Nhà văn nữ - Nhìn từ tâm
lý sáng tạo
mang đặc điểm giới trong phê bình
văn học miền Nam trước 1975
Tuy số lượng nhà văn nữ không nhiều so với những đồng nghiệp nam nhưng với những gì mà họ đã thể hiện trong những tác phẩm văn chương, trong hoạt động văn học nghệ thuật, cũng như qua sự tiếp nhận của người đọc cũng đã cho thấy sự hiện hữu của văn chương nữ ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 là điều không thể phủ nhận…
1. Dẫn nhập:
Nếu hình dung văn học miền
Nam giai đoạn 1954-1975 là một vườn hoa, thì đó là một vườn hoa đầy hương sắc,
đa dạng và phong phú, luôn tạo được sự hấp dẫn nơi người tiếp nhận. Một trong
những hương sắc làm nên sự hấp dẫn đó, được kết tinh từ những trang văn của các
cây bút nữ mà sự xuất hiện của họ trên văn đàn luôn đem đến cho người đọc những
bất ngờ, thú vị, làm kinh ngạc không chỉ người đọc mà cả những đồng nghiệp là
các nhà văn, nhà phê bình văn học nam giới. Vì vậy, trong đời sống văn học ở miền
Nam trước 1975, trên nhiều tạp chí liên quan đến văn học đều đăng những bài phỏng
vấn, bài nói chuyện về các vấn đề tâm lý sáng tạo của nhà văn nữ mà ở đó đặc điểm
về giới đã thể hiện khá rõ như: bài nói chuyện của Nữ sỹ Nguyễn Thị Hoàng về hành
trình sáng tác với sinh viên Văn khoa tại Giảng đường Đại học Văn khoa
ngày 11-5-1971, được Nhuệ Hương ghi lại và đăng trên Nghiên cứu Văn học số
5 / 15/7/1971; Bài phỏng vấn “Thời cuộc và đời sống đối với công việc sáng tác”
của các Nữ nhà văn: Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Minh
Quân, Túy Hồng, Nhã ca do Lê Phương Chi thực hiện (Bách Khoa số 292
/ 1/3/1969); Bài phỏng vấn về quan niệm sáng tác của nhà thơ, nhà viết truyện
do Nguiễn – Ngu – Í thực hiện đối với Bà Thu Vân, (Bách Khoa số 107
/ 15/6/1961); Nữ nhà văn Linh Bảo, (Bách Khoa số 109/ 15/7/1961);
Bà Tùng Long, (Bách Khoa số 112 / 1/9/1961) và Nữ nhà văn Nguyễn Thị
Vinh, (Bách Khoa số 125 / 15/3/1962); Bài phỏng vấn nhà văn Túy Hồng trong
chuyên mục “Nhà văn ở phút nói thật” do Nguyễn Trần Huy thực hiện (Văn số128/15/4/1969);
Bài “Khả năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” của Nguyễn Thị
Hoàng và bài “Khi người phụ nữ làm nghệ thuật” của Nguyễn Thị Thụy Vũ (Văn số
84/15/6/1967); Bài “Đàn bà viết văn” của Trùng Dương (Bách Khoa số
416/ 18/10/1974); Bài nói chuyện về “Trách nhiệm nhà văn” của Nữ văn sĩ Minh Đức
Hoài Trinh trên Tin Văn số 46 tháng 4/1966…
Đặc biệt hơn cả, trong việc
bàn về phương diện tâm lý sáng tạo của nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới là cuộc
thảo luận bàn tròn với chủ đề “Nói chuyện về các nhà văn Nữ” do Tạp chí Văn tổ
chức và đăng tải trên Bán nguyệt san Văn số 206 ra ngày
25/7/1972 giữa các nhà văn, nhà phê bình văn học gồm: Huỳnh Phan Anh, Nguyễn
Nhật Duật, Mặc Đỗ, Nguyễn Xuân Hoàng, Viên Linh, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo,
Nguyễn Đình Toàn… Đây là cuộc thảo luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không
những lý giải về tâm lý sáng tạo của các nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới mà
còn khẳng định nhân vị của họ trong đời sống văn học miền Nam giai đoạn
1954-1975.
Bên cạnh các bài viết luận
bàn trực tiếp về tâm lý sáng tạo của nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới, văn học
miền Nam giai đoạn 1954-1975 còn có những công trình tiểu luận – phê bình khám
phá thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của các nữ nhà văn từ đặc điểm giới, để
lại dấu ấn sâu sắc trong sự tiếp nhận của người đọc. Đó là các tác phẩm: Các
nhà văn Nữ Việt Nam 1900- 1970, Nhân Chủ xuất bản, Sài gòn, 1973 của Uyên
Thao; Những nhà thơ hôm nay, Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sài gòn,
1967 và Nhà văn hôm nay (1954-1969) Nhà văn Việt Nam xuất bản,
Sài gòn, 1969 của Nguyễn Đình Tuyến; Lời đề tựa tập thơ Nhã Ca, Thương Yêu xuất
bản, Sài gòn, 1972 cuả Nguyên Sa; Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay,
Lá Bối xuất bản, Sài gòn, 1972 của Tạ Tỵ,… Và đây cũng là những cứ liệu góp phần
minh chứng cho sự hiện hữu của các nữ nhà văn trong đời sống văn học miền nam
trước 1975 nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới mà khi nghiên cứu vấn đề
này không thể không quan tâm. Bởi theo Uyên Thao: “Trong khoảng thời gian không
đầy một năm, số lượng tác phẩm của nữ giới được xuất bản chưa thể là một số lượng
quan trọng, nhưng người ta không thể phủ nhận việc nữ giới đã dành được một ưu
thế tuyệt đối. Tác phẩm của các tác giả nữ giới như Nhã Ca; Nguyễn Thị Hoàng;
Nguyễn Thị Thụy Vũ đã trở thành những sách bán chạy nhất năm 1966 và trong năm
này, những bút danh Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng; Nguyễn Thị Thụy Vũ và
Trùng Dương đã thực sự trở thành quen thuộc với độc giả”.[1] Và
những cứ liệu quí hiếm còn lại này sẽ giúp những nhà nghiên cứu trong việc tìm
hiểu văn học nữ miền Nam thời kỳ 1954-1975, góp phần bổ khuyết vào việc nghiên
cứu văn học Nữ Việt Nam hiện đại.
2. Biểu hiện của tâm lý
sáng tạo ở nhà văn nữ miền Nam nhìn từ đặc điểm giới
2.1. Hoàn cảnh xã
hội, tài năng của các nhà văn nữ miền Nam trước 1975
Trong đời sống văn học miền
Nam 1954-1975, sự xuất hiện khá đa dạng của các nhà văn nữ với hàng loạt tác phẩm
gây xôn xao dự luận như Vòng tay học trò của Nguyễn Thị
Hoàng, Đêm nghe tiếng đại bác của Nhã Ca, Mèo đêm của
Nguyễn Thị Thụy Vũ; Vết thương dậy thì của Túy Hồng… là một hiện
tượng mới lạ tạo sinh khí cho bầu khí quyển văn học miền Nam trước 1975. Với tư
cách là nhà văn chuyên nghiệp, sự hiện hữu của các nhà văn nữ đã làm nên sự đối
trọng với các nhà văn nam, vốn gần như chiếm “độc quyền” trên văn đàn miền Nam
lúc bây giờ. Thế nên, Mai Thảo, một nhà văn “gạo cội” trong văn học miền Nam
giai đoạn 1954-1975, khi tham dự bàn tròn “Nói chuyện về các nhà văn nữ”
trên Bán Nguyệt san Văn số 206 ra ngày 15/7/1972 cũng đã thừa
nhận: “Phải nói rằng ngày nay các nhà văn nữ của chúng ta không chỉ xem công việc
viết văn của họ như một tiêu khiển chốc lát như các nhà văn nữ tiền chiến. Nhà
văn nữ ngày nay xem công việc viết văn như một nghề. Họ sống hẳn với nghề này,
theo đuổi và thực hiện nó đến cùng”.[2] Và
để làm rõ hơn tính đối trọng này, từ việc quan sát đời sống văn học miền
Nam lúc bấy giờ, Mai Thảo đã chia sẻ: “Tôi muốn đặt ra vấn đề ảnh hưởng và
tác động của tác phẩm. Đến bây giờ, văn chương nữ đã gây được một tác động nào
với người đọc? Câu trả lời theo tôi là có. Thế giới văn chương trước kia chỉ được
tạo dựng bởi những tác phẩm đàn ông. Đời sống chỉ được chiếu sáng và biểu hiện
bằng cái nhìn, bằng ý thức đàn ông. Nếu văn chương nữ không làm vỡ được cái thế
giới này thì nó cũng đã là một thế giới thứ hai, đặt bên cạnh thế giới thứ nhất
trước kia duy nhất, và mặc nhiên đã tạo được ở người thưởng ngoạn một tâm trạng
đối chiếu so sánh, xét lại. Những điều đàn ông viết ra không còn được chấp nhận
vô điều kiện nữa. Một vấn đề bây giờ được chiếu soi bằng hai thứ ánh sáng. Và
người đọc đã có một thái độ, một tâm trạng mới. Họ nhìn sự vật dưới hai thứ ánh
sáng. Đối chiếu so sánh. Rồi mới chấp nhận đâu là sự thật, cho họ”.[3]
Có thể nói, sự tồn tại của
nhà văn, không phải do phái tính tạo nên mà do tài năng được thể hiện qua cá
tính sáng tạo của họ trong tác phẩm văn chương. Bởi, chỉ có tác phẩm văn chương
mới xác tín cho sự hiện hữu của nhân vị nhà văn trước cuộc đời. Một nhà văn
không sáng tạo ra tác phẩm văn chương mang dấu ấn riêng của mình có nghĩa là,
nhà văn đó đã tự đưa mình ra khỏi thánh đường văn chương để đến với nghĩa trang
văn học, cho dù họ có mang trên mình những danh hiệu “hào nhoáng”. Vì vậy, khi
“Nói chuyện về các nhà văn nữ”, các nhà văn, nhà phê bình văn học, không chỉ khẳng
định tính chuyên nghiệp cũng như vai trò của của các nữ nhà văn mà họ còn đi
sâu phân tích tâm lý sáng tạo của các nhà văn nữ miền Nam giai đoạn 1954 -1975
mà theo luận giải của Mai Thảo: “Vấn đề đặt ra là tại sao, bởi đâu mà có được sự
có mặt rực rỡ của các nữ nhà văn Việt Nam? Theo tôi để trả lời câu hỏi này, ta
có thể nói rằng quả thật những nhà văn nữ hiện nay đã làm trái lại những gì mà
hoàn cảnh lịch sử xã hội, thân phận đàn bà trước kia đã cấm đoán họ. Sự phá vỡ
và làm nỗ tung những ràng buộc cũ của họ để đạt đến cái biên giới mới này,
chính là văn chương”[4].
Không chỉ từ góc nhìn tâm
lý sáng tạo mang đặc điểm giới mà còn từ góc nhìn nữ quyền luận, Mai Thảo đã
xác quyết quan điểm của mình trong việc nhìn nhận văn tài cũng như chia sẻ về
“ý thức bùng vỡ” (từ dùng của Phạm Công Thiện – THA) của các nhà văn nữ,
khi cho rằng: “Làm văn chương ở người đàn bà bây giờ đồng nghĩa với lên tiếng
đòi quyền được sống, bình đẳng và tự do như đời sống đàn ông. Viết bởi vậy là một
phản ứng, một thái độ. Điều này giải thích được cho cái không khí phá phách,
cái sắc thái quá khích ta thấy bàng bạc cùng khắp trong các tác phẩm phái nữ bấy
giờ. Có thể rồi sau này sự quá khích đó sẽ lắng xuống, và viết văn với đàn bà
khi đó không chỉ còn thu hẹp với trong ý nghĩa một lên tiếng, một phản ứng”.[5]
Khác với cái nhìn của Mai
Thảo, từ góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh khi luận giải tâm lý sáng tạo của các
nhà văn nữ, Nguyễn Nhật Duật cho rằng: “Ảnh hưởng rơi rớt mơ hồ của nền văn
chương hiện sinh cũ, trước và sau năm 62 đã đóng góp vào sự thành hình tác phẩm
của các nhà văn nữ này. (…) Những nội dung táo bạo không phải là tự do mà là sự
buông thả. Kẻ nào dám sống với kinh nghiệm đời sống họ sẽ là nhà văn. Nhưng họ
vẫn còn tìm kiếm không bao giờ gặp được một cái gì mơ hồ. Đề tài mà họ đụng chạm
đến không khác gì đề tài mà các nhà văn nam sử dụng. Đó chỉ là sản phẩm tất yếu
của xã hội. Bởi vì không có Nguyễn Thị Hoàng này thì sẽ có một Nguyễn Thị Hoàng
khác”.[6]
Bình tĩnh và điềm đạm
hơn, Mặc Đỗ đặt một vấn đề mang tính qui luật trong sáng tạo văn học khi ông
cho rằng: “Tại sao chúng ta không nghĩ rằng còn có một yếu tố khác nữa làm
thành tác phẩm của các nhà văn nữ: lòng yêu văn chương của họ”.[7] Và từ ý kiến của Mặc Đỗ, Nguyễn Nhật Duật
đã đi đến một khái quát mang tính lý thuyết trong sáng tạo văn chương khi ông
cho rằng: “Hoàn cảnh + Sự ham mê văn chương -> văn chương”. Nhưng Nguyễn
Xuân Hoàng lại không đồng ý với Nguyễn Nhật Duật. Bởi, theo ông: “Việc sáng tạo
một tác phẩm nghệ thuật nói chung và một tác phẩm văn chương nói riêng, trước hết
đòi hỏi tài năng của tác giả nhiều hơn bất cứ một yếu tố nào khác. Hoàn cảnh xã
hội, môi trường địa lý cấu tạo cơ thể, lòng yêu thích văn chương… chỉ nên coi
như những cây “vít” vặn chặt tấm ván tài năng vào tác phẩm của họ”.[8] Rõ ràng, sự quyết định trong hành trình
sáng tạo của nhà văn dù là nam hay nữ, để có tác phẩm không thể không có tài
năng. Vì thế, ý kiến của Nguyễn Xuân Hoàng về việc nhìn nhận sự thành công của
các nhà văn nữ trong giai đoạn 1954-1975 là do tài năng của họ đã nhận được sự
đồng thuận của Mai Thảo khi ông chia sẻ: “Đồng ý với Nguyễn Xuân Hoàng nhưng
theo tôi cần phải nói thêm là yếu tố tài năng ấy rất hữu hạn nơi các nhà văn nữ
tiền chiến. Tôi thành thực kinh ngạc về cách thức viết truyện của một số nhà văn
nữ hiện đại. Trong vài trường hợp các nhà văn nữ ngày nay đã vượt xa các nhà
văn nữ thời trước”.[9] Song, ý kiến này
của Mai Thảo không nhận được sự đồng tình của Dương Nghiễm Mậu vì theo ông: “Tiền
chiến có Thụy An. Tôi có được đọc quyển Bốn Mớ Tóc. Thụy An theo
tôi vẫn là một nhà văn nữ lớn. Bây giờ nói đến bút pháp, tôi nghĩ đến Túy Hồng”.[10] Tuy nhiên, ý kiến của Dương Nghiễm Mậu
vẫn không thuyết phục được Mai Thảo vì trong cái nhìn đối sánh với các nhà văn
nữ ở miền Nam, theo Mai Thảo: “Bà Thụy An chỉ viết được một số ít truyện ngắn
thôi, còn các nhà văn nữ ngày nay tác phẩm họ xuất hiện đều đặn, phong phú rực
rỡ chưa từng thấy”.[11] Mặc dù đã đưa
ra những lý lẽ như thế nhưng ý kiến Mai thảo vẫn chưa thuyết phục được Nguyễn
Nhật Duật và ông vẫn giữ quan điểm của mình khi cho rằng tài năng không chỉ là
yếu tố quyết định đối với hành trình sáng tạo của nhà văn. Bởi theo Nguyễn Nhật
Duật: “tài năng riêng không đủ. Bầu không khí khích lệ là yếu tố quan trọng hơn
cả”.[12] Và để làm rõ vấn đề mà các nhà
văn quan tâm khi thảo luận về sự “lên ngôi” của các nhà văn nữ trong đời sống
văn học miền Nam trước 1975 nhìn từ đặc điểm giới, một lần nữa Nguyễn Xuân
Hoàng đã luận giải khá thuyết phục khi ông cho rằng: “Đúng, ý kiến anh Duật phải
được chia làm hai phần. Phần thứ nhất Tài Năng Riêng Không Đủ. Chẳng
ai chống đối điều này. Nhưng còn phần thứ hai Bầu không khí là
yếu tố quan trọng hơn cả. Điều này tôi chống đối. Bầu không khí, hoàn cảnh xã hội,
môi trường sinh hoạt… là một yếu tố và chỉ là một yếu tố gần như sau cùng làm vỡ
tung một ung nhọt đã mưng mủ. Bao nhiêu người sống cùng thời với Nguyễn Du, thở
cái không khí của Nguyễn Du, cùng giai cấp với Nguyễn Du, chi phối bởi cái môi
trường địa lý của Nguyễn Du… vậy mà có phải ai cũng là Nguyễn Du đâu. Tôi nhắc
lại Tài Năng Vẫn là Một Yếu Tố Quan Trọng hơn cả”.[13] Trên
cơ sở những tranh luận hết sức dân chủ với tinh thần khách quan khoa học, để tạm
kết luận vấn đề bàn về hoàn cảnh sống và tài năng có tác động như thế nào đối với
tâm lý sáng tạo của nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới, Mặc Đỗ đã chia sẻ: “Đúc kết
ý kiến của Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn Nhật Duật, theo tôi thì sự thành hình
tác phẩm cùng với đặc thù của thế giới tiểu thuyết các nhà văn nữ ngày nay,
chính là một tổng hợp những yếu tố hoàn cảnh xã hội, môi trường địa lý, những
biến cố lịch sử và nhất là tài năng của tác giả. Riêng về ý kiến của Dương Nghiễm
Mậu, thì theo tôi chính là nhằm mở rộng vấn đề mà hiện chúng ta đang nói chuyện
đó thôi. Trường hợp các nhà văn nữ Việt Nam cũng chẳng khác nào các nhà văn nữ
thế giới”.[14] Và theo Mai Thảo: “Ở Việt
Nam nền văn chương nữ vẫn có những đặc thù của nó, và sự xuất hiện của nó là có
một mặt chậm trễ so với nền văn chương nữ của thế giới đã phong phú từ bao
nhiêu năm trước đây”.[15]
Như vậy, khi bàn về vấn đề
hoàn cảnh xã hội và tài năng đã tác động như thế nào đến tâm lý sáng tạo của
các nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới, tuy vẫn còn có những ý kiến cần được thảo
luận nhưng nhìn chung các nhà văn, nhà lý luận phê bình nam giới, vốn là những
người có uy tín trong đời sống văn học ở miền Nam trước 1975 đều có điểm gặp gỡ
khi cho rằng: hoàn cảnh xã hội và tài năng là những yếu tố cơ bản tác động đến
tâm lý sáng tạo văn chương của các nhà văn nữ miền Nam trong giai đoạn
1954-1975 nhìn từ đặc điểm giới. Và đây là điều không thể phủ nhận.
2.2. Phản kháng xã
hội hay sự nỗi loạn mang tâm thức hiện sinh của cac nhà văn nữ
Khi bàn về tâm lý sáng tạo
văn chương của nhà văn nữ ở miền Nam trước 1975, bên cạnh những ý kiến luận giải
về tài năng, môi trường sống, các yếu tố địa văn hóa tác động đến văn chương của
các nhà văn nữ trong văn học miền Nam, Nguyễn Nhật Duật đã đặt vấn đề: “sự bột
phát với tính cách ồ ạc của nền văn chương này là hậu qủa của sự gò bó quá lâu.
Đó là một phản ứng mãnh liệt chống lại sự gò bó trước đó”.[16] Đây cũng là ý kiến của Nguyễn Xuân Hoàng
khi ông cho rằng: “Phải chăng sự táo bạo trong các tác phẩm và đề tài của các
nhà văn nữ hiện nay biểu lộ tính đặc thù của nền văn chương nữ ấy”.[17] tức là sự phản ứng “chống lại sự gò
bó trước đó” như ý kiến của Nguyễn Nhật Duật hay là do một nguyên nhân nào
khác. Điều này đã tạo nên sự tranh luận sôi nổi và thú vị giữa các nam nhà văn
tham gia cuộc “nói chuyện về các nhà văn nữ” trên Bán nguyệt Văn số
206 ra ngày 15/7/1972.
Theo Huỳnh Phan Anh, các
nhà văn nữ ở miền Nam lúc bấy giờ “táo bạo hơn các nhà văn nam, mặc dù chưa chắc
rằng họ táo bạo hơn các nhà văn nữ của thế giới. Đồng ý Túy Hồng là một tài
năng đáng kể về phái nữ, nhưng tài năng đó cần được nhìn ngắm như thế nào, đó mới
là điều quan trọng. Nhân vật, câu chuyện, bút pháp của họ, chẳng hạn”.[18] Ý kiến của Huỳnh Phan Anh đã đặt ra một
yêu cầu hết sức chuyên nghiệp và mang tính lý thuyết nhằm luận giải một cách
khách quan và khoa học về hành trình sáng tạo nhìn từ đặc điểm giới của các nhà
văn nữ miền Nam lúc bấy giờ nên được Mặc Đỗ xem như một gợi mở để thảo luận tìm
ra lời giải cho vấn đề khi ông cho rằng: “Nên xét lại vấn đề trước khi khai triển
ý kiến của Huỳnh Phan Anh. Có nên nói tổng quát hay đi vào chi tiết đề cập đến
từng cá nhân? Mặt khác cần quan niệm chữ táo bạo thế nào cho đúng. Riêng tôi
táo bạo trong văn chương nữ bây giờ là do họ đã dám đề cập đến những gì mà trước
kia họ không dám đề cập. Họ đã viết đến nó, đụng chạm đến nó một cách đường
hoàng không giấu giếm và không che đậy”.[19] Ý
kiến của Mặc Đỗ đã nhận dược sự đồng tình của Nguyễn Xuân Hoàng khi ông xác quyết:
“Tôi chấp nhận ý kiến này của anh Mặc Đỗ, và theo tôi, chính với ý nghĩa đó, ý
nghĩa chật hẹp đó đã làm giảm sút giá trị trong tác phẩm của họ. Chữ táo bạo phải
được hiểu theo một nghĩa rộng hơn, táo bạo là đề cập đến những đề tài ngoài đề
tài dục tình, đề tài thân thể”.[20] Còn
Viên Linh thì lý giải sự táo bạo trong tác phẩm của các nhà văn nữ lúc bấy giờ
từ góc nhìn đạo đức Á Đông khi ông cho rằng: “táo bạo theo tôi chính là sự sai
biệt giữa mô thức giáo dục dành cho phụ nữ Á Đông và những gì họ đã viết ra”.[21] Và cách nhìn thiên về đạo đức mà Viên
Linh đã đặt ra cũng là cách nhìn của Nguyễn Nhật Duật: “Táo bạo ở thái độ, cách
nhìn và đề tài về sự tương quan ngang hàng với nam giới”.[22] mà
theo Viên Linh thì các nhà văn nữ “đã làm hơn chứ không phải ngang hàng” với
các nhà văn nam. Còn theo Nguyễn Nhật Duật “Người viết văn nữ ngày nay đã giành
lại cái ưu quyền về Nghĩ, Cảm và Sống như nhà văn Nam”.[23] Và
để tranh luận với quan điểm của Nguyễn Nhật Duật, Huỳnh Phan Anh đã đặt vấn đề:
“Tôi muốn hỏi anh Duật rằng văn chương nữ giới bây giờ phải chăng chỉ là một phản
ứng, một sự nỗi loạn trước những giới hạn, những kềm kẹp xưa kia? Ngoài là một
phản ứng nó còn là một cái gì khác?”.[24]
Để trả lời Huỳnh Phan
Anh, Nguyễn Nhật Duật cho rằng: “Sự bột phát này phát xuất từ một thái độ phản
kháng. – Về câu hỏi thứ hai phải được hiểu rằng sự khao khát của họ là gì? Mặc
dù tôi không phải là đàn bà (nhiều người cười), theo tôi thì đó là mối
lo toan hạnh phúc. Ấy là mối lo toan muôn thuở của người đàn bà, và nó cũng chỉ
đi đến đó mà thôi”.[25] Ý kiến này của
Nguyễn Nhật Duật đã nhận được sự đồng tình của Mai Thảo khi ông cho rằng: “Vấn
đề hạnh phúc anh Nguyễn Nhật Duật vừa nêu ra là một vấn đề cần được xét lại. Sự
khao khát hạnh phúc trước kia đã có chứ không phải bây giờ mới có. Ngày nay phải
nói làm văn chương ở các nhà văn nữ mang cái khí thế một cuộc xuống đường rầm rộ.
Họ xác nhận sự có mặt của họ, trước đã. Xuống đường thì họ xuống rồi. Đi tới
đâu, chưa biết. Văn chương nữ mới nằm trong giai đoạn khởi đầu. Nó chưa có quá
khứ hay một quá trình rõ rệt”.[26] Và
để thể hiện sự đồng tình của mình về ý kiến của Mai Thảo cho rằng các nhà văn nữ
tham gia làm văn chương là để xác định sự hiện hữu của mình nên Nguyễn Nhật Duật
cho rằng: “Sự phản kháng” trong văn chương của các nữ nhà văn không chỉ là sự
“chống lại những gò bó trước kia” mà đó chính là một “sự tự xác nhận để cho người
khác nghe được tiếng nói của mình, ưu tư của mình” và xem đây là một đặc điểm
biểu hiện của của tâm lý sáng tạo ở nhà văn nữ trong văn học miền Nam lúc bấy
giờ. Nhưng Huỳnh Phan Anh lại không đồng tình với ý kiến này nên ông đã xác quyết:
“đó không phải là đặc điểm của văn chương nữ” mà “là một thái độ chung cho bất
cứ người đàn bà ở đâu và bất cứ thời nào. (…) Từ đó suy ra, người đàn bà viết
văn có cái thất lợi là họ không làm cách nào cho người đọc quên được họ là đàn
bà”.[27] Và
để minh chứng một cách sâu sắc hơn quan điểm của mình, Huỳnh Phan Anh đã luận
giải: “Màu sắc táo bạo trong văn chương nữ giới ở Việt Nam đã giúp họ thành
công ít ra ở phía độc giả. Sự thành công ấy có thể giải thích được: lý do là họ
nói những gì trước kia họ không được phép nói. Và điều này đã tạo nên những ngạc
nhiên, những bất ngờ cho người đọc. Nhưng đồng thời đó cũng là lý do thất bại của
họ, bởi vì họ chưa cởi bỏ hết những mặc cảm của một người phụ nữ với tư cách của
một người viết văn”.[28] Song,
Nguyễn Nhật Duật thì cho rằng: “Sự thất bại đó không phải do họ mà do một áp lực
nặng nề có tính cách truyền thống”.[29] Còn
Huỳnh Phan Anh thì tiếp tục luận giải sự “nỗi loạn” ở các nhà văn nữ miền Nam
như một tiến trình vận động tất yếu trong hành trình sáng tạo văn chương của họ,
khi cho rằng: “sự khủng hoảng này là một giai đoạn để đưa đến một giai đoạn
khác. Nghĩa là sau những ồn ào họ sẽ bình tỉnh hơn và lúc bấy giờ họ sẽ không
viết văn như một người đàn bà viết văn, mà họ sẽ viết văn như một nhà văn. Tôi
vẫn có cái ý nghĩ là dường như một người đàn bà viết văn họ vẫn còn mang theo tất
cả cái tình cảm đàn bà của họ”.[30] Và
trong những luận giải của mình, hỉnh như Huỳnh Phan Anh đã mâu thuẩn với chính
ông. Bởi một mặt, ông muốn các nhà văn nữ khi viết văn cần vượt lên cái tâm lý
đàn bà của mình để chỉ còn viết văn như một nhà văn thuần túy, không bị chi phối
bởi đặc điểm phái tính. Nhưng mặt khác, ông lại mặc nhiên cho rằng người đàn bà
viết văn họ “luôn mang theo cái tình cảm đàn bà của họ”. Chính sự mâu thuẩn này
đã cho thấy việc nhìn nhận tâm lý sáng tạo văn chương của các nhà văn với tư
cách là những cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới là một tất yếu mang tính qui
luật trong quá trình sáng tạo của nhà văn dù đó là nam hay nữ. Vì vậy, khi nhìn
nhận ý kiến của Huỳnh Phan Anh qua những luận giải của ông, Nguyễn Đình Toàn đã
chia sẽ: “Vậy thì Huỳnh Phan Anh cũng đồng quan điểm với Nguyễn Nhật Duật ở chỗ
sự viết văn của các bà chính là sự tự xác nhận về sự có mặt
đàn bà của họ”.[31] Điều mà theo chủ
nghĩa hiện sinh đó là “tự xác tín” về sự hiện hữu của “Nhân vị Đàn Bà”.
Vì thế, theo chúng tôi sự
xác nhận của các nhà văn nữ về sự hiện hữu của mình trong đời sống văn chương
nói riêng và cuộc sống nói chung với những sự táo bạo khi miêu tả về tính dục,
về thân xác, đó chính là sự nỗi loạn của một tâm thức hiện sinh ở các nhà văn nữ
mà sự tác động và ảnh hưởng của triết lý hiện sinh đã du nhập vào xã hội miền
Nam lúc bấy giờ là một tất yếu không thể phủ nhận. Và có thể nói đây là một
trong những nguyên nhân tạo nên “sự táo bạo” mang tính nỗi loạn trong văn
chương của các nhà văn nữ ở miền Nam trước 1975. Bởi, nói như Mai Thảo: “Khả
năng văn chương nữ bây giờ cho phép họ đề cập đến tất cả mọi vấn đề. Có điều bất
cứ cuộc giải thoát nào trước hết là một giải thoát thân xác, nhất là cho đàn
bà. Rồi họ sẽ đề cập đến những chủ đề khác. Nhưng bây giờ họ đang nói đến thân
xác, dù không phải nói như một người vô luân. Thân xác là chủ đề lớn nhất hiện
nay. Và họ đã đề cập tới nó”.[32] Vì thế,
khi có ý kiến đặt vấn đề phải chăng, việc tác phẩm văn chương của các nhà văn nữ
đề cập đến vấn đề tính dục là “một bệnh lý” thì Huỳnh Phan Anh đã phản bác
quyết liệt. Bởi, theo ông: “Nên tránh sử dụng danh từ bệnh lý trong văn
chương đàn bà, Theo tôi người đàn bà thất lợi trong việc viết văn. Vì họ phải
trải qua, vượt qua chính thân phận của họ để được ngang hàng với đàn ông. Sự
quá quắt trong văn chương đàn bà ở Việt Nam biểu lộ sự bất lợi của họ và kỳ lạ
thay đó cũng là sự thành công của họ trên một phía nào đó”.[33]
Như vậy, việc nhìn nhận
tác phẩm văn chương của nhà văn nữ ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 nhìn từ tâm
lý sáng tạo mang đặc điểm giới mà biểu hiện ở đây là sự táo bạo mang tính nỗi
loạn của một tâm thức hiện sinh của các nhà văn nữ là một vấn đề được các nhà
văn, nhà phê bình văn học nam giới quan tâm thảo luận nhưng không phải đã có sự
thống nhất. Vì vậy, để dễ có sự cảm thông hơn, Mặc Đỗ đã đặt vấn đề: “Tại sao
chúng ta không nhận thức sự chú trọng về sinh lý ở các nhà văn nữ một cách đơn
giản hơn. Họ sẽ nói như thế này, chẳng hạn: “Chúng tôi viết về sexe vì chúng
tôi hiểu vấn đề này hơn các ông”. Chẳng cần đào sâu hơn”.[34] Nhưng
ý kiến của Mặc Đỗ cũng gặp phải sự phản bác của Nguyễn Nhật Duật khi ông cho rằng
sự xuất hiện của văn chương nữ giới lúc này đã: “tạo thành một giao động thực sự
trong xã hội, phản ánh một tâm trạng đặc biệt và khác thường của người đàn bà bấy
giờ, qua các tác phẩm văn chương phụ nữ, chứ nó không chỉ đơn giản như anh Mặc
Đỗ nói”.[35] Và
đây cũng là ý kiến phủ nhận lại cách nghĩ đơn giản đó của Mặc Đỗ từ Nguyễn Thị
Thụy Vũ, người được mệnh danh là một trong những “nữ quái” của văn chương nữ miền
Nam trước 1975, khi bà xác quyết rằng: “Có lẽ một ngày nào đó, độc giả sẽ bảo rằng:
trong vòng như năm 1964-1966, các tạp chí chỉ “lăng xê” các cô văn sĩ viết văn
gần như viết dâm thư. Đừng nói vậy mà tội vì một khi cô nào đó tả những màn làm
ái tình cụp lạc chỉ cốt để giải tỏa ẩn ức sinh lý, chính cô đó mới cố tình
khiêu dâm. Còn nếu viết về những pha cụp lạc mê ly để diễn tả tâm trạng, hay một
khía cạnh bài xích tệ đoan dĩ nhiên là cô đó vẫn là một văn sĩ vì cô biết trách
nhiệm của mình một khi cầm bút”.[36] Phải
chăng, chính tinh thần phản kháng mang tâm thức hiện sinh đã làm nên một lớp
nhà văn nữ giàu cá tính sáng tạo mang đặc điểm giới mà khi nghiên cứu văn học
miền Nam trước 1975, không thể không đề cập đến.
2.3. Giới hạn về
tư tưởng trong văn chương của các nhà văn nữ miền
Nam trước 1975, nhìn từ đặc điểm giới
Khi nghiên cứu nền văn học
miền Nam giai đoạn 1954-1975, một trong những vấn đề mà các nhà lý luận – phê
bình quan tâm là “hàm lượng tư tưởng” trong tác phẩm văn chương của nhà văn,
trong đó có các nhà văn nữ. Tư tưởng trong quan niệm của các nhà lý luận – phê
bình văn học ở miền Nam trước 1975 không phải là “quan điểm, lập trường” mà đó
là vấn đề tri thức lịch sử, văn hóa, triết học, mỹ học… thể hiện qua cái nhìn của
nhà văn về cuộc đời, về thân phận con người. Vì vậy, đây cũng là một trong những
vấn đề mà các nhà văn, nhà phê bình nam giới quan tâm khi thảo luận về tâm lý
sáng tạo văn chương của các nhà văn nữ nhìn từ đặc điểm giới được Mặc Đỗ đặt ra
để mọi người thảo luận. Theo ông: “Điều đang nhìn thấy là hiện có chục nhà văn
nữ đang viết, đang hoạt động văn nghệ. Đó là một con số đáng kể, một phong
trào. Ngày trước chỉ có một Thụy An viết văn. Bây giờ là hàng chục Thụy An. Điểm
chờ đợi của mọi người là khi viết về dục tình, không biết những nhà văn nữ có đề
cập được tới các vấn đề khác không, hay chỉ có vậy. Cái thiếu lớn trong văn
chương là tư tưởng”.[37] Vấn đề Mặc Đỗ
nêu ra đã tạo nên những ý kiến trái chiều ở các nhà văn, nhà phê bình văn học
tham gia cuộc thảo luận này. Nguyễn Xuân Hoàng không tán thành hoàn toàn với Mặc
Đỗ khi cho rằng cái “thiếu lớn trong văn chương” các nhà văn nữ là tư tưởng và
ông đã biện minh rằng: “Tư tưởng trong tác phẩm đã có ở một vài người. Mới manh
nha thấp thoáng thôi, nhưng đã có. Đến đây phải đặt ra vấn đề kiến thức. Tôi
nói kiến thức sống không nói học vấn. Các nhà văn nữ đang có những cố gắng đáng
kể về mặt tư tưởng. Để khắc phục sự thiếu sót anh Mặc Đỗ vừa nói”.[38] Còn
Huỳnh Phan Anh thì đi sâu phân tích tư tưởng trong tác phẩm của các nhà văn nữ
từ một góc nhìn khác mang tính lý luận văn học mà ông gọi đó là “ưu tư văn
chương”. Và theo sự diễn dịch của ông: “Tác phẩm các bà bộc lộ một số uu tư sôi
nổi, liên quan mật thiết đến đời sống nói chung. Những ưu tư ấy nổi bật người đọc
thấy rõ. Chỉ thiếu vắng cái ưu tư tôi gọi nôm na là ưu tư văn chương nằm trong
cách viết cách làm mới tác phẩm. chúng ta đã thấy các bà chỉ viết truyện dài,
ít làm thơ, không viết ra những suy tưởng về những điều mình viết, là bởi thế,
bởi một thiếu vắng ưu tư văn chương. Ưu tư về đời sống ở họ đã có rồi. Sau này
những ưu tư về đời sống ở họ có thể vẫn còn, đồng thời ưu tư về văn chương cũng
sẽ được họ biết tới”.[39] Bởi,
trong suy niệm của Huỳnh Phan Anh, ưu tư văn chương là một trong những hệ giá
trị của tác phẩm văn học góp phần thể hiện những khát khao “thay đổi bộ mặt đời
sống”.
Có thể nói, việc nhìn nhận
những giới hạn về tư tưởng trong sáng tạo tác phẩm văn chương của các nhà văn nữ
mà các nhà văn nam đã thảo luận cũng là suy nghĩ, là cách nhìn của chính những
nhà văn nữ mà Nguyễn Thị Hoàng trong bài viết “Khả năng và phương hướng sáng tạo
văn nghệ của người đàn bà” đã tự nhận: “Trong văn giới Quốc Tế và nói riêng Việt
Nam, những cây bút nữ lưu chỉ chiếm một thiểu số thấp thoáng trong khi đó bên
phái nam giữ đa số với một lực lượng hùng hậu vững bền và thường trực. Điều đó
có phải là vì phải nữ không đủ khả năng? Một cách khách quan và vô tư, chúng
tôi có thể nhận định người đàn bà chiếm thiểu số trong văn giới một phần là do
thành kiến khắt khe của xã hội Đông phương, quan niệm người đàn bà viết văn là
phóng túng lãng mạn, mầm mống của hư hỏng đời sống và tâm hồn, một phần vì đời
sống bọ hạn hẹp, gò bó trong khuôn khổ nên khả năng do đó không phong phú triển
khai. Vả lại cho dù xã hội và hoàn cảnh có mặc nhiên công nhận và cho phép người
đàn bà quyền sáng tạo văn nghệ một cách tự do, hồn nhiên người đàn bà vẫn sút
kém so với đàn ông trong phạm vi nghệ thuật. Là bởi đối với đàn ông sáng tác là
công trình xây dựng của lý trí, của ý thức trong lúc người đàn bà sáng tác do sự
thúc đẩy của một hoàn cảnh đặc biệt, những lôi cuốn của rung động, của hứng khởi
bất ngờ và vì vậy thiếu phương hướng, thiếu hẳn những khía cạnh khám phá khai
thác của đàn ông”.[40] và
để lý giải cho vấn đề này từ đặc điểm tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới, Nguyễn
Thị Hoàng đã chỉ ra ba vấn đề của sự giới hạn trong khả năng sáng tạo của giới
nhà văn nữ đó là: Thứ nhất “Trên thực tế, về giao thiệp người đàn bà thường bị
gò bó trong một vũ trụ nhỏ bé eo hẹp” theo kiểu quan niệm của phương Đông; Thứ
hai: “Không những chỉ trên đời sống thực tế mà trong tư tưởng người đàn bà cũng
không thể phong phú, vì không tự do, khoáng đạt như đàn ông” Và “Từ sự hạn hẹp
của đời sống thực tế và tư tưởng, tất nhiên cảm xúc, yếu tố căn bản sáng tạo của
người đàn bà cũng không được ghi nhận và biểu lộ hồn nhiên trọn vẹn”.[41] Còn Nguyễn Thị Thụy Vũ khi nhìn nhận
về sự thiếu vắng tính tư tưởng trong văn chương của các nhà văn nữ mà mình là một
thành viên, Nguyễn Thị Thụy Vũ tự thú một cách đáng yêu nhưng cũng không kém phần
chua chát khi cho rằng: “Cái thiên chức của phụ nữ hầu như để làm thỏa mạn thị
giác và thính giác phái mạnh. Có nhiều lúc tôi cảm thấy chua chát là phái đẹp
không nên tạo những chất bồi bổ cho tinh thần phái mạnh vì than ôi, Thi sĩ
Lamartine đã nói: “Tư tưởng người đàn bà không dài hơn một sợi tóc”. Đàn bà có
thể là người học thức, chứ rất hiếm người trí thức. Chua chát hơn nữa, mỗi khi
các ông xem một tác phẩm của một nữ sỉ nào đó, các ông chỉ muốn thỏa mãn tánh
tò mò. Bởi vậy các bạn cầm bút phái đẹp chớ có mơ màng rằng các ông xem tác phẩm
của mình là để học hỏi thêm, mở mang trí thức thêm”.[42] Bởi
vậy, Nguyễn Thị Thụy Vũ cho rằng; “Người đàn bà cầm bút thật gian nan (…) Đàn
bà viết văn thường có cái chua chát” nên theo Nguyễn Thị Thụy Vũ: “văn đàn Việt
Nam rất mong mõi một người nữ sĩ lăn xả vào cuộc sống, tìm tài liệu để sáng
tác. Phải chấp nhận xã hội, phải tìm cảm hứng trong xã hội”.[43] Những
điều mà Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã thành thật sẻ chia cũng đã phần
nào mặc nhiên công nhận sự giới hạn về tư tưởng trong tác phẩm văn chương của
các nhà văn nữ miền Nam trước 1975 nhìn từ tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới
mà các nhà văn, nhà phê bình văn học đã quan tâm thảo luận. Đây cũng là một
trong những biểu hiện của văn chương nữ miền Nam trước 1975 nhìn từ đặc điểm giới
mà khi nghiên cứu chúng ta không thể không đề cập đến, nếu muốn có một sự tiếp
nhận thấu đáo và toàn diện.
3. Thay lời kết:
Có hay không diện mạo văn
chương nữ miền Nam trước 1975 mang đặc điểm giới trong tâm lý sáng tạo, thể hiện
qua ý kiến thảo luận thẳng thắn, trên tinh thần khoa học, khách quan, dân chủ,
chấp nhận những khác biệt trong ý thức cũng như bút pháp của mỗi nhà văn, là điều
mà chúng ta có thể tìm thấy trong cuộc nói chuyện bàn tròn về nhà văn nữ đã được
trình bày ở trên. Tuy số lượng nhà văn nữ không nhiều so với những đồng nghiệp
nam nhưng với những gì mà họ đã thể hiện trong những tác phẩm văn chương, trong
hoạt động văn học nghệ thuật, cũng như qua sự tiếp nhận của người đọc cũng đã
cho thấy sự hiện hữu của văn chương nữ ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 là điều
không thể phủ nhận. Bởi, nói như Mai Thảo:“Nếu văn chương có những người mở đường,
thì ở phía phụ nữ, những nhà văn nữ hiện nay của chúng ta đích thực là những
người mở đường. Đó là một sự thật không thể phủ nhận. (…) Về vị trí về chỗ đứng
thì là như thế. Nhà văn nữ không còn chịu đứng trên một đường lề chênh vênh nào
nữa, mà đã ở hẳn trong sinh hoạt, có mặt ở hết thảy mọi địa hạt trước kia chỉ
là sự có mặt duy nhất của nam giới. (…) Trước hết vì những cây viết nữ hàng đầu
hiện nay của chứng ta mỗi người đều chói sáng một bản sắc riêng tây. Túy Hồng
linh động giàu có, vô tận trong nghệ thuật diễn tả những tình tiết quay động lắt
léo. Trùng Dương phóng khoáng trong cả sống và viết là hình ảnh người đàn bà tự
do độc lập bây giờ. Nguyễn Thị Hoàng như một dòng sông tình cảm ào ạt càng ngày
càng đi tới chế ngự, làm chủ được một bút pháp tinh vi, thuần thục hơn trước.
Nhã Ca làm thơ hay, khi viết truyện, truyện nào cũng có một vấn đề thời thế, xã
hội nóng bỏng đựng trong nó. Nguyễn Thị Thụy Vũ hồi trước nỗi tiếng là táo bạo
nhất, bây giờ đã tự chế, đã trầm tỉnh, là cái thái độ tốt của một người viết muốn
thực hiện tác phẩm lớn. Nguyễn Thị Vinh tuy vẫn ở lại với cõi văn chương Tự Lực
Văn Đoàn nhưng đã đạt được những tiến bộ đáng kể do với Nguyễn Thị Vinh ngày
trước. Thêm một Trần Thị Ngh. Làm kinh ngạc với mấy truyện ngắn đầu tay, và rõ
ràng là các nhà văn nữ tôi vừa kể tên, nếu chưa làm mới được văn chương nói
chung, đã tạo được cho văn chương nữ giới một kích thước, một khuôn mặt mới. vậy
mà họ mới bắt đầu đó thôi. Triễn vọng của họ là ở đó. Không phải là ở những cái
họ đã thực hiện được. Mà ở nơi họ chỉ mới bắt đầu. Tôi gọi chung đó là một thế
lực văn chương đang chuyển động. Trong khi ở phái nam, nhiều thế lực đã kết
thúc, đã đứng lại”.[44]
Ý kiến này của Mai Thảo có thể là sự khái quát quan điểm của các nhà văn, nhà phê bình văn học nam giới trong việc nhận diện chân dung về tâm lý sáng tạo mang đặc điểm giới của nhà văn nữ ở miền nam trước 1975. Bởi, theo nhà văn Trùng Dương, một cây bút nữ, vừa viết văn vừa làm báo trong bài viết “Đàn bà viết văn” (Bách Khoa số 416, ra ngày 18/10/1974 thì “Bước qua giai đoạn hâụ bán thế kỷ với sự xuất hiện của những Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Thụy Vũ, Trùng Dương của những năm 60-70 và còn hứa hẹn thêm những xuất hiện khác của những Trần Thị Ngh, Lệ Hằng, Dung Sài gòn, Nguyễn Đức, Thục Viên v…v… trong thập niên 70 này”.[45] thì sự hiện hữu của đội ngũ các nhà văn nữ trong văn học miền Nam 1954-1975 với một tâm lý sáng tạo riêng, khác biệt với các nhà văn nam nhìn từ đặc điểm giới là điều không thể phủ nhận. Và nói như Viên Linh thì “họ là những người nữ đầu tiên vén màn cho ta nhìn vào thế giới đàn bà”, trong đó có thế giới văn chương…
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Hoài Anh
(2009), Lý luận – Phê bình Văn học ở miền Nam 1954-1975, Hội Nhà
văn, Hà Nội
2. Trần Hoài Anh
(2017), Đi tìm ẩn ngữ văn chương, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội
3. Nhã Ca Thơ (1972), “Lời tựa
của Nguyên Sa” Thương Yêu xuất bản, Sài Gòn
4. Lê Phương Chi, “Thời cuộc
và đời sống đối với công việc sáng tác” của các Nữ nhà văn: Trùng Dương, Nguyễn
Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Minh Quân, Túy Hồng, Nhã ca, Bách Khoa số
292/ 1/3/1969
5. Trùng Dương “Đàn bà viết
văn” Bách Khoa số 416 ra ngày 18/10/1974;
6. Nguyễn Thị Hoàng “Khả
năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” Văn số
84/ 15/6/1967
7. Nguyễn Thị Hoàng “hành
trình sáng tác” Nghiên cứu Văn học số 5/ 15/7/1971
8. Nguyễn Trần Huy, “Túy Hồng,
Nhà văn ở phút nói thật” Văn số128/ 15/4/1969
9. Nguiễn Ngu Í “về quan
niệm sáng tác của nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch (Bách Khoa số
107/ 15/6/1961); (Bách Khoa số 109/ 15/7/1961); (Bách Khoa số
112/ 1/9/1961); (Bách Khoa số 125/ 15/3/1962)
10. Nhiều tác giả: “Nói chuyện
về các nhà văn Nữ” Bán nguyệt san Văn số 206 ra ngày 25/7/1972
Uyên Thao (1973), Các
nhà văn Nữ Việt Nam 1900-1970, Nhân Chủ xuất bản, Sài Gòn
11. Minh Đức Hoài Trinh,
“Trách nhiệm nhà văn” Tin Vănsố 46 tháng 4/1966
12. Nguyễn Đình Tuyến
(1967) Những nhà thơ hôm nay, Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sài Gòn
13. Nguyễn Đình Tuyến (1969) Nhà
văn hôm nay (1954-1969), Nhà văn Việt Nam xuất bản, Sài Gòn,
14. Tạ Tỵ (1972) Mười khuôn
mặt văn nghệ hôm nay, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn
15. Nguyễn Thị Thụy Vũ “Khi người phụ nữ làm nghệ thuật”, Văn số 84 ra ngày 15/6/1967
Chú thich;
[1] Uyên
Thao, Các nhà văn Nữ Việt Nam 1900- 1970, Cơ sở xuất bản Nhân Chủ,
Sài gòn, 1973, tr.20
[2] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.2
[3] Văn
số 206 ra ngày 15/7/1972, tr.12
[4] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.2
[5] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.2
[6] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.3
[7] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.3
[8] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.3
[9] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[10] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[11] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[12] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[13] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.5
[14] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.4
[15] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.5
[16] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.5
[17] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[18] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[19] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[20] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[21] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[22] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[23] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.6
[24] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.7
[25] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.7
[26] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.7
[27] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.7
[28] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.8
[29] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.8
[30] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.8
[31] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.9
[32] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.9
[33] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.9
[34] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.10
[35] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.10
[36] Văn số
84 ra ngày 15/6/1967, tr.12
[37] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.11
[38] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.11
[39] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.11
[40] Nguyễn
Thị Hoàng, “Khả năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” Văn số
84 ra ngày 15/6/1967, tr.3
[41] Nguyễn
Thị Hoàng, “Khả năng và phương hướng sáng tạo văn nghệ của người đàn bà” Văn số
84 ra ngày 15/6/1967, tr.4, 5
[42] Nguyễn
Thị Thụy Vũ “Khi người phụ nữ làm nghệ thuật” Văn số 84 ra
ngày 15/6/1967, tr.11
[43] Nguyễn
Thị Thụy Vũ “Khi người phụ nữ làm nghệ thuật” Văn số 84 ra
ngày 15/6/1967, tr.12
[44] Văn số
206 ra ngày 15/7/1972, tr.16
[45] Trùng Dương, “Đàn bà viết văn” Bách Khoa số 416, ra ngày 18/10/1974, tr.51.
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 5/9/2019
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét