Mưa không ướt đất
Tác giả Trùng Dương, tên
khai sinh là Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1944 tại Sơn Tây, di cư vào Nam và lớn
lên tại Sài Gòn từ 1954. Nguyễn Thị Thái nổi danh rất sớm, qua hai sáng
tác Vừa đi vừa ngước nhìn và Mưa không ướt đất.
Sau thời gian du học Hoa
Kỳ trở về, bà đứng tên Chủ nhiệm báo Sóng Thần (1971-1975) mà
nhóm chủ biên gồm nhà văn Chu Tử và nhà báo Uyên Thao. [Trước khi du học Hoa Kỳ,
Nguyễn Thị Thái là sinh viên ĐH Kiến Trúc Saigon khóa 1964.
.
Mưa Không Ướt Đất
Năm 1956 tôi vượt tuyến
vào đây với hai bàn tay trắng. Nói là vượt tuyến thì không đúng. Thực ra tôi
vào đây với sự thỏa thuận của ông Hồ, sau khi chịu thế chân bằng những sản nghiệp
tôi có dạo ấy. Nếu tôi không trở về thì coi như mất cả sản nghiệp đó. Cố nhiên
là tôi chẳng dại gì trở về. Tôi ở lại đây, vay tiền buôn bán làm ăn và tạo nên
cơ nghiệp như ngày nay. Năm nay tôi ba sáu tuổi đầu rồi mà vẫn chưa lập gia
đình. Tôi không được may mắn như các anh các chị được học hành. Điều mà tôi ân
hận là đã không làm sao mang được mẹ tôi vào để cùng hưởng với tôi...
Tiếng người đàn ông chủ
nhà tan loãng vào trong bầu không khí cô tịch của buổi chiều nơi cư xá. Xa xa
có tiếng trẻ con hát líu lo trong một cuộc rước đèn. Mặt trời đã lặn nhưng bóng
tối chưa kịp buông xuống.
Thư dựa đầu vào thành ghế,
lơ đãng nghe. Những âm thanh vội vã hấp tấp của người đàn ông có giọng nói đặc
biệt của những người Bắc sinh sống trong các trại định cư, thỉnh thoảng có đá
vào một đôi tiếng Nam với một pha trộn ngây ngô vụng về - những âm thanh ấy rơi
xuống khô khan, không đủ khơi dậy một hào hứng nào. Thư xoải chân trong một
dáng ngồi thoải mái, đôi mắt khép hờ nhìn về phía Phấn, góp chuyện một cách uể
oải:
- Chưa lập gia đình, chắc
tại anh còn kén đấy chứ phải không ạ?
Người đàn ông đối diện với
Thư hơi có vẻ lúng túng. Duẩn quay nhìn Thư bắt gặp cái cười mỉm trên khuôn mặt
trắng im lìm trong bóng chiều chạng vạng. Tự nhiên anh có cảm tưởng đó là khuôn
mặt của một pho tượng. Cái ý nghĩ đó Duẩn có từ dạo quen biết Thư khi hai người
còn học ở dự bị Văn khoa. Thuở ấy còn có cả Cương. Dạo ấy thật vui. Mỗi người đều
như có điều gì muốn nói nhưng họ muốn nói lảng sang những chuyện khác để vui nhộn
và quên đi những xao động mà chính họ không biết phải đặt tên cho chúng là gì.
Duẩn, như tất cả những người đàn ông mập mạp khác, ưa giễu cợt, mặt luôn đỏ gay
(có lẽ vì cười nhiều?) và không có ác ý. Anh quen với Thư qua lời giới thiệu của
Cương. Về sau anh được biết hai người yêu nhau. Nhưng anh không hiểu được vì
sao họ có thể yêu nhau, vì theo Duẩn nhận xét, họ như hai thái cực. Cương yếu ớt,
hơi giống con gái, mặc dù nhiều lúc anh tỏ ra là một người trầm tĩnh - thực ra,
Cương thiếu tính chất nóng nảy của một người đàn ông thật sự và vì người anh
quá mảnh khảnh. Thư, ngược lại, tính nết cứng cỏi, hơi lạnh nhạt, mặc dù vẻ dịu
dàng của những đường nét trên khuôn mặt và thân hình. Rồi Cương du học. Duẩn mất
tin Thư. Bây giờ gặp lại, bắt chợt cái vẻ im lìm cố hữu trên nét mặt người con
gái, Duẩn tưởng mọi sự chả thay đổi bao nhiêu. Có lẽ trông Thư trầm hơn, ở vẻ đẹp
và lối nói chuyện. Ba năm rồi còn gì.
- Tôi đã gặp nhiều cô,
nhưng họ làm tôi thất vọng. Tôi mong lấy được một người vợ làm cô giáo, làm cô
giáo thì hẳn là biết dạy con hơn...
Duẩn cười trong cổ, có vẻ
ngơ ngẩn:
- Thật hả anh?
Phấn, người chủ nhà cười
hờ hờ. Thư tự hỏi không biết Phấn có biết là Duẩn đùa anh ta không. Thư có ý
nghĩ mỗi lần gặp lại Duẩn, nàng thấy anh béo hơn và giễu hơn - phải chăng những
người béo thường hay giễu? Thư không tin như vậy. Ông cụ nàng béo, nhưng ông chẳng
giễu bao giờ. Lúc nào cũng lầm lì. Có lẽ ông không giễu được vì tuổi già và cái
chết đang chờ ông. Những lúc về sau này ông đánh bạc nhiều hơn và thua đậm hơn,
lầm lì và buồn bã hơn. Thư sống trong gia đình với cái bóng của ông đè nặng
trong tâm hồn. Nói như vậy không có nghĩa là Duẩn hay giễu vì Duẩn trẻ và cái
chết còn ở xa tầm tay anh.
Vài đứa trẻ cầm lồng đèn
đi qua, gọi nhau ríu rít, mắt nhìn bọn người ngồi bên trong hàng rào, vẻ tò mò.
Thư nhìn quanh lơ đãng:
- Có lẽ nên có vài cái
đèn xếp treo lủng lẳng cho nó có vẻ...
Phấn bảo:
- Tôi quên mất vụ đó. Nhà
có trẻ con thì tự nhiên mình nghĩ đến điều đó...
Giọng anh ta có vẻ bùi
ngùi. Thư kiếm một cái cớ để đi ra ngoài. Nàng thấy thèm đi tung tăng - vẫn
thèm đi tung tăng.
- Duẩn đi ra chợ Thủ Đức
với tôi đi. Hình như nhà cũng không có đèn cầy phải không anh? Chả lẽ lại ăn và
nhảy dưới ánh đèn tube hoặc trong bóng tối mò?
Duẩn:
- Định chơi ''lumière
hay'' sao?
Tuy vậy anh cũng đứng dậy,
bảo Khánh đưa chìa khóa xe và theo Thư ra ngoài. Một đôi người trong bọn ngồi
hoặc đứng rải rác trên nền đất lẫn lộn gạch vụn và cát, hỏi Duẩn đi đâu đấy.
- Ra chợ mua đèn, Duẩn
đáp.
Lúc hai người ra khỏi cư
xá trời đã bắt đầu tối. Thư ngồi sát vào người Duẩn. Duẩn nhấn ga cho xe vọt
đi. Con đường dẫn vào Thủ Đức cong cong. Những cây thánh giá trắng nhờ nhờ
trong một nghĩa địa bên đường. Những ánh đèn dầu le lói trong một vài mái
tranh. Tòa nhà cao của một trường đạo đối diện với những bức tuờng dài của trại
lính bên kia đường. Chợ Thủ Đức tưng bừng dưới những ngọn đèn sáng. Những buổi
chiều tan học kéo nhau lên đây cả bọn bốn năm đứa duy có mình Thư là con gái. Tại
sao thích tham dự vào những buổi họp mặt của bọn con trai hơn là gần gũi với
các bạn gái mà Thư thường cảm thấy quá e dè ngại ngùng? Duẩn nhớ rằng mình vẫn
chỉ coi Thư là một người bạn trai, dù Thư là người yêu của Cương. Cương vừa
thích có Thư tham dự vào những cuộc họp mặt này vừa không. Ở người con trai ấy
có nhiều điều u ẩn và hơi lãnh đạm. Từ ngày anh đi ngoại quốc, trong những lá
thư gửi về, Thư chợt “nhận ra” Cương. Người ta (không?) yêu người khác vì những
tương đồng mà vì những điều có thể rất trái ngược. Thư sống như một con mèo
hoang thì Cương khép mình trong khuôn khổ mực thước, hoàn toàn lệ thuộc gia
đình. Cố nhiên chẳng phải vì người này hay người kia muốn thế, hay có muốn thì
cũng chỉ một phần. Đứng trước Cương, Thư cảm thấy quá cô đơn nhưng không thể
không yêu. Cương thương và yêu người con gái với một lý do gần giống thế.
- Thư nghĩ gì vậy?
Thư cười một tiếng ngắn:
- Ngày xưa dạo bọn mình
thường kéo nhau lên đây ăn và bây giờ tôi thấy đói. Có lẽ mình nên ăn một cái
gì đi.
Duẩn tán thành. Hai người
vào một quán ăn trong chợ.
- Duẩn còn nhớ anh chàng
Vĩnh không nhỉ?
- Nhớ, nhớ quá ấy chứ. Thỉnh
thoảng tôi vẫn gặp hắn ở phố.
- Còn sống với “ma-đàm”
kia không không biết?
- Hình như còn. Không thấy
nói đến. Hắn vào biệt kích rồi.
- Tôi không thấy ghét anh
ta một mảy may. Tôi phục tài hoạt bát của anh ta. Làm sao mà anh ta đóng kịch
giỏi thế?
- Thư còn nhớ một hôm anh
ngồi ở trên xe đi chơi suối Lồ Ồ, anh ta giảng cho Thư nghe về danh từ “biên tế”
không?
- Nhớ. Tôi chỉ thấy mơ hồ
hơn sau khi nghe anh ta giảng - mơ hồ như... biên tế vậy! Nhưng tôi lại nghĩ những
người học cao thường có một lối định nghĩ tối tăm nên tôi vẫn tin được. Đâu ngờ
anh ta chỉ là một thứ mật vụ quá tài tình! Chính vì cái tài tình đó tôi lại thấy
quí anh ta mới lạ chứ! Tôi còn nhớ một hôm anh ta cho tôi xem lá thư tình của một
cô mà anh ta bảo là fiancée, cùng học lớp với bọn mình. Anh ta trỏ cho tôi cô
gái ấy. Tôi cũng có dịp đứng ở xa nhìn thấy anh đi cặp kè và nói chuyện với cô
nàng. Cô ta là một cô gái e lệ, tóc thề buông xỏa vai, lúc nào cũng ngậm góc
khăn tay. Ở xa nhìn vào, làm gì mà không tin là nàng e thẹn trước vị hôn phu.
Nghĩ cũng buồn cười. Tôi thấy thương bọn mình dạo ấy lạ, thương cái quá khứ hồn
nhiên đến thơ ngây đó. Sau vụ phát giác đó, tôi thấy như có một mối nghi kỵ rơi
xuống giữa bọn mình... Không biết Duẩn ra sao, tôi thấy Cương có vẻ buồn thành
thật. Anh ta vốn sẵn tính đăm chiêu...
Những kỷ niệm kéo về chập
chùng chập chùng và ô hợp. Giọng Duẩn trầm hẳn xuống:
- Cũng may hắn chưa khai
thác gì được ở bọn mình. Mà nói cho ngay mình có hoạt động gì đâu mà khai
thác?! Toàn một bọn chỉ đấu láo phất phơ...
Ừ tại sao mình chưa hề một
lần tham dự? Mình sống như một kẻ đi dạo vậy. Một kẻ đi dạo không mấy chút hăng
hái hay thảnh thơi. Làm như thể sinh ra thì phải sống, sống cho hết cuộc sống để
chết. Và sống trở thành một bổn phận. Một bổn phận? Phải chăng tôi khất lần việc
lấy Thục cũng chỉ vì sợ không dám chuốt thêm một thứ bổn phận nào khác? Tại sao
không đủ can đảm hủy bỏ lễ đính hôn để cho Thục đi lấy chồng? Tôi không yêu
nàng, không hề yêu nàng. Tôi không hủy bỏ lễ đính hôn vì có lẽ tôi chẳng đủ can
đảm và cố gắng làm một việc như vậy. Tôi có hèn nhát lắm không? Tôi có bi quan
không? Bạn bè thấy tôi cười nhiều - mặt tôi lúc nào cũng đỏ gay, hiện tượng của
một người nhiều sinh lực? Buồn cười thật thôi! - chúng nó tưởng tôi không lo
âu. Thực ra, tôi ngao ngán quá đấy thôi, ngao ngán hơn cả là mỗi bữa cơm tôi về
nhà, thấy mâm cơm úp lồng bàn phần tôi trên bàn và mẹ tôi đi với một trăm hai
chục quân, thằng em mười bốn tuổi bỏ đi lang thang. Chẳng có gì giữ tôi ở trong
gia đình cả. Tôi cũng thiếu một cái điều mà tôi cho là đẹp và đáng theo đuổi ở
ngoài đời. Tôi đi dạy như một cái máy, mê học trò con gái (một cách thầm kín cố
nhiên vì bắt buộc thế) như một cái máy và không thấy điều đó là quan hệ, lê la
các tiệm cà-phê quen tán dóc với tụi bạn như một cái máy, và đây chính là điều
tôi cần. Duẩn nốc cạn ly ba ba, nhìn người con gái đối diện, đôi mắt cận thị
không đeo kính - (Duẩn kỵ đeo kính cận) - hồn buồn bã...
Duẩn bước ra hiên, mở
banh khuy áo ngực và thở ra: một ly sec làm anh chuếnh choáng. Thư ngồi bó chân
trên bậc thềm, ngẩng lên, thấy anh, mỉm cười. Không biết có phải rượu làm Duẩn
thấy Thư đẹp lạ thường hay vì khuôn mặt trắng của Thư hiện trong bóng mờ mờ
trông đẹp như một pho tượng. Duẩn có cái cảm giác như một người sống ở ngoài thời
gian. Mọi sự vật như ngưng đọng lại, ngưng đọng lại trên khuôn mặt im lìm của
Thư. Anh hỏi mà như không nghe tiếng mình hỏi:
- Ngồi ở đây à?
- Trong ấy ngột ngạt quá.
- Có lẽ vì thế mà vừa nhảy
với tôi cô Thủy vừa quạt... Cũng có lẽ cô ấy quạt hơi rượu...
Thư cười nhẹ, ngồi nhích
sang một bên khi thấy Duẩn ngất ngưởng bước xuống khỏi thềm nhà. Tự nhiên Duẩn
có cái ý thích ngồi dưới chân Thư. Điều đó gây cho anh một cảm giác vỗ về. Điều
đó làm cho Thư cảm thấy diệu vợi...
- Còn nói được như vậy à?
Duẩn ngơ ngẩn một lúc, rồi
bật cười:
- Thư tưởng tôi say à?
Thực sự là Duẩn chuếnh
choáng. Mấy lần trong khi ôm Thủy, anh giẫm phải chân nàng. Duẩn tưởng tượng lại
lúc ôm Thủy trong vòng tay. Ở Thủy có một vẻ mộc mạc của một cô gái miền Nam.
Nàng không tỏ vẻ bực bội mỗi lần Duẩn giẫm phải chân, cũng như Duẩn coi việc
nàng phe phẩy chiếc quạt trên tay là một điều thú vị. Ý nghĩ đó làm cho Duẩn bật
cười một mình.
Bên ngoài, tiếng hát của
bọn trẻ rước đèn quanh cư xá đã ngưng từ hồi nào. Trăng đã lên cao. Ánh sáng
như có màu xanh. Trước giậu, vài ba cái đèn xếp bị cháy xém còn treo lủng lẳng.
- Trông Thư có vẻ buồn?
Duẩn rút điếu thuốc xòe lửa
châm hút. Anh đưa bao thuốc mời Thư. Nàng mỉm cười lắc đầu:
- Tôi bỏ thuốc từ gần mấy
tháng nay vì tự nhiên sợ mùi khói thuốc.
- Tôi hút có phiền không?
- Không, không...
Thư nói như cố không nói
ra một điều mà trong thâm tâm nàng muốn nói, muốn khoe, với tất cả sự hân hoan.
Duẩn cất bao thuốc vào túi áo, thở ra từng vòng tròn khói nhìn theo chúng uốn
éo dưới ánh trăng thành từng sợi mỏng dài và tan loãng. Một sự im lặng bao
quanh hai người. Tiếng một bản nhạc có tên Adieu Tristesse từ
trong phòng vẳng ra hòa lẫn tiếng giày đi trên sàn nhà của những người khiêu
vũ. Máy hát cũ quá. Tiếng kèn nghe rè rè.
- Bao giờ thì mình có thể
“adieu tristesse” được?
Thư lên tiếng. Duẩn quay
lại (anh có giọng nói hơi cao, như có một cái gì vừa gay gắt vừa giễu cợt ở
trong đó), nhìn dáng Thư chao động:
- Hết buồn thì còn vui thế
quái nào được!
- Nói là nói vậy thôi...
Nỗi buồn thực ra tô điểm cho cuộc sống...
- Tối nay Thư vui chứ?
- Vui. Và thanh thản nữa...
mặc dù bữa tiệc có phần nào luộm thuộm. Tôi tưởng Duẩn quen với anh Phấn.
- Quen gì. Tôi mới biết
ông ta sáng nay.
- Nhân vật ấy cũng hay
hay.
- Bây giờ ông ta chỉ thiếu
có một cái, là một cô vợ có học thức một chút để cho ông ta có cái cảm giác là
mình cũng có dính dáng tí chút trí thức.
Thư cười một tiếng ngắn:
- Kể ra việc đó đâu khó
gì, đối với một người có của như ông ta. Nghĩ cũng buồn cười. Không biết ông ta
nghĩ sao... Theo tôi, báu gì cái trí thức, nhất lại là một người đàn bà trí thức.
Duẩn quay nhìn Thư:
- Sao có vẻ chửi bới ghê
thế?
- Nhiều khi tôi có ý nghĩ
giá đừng học, đừng đọc nhiều, mình lại sống dễ hơn. Suy nghĩ lắm đầu óc đâm trì
trệ. Lỡ rồi, đành chịu. Tôi có con, sẽ để nó sống hồn nhiên, như cây cỏ... Nói
vậy, cũng khó làm như mình muốn. Có thể, rồi thế hệ con mình sẽ khác, không như
bọn mình. Nhiều lúc tôi có cảm tưởng thế hệ bọn mình sinh ra để chịu một cuộc
thí nghiệm...
- Thư nói như thể là Thư
sắp có con rồi ấy!
Thư bỗng im, xúc động. Một
lát nàng cười nhẹ:
- Tôi sắp có con thật, chẳng
phải “như thể” đâu.
Duẩn không tin. Thư cảm
thấy không thể không bộc lộ niềm vui vẫn lo âu của mình với Duẩn.
- Không tin tôi nói thật
à? Hai tháng rồi...
Thư nói giọng run run,
nhưng vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh. Duẩn nhìn Thư, vẻ ngạc nhiên pha lẫn nét vui mừng
trên khuôn mặt. Anh đặt tay lên bụng Thư giản dị, tự nhiên như Thư là người yêu
của anh, và dường như đó là điều anh mong đợi.
- Thế... sao trông Thư...
tỉnh thế?
Hỏi xong, Duẩn mới thấy
mình có vẻ ngây ngô. Giọng Thư ráo hoảnh, thật nhỏ:
- Không tỉnh, thì say à?
Duẩn rút tay về, nói như
nói một mình:
- Vui nhỉ?
Trong phút giây, Duẩn có
cái ao ước được úp mặt vào lòng Thư và được Thư lùa những ngón tay vào trong
tóc anh, cái cử chỉ của những người yêu nhau thường làm. Nhiều lúc cảm thấy quá
thiếu thốn. Duẩn cần một thứ tình yêu pha lẫn tình bạn trong đó. Điều đó nghe
thật giản dị. Nhưng sao trong thực tế thật hiếm.
Duẩn nghĩ đến Thục. Mặc
dù đã đính hôn với nhau, Duẩn vẫn nghĩ đây là một việc làm trái với ý muốn của
anh. Tại sao Thư không là Thục nhỉ? Và tại sao Duẩn không là người đàn ông đã
cho Thư đứa con nhỉ? Duẩn lẩn thẩn tự hỏi. Tiếng Thư nghe xa vắng:
- Tôi giữ đứa nhỏ lại, dù
tôi biết mình sẽ phải trả một giá rất đắt. Tôi nghĩ biết đâu sự có mặt của nó sẽ
thay đổi cuộc sống và những suy nghĩ của mình phần nào chăng? Có thể nó sẽ là sợi
dây ràng buộc tôi vào cuộc sống mà nhiều lúc tôi thấy quá chán ngán?...
Thư cảm thấy bị lôi cuốn
bởi chính những điều nàng vừa nói ra. Mình có đang ngụy biện? Nàng thầm hỏi. Thực
sự Thư không biết những gì đang chờ đón mình ở cuối cùng chặng đường này. Mặc,
nàng cứ dấn bước.
Duẩn cảm thấy bất cứ câu
hỏi nào đặt ra bây giờ cũng là thừa. Anh hút hơi thuốc cuối cùng, khum hai ngón
tay cái và ngón giữa, búng điếu thuốc văng ra xa sang bên kia hàng rào, điếu
thuốc đụng phải bức tường của ngôi nhà trước mặt, những tia lửa tóe vỡ như từ một
quả pháo bông tí hon, và rơi xuống trong đám cỏ dưới chân tường. Anh đứng dậy:
- Thư vào nhảy với tôi bản
này đi?
- Không. Tôi muốn ngồi
nghỉ. Tôi muốn được yên tĩnh. Duẩn vào nhảy đi.
Duẩn tần ngần một lát, rồi
quyết định đi vào nhà:
- Tôi đi kiếm rượu uống...
Thư uống một ly nhé?
Tiếng Duẩn ngập đi trong
tiếng nhạc dồn dập ồn ào...
Chiếc xe rời đường Võ Di
Nguy rẽ qua đường Chi Lăng. Trời về khuya, đường phố xe cộ thưa thớt. Thư tưởng
tượng cách đây vài tiếng, từng bầy trẻ náo nức cầm đèn lồng đi tung tăng trên
các đường phố, và trên những sân thượng, từng mâm cỗ trông trăng được bày ra với
bưởi, cam, hồng, bánh nướng bánh dẻo, và những con giống xinh xắn đủ màu. Xa rồi
những ngày rằm cùng anh chị em náo nức mua sắm. Thư nhớ lại mùa trung thu dạo
nào, mấy bố con xúm lại làm một cái đèn kéo quân. Thư có bổn phận vẽ và cắt những
hình người - những hình người vẽ lại những mẫu chuyện cóp nhặt trong thần thoại
cổ tích. Ông Lư và Thức vót tre làm đèn và dán giấy. Đèn đốt lên, ba vòng tròn
đầy những hình người quay tròn quay tròn. Bố con cùng ngắm tác phẩm hoàn thành
và đang sinh hoạt. Cô bé Lọ Lem đuổi theo nàng Bạch Tuyết và những chú lùn nối
đuôi cô bé quàng khăn đỏ, xen vào đó là những nàng công chúa thủy cung nửa người
nửa cá, những hoàng tử cưỡi ngựa uy nghi... Cả một thế giới thần thoại được dựng
lên, đúc kết, sống động. Bây giờ là những buổi tối trống rỗng cần sưởi ấm bởi một
ngọn lửa từ bên ngoài, từ những người bạn, từ một vòng tay của người khác phái.
Nhưng những tìm kiếm đó chỉ khơi thêm lỗ hổng cô đơn. Vẫn mặc. Như bị lôi cuốn
bởi cơn thác lũ, Thư vẫn tiếp tục lao đầu vào, với một đam mê cuồng nhiệt không
tên. Bất giác Thư đặt tay lên bụng. Giọt máu này cũng giống như cơn đam mê kia.
Nó chưa có hình dạng, chưa có giống, chưa có tên gọi. Và chưa được nhìn nhận bởi
một ai ngoài người mang nó. Và Thư nhìn nhận nó với một nỗi ngây ngất kỳ diệu.
Phải chăng đó chính là cái bản năng đầy nữ tính? Cử chỉ của Thư làm Duẩn thôi
nhìn về phía trước quay nhìn theo bàn tay của Thư rồi nhìn Thư, mỉm cười. Thư
tìm đọc trong nụ cười đó một ý nghĩa. Nàng chỉ thấy trong đó một sự bao dung có
pha lẫn vẻ lạ lùng.
- Nó... đạp chưa?
Duẩn hỏi nhỏ vừa đủ cho
Thư nghe. Thư lắc đầu, cười nhẹ:
- Làm gì mà mau thế?
Phấn im lặng lái xe không
nghe những lời đối thoại giữa hai người. Với hắn, buổi họp mặt vừa rồi coi như
lui vào dĩ vãng. Hắn không đạt được điều mà hắn mong muốn, là tìm được một cô vừa
ý hắn. Có lẽ hắn thích Thư. Khuôn mặt có vẻ trong sáng. Cái nhìn khôn ngoan
lanh lợi. Lối nói chuyện chứng tỏ người có học. Tính nết thâm trầm. Nhưng từ
lúc Thư nhận lời đi với Duẩn, hắn tự ý loại nốt Thư khỏi đầu óc.
Thư cảm thấy bàn tay Duẩn
vỗ vỗ nhẹ lên vai nàng. Và chiếc xe rẽ vào một ngõ hẹp đường Chi Lăng. Đường hẻm
vẽ một hình cong, vắng ngắt, không một ánh đèn. Lờ mờ một vài bóng cây màu đen
sậm. Chiếc xe quẹo thêm một lần nữa về tay trái và nằm lọt giữa hai dãy nhà có
những bức tường cao, vôi loang lổ, ít những khung cửa sổ. Hẻm có vẻ một nơi gồm
những xưởng - xưởng gì Thư không rõ - nhưng Thư có cảm tưởng như vậy. Vành
trăng hiện ra trên bờ một bức tường cao đổ xuống lòng hẻm một ánh vàng nhạt mờ
mờ. Thư có cảm giác đang đi vào một thế giới xa lạ không tên gọi. Điều đó gây
cho Thư một thích thú như người tham dự vào một cuộc phiêu lưu. Thư có thể hỏi
Phấn và sẽ được giải thích. Nhưng nàng im lặng để giữ cho mình cái cảm giác ban
đầu. Thư cũng có thể bảo với Phấn và Duẩn nàng muốn về nhà và nàng sẽ trở về
nhà, sẽ dùng chìa khóa riêng mở cửa, sẽ bỏ giày leo lên căn gác nhỏ bé thiếu
khí trời, sẽ thay quần áo trong im lặng, sẽ nằm sấp trên chiếc giường sắt một
người của nàng và sẽ tiếp tục nghe ngóng cái sự sống nhỏ bé đang nẩy mầm trong
thân thể nàng với một niềm lo-âu-pha-lẫn-thích-thú-riêng-tư-không-chia-xẻ,
không-thể-chia-xẻ. Nhưng một sức lôi kéo làm Thư vẫn cứ tiếp tục yên lặng. Bất
giác Thư tự hỏi mà mình mong mỏi gì ở họ, ở Duẩn chứ? Thư biết rằng nếu nàng cứ
tiếp tục im lặng, như thế có nghĩa là ngày mai trở về nhà, nàng phải chịu đựng
cái nhìn trách móc và dò hỏi của bà Lư. Tại sao từ bao giờ đến giờ hai mẹ con vẫn
vô cùng cách biệt? và dường như bà Lư cũng chẳng tỏ vẻ buồn bã, hay ít ra, ý thức
về sự cách biệt này. Bà chỉ có một mối bận tâm: đi nhà thờ và cầu nguyện, cầu
nguyện như một cái máy cho bà và cho phần hồn của cả gia đình đang dần dần phân
tán, mỗi người một ngả. Từ đó Thư có ý tưởng cầu nguyện là một chứng tỏ của sự
bất lực. Và Thư khước từ sự bất lực đó. Thư muốn được tin tưởng ở tương lai,
tương lai của cuộc sống này, chẳng phải cuộc sống ở bên kia cõi sống phân cách
bằng sự chết.
Phấn cho xe dừng lại trước
một khung cửa sắt. Ánh đèn từ bên trong hắt ra đổ dài trên mặt hẻm thành một vệt
sáng mờ. Một con chó bẹc-giê từ bên trong nhảy xô ra sủa vang. Âm thanh chát
chúa như chợt đánh thức Thư dậy cùng với tiếng máy xe vừa tắt ngấm. Không gian
tĩnh mịch của con hẻm bị xé toang, kéo theo vài tiếng sủa khác đáp lại từ xa.
Phấn mở cửa xe xuống, quát khẽ:
- Ky Ky! Im nào! Đi vào
trong nhà!
Con chó nghe tiếng chủ,
im bặt, nhưng vẫn còn gầm gừ trước hai người khách lạ lúc ấy cũng vừa bước xuống
xe. Tiếng giày đi, lết trên sàn xi-măng. Phấn loay hoay mở cửa sắt. Tiếng chìa
khóa xoay trong ổ khóa và đọan xích sắt đập vào cửa vang lên những tiếng động
khô khan. Con chó quýnh quít đập đuôi phía bên trong. Nhưng cửa vừa mở nó thoát
ngay ra ngoài. Phấn quát gọi:
- Ky Ky! Đi đâu? Vào nhà
mau!
Con chó không nghe, làm một
vòng quanh chiếc xe đậu trước cửa rồi cuối cùng theo ba người vào nhà, lúc quấn
bên chân chủ, lúc theo đánh hơi hai người khách. Thư bước chậm chậm, nhìn những
khung gỗ la liệt trong ánh đèn vàng kệch hắt lại từ một ngọn đèn tù mù treo lủng
lẳng cuối xưởng. Nàng đoán chừng đây là một xưởng dệt. Đồ đạc lộn xộn chật chội.
Phấn bước vội vào phía trong bật thêm một ngọn đèn nữa rồi trở ra loay hoay tra
chìa khóa vào ổ khóa một cái cửa ăn thông sang căn bên mặt. Thư đứng lại trong
bóng tối. Bây giờ nàng mới cảm thấy mỏi rã rời, chỉ muốn được ngả lưng xuống một
cái giường nệm nào đó. Nàng ngó Duẩn lúc ấy đang nhìn quanh dáo dác, vẻ chán
chường. Tuy nhiên Duẩn đã có vẻ tỉnh táo hơn lúc ngồi ở tiệm cà-phê. Anh thọc
tay vào túi tìm diêm quẹt lửa châm điếu thuốc. Bàn tay run run. Ánh sáng rung động
hắt lên khuôn mặt nhiều thịt, lúc nào cũng đỏ gay của anh và mái tóc bơ phờ.
Các bạn thường gọi đùa Duẩn là “Tây say”. Duẩn nhận biệt hiệu đó không phản
kháng, không buồn phiền một cách dễ dãi như anh đã dễ dãi chấp nhận nhiều sự việc
khác, như việc đính hôn với Thục, chẳng hạn. Tất cả chỉ là một lô những sự tình
cờ đến nỗi đôi khi làm Duẩn ngơ ngác mỗi lần nghĩ lại. Duẩn còn nhớ những lý lẽ
người ta đưa ra để buộc anh phải làm lễ đính hôn với Thục. Giá Duẩn đừng ra
thăm Thục khi nhận được điện tín của nàng báo tin mẹ nàng chết... Thật ra mùa
hè đó Duẩn cũng muốn có một lý do để rời Sài Gòn. Những người như Duẩn có thể
làm bất cứ việc gì, đi bất cứ nơi nào không cần lý do. Nhưng đôi lúc để thi vị
hóa cho một chuyến đi, Duẩn mong có một cái cớ. Và không có cái cớ nào mà lại
thi vị cho bằng ra thăm người yêu và chia xẻ với người yêu nỗi buồn mất mẹ. Sự
hiện diện của Duẩn trong đám tang đó ngày hôm sau được truyền đi khắp cái thành
phố nhỏ bé nơi ông cụ thân sinh ra Thục giữ một chức vụ quan trọng, để rồi tiếp
đó là một cuộc đính hôn giữa Duẩn và người con gái hơn anh đến ba tuổi. Vì thể
diện của gia đình Thục và cá nhân Thục, Duẩn về Sài Gòn với chiếc nhẫn đính hôn
trên ngón tay mà bà cụ Duẩn đã nghiêm trang đeo vào tay anh, chiếc nhẫn cưới của
bà. Bà mẹ anh lại quí Thục vì tính nết hiền lành, ngoan ngoãn. Duẩn chỉ ý thức
một điều là anh không thể yêu Thục và ngược lại anh không thể làm trái ngược với
ý muốn của mẹ anh. Anh thường ngơ ngẩn mỗi khi nhắc lại cuộc đính hôn bất đắc
dĩ này. Duẩn chỉ còn một cách là kéo dài thời kỳ đính hôn để có thể tự do sống
với mấy người bạn trai mà anh thương hơn bất cứ ai, ngoài mẹ anh, ở trên đời, kể
cả những người con gái mà anh đón nhận bằng một đam mê cuồng nhiệt nhưng chỉ
trong một thời gian ngắn ngủi vài ba tháng để rồi lại nguội lạnh. Mặc dù Duẩn ý
thức mình sống không thể không đam mê một hình bóng, nhưng đồng thời không thể
sống mãi với một đam mê. Duẩn nghĩ mình là một nguời tình nhân không chung thủy
song không thể không yêu đương.
Cái gì đã thúc đẩy Duẩn
muốn đổi mới mãi? Có lẽ vì mỗi ngày anh mỗi phải tiếp xúc với bầy học trò con
gái lúc nào cũng náo nức trong lứa tuổi dậy thì, những người con gái mang đầy sức
sống, những người con gái chứa đựng trong họ sự tươi mát mà cuộc sống nhàm chán
và tù túng đang tước đi dần ở người con trai hai nhăm là anh, là những người bạn
đồng nghiệp còn trẻ của anh. Chỉ ở họ, ở những người con gái mới lớn, nhiều mơ
mộng ấy còn mang cái nguyên vẹn, không âu lo về thời cuộc về trận chiến đang cướp
đi dần của anh những người bạn, những người bạn hôm nay còn cười nói trong một
kỳ nghỉ phép, ngày mai ngày mốt đã nghe tin chết hay bị cụt tay cụt chân trong
một trận đánh nào đó trong trăm ngàn những trận đánh đang diễn ra mỗi ngày. Tuy
nhiên Duẩn cũng tự hào là anh chưa để khổ cho một người con gái nào. Bởi tình
yêu của anh dành cho họ đến mau rồi cũng rụng mau, trước khi nó đưa đến những
liên hệ sâu xa. Điều mà anh quan tâm, mà anh tha thiết, vẫn là những người bạn
trai, cái đám bạn trai còn sót lại, đi học, đi dạy, tụ họp, đấu hót, giễu cợt -
nhất là giễu cợt - và càng giễu cợt mỗi khi cuộc sống dồn họ vào ngõ bí, khép họ
vào những mặc cảm nặng nề, không lối thoát, hoặc có, thì cũng là một ngỏ thoát
để rồi lại rơi vào một bế tắc khác. Thỉnh thoảng, một đôi người trong bọn anh,
như Cương, may mắn, có một lối thoát không phải là lên đường nhập ngũ, mà là du
học. Và trong những lá thư họ gửi về, Duẩn đọc thấy một chán nãn khác mọc rễ, một
thứ mặc cảm khác nẩy sinh. Trong bọn có người, như Quảng, đi xây dựng lại một mớ
giá trị đã bị vuột mất, đã bị giễu cợt hóa, bằng cách đi xa, nhận việc huấn luyện
những lớp người từ các nông thôn về theo học các lớp đào tạo một căn bản chính
trị, tại Vũng Tàu. Quảng đã thành công một phần nào trong việc đi tìm lại những
giá trị cần thiết đó. Nhưng phải nhận là Quảng trước đó, vẫn còn ít nhiều quan
niệm đứng đắn trong đầu, nhờ giáo dục của ông bố. Duẩn bỗng nhớ đến cái nhìn
tha thiết của Quảng lúc anh quyết định lên xe với Thư về đây và nhờ Quảng sáng
mai đến trường xin phép hộ. Duẩn, mày về tao ngủ đi sáng mai mọi sự sẽ bình thường
lại, hoặc mày sẽ đi dạy, hoặc mày sẽ nghỉ và ở chơi với tao. Duẩn nói như gắt,
sáng mai nếu tao chưa về kịp mày cứ đến trường bảo là tao ốm, tao chán lắm nếu
mai phải nhìn mặt tụi học trò, vì thực sự tao cũng đang chán tao nữa đây này.
Khi Duẩn nói điều đó Duẩn nghĩ là đêm nay sẽ được nằm trong vòng tay Thư, có thể
chỉ nằm trong vòng tay Thư hoặc anh sẽ ôm Thư vào vòng tay vuốt tóc nàng, an ủi
nàng để nghe như chính mình an ủi mình. Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây. Duẩn có
cảm tưởng từ mấy năm nay quen biết với Thư, lần đầu tiên anh biết nàng. Lúc ấy
Thư im lặng trong xe nhìn Duẩn và Quảng dằng co nhau trên hè đường sau khi cả bọn
ra khỏi tiệm cà-phê. Cuối cùng Duẩn lên xe, đóng cửa lại, bảo Phấn anh cứ lái
đi. Phấn cho xe chạy đi. Tiếng Quảng gọi với theo Duẩn và mất hút ở phía sau.
Có lẽ chính Quảng cũng đang cần sự có mặt của Duẩn. Qua tấm kính chiếu hậu, Duẩn
thấy Quảng lầm lũi băng qua đường. Tự nhiên Duẩn thấy thương Quảng xót xa.
Phấn xô cánh cửa mở rộng.
Duẩn bước theo Phấn vào phòng. Căn phòng bừa bãi những sổ sách và thư từ. Đằng
cuối phòng có một khung cửa che rideau thông vào một căn buồng phía trong, Duẩn
thả người xuống một chiếc ghế xa-lông kiểu cũ không có nệm đặt ngay chỗ ra vào,
thở ra, đôi mắt nhắm lại. Phấn bật đèn ở trong buồng trong rồi quay ra nói với
Duẩn:
- Trong này có giường
màn, anh với cô Thư có thể nằm nghỉ.
Duẩn ôm lấy đầu bắt đầu nặng
chình chịch. Mỗi lần uống rượu vào, Duẩn thường bị nặng đầu khi cơn say bắt đầu
nhạt. Biết vậy nhưng Duẩn vẫn không thể không uống.
- Anh nhức đầu à? Có thuốc
đấy. Hồi nãy uống có nhiều không? Nhảm quá. Lẽ ra phải có soda. Tôi quên khuấy
mất chỉ vác có chai whisky lên... Để tôi lấy thuốc anh uống.
Duẩn xua tay, nói và cảm
thấy xa lạ với giọng mình:
- Không sao đâu. Anh cứ để
bọn này tự nhiên. Làm phiền anh quá đi.
- Có gì mà phiền. Bây giờ
tôi để hai người ở đây. Cần gì cứ tự tiện. Có nước lạnh ở phía sau...
Thư bước vào phòng ngồi
xuống trên chỗ tì tay của chiếc ghế Duẩn đang ngồi bóp trán:
- Anh không ở lại với tụi
này? Anh đi đâu bây giờ? Giọng nàng bình thản, hơi mệt mỏi.
- Không, tôi phải trở về
Thủ Đức.
- Bây giờ có lẽ đã tới giờ
giới nghiêm anh về tận Thủ Đức, làm sao kịp?
- Kịp mà. Mới có mười một
giờ rưỡi. Cô đi ra phía sau với tôi, tôi chỉ cho một vài nơi cần thiết...
Thư rời chỗ Duẩn, đặt chiếc
ví tay lên mặt bàn, bước ra sau với Phấn. Phía sau là một cái xưởng lớn hơn chiếm
cả hai căn, nhưng trống hơn. Những khung cửi đặt ngổn ngang. Thư ngước nhìn mái
nhà cao, xung quanh gần như không có gì che đậy từ mép tường cao hai thước lên
đến mái. Phấn trỏ tay về phía một khung cửa nhỏ nằm tận cuối xưởng:
- Nếu cô cần đi ngoài, lại
đó...
Thư nói cám ơn anh. Thấy
nàng nhìn cái máy điện đặt ở giữa xưởng, Phấn giải thích:
- Ở đây chúng tôi dùng điện
để chạy máy.
Thư bắt gặp cái cảm giác
lạc lõng giữa khung cảnh của một xưởng dệt vào lúc ngưng hoạt động. Nàng thấy mệt
mỏi. Thoạt tiên là một bữa tiệc, rồi Duẩn say rượu và yêu cầu nàng ở lại với
anh. Thư nhận lời với ý nghĩ là Duẩn đơn độc và cần sự có mặt và săn sóc của
nàng. Thư đã từng có những lần say rượu nhưng lần say rượu làm Thư nhớ hơn cả
là hôm đi ăn với Cương và Duẩn sau khi tan học ở Văn khoa. Lâu rồi. Hôm ấy
Cương đã thức cả đêm với Duẩn, để săn sóc cho nàng. Trong cơn nửa say nửa tỉnh
Cương đã hỏi nàng nhiều lần lý do khiến nàng khóc sướt mướt trong khi say. Làm
sao có thể nói được? Một nỗi cô đơn thình lình úp chụp xuống và tôi bị mất hút
trong đó, và cái thế giới vô thức trong phút chốc được cởi tung như một đoàn
quân ô hợp kéo vây kín mọi ngả tâm hồn. Từ đó mở đầu cho một rạn nứt trong tình
yêu giữa Cương và tôi. Tôi tưởng sự có mặt của mình có thể làm gì được cho Thư
nhưng bây giờ tôi thấy rõ là mình chẳng làm được gì cả tôi bất lực hơn tôi tưởng.
Thư cố níu kéo, anh nhầm rồi em không thể nói chẳng phải vì cố tình muốn giữ
cho mình sự riêng tư, lỗi không ở anh, đừng nói như vậy. Nhưng dù muốn dù
không, họ đã xa nhau. Một hôm, Cương đến cho Thư biết anh sắp đi Pháp. Họ trải
qua với nhau một ngày trong dịp Cương có việc phải đi Kiến Hòa và đến rủ Thư đi
cùng cho biết. Thư vẫn thích những chuyến đi xa gọi là “giang hồ vặt” như vậy.
Thư nhớ lúc hai người ngồi ở bờ một cái hồ ở Kiến Hòa và tưởng tượng như đó là
hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội - cái kỷ niệm cuối cùng họ có với nhau trước khi Cương
lên đường sang Pháp. Chúng mình đã ngu xuẩn đâm đầu đi tìm cái tuyệt đối. Nhưng
lạ là tôi chẳng hề hối tiếc. Mỗi một vấp ngã của tuổi trẻ là một kinh nghiệm, một
kỷ niệm đáng yêu, nó giúp cho cuộc sống thêm sâu thêm phong phú. Có lẽ một đôi
khi tôi thèm cái tuổi trẻ bình thản của nhiều người con gái bình thản và an phận.
Nhưng tôi cũng còn kiêu hãnh về cuộc sống nhiều gai góc của tôi hơn. Phải chăng
vì điều đó làm tôi thấy tôi là “một-người-nào-đó” chẳng thuộc về cái số đông?
Thư quay lại:
- Xưởng này của anh?
- Vâng.
- Ở tuổi anh mà gây dựng
được một cơ nghiệp như thế này, thật là giỏi. Bọn chúng tôi bị chữ nghĩa, sách
vở làm mụ đi và mất hẳn vẻ hoạt bát linh động cần thiết...
Phấn nói:
- Nhưng cô và các bạn cô
có tuổi trẻ, có học thức...
Phấn có vẻ thành thực mến
phục bọn Thư. Thư bật cười lên một tiếng ngắn, nói và biết là chẳng bao giờ Phấn
nghĩ và thông cảm với điều nàng nói:
- Tuổi trẻ và học thức
như bọn tôi mà làm gì, hả anh? Ra đời, có lẽ còn thua những người tháo vát như
anh.
Thư bắt gặp một nỗi chua
chát. Hình như chính mình cũng còn thích làm ra vẻ chua chát như vậy nữa? Thật
khôi hài. Mình có đang sống thực tại hay thật ra đây chỉ là một lớp kịch? và
Thư cũng ý thức là tra hỏi xem mình có thực không, chỉ làm cho mình trở nên
không thực, mơ hồ hơn.
Thư hỏi mượn Phấn khăn mặt.
Gã đàn ông sốt sắng một cách không ẩn ý, chạy đi lấy khăn mặt và không quên
mang ra cho Thư một bánh xà-phòng thơm.
Thư nói: - Cám ơn anh. Thật
phiền anh quá!..
Rồi nàng nói luôn, không
đợi Phấn lên tiếng:
- Có lẽ Duẩn vẫn còn say.
Duẩn là bạn thân với tôi từ dạo ở Văn khoa. Tôi không muốn để Duẩn nằm một mình
đêm nay...
Thư ngừng lại, bỗng thấy
sự lố bịch của mình. Việc gì phải phân trần với Phấn? Đêm nay mình sẽ trải qua
một đêm ở đây với Duẩn, ngày mai rời đây, không tìm hiểu không cần tìm hiểu nơi
này, và gã đàn ông này rồi sẽ chẳng bao giờ mình gặp lại, hắn không có gì để
mình lưu luyến bận tâm, thì việc gì phải phân trần làm chi vô ích? Thư múc nước,
xấp tay cho ướt rồi xát xà-bông và rửa tay. Nàng tưởng tượng khi vục nước lên rửa
mặt, mùi thơm của xà-bông còn vương lại trên hai bàn tay sạch sẽ sẽ tỏa ra ôm lấy
khuôn mặt mệt mỏi của mình, và làm dịu đi những suy nghĩ day dứt đang xâm chiếm
tâm tư nàng. Thư rửa sạch nước xà-bông ở tay, múc một gáo nước khác và thực hiện
ý nghĩ trên. Nước lạnh thấm vào da mặt, thấm vào đầu óc, thấm vào tâm hồn! Nàng
nghe người nhẹ nhõm. Nàng muốn cứ tiếp tục vục nước lên mặt như vậy hoài hoài.
Thư nhớ có một dạo nàng thích tắm buổi sáng, và ra phố với những hạt nước lấm tấm
trên da thịt. Từ cái ý thích đó, ở nàng nảy sinh ra cái thú đầm mình dưới mưa
cho nước mưa ngấm vào tận tâm tư. Nhưng từ hai tháng nay, Thư mất thói quen tắm
sáng. Nàng đâm sợ nước.
Tiếng giày của Phấn đi
lên đi xuống thu xếp một vài vật dụng. Có tiếng hắn bảo Duẩn đi rửa mặt cho
mát. Tiếng Duẩn đáp lại vâng anh mặc tôi, phiền anh quá bây giờ anh lại về Thủ
Đức à. Tiếng Phấn đáp thường tôi về trên ấy ngủ đêm, nhưng nhiều khi bận công
việc tôi cũng ngủ lại dưới này, anh thấy bớt chưa. Dạ cũng khá ạ. Tiếng Phấn,
chắc hồi nãy ở tiệm cà-phê anh ói ra hết. Duẩn nói vâng cũng nhờ ói ra hết với
ly nước chanh nên mới khá thế này, không hiểu sao lần này tôi uống rượu tồi thế,
bậy thật. Phấn nói may mà lúc nãy không gặp gió; anh có nóng cứ bật cái quạt
này nó tự động, mà cứ chạy một giờ thì nó ngừng lại, tôi gắn thêm cái đồ tự động
này để đề phòng đêm mình có ngủ quên đi cũng không sợ, à tôi dặn anh và cả cô
Thư đừng đụng gì đến những lọ thuốc này của tôi. Duẩn hỏi sao thế anh. Phấn nói
dặn là dặn phòng hờ vậy vì có thể nguy hiểm. Duẩn cười, được mà anh yên trí...
Thư đổ gáo nước xuống hai
bàn chân trong khi dùng khăn mặt lau khô nước trên da mặt, và cọ hai chân vào với
nhau gượng nhẹ, cố không gây tiếng động. Phấn trở xuống nhà:
- Tôi phải xem xét lại một
vài thứ máy móc xem buổi chiều họ đã tắt đi chưa...
Tiếng giày của Phấn đi về
phía cuối xưởng. Thư chống tay lên miệng lu nước, một nửa người nghiêng về phía
trước, nàng soi bóng mình trong nước. Mái tóc xõa về phía trước. Mặt nàng là một
khoảng tối tăm. Trong cái khoảng tối tăm ấy, những ý nghĩ ngổn ngang. Mình đến
đây trong đêm nay, làm gì nơi nầy. Nơi đây là sự xa lạ. Duẩn cũng trở thành một
kẻ xa lạ. Thư nhớ lại ngày nào còn có cả Cương. Bây giờ hình ảnh đó không còn đủ
sức gợi cho nàng dù một chút thương nhớ. Lâu quá rồi. Sau Cương đã có những
khuôn mặt khác đến thay thế. Họ đến rồi đi như những cái bóng. Thư chấp nhận dễ
dãi và cũng dễ dãi buông lỏng vòng tay khi thấy đã đến lúc không thể lưu giữ.
Buồn chán ngập tràn, tình yêu chẳng phải là một phép mầu. Nhưng mình vẫn cố sục
sạo tìm kiếm ở mỗi một người đàn ông - tìm gì? một mảnh bản ngã chưa chịu tìm lấy
đường về? Cũng phải có một thay đổi nào đó. Thư đã lựa chọn, dù biết rằng mình
sẽ phải trả một giá rất mắc về sự hiện diện của đứa con trong tương lai. Vả lại,
có gì đâu mà phải băn khoăn kia chứ? Thư mơ hồ cảm thấy như chính mình cũng muốn
nhận một thử thách. Thư nhớ dạo còn ở bậc trung học, mỗi lần phải lựa một trong
những đề tài giáo sư ra, Thư thường chọn những đề tài khó và phức tạp. Đôi khi
phải bỏ dở và lựa một đề tài khác dễ hơn. Nhưng Thư biết lần này không thể bỏ
cuộc. Thư đã đánh cuộc và nàng sẽ phải đi đến cùng. Phấn trở ra, móc túi đưa
cho Thư mớ chìa khóa:
- Tôi đưa cho cô chìa
khóa cổng sắt. Sáng mai khi rời đây cô mở cổng rồi để chìa khóa lên nóc cái hộp
đựng công-tơ điện ở bên tay mặt - tôi sẽ chỉ cho cô thấy cái hộp đó - rồi cứ thế
dập cửa vào. Nếu mấy người thợ của tôi lại, cô cứ để cho họ vào nhưng nhớ là để
chìa khóa nơi tôi dặn cô...
Thư gật đầu nói vâng
vâng. Hai người cùng lên nhà. Thư có ý nghĩ giá hồi nãy cứ đóng kịch với Phấn
và biết đâu... Nàng mỉm cười với ý nghĩ đó. Hắn có của nhưng không phải là type
người của mình và nhất là hắn có nhiều cái tinh ranh nhỏ nhặt và buồn cười. Vả
lại, dẫu chưa có ý niệm gì về giọt máu trong người, Thư cũng cảm thấy không muốn
đứa nhỏ sẽ có một ngộ nhận về người cha của nó. Mình đã, đang và sẽ còn nhìn thẳng
vào cuộc sống với đôi mắt mở lớn, không lý gì đứa con làm bằng xương bằng thịt
bằng máu của mình lại có thể mang trong nó một sự ngộ nhận lớn lao như vậy về
cái thân thế của nó. Hãy phán đoán tôi, hãy xa lánh, nếu cần. Nhưng xin cho tôi
được sống chân thực. Thư cúi mặt nhìn xuống hai chân, nghe xót xa dâng lên. Phấn
đi rồi, Thư dập và khóa cổng xong bước chầm chậm trở vào nhà. Duẩn đã bỏ ra sau
rửa mặt. Tiếng nước rơi lã tã trên nền xi-măng vỡ. Thư nghe cả tiếng súc miệng
sục sục của Duẩn. Nàng kéo chiếc rideau che cửa thông vào buồng trong sang một
bên và bước vào. Bên trong đồ đạc cũng gồm những sổ sách và chai lọ lộn xộn bừa
bãi. Một chiếc tủ gương kê tại cuối phòng. Các bàn kê gần bên. Không có ghế.
Nơi duy nhất có thể ngã lưng là một chiếc divan. Một đống chăn màn xếp tại góc
divan. Không có chiếu. Thư ngó chiếc divan, nàng vừa thất vọng vì đó không phải
là một nơi nằm mà nàng mong muốn, vừa ngượng ngập. Thư vẫn thường có những ngượng
ngập như vậy mỗi khi nhìn vào nơi nằm nghỉ của một người đàn ông. Thư chưa làm
quen được với hình ảnh về nơi sinh hoạt thân thiết đó của người đàn ông, dù người
đó là một người bạn thân hoặc có thể là một người tình. Thư cũng biết là nỗi
ngượng ngập của mình có vẻ vô lý. Thư không xa lạ gì với người đàn ông cả.
Nhưng nàng cũng không cố gắng bỏ sự ngượng ngập đó. Đối với nàng đó là sự
nguyên vẹn duy nhất nàng còn giữ được. Thư bước lại đứng trước gương. Nàng nhìn
vào đôi mắt mình rồi thả cái nhìn xuống thân thể đang nẩy nở hơn lúc bình thường.
Thư đưa tay vuốt bụng. Nàng rời chỗ đứng lại divan ngồi khi nghe tiếng chân Duẩn
bước vào phòng. Duẩn vừa đi vừa lau mặt lau cổ bằng khăn mùi-xoa riêng. Anh dừng
lại nhìn quanh căn buồng rồi đến ngồi xuống bên Thư. Một bầu không khí im lặng
bao phủ lên hai người. Duẩn úp hai bàn tay lên đầu gối. Một lát Thư lên tiếng:
- Duẩn thấy đỡ chưa?
- Còn mệt. Đầu nhức như
búa bổ.
Anh ngó chung quanh, như
chợt ngạc nhiên về sự có mặt của mình giữa một nơi hoàn toàn xa lạ này. Duẩn bật
cười một tiếng ngắn, tiếng cười nhuốm vẻ chua chát thoát ra từ một bất lực. Những
cố gắng để thoát ra khỏi cuộc sống chật chội tù túng chỉ làm cho con người ngột
ngạt hơn và muốn phát điên. Chấp nhận không phải là một ổn định cho tất cả. Đó
chỉ là một giải pháp tạm thời để rồi đến một lúc nào đó... Duẩn nắm lấy bàn tay
Thư áp lên má. Những giọt nước lạnh còn lấm tấm nơi chân tóc anh. Tiếng Thư hỏi
nhỏ:
- Cười gì vậy?
Duẩn lắc đầu từ chối trả
lời. Anh khép đôi mắt lại trong giây lát, nghe sự êm ả thoát ra từ lòng bàn tay
người con gái.
- Duẩn biết tôi đang nghĩ
gì không?
Duẩn đáp không, vẻ chờ đợi.
Thư nói, mắt ngó thẳng về phía trước, giọng mơ hồ:
- Tôi nghĩ giá mình đang
sống ở miền biển lúc này đây tôi sẽ chạy ra bãi biển, sẽ bỏ dép chạy chân không
trên nền cát ướt lạnh và đôi khi đứng lại lắng nghe tiếng sóng từ xa dội lại
như những lời thì thầm đầy bí mật.
- Còn tôi, tôi tưởng như
ngày mai mà phải thức dậy, phải vác bộ mặt mô phạm vào lớp, phải nhìn bọn học
trò chắc tôi chịu không nổi. Nhiều buổi sáng thức dậy, chỉ còn mười lăm phút để
rửa mặt đánh răng mặc quần áo và uống vào một ly cà-phê pha vội, tôi thấy ngao
ngán kinh khủng. Nhưng vẫn không đủ can đảm thay đổi lại cuộc sống. Cuộc sống
mà tôi hiện đang sống tuy cũng đòi hỏi sự cố gắng, nhưng là những cố gắng thụ động.
Có lẽ tôi hèn nhát. Có lẽ...
Duẩn chặc lưỡi, ngưng
nói. Nét mặt anh đăm chiêu, buồn bã. Anh ngửa bàn tay lên đùi và nhìn vào đó bất
động.
- Độ nhỏ tôi có một giấc
mơ, cho đến bây giờ mỗi lần nghĩ đến tôi vẫn còn tưởng như mới đêm qua mình nằm
mơ vậy thôi. Tôi mơ thấy tôi trôi giạt vào một hòn đảo nhỏ xíu ở giữa biển sóng
lớn nước mênh mông. Ở giữa đảo là một cái cây trụi lá, lớn như một cây cổ thụ
và rễ chiếm hết đảo. Tôi như không thấy mình đâu nữa. Và tôi mơ hồ lo sợ một
lúc nào đó cái cây bị sóng biển đánh bật rễ và mình sẽ không còn nơi nào để bấu
víu...
Duẩn im lặng nghe Thư kể.
Anh cảm thấy một nỗi xúc động mãnh liệt đang xâm chiếm người con gái.
- Rồi ra sao?
- Chả ra sao cả. Những giấc
mơ vẫn vậy. Duẩn tưởng tôi nghĩ đó là một cái điềm gì à? Không đâu. Tôi vẫn
nghĩ và tin là cuộc sống của tôi do tôi tự tạo một phần lớn. Tôi kể lại giấc mơ
đó vì thấy là đã lâu rồi mà cái hình ảnh đó vẫn có thể làm tôi thấy sởn gai ốc
mỗi khi nghĩ đến.
Duẩn châm điếu thuốc, hút
một hơi, rồi sực nhớ ra cơn nhức đầu của mình, anh dụi điếu thuốc, đứng dậy đi
vòng quanh phòng nhìn vào đống chai lọ nhiều màu sắp lộn xộn trên các kệ đóng
sát vào tường. Thư trải một tấm mền lên divan và ngã lưng nằm xuống, tâm hồn
lãng đãng. Một tay nàng để sau đầu làm gối, tay kia đặt trên bụng. Mong con sẽ
là con trai, làm con trai để chịu đựng, chịu đựng cuộc đời, và nhất là để
thương mẹ. Đôi khi tôi cũng tự hỏi mình có đang bi thảm hóa cuộc sống? hay thực
sự tự nó cuộc sống đã có cái vẻ bi thảm? Tôi băn khoăn và thường chọn thái độ dửng
dưng. Chả ích gì. Tất cả chả ích gì. Tôi nhắm mắt lại và tôi tự nhủ với tôi tạm
thời hãy quên đi hết cả. Tôi cảm thấy Duẩn đang đến và ngồi xuống bên tôi, cúi
nhìn tôi. Tự nhiên tôi muốn khóc lạ. Tôi lấy tay bưng mặt và cười lên một tiếng
ngắn, nghe khô và buồn, như tiếng một viên sỏi bị vất xuống lòng giếng cạn nước,
mất hút trong bóng tối của đáy sâu.
Vào cái lúc người con gái
chờ đợi nhất để sẵn sàng buông thả vào trong cơn sốt rạo rực của cơ thể, Duẩn bỗng
ngừng lại, im lặng, đăm chiêu. Hơi thở anh bớt dồn dập hơn trong một cố gắng tự
kìm hãm. Duẩn mím môi, thở một cách khó khăn như người bị nghẹt mũi. Khoảng
cách còn lại thật dễ dàng để vượt qua. Duẩn ngừng lại, ngơ ngẩn, chợt nghe buồn
bã. Anh khẽ buông tiếng thở dài, gục đầu xuống vai người con gái, mắt nhắm lại.
Rất lâu, trong bóng tối, anh nghe tiếng người con gái cất lên, rụt rè:
- Sao thế?
Có một cái gì như hờn tủi
và cũng thật ráo hoảnh trong giọng nói. “Tôi cũng không hiểu sao tôi lại ngừng
lại. Tôi tự thấy mình không có quyền tiến xa hơn.” Duẩn đáp và cũng nghe giọng
mình thật ráo hoảnh:
- Tại... không muốn...
Duẩn bỏ lửng câu nói, một
sự im lặng rơi xuống giữa hai người. Duẩn mơ hồ thấy mình khổ sở, day dứt:
Trong phút giây tôi muốn được gọi Thư là “em” và xưng “anh” với em, Thư ạ. Em
im lặng, có thể em đang hờn giận. Nhưng anh không muốn anh sẽ ân hận bởi anh bắt
đầu cảm thấy yêu em. Điều đó có vẻ khôi hài. Nhưng điều đó làm anh xúc động.
Cũng như anh vẫn khôi hài trong cuộc sinh hoạt của anh đồng thời cảm thấy một
xúc động sâu xa. Hình như trong khi mình giễu cợt là mình ý thức rõ hơn cả về
cái thân phận của mình giữa cuộc sống ồ ạt xô bồ này, giữa cuộc sống mà cá nhân
chẳng nghĩa lý gì và người ta bị cưỡng bức phải làm những việc mà mình không muốn.
Và anh, anh muốn không làm cái việc mà anh rất đang tha thiết. Để mọi sự còn
nguyên vẹn. Vả lại, cái giọt máu mà em đang mang trong người với anh đã là một
cái gì, một con người mà anh tự thấy mình không được quyền xúc phạm. Cho anh được
quý trọng. Đó là điều duy nhất anh muốn giữ lại, một cách tự nhiên, không cố gắng,
như một thứ báu vật.
Thư trở mình, vuột khỏi
tay anh, xoay lưng lại phía Duẩn. Duẩn cảm thấy có một sự vùng vằng. Lẽ ra anh
phải kéo em lại, ôm chặt lấy em, vuốt ve và nếu cần giải thích. Nhưng anh sợ
chính anh rồi sẽ không giữ nổi bởi thằng người phá phách trong anh đang trổi dậy,
đòi hỏi. Duẩn nằm yên lặng nhìn khoảng da thịt trắng hiện ra mờ mờ dưới mắt
thành một vệt chảy dài bất động. Một nỗi nghẹn ngào chận ngang cổ. Tự nhiên anh
thấy thèm vô cùng được gục vào chỗ trũng nơi chiếc gáy trắng mờ mờ kia, và nếu
có thể, để khóc lặng lẽ...
Thư mở mắt. Phải một lúc
nàng mới định thần và nhớ ra mình đang nằm ở đâu. Bên cạnh gã con trai đã thiếp
ngủ, lưng trần lớn quay lại phía nàng trong một dáng nằm rút cong như con tôm,
hơi thở đều đều của một người say ngủ. Thư nghe cổ họng mình khô ran. Thư cảm
thấy muốn ra sau vô cùng. Nhưng nàng nằm nán lại, ngần ngại khi nghĩ đến lối đi
chật chội, lỗ mỗ và tối mò của xưởng dệt. Trong yên lặng có tiếng vó ngựa gõ
lóc cóc và tiếng xe thổ mộ lăn uể oải qua trước nhà. Có lẽ vào khoảng bốn năm
giờ sáng gì đó. Thư cảm thấy rã rời và nghe cô đơn kỳ lạ. Hình ảnh những đêm
thao thức bên người đàn ông thiếp ngủ một cách thoả mãn đến trong trí nhớ. Tại
sao không bao giờ mình thấy thoả mãn cả? Luôn luôn là một khoảng trống sau đó với
những dày vò không nguyên do không đối tượng. Và với một biến đổi một mình mình
biết một mình mình hay. Tôi bỗng cảm thấy tất cả cái cô đơn mênh mông của một
Grégoire khi hóa thân thành con bọ để rồi chết khô trong sự cô đơn và bị ruồng
bỏ. Tôi đã khủng khiếp khi đọc đến đoạn Grégoire tuyệt vọng nhìn xuống sự thay
đổi của thân thể mình. Có lẽ tôi tuyệt vọng và bàng hoàng, nhưng tôi còn cảm thấy
một-cách-không-thể-tự-kiềm-chế-được một sự rung động kỳ lạ...
Tôi đang hóa thân để trở
thành một người mẹ, một người đàn bà thực sự. Có lẽ tôi đang tìm về tôi, cái
TÔI thực sự...? Thư khóc lúc nào không hay.
Thư mở mắt lại vào lúc có
những tiếng động đổ xuống, thoạt tiên từ từ, đều đều, rồi nhanh dần, và nàng bỗng
cảm thấy bị vây tỏa trong một thứ âm thanh dồn dập của một cơn mưa rào. Trời
mưa...! Thư nhẩm với mình. Căn phòng vẫn tối om. Thư nghe một cảm giác lành lạnh.
Nàng kéo tấm mền lên ngang ngực, lần hồi nhớ lại những việc đã xảy ra. Thư thấy
hai má mình khô. Nàng nhớ ra vào lúc gần sáng hình như nàng đã khóc. Cũng có lẽ
mình khóc trong giấc mơ. Trời mưa...! Trời mưa làm Thư thấy nhẹ nhõm hay chính
vì những giọt nước mắt trong đêm...? Thư chỉ thấy một sự thanh thản. Bên cạnh
Duẩn vẫn thiếp ngủ. Vẫn dáng nằm cũ. Và một hơi thở đều đặn, mệt nhọc. Thư cảm
thấy tức bụng. Nàng lần mò trở dậy, vén màn bước ra, lấy chiếc áo sơ-mi của Duẩn
vất trên bàn mặc vào rồi lặng lẽ vén rideau đi ra. Trời đã sáng rõ. Thư sững sờ
nhìn qua lớp cửa sắt. Bên ngoài trời khô ráo. Thư chợt nhận rõ ra tiếng rào rào
mà nàng nghe lúc còn nằm trong màn thực ra là tiếng của những chiếc khung cửi bắt
đầu hoạt động ở xung quanh hàng xóm. Thư bước nhanh ra phía sau. Những khung gỗ
nằm bất động. Lát nữa đây bọn thợ sẽ đến và bắt đầu làm việc một cách ồn ào...
Thư bỗng cảm thấy bị tràn lấn bởi những tiếng động đều đều dồn dập xung quanh.
Nàng súc miệng rửa mặt, rồi trở lên nhà. Duẩn vẫn còn ngủ. Thư mặc áo quần, chải
đầu xong vén màn lay bạn dậy. Duẩn ú ớ một lúc rồi tỉnh hẳn. Sự mệt mỏi còn nặng
trĩu trên đôi mắt đỏ ngầu. Anh ngáp dài, nhận ra Thư.
- Sáng rồi à? A... Trời
mưa?!...
Thư bật cười:
- Không phải đâu! Tiếng
máy dệt đấy. Lúc nãy tôi cũng có cảm giác như Duẩn...
Duẩn nhỏm dậy, hai tay
vòng lấy đầu gối, vẻ ngơ ngẩn, giọng anh đặc sệt:
- Thế à?
Thư nói:
- Duẩn dậy sửa soạn đi. Bọn
thợ sắp đến bây giờ. Mình nên rời đây trước khi họ đến.
Duẩn uể oải đứng dậy, bước
ra sau. Khi Thư đang loay hoay thu dẹp chăn màn thì có tiếng gọi và đập vào cửa
sắt. Tiếng Duẩn trả lời tôi ra đây. Thư đứng trong phòng ngó ra, Duẩn mình trần
loay hoay. Một tốp bốn, năm người đàn ông kéo vào, tiếng nói chuyện giọng ngái
ngủ, đứt quãng...
Lúc Duẩn trở vào, Thư
đang dở xem một tập hình trên bàn. Anh nhìn mái tóc nghiêng của Thư và cảm thấy
một bông hoa nhỏ vừa hé nụ trong anh. Anh đứng lại bên khung cửa, bỡ ngỡ ngây
ngất. Anh tự hỏi tại sao từ mấy năm nay, bây giờ anh mới cảm thấy thế, từ dạo
quen Thư đến giờ. Người con gái có cảm giác bị nhìn. Nhưng nàng vẫn giữ nguyên
thế đứng cũ, không nhìn thấy gì trong những tấm hình trên tay - như thể nàng biết
là quay lại sẽ làm cho bông hoa e thẹn không nở nữa.
(Sài Gòn, 13-10-1966.)
Loài Chim Trên Cát
Bức ảnh duy nhất coi được
cũng có một vẻ tức cười thế nào. Chị Châu đẫy đà tuy hơi buồn trong bộ у phục
ngày cưới, đứng gần như tựa lưng vào gốc cây trứng cá trước nhà, bên cạnh chị,
cách đó mấy chục phân, ông chồng đứng lạc lõng, bối rối, thấp hơn chị vài phân
(thật ra chị đi giày cao) hai tay chắp phía trước, vẻ mặt ngơ ngẫn, đen sạm...
Nhiên cầm tấm ảnh trên
tay, bật cười, nghe cay cay ở hai mắt. Điều đó sao đối với nhiều người lại đẹp
đẽ và rực rỡ quá?! Người ta thêu hoa vẽ bướm cho cái cảnh cô dâu bước lên xẹ
hoa về nhà chồng. Còn chị Châu... Và cả Nhiên nữa… Nhiên thầm nghĩ: đó chỉ là một
cách thoát ly ra khỏi một nhà tù để bước vào một nhà tù khác, chỉ khác ở chỗ
người ta kết hoa lá cho cái nhà tù thứ hai này nhưng điều đó chẳng làm vui được
chị Châu. Chị chỉ có một ý nghĩ trong đầu: lấy chồng, cho xong. Chị chẳng hề
thương yêu người đàn ông đó. Có lẽ chị cũng chưa hề yêu thương ai trong cuộc sống
trễ muộn của chi. Nhiên thầm hỏi: làm sao có thể chịu đựng được thân thể của một
người đàn ông mình không hề thương yêu và có lẽ cũng chẳng thấy thích.
Đêm đầu tiên Nhiên nằm một
mình trong căn gác lần đầu vắng hơi thở của chị Châu, câu hỏi đó lởn vởn trong
đấu Nhiên. Bỗng nhiên nàng bật cười lớn, tiếng cười nghe như tiếng thủy tinh vỡ
va chạm vào nhau nghe lạo xạo. Nhiên kinh hoàng trước giọng cười lạ lẫm của
mình. Nghe như của một người nào xa la. Tiếng bà Vũ đột ngột cất lên ngạc
nhiên:
- Con Nhiên cười cái gì
đó?
Nhiên cắn chặt lấy môi, để
nén tiếng cười cho trở vào trong cổ, nằm nín lặng. Sau một hồi nghe ngóng thấy
không động tịnh gì, bà Vũ trở mình, lẩm bẩm:
- Cái con nhỏ, chắc lại nằm
mơ?
Lức sau. Bà thiếp đi
trong giấc ngủ mệt nhọc sau mấy hôm quá bận rộn với đám cưới của Châu, đứa con
đầu tiên trong ba đứa con bà đã khó nhọc cho ra chào đời, đi lập gia đình. Ở tuổi
bà, gần sáu chục tuổi đầu; nhiều người đã sắp có chắt mà bà vẫn chưa có lấy một
mống cháu đố bỗng bế, đễ íhăy mình được gọi bẳng bà để thấy mình được thưởng thức
các khung cảnh có đàn cháu vây quanh tíu tít. Ngày xưa khi lấy chồng, bà mới mười
sáu, mười bảy. Sinh con trễ, bà khao khát được làm mẹ, và bây giờ bà mong mỏi
được làm bà. Với một người đàn bà quanh quẩn trong nếр sống gia đình, bà không
mong ước gì khác hơn những mong ước muôn đời đó ở mỗi một người đàn bà. Nhiều
lúc bà không hiểu bọn trẻ bây giờ nhất là những người con gái Nhiên, Châu, nghĩ
gì. Họ sống thực khác xa với bà, ít ra về phương diện tư tưởng. Nhất là Nhiên.
Nàng lảng tránh mỗi khi bà đề cập đến chuyện chồng con. Ngày xưa, lớn lên, bà
chỉ mong có người tới hỏi để có chỗ nương tựa sau này. Vì vậy, từ đó suy ra, bà
nghĩ: có lẽ vì các con gái bà không biết nghĩ xa chăng? Chúng tưởng sống nhờ bố
mẹ mãi được à? Bố mẹ rồi cũng già cũng phải chết chứ, sống mãi để cho chúng nó
nương tựa hoài sao? Tuy nhiên, trong thâm tâm, bà cũng cảm thấy sự trì hoãn lấy
chồng của Châu và Nhiên có một cái gì đó mà bà không hiểu nổi. Bà thì bà chẳng
hy vọng gì ép Trọng, đứa con trai cả, lấy vợ rồi. Chủ trương của Trọng là phải
có một sự nghiệp vững chắc đã. Bà cho như vậy có lý. Bà đâu có biết những lý do
thầm kín nào khiến cho Trọng say mê cuộc đời độc thân hiện tại, Trong nhà có lẽ
chỉ có Nhiên hiểu được anh. Bà chỉ còn trông nhờ ở con gái. Nhiên thoái thác là
mình nhỏ nhất nhà và còn đang học dở dang.
Một lần bà đã cố tình ép
Nhiên phải lấy một người anh họ xa. Nhiên hết sức phản đối. Mỗi bữa cơm là mỗi
bài thuyết trình Nhiên đâm ghét cay ghét đắng nguời anh họ mà có một dạo Nhiên
rất quý mến, đến nỗi có lúc Nhiên tưởng mình yêu anh ta, vì những tư tưởng của
anh. Cho đến bây giờ Nhiên cũng không hiểu rõ lắm. Vì sao mình lại có một thái
độ phủ nhận quyết liệt như vậy đối với hôn nhân.
Nhiên xin phép bà ra Nha
trang tìm đến anh Trọng lúc ấy là Trung úy Quân у đóng tại đây. Ông bà Vũ bằng
lòng nhưng không quên gửi ra cho Trọng một lá thư nhắn nhủ: ‘‘ Anh gắng thuỵết
phục em nó còn nhỏ dại...’’
Nhiên hồi tưởng lại những
ngày sống với anh Trọng ở biển thật thần tiên. Trọng tổ chức những cuộc đi chơi
bằng xe jeep riêng của anh để giải khuây cho em, tuyệt nhiên không đá động gì đến
việc ông bà Vũ nhờ anh. Những lúc Trọng bận việc tại bệnh viện, Nhiên thường nằm
dài nơi một ghế bố thuê mất năm đồng kê dưới hàng cây dương phóng tầm mắt ra
ngoài xa tìm nbững cánh chim nhỏ, những cánh buồm phiêu dạt giữa vùng trời nước
mênh mang và triền miên trong những tư tưởng dằn vặt buồn bã.
Nhiên vẫn gọi đó là những
điều cổ điển và có tính cách sách vỡ - những day dứt dằn dặt đó. Nhưng nàng vẫn
thấy chúng có mặt như một thứ thực tại không thể phủ nhận, như cái thực tại làm
thân con gái của nàng.
Tại sao. Nhiên tự hỏi,
mình không thể sống và chấp nhận cái thực tại làm thân con gái đó, như những đứa
bạn gái khác, như Hương, như Vân, như Hải chẳng hạn? - Có lấy một người tình chọn
trong đám bạn trai quen biết, rồi xây dựng bằng một cuộc lễ ăn hỏi và vui vẻ hồn
nhiên chờ đến ngày ‘‘đại đăng khoa’’ của hai đứa rồi ‘‘tiểu đăng khoa’’ luôn?
Điều đó giản dị mà. Thầy mẹ mình cũng chỉ chờ đợi một cái gật đầu của mình là
mình sẽ trở nên như những đứa bạn gái kia. Nhiên nhớ lại một cuộc đối thoại với
thầy mẹ trong một bữa cơm. Bà Vũ:
- Mẹ vẫn nghe con nói con
quý mến anh Khoa mà?
- Thì vẫn. Con quý mến
anh ây vì con tưởng anh ấy hợp với con.
- Thế bây giờ mày không
thấy người ta hợp với mày nữa vì cái gì?
- Con không biết nữa. Con
chỉ cảm thấy thế từ khi nghe tin anh ấy hỏi cưới con.
- Cái con bé này, nói
chuyện nghe hay nhỉ? Thế nghĩa là làm sao? Mày muốn cái gì bây giờ?
- Con chả muốn cái gì cả...
Nhiên suýt lãnh cái tát của
ông Vũ nếu không có bà Vũ cản ngăn. Mày muốn gì? - Chả muốn gì cả. Thực ra nếu
tôi nói cái ý muốn của tôi ra, nhiều người sẽ cho là điên rồ. Tôi muốn được tự
do chọn lựa, chọn lựa cái thân phận của tôi.
Làm sao được?. Nhân vật của
Georghiu bị đẩy từ nhà tù này vào một nhà tù khác. Người bạn chụp hình chị Châu
với ông chồng đã vô tình nói lại cái câu nói mỉa mai: ‘‘ Cười lên nào! Cười lên
nào! Kết quả: mặt chị Châu buồn hơn và anh chồng thì ngơ ngẩn. Nhưng mình có
đang bi quan quá lắm không?
Hoặc là nếu không sống giản
dị được như mọi người thi ít ra cũng cố lấy một chút ít can đảm như Hiển, để sống
theo ý mình muốn, bất chấp tất cả? Hiển. Hiển. Đối với Nhiên, Hiển xa vời như một
vùng đất lạ ở đâu tít mù ngoài khơi kia. Nhiên tự hỏi có bao giờ Hiển cảm thấy
đơn độc quá lắm trên con đường một mình mình dấn bước và không biết có cái gì
đang chờ đợi mình ở cuối đường đằng kia? Nhiên có cảm tưởng hạnh phúc của Hiển
chính ở sự liều lĩnh và cái ham muốn phiêu lưu. Nét mặt Hiển có vẻ cương nghị đến
lạnh nhạt khi trách Nhiên
- Tại sao Nhiên ít nói,
it có phản ứng hay phản ứng chậm đến gần như không có phản ứng!? Đôi khi tôi cảm
thấy nói với Nhiên mà như mình độc thoại vậy!
Mỗi một lời nói của Hiển
đối với Nhiên tựa như một nhát dao chém xuống, không làm tóe lửa trên mặt đe
thì cũng làm cái mặt thớt có vết hằn Nhiên cảm thấy đau đớn thực sự trước nhận
xét đó của Hiển. Nhiên định phản đối, nhưng cái ý định đó lại quá yếu ớt đến
không thành một quyết định Hiển ấm ức thất vọng về bạn, về mình Hiển không hiểu
được Nhiên yêu Hiển đến độ nào. Cái tình yêu đó manh nha nơi Nhiên khi hai người
còn học chung ở Trung-học. Hiển dạo ấу còn nhí nhảnh như một con chim non. Tuy
nhiên, ở con chim non ấy đã thấy như lên cái mầm quyến rũ của sự nổi loạn, quyến
rũ đối với Nhiên cố nhiên. Nhiên thán phục Hiển những lúc đấu lý tay đôi với
giáo sư trong lớp, bất chấp cả hai con số không hạnh kiểm có thể có. Khác với
những người con gái khác thường khóc tấm tức mỗi khi vì một lý do gì bị bớt một
vài điểm hạnh kiểm.
Những điểm hạnh kiểm ấy
chúng làm được cái gì? Bản tính nhút nhát của Nhiên thường đem lại cho Nhiên những
con số đầy đặn, tròn trịa về phương diện hạnh kiểm. Điều đó đã làm Nhiên cười
thầm mỗi lần nhận được giấy ban khen. Nhiên thương Hiển, nhưng những cố gắng để
đến gần với Hiển thường chẳng giúp được gì. Hiển bay nhảy như một con chim non.
Và con chim non mong chờ ngày đủ lông đủ cánh để vượt khỏi bức tường cao của
nhà trường. Ngày tựu trường của năm học cuối cùng, Nhiên chỉ gặp Hiển mấy lần rồi
biệt hẳn! Những nguồn tin Nhiên biết được về Hiển làm Nhiên mơ hồ khổ sở cho những
giờ học kéo dài buồn nản giữa những đứa bạn chẳng bao giờ biết được những gì
Nhiên mang trong tâm tư, giữa những triết thuyết khô khan Nhiên đang tập làm
quen và những giờ khoa học Nhiên lơ đãng nhìn khoảng trời xanh thấp thoáng sau
những vòm cây cao lá um tùm nơi sân trường... Nhiên sống như một kẻ mang trong
hồn một nhớ nhung - nhớ nhung gì Nhiên không rõ. Chỉ thấy là mình nhớ như một
người không có quê hương nhớ về một thứ quê hương quá đẹp do mình vẽ ra trong
tưởng tượng, hay một cái gì tương tự như vậy... ‘‘ Nhiên phản ứng chậm đến gần
như không có phản ứng’’. Có nhẽ Hiển nói đúng. Tôi không có phản ứng, ngay cả với
cuộc sống, với thân phận của tôi. Và tôi sống buông thả trong cái dòng sông muốn
đưa mình đến đâu thì đưa. Đôi khi tôi gặp phải một đôi tảng đá chặn đường. Tôi
không tìm cách trườn qua chúng để tiếp tục cuộc hành trình. Tôi lách tránh
chúng.
Đời con gái của tôi thật
buồn và cũng thật bình thản. Rồi tôi gặp Hiển trong cái làn sóng những khuôn mặt
trẻ ngơ ngác và hoan hỉ một cách khôi hài trong những ngày đầu chen chúc tìm
cho mình một chỗ ngồi trong giảng đường văn khoa. Hiển làm quen với viết lách
và có một người tình cùng học. Hắn cao, gầy, có nụ cười rất sáng. Hiển càng có
vẻ xa tôi hơn mặc dù chúng tôi gặp nhau thường hơn, đi với nhau thường hơn, nói
với nhau nhiều hơn - thực ra thì tôi nghe Hiển nói nhiều hơn là tôi nói. Tôi chả
có gì để nói về đời tôi, cái cuộc đời bình lặng như mặt nước hồ đã đóng băng.
Còn Hiển say sưa kể về mình, về những chuyến phiêu lưu, thường là có thêm sự hiện
diện của một người đàn ông. Tội khám phá ra con người đam mê ở Hiển - đam mê cuộc
sống và đam mê chính sự cuồng nhiệt của mình. Và Hiển ích kỷ một cách lạ lùng.
Nhưng ít ra Hiển còn hơn tôi. Nàng còn có thể yêu - (Có thể gọi một người yêu
nhiều như Hiển là ích kỷ hay chính thực ra những kẻ như tôi mới Ịà ích kỷ vì
chưa yêu bao giờ? Tôi cho là mỗi người đều ích kỷ, chỉ khác nhau ở chỗ mỗi người
ích kỷ theo một lối riêng của mình mà thôi.) - Những lúc nghe Hiển kể chuyện một
cách say sưa tôi thấy như mình không có ở đấy. Đôi khi tôi cũng bắt gặp ở Hiển
những nét ân hận, xót xa thoáng qua.
Bầu trời xanh như thế kia
mà cũng còn có những lúc xám xịt nữa là, phải không? Tôi quay vào thơ thẩn buồn
bã trong căn nhà trống trải của tâm hồn mình. Đôi khi Hiển ngừng nói, trách tôi
ít nói khiến cho Hiển cảm thấy là mình đang độc thoại. Tôi có thể nói thẳng với
Hiển thực ra tôi ghen với sự đam mê của Hiển. Nó nằm giữa tôi và Hiển - sự đam
mê ấy - ngăn cách tôi đến với Hiển, dù bằng câu nói ‘‘tôi yêu Hiển’’, tôi cũng
chẳng thể làm cho chúng trở thành sự thật bằng âm thanh, bằng ngôn từ ‘‘Tôi đi
Nha trang để tìm lại con người của mình - thực ra, tôi cũng không biết chắc
mình có con người thật của mình không mà tìm? Tuy nhiên tôi cảm thấy phải đi xa
Hiển với ý nghĩ mơ hồ - biết đâu đó chẳng là một hy vọng? - sẽ gây nơi Hiển một
vết thương? Bởi vì tôi chẳng thể nói thẳng với Hiển như Thy, người bạn gái của
chúng ta, là tôi yêu Hiển. Một câu nói như vậy ở cửa miệng tôi nó có vẻ... rẻ
tiền thế nào ấy!...’’ Nhiên úp cuốn sách đang đọc dở lên mặt. Tôi không thể đọc
được nữa. Những hàng chữ nhảy nhót, giả hình. Ý nghĩ tôi bị lôi về thành phố, về
những con đường đầy những cơn mưa lá me mà tôi với Hiển thường đi dạo trong những
giờ đáng lẽ phải đi cours.
Bỏ học đã không còn gây
nơi chúng tôi cái mặc cảm phạm tội như dạo còn ở dưới trung học nữa. Và danh từ
trong sách vở trở thành hư vô, kịch cỡm. Tôi viết tá thư đó cho Hiển, bỏ vào
phong bì dán kín lại ngoài để chữ ‘‘khẩn’’ to tướng – khẩn như những tâm tình
tôi đã gửi lại cho Hiển, khẩn như tiếng gọi của biển thúc đẩy tôi rời xa thành
phố, rời xa với một vẻ hờn giỗi, để tìm đến sự cô đơn tuyệt đối như một khóa lấp.
Đó là tất cả một sự mâu thuẫn lớn lao mà tôi có. Bây giờ ngồi đây, tôi đoán chừng
phản ứng của Hiển khi nhận được thư tôi và sau khi đã đọc hết bẩy, tám trang giấy
xé trong tập giấy nháp ra. Tôi mong nhận được thư Hiển dù biết là chẳng thể có
vì tôi đã cố tình không ghi địa chỉ của tôi cho Hiển. Ghi để làm gì? Có nhẽ tôi
đã có vài vẻ khôi hài? Biết đâu là thư ấy chỉ để gây cho Hiển một chút bâng
khuâng day dứt, rồi Hiển sẽ quên đi? Loay hoay mãi tôi lại tự trách đã viết lá
thư ấy. Biết đâu tôi lại chỉ làm cái việc tầm thường là ve vãn cái tự ái nơi Hiển
cái tự ái đó vốn dĩ đã được ve vãn nhiều. Tôi tự nhủ đó là lá thư tình đầu tiên
và cuối cùng của tôi.
Nhiên nhắm mắt lại. Gió từ
ngoài khơi đem muối vào rải trên da thịt, quần áo và tóc Nhiên. Nàng thiếp đi
trong nỗi buồn bã của cả tâm hồn lẫn thể xác. Nhiên không biết là mình đã ngủ
trong bao lâu cho đến khi thức giấc, dở cuốn sách úp trên mặt ra và thấy Trọng
đã bắc ghế nằm bên cạnh từ hồi nào. Trọng nói:
- Anh gọi mấy lần, biết
là cô ngủ, nên để yên cho cô ngủ.
Nhiên cười gượng, lấy lại
dáng ngồi, hỏi аnh dáng bâng quơ:
- Anh đi làm về lâu chưa?
- Chừng một giờ.
- Thế em ngủ lâu thế cơ
à?
- Gió biển đã cuốn cô ra
khơi hay đẩy cô vào sâu trong đất liền?
Nhiên cười:
- Chẳng biết nữa. Vẫn thấy
mình ngồi đây từ trước khi thiếp đi và lúc thức dậy, giống như...
Nhiên định nói ‘‘như nỗi
buồn em có khi đi vào giấc ngủ’’ nhưng nàng bỏ lửng câu nói, chỉ ngại đó là một
cớ để Trọng đưa ra những câu hỏi mà chính nàng không muốn đối diện. Nhiên cũng
tự hỏi tại sao mình không có lấy một lần để dứt khoát tất cả. Trọng cười:
- Cô lúc nào cũng như một
diễn viên trên sân khấu nói những lời do một thằng khùng viết!
Nhiên sa sầm nét mặt:
- Anh cho là em sống giả
tạo chắc?
- Cô đừng vội nổi khùng với
anh. Câu đó, cô nên hỏi lại chính cô thì hơn. Tôi lâu nay sống xa cô, làm sao
biết có cái gì trong cái đầu khùng khùng của cô?
Nhiên chua xót nghĩ thầm:
‘‘chính đó là điều làm chúng ta xa nhau hơn, em, con người luôn luôn bị canh giữ,
nếu không muốn dùng chữ ‘‘bi coi sóc’’, còn anh, con người của tự do, của vẫy
vùng…’’ Tiếng Trọng đượm buồn, nghe xa như tiếng sóng vỗ:
- Những điều cô viết cho
anh, anh muốn nói những lá thự cô viết cho anh những lúc về sau này, mỗi lần đọc
là một lần đầu óc anh phải làm việc nhiều hơn. Anh không biết có phải vì mỗi
ngày cô chịu ảnh hưởng sâu xa của sách vở? Hay thực ra chính vì anh chung đụng
quá nhiều với thực tế, với những thân thể con người quằn quại, đau đớn vì những
vết thương do chiến tranh gây ra, đòi hỏi những cứu cấp cấp thời hơn sự suy
nghĩ về thân phận của nó. Anh không biết phải viết trả lời cô những gì, phần
quá bận rộn, phần nhiều lúc anh có ý nghĩ chúng mình hình như đã không cùng một
ngôn ngữ. Anh nhớ ngày xưa mới làm quen với у khoa, anh thường tạo cho mình những
cơ hội để mình có dịp suy nghĩ về thân phận con người. Chẳng hạn như, dạo còn học
ở năm thứ nhất, anh đâu đã được tiếp xúc với các tử thi dùng trong việc mổ xẻ.
Nhưng anh thường mượn cái danh nghĩa sinh viên у khoa để vào thăm cơ thể học viện
để nhìn hàng dẫy những xác chết vô thừa nhận ngâm trong các bể chứa chất
formol, để suy nghĩ về đời người, hoặc vào nhà thương nhìn những người bị bịnh
nặng hoặc tai nạn nào khác... Bây giờ ra hành nghề, mình không còn thì giờ để
suy nghĩ viễn vông nữa. Vấn đề hệ trọng là làm sao phải hành động cho mau để cứu
sống các thương binh.
Trọng chợt ngừng nói, cười
thành tiếng:
- Đặc biệt với cô hôm
nay, anh mới lý sự như vậy. Hôm qua anh thấy cô cười khi thấy trên đầu giường
anh một chồng sách kiếm hiệp. Cô có hỏi anh, anh mà cũng đọc cái này cơ à. Cô
thấy đấy, nhiều lúc anh còn muốn tránh suy nghĩ như tránh một thứ vi trùng nguy
hiểm vậy. Cô có thể thấy là anh khác xa với thằng Trọng dạo còn là sinh viên.
Nhiên cười vẻ tính quái:
- Em biết. Chẳng những
khác xa mà còn khác xa lắm nữa ấy chứ! Nguyên cái vu cô nào ở đây cũng biết anh
thì anh đâu phải của vừa!
Trọng cười:
- Thực ra, anh cũng chẳng
quá lắm đâu, cô đừng ngại...!
- Em đâu có ngại cho anh.
Đặc quyền của con trai mà!...
- Cô có vẻ chua chát rồi
đấy.
- Chua chát hay không,
cũng thế mà thôi.
Một sự im lặng rơi xuống
giữa hai anh em. Nhiên cầm cuốn sách, lật lật vài trang rồi đóng lại. Trọng ngã
lưng ra ghế, phóng mắt ra khơi. Anh thấy những gì vừa nói với Nhiên chính là một
xác định cho những điều bấy lâu anh mơ hồ cảm thấy trong thâm tâm mà chưa có dịp
thành hình. Quá khứ của thời tôi là sinh viên trở nên xa vời như một thứ đồ cổ
đẹp đẽ người ta trưng lên để mà ngắm nghía, Ngay cả về phương diện tình cảm của
anh cũng vậy. Tình yêu trở thành một danh từ cổ điển và xác thịt lên ngôi. Đã
bao lâu rồi, Trọng không dám dùng đến danh từ ‘‘yêu’’ đó, anh cũng không nhớ.
Anh yêu em, em yêu anh, điều đó nói lên được cái gì? Anh không nghĩ là mình coi
thường tình yêu. Anh không dám dùng đến chữ ‘ yêu’’, chỉ vì anh chưa thấy mình
có thể dùng được chữ đó. Có một cái gi đó anh muốn tôn thờ - một cái gì đó hết
sức tuyệt hảo... Chính thế. Khi tôi tuyên bố xác thịt lên ngôi chẳng phải tôi
là người tôn thờ xác thịt. Tôi vẫn nghĩ rằng cái gì mà tôi quí báu là cái mà
tôi giữ cho riêng tôi, mà tôi ít đem nó ra dùng và khi chết tôi sẽ đem nó theo
với tôi - nó, cái mà thực sự chưa bao giờ thành hình cả và tôi thường xuyên vuốt
ve nó... ít ra phải cho tôi được thận trọng lấy một lần, dù chỉ là trên cái
phương diện dùng hay không dùng một danh từ nào đó.
- Nếu cô là con trai, anh
sẽ khuyên cô bỏ vài năm ra sống đời quân ngũ, tự nhiên cô sẽ thấy cô đổi khác
ngay.
Nhiên cười nhạt, vẻ lơ
đãng. Nếu, nếu, nếu... Có nói đến hàng trăm, ngàn lần như vậy cũng chẳng thay đổi
được gì.
- Đôi khi anh tự hỏi giả
thử cô cứ chấp nhận cuộc sống như mọi người, như các bạn có chẳng hạn... Cứ tự
coi mình như một diễn viên. Giả thử bây giờ hết những vở tuồng có vai trò thích
hợp với cô, bắt buộc cô phải nhận một vai trò một người vợ hay một người mẹ chẳng
hạn, có phải tỏ ra cô là một diễn viên có tài chứ!...
- Nhưng em không có tài
thì sao?
- Này Nhiên, anh hỏi cô,
cô chống đối như vậy ích lợi gì cơ chứ?
- Chính em cũng tự hỏi
như vậy.
- Vậy thì tại sao không bỏ
quách những ỹ nghĩ gàn bướng đó đi có phải đỡ làm nhọc lòng những người có bổn
phận phải lo cho cô không?
Nhiên cười nhạt, nghe cổ
nghẹn ngào. Bỗng nhiên nàng giận mình, giận Trọng, giận mọi người. Phải chi cho
tôi được si mê ai đó một lần và tôi sẽ lấy người ta, rồi xong. Ừ, sao tôi không
thể hành động như Thérèse Desqueyroux? Cần gì phải si mê? Lấy chồng để được yên
thân. Nhưng Thérèse có thực sự được yên thân? Nàng đã đầu độc chồng không
nguyên cớ rõ rệt để rồi kéo dài một cuộc sống hiu quạnh trong một căn phòng nhỏ
tại thành phố Paris đầy dẫy những thú vui vật chất mà nàng chẳng thế tham dự.
Nàng là hiện thân của xa lạ. của lạnh lẽo - một thứ thần tiên bị đầy ải, không
biết cả đến cái vui thú mà một thể xác lành mạnh có thế mang lại trên phương diện
tình yêu, không biết cả đến tình yêu, dù là thứ tình yêu dành cho đứa hài nhi
tách ra từ chính thân thể mình! Có thể nào như vây được chăng? Nhiên nhớ lại
hôm đi xem phim Thérèse Desqueyroux, lúc ra khỏi rạp, nàng bàng hoàng như người
mất trí, mặc cho chị Châu kéo đi đâu thì đi. Có một lúc, hai chị em dừng lại
trước một cửa tiệm bán vải, chị Châu chỉ trỏ một thứ vải đẹp. Nhiên nhìn, nước
mắt ứa ra lúc nào không hay. Nàng giấu mặt vào phía sau tóc chị Châu, chờ cho
nước mắt tự ý khô cạn, không cố gắng kềm chế. Chị Châu nhìn nàng, đôi mắt mở
to, ngac nhiên cùng độ.
Hai anh em ra xe về câu lạc
bộ sĩ quan ăn cơm tối. Nhiên để anh tự ý gọi thức ăn. Ngay cả đến ăn uống, tôi
cũng cảm thấy xa lạ. Tôi ăn như thể sống thì phải có ăn, vậy thôi. Ngày mai anh
Trọng phải đi, công tác xa, tôi lại trở về Sài-gòn. Anh muốn tôi trở về vì cho
là tôi ở một mình ở ngoài này lúc không có anh, bất tiện. ‘‘Nếu cô là con
trai...’’. Vẫn cái câu mở đầu ấy! Tôi im lặng, không phản ứng - ‘‘gần như không
có phản ứng’’. Tôi ăn uống lơ là, nhìn những người đàn ông xung quanh vừa ăn vừa
uống vừa hút thuốc vừa nói chuyện. Tôi cảm thấy như mình đang chờ đợi và tôi biết
rằng anh Trọng sắp đề cập đến vấn đề Khoa. Khoa. Khoa, Sao anh không cho tôi được
quý anh mãi mãi? Sao anh không cho em được quý anh mãi mãi?
‘‘Anh bắt đầu yêu em
trong dịp nghỉ hè năm ngoái tại Đà-lạt chúng mình đã cùng đi chơi chung với cả
gia đình. Có nhẽ em đang cười anh: một người như anh mà lại có thể lẩm cẩm và cổ
điển đến cái độ phải viết thư tỏ tình như cái việc anh đang làm với em đây?
Nhưng Nhiên ạ, anh chân thành nhắc lại một lần nữa: anh yêu em. Ở em không có
những lời nói giả tạo trống rỗng như ở những người con gái mà anh đã gặp, ngay
cả ở các cô em gái của anh. Mỗi câu em nói ra đều làm anh phải suy nghĩ. Em là
một người con gái tế nhị mà anh đã gặp...’’
Nhiên bật cười. Nhiên vẫn
cảm thấy những điều đó sáo và rỗng thế nào. Sao mình không tin tưởng được cái
gì hết vậy kia? Nhiên cũng phải thú nhận là sau kỳ nghỉ hè năm ấy, nàng thấy
mình người đen đi, khoẻ hơn. Nàng vui hoàn toàn trong chuyến đi ấy và nàng nghĩ
đến Khoa thật nhiều sau đó. Nhưng vẫn có một bức rào ngăn cách giữa nàng và
Khoa - một bức rào mà Nhiên không muốn tìm hiểu.
- Anh thành thật muốn biết
vì sao cô không nhận lời Khoa?
- Chính em cũng không rõ
lắm. Em chỉ biết là hiện giờ em chưa muốn lấy chồng, chưa thể chấp nhận một người
đàn ông nào đi vào đời mình....
Tôi chưa hề nghĩ rằng có
thể có một người hiểu mình. Và tôi không muốn thấy mình khổ sở khi sống bên cạnh
một người không hiểu mình. Những day dứt của riêng tư đã quá đủ rồi tội gì mà
phải làm tội làm tình mình thêm? Tôi cũng biết rằng mình đừng nên đòi hỏi cuộc
sống nhiều quá...
- Cô không còn nhỏ nữa.
Hãy thử phóng cái nhìn về tương lai một chút.
- Tương lai là cái gì sẽ
đến, đương nhiên là phải đến, cứ để nó đến, có được không, anh.
- Cô không được nói bướng
như vậy.
- Anh có đang ra lệnh
không? Nếu có thì em sẽ im.
- Tôi không muốn bó buộc
cô gì hết. Tôi chỉ muốn cô suy nghĩ lại, thế thôi.
Trọng uống một ngụm bia,
nhìn Nhiên. Tự nhiên anh thấy thương em lạ lùng. Trong cái đầu nhỏ bé kia, đoàn
quân tư tưởng nào đang hoành hành? Từ ngày ra khỏi gia đình, thoát khỏi vòng ảnh
hưởng của thầy mẹ, Trọng hầu như không hề nghĩ gì đến hai cô em gái nếu không
là chỉ hỏi thăm qua loa về sức khoẻ, việc học hành, làm ăn. Những ngày cơ cực
xưa đã xa rồi, bấy giờ cuộc sống gia đình đỡ chật vật hơn. Trọng cứ nghĩ là
Châu và Nhiên phải sung sướng và hài lòng lắm. Nhưng anh đâu biết những gì đã đến
vây tỏa lấy cuộc sống của Châu và Nhiên, nhất là Nhiên. Mỗi lần về thăm nhà. Trọng
cảm thấy một bầu không khí ngột ngạt, khó thở thế nào. Nhưng anh không tìm hiểu
nguyên do và cũng chẳng ai nói với anh. Có lẽ chính những người trong nhà cũng
không ý thức được những gì đang diễn ra ngấm ngầm giữa họ và trong họ...
Trọng đẩy chai bia về
phía Nhiên
- Cô bỏ nước ngọt, uống
cái này. Say thử lấy một lần trước khi rời đây xem sao?
Nhiên ngước nhìn anh một
thoáng ngạc nhiên rồi cười nhẹ, rót bia ra lỵ. Mùi nồng của bia bốc lên mũi, chất
say của bia ngấm vào cơ thể. Mặt Nhiên đỏ bừng. Tâm tư ngất ngây. Nhiên đi chân
đất trên cát ngướt mắt nhìn về biển cả trong đêm tối. Một vài ngôi sao trên nền
trời đen chẳng làm bóng tối bớt dầy hơn, Nhiên tưởng tượng đến những sinh vật
sinh sống dưới lòng biển, thốt nhiên rùng mình và thấy mình quá nhỏ bé đến lạc
lõng
bơ vơ…
Và thế là chị Châu đi lấy
chồng. Anh Trọng vẫn nay đây mai đó với cuộc sống phóng khoáng, đặc ân của con
trai. Còn lại Nhiên, Nhiên tự hỏi mình thế này đến bao giờ? Nhiên có cảm tưởng
mình như một loài chim trên cát. Chim thì thường ở với cỏ cây chứ. Nhưng con
chim Nhiên đã quên màu xanh của lá để có thể tìm đường về với cây. Nó đang
ngóng ra bể, tìm kiếm dáo dác và ngóng đợi...
(12 -1966)
Theo Chân Mây I
Vũ bảo là có cảm tưởng là
tôi yêu Vũ? Vũ nhầm rồi. Vũ cho rằng vì tôi đã rủ Vũ ra miền biển sống vài ngày
nên Vũ cho là tôi yêu Vũ? Không đúng? Vì việc tôi bằng lòng để Vũ vuốt ve tôi
đêm đầu tiên và nhận lời ngủ với Vũ đêm thứ hai? Vũ nói đúng thế? Tôi vẫn nghĩ
rằng tâm hồn Vũ đôi lúc còn thánh thiện quá, nên chẳng hoài nghi và có phần thiếu
tâm lý nữa. Khoan, xin Vũ đừng ngắt lời tôi. Tôi biết Vũ không bằng lòng về nhận
xét đó của tôi về Vũ. Nhưng Vũ cứ để tôi nói đến những ý nghĩ của tôi đã. Vũ đồng
ý?
Sự thực tôi không định
cho Vũ biết rõ những ý nghĩ của tôi làm gì, như Vũ vẫn thường trách tôi quá
khép kín như con ốc khép mình trong cái vỏ của nó. Kể về mình vẫn làm tôi khó
chiu, nhưng không vì thế mà tôi thiếu chân thành nếu vì một lý do gì đó tôi phải
nói về mình. Bởi Vũ đã hiểu nhầm như vậy nên tôi thấy cần phải ‘‘tố cáo’’ với
Vũ về con người thật của tôi.
Lý do thứ nhất, Vũ có thể
hiểu dễ dàng. Tôi là người, một người cô độc, cô độc ngay cả đối với những ý
nghĩ mâu thuẫn của mình. Trong lúc cô độc, người ta thường khao khát, đôi khi
cũng không ý thức là mình khao khát, thèm muốn nữa. Đêm thứ hai nằm với anh,
tôi nhận là mình cảm thấy thèm muốn. Sao không chứ? Anh đã thỏa mãn tôi. Xin lỗi
anh. Anh không cho tôi là sỗ sàng? Sự thực đối với tôi, sự việc ấy khá tự
nhiên. Tôi ít gần đàn ông. Nhưng tôi yêu con người nên tôi yêu những gì gọi là
tự nhiên của con người, như những đòi hỏi сủа nó chẳng hạn. Tôi nhớ một nhà văn
nào đó, người Ý thì phải, đã coi động tác yêu đương là một việc làm rất người,
không có tuổi. Có thể anh không cùng nghĩ như tôi, cũng như sẽ có rất nhiều người
quan niệm khác tôi. Nhưng anh ạ, tại sao chúng ta phải hổ thẹn khi đề cập đến
việc ấy chứ? Tôi cho rằng phần lớn chúng ta đã bị thành kiến nhiễm độc rồi. Thật
rạ, việc yêu đương nào phải là một tội lỗi. Tôi cho rằng chỉ có những người biết
yêu con người, như những nhà văn yêu thương và nâng niu những nhân vật của
mình, mới hiểu được ý nghĩa sâu xa của sự thụ hưởng này.
Nhưng tôi đã dong dài quá
phải không? Tóm lại, khi gần gũi với anh, nhất là trong lúc cô độc và bị những
ý nghĩ mâu thuẫn dày vò, tôi đã trao thân cho anh và ý thức việc làm của mình.
Tội không hối hận, không xấu hổ về việc làm ấy.
Lý do thứ hai, xin anh đừng
giận nếu tôi nói thật. Anh bằng lòng? Vậy tôi xin kễ. Cùng với sự thánh thiện đến
ngây thơ đáng mến của ạnh, tâm hồn anh lại chứạ chất những khúc mắc kỳ lạ đã
lôi cuốn tội muốn có một cái nhìn gần gũi, thân mật hơn. Tôi tìm hiểu anh, để một
phần thỏa mãn lòng ưa chuộng những tâm hồn không bình thường, và cũng là để sửa
soạn cho một nhân vật trong tương lai. Anh không ngắt lời tôi và cũng không giận
tôi, tôi thành thật cảm ơn anh. Và tôi xin tiếp tục.
Tôi chưa nói với anh là
tôi có ý định viết văn nhỉ? Chưa? Tôi ít nói điều đó với ai vì đôi khi mình
cũng sinh hoài nghi cái khả năng của mình chứ.
Thực ra từ ngày quen với
anh, những gì anh biết về tôi chỉ là do sự phỏng đoán của ạnh. Có, khi sai, có
khi đúng. Cả đúng lẫn sạị, tôi đều im lặng, phần vì lười viết thư trả lời, phần
vì tôi sợ phơi trần mình ra trước mắt kẻ khác. Nhưng không lúc nào tôi không lắng
nghe anh nói. Anh có tin là mỗi một lá thư anh gửi cho tôi, dạo anh còn theo học
khóa huấn luyện ở Rạch Dừa, tôi đều đọc đi đọc lại nhiều lần và cất làm tài liệu?
(Có một điều phiền là nhiều khi anh đoán về tôi bậy quá, như việc anh bảo tôi
có ‘‘một tâm hồn muốn nổi loạn để kiểm soát vũ trụ’’. Tôi cứ những muốn cải
chính lời phỏng đoán này nhưng lại thôi. Tiện đây tôi cũng muốn nói rõ với anh
sự thực tôi không định kiểm soát cái gì cả, không định kiểm soát ai cả. Tôi nhớ
một câu đọc được trong Kinh Thánh: ‘‘Điều gì mình không muốn kẻ khác làm cho
mình thì đừng làm điều ấy cho kẻ khác.’’ Tôi không muốn ai kiểm soát tôi hết.
Cũng như không hề có tham vọng kiểm soát ai hết. Huống hồ là vũ trụ. Đôi khi
tôi nghĩ rằng mình tự do trong hư vô...)
Vâng, tôi có ý định viết
văn. Nói ra điều ấy tôi không khỏi nhột nhạt thế nào. Nhưng, sự thực, đối với
tôi, viết là một cách biểu lộ lòng yêu mến con người với những hoạt động, nhất
là những ước vọng sâu xa của nó. Tôi không có tham vọng gì trong việc viết cả.
Thú thật với anh tôi viết cho tôi. Tôi không quan tâm đến điều gì hết ngoài sự
thỏa mãn cho chính mình.
Tôi yêu con người từ khi
biết nhận xét và ngạc nhiên về sự hiện hữu của nó qua bản thân tôi, qua các bạn
tôi. Khỏi phải nói rằng cái con người đó còn mang trong nó những băn khoăn suy
tư thắc mắc về cái thân phận của mình. Tôi dành sự chú ý đặc biệt cho những tâm
hồn khác thường ấy. Mà anh là một.
Anh vẫn nghe tôi nói tiếp
đấy chứ? Tôi không muốn giấu anh nữa về những gì tôi đã nghĩ về anh, từ ngày
quen anh đến những lúc về sau này. Anh có bất mãn về thái độ đã coi anh như một
nhân vật của tôi và coi đó là một sự thiếu thành thật, một thái độ ‘‘phản trắc’’
trong sự giao thiệp của chúng mình, tôi cũng đành chịu. Nhưng tôi biết tính
anh. Tâm hồn anh tuy chứa đây băn khoăn thắc mắc nhưng lại không bị vẩn đục vì
những nỗi bi quan yếm thế trước cuộc sống, Và tôi tin là anh không giận tôi. Sở
dĩ tôi phải nói trước như vậy, bởi vì tôi đã từng có những người bạn ‘‘sợ’’ tôi
‘‘biết’’ về họ và đem biến họ thành một nhân vật nào đó của tôi - họ không biết
rằng tôi cũng còn yêu họ nữa? - ; đến nỗi rằng họ ghét tôi như thể tôi là một
thứ phù thủy có phép biến đổi họ khi nào muốn, không bằng. Nhưng chính cái khía
cạnh tâm lý đó của họ đã làm tôi thích thú. Bởi vì nó đã nói lên được phần nào
cá tính con người của họ.
Nói cho có vẻ ‘‘rầm rộ’’
vậy thôi, chứ sự thật đâu có ghê gớm như vậy hả anh. Như tôi đã nói với anh,
tôi tìm hiểu về con người và mới có ý định viết về nó thôi. Nếu trong thái độ
tìm hiểu của tôi có đôi chút gì ‘‘ trịch thượng’’, thì nào phải tôi muốn làm ra
như vậy. Đó chẳng qua là sự nhận xét đòi hỏi một cái nhìn bao quát, cũng như
mình chỉ có thể nhìn thấy toàn diện một thành phố khi đứng trên một mô đất cao.
Sống gần và hòa để lấy chi tiết, rồi lùi ra xa và cao để lấy toàn diện và bao
quát.
Thực ra, anh ạ, trong thế
giới văn chương tôi mời chỉ là môt kẻ tập sự, một thứ tập sư nhiều khi đã muốn
bẻ bút để quay về cuộc sống bình thường như mọi người không ưa thích văn chương
và đối với họ văn chương là một món vô bổ và vô ích. Mặc dù đã định gác bút nhiều
lần, nhưng có những lúc lòng yêu mến con người từ những cao vọng đến những ham
muốn tầm thường nhất của nó, xâu xé tôi đến cùng tận của tâm hồn và như chẳng
chịu buông tha trả tôi về với nhịp sống bình lặng như của mọi người. Rồi một buổi
nào đó, ngồi tư lự bên ly cà-phê trong một quán nước, quan sát những bộ mặt, những
cử chỉ của những người xung quanh, tôi chợt thấy cái hương vị đậm đà của cuộc đời
tràn đầy tâm tư và thấm đượm lên đầu lưỡi một vị kỳ diệu. Những lúc ấy, tôi
thèm cầm đến cây bút vô kể. Ngươi tôi rúm lại. (hay tôi có cảm tưởng là người
mình rút lại) trong một niềm khoái lạc vô bờ, tay tôi muốn được bóp chặt vào một
vật gì để biểu lộ tình yêu thương ứ đầy cho cuộc sống ấy. Tôi trở về hôm ấy
trong lòng hớn hở như vừa được tiêm thuốc hồi sinh. Lazarus sống lại chưa chắc
đã cảm thấy thú vị như tôi. Và tôi tự hứa sẽ viết. Sẽ viết Đã nhiều lần tôi tự
nhủ với mình như vậy. Sẽ viết. Tôi sẽ viết. Đã nhiều lần tôi thử viết. Rút cục
bỏ dở. Tôi đi tìm căn do. Có những lúc người ta bực mình vì phải đi dò dẫm
chính mình. Đôi khi tôi nghĩ mình không có tài. Nhưng tại sao vô cớ, nếu không
có tài, tôi lại cứ bị ngộp đi vì cái tình thương dành cho cuộc đời kia? Chắc chắn
tình thương đó không để tôi trở thành một bác sĩ đem tình thương và thuốc men
hàn gắn những thương đau của nhân loại, vì tôi không ưa khoa học và khó làm
quen với bệnh tật. Và cũng chắc chắn không để tôi trở thành một chính trị gia
tranh đấu mang lại công bình và no ấm cho con người, vì tôi không có khuynh hưởng
chính trị.
Anh ạ, trong khi cái tình
thương yêu con người của tôi, nó có một cái gì kỳ diệu lắm. Và tôi muốn viết về
những nhận xét của tôi về nó, về cái biến chuyển trong con người, về những niềm
hy vọng khát khao, nỗi vui mừng cho đến cả những sự tuyệt vọng, đau khổ, tủi
nhuc của nó.
Nhưng cho đến bây giờ tôi
vẫn chưa thực hiện được cái gì. Có thể là vì tôi còn trẻ. Tôi còn ở trong thời
gian tập sự. Tôi chưa sống đủ. Và những nhận xét của tôi chưa chín mùi. Một nhà
văn đã khuyên tôi đừng vội hái trái xanh vì nó sẽ chát. Tôi chờ đợi bằng cách
lao đầu vào cuộc sống. Kể thì đối với người con gái, việc ‘‘săn’’ kinh nghiệm
như thế không khỏi bị dị nghị. Nhưng làm thế nào được. Có những cái còn hơn cả
những điều dị nghị ấy nữa ấy chứ.
Thực sự thì tôi không muốn
thế. Tất cả những gì ở tôi nó có như thế nào, tôi chấp nhận như thế ấy. Tôi
không tự tạo. Tất cả chỉ là một sự tình cờ, một lô những tình cờ.
Cố nhiên, trong việc đi
‘‘săn’’ kinh nghiệm, tôi đã phải trả bằng ‘‘giá chợ đen’’. Kinh nghiệm không
bày bán ở chợ công khai bao giờ.
Anh bảo sao? Méo mó? Đôi
khi cũng méo mó chứ! Tránh sao được, hả anh? Bởi quen quan sát phân tích sự kiện
và sự việc, có những lúc mình bỗng dưng không hiểu gì cả. Chẳng hạn như có những
sự việc thật giản dị, nhưng vì thói quen phân tích, tôi lại làm chúng trở nên
phức tạp hơn.
Anh hỏi rằng có bao giờ
tôi cảm thấy việc làm của tôi - sự quan sát và phân tích cuộc sống - là vô ích
không? Tất nhiên là có. Chẳng những thế, nhiều khi tôi bỗng có cảm tưởng là
mình làm những việc thừa nữa. Thay vì hưởng cuộc sống như mọi người, thì tôi lại
tự mua lấy những vất vả khổ sở trong việc đi phân tích nó. Tâm hồn tôi luôn
luôn bị xáo trộn vì những biến сố từ ngoài được thu nhận vào một cách xô bồ, đến
độ nhiều khi tôi không biết phải ghi nhận cái nào trước, cái nào sau. Tôi viết
một cách chật vật, đến nỗi rằng nhiều khi phải tự hỏi mình có thật muốn viết và
có tài viết không? Hay là đây chỉ là một cuộc chạy bắt ảo ảnh? Tuy nhiên một
đôi khi tôi cũng hoàn thành được cái gì. Nếu không vì cái thú - thú quan sát,
thú phân tích và cũng phải kể đến cái thú... sống một cuộc sống nhiều xáo trộn
- có lẽ tôi đã chẳng bám riết lấy cái ý định viết văn này làm gì. ích gì đâu
khi mà danh vọng đối với mình vô nghĩa như những công việc của mình làm. Xin lỗi
anh nếu những lời tôi nói với anh có vẻ vô nghĩa … À, vâng, tôi vẫn nghĩ rằng
cái đó - cái nghĩa lý của cuộc hiện sinh của chúng ta - vẫn là thắc mắc then chốt
của anh- Không, tôi quên thế nào được điều đó, bởi chính điều đó ở anh đã chẳng
lôi kéo sự chú ý của tôi vệ anh là gì?...
Chắc anh không thể ngờ là
anh đã ám ảnh tâm trí của tôi như thế nào, cùng với những suy tư thắc mắc của
anh trước cuộc sống
Anh còn nhớ lần đầu tiên
mình gặp nhau ở hành lang trường L.? có nhẽ anh còn nhớ điều đó hơn cả tôi ấy
chứ.
Dạo ấy, dưới mắt tôi, anh
không có gì đặc biệt cả, nếu không nói trái lại, Người anh thấp bé. Tôi còn nhớ
anh hay mặc chiếc áo sơ-mi màu nâu bằng hàng, chân đôi khi đi dép, nhưng cũng
có lúc đi giầy và nếu có đi giầy thì anh lại chẳng chịu đi bít-tất. Anh cũng
khá đẹp trai tuy đôi lông mày của anh không làm tôi ưa lắm vì mỗi khi anh nhìn
anh nhướng lên, anh nhướng lên trông tếu thế nào ấy. Tôi còn nhớ hôm đầu tiên
ngồi đối diện với tôi trong giảng đường, anh chả hỏi tôi cái gì ngoài câu: ‘‘Chị
mua cái classeur này ở đâu đấy?’’ Tôi không biết anh hỏi để làm quen hay vì
không biết thật. Tôi nghĩ rằng cả hai vì trông anh có vẻ như chẳng biết gì. Có
thể đó cũng là một chiến thuật riêng của anh. Nhưng tôi nghi ngờ điều sau này.
Nửa niên học, anh bỏ đi
ghi tên vào lớp huấn luyện cảnh sát. Hôm ấy anh đến L. gặp tôi và cho tôi mượn
một cuốn sách học mà tôi thiếu. Anh có ý định nhờ tôi lãnh bài hộ. Nhưng nếu chỉ
có thế thôi thì tôi chẳng ngạc nhiên về anh làm gì cho đến ngày anh đến đòi lại
cuốn sách đã cho tôi mượn sau khi tôi đã thi xong. Đột nhiên anh nhờ tôi một việc,
một việc nhỏ nhặt nhưng làm tôi ngạc nhiên về anh không ít. Tôi tự hỏi không biết
nên xếp anh vào loại người nào, ngây thơ hay vô vị lợi? Anh nói anh còn dư vài
tập bài học. Anh định cho tôi mượn hết nhưng tôi lại không cần vì đã có chúng.
Anh bèn viết một mảnh giấy đại ý nói ai thiếu cours thì anh cho mượn và định
đem dán ở cửa văn phòng nhà trường. Anh định nhờ tôi giữ tập cours ấy và liên lạc
thay anh với người nào muốn mượn chúng. Tôi nhìn anh ngạc nhiên:
- Sao anh lạ thế? Cho mượn
bài bất kỳ là ai như vậy, lạc mất bài của mình thì khi cần học, anh sẽ lấy gì
mà học?
Anh cười:
- Trong khi có nhiều người
không có cours học mà mình không học thì cho mượn giữ làm gì?
Tôi lắc đầu cười:
- Quả thực tôi chưa gặp
ai như anh. Cho bạn mình mượn sách mượn vở học thì đi một nhẽ đi rồi. Đằng này
anh... Tôi thú thật là mình không được rộng rãi như anh. Tôi ích kỷ hơn anh nhiều.
Tôi còn nhớ trước khi từ
giã L., anh đã lãnh thuyết trình một đề tài do giáo sư M. cho. Hôm anh thuyết
trình tôi cũng có đi dự. Qua máy khuếch âm tôi nhận rõ hơn cái giọng nói của
anh. Giọng nói của anh không có tính cách hùng biện, hơi uể oải nhưng tha thiết
và đầy trẻ -thơ- tính,.. Tóm lại, tôi có cảm tưởng như, qua giọng nói và cách
thức diễn tả của anh, tôi không tìm thấy một vết tích của cái tâm tư sôi sục và
luôn luôn đặt dấu hỏi của anh. Nhìn chung anh có vẻ hồn nhiên hơn là băn khoăn,
vui vẻ hơn là hằn học. Những lúc về sau này, được biết anh rõ hơn, tôi nhận thấy
anh buồn nhưng không bi quan, bất mãn nhưng không hằn học. Cũng như tôi không
thể tưởng tượng đôi lông mày lúc nào cũng nhướng lên của anh lại có thể dúm dó
vì một cơn giận dữ nào đó.
Trở lại khoảng thời gian
anh sửa soạn từ giã L. Hôm ấy, sau khi thuyết trình xong, anh đến tìm tôi. Trực
giác đàn bà cho tôi biết tình cảm anh đang hướng về tôi. Anh cho tôi biết ngày
mai anh lên đường rồi. Anh ngỏ ý xin đưa tôi về cho biết nhà, nhưng tôi từ chối.
Tôi không ưa lắm những sự giao thiệp vì bản tính thích cô độc. Nhưng chính tôi
lại muốn anh biên thư cho tôi. Bởi đối với tôi, mỗi một người bạn cùng học bỏ
đi đều không ít thì nhiều gây cho tôi một mối xúc động. Sự xúc động trước một
cuộc sống mới mở ra cho họ; và chính tôi cũng thèm khát cái kinh nghiệm ấy vô
cùng. Đã hơn một lần tôi muốn được làm con trai như các anh để ‘‘tận dụng’’ cuộc
sống của mình. Bởi đối với tôi, không gì thú vị bằng sự hiểu biết mọi cuộc đời,
không gì ý nghĩa hơn là sự triệt để khai thác mọi cảm xúc của mình trước cuộc sống.
Tôi ghét sự tù túng. Tôi muốn thực hiện câu ‘‘La vie n’est qu’un instrument de
la connaissance’’ của Nietzsche. Mặc dù biết rằng biết nhiều sẽ không khỏi làm
mình mệt mỏi, chán chường đôi khi...
Rồi anh đi. Và tôi ở lại.
Bẵng đi tới hai tháng tôi
không được thư từ gì của anh. Nhưng một hôm anh về chơi và tôi được biết sở dĩ
anh không viết thư cho tôi vì do dự, phần sợ tôi không đọc hoặc gia đình sẽ kiểm
soát làm rầy rà. Tôi cười nói anh cứ yên trí, tôi không thiếu lịch sự đến thế
đâu, và ở gia đình tôi không có sự kiểm duyệt thư từ. Và tôi thấy mình mong đợi
thư anh.
Ngay trong tuần đó, tôi
nhận được lá thư đầu tiên của anh. Trong đó anh tự giới thiệu về anh: một con
người rất ghê sợ sự tầm thường và luôn luôn bất mãn về mình, về người. Anh còn
cho tôi biết sơ qua về kiến thức của anh,, những tác giả anh đã đọc...
Qua lá thư đầu tiên của
anh. rõ ràng là anh có thiện chí muốn trao đổi kiến thức văn hóa với tôi, dù là
chỉ mới biết về tôi qua một người bạn gái học cùng lớp cũng chỉ hiểu biết về tôị
một cách rất giới hạn. Dạo ấy tôi đang gặp một chuyện buồn về tình yêu. Xin anh
đừng vội cười tôi vì tuổi trẻ chỉ có hai cái đáng buồn: tình yêu và tương lai;
và cũng chỉ có hai cái đó ìàm cho người ta thấy mình còn trẻ. Tôi yêu một người
con trai và tôi đã ngu xuẩn khi cố gắng bỏ quên mình để chạy theo mẫu người của
người mình yêu, một con người mực thước và quân bình. Kết quả: tôi lạc mất tôi.
Kích thước mới của người
yêu chật hẹp quá đối với tôi. Tôi lại tự ý chối bỏ kích thước cũ của mình nên
tôi sống trong tình trạng cô độc khắc khoải. Một người bạn thân đã gọi đó là
thái độ tình-nguyện vào ngồi-trong nhà-tù-của kẻ khác. Tôi hiểu rằng mình đã đi
sai đường. Và, anh ạ, anh không thể hiểu được rằng khi nhất quyết lột bỏ cái bộ
áo đi mượn kia, tôi sung sướng tìm lại đựợc tôi, tôi sung sướng là sự khắc khoải
đã giúp tôi khỏi lạc mất tôi… Từ đó tôi sợ mọi quen biết, giao dịch.
Tôi tiếp được hai lá thư
kế tiếp của anh với những lời phỏng đoán về tôi. Tôi thích thú theo dõi anh.
Anh bảo rằng tôi đã đối tượng-hóa anh? Anh nói quá đấy chứ. Quan sát anh nói
riêng, và con người nói chung, là một cái thú của tôi. Không gì hơn là tạo cho
mình một cái thú trong cuộc sống, anh ạ. Cái thú của tôi đã giúp tôi có cái ý
thức về sự liên quan tương trợ giữa tôi và những người chung quanh. Tôi hiểu
tôi hơn: mặc dù ưa thích cô độc, nhưng tôi tự biết không thể sống xa mọi người.
Tôi yêu con người và tha thiết với những biến chuyển trong nó. Không, xin anh đừng
dùng danh từ ‘‘lớn’’ quá như vậy. Xin anh đừng nói rằng tôi bao dung. Có thể
trong cách nhìn đời của tôi không có cái khe khắt của một nhà luân lý thật đấy,
nhưng tôi không hoàn toàn bao dung như anh tưởng đâu. Tôi ích kỷ hơn anh nghĩ
kia. Tôi vẫn nghĩ rằng sự tha thiết của tôi đối với sự hiện hữu kỳ diệu của con
người trên cõi đời này không cùng một tính chất với sự tha thiết của những nữ
tu trong một cô nhi viện, của những vị bác sĩ v..v... Tôi không giải thích được
với anh cái điều khác biệt mà tôi cảm thấy ấy. Tôi chỉ biết rằng không baọ giờ
tôi muốn ngừng sự quan sát và tìm hiểu nó, tìm hiểu con người... Ồ, tôi nói về
tôi nhiều quá, phải không?
Anh nên ngăn cản tôi đi
chứ? Đôi lúc tôi có vẻ cuồng nhiệt và hình như tội say mê cả chính tôi mặc dù
cũng chính tôi lại ghét tôi nhiều lần một cách cẩn thận.
Theo Chân Mây I (tt)
Một lần, tôi ngỏ ý định
muốn tìm một chân kèm trẻ cho một gia đình nào đó đi nghỉ mát ở miền biển để có
thể sống ở miền biển một thời gian nhân dịp hè, điều mà tôi vẫn thèm khát. Nhiều
người bảo rằng đời sống ở biển tẻ nhạt quá. Riêng đối với tôi, tôi lại thích sự
tẻ nhạt ấy- Tôi thích những bãi cát chạy dài hoang vắng. Tôi yêu những buổi tối
nằm dài trên bãi, ngắm sao trên trời, nghe sóng vỗ ngoài xa và thả lỏng tâm tư
vào cõi hư không. Mới chỉ tưởng tượng đến điều đó thôi mà tôi đã thấy lòng êm ả
hẳn đi. Anh nói không thích ngắm sao? Không thích nhìn biển? Tôi cũng nhớ anh
đã viết cho tôi như vậy- Anh cũng khác tôi nhỉ? Tại sao thế? Vì cả hai việc đó
cùng gợi lên trong anh cái ý tưởng về sự giới hạn của con người anh? Ngắm sao
làm anh thấy mình tầm thường ti tiện? Tôi thì tôi nghĩ ngược hẳn với anh. Anh
ghét đường chân trời của biển vì nó làm cho tầm mắt anh bị hạn hẹp. Còn tôi,
tôi bằng lòng về sự có mặt của nó vì nó cho mắt tôi đựợc nghỉ ngơi và một điều
thú vị cho trí tựởng tượng của tôi là: bên kia đường chân trời kia có rất nhiều
cái lạ… Anh ghét ngắm sao và không chịu nổi sự phải thấy cái tầm thường ở trong
anh, và ở cái cuộc sống xung quanh anh. Còn tôi, tôi tìm thấy sự thoải mái
trong khi ngắm sao. Tôi nghĩ rằng trên đời này không có gì nhẹ nhàng và đáng ỵêu
bằng các vì sao. Chắc anh cũng đã đọc bài ‘‘Les étoiles’’ của Alphonse Daudet?
Tuyệt phải không? Nhưng anh vẫn sợ ngắm sao. Thoạt tiên tôi nghĩ là anh hợm
mình khi nói rằng anh ghê sợ sự tầm thường. Tôi cho rằng anh thiếu thành thật,
thích ‘‘làm ra vẻ’’ và tự cao tự đại... Dĩ nhiên đó là ý nghĩ dạo mới quen biết
anh.
Khi tôi ngỏ ý định muốn
tìm một chân kèm trẻ như vậy, anh không ngần ngại giới thiệu tôi với bà mẹ đỡ đầu
của anh. Bà ta đến tìm tôi và đưa ra điều kiện. Nhưng khi nghe nói phải kèm cả
một đứa học đệ tứ đang sửa soạn thi, tôi chùn lại. Thế là tôi bỏ lỡ dịp đi nghỉ
hè ấy, bỏ lỡ dịp sống với biển và bỏ lở dịp gần gũi với anh từ Rạch Dừa về Vũng
Tàu mỗi ngày chủ nhật để có dịp thảo luận với anh về cuộc sống mà tôi rất
thích. Tôi bậy quá phải không? Anh có bất mãn về tôi không? Tôi không biết nếu
anh giận tôi thì cho đến bao giờ anh mới hết giận được? May mà anh không ‘‘sợ’’
tôi như vài người bạn mà tôi đã kể với anh. Mặc dù tôi thích thấy nhân vật của
tôi băn khoăn, khắc khoải, đau khổ thật đấy, nhưng tôi cũng còn thích rằng nó đừng
tuyệt vọng, hay nếu có thì đó chỉ là mối tuyệt vọng về một sự đỗ vỡ trong hiện
tại, một mối tuyệt vọng nhất thời…
Anh vẫn nghe tôi nói đấy
chứ? Tôi biết rằng sự kể lể của tôi hôm nay đã đi ra ngoài cái thông lệ khép
kín thường ngày của tôi. Anh ngạc nhiên là phải. Từ người quan sát anh tôi bỗng
trở thành kẻ bi quan sát bởi anh. Buồn cười nhỉ? Nhưng ít ra điều này cũng gỡ
tôi ra được phần nào cái mặc cảm ‘‘ thiếu thành thật’’ của mình trong sự giao
thiệp với anh. Cũng tại anh cứ khăng khăng một mực là tôi yêu anh, yêu bằng
tình yêu của một đứa con gái cho một thằng con trai. Bởi vậy tôi mới phải nói
lên cái ý định của tôi. Tôi ‘‘tố cáo’’ tôi trước anh.
Tôi kể đến đâu rồi nhỉ?
À, phải rồi, đến chỗ sau khi tôi bỏ lỡ dịp làm préceptrice cho mấy đứa con của
bà mẹ đỡ đầu của anh trong thời gian nghỉ hè tại Vũng Tàu.
Sau đó anh vẫn tiếp tục gửi
thư cho tôi. Những lời lẽ trong những lá thư kế tiếp gửi về dần trở nên thân mật.
Tôi cứ để anh tiến xa hơn mà không tỏ ý ngăn cản lại. Bởi chính trong lúc để
anh tiến xa như vậy, tôi được dịp quan sát anh gần hơn. Về cảm tình của tôi đối
với anh ư? Dĩ nhiên là tôi cũng quý mến anh chứ. Nhưng yêu thì chưa bao giờ...
Đôi khi tôi cũng tự hỏi là liệu mình còn có thể yêu được ai?
Sau lần làm préceptrice hụt
đó tôi tiếp tục những ngày nghỉ buồn nản trong cái thành phố đang lên cơn sốt
vì một cuộc khủng hoảng tôn giáo mang màu sắc chính tri. Đen tối. Tôi không còn
thì giờ nào nghĩ đến anh với những băn khoăn của anh. Chẳng phải vì tôi bận
tham gia tranh đấu như bao nhiêu những người bạn của tôi đang làm. Tôi tự tách
ra khỏi cuộc tranh đấu, vì thực sự không hiểu gì cả. Tôi hoài nghi. Tôi sống
trong tình trạng ngơ ngác. Tôi muốn theo gót mọi người và xuống đường. Nhưng
tôi vẫn đứng nhìn họ. Tôi bỗng bị ném vào trong một sự cô độc kỳ lạ. Họ hợp ở
đâu? Họ biểu tình ở đâu? Họ bãi khóa như thế nào? Tôi hoàn toàn không biết gì cả.
Tôi biết rõ là mình không sợ những bắt bớ giam hảm, cầm tù. Nhưng tôi vẫn không
xuống đường theo gót họ. Có một lúc tôi nghĩ rằng tại mình suy nghĩ nhiều quá
nên không chịu nhìn vấn đề áp bức, khủng bố dưới chính hình thức thật của nó.
Có những lúc tôi hoảng sự với ý nghĩ rằng mình hỏng mất rồi vì đã không còn bất
mãn, căm thù trước những gì gọi là bất công, có những lúc tôi không hiểu tôi nữa.
Trong khi mọi người xuống đường, tôi buồn nản và lang thang và sợ sệt trước sự
hư đốn của mình cùng với nỗi cô độc. Chả lẽ bây giờ tôi nhảy vào nắm tay với mọi
người, gạt ra ngoài những ý nghĩ mâu thuẫn đang xâu xé tôi - mà làm sao gạt
chúng ra cho được?- hành động đó khôi hài quá đi. Đấy, rồi rút cục tôi chẳng
làm gì cả...
Tôi bỗng đâm ra thù chính
trị vì vậy. Đứng trước những vấn đề chính trị, tôi thấy mình trở thành không ý
kiến, vô lập trường, vô nghĩa...
Bởi vậy khi cuộc đảo
chính xảy ra, tôi càng day dứt khổ sở và có vẻ thản nhiên trước sự nao nức của
mọi người. Tôi không hiểu mình nữa. Hoặc cũng có thể những biến cố tôi tiếp nhận
còn quá xô bồ. Tôi nảy ra ý định rời bỏ cái thành phố đang sôi sục và điên cuồng
về bộ mặt mới của mình. Từ sau cuộc đảo chính, để tìm đến miền biển, miền của sự
trầm lặng muôn đời trước mọi đổi thay của cuộc đời, thiên nhiên, vũ trụ, để ngắm
lại những đường chân trời, những vì sao về đêm và để nghe tiếng sóng vỗ mà tôi
hằng yêu thích và khao khát. Tôi nghĩ rằng Biển đối với tôi như hình ảnh người
Mẹ mà mỗi lần cần sự êm ả, cần sự lắng đọng cho một tâm tư đang sôi sục, tôi
thường nghĩ tới, mơ tưởng tới giây phút được ngắm nhìn và chỉ nguyên sự nhìn ngắm
ấy thôi, lòng lôi sẽ được xoa dịu lại...
Anh đến vào chính lúc tôi
đang cảm thấy cô độc. Tôi cũng cần một người bạn đồng hành. Một người bạn đồng
hành và tôi quên hẳn sự coi anh như một nhân vật của mình.
Tôi hỏi anh làm gì trong
mấy ngày qua. Anh đáp:
- Bị quân đội cách mạng
giam giữ.
- Sao lại...? À, tôi hiểu
rồi. Ít ra anh cũng đã giúp việc cho chế độ cũ. Anh không tham gia cuộc biểu
tình của sinh viên?
Anh lắc đầu, kể cho tôi
biết qua về mấy ngày ạnh bị giam:
- Tôi đang ở trường - như
tôi đã nói với chị (tôi nhớ anh còh gọi tôi bằng chị) là sau khóa huấn luyện,
tôi còn theo học lớp Tình-báo. Đêm xẩy ra biến cố, bọn này bị quân đội vào lùa
hết vào trại giam. Ngày thứ ba tức hôm nay, mới được thả ra và chưa biết người
ta sẽ giao cho mình chức vụ gì.
Tôi hỏi anh nghĩ sao về
cuộc biến động - một câu hỏi tất nhiên. Anh đã trả lời tôi:
- Khéo rồi cũng như Đại
Hàn mất.
Tôi nói và chợt nhận thấy
mình cũng có ý kiến:
- Còn tôi, tôi hoài nghi
vì chúng ta là một nước chạm tiến, Đảo chính là bệnh kinh niên. (Tôi không giấu
gì anh là tôi vừa đọc bản dịch ‘‘ Guồng Máy’’ của Sartre được vài hôm. Ảnh hưởng
sách vở là cái bệnh của tụi mình, có phải? Mình muốn có ý kiến trong khi thật sự
mình chả có ý nghĩ quái gì cả.)
Tôi và anh nhìn nhau im lặng.
Tôi bỗng pha trò.
- Thế ra anh là người của
chế độ cũ đấy nhỉ? Bỗng dưng lại làm một thứ ‘‘tôi trung bất đắc dĩ’’!
Anh cười, khẽ nhún vai,
hai bàn tay xoè ra, và đôi lông mày của anh nhướng lên. Tôi không biết anh đang
nghĩ gì lúc ấy. Nhưng tôi thấy thú anh. Tôi đưa ý định rủ anh cùng ra Cấp nằm
vài hôm. Anh nhìn tôi, ngạc nhiên, có lẽ anh không ngờ rằng tôi lại đưa ra đề
nghị đột ngột như thế, phải không? Nhưng anh lại nhận lời sau một thoáng giây
ngạc nhiên, với một vẻ vội vàng. Tôi thầm nghĩ: có gì đâu. Có gì là quan trọng
đâu. ‘‘ Và bỗng dưng tôi ghét cái vẻ ngạc nhiên ấy của anh.
Những ngày ở Cấp đối với
anh có một ý nghĩa khác và đối với tôi lại có một ý nghĩa khác. Nhưng chúng
mình, dầu sao, cũng mang cùng một tâm trạng lẩn trốn, lẩn trốn đối với cái rạo
rực ở đằng sau, của đám người cuồng nhiệt kia mà chúng mình không một mảy may
tham dự ngoài một cảm giác chua chát thế nào. Cả tôi lẫn anh cùng không hiểu vì
sao, hay đúng hơn không muốn hiểu vì sao, vì cùng một lúc, mình có thể đưa ra
nhiều lý do khiến mình không cùng tham dự với mọi người. Đôi khi tôi tự hỏi rằng
chúng mình lẫn trốn như vậy có hèn nhát? Nhưng tôi đi đến kết luận chúng mình
đâu có bị bắt buộc phải như mọi người. Mỗi người có quyền có một phản ứng
riêng, trước một biến cố. Ý thức không phải là một sự hèn nhát. Nhưng thôi, nếu
cứ loanh quanh trong vấn đề này thì ngàn đời mình vẫn chẳng đi đến một kết luận
nào cả, nếu một khi còn sống và còn tiếp tục suy nghĩ và phải tiếp nhân những
biến cố xung quanh, không, ảnh hưởng của những biến cố xung quanh thì đúng hơn.
Thành phố Vũng Tàu những
ngày ấy vắng kỳ lạ. Nếu không có âm thanh của chiếc haut-parleur ở bãi trước
luôn thông tin về những gì xảy ra từ sau biến cố ở Sài-gòn, nào tuyên ngôn, nào
thông, cáo, nào danh sách những người tặng quà các chiến sĩ cách mạng..v.v… nếu
không có lệnh giới, nghiêm từ tám giờ tối ở cái thành phố nhỏ bé ấy, thì có thể
nói rằng cái mà người ta gọi là cách mạng chẳng hề làm cho bộ mặt của thành phố
thay đổi. Rút cục, tôi với anh, hai kẻ trốn chạy đã bị đuổi và tóm được…
Trên bãi, hơn chục người
ngoại quốc, lác đác một hai bộ mặt Sài-gòn, còn thì toàn là dân sinh sống ở đấy
cả. Tôi hơi cảm thấy lạc lõng. Thêm anh vào làm tôi cảm thấy lạc lõng hơn. Anh
ngạc nhiên về điều đó? Giản dị mà. Tôi ghét sự đồng lõa. Mà chúng mình là hai kẻ
đồng lõa. Bởi vậy, tôi cảm thấy bực bội. Những gì anh suy nghĩ, làm sao tôi
đoán được. Nhưng nhìn cái vẻ mãn nguyện của anh, tôi không khỏi khó chịu.
Nhưng, anh ạ, đôi khi những thành kiến chưa bị tiêu diệt hẳn trong tôi. Tôi sống
trong một trạng thái xung đột triền miên: Tôi và sự khe khắt của một ý thức đạo
đức, tôi và cái biến cố vừa qua ở Sài-gòn, tôi và... tôi và... Và tôi, và tôi
muốn được yên thân một mình vì vậy. Nhưng tôi không đủ can đảm nói thẳng với
anh điều đó, tôi cũng không đủ can đảm phân tích tôi đến tận tường nữa và tôi
cũng không đủ can đảm chịu đựng sự cô độc sau khi anh đã đi rồi, mặc dù chính
tôi lại mong được cô độc. Tôi chỉ có thể im lặng theo anh đi kiếm một cái khách
sạn có lối kiến trúc cổ điển mà một lần tình cờ đi sục sạo trong cái thành phố
này, anh bắt gặp và thích thú. Anh không nhớ tên đường, chỉ lờ mờ biết rằng tòa
nhà ấy nó nằm trên con đường đi ra bãi sau. Cuối cùng chúng mình cũng kiếm ra
nó. Nhưng nếu nó đã làm anh chú ý về vẻ cổ điển của nó khi nhìn thoáng qua thì
sự thiếu tiện nghi của nó đã làm anh thất vọng. Còn tôi không có ý kiến. Vì đối
với tôi, sự quan trọng không phải ở những tiện nghi. Chiếc cầu thang bằng gỗ,
sàn gác bằng gỗ, vách cũng bằng gỗ - thứ gỗ lâu đời, ọp ẹp, mối đục lung tung,
cả ở một vài bậc thang khiến, nếu không cẩn thận, có thể bị mất thăng bằng hay
trượt ngã vì một chỗ mục nào đó.
Người bồi phòng dẫn tôi
và anh vào một căn phòng, ngay kế bên cầu thang rồi bỏ xuống. Tôi vất túi hành
lý xuống sàn nhà và ngồi phịch xuống giường. Anh đưa mắt nhìn xung quanh rồi ngừng
lại ở tôi. Có lẽ anh tưởng tôi thất vọng về cái khách sạn mà anh đã hết sức ca
ngợi khi chưa đi sâu vào nó. Có thể tôi cũng hơi thất vọng vì nó không như cái
hình ảnh tưởng tượng của tôi có về nó khi nghe anh tả. Nhưng điều đó quá thật
chẳng quan trọng gì. Anh nói, vừa với tôi vừa với một mình anh:
- Mình không thể ngờ là
nó lại thiếu tiện nghi và tồi tàn đến thế này!
Tôi khẽ nhún vai nói:
- Đi sâu vào bao giờ cũng
vậy. Bỏ đi thì mình cũng tầm thường nốt. Vậy hãy chấp nhận. Vả lại cái xung
quanh thật sự có qụan trọng gì.
Anh nhìn tôi một lúc lâu.
Tôi khẽ nhún vai một lần nữa, cười, bỏ đi ra balcon và bỗng dưng suy nghĩ về những
điều vừa nói bởi vì chính tôị cũng không ngờ rằng mình đã nói ra những điều đó.
Anh ra đứng cạnh tôi. Tôi chờ đợi anh hỏi một câu hỏi thông thường là tôi có ân
hận gì không. Nhưng anh không hỏi gì hết. Có lẽ như vậy lại hay. Dầu sao tôi
cũng tự lừa dối rằng anh không thắc mắc về cái điều tôi đang băn khoăn. Tôi sợ
việc mình phải nhìn thấy một cách rõ ràng quá sự hiện diện của một ý thức
đang-chiếu-vào mình. Anh có thể cho rằng tôi giả dối. Đôi khi sự tự lừa dối là
cần thiết, nếu thấy phải tranh thủ lấy đôi phút thoải mải cho tâm hồn. Nhưng có
điều chắc chắn rằng lừa dối mình vài lần, mình sẽ có được một thói quen. Nhưng
cho đến bây giờ tôi vẫn tự hỏi rằng có thật anh là một người chưa hề bị thành
kiến tiêm nhiễm nên đã chấp nhân việc tôi đi với anh là tự nhiên và rất nhiều sự
việc khác anh cũng cho là tự nhiên? Sở dĩ tôi nói rằng ‘‘anh chưa bị thành kiến
tiêm nhiễm’’ mà không nói ‘‘anh gạt ra ngoài những thành kiến’’ là vì căn cứ
vào cử chỉ và những lời nói của anh, tôi vẫn thấy một tính chất hồn nhiên, ngay
cả sự suy tư của anh về cuộc sống vẫn có vẽ thuần khiết khiết thế nào. Tại sao
tôi lại mang những ý nghĩ ấy về anh? Tôi chịu không thể giải thích được vì sao?
Vì sự tiếp xúc đầu tiên với tâm hồn nhiều tin tưởng ngây thơ và vô vị lợi của
anh chăng? Tôi ngờ là thế nhưng cũng không biết đích xác và không dám cả quá
quyết. Chỉ biết rằng cái ý nghĩ của tôi về anh nó như thế, không thay đổi. Đáng
lẽ rằng sau lần ngủ với anh, ý nghĩ đó phải mất đi, thì trái lại nó được củng cố
thêm lên. Kẻ bỉ ổi và đáng giận lại là tôi.
Tôi thay bộ áo dài và
khoác bộ đồ đi biển rồi lên nằm dài trên giường.
- Dù sao, khung cảnh xung
quanh cũng vẫn đẹp.
Anh ngồi xuống bên tôi,
xoay lưng lại phía tôi và cúi xuống lấy mấy cuốn sách mang theo trong túi hành
lý ra xếp trên bàn ngủ.
- Nếu không ưng ý, mình
có thể rời khỏi đây?
Anh đột ngột quay lại
phía tôi hỏi. Tôi nghĩ đến sự di chuyển và cái đám đông ở một khách sạn tiện
nghi trong thành phố mà ngại. Tôi nói, ở đây yên tĩnh hơn.
Rồi tôi trở mình nằm sấp,
tì cằm trên cánh tay và nhìn vào những vật anh đang lôi ở túi đựng hành lý ra:
một cuốn của Camus và hai cuốn thơ của Prévert.
Trong khi mọi người ở
Sài-gòn hân hoan trước một sự xụp đổ - dù rằng họ chưa ý thức và có lẽ cũng chẳng
nghĩ đến những gì sẽ đến kế tiếp cái xụp đổ ấy -, thì anh và tôi nằm ở đây
trong một cái khách sạn cổ điển, cũ kỹ, ọp ẹp, ở một cái miền mà ‘‘ hơi hướng
cách mạng’’ chỉ thể hiện qua cái haut-parleur ở ngoài bãi, lệnh giới nghiêm từ
tám giờ tối, những trang báo được cấp tốc gửi từ Sài-gòn ra nói về cái mà người
ta dự định thành lập v.v... và anh và tôi đọc những cái được viết ra từ một
phương trời xa lạ, bởi những con người với những suy tư và cảm xúc trong một điều
kiện no đủ nhất! Thôi đi, anh, đừng nói rằng sự suy tư về thân phận con người
đó là vấn đề chung cho nhân loại. Tôi cũng muốn tin như thế lắm, cũng như tôi
cũng rất muốn tin quan niệm của một số người cho rằng: vấn đề chính trị và cơm
áo là vấn đề tiên khởi của người dân nước chậm tiến, và vấn đề giới hạn con người,
hay nói cách khác, sự suy tư về than phận con người trước cuộc sống hữu hạn haỵ
gì gì đó, phải đến sau khi không còn những thiếu thốn, đói khổ nữa. Và rút cục,
tôi không muốn tin gì cả. Tôi bất mãn tất cả, bất mãn tôi, bất mãn mọi người, bất
mãn cuộc đời. Nhưng tôi vẫn phải tiếp tục suy nghĩ. Và đi đến kết luận để mong
chấm dứt một sự xâu xé về quan niệm trong tôi: chính những đói khổ, những thiếu
thốn làm cho sự suy tư về thân phận con người thêm nung nấu, chua xót. Nhưng
suy tư rồi để làm gì chứ? Nếu chỉ để viết ra những điều đó thì tôi thấy còn vô
ích hơn nữa. Thú thật với anh, tôi không biết mình phải làm gì cả
Xin lỗi anh, tôi đã lạm dụng
một sự liên tưởng để nói về mình hơi nhiều. Tóm lại tôi không phiền trách mình
về những gì đã qua. Tôi chỉ thương cho anh, thương cho tôi, thương cho những
người trẻ chúng mình: chúi đầu vào sách vở để rồi chỉ thấy chua sót và bất
bình, chua xót vồ bất bình mình, chua xót và bất bình cuộc đời, chua xót và bất
bình tất cả, và nhất là để thấy mình không ăn nhịp với cái dòng sống xung
quanh…
Theo Chân Mây II
Vũ đuổi kịp Thy đúng lúc
trời đổ mưa tầm tả. Thy chỉ kịp kêu lên: ‘‘A, anh Vũ!’’ và họ, không ai bảo ai,
cùng chạy vào trú mưa dưới mái hiên tiệm nước gần đấy, cùng với những người
khác. Thy phủi những hạt mưa bám trên áo và tóc, đưa mắt ngơ ngác nhìn xung
quanh. Vũ nhìn Thy làm những cử chỉ đó, nói:
- Tôi đuổi theo Thy mãi.
Thy đi đâu đấy?
- Cũng như anh. Dong phố.
Vậy thôi. May mà không có cái tắc-xi nào. Nếu không... Hồi nãy tôi cũng trông
thấy anh, nhưng không gọi.
- Tại sao?
- Đừng hỏi tại sao. Đôi
lúc tôi sợ nói chuyện, sợ gặp người quen, sợ tiếp xúc.
- Vậy đi phố làm gì?
- Ấy đấy, đấy chính là điểm
mâu thuẫn mà tôi không giải thích được vì sao. Tôi ghét đám đông, nhưng tôi lại
không thể không có cái thèm muốn được trà trộn với họ, được quan sát họ.
Một vài con mắt quay lại
nhìn hai người. Thy nói nhỏ:
- Ngôn ngữ của mình lạ lắm
sao?
Vũ đề nghị vào quán ngồi.
Thy nói:
- Tôi cũng định vây.
Hai người đi vào tiệm nước,
chọn một cái bàn khuất nhất.
- Anh về bao giờ?
- Hôm qua. Đến tìm Thy mấy
lần mà không gặp.
- Tôi có nhà nhưng không
muốn tiếp.
- Tại sao?
- Đã bảo đừng có hỏi tại
sao. Nó như thế đó. Chẳng tại sao cả. Bao giờ anh lại lên?
- Một tuần nữa.
- Anh về để lo giấy tờ?
- Chính thế.
Người bồi đi lại. Thy ngẫm
nghĩ một lúc rồi gọi nước trà. Vũ gọi bia 33. Người bồi trở vào trong.
- Tôi đợi thư của Thy.
- Sao anh lại đợi thư
tôi? Anh không biết...
- Tôi biết. Nhưng vẫn đợi.
Cũng như tôi biết rằng mình không yêu tôi...
Thy nhăn mặt vẻ khó chịu.
Người bồi mang đồ uống lại. Thy xoè hai bàn tay úp trên miệng tách trà để đón lấy
hơi ấm của nước, nhìn những hạt mưa bên ngoài:
- Những cơn mưa thật bất
thường. Mọi sự việc ở đây cũng bất thường. Mình cũng bất thường nốt... Tuy vậy,
bất thường nhiều sẽ thành tự nhiên!
- Tại sao lại không cho
tôi gọi mình?
- Vì tôi không yêu anh.
Tiếng ấy làm tôi khó chịu.
Vũ ngồi im lặng nhìn Thy.
- Này Vũ, anh không thấy
chúng mình là bạn vẫn thú hơn à? Tôi ghét tình yêu.
- Tại sao?
- Vì nó làm mình mất nhiều
thứ. Hai người bạn đang chơi với nhau yêu nhau, bỗng nhiên nhận thấy họ không
còn chuyện gì để hỏi với nhau nữa.
- Bởi vì nhìn nhau đối với
họ đủ lắm rồi.
Thy khẽ nhún vai:
- Có thể đó là quan điểm
của anh.
- Tôi vẫn nghĩ rằng Thy
có một trái tim sắt đá.
- Thế thì anh nhầm to rồi,
Vũ ơi. Tôi biết tôi. Có thể tôi có nhiều lý trí, tôi hay suy xét phân tích,
nhưng con tim tôi cũng còn biết cảm nữa. Ở đây tôi cũng muốn đề cập đến một điều
anh viết cho tôi trong một lá thư anh gửi về. Anh bảo tim tôi sắt đá như vậy
thì có thể làm chính trị được. Tôi bác bỏ điều phỏng đoán ấy của anh. Tại sao
tôi cứ phải nghĩ đến việc chinh phục anh và tại sao chính anh lại cứ muốn thế?
Chính mình không đủ những cái để suy nghĩ lắm sao mà lại còn muốn buộc thêm vào
những phiền toái khác? Nhưng thôi, nếu tôi đã yêu anh thì có lẽ bây giờ chúng
mình cũng chẳng còn ngồi đối diện nhau như thế này nữa.
- Tại sao?
- Sao anh hay hỏi tại sao
thế? Tại tôi không tin vào tình yêu bất tử. Từ bao giờ, tôi cũng không biết nữa.
Có thể vì những biến chuyển quá phũ phàng trong tôi và xung quanh tôi đã làm
cho tôi không còn bám vào một tin tưởng nào được nữa. Hẳn là anh không muốn là
một kẻ bị đào thải đối với tôi chứ? Tại sao anh lại yêu tôi? Đôi khi tôi nghĩ rằng
anh đã đặt cho tôi những giá tri mà thật ra tôi không có, nhưng anh không tin
thế hay không muốn tin như thế...
- Thôi đủ rồi. Thy đừng tự
sỉ nhục mình nữa.
Thy chớp mắt.
- Tôi không tự sỉ nhuc.
Tôi chỉ nói về một sự hiểu lầm, một sự ngộ nhận. Thế thôi.
Sự im lặng rơi vào giữa
hai người. Tiếng mưa rơi bên ngoài nghe sầm sập như muốn chôn vùi tất cả người,
vật, đồ vật. Nhưng rút cục sau cùng tất cả sẽ tồn tại у như trước khi cơn mưa đến.
Đây chưa phải là đoạn kết. Thy nghĩ thế. Một sự nôn nao chợt đến trong Thy, Thỵ
biết rằng mình chỉ nôn nao. Thy nôn nao khi nghĩ đến cuộc đời mở rộng trước mắt,
phong phú quá, bất ngờ quá. Mà đôi khi Thy có cái thèm muốn vốc lấy mà uống cạn...
Nhiều người trú mưa vào
quán ngồi uống nước. Một số đứng ngoài. Tiếng nói chuyện lẫn với tiếng mưa rơi
làm thành một tiếng ồn ào liên tục.
- Kể cho tôi về cái thành
phố anh vừa rời khỏi.
Vũ đang ngồi trầm ngâm
bên ly bia, ngẩng lên nhìn Thy và cười mơ hồ:
- Chẳng có gì để kể cả.
- Có một lần chán thành
phố, tôi định lên anh. Nhưng tôi thích là giá khi nào mình muốn là có thể đi
ngay, chứ đợi đến ngày hôm sau, tôi e không cón lý do để mình từ giã Sài-gòn nữa.
Điều đó khó thực hiện quá vì họ bắt phải mua vé xe từ hôm trước.
- Nơi tôi ở là một thành
phố nhỏ bẩn thỉu. Trời mưa, đất đỏ nên lại càng bẩn hơn. Nhưng đêm về thì nhiều
sao vô kể. Nhất là vào những ngày mưa, đêm đến mưa tạnh, sao càng nhiều và càng
sáng. Có những đêm ra nhìn sao...
- Bây giờ anh lại ưa nhìn
sao?
- Đôi khi. Tôi ưa nhìn
sao có lẽ vì ở cái nơi đèo heo hút gió ấy chỉ có môn giải trí thú nhất là nhìn
sao, đếm xem mỗi đêm được mấy vì sao rụng. Tôi hy vọng sẽ được nghe kể tiếp câu
chuyện Vũng Tàu bằng một lá thư...
- Những lúc về sau này
tôi thấy mình tê liệt hẳn đi. Những ý nghĩ lộn xộn, nhảy múa trong đầu. Mỗi lần
tôi định viết thì lại thấy mình rỗng tuếch. Vả lại, câu chuyện Vũng Tàu ra sao,
anh cũng tham dự, thì anh còn nghe kể làm gì nữa? Đáng lẽ anh phải giận về những
gì tôi đã tiết lộ với anh về con người tôi mới phải.
- Không đâu, Thy. Tôi
không giận ai bao giờ. Cái nhìn của Vũ thật hiền lành.
- Tôi cũng nghĩ như thế.
Và tôi tự hỏi anh là ai? Xã hội này đâu phải để cho anh? Anh ở đâu ấy. Và cái
sinh hoạt hàng ngày của anh chỉ là những cử động máy móc... Tôi cũng không hiểu
sao mình lại có ý nghĩ ấy. Nhưng thôi bàn đến chuyện đó làm gì? Chúng mình sẽ mất
tích mất thôi!
-... Xin cho nghe tiếp những
ý nghĩ của Thy ở Vũng Tàu?
- Anh định để tôi phạm
vào sự xuẩn ngốc lần thứ hai sao?
- Tại sao?
- Tại vì. Anh không thể
hiểu được sau khi kể chuyện với anh lần trước, về nhà tôi thấy chán ngán mình
quá, tôi thấy mình xuẩn ngốc quá. Tôi ghét tôi. Tôi không ngờ mình lại rẻ mạt đến
thế!
- Thy vẫn thường nói là
không hối tiếc?
- Tôi nói là không hối tiếc
về những gì đã qua, những gì đã qua ấy là những gì ở Vũng Tàu với anh kia.
Nhưng tôi hối tiếc vì đã kể về mình một cách dông dài như vậy. Thật ghê tởm.
Tôi không thể viết, nghĩa là sáng tác, chính vì sự ghê tởm ấy. Anh vẫn biết khi
mình sáng tác, mình đem chính con người mình ra làm chất liệu, vì tôi không muốn
nói những điều bịa đặt, những điều mà chính mình không rung cảm, không tham dự.
Nhưng nói về mình thì mình tránh sao khỏi sự ghê tởm mình, nếu không muốn đem
mình ra mà nguyền rủa, mà sỉ nhục thay vì nói đến những điều đó bằng thái độ chủ
quan?
- Tại sao không thể dung
hòa giữa hai cái, sự tự sỉ nhục và sự chủ quan?
- Nếu được như vậy...
Nhưng thường là mình chua cháu cay đắng rồi rút cục tự thương xót và chấm dứt bằng
cách xé bỏ.
Thy sửa lại dáng ngồi,
nét mệt mỏi trong cái nhìn chiếu vào quãng không:
- Thực ra chính sự biến
chuyển trong tôi làm tôi nhọc mệt quá. Và tôi nhìn người khác qua chính những
biến chuyển, suy nghĩ về mình nên đã có những lúc tôi tưởng là tôi quan sát người
ta, thí dụ lấy trường hợp anh đi, tôi tưởng là tôi nhìn thấy anh phơi trần trước
mắt tôi, và tôi nhìn thấy anh thấu suốt, tôi gán cho anh những giá trị do tôi đặt
tên. Nhưng rồi đột nhiên có những lúc tôi thấy rằng tôi đã nhầm lẫn những gì
tôi nghĩ về anh và cho rằng anh bỗng trở nên trong suốt. Chúng trong suốt, đúng
thế... Anh không hiểu à? Đó chẳng qua là kết quả của sự hoài nghi. Đây này ạnh
cứ tưởng tượng có những chữ bằng thủy tinh thay vì anh đọc được những chữ ấy nếu
nó làm bằng những khối đặc. Nhưng bởi nó làm bằng thủy tinh nên mắt anh không dừng
lại ở nó mà anh lại nhìn qua nó, ra cái khoảng trống ở phía sau. Anh hiểu những
gì tôi định diễn tả không? Nghĩa là... nghĩa là... mọi ý nghĩ của mình, mọi suy
tư của mình bỗng dưng trở nên trong suốt. Tìm tôi để đặt định chúng lại trạng
thái cũ là cả một sự khó khăn. Tôi không muốn suy nghỉ thêm nữa. Tất cả cái trạng
thái đó phát sinh từ sự chủ quan ở trong chính mình. Người khác, anh chẳng hạn,
có thật sự hiện ra dưới con mắt tôi như tôi vẫn nhìn thấy?
Hay đó chỉ là kết quá của
một mớ những ý nghĩ chủ quan của tôi?
Hôm ở Cấp, sau khi ngủ với
anh, anh còn nhớ tôi đã bỏ đi xuống bãi rất sớm vào sáng hôm sau. Anh không biết
được lúc ấy tôi thèm cô độc đến bực nào. Để suy ngẫm về tôi, như tôi đã nói với
anh. Từ trước tôi vẫn nghĩ rằng mình ghê tởm vấn đề sinh lý. Nhưng lần đầu tiên
tôi nhận thấy mình thèm muốn thật sự. Tôi ngạc nhiên về sự thèm, muốn ấy, nhất
là tôi lại thèm muốn anh, một người đàn ông, và là một người đàn ông tôi không
yêu. Tôi khám phá ra khía cạnh ‘‘bête’’ của con người tôi, một khía cạnh mà sự
nó đến đã hoàn thành con người của tôi. Anh cười? Vâng, ý nghĩ có thể kỳ cục, tầm
thường, thông thường. Nhưng tôi trưởng thành, con người sinh lý trong tôi trưởng
thành. Đó không là một ngạc nhiên thích thú về phương diện khám phá sao?
Tôi say sưa với sự khám
phá ấy và quên hẳn anh... và sự hoài nghi bắt đầu từ đấy. Tôi không hiểu sao?
Nhưng hình như những điều
tôi nói chẳng ăn khớp gì với nhau?
Tóm lại, tôi không thể viết
về chính sự biến chuyển trong tôi và vì có những lúc tôi sinh hoài nghi tất cả.
Tôi đi đến kết luận: tôi có những rung cảm, nhưng là những rung cảm quá cái độ
để mình có thế ghi nhận chúng một cách thứ tự. Anh thấy đấy, tôi nói lăng nhăng
không đâu vào với đâu cả. Tôi không hiểu tôi. Bỗng dưng mọi giá trị đảo lộn...!
Thy ngừng nói, cánh tay
phác một đường trong khoảng không bỗng dưng như mất hết sinh khí rơi rớt xuống,
Vũ nhìn bạn. Như có một sự rẫy chết vô hình nào đó.
- Một người nào đó, hay
nhiều người, sẽ cười vào mũi tôi sao lại mộng làm văn sĩ. Thú thực tôi muốn viết
văn và chỉ muốn viết văn mà thôi. Không hề muốn làm nhà văn bao giờ. Cứ hễ ai
muốn viết văn thì tức là ôm mộng làm nhà văn ư? Nhưng đấy là chuyện quá khứ.
Tôi đã suy nghĩ và nhận thấy rằng cuộc sống, cố nhiên là tôi yêu nó, yêu đến độ
có lúc đã thèm muốn uống lấy nó và chỉ việc sống hưởng nó thôi cũng đã là bận rộn
lắm rồi. Lại còn viết nữa thì bận rộn đến đâu nữa!? Vả lại, tôi thiết nghĩ cái
khuynh hướng mà nói theo đó tôi sẽ sáng tác không ích gì. Bởi tôi đã chót đọc
những cuốn sách mà chúng ta vẫn đọc và suýt soa với nhau về những dòng tư tưởng
thơm đẹp nhưng xa xỉ ấy. Tôi đã đón nhận những ảnh hưởng ấy và từ nay tôi có
nói ra thì những gì tôi nói ra ấy sẽ có lẫn trong đó cái hơi thở của những tư
tưởng kia. Tôi không thể thay đổi nếp suy tư của mình ngay được. Phải có vấn đề
thời gian... Nếu tôi có dăm ba cuộc đời...
Thy cười buồn. Nếu tôi có
dăm ba cuộc đời...? Thì sao?
- Thy đang nghĩ gì?
- Tôi sẽ gửi một cuộc đời
đi theo chân mây.
-... Thy đã gửi rồi đó.
- Thật vậy sao?
(1963)
Thư Mùa Hạ
Sài-gòn (không ngày)...
‘‘ Thưa anh,
‘‘ Tôi rất tiếc lại phải
viết thư cho anh một lần nữa, với một lời lẽ có nhẽ sẽ thiếu lịch sự đôi chút.
Tuy nhiên tôi cũng mong anh bỏ qua và tôi cũng hy vọng đây là lần cuối cùng tôi
viết cho anh. Tôi nhớ lần đầu tôi viết cho anh, đó là khi nhận thấy liên hệ giữa
tôi và anh có kéo dài thêm cũng vô ích, một phần chính anh muốn dãn ra mà chỉ
vì anh không muốn tự ý chấm dứt vì ngại trách nhiệm, một phần tôi tự thấy mình
suy nhược quá lắm nếu cứ tiếp tục giữ mãi với anh một thứ liên hệ
ngô-không-ra-ngô-khoai-không-ra- khoai và tôi cảm thấy mình cần phải tự cứu vãn
lấy trước khi bị sa lầy thật sự. Vì vậy, tôi đã viết lá thư trước gửi đến anh,
đồng thời tôi giữ lại một bản cho tôi, không, giữ lại cho con trai tôi thì đúng
hơn vì tôi nghĩ rằng sau này, khi lớn lên, nó cần phải được hiểu rõ về cái thân
thế của nó. Tôi không muốn nhiều người khác giấu nhẹm những lầm lỡ tuổi trẻ của
mình đối với con cái, và có khi đối với cả chính nó. Tôi không muốn như vậy.
Tôi phải khác và con tôi cũng phải khác mọi người. Dựa trên cái căn bản về sự
chân thực, chúng tôi, tôi và con trai tôi, sẽ kiêu hãnh đi vào cuộc sống. Có thể
anh không tin, song rồi anh sẽ thấy.
‘‘ Và hôm nay đây, tôi lại
cầm bút viết cho anh, không phải là không có lý do chính đáng. Nhẽ ra tôi nên
im lặng thì hơn. Một đôi người bạn đã khuyên tôi như vậy. Nhưng tôi vẫn viết,
vì tôi thấy rằng cần phải có lấy một lần cho tất cả, để thanh toán với anh một
vấn đề quan trọng đối với tôi thì ít, nhưng đối với tương lai của con trai tôi
thì nhiều.
‘‘ Thưa anh, tôi có được
nghe những điều anh nói về mẹ con tôi. Theo một người bạn đã cho tôi biết, thì,
cho đến bây giờ anh vẫn khăng khăng phủ nhận đứa con trai mà tôi đã cho ra đời
cách đây vừa đúng một năm, đứa con trai mà anh từ chối đứng tên trong khai sinh
viện cớ vì lý do anh trốn lính, không muốn ra mặt, đứa con trai mà tôi khai
theo họ tôi và đã nhân hai chữ ‘‘không cha’’ to tướng trong bản khai sinh của
nó và hiện giờ đây nó đang đứng trong chiếc giường nhỏ bé của nó, hai bàn tay
mũm mĩm bám chặt lấy thành giường, giương đôi mắt to lớn và hồn nhiên nhìn tôi
viết - và anh đã phủ nhận nó là con anh vì căn cứ vào lý do anh mới quen tôi có
bảy tháng tôi đã sinh nó, để đi đến kết luận: anh chỉ là nạn nhân của một câu
chnyện bỉ ổi, dâm đãng, để có thể phủi sạch hai bàn tay nói rằng mình trong sạch
trước mặt người đàn bà mà anh dự định sẽ cưới làm vợ.
‘‘ Thưa anh, thế ngoài lý
do chúng ta quen nhau mới bảy tháng (?) anh chẳng còn lý do nào khác nữa hay
sao?!?
‘‘ Thú thật với anh, tôi
đã bật cười lớn khi nghe người bạn kể lại với tôi điều đó. Và cả một buổi sáng
hôm nghe câu chuyện đó, tôi đã vui vẻ ồn ào với các bạn tôi, tôi đã không từ chối
một điếu thuốc nào của họ mời tôi mà không kèm theo một nụ cười một nhận xét đầy
tính cách tán tỉnh cho họ và chiếc cantine nhỏ bé mới được mở lại ở trường tôi
đã vui vẻ rộn rã với tiếng cười của bọn chúng tôi, trong khi ánh nắng nhảy múa
trên những tàu lá chuối xanh mướt trong khoảng sân nhỏ trước cantine. Những người
bạn của tôi vui khi thấy tôi cùng vui với họ. Tôi tự nhũ trong khi ngồi với họ
và nước mắt tôi muốn ứa ra: tôi chưa đến nỗi nào cô đơn. Tôi bỏ giờ học để kéo
dài cái giây phút ồn ào đó, để rồi khi trở về, trước nét mặt sáng rỡ của con
tôi khi nhìn thấy mẹ nó, tôi đã ôm lấy nó vào lòng và thấy mình bật khóc nức nở
lúc nào không hay, khiến thằng bé ngơ ngác, lạ lùng, đưa bàn tay thơ dại lên quờ
quạng một cách tình cờ trên những dòng nước mắt của mẹ nó.
‘‘Anh ạ, từ mấy tháng
nay, nghĩa là từ ngày tôi viết cho anh lá thư để chấm dứt liên lạc giữa bọn
mình, tôi đã cố gắng để không nghĩ đến anh, tôi đã cố gắng để hoàn tất bổn phận
mà bất cứ một người đàn bà nào cũng phải có và thiết tha với nó, dù đó là một
người đàn bà đoan chính hay không, đó là bổn phận làm mẹ. Tôi đã cố gắng, bằng
tất cả những gì mình có, để làm cho con tôi được sung sướng đầy dủ bởi vì tôi tự
biết rằng, tôi không chỉ được làm mẹ nó mà thôi, mà tôi còn phải lãnh luôn cả
vai trò một người cha đối với nó. Vả lại, cũng vì vấn đề tự ái của tôi đối với
những người trong gia đình, tôi hiểu là mình không được quyền đầu hàng, không
được quyền tỏ ra xao lãng với đứa con thiếu may mắn, dù rằng tôi quan tâm đến
nó bởi một phần lớn, tôi tha thiết với nó vì nó là máu là thịt của tôi, vì nó
là công trình sáng tạo của tôi, và vì nó mang cái hình ảnh của người đàn ông đã
mở cho tôi cánh cửa để tôi bước vào thế giới đàn bà, cái thế giới mà bấy lâu
nay tôi không biết đến và cố tình phủ nhận vì sự hạn hẹp, gò bó của nó, cái thế
giới mà bây giờ tôi mới bắt đầu khám phá ra sự kỳ diệu của nó, cái kỳ diệu mà
tôi đã nghe ngóng trong suốt chín tháng trời mang thai nằm một chỗ. Thưa anh,
đó là điều làm cho tôi có cảm giác biết ơn anh. Không, biết ơn người đàn
ông đã cho tôi đứa con
(vì thật là vô ích cho tôi nếu anh cứ khăng khăng không nhận sự biết ơn đó!),
và biết ơn con trai tôi. Ngoài ra, tôi cũng còn biết ơn cuộc đời (dù rằng cái
xã hội trong cuộc đời đó vẫn chẳng thích chấp nhận một người đàn bà vô kỷ luật
như tôi), và biết ơn Tạo hóa nữa.
‘‘ Vâng, quả thế. Tôi đã
cố gắng tranh đấu tạo cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời này, với tất cả
phần nghị lực còn sót lại sau thời kỳ sinh nở. Vì tôi biết rằng tôi đã chấp nhận
và tôi muốn chứng tỏ cho mọi người quanh tôi biết là tôi lầm lỗi mà không sa đọa.
Và lạ lùng thay, anh ạ, tôi lại cảm thấy mình trở nên vững vàng, lạc quan, tin
tưởng - tin tưởng cuộc sống, tin tưởng thiên nhiên, tin tưởng con người, trong
đó kể cả anh. Như một đứa trẻ lần đầu tiên khám phá ra sự hiện hữu của thế giới
kỳ diệu quanh nó, tôi được sinh ra đời thêm một lần nữa với một niềm tin hoàn
toàn mới mẻ, cô đọng và vững chắc. Tôi đi làm để mưu sinh, vâng, mưu sinh, vì
tôi đã ra đời với hai bàn tay trắng, với một số những lỡ lầm tuổi trẻ đủ để
phong phú hóa cuộc sống, và nhất là với một đứa trẻ con còn non nớt ở dưới tay,
một đứa trẻ con cần có tôi đùm bọc, giúp đở, hướng dẫn. Và đây là lần đầu tiên
tôi cảm thấy mình thật sự trở nên cần thiết ; dù là đối với một người. Tôi
thành thật xúc động về điều đó. Tôi thu xếp công việc để có thể tiếp tục theo học
trở lại vì tôi biết rằng tôi cần phải tiến xa hơn nữa, với hình ảnh con tôi như
một khuyến khích lớn lao lần đầu tôi có được. Tôi sung sướng nhận ra mình còn
trẻ. Vâng, hai mươi ba tuổi đầu đã già gì, dù rằng tâm hồn mình có trở nên già
dặn - Nhưng anh tính, có người trẻ tuổi nào ở cái xứ chiến tranh liên miên này
mà không trở nên già đi đâu? Cả anh, cả tôi, cả những người bạn trẻ của anh và
những người bạn trẻ của tôi. Tuổi trẻ của anh và của tôi đã hoang mang, khổ cực
nhiều rồi, ích gì đâu nếu cứ tiếp tục làm khổ nhau nữa, phải không anh?
‘‘Tôi đã quên được anh,
đã gần quên được những điều phiền nhiễu chúng mình đã gây cho nhau, đã có thể
coi trường hợp không-chồng-mà- có-con của mình như một cái gì hết sức tự nhiên,
đã tạo được sự hăng hái trong công việc, và cả gia đình tôi, bạn bè tôi - những
người trước sau vẫn dành cho tôi một sự cảm mến đặc biệt - đã coi sự có mặt của
con trai tôi như một điều hết sức tự nhiên, đáng chào đón. Vâng, sự thật là như
vậy. Con trai tôi đã tỏ ra xứng đáng với cảm tình của ông bà, các cậu các dì,
các chú các bác (những người bạn của tôi), bởi nó là một đứa trẻ khỏe mạnh, xin
xắn, tươi tỉnh, lanh lẹ, hứa hẹn một tương lai sáng sủa của một đứa trẻ mau trí
khôn, biết tháo vát. Và tôi, như tất cả những người mẹ bình thường khác, vô
cùng hãnh diện về sự có mặt của nó. Tôi không phàn nàn gì cả, và cũng chẳng ai
nghĩ đến chuyện phàn nàn gì tôi nữa hết. Tôi nghĩ đến một cuộc sống độc thân,
tôi mơ đến lúc tôi học thành tài và con trai tôi đã lớn... Tôi tự thấy mình bằng
lòng với cuộc sống của mình, của mẹ con tôi. Nhưng anh, anh cố tình gợi lại
chuyện cũ, không trực tiếp, nhưng gián tiếp bằng những tuyên bố này khác, thì
làm sao tôi có thể không cảm thấy bị liên hệ cho được?
‘‘ Thưa anh, nếu quả anh
muốn như vậy, thì tôi cũng xin được tiếp chuyện với anh, một lần cho tất cả.
‘‘Tôi thiết nghĩ người có
quyền lên tiếng, hoặc kể lể về tình trạng của mình trong bất cứ một liên hệ
không chính thức nào và kết quả là một đứa con chào đời, người ấy phải là người
đàn bà. Nhưng trong câu chuyện của chúng mình, tiếc thay, chính anh lại là người
lên tiếng trước tiên. Thưa anh, anh có thể nói về tôi thế nào, có thậm tệ đến
đâu, cũng được, không sao. Tôi sẵn sàng bỏ qua, vì tôi mắc một cái ‘‘ tính xấu’’
của người đàn bà Việt (theo như lời một người bạn của anh đã một lần trách tôi)
là hay bỏ qua một cách dễ dãi. Nhưng có một điều tôi không thể chấp nhận được,
dù với anh hay bất cứ một người nào khác, là sự xúc phạm đến con trai tôi, kẻ
mà tôi đã dồn mọi сố gắng trong cuộc sống lòng thương yêu của mình cho nó. Nói
thật với anh, tôi trọng bố mẹ tôi, anh chị em tôi, ban bè tôi, nhưng họ cũng chẳng
tự cho phép mình nói những câu có thể xúc phạm tới con tôi, đến vị thiên thần
nhỏ bé vô tội của tôi, huống hồ là anh, một người mà tôi đã loại ra khỏi phạm
vi giao thiệp của tôi vì cần thiết, mặc dù... mặc dù đã hơn một lần tôi tự nhủ
với tôi, khi đối diện với khuôn mặt rạng rỡ của con trai tôi, là tôi vẫn nghĩ đến
anh với một cảm giác vừa êm đềm vừa chua xót... Và tôi muốn duy trì tình trạng
như vậy. Có nhẽ nào anh nỡ tìm cách phá hoại tan tành những điều tốt đẹp cuối
cùng đó của tôi, của con trai tôi? Chúng tôi không làm gì anh cả... Chúng tôi
có làm gì anh đâu?!... Tôi vẫn cầu chúc anh sẽ gặp được người đàn bà hiểu được
anh hơn tôi, chiều chuộng được anh hơn tôi. Anh chẳng chịu hiểu như vậy. Anh chẳng
chịu hiểu gì cả, Bởi bản tính của anh như thế: không bao giờ chịu nhìn vào
mình, và cố gắng tránh được nhiều trách nhiệm chừng nào hay chừng ấy. Tôi biết
là mình có nói những điều này ra với anh cũng chẳng ích, gì hết. Bởi anh đã thế
rồi. Cuộc sống đã biến anh trở nên như vây rồi. Anh đã đi vào cuộc sống từ chỗ
hoang mang, không định hướng, anh đã va chạm với nhiều cái xấu xa của cuộc đời
trong khi đó anh thiếu hẳn một thứ tình thương đầy tính cách dìu dắt cần thiết
của một người mẹ, anh đã và đang nhìn cuộc sống từ cái vị trí của một con người
đã khổ cực mà không có lấy một niềm an ủi, và từ đó anh trở nên lệch lạc. Anh
không thể quan niệm được anh lại là một kẻ chủ động trong bất cứ một sự việc
gì, ngay cả trong phạm vì tình yêu, và vì quá quen với tình trạng làm-một-nạn-
nhân, anh luôn luôn cho rằng mình vô tội, mình trong sạch, mình không lầm lỗi:
nhưng tôi thương anh, đôi khi tôi thấy mình yêu anh nữa, chính vì tôi hiểu rằng
bên dưới cái vỏ lệch lạc cứng ngắc kia, anh còn có được sự chân thực, ít ra anh
chân thực ở chỗ anh không tự biết về những điều tôi đã phân tích ở trên. Tôi
còn nhớ những lần nằm với anh, nghe anh kể chuyện về những mối tình đã qua của
anh về một thiếu nữ đã tự tử nhưng được cứu sống vì bị gia đình cấm yêu anh, và
một thiếu nữ khác đã bị bà mẹ cấm yêu và nhận lời lấy anh. Tôi hiểu rằng qua
con người anh, cuộc sống tự nó đã có những lầm lỡ vì nó đã chẳng biết nhận chân
giá trị của anh, nó đã hất hủi anh khiến anh trở thành một thứ bi quan chán
ghét tất cả, chán ghét mọi người, chán ghét chính mình với một ý thức mơ hồ về
những điều đó mà không tự biết lý do - ít ra đó là những điều tôi biết đựợc xuỵên
qua câu chuyện về những người đàn bà đã đến trong cuộc đời anh trước tôi. Tôi
cũng chẳng may mắn hơn gì anh với một hoàn cảnh chẳng đẹp đẽ gì. Nhưng tôi khác
anh ở chỗ có được cái tính chất mềm mỏng của người đàn bà. Vả lại tôi còn có mẹ
tôi bố tôi với một bầy anh chị em đông đảo. Nhưng bố mẹ tôi là những người thuộc
thế hệ trước, chẳng bao giờ chịu hiểu được tuổi trẻ khốn khổ bây giờ và những cố
gắng đi tìm cho mình một lối sống mà trong đó nó có thể thích nghi dễ dàng và
thấy hăng hái làm việc. Nhưng chẳng thể cứ đổ lỗi cho thời đại, cho chiến
tranh. Phải nhận rằng tâm hồn của bọn anh chị em tôi có điêu đứng già nua, và
cuộc sống của chúng tôi có vô kỷ luật, một phần lớn cũng do ở cuộc hôn nhân miễn
cưỡng và ý thức thất bại của bố mẹ tôi trong suốt thời gian, ông bà sống chung
với nhau. Sự chịu đựng của con người cũng có hạn. Và phần còn lại, anh em chúng
tôi lãnh đủ.
‘‘Nếu anh đã không được
cái may mắn sống gần gia đình và chịu ảnh hưởng của nền giáo dục kỹ lưỡng, thì
tôi cũng chẳng khác gì anh. Tôi mất dạy từ khi mình bắt đầu biết suy nghĩ và đọc
sách, từ khi bước vào cuộc sống và khám phá ra khối óc mình bất lực và thể xác
mình nhiều đòi hỏi.
‘‘ Tôi quen được với anh
trong thời kỳ hoang mang nhất của cuộc sống hiện sinh của mình và còn rất nhiều
cái của cuộc sống mà mình chưa khám phá ra.
‘‘ Buổi sáng hôm ấy là một
buổi sáng vào cuối tháng sáu. Tôi ra khỏi giấc ngủ sau một đêm truy hoan cuồng
nhiệt với một bọn bạn vừa trẻ vừa mất dạy như tôi, Tôi cảm thấy mỏi mệt. Có phải
tháng sáu là mùa hè? Sống ở miền mưa nắng hai mùa này, giữa một thành phố xô bồ
đầy nắng, bụi và người, tôi chẳng còn ý niệm gì về thời tiết, mùa màng nữa. Đó
là một điều thiệt thòi vô cùng: vắng thiên nhiên và ý niệm về nó, người ta sinh
hoạt trong một vùng gần như một thứ trầm luân, với một vẻ mệt mỏi. Những buổi
sáng tôi đã cố gắng đến trường để có một lý do ra khỏi nhà. Song tháng sáu là
mùa hè - cứ tạm cho đó là mùa hè vì là kỳ bãi trường. Tôi không có lý do gì để
ra khỏi nhà, ngoài cái hẹn với một người bạn tại chỗ anh làm việc để được giới
thiệu với anh, người mà tôi mới chỉ được biết qua những nét vẻ bạo tiệt ít ra
có một cái gì đó trùng hợp với đường nét mà tôi vẫn xử dụng. Tôi trở dậy, sửa
soạn đến chỗ hẹn với các anh, mặc dù trong thâm tâm tôi chẳng thấy một hứng thú
nào. Tôi đến vì nghĩ là đã để cho các anh lỡ đợi một lần. Tôi bằng lòng là mình
đã không có gì gọi là kiểu cách trong buổi đầu gặp mặt. Tôi mỏi mệt để có thể
kiểu cách trong cuộc sống, cái cuộc sống mà dạo đó tôi chả hề có một ý niệm gì
về những sự cố gắng. Có nhẽ đó cũng là do một phần lớn ở lỗi tôi đã thành công
hơi sớm và dễ dàng trong việc học mà không phải chịu đựng một lần thi hỏng nào.
Tôi sinh ra coi thường những cố gắng. Từ chỗ đó tôi không có dự định nào nhất định
cho tương lai. Rời khỏi Trung học, tôi lang thang qua mọi phân khoa. Chả đi đến
đâu. Tôi chán nản, buồn bã. Sống phá phách hơn là xây dựng đồng thời mơ hồ cảm
thấy rằng rồi cũng có lúc mình cần phải thay đổi đường lối sống. Tôi không biết
phải thay đổi ra sao. Tôi không thể tự thay đổi. Có nhẽ cần phải có một cái gì
đó xẩy ra cho tôi sáng mắt ra và hồi tỉnh cơn mê vô định hướng, vô mục đích, vô
lợi ích này: Tôi không hiểu được cái gì đã thúc đẩy tôi đến gặp anh mà lại
không là một người đàn ông nào khác. Tôi nghĩ, nếu tôi không gặp anh, nếu tôi
đã gặp một người đàn ông khác, có nhẽ mọi sự đã thay đổi hoàn toàn và hôm nay
đã chẳng phải là hôm nay của tôi, của riêng tôi, và tôi đã chẳng có được cái
lúc mắt mình sáng ra bởi đã phải tự ý cố gắng tranh đấu, và tôi đã chẳng được
cái hãnh diện như tôi hiện đang có về những gì mình đã trải qua một cách đầy
nghị lực, không đòi hỏi ai ngoài sự bền bỉ của chính mình. Tôi nhớ đã đọc được
một câu thơ: ‘‘Sự đau khổ cùng cực đã trở thành niềm hoan lạc’’. Đó là điều duy
nhất tôi biết chắc là thật, chứ không phải là một cách nói tránh để tự an ủi.
‘‘ Vâng, thưa anh, đúng
như vậy. Tôi xin phép anh, một lần cho tất cả, để nhắc lại tuần tự, theo thời
gian, những kỷ niệm tôi đã được cái hân hạnh có với anh. Một lần cho tất cả và
tôi xin thề với anh dù sau này con trai tôi lớn, có đòi tôi kể lại, tôi cũng sẽ
chẳng kể lại cho nó nữa bởi vì chính anh đã phủ nhận tất cả, kể cả sự kiện
nó-là-con-anh,
‘‘ Đó là một buổi sáng
như mọi buôi sáng, nhưng thú thật với anh, trong suốt thời gian nằm một chỗ để
đợi sinh nở, tôi chợt khám phá ra là tôi không thể quên, không bao giờ có thể
quên cái buổi sáng ‘‘ mùa hạ’’ đó. Tôi xin phép được ‘‘dài dòng kể lể’’ với anh
về những chi tiết xung quanh cái buổi sáng mùa hạ vừa mệt mỏi vừa êm đềm đối với
tôi ấy. Một phòng trà có gắn máy lạnh và bọc kính ngăn tiếng động xung quanh tại
một ngã ba đường một con đường thanh lịch nhất Sài- gòn. Tôi ngồi đấy, lơ đãng
nghe các anh nói chuyện: anh và hai người bạn nữa. Tôi không tham dự vào câu
chuyện của các anh được bởi trong đó có những nhân vật hoàn toàn xa lạ với tôi.
Các anh cuời vui vẻ. Nhưng tôi chợt nhận thấy trong đôi mắt mờ mịt của anh có một
vẻ buồn - (đôi mắt đó con trai tôi đã được thừa hưởng, song đôi mắt của con
trai tôi chưa biết đến những phiền muộn buồn tủi cuộc đời. Chúng long lanh, đen
láy, trong sáng, biểu lộ một thế giới trẻ thơ, êm dịu, thần tiên).Tôi cảm thấy
anh thật xa lạ, thật gần gũi với tôi. Tôi cũng cảm thấy anh thật buồn bã thật
bơ vơ. Tôi trạnh lòng nghĩ đến mình và đưa mắt nhìn vơ vẩn lên vòm cây lá me có
từng khóm lá trông rưng rưng như những lát sơn dầu của Cézanne.
Tôi cũng không hiểu sao
lúc ấy tôi lại nghĩ đến Cézanne, Cézanne với những lát sơn buồn buồn như chứa đựng
bên trong cả một sức sống mãnh liệt sẽ bùng vỡ một lúc nào đó không biết được.
Có phải cái tuổi buồn của chúng mình cũng không khác những lát sơn của Cézanne
là mấy? Có phải đó là điều duy nhất để tuổi trẻ hôm nay hướng vào và trông đợi?
Có phải... Và nắng màu vàng, nắng đa tình nhảy múa và sưởi ấm trên nỗi buồn của
tuổi trẻ, trên những vòm lá me màu xanh mướt.. Và anh ngồi đó và tôi ngồi đây
chờ đợi đợi chờ... Và những người ngoại quốc thân xác to lớn lượn qua lượn lại
bên ngoài khung kính cùng với xe cộ, lặng lẽ như trong một khúc phim câm
Và cũng chính ở lần đầu
quen biết với anh, chúng mình gần nhau. Tôi xúc động mãnh liệt trong khi ấy.
Chưa bao giờ xúc động đến như vậy. Cho đến bây giờ, đôi khi tôi vẫn tự hỏi: có
phải sự xúc động mà tôi có lúc bấy giờ là vì qua sự giao hợp của chúng mình, đứa
con mà tôi mong đợi trong tiềm thức đã thực sự khởi đầu sự sống của nó? hay
chính vì việc anh bật khóc nức nở trên thân thể tôi? (Vâng, tôi không quen được
sự kiện đó. Lần đầu tiên một người đàn ông đã khóc trên tôi. Anh vội vàng xin lỗi
tôi. Nhưng tôi, tôi không cảm thấy giận hờn anh. Tôi chỉ thấy thương cho những
thân thể tội nghiệp của chúng mình)...
... Công việc quá bận rộn
khiến hôm nay tôi mới có thể lại ngồi hầu chuyện tiếp với anh. Con tôi vừa đi
lên nghĩ mát tại nhà hai bác nó ở Suối-tre, một đồn điền cao su cách Long khánh
chừng năm cây số. Nó đi làm nhà vắng hẳn đi. Bố tôi nhắc đến đó. Mẹ tôi, các
anh em tôi kêu nhớ nó. Cố nhiên tôi cũng chẳng hơn gì họ. Mọi buổi tối trước
khi đi ngủ, nó thường quấn lấy tôi, đòi chính tôi phải nằm với nó, nó mới chịu
ngủ, sau khi nghe tôi hát cho nó nghe những câu hát thời tiền chiến. Tôi không
thuộc nhiều bài hát. Nhưng đôi ba bài thôi, như những bản Tống biệt, Một lần cuối,
Thiên thai, cũng đủ cho nó. Và tôi cũng chỉ có bấy nhiêụ thôi. Khi nó ngủ rồi,
tôi có thói quen làm việc đến mười hai giờ, một giờ khuya mới đi ngủ. Thường là
tôi mệt nhoài sau đó và ngủ thiếp đi một cách dễ dàng. Nhưng tối hôm qua thì
tôi bắt gặp mình trằn trọc vì thiếu hơi thở đều nhẹ thơm tho của con. Tôi tự hỏi
không biết nó có nhớ tôi? Tôi mong nó sẽ không nhớ vì mải vui với các anh các
chị ở Suối-tre. Anh chị tôi không thiếu gì con. Nhưng vẫn muốn đón thêm nó lên
chơi cho vui. Đây chẳng phải là lần đầu tiên nó lên đấy chơi, bởi khi tôi mang
thai nó được bảy, tám tháng, tôi đã lên đấy vì trong thời kỳ tôi bụng mang dạ
chửa mọi người đều xa lánh tôi. Tôi chấp nhận điều đó một cách thản nhiên. Cả
anh nữa, anh cũng sợ tôi. Tội nghiệp cho anh. Tôi hiểu rằng con người của anh sợ
nhiều cái mà anh không tự biết. Anh sợ gia đình tôi làm dữ có hại cho thanh
danh của anh. Anh sợ đến cả những đứa em trai em gái của tôi. Anh tỏ vẻ lúng
túng mỗi lần tình cờ đến thăm tôi (dạo tôi ở nhờ nhà có em: một căn phòng nhỏ ở
miệt Chí-hòa) mà đụng mặt với bọn em tôi. Chúng nó lấy làm lạ tại sao tôi lại
có thể chấp nhận được anh trong khi có nhiều người khác có địa vị hơn muốn hỏi
tôi. Tôi vẫn bảo với chúng nó; Chúng mày làm sao hiểu được. Tôi thương anh
chính ở những khuyết điểm mà anh có. Khi còn liên lạc với anh, tôi vẫn thầm nhủ
may ra tôi sẽ giúp được anh thoát ra khỏi những mặc cảm nặng nề của cuộc sống.
Và ngược lại, nhờ ở sự ràng buộc có với anh, chính tôi cũng sẽ tìm lại cho mình
được sự quân bình trong cuộc sống vốn dĩ nhiều bất thường của tôi... Nhưng anh
không nghĩ như vậy. Anh đâu thấy được những nhược điểm của anh. Anh thích làm
ra vẻ đàn ông. Anh khinh miệt những điều một người đàn bà nói ra. Anh thường gạt
tôi đi mỗi khi tôi định mở đầu câu chuyện, bằng nhận xét mà thực sự không nhận
xét gì cả: ‘‘ Ôi! Đàn bà lộn xộn!’’. Theo anh, thì tôi lộn xộn, mẹ tôi lộn xộn,
các chị tôi lộn xộn mà thực sự thì họ, mẹ và các chị tôi, đã không hề nói một lời
phiền trách anh trước mặt tôi. Họ chỉ tìm cách giúp đỡ tôi với tất cả cố gắng
và thương yêu. Tôi thầm hiểu rằng tôi với anh sẽ chẳng bao giờ hiểu được nhau,
sẽ chẳng bao giờ nữa hết.
Rạn nứt đã nằm trong cử
chỉ của cánh tay gẩy guộc của anh vung lên, khoát rộng rồi hạ xuống khuỳnh ra với
hai bàn tay chống cạnh sườn trên cái thân hình mỏng khòm xuống của anh, rạn nứt
đã nằm trong giọng nói đứt quãng và đôi mắt từ chối nhìn vào sự thật của anh, rạn
nứt đã nằm trong chính sự bất lực của tôi để mở một con đường thông cảm với
anh, rạn nứt đã làm tôi câm nín và chỉ còn biết khóc lặng lẽ trong những đêm
dài không ngủ đươc vì cái thai hành. Tôi không ân hận vì những gì đả xảy ra.
Nhưng tôi ân hận vì những cái gì sẽ xảy ra mà tự trong hiện tại mình đã biết гõ
là mình bất lực không thể cứu vãn được nữa.
‘‘ Tôi bỏ Sài-gòn lên Suối-tre
nằm dưỡng sức do một lá thư của ông anh rể gửi về. Đó là người duy nhất trong
gia đình hiểu được tôi có những ý nghĩ, những ước vọng và những lý do để liều
lĩnh hầu tạo cho mình một thế đứng. Tiếc thay anh ấy lại chỉ là anh rể tôi.
Nhưng điều đó cũng chẳng can hệ gì. Lá thư anh viết cho tôi, tôi đã đọc đi đọc
lại nhiều lần và có thể nhớ không sót một chữ - đó là điều hiếm có ở tôi vì
bình thường tôi là một người có trí nhớ rất kém:
‘‘ Em,
‘‘ Anh chị vô cùng bàng
hoàng được biết em
sắp bước sang con đường
làm mẹ. Cho đến bây giờ anh chị không biết nên vui hay buồn vì không biết nội
tính của em ra sao.
‘‘ Sau khi đến thăm em,
anh có cảm giác em buồn lắm, nhất là nụ cười vui tươi của em trước kia biến mất
và em có thêm nét mặt một thiếp phụ. Em buồn vì gia đình hay buồn vì sự việc đã
xảy ra ngoài ý muốn của em? Nếu vì gia đình em nên biểu là không ai muốn bị đặt
trước một sự đã rồi, vả chưa có ai được tập rượt theo cuộc cách mạng như em đã
làm, nên phản ứng đầu tiên của họ là phản đối, đó là một lẽ dĩ nhiên mà em phải
chấp nhận vì không phải ai cũng là Georges Sand cả. Còn nếu không phải là
‘‘ngoài ý muốn của em, thì em có thể coi anh là ‘‘đồng minh của em...’’
‘‘Ở cuối thư, anh tôi mời
lên nghỉ trên nhà anh. Có nhẽ đó là điều cảm động nhất tôi có được sau cái xúc
động khi tôi biết tôi sắp làm mẹ, xúc động một cách rất đàn bà, rất êm dịu.
‘‘ Tôi nói với anh là tôi
lên nghỉ ở trên đó và có thể sẽ sinh ở trên ấy luôn. Anh vội vã đồng ý. Tôi thù
anh đồng thời tôi thương hại anh. Tôi đã lôi cuốn anh vào một cuộc phiêu lưu
nhưng đâu biết trước được là anh chán nản muốn quay ra và bỏ cuộc. Nhưng trễ rồi,
anh ạ. Chúng ta bắt buộc phải dấn bước về phía trước. Bởi nếu có thể quay trở lại
được thì tôi đã xin như cô bé Daniel trong phim ‘‘ Les rivalités’’, là cho được
bé lại khoảng mười tuổi và có đủ cả cha lẫn mẹ - đủ theo nghĩa hoàn toàn của
nó. Tôi thương hại anh vì đã khôhg thể quay trở ngược lại thời gian, anh lại
cũng không có được cái ‘‘đức tính’’ chấp nhận mọi sự một cách thản nhiên, bởi nếu
anh cứ ngẩng cao mặt lên, sửa lại người cho thẳng và bước đi vững chãi, đố ai
dám làm gì anh, hay nếu nó có làm gì anh thì cũng chỉ làm một cách lén lút, sau
lưng anh mà thôi. Không, nếu anh đã như vậy thì đâu đã có chuyện và tôi sẽ mất
đi mất một dịp may bằng vàng là tự thử thách và đồng thời rèn luyện tính chịu đựng
của mình. Nếu phải cảm ơn, thì anh là người tôi phải cảm ơn đầu tiên, vì anh đã
ban cho tôi một hoàn cảnh để tìm về với con người thật của mình mà bấy lâu tôi
không biết đến, vì anh đã ban cho tôi một đứa con (dù rằng cho đến bây giờ anh
cố tình phủ nhận), vì anh đã giúp tôi một dịp để đi đến quyết định sống độc
thân mà từ lâu nay tôi chỉ mới có ý nghĩ. Và tôi cảm ơn cuộc đời, cám ơn những
người bạn đã chạy đến giúp đở tôi trong thời kỳ thai nghén, và nhất là cảm ơn bố
đỡ đầu của con tôi là người bạn đã quý mến tôi từ hồi nào đến giờ vẫn vậy. Với mớ
hành trang đó, với sự có mặt của con trai tôi, tôi nghĩ rằng, dù mới hai mươi
ba tuổi đầu, tôi đủ vững vàng để đi vào cuộc sống. Và với tôi, điều hệ yếu vẫn
là sống - sống thơ mộng và bền vững như Thiên-nhiên,
‘‘ Thưa anh, vâng, tất cả
đầu dây mối rợ là một buổi sáng mùa hạ, Bây giờ giữa tôi và anh chẳng còn gì,
ngoài hình ảnh anh phảng phất qua nét mặt của con trai tôi là còn nhắc nhở tôi
đến anh. Tôi đã hạ sinh nó vào đầu tháng ba, ngày sáu tháng ba. Tính ra vừa
đúng chín tháng. Anh vẫn chối dài là bảy tháng. Tôi tự hỏi điều đó làm lợi gì
cho anh? Phải chăng để cho anh có thể vỗ ngực nói rằng anh chỉ là một thứ nạn
nhân, hoàn toàn bị động trong câu chuyện tình giữa chúng mình? Để anh có thể tự
chứng mình anh là kẻ không hề lầm lỡ, là anh hoàn toàn trong sạch trước mặt người
đàn bà mà anh sẽ cưới làm vợ? Ô hay, sao chúng ta có thể khác nhau làm vậy và đến
bây giờ tôi mới nhận ra nhỉ? Trong khi anh ghét những lỡ lầm bao nhiêu (vì anh
đã có chúng) thì tôi lại khác hẳn, tôi thương chúng, tôi tội nghiệp cho chúng,
tôi quý chúng, chẳng phải để mình cứ việc lỡ lầm cho thật nhiều, mà chính vì
qua những lỡ lầm đó, tôi thấy rõ được tôi hơn, tôi biết rõ được tôi muốn gì,
tôi khát vọng ra sao. Trong lỡ lầm và sự đau khổ, tôi tự thấy tâm hồn mình được
nâng lên nâng lên. Tôi không quan tâm đến những phán đoán, xét xử của những người
quanh tôi vì anh ạ, kinh nghiệm cho tôi biết, người chỉ trích để giúp ta tiến
thì ít, ít lắm trong cái xã hội này, nhưng người chỉ trích để dìm ta xuống, để
nhục mạ ta thì nhiều, Những câu đó có vẻ ‘‘quốc văn giáo khoa thư’’ quá phải
không? Nhưng không sao. Nếu còn tin tưởng ở Thượng-đế, tôi sẽ cảm ơn Người đã
ban cho tôi một cuộc sống gồm có những dịp lỡ lầm, cộng thêm với một chút hơi
nhiều tình cảm, cộng thêm với một chút hơi nhiều lý trí, cộng thêm với một chút
hơi nhiều lòng tham vọng và ý chí hiếu thắng, ngạo mạn.
‘‘ Anh muốn khước từ một
lần cho tất cả, rằng con tôi không phải là con của anh ư? Được, điều đó không
khó. Tôi cũng chẳng mong gì nó có liên hệ đến anh, (nhưng tiếc thay trong huyết
quản nó đã mang dòng máu của anh!) Nó quá lanh lợi và tinh ranh đôi khi có vẻ
nhõng nhẽo và lẳng lơ nữa, đến nỗi gia đình tôi không ai là không thích và
thương nó và đôi khi tình thương đó được bộc lộ một cách quá trớn chẳng hạn như
khi họ mắng yêu nó: ‘‘ Rồi lại giống cái thằng bố mày!’’. Tôi cười trìu mến với
con và chỉ lúc đó, ý nghĩ tôi chợt hướng về anh trong khoảnh khắc với một chút
gì êm dịu, để rồi liền sau đó, tôi cương quyết với chính mình, rằng tôi sẽ dạy
dỗ, luyện tập cho nó. Có thể nó sẽ giống anh hơi nhiều, nhưng tôi tin tưởng một
cách sắt đá là hoàn cảnh và giáo dục sẽ biến đổi bản tính người ta phần lớn. Vả
lại, nó còn có tôi, nó còn có mẹ nó thương yêu và dắt dìu nó trong cuộc sống
này.
Vả lại, biết đâu cái thế
hệ của nó sẽ khá hơn thế hệ của chúng ta hiện tại: nó sẽ biết rõ những gì nó cần
phải làm, những gì đất nước của nó mong mỏi ở nó mà không phải là những câu nói
sáo rỗng mà hiện nay chúng ta, tôi, anh và những người bạn của tôi, những người
bạn của anh, đang phải nghe, nghe với vẻ ơ thờ, chua xót, hoang mang....
‘‘ Thưa anh, chỉ còn vài
ngày nữa là sinh nhật đầu tiên của con tôi. Đối với tôi, đó là một ngày thiêng
liêng, thiêng liêng hơn cả ngày sinh nhật của chính tôi, thiêng liêng hơn cả
ngày sinh nhật của Thượng đế. Có thể tôi sẽ mừng nó bằng một bữa tiệc với đông
đủ bạn bè. Có thể tôi sẽ mừng nó bằng một buổi tối tôi ngồi uống rượu một mình
để ngụ ý bảo với nó rằng tôi nghĩ đến nó một cách trọn vẹn, và đời tôi, tôi sẽ
dành cho nó trọn vẹn từ đây. Nếu anh muốn, tôi sẽ, đồng thời mừng sinh nhật của
nó, tuyên bố cho những người bạn của tôi và của anh biết đứa con của tôi là do
tôi tự tạo ra, anh không hề tham dự vào cái ‘‘lỡ lầm’’ đó. Bằng không, chừng
nào tôi còn im lặng về câu chuyện giữa tôi và anh, chừng nào tôi còn tự nuôi lấy
con tôi và không nhờ vả chút gì ở anh, chừng ấy anh cứ yên lặng cưới người đàn
bà mà anh dự định hỏi làm vợ và hưởng cái hạnh phúc của anh, đừng tìm cách
tuyên bố hay phủ nhận gì cả.
‘‘Hoặc là cho tôi được giữ
những kỷ niệm êm đềm về một buổi sáng mùa hạ đã qua, hoặc là tôi sẽ làm bất cứ
cái gì chắc chắn chẳng tốt đẹp gì cho anh và những gì anh đang cố gắng xây dựng
đâu.’’
(3 - 1967)
16/11/2020
Trùng Dương
Theo https://vnthuquan.org/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét