn phận mà bất cứ một người đàn bà nào cũng phải có và thiết tha với nó, dù đó là một người đàn bà đoan chính hay không, đó là bổn phận làm mẹ. Tôi đã cố gắng, bằng tất cả những gì mình có, để làm cho con tôi được sung sướng đầy dủ bởi vì tôi tự biết rằng, tôi không chỉ được làm mẹ nó mà thôi, mà tôi còn phải lãnh luôn cả vai trò một người cha đối với nó. Vả lại, cũng vì vấn đề tự ái của tôi đối với những người trong gia đình, tôi hiểu là mình không được quyền đầu hàng, không được quyền tỏ ra xao lãng với đứa con thiếu may mắn, dù rằng tôi quan tâm đến nó bởi một phần lớn, tôi tha thiết với nó vì nó là máu là thịt của tôi, vì nó là công trình sáng tạo của tôi, và vì nó mang cái hình ảnh của người đàn ông đã mở cho tôi cánh cửa để tôi bước vào thế giới đàn bà, cái thế giới mà bấy lâu nay tôi không biết đến và cố tình phủ nhận vì sự hạn hẹp, gò bó của nó, cái thế giới mà bây giờ tôi mới bắt đầu khám phá ra sự kỳ diệu của nó, cái kỳ diệu mà tôi đã nghe ngóng trong suốt chín tháng trời mang thai nằm một chỗ. Thưa anh, đó là điều làm cho tôi có cảm giác biết ơn anh. Không, biết ơn người đàn

ông đã cho tôi đứa con (vì thật là vô ích cho tôi nếu anh cứ khăng khăng không nhận sự biết ơn đó!), và biết ơn con trai tôi. Ngoài ra, tôi cũng còn biết ơn cuộc đời (dù rằng cái xã hội trong cuộc đời đó vẫn chẳng thích chấp nhận một người đàn bà vô kỷ luật như tôi), và biết ơn Tạo hóa nữa.

‘‘ Vâng, quả thế. Tôi đã cố gắng tranh đấu tạo cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời này, với tất cả phần nghị lực còn sót lại sau thời kỳ sinh nở. Vì tôi biết rằng tôi đã chấp nhận và tôi muốn chứng tỏ cho mọi người quanh tôi biết là tôi lầm lỗi mà không sa đọa. Và lạ lùng thay, anh ạ, tôi lại cảm thấy mình trở nên vững vàng, lạc quan, tin tưởng - tin tưởng cuộc sống, tin tưởng thiên nhiên, tin tưởng con người, trong đó kể cả anh. Như một đứa trẻ lần đầu tiên khám phá ra sự hiện hữu của thế giới kỳ diệu quanh nó, tôi được sinh ra đời thêm một lần nữa với một niềm tin hoàn toàn mới mẻ, cô đọng và vững chắc. Tôi đi làm để mưu sinh, vâng, mưu sinh, vì tôi đã ra đời với hai bàn tay trắng, với một số những lỡ lầm tuổi trẻ đủ để phong phú hóa cuộc sống, và nhất là với một đứa trẻ con còn non nớt ở dưới tay, một đứa trẻ con cần có tôi đùm bọc, giúp đở, hướng dẫn. Và đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy mình thật sự trở nên cần thiết ; dù là đối với một người. Tôi thành thật xúc động về điều đó. Tôi thu xếp công việc để có thể tiếp tục theo học trở lại vì tôi biết rằng tôi cần phải tiến xa hơn nữa, với hình ảnh con tôi như một khuyến khích lớn lao lần đầu tôi có được. Tôi sung sướng nhận ra mình còn trẻ. Vâng, hai mươi ba tuổi đầu đã già gì, dù rằng tâm hồn mình có trở nên già dặn - Nhưng anh tính, có người trẻ tuổi nào ở cái xứ chiến tranh liên miên này mà không trở nên già đi đâu? Cả anh, cả tôi, cả những người bạn trẻ của anh và những người bạn trẻ của tôi. Tuổi trẻ của anh và của tôi đã hoang mang, khổ cực nhiều rồi, ích gì đâu nếu cứ tiếp tục làm khổ nhau nữa, phải không anh?

‘‘Tôi đã quên được anh, đã gần quên được những điều phiền nhiễu chúng mình đã gây cho nhau, đã có thể coi trường hợp không-chồng-mà- có-con của mình như một cái gì hết sức tự nhiên, đã tạo được sự hăng hái trong công việc, và cả gia đình tôi, bạn bè tôi - những người trước sau vẫn dành cho tôi một sự cảm mến đặc biệt - đã coi sự có mặt của con trai tôi như một điều hết sức tự nhiên, đáng chào đón. Vâng, sự thật là như vậy. Con trai tôi đã tỏ ra xứng đáng với cảm tình của ông bà, các cậu các dì, các chú các bác (những người bạn của tôi), bởi nó là một đứa trẻ khỏe mạnh, xin xắn, tươi tỉnh, lanh lẹ, hứa hẹn một tương lai sáng sủa của một đứa trẻ mau trí khôn, biết tháo vát. Và tôi, như tất cả những người mẹ bình thường khác, vô cùng hãnh diện về sự có mặt của nó. Tôi không phàn nàn gì cả, và cũng chẳng ai nghĩ đến chuyện phàn nàn gì tôi nữa hết. Tôi nghĩ đến một cuộc sống độc thân, tôi mơ đến lúc tôi học thành tài và con trai tôi đã lớn... Tôi tự thấy mình bằng lòng với cuộc sống của mình, của mẹ con tôi. Nhưng anh, anh cố tình gợi lại chuyện cũ, không trực tiếp, nhưng gián tiếp bằng những tuyên bố này khác, thì làm sao tôi có thể không cảm thấy bị liên hệ cho được?

‘‘ Thưa anh, nếu quả anh muốn như vậy, thì tôi cũng xin được tiếp chuyện với anh, một lần cho tất cả.

‘‘Tôi thiết nghĩ người có quyền lên tiếng, hoặc kể lể về tình trạng của mình trong bất cứ một liên hệ không chính thức nào và kết quả là một đứa con chào đời, người ấy phải là người đàn bà. Nhưng trong câu chuyện của chúng mình, tiếc thay, chính anh lại là người lên tiếng trước tiên. Thưa anh, anh có thể nói về tôi thế nào, có thậm tệ đến đâu, cũng được, không sao. Tôi sẵn sàng bỏ qua, vì tôi mắc một cái ‘‘ tính xấu’’ của người đàn bà Việt (theo như lời một người bạn của anh đã một lần trách tôi) là hay bỏ qua một cách dễ dãi. Nhưng có một điều tôi không thể chấp nhận được, dù với anh hay bất cứ một người nào khác, là sự xúc phạm đến con trai tôi, kẻ mà tôi đã dồn mọi сố gắng trong cuộc sống lòng thương yêu của mình cho nó. Nói thật với anh, tôi trọng bố mẹ tôi, anh chị em tôi, ban bè tôi, nhưng họ cũng chẳng tự cho phép mình nói những câu có thể xúc phạm tới con tôi, đến vị thiên thần nhỏ bé vô tội của tôi, huống hồ là anh, một người mà tôi đã loại ra khỏi phạm vi giao thiệp của tôi vì cần thiết, mặc dù... mặc dù đã hơn một lần tôi tự nhủ với tôi, khi đối diện với khuôn mặt rạng rỡ của con trai tôi, là tôi vẫn nghĩ đến anh với một cảm giác vừa êm đềm vừa chua xót... Và tôi muốn duy trì tình trạng như vậy. Có nhẽ nào anh nỡ tìm cách phá hoại tan tành những điều tốt đẹp cuối cùng đó của tôi, của con trai tôi? Chúng tôi không làm gì anh cả... Chúng tôi có làm gì anh đâu?!... Tôi vẫn cầu chúc anh sẽ gặp được người đàn bà hiểu được anh hơn tôi, chiều chuộng được anh hơn tôi. Anh chẳng chịu hiểu như vậy. Anh chẳng chịu hiểu gì cả, Bởi bản tính của anh như thế: không bao giờ chịu nhìn vào mình, và cố gắng tránh được nhiều trách nhiệm chừng nào hay chừng ấy. Tôi biết là mình có nói những điều này ra với anh cũng chẳng ích, gì hết. Bởi anh đã thế rồi. Cuộc sống đã biến anh trở nên như vây rồi. Anh đã đi vào cuộc sống từ chỗ hoang mang, không định hướng, anh đã va chạm với nhiều cái xấu xa của cuộc đời trong khi đó anh thiếu hẳn một thứ tình thương đầy tính cách dìu dắt cần thiết của một người mẹ, anh đã và đang nhìn cuộc sống từ cái vị trí của một con người đã khổ cực mà không có lấy một niềm an ủi, và từ đó anh trở nên lệch lạc. Anh không thể quan niệm được anh lại là một kẻ chủ động trong bất cứ một sự việc gì, ngay cả trong phạm vì tình yêu, và vì quá quen với tình trạng làm-một-nạn- nhân, anh luôn luôn cho rằng mình vô tội, mình trong sạch, mình không lầm lỗi: nhưng tôi thương anh, đôi khi tôi thấy mình yêu anh nữa, chính vì tôi hiểu rằng bên dưới cái vỏ lệch lạc cứng ngắc kia, anh còn có được sự chân thực, ít ra anh chân thực ở chỗ anh không tự biết về những điều tôi đã phân tích ở trên. Tôi còn nhớ những lần nằm với anh, nghe anh kể chuyện về những mối tình đã qua của anh về một thiếu nữ đã tự tử nhưng được cứu sống vì bị gia đình cấm yêu anh, và một thiếu nữ khác đã bị bà mẹ cấm yêu và nhận lời lấy anh. Tôi hiểu rằng qua con người anh, cuộc sống tự nó đã có những lầm lỡ vì nó đã chẳng biết nhận chân giá trị của anh, nó đã hất hủi anh khiến anh trở thành một thứ bi quan chán ghét tất cả, chán ghét mọi người, chán ghét chính mình với một ý thức mơ hồ về những điều đó mà không tự biết lý do - ít ra đó là những điều tôi biết đựợc xuỵên qua câu chuyện về những người đàn bà đã đến trong cuộc đời anh trước tôi. Tôi cũng chẳng may mắn hơn gì anh với một hoàn cảnh chẳng đẹp đẽ gì. Nhưng tôi khác anh ở chỗ có được cái tính chất mềm mỏng của người đàn bà. Vả lại tôi còn có mẹ tôi bố tôi với một bầy anh chị em đông đảo. Nhưng bố mẹ tôi là những người thuộc thế hệ trước, chẳng bao giờ chịu hiểu được tuổi trẻ khốn khổ bây giờ và những cố gắng đi tìm cho mình một lối sống mà trong đó nó có thể thích nghi dễ dàng và thấy hăng hái làm việc. Nhưng chẳng thể cứ đổ lỗi cho thời đại, cho chiến tranh. Phải nhận rằng tâm hồn của bọn anh chị em tôi có điêu đứng già nua, và cuộc sống của chúng tôi có vô kỷ luật, một phần lớn cũng do ở cuộc hôn nhân miễn cưỡng và ý thức thất bại của bố mẹ tôi trong suốt thời gian, ông bà sống chung với nhau. Sự chịu đựng của con người cũng có hạn. Và phần còn lại, anh em chúng tôi lãnh đủ.

‘‘Nếu anh đã không được cái may mắn sống gần gia đình và chịu ảnh hưởng của nền giáo dục kỹ lưỡng, thì tôi cũng chẳng khác gì anh. Tôi mất dạy từ khi mình bắt đầu biết suy nghĩ và đọc sách, từ khi bước vào cuộc sống và khám phá ra khối óc mình bất lực và thể xác mình nhiều đòi hỏi.

‘‘ Tôi quen được với anh trong thời kỳ hoang mang nhất của cuộc sống hiện sinh của mình và còn rất nhiều cái của cuộc sống mà mình chưa khám phá ra.

‘‘ Buổi sáng hôm ấy là một buổi sáng vào cuối tháng sáu. Tôi ra khỏi giấc ngủ sau một đêm truy hoan cuồng nhiệt với một bọn bạn vừa trẻ vừa mất dạy như tôi, Tôi cảm thấy mỏi mệt. Có phải tháng sáu là mùa hè? Sống ở miền mưa nắng hai mùa này, giữa một thành phố xô bồ đầy nắng, bụi và người, tôi chẳng còn ý niệm gì về thời tiết, mùa màng nữa. Đó là một điều thiệt thòi vô cùng: vắng thiên nhiên và ý niệm về nó, người ta sinh hoạt trong một vùng gần như một thứ trầm luân, với một vẻ mệt mỏi. Những buổi sáng tôi đã cố gắng đến trường để có một lý do ra khỏi nhà. Song tháng sáu là mùa hè - cứ tạm cho đó là mùa hè vì là kỳ bãi trường. Tôi không có lý do gì để ra khỏi nhà, ngoài cái hẹn với một người bạn tại chỗ anh làm việc để được giới thiệu với anh, người mà tôi mới chỉ được biết qua những nét vẻ bạo tiệt ít ra có một cái gì đó trùng hợp với đường nét mà tôi vẫn xử dụng. Tôi trở dậy, sửa soạn đến chỗ hẹn với các anh, mặc dù trong thâm tâm tôi chẳng thấy một hứng thú nào. Tôi đến vì nghĩ là đã để cho các anh lỡ đợi một lần. Tôi bằng lòng là mình đã không có gì gọi là kiểu cách trong buổi đầu gặp mặt. Tôi mỏi mệt để có thể kiểu cách trong cuộc sống, cái cuộc sống mà dạo đó tôi chả hề có một ý niệm gì về những sự cố gắng. Có nhẽ đó cũng là do một phần lớn ở lỗi tôi đã thành công hơi sớm và dễ dàng trong việc học mà không phải chịu đựng một lần thi hỏng nào. Tôi sinh ra coi thường những cố gắng. Từ chỗ đó tôi không có dự định nào nhất định cho tương lai. Rời khỏi Trung học, tôi lang thang qua mọi phân khoa. Chả đi đến đâu. Tôi chán nản, buồn bã. Sống phá phách hơn là xây dựng đồng thời mơ hồ cảm thấy rằng rồi cũng có lúc mình cần phải thay đổi đường lối sống. Tôi không biết phải thay đổi ra sao. Tôi không thể tự thay đổi. Có nhẽ cần phải có một cái gì đó xẩy ra cho tôi sáng mắt ra và hồi tỉnh cơn mê vô định hướng, vô mục đích, vô lợi ích này: Tôi không hiểu được cái gì đã thúc đẩy tôi đến gặp anh mà lại không là một người đàn ông nào khác. Tôi nghĩ, nếu tôi không gặp anh, nếu tôi đã gặp một người đàn ông khác, có nhẽ mọi sự đã thay đổi hoàn toàn và hôm nay đã chẳng phải là hôm nay của tôi, của riêng tôi, và tôi đã chẳng có được cái lúc mắt mình sáng ra bởi đã phải tự ý cố gắng tranh đấu, và tôi đã chẳng được cái hãnh diện như tôi hiện đang có về những gì mình đã trải qua một cách đầy nghị lực, không đòi hỏi ai ngoài sự bền bỉ của chính mình. Tôi nhớ đã đọc được một câu thơ: ‘‘Sự đau khổ cùng cực đã trở thành niềm hoan lạc’’. Đó là điều duy nhất tôi biết chắc là thật, chứ không phải là một cách nói tránh để tự an ủi.

‘‘ Vâng, thưa anh, đúng như vậy. Tôi xin phép anh, một lần cho tất cả, để nhắc lại tuần tự, theo thời gian, những kỷ niệm tôi đã được cái hân hạnh có với anh. Một lần cho tất cả và tôi xin thề với anh dù sau này con trai tôi lớn, có đòi tôi kể lại, tôi cũng sẽ chẳng kể lại cho nó nữa bởi vì chính anh đã phủ nhận tất cả, kể cả sự kiện nó-là-con-anh,

‘‘ Đó là một buổi sáng như mọi buôi sáng, nhưng thú thật với anh, trong suốt thời gian nằm một chỗ để đợi sinh nở, tôi chợt khám phá ra là tôi không thể quên, không bao giờ có thể quên cái buổi sáng ‘‘ mùa hạ’’ đó. Tôi xin phép được ‘‘dài dòng kể lể’’ với anh về những chi tiết xung quanh cái buổi sáng mùa hạ vừa mệt mỏi vừa êm đềm đối với tôi ấy. Một phòng trà có gắn máy lạnh và bọc kính ngăn tiếng động xung quanh tại một ngã ba đường một con đường thanh lịch nhất Sài- gòn. Tôi ngồi đấy, lơ đãng nghe các anh nói chuyện: anh và hai người bạn nữa. Tôi không tham dự vào câu chuyện của các anh được bởi trong đó có những nhân vật hoàn toàn xa lạ với tôi. Các anh cuời vui vẻ. Nhưng tôi chợt nhận thấy trong đôi mắt mờ mịt của anh có một vẻ buồn - (đôi mắt đó con trai tôi đã được thừa hưởng, song đôi mắt của con trai tôi chưa biết đến những phiền muộn buồn tủi cuộc đời. Chúng long lanh, đen láy, trong sáng, biểu lộ một thế giới trẻ thơ, êm dịu, thần tiên).Tôi cảm thấy anh thật xa lạ, thật gần gũi với tôi. Tôi cũng cảm thấy anh thật buồn bã thật bơ vơ. Tôi trạnh lòng nghĩ đến mình và đưa mắt nhìn vơ vẩn lên vòm cây lá me có từng khóm lá trông rưng rưng như những lát sơn dầu của Cézanne.

Tôi cũng không hiểu sao lúc ấy tôi lại nghĩ đến Cézanne, Cézanne với những lát sơn buồn buồn như chứa đựng bên trong cả một sức sống mãnh liệt sẽ bùng vỡ một lúc nào đó không biết được. Có phải cái tuổi buồn của chúng mình cũng không khác những lát sơn của Cézanne là mấy? Có phải đó là điều duy nhất để tuổi trẻ hôm nay hướng vào và trông đợi? Có phải... Và nắng màu vàng, nắng đa tình nhảy múa và sưởi ấm trên nỗi buồn của tuổi trẻ, trên những vòm lá me màu xanh mướt.. Và anh ngồi đó và tôi ngồi đây chờ đợi đợi chờ... Và những người ngoại quốc thân xác to lớn lượn qua lượn lại bên ngoài khung kính cùng với xe cộ, lặng lẽ như trong một khúc phim câm

Và cũng chính ở lần đầu quen biết với anh, chúng mình gần nhau. Tôi xúc động mãnh liệt trong khi ấy. Chưa bao giờ xúc động đến như vậy. Cho đến bây giờ, đôi khi tôi vẫn tự hỏi: có phải sự xúc động mà tôi có lúc bấy giờ là vì qua sự giao hợp của chúng mình, đứa con mà tôi mong đợi trong tiềm thức đã thực sự khởi đầu sự sống của nó? hay chính vì việc anh bật khóc nức nở trên thân thể tôi? (Vâng, tôi không quen được sự kiện đó. Lần đầu tiên một người đàn ông đã khóc trên tôi. Anh vội vàng xin lỗi tôi. Nhưng tôi, tôi không cảm thấy giận hờn anh. Tôi chỉ thấy thương cho những thân thể tội nghiệp của chúng mình)...

... Công việc quá bận rộn khiến hôm nay tôi mới có thể lại ngồi hầu chuyện tiếp với anh. Con tôi vừa đi lên nghĩ mát tại nhà hai bác nó ở Suối-tre, một đồn điền cao su cách Long khánh chừng năm cây số. Nó đi làm nhà vắng hẳn đi. Bố tôi nhắc đến đó. Mẹ tôi, các anh em tôi kêu nhớ nó. Cố nhiên tôi cũng chẳng hơn gì họ. Mọi buổi tối trước khi đi ngủ, nó thường quấn lấy tôi, đòi chính tôi phải nằm với nó, nó mới chịu ngủ, sau khi nghe tôi hát cho nó nghe những câu hát thời tiền chiến. Tôi không thuộc nhiều bài hát. Nhưng đôi ba bài thôi, như những bản Tống biệt, Một lần cuối, Thiên thai, cũng đủ cho nó. Và tôi cũng chỉ có bấy nhiêụ thôi. Khi nó ngủ rồi, tôi có thói quen làm việc đến mười hai giờ, một giờ khuya mới đi ngủ. Thường là tôi mệt nhoài sau đó và ngủ thiếp đi một cách dễ dàng. Nhưng tối hôm qua thì tôi bắt gặp mình trằn trọc vì thiếu hơi thở đều nhẹ thơm tho của con. Tôi tự hỏi không biết nó có nhớ tôi? Tôi mong nó sẽ không nhớ vì mải vui với các anh các chị ở Suối-tre. Anh chị tôi không thiếu gì con. Nhưng vẫn muốn đón thêm nó lên chơi cho vui. Đây chẳng phải là lần đầu tiên nó lên đấy chơi, bởi khi tôi mang thai nó được bảy, tám tháng, tôi đã lên đấy vì trong thời kỳ tôi bụng mang dạ chửa mọi người đều xa lánh tôi. Tôi chấp nhận điều đó một cách thản nhiên. Cả anh nữa, anh cũng sợ tôi. Tội nghiệp cho anh. Tôi hiểu rằng con người của anh sợ nhiều cái mà anh không tự biết. Anh sợ gia đình tôi làm dữ có hại cho thanh danh của anh. Anh sợ đến cả những đứa em trai em gái của tôi. Anh tỏ vẻ lúng túng mỗi lần tình cờ đến thăm tôi (dạo tôi ở nhờ nhà có em: một căn phòng nhỏ ở miệt Chí-hòa) mà đụng mặt với bọn em tôi. Chúng nó lấy làm lạ tại sao tôi lại có thể chấp nhận được anh trong khi có nhiều người khác có địa vị hơn muốn hỏi tôi. Tôi vẫn bảo với chúng nó; Chúng mày làm sao hiểu được. Tôi thương anh chính ở những khuyết điểm mà anh có. Khi còn liên lạc với anh, tôi vẫn thầm nhủ may ra tôi sẽ giúp được anh thoát ra khỏi những mặc cảm nặng nề của cuộc sống. Và ngược lại, nhờ ở sự ràng buộc có với anh, chính tôi cũng sẽ tìm lại cho mình được sự quân bình trong cuộc sống vốn dĩ nhiều bất thường của tôi... Nhưng anh không nghĩ như vậy. Anh đâu thấy được những nhược điểm của anh. Anh thích làm ra vẻ đàn ông. Anh khinh miệt những điều một người đàn bà nói ra. Anh thường gạt tôi đi mỗi khi tôi định mở đầu câu chuyện, bằng nhận xét mà thực sự không nhận xét gì cả: ‘‘ Ôi! Đàn bà lộn xộn!’’. Theo anh, thì tôi lộn xộn, mẹ tôi lộn xộn, các chị tôi lộn xộn mà thực sự thì họ, mẹ và các chị tôi, đã không hề nói một lời phiền trách anh trước mặt tôi. Họ chỉ tìm cách giúp đỡ tôi với tất cả cố gắng và thương yêu. Tôi thầm hiểu rằng tôi với anh sẽ chẳng bao giờ hiểu được nhau, sẽ chẳng bao giờ nữa hết.

Rạn nứt đã nằm trong cử chỉ của cánh tay gẩy guộc của anh vung lên, khoát rộng rồi hạ xuống khuỳnh ra với hai bàn tay chống cạnh sườn trên cái thân hình mỏng khòm xuống của anh, rạn nứt đã nằm trong giọng nói đứt quãng và đôi mắt từ chối nhìn vào sự thật của anh, rạn nứt đã nằm trong chính sự bất lực của tôi để mở một con đường thông cảm với anh, rạn nứt đã làm tôi câm nín và chỉ còn biết khóc lặng lẽ trong những đêm dài không ngủ đươc vì cái thai hành. Tôi không ân hận vì những gì đả xảy ra. Nhưng tôi ân hận vì những cái gì sẽ xảy ra mà tự trong hiện tại mình đã biết гõ là mình bất lực không thể cứu vãn được nữa.

‘‘ Tôi bỏ Sài-gòn lên Suối-tre nằm dưỡng sức do một lá thư của ông anh rể gửi về. Đó là người duy nhất trong gia đình hiểu được tôi có những ý nghĩ, những ước vọng và những lý do để liều lĩnh hầu tạo cho mình một thế đứng. Tiếc thay anh ấy lại chỉ là anh rể tôi. Nhưng điều đó cũng chẳng can hệ gì. Lá thư anh viết cho tôi, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần và có thể nhớ không sót một chữ - đó là điều hiếm có ở tôi vì bình thường tôi là một người có trí nhớ rất kém:

‘‘ Em,

‘‘ Anh chị vô cùng bàng hoàng được biết em

sắp bước sang con đường làm mẹ. Cho đến bây giờ anh chị không biết nên vui hay buồn vì không biết nội tính của em ra sao.

‘‘ Sau khi đến thăm em, anh có cảm giác em buồn lắm, nhất là nụ cười vui tươi của em trước kia biến mất và em có thêm nét mặt một thiếp phụ. Em buồn vì gia đình hay buồn vì sự việc đã xảy ra ngoài ý muốn của em? Nếu vì gia đình em nên biểu là không ai muốn bị đặt trước một sự đã rồi, vả chưa có ai được tập rượt theo cuộc cách mạng như em đã làm, nên phản ứng đầu tiên của họ là phản đối, đó là một lẽ dĩ nhiên mà em phải chấp nhận vì không phải ai cũng là Georges Sand cả. Còn nếu không phải là ‘‘ngoài ý muốn của em, thì em có thể coi anh là ‘‘đồng minh của em...’’

‘‘Ở cuối thư, anh tôi mời lên nghỉ trên nhà anh. Có nhẽ đó là điều cảm động nhất tôi có được sau cái xúc động khi tôi biết tôi sắp làm mẹ, xúc động một cách rất đàn bà, rất êm dịu.

‘‘ Tôi nói với anh là tôi lên nghỉ ở trên đó và có thể sẽ sinh ở trên ấy luôn. Anh vội vã đồng ý. Tôi thù anh đồng thời tôi thương hại anh. Tôi đã lôi cuốn anh vào một cuộc phiêu lưu nhưng đâu biết trước được là anh chán nản muốn quay ra và bỏ cuộc. Nhưng trễ rồi, anh ạ. Chúng ta bắt buộc phải dấn bước về phía trước. Bởi nếu có thể quay trở lại được thì tôi đã xin như cô bé Daniel trong phim ‘‘ Les rivalités’’, là cho được bé lại khoảng mười tuổi và có đủ cả cha lẫn mẹ - đủ theo nghĩa hoàn toàn của nó. Tôi thương hại anh vì đã khôhg thể quay trở ngược lại thời gian, anh lại cũng không có được cái ‘‘đức tính’’ chấp nhận mọi sự một cách thản nhiên, bởi nếu anh cứ ngẩng cao mặt lên, sửa lại người cho thẳng và bước đi vững chãi, đố ai dám làm gì anh, hay nếu nó có làm gì anh thì cũng chỉ làm một cách lén lút, sau lưng anh mà thôi. Không, nếu anh đã như vậy thì đâu đã có chuyện và tôi sẽ mất đi mất một dịp may bằng vàng là tự thử thách và đồng thời rèn luyện tính chịu đựng của mình. Nếu phải cảm ơn, thì anh là người tôi phải cảm ơn đầu tiên, vì anh đã ban cho tôi một hoàn cảnh để tìm về với con người thật của mình mà bấy lâu tôi không biết đến, vì anh đã ban cho tôi một đứa con (dù rằng cho đến bây giờ anh cố tình phủ nhận), vì anh đã giúp tôi một dịp để đi đến quyết định sống độc thân mà từ lâu nay tôi chỉ mới có ý nghĩ. Và tôi cảm ơn cuộc đời, cám ơn những người bạn đã chạy đến giúp đở tôi trong thời kỳ thai nghén, và nhất là cảm ơn bố đỡ đầu của con tôi là người bạn đã quý mến tôi từ hồi nào đến giờ vẫn vậy. Với mớ hành trang đó, với sự có mặt của con trai tôi, tôi nghĩ rằng, dù mới hai mươi ba tuổi đầu, tôi đủ vững vàng để đi vào cuộc sống. Và với tôi, điều hệ yếu vẫn là sống - sống thơ mộng và bền vững như Thiên-nhiên,

‘‘ Thưa anh, vâng, tất cả đầu dây mối rợ là một buổi sáng mùa hạ, Bây giờ giữa tôi và anh chẳng còn gì, ngoài hình ảnh anh phảng phất qua nét mặt của con trai tôi là còn nhắc nhở tôi đến anh. Tôi đã hạ sinh nó vào đầu tháng ba, ngày sáu tháng ba. Tính ra vừa đúng chín tháng. Anh vẫn chối dài là bảy tháng. Tôi tự hỏi điều đó làm lợi gì cho anh? Phải chăng để cho anh có thể vỗ ngực nói rằng anh chỉ là một thứ nạn nhân, hoàn toàn bị động trong câu chuyện tình giữa chúng mình? Để anh có thể tự chứng mình anh là kẻ không hề lầm lỡ, là anh hoàn toàn trong sạch trước mặt người đàn bà mà anh sẽ cưới làm vợ? Ô hay, sao chúng ta có thể khác nhau làm vậy và đến bây giờ tôi mới nhận ra nhỉ? Trong khi anh ghét những lỡ lầm bao nhiêu (vì anh đã có chúng) thì tôi lại khác hẳn, tôi thương chúng, tôi tội nghiệp cho chúng, tôi quý chúng, chẳng phải để mình cứ việc lỡ lầm cho thật nhiều, mà chính vì qua những lỡ lầm đó, tôi thấy rõ được tôi hơn, tôi biết rõ được tôi muốn gì, tôi khát vọng ra sao. Trong lỡ lầm và sự đau khổ, tôi tự thấy tâm hồn mình được nâng lên nâng lên. Tôi không quan tâm đến những phán đoán, xét xử của những người quanh tôi vì anh ạ, kinh nghiệm cho tôi biết, người chỉ trích để giúp ta tiến thì ít, ít lắm trong cái xã hội này, nhưng người chỉ trích để dìm ta xuống, để nhục mạ ta thì nhiều, Những câu đó có vẻ ‘‘quốc văn giáo khoa thư’’ quá phải không? Nhưng không sao. Nếu còn tin tưởng ở Thượng-đế, tôi sẽ cảm ơn Người đã ban cho tôi một cuộc sống gồm có những dịp lỡ lầm, cộng thêm với một chút hơi nhiều tình cảm, cộng thêm với một chút hơi nhiều lý trí, cộng thêm với một chút hơi nhiều lòng tham vọng và ý chí hiếu thắng, ngạo mạn.

‘‘ Anh muốn khước từ một lần cho tất cả, rằng con tôi không phải là con của anh ư? Được, điều đó không khó. Tôi cũng chẳng mong gì nó có liên hệ đến anh, (nhưng tiếc thay trong huyết quản nó đã mang dòng máu của anh!) Nó quá lanh lợi và tinh ranh đôi khi có vẻ nhõng nhẽo và lẳng lơ nữa, đến nỗi gia đình tôi không ai là không thích và thương nó và đôi khi tình thương đó được bộc lộ một cách quá trớn chẳng hạn như khi họ mắng yêu nó: ‘‘ Rồi lại giống cái thằng bố mày!’’. Tôi cười trìu mến với con và chỉ lúc đó, ý nghĩ tôi chợt hướng về anh trong khoảnh khắc với một chút gì êm dịu, để rồi liền sau đó, tôi cương quyết với chính mình, rằng tôi sẽ dạy dỗ, luyện tập cho nó. Có thể nó sẽ giống anh hơi nhiều, nhưng tôi tin tưởng một cách sắt đá là hoàn cảnh và giáo dục sẽ biến đổi bản tính người ta phần lớn. Vả lại, nó còn có tôi, nó còn có mẹ nó thương yêu và dắt dìu nó trong cuộc sống này.

Vả lại, biết đâu cái thế hệ của nó sẽ khá hơn thế hệ của chúng ta hiện tại: nó sẽ biết rõ những gì nó cần phải làm, những gì đất nước của nó mong mỏi ở nó mà không phải là những câu nói sáo rỗng mà hiện nay chúng ta, tôi, anh và những người bạn của tôi, những người bạn của anh, đang phải nghe, nghe với vẻ ơ thờ, chua xót, hoang mang....

‘‘ Thưa anh, chỉ còn vài ngày nữa là sinh nhật đầu tiên của con tôi. Đối với tôi, đó là một ngày thiêng liêng, thiêng liêng hơn cả ngày sinh nhật của chính tôi, thiêng liêng hơn cả ngày sinh nhật của Thượng đế. Có thể tôi sẽ mừng nó bằng một bữa tiệc với đông đủ bạn bè. Có thể tôi sẽ mừng nó bằng một buổi tối tôi ngồi uống rượu một mình để ngụ ý bảo với nó rằng tôi nghĩ đến nó một cách trọn vẹn, và đời tôi, tôi sẽ dành cho nó trọn vẹn từ đây. Nếu anh muốn, tôi sẽ, đồng thời mừng sinh nhật của nó, tuyên bố cho những người bạn của tôi và của anh biết đứa con của tôi là do tôi tự tạo ra, anh không hề tham dự vào cái ‘‘lỡ lầm’’ đó. Bằng không, chừng nào tôi còn im lặng về câu chuyện giữa tôi và anh, chừng nào tôi còn tự nuôi lấy con tôi và không nhờ vả chút gì ở anh, chừng ấy anh cứ yên lặng cưới người đàn bà mà anh dự định hỏi làm vợ và hưởng cái hạnh phúc của anh, đừng tìm cách tuyên bố hay phủ nhận gì cả.

‘‘Hoặc là cho tôi được giữ những kỷ niệm êm đềm về một buổi sáng mùa hạ đã qua, hoặc là tôi sẽ làm bất cứ cái gì chắc chắn chẳng tốt đẹp gì cho anh và những gì anh đang cố gắng xây dựng đâu.’’

(3 - 1967)

16/11/2020

Trùng Dương

Theo https://vnthuquan.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Lối cỏ mù sương

Lối cỏ mù sương Chương 1 Tưởng niệm chị Bùi Thị Thu. Tặng cháu P.T.Hương (ĐHNK.1970) và đôi bạn Phụng – Hùng TIẾNG SUỴT SUỴ...