Thơ từ trải nghiệm của
người
đàn bà đa cảm Châu Ly
Đọc thơ Châu
Ly, người đọc sẽ nhận ra tiếng thơ của một người đàn bà sống và yêu đến tận
cùng bằng trái tim nhân ái, bao dung. Chị luôn trăn trở, thao thức suy tư về
người, về đời của một người đàn bà từng trải. Do vậy, thơ chị dễ gây sự đồng cảm
với bạn đọc và nhất là bạn đọc đứng tuổi.
Châu Ly làm thơ từ lúc
còn trẻ, nhưng chưa bao giờ chị nhận mình là nhà thơ. Chị làm thơ là để giải
bày những nỗi niềm trắc ẩn của mình trước bao biến động, đổi thay của nhân quần
và xã hội. Thơ Châu Ly được viết ra bằng chính những trải nghiệm của bản
thân và sự tự thức sâu sắc của trái tim người đàn bà đa cảm. Chị nói
nhiều về nỗi buồn nhân sinh, về những cảm nhận của cái tôi mang đậm yếu tố giới
tính với khát vọng thành thật, rất đời và rất người!
Thời đại thay đổi, cảm hứng thơ cũng thay đổi. Quan niệm thẩm mỹ và góc nhìn cũng khác đi. Nhà thơ không phải làm thơ theo kiểu tụng ca mà nhìn vào trực diện những sự thật trần trụi của đời sống với một cái nhìn nhân văn và trách nhiệm.
Giữa thế giới bao la, đầy
biến động, con người đôi lúc thấy mình nhỏ bé, khi đó họ lại đi tìm lại chính
mình, tìm về chính mình. Những khốn khó, vất vả sau ngày giải phóng được chị
nói đến trong bài Lao động gợi cho thế hệ những người trải qua
những tháng năm đó không khỏi ngậm ngùi:
Tối đi cuốc, sáng đi cày/
Ngày ba bữa độn khoai mì thay cơm./ Trong chăn con rận no tròn/ Mới hay thân thể
chỉ còn… nắm xương!
Thơ chị luôn là những câu
hỏi khắc khoải, trĩu nặng ưu tư và rất chân thành. Bao giờ, lúc nào và ở đâu
thơ chị cũng là tiếng nói xuất phát từ tâm cảm.
Khi buồn quá một mình ta
lên núi/ Ngắm mây trôi, tâm sự với lá rừng/ Dăm câu chuyện vốn mịt mờ tên
gọi/ Lại dập dồn như suối chảy vào sông.
Suối thì nhỏ mà sông thì
quá lớn/ Nước vô tư trăm ngả rẽ chập chùng/ Khi chân bước giữa bời bời gai nhọn/
Mới thấy đời òa vỡ những bao dung.
Rừng vẫn biết một đời ta
hữu hạn/ Tháng và năm, thân phận với hình hài./ Cây và lá cứ âm thầm che chắn/
Ta ôm lòng nuôi giấc mộng tàn phai
(Quê hương với mặt trời hồng)
Chị thường dùng những
hình ảnh đối lập có tác dụng làm nổi bật ý chị muốn nhấn mạnh. Thể hiện tấm
chân tình của mình trong sự phức tạp, đa diện, đa chiều của đời sống.
Con người gần nhau, gắn
bó với nhau hơn nhờ có nhu cầu được chia sẻ và cảm thông. Bởi khi chia sẻ và cảm
thông thì niềm vui sẽ được nhân đôi và nỗi buồn sẽ vơi đi rất nhiều. Đồng cảm,
sẻ chia là những điều rất có ý nghĩa. Viết về mình, về người, về những gì xảy
ra trong đời sống bao giờ Châu Ly cũng thể hiện cái tình của một con người đã
thấu hiểu lẽ đời.
Thương con chim nhỏ trên
đồi vắng
Khản giọng vì chiu chít gọi
bầy
Một hôm cánh mỏng sa chiều
lạnh
Chim đã tuyệt mù không đến đây.
Chị thương tiếng suối bên
triền dốc
Lặng thầm đưa nước chảy về
xuôi
Róc rách theo sông về với
biển
Chẳng sá trăm năm chuyện
lở bồi.
(Bóng núi)
Thời gian hiện tại trong
thơ Châu Ly được đặt trong quan hệ hai chiều: hướng về tương lai và đối chứng với
quá khứ để thấy những đổi thay. Dù ở hai chiều khác nhau nhưng đều chung một mục
đích là tô đậm hiện tại…
Những ấm lạnh của cuộc đời
đã ngấm vào xương tủy chị. Nhưng Châu Ly nhận ra rằng cái “lạnh nhạt” thấm sâu
trong tâm hồn mới là điều đáng sợ hơn gấp bội phần so với những điều khác. Do vậy
chị dễ cảm thông với những hoàn cảnh, số phận kém may mắn (ở một khía cạnh nào
đó) quanh mình. Đặc biệt chị dành tình cảm và sựu ưu ái đối với số phận những
người phụ nữ, những người đang sống ly hương.
Bài thơ Ngày chị
hai mươi tuổi, được chị viết vào năm 1975 đọc lên cảm thấy nghẹn ngào
về số phận, cuộc đời của một người chị có số phận không may, sau đó đành phải rời
quê hương, bỏ dải đất mấy ngàn năm văn hiến đến với xứ người. Nhà thơ xót
thương cho kiếp người lận đận.
Chị bước xuống thuyền, chị
bỏ quê hương
Chị bỏ quê hương một ngày
bão nổi
Định mệnh trớ trêu nắm
quyền sinh tử
Đời lênh đênh trôi dạt giữa muôn trùng.
Chị đi thật rồi, chị bỏ
sau lưng
Bỏ dải đất “mấy ngàn năm
văn hiến”
Con tim nhỏ thóp thoi
ngoài mặt biển
Mắt cuồng dâng huyết lệ khóc quê nhà.
Chị khóc cuộc tình hun
hút mờ xa
Hai mươi tuổi bỗng dưng
tình goá bụa
Anh nằm xuống giữa mùa hè
đỏ lửa
Phút phân ly đâu dám hẹn
ngày về.
Đâu đó như nghe tiếng uất
nghẹn, không bao giờ hóa giải được. Cái còn lại đó là tình người, tình đất,
tình thương nhớ không nguôi của kẻ ở người đi, của trùng phùng và ly biệt.
Em cúi xuống nghe mùi
thơm của đất
Để vo tròn nỗi nhớ buổi
ly hương
Tôi đứng lại tóc pha màu
mây bạc
Bên con sông trăm nhánh chảy vô thường.
Thương và nhớ. Trùng
phùng và ly biệt
Từng mùa trăng lần lựa
thoáng qua đời
Ôm quá khứ, ngày môi
ngoan mắt biếc
Làm tự tình đến rã cuộc đùa vui.
Em nhớ núi, tôi mơ về phố
biển
Hồn chập chờn mộng mị đuổi
theo nhau
Rừng khép lá cơn mưa vào
hư huyễn
Sóng trăm năm nghiêng ngã
đến bạc đầu
(Tình của đất)
Châu Ly có nhiều bài thơ
hay viết về nỗi nhớ và sự chia ly. Trong cái hữu hạn ngắn ngủi của đời người chị
luôn có tâm trạng khắc khoải, xót xa. Nỗi nhớ, sự cách ngăn luôn ám vào thơ chị. Con
đường là bài thơ đầy sự ám ảnh khi chị giãi bày những nỗi đau, nỗi đau
đớn đến khôn cùng khi bao ước vọng đều vỡ tan.
Ngày mới lớn mang hoa đi
dạo phố/ Nghe mênh mang giọt máu thắm tim người/ Lòng những tưởng hành trang
vào thế hệ/ Là con đường ngan ngát bóng trăng soi
Thế nhưng: Mang
hoài bão chen chân vào thế sự/ Ta đâu hay trái ngọt vỡ trên cành/ Mùa vội vã
trên tay người du thủ/ Vứt xuống đời chiếc lá hãy còn xanh.
Để rồi : Mang
thương tích loài chim trời gãy cánh/ Ta đơn côi khâu vá trái tim mình
Ôm nuối tiếc đi giữa lòng
nhân loại/ Hồn bơ vơ theo máu đỏ da vàng…
Niềm tin bị dập tắt, nỗi
đau chồng chất nỗi đau…
Viết cho đứa em gái đang
sống bên trời Tây nhân ngày sinh nhật, lòng chị không khỏi ngậm ngùi:
Đưa em qua bến sông này
Chiều đông lạnh, có nỗi đầy
– nỗi vơi.
Hỏi người về cuối chân
mây
Mưa bên ấy, có giọt
vơi – giọt đầy?
(Em về cuối chân mây)
Cái tôi buồn, cô đơn được
thể hiện rõ trên từng trang viết. Hầu như bài thơ nào của chị cũng mang âm hưởng
buồn thương, day dứt, u hoài. Chị rất tinh ý và khéo léo trong việc sử dụng câu
chữ và các biện pháp tu từ trong thơ. Đây chính là thế mạnh của Châu Ly.
Nói với sân ga là
một bài thơ hay, chỉ gói gọn trong 28 chữ mà gợi mở ra bao điều. Châu Ly nhận
ra ranh giới mong manh, sự tiếp diễn liên tục của thời gian cùng với đó là những
trăn trở, nỗi buồn chất chứa…
Nắng vừa/ chảy ngọn ban
mai/ Màu sương khói đã phủ đầy chiều hôm
Mai về/ Nhớ/ bóng trăng
suông/ Nhớ/ sân ga/ với nỗi buồn ngàn năm…
Gặm nhấm với nỗi cô đơn,
Châu Ly tự trấn an rằng:
Lạ gì/ một/ sắc xuân tan/
Một/ vuông hạ trắng,/ một/ làn thu không.
Lạ gì/ gió lạnh chiều
đông/ Mà ta/ ôm/ nỗi buồn/ không hết buồn…
Nhà thơ giãi bày cái tôi
bản thể trong dòng cảm xúc phức hợp đa chiều. Bởi trong chị bao giờ cũng khao
khát hướng về những gì tốt đẹp nhất. Thế nhưng, cuộc sống với bao cái được – mất,
trớ trêu. Đôi lúc chị nhìn thế sự trong sự ngậm ngùi, lòng đắng chát.
Về đâu, ta biết về đâu nữa?
Một mảnh trời chiều, một
dửng dưng
Người gửi tình quê nơi đất
khách
Ta chôn chân giữa cố hương buồn.
Xe bỏ trời đêm, tàn cuộc
lữ
Ta gói niềm riêng mà đắng
lòng
Đêm nghe tiếng NƯỚC mơ hồ
chảy
Đời chợt buồn như những
nhánh sông…
(Một chuyến xe đêm)
Nhà thơ đành phải “Gửi
mộng bên trời”: Sông núi lắm khi buồn hết biết/ Phận người còn nhẹ hơn cỏ cây/
Thiên hạ trong tay không tất sắt/ Ta mơ chi một bóng thuyền đầy.
Thơ Châu Ly mang âm hưởng
chính là buồn, chị buồn bởi lúc nào cũng nghĩ đến những điều tốt đẹp mà thực tại
luôn có nhiều những điều không hay, không tốt hiện hữu.
Biết người/ còn đó hay
không/ Ta đang hắt bóng bên sông/ đợi chờ./ Thời gian/ không bến không bờ/
Không mau, chậm…/ giữa cuộc cờ/ mù tăm (Đứng trước tờ lịch cũ).
Do vậy, tiềm ẩn trong thơ
chị là sự ẩn ức, muỗn quẫy đạp, muốn tự khẳng định, muốn lên tiếng trước những
tẻ nhạt, đơn điệu, thói xấu, cái ác… để hướng về cái nhân văn và nhân ái, hướng
về thân phận những người bé mọn trong cuộc đời này.
Đọc thơ Châu Ly, người ta
nhận ra một người đàn bà từng trải. Sự trải đời được thể hiện rõ nét trên từng
trang viết. Ở đó người đọc nhận ra sự chân thành, chị nói thật những gì mình thấy,
mình biết, mình nghĩ. Sự cương trực ấy, bản lĩnh ấy của một người phụ nữ như chị
thật đáng trân trọng biết bao. Nhưng vốn là người từng đứng trên bục giảng,
Châu Ly có nét mô phạm và sự điềm tĩnh của một nhà giáo. Trong cơn lốc biến, chị
không thể bám trụ với nghề. Vì đồng lương ít ỏi không thể nuôi sống bản thân và
gia đình nên chị đành rời bục giảng và bước sang ngã rẽ khác. Và chị xem đó như
là sự sắp đặt của số phận.
Có lẽ cuộc đời chị đã trải
qua nhiều bước thăng trầm, nhiều buồn đau, trăn trở nên thơ chị cũng chan chứa
những hoài vọng, những khao khát chấp chới giữa cõi nhân sinh rộng lớn này.
Hãy thức dậy cùng em nghe
biển hát
Sóng muôn đời vỗ mãi những
âm đau
Vầng trăng lạnh – nỗi sầu
loang – đã tắt
Đời mong manh, con sóng mãi bạc đầu..!
Hãy cầm chắc trong tay
người bổi hổi
Bàn tay em năm ngón lạnh
ưu phiền
Sương khói cũ mà tình
giăng quá đỗi
Chuyện một ngày. Buồn đến
nửa trăm năm..!
(Niệm khúc cho một
ngày)
Thế hệ những người phụ nữ
như chị, sinh ra và lớn lên trong cơn bão tố của chiến tranh rồi trải qua những
năm tháng khó khăn thời bao cấp và cả những nghịch lý của thời bình nên mọi cay
đắng của thời cuộc chị đều nếm trải. Nhà thơ đã nhận ra những mất mát đau
thương của một thời đã qua với nhiều câu hỏi không có lời đáp: Tôi rất
sợ chạm tay vào quá khứ/ Chạm vết buồn rỉ máu mấy mươi năm/ Ngàn nhức buốt cuộc
tồn vong, sinh tử/ Làm chứng nhân cho thế hệ sai lầm
Ai chiến thắng, và ai người
chiến bại?/ Ai bên này, ai ở phía bên kia?/ Khi ngã xuống là muôn trùng tê tái/
Là đau thương bao phủ phút chia lìa!
Đôi nạng gỗ theo anh
thành máu thịt/ Chảy về tim bao uất nghẹn can trường/ Ai thắp nến vọng hồn linh
Tổ quốc?/ Anh thân tàn gõ nhịp khóc quê hương (Ngày của phố mù sương).
Châu Ly đặc biệt kính trọng
những người trí thức chân chính, những người nghệ sĩ sống hết mình vì tình yêu
nghệ thuật. Do vậy, khi nghe tin những điều không hay về họ, trái tim chị lại
nhói đau. Ngày nghe tin Tô Thùy Yên về với tiên tổ (22/5/2019), Châu Ly đau đớn
nghẹn lòng.
Sáng hay tin dữ từ phương
ấy
Người đã đi rồi, đi rất
xa
Tôi đứng bên hiên nghe
gió dậy
Mà lòng không thốt được lời ra.
Vẫn biết trăm năm là hư ảo
Đời người như nước giữa
dòng trôi
Chỉ tiếc trang thơ đang
viết dở
Người đã xuôi tay, vĩnh biệt rồi.
Gió sáng đưa thơ đi khắp
chốn
Mà hồn nghe rụng một màu
hoa
Người đi “ như lạc trong
trời đất”
Kẻ ở mênh mang lạc nỗi nhà.
Mười năm, đâu hẳn mười
năm nhỉ?
Ước vọng không chừng như
rất lâu
Chiếc áo quê hương còn
chùm đụp
Ai người hôm sớm vá khâu đâu?
Mười năm, Người “đau mềm
phế phủ”
Một cõi “Ta về” có ấm
tay?
Sắp hết cơn mơ, tàn
cuộc lữ
Hắt hiu bao nỗi bể dâu này!
Người đi “khai giải bùa
thiêng yểm”
Quê Mẹ vẫn hoài sương trắng
rơi
Bếp lửa nhân quần chưa kịp
ấm
Oan khiên mờ mịt bốn phương trời.
Người đi, há lẽ người đi
thật
Về” cõi hoang đường trắng
lãng quên”?
Tôi gọi, nghe cay tràn
khoé mắt
Tên Người rời rộng – TÔ
THUỲ YÊN…!
(Buổi sáng nghe tin Tô
Thuỳ Yên…)
Thi sĩ Huyền Chi tác giả
bài thơ Thuyền viễn xứ (được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với ca
khúc cùng tên, trở thành bài hát nổi tiếng) là người mà Châu Ly rất mến mộ. Vì
thế chị dành những tình cảm và cả sự mến mộ đặc biệt đối với người thi sĩ này.
Đọc bức thư và bài thơ Châu Ly viết cho Huyền Chi, người đọc sẽ thấy rõ điều
đó.
“THAY LỜI TẠ LỖI
Có lẽ trong giới văn nghệ
sĩ trước và sau 75 – không ai còn lạ gì với ca khúc “Thuyền viễn xứ” do Phạm
Duy phổ nhạc qua bài thơ cùng tên của nữ thi sĩ Huyền Chi. Huyền Chi, tôi quen
chị thật tình cờ qua một lời comment của chị trên trang chị Lê Thị Ái Niệm.
Trên facebook chị còn mang tên Khánh Ngọc.
Tôi biết chị không nhiều,
thi thoảng tương tác một vài bài thơ trên face, nhưng có lẽ do một cơ duyên nào
đó của sự “ đồng thanh tương ứng…” mà tôi đã lặn lội từ một cao nguyên đèo heo
hút gió để tìm gặp chị giữa đất Sài Gòn đầy nhộn nhịp.
Chúng tôi gặp nhau vào một
sáng đầy nắng. Chị đưa tôi ra quán cà phê gần nhà, ngồi, nắm tay nhau, nhìn
nhau. Tình cảm trong hai tâm hồn xa lạ bỗng gần gũi, chân tình và tôi nghe nhịp
đập trong hai trái tim bỗng xoắn xít, vỡ oà…
Từ sau đó, chúng tôi chưa
gặp lại nhau một lần nào.
Cách đây mấy hôm, chị nhắn
tin cho tôi và muốn gặp tôi trong ngày ra mắt tập thơ và ký “Thuyền viễn xứ” của
chị ngày 14/4/2019.
Tôi vui mừng và hứa hẹn sẽ
có mặt, xem đó như một vinh hạnh để mình được tận mắt chứng kiến giây phút
thăng hoa của một nhà thơ ở vào tuổi bát thập Huyền Chi trong tôi là cả một thần
tượng về tư tưởng và con người. Chị đã rất kiên định và sáng giá qua các bài
thơ của một thiếu nữ ở tuổi 17,18 mà đã dày dạn kinh nghiệm, tư tưởng sáng suốt,
mãnh liệt trước thời cuộc của đất nước đang có sự phân tranh. Trong ký, chị thể
hiện phong cách sống của một con người đôn hậu, tinh tế… qua lối hành văn vừa
dí dỏm vừa sâu sắc. Để mỗi lần đọc xong, tôi lại cứ xuýt xoa, tiếc nuối mãi: Một
nữ sĩ như chị sao lại bị thời đại suýt nữa bỏ quên!
Chị Huyền Chi yêu dấu,
Trong bài thơ em viết tặng
chị ngày mình gặp nhau, em vẫn hằng mong sẽ có ngày gặp lại chị giữa Sài Gòn,
có lẽ ngày ấy là ngày chị đã ngỏ ý cùng em.
Nhưng đời sống đôi khi
không như mình mơ ước. Có quá nhiều những vướng vít, bề bộn quanh em (điều mà ở
tuổi này có lẽ không nên có, thì em lại phải chấp nhận nó), để em không đến được
với chị.
Em rất buồn. Cơ hội “GẶP
CHỊ GIỮA SÀI GÒN” đã bị bỏ lỡ. Em mong mọi điều tốt đẹp sẽ đến với chị trong
ngày ra mắt “THUYỀN VIỄN XỨ”, tập thơ mà chị hằng ấp ủ bấy nay.
Em xin post lại bài thơ
mình đã viết, xin chị xem đây như một tình cảm chân thành em dành cho chị .
Mong chị thông cảm và thay lời em tạ lỗi.
GẶP CHỊ GIỮA SÀI GÒN
Sân ga nhỏ đưa em về với
phố
Hồn bâng khuâng bước vội
giữa Sài Gòn
Có chút nắng vàng vừa
quen vừa lạ
Vừa đủ mềm cho một dấu tay ôm.
Em nhìn chị. Tóc pha màu
sương bạc
Chị nhìn em. Mưa bụi phủ
ngang đầu
Đôi kính trắng gửi chút
tình lên mắt
Soi đáy hồn lạ lẫm mến thương nhau.
Chị rót cho em giọt can
trường thế hệ
Đã đi qua trong muôn vạn
nỗi sầu
Em mời chị ly rượu mừng
cuộc thế
Có vị nồng ngày biển cạn , sông sâu
Trong CỞI MỞ còn bao điều
chưa nói
Là bài thơ chị viết mãi
cho đời
Em cũng có chút tình xa
muốn gửi
Lại nhạt nhoà theo con nước nổi trôi!
Bàn chân bước chênh nhau
hơn thế hệ
Dặm ngàn khơi chung dấu lặng
se buồn
Ngàn sau nữa mịt mờ cơn
dâu bể
Chút nắng nào vàng để giữ dấu tay ôm?!
Thôi nhé chị , mai em về
với núi
Về ru đời trong từng giọt
mù sương
Ngày hợp phố dẫu còn xa vời
vợi
Gắng chờ nhau, ta gặp giữa
Sài Gòn!”.
CHÂU LY/ 13/4/2019”
Hoàn cảnh lịch sử, gia
đình đã tác động không nhỏ đến hành trình sống của bản thân và gia đình. Nhưng
chị đã sống và vượt lên mọi khó khăn để làm tròn bổn phận và thiên chức của một
người mẹ, người vợ.
Giờ đây, khi nhà thơ Châu
Ly đã ở vào tuổi xế chiều của đời mình nhưng chị không bao giờ nguôi quên những
năm tháng đã qua. Cuộc sống hiện tại đã ổn định, con cái trưởng thành, chị bớt
đi gánh lo so với trước. Nhưng không phải vì thế mà Châu Ly ngồi nhà “hưởng thụ”,
chị phải tất bật kiếm tiền nuôi sống bản thân và người chồng đã lớn tuổi. Dường
như sự khổ ải đã “thừa” nên chị không hề kêu ca, than vãn mà xem đó như là động
lực để chị sống nốt quãng đời còn lại của đời mình. Chị có ước muốn là sẽ được
đi những nơi cần đi trên dải đất cong cong như hình chữ S này, trước khi chị rời
xa cõi tạm. Bởi đó không chỉ là để được khám phá những vẻ đẹp tiềm ẩn của “quê
hương” mà còn là dịp để nhà thơ trở về với những giá trị văn hóa đích thực đã
ăn sâu trong tiềm thức.
Muốn đến khắp trời phương
Nam, phương Bắc
Lòng mang mang xanh giấc
mộng cây rừng
Muốn đặt môi, hôn lên từng
nắm đất
Để biết mình còn có một
quê hương…
(Còn một quê hương)
Bài thơ trĩu nặng những
tâm tư của một người đã đến tuổi xế chiều. Ở đó có rất nhiều điều “muốn”. Tất cả
cũng chỉ vì một lòng một dạ với tiên tổ, với đất nước, với quê hương.
Hành trình đi tìm mình là
một hành trình dài, không đích đến. Vì thế nhà thơ Châu Ly tìm mọi cách để có
tiếng nói riêng bật ra từ tâm cảm chính mình. Nhà thơ vận dụng linh hoạt các
phép tu từ để chuyển tải một cách khéo léo những thông điệp mà chị muốn gửi gắm,
muốn tỏ bày. Bài thơ Gọi nắng là một bài thơ được viết kiểu
như thế.
Về đây ủ bóng non ngàn
Nghe sông trăng rụng ngút
ngàn triền xa.
Quên ngày phố thị phù hoa
Quên đêm sương gội buồn
da diết buồn.
Những ngày đầu năm 2020,
dịch cúm corona đang xảy ra mỗi lúc một nghiêm trọng , lây lan nhanh trên toàn
thế giới, gây hoang mang lớn cho toàn nhân loại. Việt Nam cũng không nằm ngoài
đại dịch nguy hiểm này. Giữa những ngày dịch cúm bùng phát mạnh, các cuộc họp
khẩn từ Trung ương, các Thông cáo Quốc tế, các số liệu về số ca bị nhiễm, bị
cách ly, số người chết… được cập nhật liên tục hàng phút, hàng giờ. Tâm dịch ở
Vũ Hán bùng phát, gây ra không biết bao nhiêu cái chết thương tâm, Châu Ly có
ngay bài thơ Đêm Vũ Hán. Bài thơ là tiếng lòng của một người đàn bà
nhân hậu, tiếng nấc nghẹn trước một sự thật đau thương!
Ai đã khắc niềm đau vào thế kỉ/ Cho bi ai, cho máu lệ điêu tàn/ Cho lũ quạ quắt quay bờ sinh tử/ cho muôn trùng hy vọng vỡ tan hoang
Tôi thức dậy. Bàng hoàng
cơn dâu bể/ hạc vàng xưa theo dấu lạnh về trời?/ Đêm Vũ Hán, buồn như lòng Thôi
Hiệu/ Tiếng kinh cầu rệu rã khắp nơi nơi.
Bằng những trải nghiệm cùng với sự nhạy cảm và tinh tế trong cách nhìn đời, nhìn người, nhìn những xoay vần của xã hội; Châu Ly đã tạo dựng trong thơ của mình một thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, gần gũi mà ấn tượng, giản dị nhưng mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Thơ chị được gạn lọc, tinh chiết qua nhiều nỗi đau. Do vậy, tôi tin tiếng thơ Châu Ly sẽ còn đọng lại trong tâm hồn người đọc. Vì họ nhận ra ở đó có sự đồng điệu, cảm thông sâu sắc trước bao thăng trầm, biến cố của cuộc đời và thời cuộc nhưng họ không nói được bằng thơ như chị
31/3/2020
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét