“Song Tử” và những cơn rung-chấn-tình của người đàn bà thơ
Người đọc từng biết
đến Như Quỳnh de Prelle với tư cách là một nhà làm phim, một giọng thơ tinh tế,
sâu sắc và không kém phần nổi loạn. Thơ của chị đăng tải nhiều trên các diễn
đàn trong nước và ngoài nước. Chị xem không gian internet là sân chơi của thi
ca. Chỉ đến khi Song Tử ra đời, người đọc mới có cơ hội nắm bắt
những cảm quan thẩm mỹ cũng như sức hấp dẫn, lôi cuốn của ngôn từ trong thơ chị.
Song Tử là
tập thơ chị viết dành cho những tưởng tượng của thi ca, thể hiện những tình cảm
và sẻ chia cùng anh. Ở đó, tình yêu của người đàn bà thơ với anh – Song Tử, được
cài bện trong tình yêu thi ca, tình yêu con người, quê hương, cuộc sống… Anh –
Song Tử, là một hằng số vô cùng khơi mãi những thương yêu bất tận. Anh – Song Tử
cũng là một hình tượng nghệ thuật ẩn chứa những suy tư vừa kín đáo vừa táo bạo
về thế giới của chị.
Nhà thơ Như Quỳnh de
Prelle
Những câu thơ Như Quỳnh
de Prelle viết như những lời tâm sự, thủ thỉ, tâm tình với anh về tình yêu, về
thơ ca, về cuộc sống. Ở đó, chị bày tỏ tình yêu tha thiết, thủy chung, mãnh liệt,
bỏng cháy và luôn tìm về sự hài hòa cả về tinh thần lẫn thể xác, khát chờ một hạnh
phúc vĩnh hằng, một tổ ấm vẹn toàn. Anh chính là mạch sống đời thơ chị. Chị biết
cách nhen nhóm và gìn giữ tình yêu với sự chăm chút đáng quý: “yêu anh
yêu anh từng nhịp đập từng nhịp từng nhịp”. Với chị, yêu là phải bùng
cháy cảm xúc để tỏ lòng với người mình yêu. Do vậy, sự gắn bó, khăng khít giữa
hai người tình không chỉ đo bằng chiều dài của thời gian mà còn được mở rộng
biên độ yêu, không gian yêu. Đâu chỉ hiện tại, mà ngay cả cõi mơ, tình yêu ấy vẫn
nảy nở, đằm sâu: “Em đợi anh/ Yêu anh/ từng ngày từng ngày một/ như hơi
thở/ như những hẹn hò trong mơ/ như những thảng thốt/ bất ngờ” (Anh.
Tiếng Việt và quê hương). Yêu như là nhịp thở của nhau và đến khi
tràn sang cả cõi mơ thì sức mạnh của tình yêu, nỗi khát hòa nhập được đẩy lên
cao hơn.
So sánh là một trong những
phương thức tăng thêm vẻ đẹp của diễn ngôn, của hình tượng được nói đến cũng
như gửi gắm nỗi niềm, triết luận của tác giả về cuộc thế. Cấu trúc so sánh được
Như Quỳnh de Prelle sử dụng khá nhiều. Khảo sát tập Song Tử, chúng
tôi thấy cấu trúc anh là (A + là + B) xuất hiện 23 lần/81 bài
thơ. Hình tượng anh trở thành nguồn cảm hứng đặc biệt trong thơ chị:
Song Tử duy nhất của em
anh của em
anh là Tổ quốc của em
trên địa cầu hôm nay
(Anh.
Tiếng Việt và quê hương)
Yêu và nhân niềm tin yêu
mỗi ngày bằng gia vị riêng nhưng tất yếu không thể thiếu gia vị của lòng trân
quý người tình. Cách so sánh đối tượng cụ thể với đối tượng trừu tượng, mang
tính biểu tượng cao, thiêng liêng ở đoạn thơ này là một phát hiện thú vị của chị.
Việc lặp lại các từ “của em” góp phần khẳng định tính sở hữu cũng như nhấn mạnh
tình yêu bất diệt của người đàn bà thơ đối với anh. Đoạn thơ khác, yếu tố khẳng
định đi kèm với các hình ảnh được so sánh xuất hiện liên tục: anh là một
cánh rừng màu xanh của em/ là ngôi nhà diệp lục tưởng tượng của em/ là Song Tử/
cho em hẹn hò/ anh là không khí/ cho em thở/ cho màu xanh định mệnh của em/ cho
sự thất thường của em/ trong sâu thẳm (Thêm một trái tim ở bên). Người
đàn bà thơ biết nêm nếm đúng khẩu vị yêu, muốn khám phá kiệt cùng thế giới tâm
hồn của anh. Anh được ví với mọi chiều kích của vũ trụ, xuyên qua lưới thời
gian, là ngọn gió thơm mát, là những gì tinh khôi,… trong trái tim người đàn bà
thơ. Mỗi cấu trúc thơ mở ra một cánh cửa tình. Cấu trúc anh – cánh rừng: không
gian mênh mông ngập tràn sức sống. Anh – ngôi nhà diệp lục: gợi không gian gia
đình ấm cúng, đoàn tụ. Anh – Song Tử: mẫu người đàn ông tuyệt vời. Anh – không
khí: sự cần thiết để duy trì tình yêu và cuộc sống. Sự bó hẹp dần về không gian
ở đoạn thơ trên chính là sự rút ngắn khoảng cách giữa hai người tình. Nỗi khát
tình, khát hòa nhịp lòng của người đàn bà thơ đối với anh xuyên suốt, nồng nàn
và ngày một lớn thêm.
“Song Tử” là “những
con chữ của tình yêu”, là “mùa em dành cho anh tình yêu bất tận/
sự ân cần và hân hoan” (Bài thơ viết trong vườn). Người
đàn bà thơ xem mình là nước. Anh là rừng. Nguồn nước chảy và thấm vào đất, vào
rừng những mạch nguồn của tình yêu. Nguồn nước ấy mang đến sự thanh khiết, hòa
hợp và sinh sôi nảy nở. Nguồn nước thanh khiết này sẽ tưới tắm, xoa dịu tâm hồn
anh. Và cũng là hình ảnh tượng trưng nguồn thụ tinh cho một tình yêu đẹp, luôn
chuyển dịch, vận động để tái sinh: “Hơn bao giờ hết, lúc này nàng nhận
ra nàng yêu anh biết bao, cần anh biết bao, nàng tiếp tục yêu và yêu yêu như nước
quấn quanh rừng, như những mạch ngầm của dòng chảy không tách rời mặt đất kia…
nàng là nước, là người đàn bà mang nước để yêu anh như nguồn nước mẹ” (Song
Tử). Mạch tình ấy không đơn thuần chỉ là sự hiện hữu qua những hành
động (yêu) mà còn như nguồn nước mẹ thấm sâu, lan rộng khắp (quấn quanh, không
tách rời). Trên nền gắn kết nàng-anh, nước-rừng, tình yêu nảy sinh, bình dị,
son sắt, ngọt lịm, tràn trề, không bao giờ vơi, không bao giờ ngưng.
Nước trong thơ Như Quỳnh
de Prelle còn mang biểu tượng phái sinh. Nước tăng thêm sự đủ đầy, thanh nhã
cho không gian của tình yêu và vẻ đẹp tâm hồn:
Bảo Bình của anh là em
em chỉ có một Song Tử là
anh
trời đất mang anh đến cho
em
vũ trụ chuyển hoá anh cho
em
một người mang nước
có anh
và yêu anh
anh là cánh rừng
em là những dòng nước
chúng ta bao quanh nhau
nước từ trong lòng sâu của
đất
nuôi dưỡng mạch nguồn cho
rễ của cây
anh chở che em
bằng màu xanh diệp lục
sự chuyển đổi của thời
gian
bằng tình yêu
lặng im lặng im
không cần nói bằng lời
(Song Tử của em)
Ở đoạn thơ trên, cặp đôi
cánh rừng-dòng nước bổ sung, tương hỗ mang ý nghĩa thanh tẩy, nhen lên những mầm
sống tươi mới, hồi sinh tâm hồn, kết hoa trái tình yêu. Trên tinh thần ấy, nước
còn là biểu tượng của vẻ đẹp thiên tính nữ, mềm mại, trong sáng, nảy sinh sự sống
mới; là chất kết dính, là sự hòa quyện tuyệt vời giữa cung Bảo Bình và cung
Song Tử. Sự chuyển hóa dòng nước tình yêu mát lành từ em sang anh, từ Bảo Bình
sang Song Tử và ngược lại, là một quá trình xuyên thấm và bồi đắp liên tục giữa
hai trái tim đồng điệu, sống hết mình vì tình yêu. Yêu là phải tự tin, tự thổ lộ
với người tình bằng trái tim nồng nàn và rất đỗi ấm áp, mến thương của mình. Vì
vậy, tiếng nói thơ chị lúc nào cũng mong mỏi “tìm kiếm sự vẹn nguyên
ngay cả khi cái chết cận kề”. Quyết tâm đó đã xác tín tiếng nói tự chủ, cá
tính nữ trong hành trình tìm sự trọn vẹn tình yêu của người đàn bà thơ.
Tập thơ Song Tử của Như
Quỳnh de Prelle
Khi yêu, ai cũng muốn thấu
trọn trái tim người tình. Vì vậy, chị còn đặt ra những giả thiết, lật lại vấn đề: “Em
cũng không có cơn mưa nào cho anh/ nên em thấy anh là giọt nước cho em uống anh
trong cơ thể em” (Em và anh). Anh là giọt nước tinh khiết bù đắp nguồn
sống cho em. Sự luân chuyển, thay đổi vị trí giữa người cho và người nhận, Như
Quỳnh de Prelle đã chứng minh sức sống mãnh liệt của tình yêu giữa người đàn bà
thơ và anh không bao giờ khô cạn, mãi mãi xanh tươi, quyến dụ suốt mùa yêu. Hơn
nữa, khi yêu, người ta luôn có nhu cầu làm mới, nhen lửa tình yêu mỗi ngày.
Nhưng nhu cầu nắm bắt, hiểu hết người mình yêu là một hành trình vô tận. Chừng
nào còn nhu cầu kiếm tìm tình yêu thì tình yêu còn tồn tại. Người đàn bà ấy
không để tình yêu nguội lạnh như lớp tro buồn, hoang hoải: “Em muốn yêu
anh lại từ/ hôm nay như một ngày mới/ đang đến, mở mắt ra em/ nhìn thấy
anh ở bên và/ có anh trên khắp mọi nơi/ em đến, em đi, ngồi lại” (Người
yêu dấu ơi). Chị biết nhân thêm tình yêu và làm mới tình yêu mỗi
ngày, biết hòa nhập, đồng điệu với người mình yêu để tôn vinh sự thủy chung và
thiêng liêng của tình yêu. Ý thức này một mặt khẳng định tình yêu bền vững,
vĩnh cửu của người đàn bà thơ với anh – Song Tử, không gì có thể chia cắt được,
mặt khác, hướng con người đến sự trọn vẹn, đến những giá trị tốt đẹp hơn.
Người đàn bà thơ đa cảm,
đa tình nhưng không yếu đuối, ngược lại, rất cứng cỏi, bản lĩnh, đầy cá tính. Nỗi
khát yêu đôi khi được dồn đẩy, vỡ ra và bứt phá. Nó làm nên lớp sóng yêu dào dạt,
chuỗi thanh âm nhục cảm táo bạo cho tập thơ: “anh là thời gian không
gian của em/ anh là chú chim non gọi em buổi sáng/ dặn em đi ngủ lúc đêm khuya/
anh là con tinh trùng vô hình/ quẫy đạp em/ sinh sôi/ anh nằm trên ngón tay em/
lặng im lặng im” (Anh đến từ đâu). Đoạn thơ này, yếu tố được
so sánh phát huy hiệu lực cao, tăng dần mức độ tình cảm và dừng lại ở hình ảnh
nhục thể, hoan lạc, táo bạo. Những cuồng nhiệt của tình yêu, niềm hạnh phúc vô
biên tràn ngập thời gian và không gian. Một tình yêu viên mãn. Một sự kết nối
tuyệt đích. Ở bài thơ “Thư viết cho người yêu”, những từ ngữ
đan phối, duỗi theo cơ chế tăng tiến cảm xúc như thèm, muốn, nuốt, hôn,
uống, túm, ăn,… dội thẳng vào tâm trí người đọc: “lên cơn nhớ anh
thèm anh bất tận/ em muốn được ăn cái lưỡi của anh/ hàm răng của anh/ ăn cả đôi
bàn tay dài trắng muốt/ nuốt cả những ngón tay những móng tay sạch sẽ/ em ăn cả
cơ thể của anh/ trên ngực anh em gối đầu/ và hôn vào chiếc rốn năng lượng/ em sẽ
làm gì tiếp theo/ làm gì nào/ anh yêu ơi// lên cơn nhớ anh thèm anh bất tận/
mùa xuân ngọt lành/ em uống từng giọt từng giọt mồ hôi/ trên 2 cơ thể chúng ta/
em túm từng lọn tóc từng lọn tóc/ khô ơi là khô nước mắt em trào dâng/ ướt đẫm
người anh/ em muốn được ăn anh toàn phần/ uống anh từng nụ hôn/ từng giọt nước
mắt/ từng giọt mồ hôi/ từng giọt yêu đương từng giọt từng giọt// em đang yêu
anh/ yêu anh”. Chúng ta thấy nhịp thơ đoạn này tương đồng với tốc độ cảm
xúc tạo nên hiệu ứng nhạc tính của những con chữ và hiệu ứng nhạc lòng của hai
người tình. Tất cả níu vào nhau, đan vào nhau theo một chỉnh thể thống nhất và
cao trào. Đôi khi lời tình yêu chỉ là những thanh âm chân thật, tự nhiên nhưng
vẫn khiến người đọc mê say trong miền nóng ấm của sự giao hòa: Anh che
chở em tha thứ em theo nhịp đập từng hồi từng hồi và ngưng
lại trên cơ thể mềm mại của em// Em lại chui vào anh nồng nàn tha thiết
yêu đương// Có những lúc như thế, chúng ta vỡ ra những những
thuỷ tinh và trong veo như những giọt nước mắt không màu đầy ánh
sáng của tình yêu và bao dung// Em đang yêu anh yêu anh, Song Tử của
em (Chúng ta là một). Đoạn thơ không khai thác rõ những hoạt động tính
dục mà chỉ xoáy vào cảm xúc nhục thể bằng ngôn ngữ tinh tế, giản dị, cho thấy
cái nhìn đa chiều của Như Quỳnh de Prelle khi nói về say đắm của tình yêu. Dù cảm
xúc ào ạt, cháy bỏng hay dịu dàng, kín đáo nhưng có thể nói không một khoảng
cách, ranh giới nào chia lìa được hai người tình. Cấu trúc dạng thơ văn xuôi ở
đây trải dài như mở rộng thêm biên độ của tình yêu, của cảm xúc trong cơ chế vận
động của những thanh âm tha thiết, mê say (che chở, ngưng lại, chui vào, vỡ
ra). Nếu thơ tình yêu Vi Thùy Linh được giải tỏa bằng những cơn xúc cảm bạo
dạn, được dệt bằng “những trận bạo động chữ” thì thơ Như Quỳnh de Prelle lại có
cái riêng khác. Sự mơn trớn, tận hiến được đẩy đến cao trào nhưng vẫn hết sức
tinh tế, chừng mực, vẫn giữ được sự dịu dàng, nữ tính của giới thứ hai. Đó là một
cơn khát thèm vừa có sự nhã nhặn vừa có sự quyết liệt, vừa khơi gợi vừa kiềm chế
được bản năng của người đàn bà đang yêu.
Cô đơn “thuộc phạm trù
cái đẹp”, là cú hích sáng tạo đối với người nghệ sĩ. Chọn con đường thơ ca,
nghĩa là họ đã chọn cho mình một lối đi riêng khác, thậm chí chịu số phận của kẻ
bên lề, phải chịu sự đày ải và những va đập buốt nhói của cuộc sống. Đây là vận
mệnh chung của những kẻ dấn thân vào mê lộ đày ải, sống chết vì nghệ thuật. Đây
cũng là cảm thức chủ đạo, xuyên suốt chặng đường đến với thi ca của họ. Vận mệnh
ấy cũng vin vào Như Quỳnh de Prelle. Bên cạnh những nghiệm sinh về tình yêu,
thơ chị cũng viết nhiều về nỗi cô đơn. Chị cô đơn đến nỗi chốn nào cũng không
tìm được sự đồng cảm, sẻ chia. Nỗi đơn độc như sợi dây định mệnh đeo bám, vấn
vít thơ chị: “nàng lại cô độc/ lại như xưa/ trong những nơi nàng đến
nàng qua và ngồi lại/ chả còn ai mong đợi nàng/ đọc nàng nữa/ chả còn ai còn
ai” (Nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng). Khi đối diện với nỗi
cô đơn, lạc lõng, thơ chị càng đẫm sâu vào nỗi buồn. Nỗi buồn đan từ lớp này
sang lớp khác, ken chật con chữ. Chị sắp xếp và đo độ bền chặt từng nỗi buồn của
chính mình: …buồn không ngớt; nỗi buồn lặn sâu cào xới những rạn nứt; thấm
vào da thịt dòng máu nhiệt đới buồn; em chôn những nỗi buồn vào đá nghìn năm
nguyên vẹn; nỗi buồn thời này chất chứa từ bao đời, từ quá khứ, từ hiện tại và
tương lai chỉ là hy vọng hão huyền cho sự ảo tưởng khốn cùng,… Tại sao
nỗi buồn trong thơ chị rậm đặc, dai dẳng và day dứt như thế? Phải chăng những bất
trắc của cuộc sống đập dội, dồn đẩy chị đến mức phải bung ra, vỡ ra cả trái
lòng mình? Phải chăng nỗi buồn này sẽ là chìa khóa để chúng ta giải mã, thấu hiểu
và đồng cảm với chị qua những ẩn ức đang bật dậy, qua sự tuôn chảy của xúc cảm,
của những ký tự đầy biến hóa?
Bản chất của cuộc sống là
sự va chạm giữa các mặt đối lập. Con người bị ném trong guồng quay ấy, hệ lụy,
cũng chứa nhiều mặt thuận nghịch. Thơ Như Quỳnh de Prelle sử dụng nhiều cặp
tương phản, đối lập (được – mất, ánh sáng – bóng tối, chân thành – dối trá, thực
– ảo, hạnh phúc – khổ đau,…). Những cặp đối nghịch này xây dựng nên sự đa dạng
của gương mặt thế giới và làm rõ tâm thế người đàn bà thơ – hoang mang, chứa đầy
mâu thuẫn:
có lúc nàng hạnh phúc
trên tay với những bó hoa
hồng
có lúc nàng tuyệt vọng
như một đám tang suốt bốn mùa
có lúc nàng nhẹ dạ ngô
nghê trao gửi không hề hấn tiếc chi
có lúc nàng tin
tin vào ngọn cỏ
tin vào sự an nhiên
tin vào sự cô độc
tin vào sự kiếm tìm
(Tuyệt vọng tháng 5)
Vậy nguyên nhân gây nên sự
hoang mang có phải từ chủ thể? Như Quỳnh de Prelle lý giải: “chuyện gì
cũng hoang mang/ vô vọng/ tình yêu vô vọng/ dân tộc vô vọng/ cái chết vô vọng/
niềm tin ở đâu/ ở đâu”? (Tuyệt vọng tháng 5). Thì ra, trong xã hội
này, mọi thứ đều vô vọng. Con người mất hết niềm tin. Nỗi niềm chát đắng, đau
buồn của con người không bao giờ nguôi ngoai: trong căn nhà cổ/ em nhìn
thấy tổ tiên loài người buồn bã/ như những cơn hen kéo dài/ đậm đặc thuốc
men (24h một ngày và 24h/s). Hay một đoạn thơ khác, cuộc đời quá dày đặc
buồn đau, con người cứ quẫy cựa mãi cũng không giải thoát được: buồn
trái tim hẹp/ buồn lý trí ác ôn/ buồn cả cuộc đời/ chả
vui hết ngày/ khi vẫn còn thức/ khi vẫn còn nhịp đập (Nỗi
buồn tháng 4). Cuộc đời mà chị tái hiện, cái tình người quá đỗi mong manh. Bởi
tình yêu cao quý mà tạo hóa ban tặng đâu thể nảy mầm trên cái nền xám xịt này?
Vì lẽ đó, chị cho rằng, nơi “cõi thế mù loà dang dở”, tình yêu
thương bao giờ cũng là của hiếm:
cuống cuồng yêu đương
cuống cuồng hẹn hò
cuống cuồng hờn giận
cuống cuồng điên rồ
cuống cuồng giao hợp
tình yêu thì hiếm hoi
loài người luôn đói khát
sự yêu thương ân cần
(Cuống cuồng yêu)
Đến đây, chúng ta đã hiểu
vì sao thơ chị viết nhiều về nỗi buồn (58 từ buồn/81 bài thơ). Những
nỗi buồn của chị ám ảnh từ ngàn xưa cho đến bây giờ. Nỗi buồn luôn thường trực
trong Song Tử, đúng như cách gọi tên của chị: “những khúc
niệm sinh buồn”. Dấn sâu vào nỗi buồn đau, cô đơn, chúng tôi thấy thơ
Như Quỳnh de Prelle càng sắc, càng chân thực, mang đến luồng gió mới trong cách
nhìn nhận, đánh giá cuộc thế. Chị chấp nhận cơn đớn đau như một phần của cơ thể
trong cuộc nghiệm chứng những bất ổn. Đó là nguyên do để người đàn bà trong thơ
chị muốn “ăn cả vạn vật trên thế giới”, chào đón cuộc sống bằng
con đường khác: nàng muốn ăn cả những lời nói thối tha/ những định
kiến/ chả bao giờ đổi thay lịch sử/ những thấp hèn ti tiện/ nàng sẽ
chết hay tiếp tục tồn tại/ trong thế giới này// sau khi người ta đọc và ăn những
bài thơ của nàng bằng mắt, ý nghĩ/ bằng cách nào đó/ nàng tiếp tục viết/ ăn cả
loài người/ bằng ngòi bút/ trên bàn phím/ trong khuôn hình màn hình của chiếc
Macbook E (Nàng thơ). Nuốt vào cuống họng những mặt trái của xã hội rồi
thực hiện theo chu trình nhào nặn của riêng chị là hành động khá táo bạo. Mong
mỏi đổi thay ấy minh chứng trách nhiệm và lương tâm rất nhân bản của người nghệ
sĩ. Từ chu trình ăn, uống, sa thải của người đàn bà thơ, chúng ta thấy rõ bản
lĩnh mạnh mẽ của chị trước mặt trái của xã hội. Chị còn cho rằng:“trong thế
giới loài người/ trong đồng loại của mình/ tôi nên biết nhiều hơn/ chia sẻ nhiều
hơn/ gặp gỡ nhiều hơn/ viết nhiều hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/
để được mất mát/ đớn đau” (Cuộc thế). Hành động dấn thấn,
nhập cuộc, dâng hiến tận cùng vào bể đời này của chị thật đáng quý, thể hiện bản
lĩnh và tâm hồn của người nghệ sĩ sống hết mình, cháy kiệt cùng cảm xúc vì thơ
vì đời. Thì ra, nỗi đau, nỗi cô đơn đôi khi lại là cơn chấn động đáng quý để
kích hoạt trái tim của người nghệ sĩ.
Tồn tại trong bầu sinh
quyển mà mọi giá trị chuẩn mực của đời sống đều có nguy cơ viêm nhiễm, lệch chuẩn,
liệu con người có thể thoát khỏi nỗi cô đơn, tìm kiếm tự do, hạnh phúc cho
chính mình được không? Và khi mọi giá trị bị đổ vỡ, mất hết điểm tựa, việc con
người rơi vào trạng thái cô đơn, cảm thấy lạc loài, lẻ loi, rỗng không là tất yếu,
là đương nhiên. Lúc này, con người buộc phải chấp nhận sống chung với cõi thế
khủng hoảng, hỗn mang. Vấn đề, trước những hỗn mang ấy, chúng ta phản ứng và
thanh lọc như thế nào? Như Quỳnh de Prelle không chạy trốn. Chị vạch ra những mặt
nạ, những vết mủ ý nghĩ, những định kiến cổ hủ… đang tồn tại, bức tử tự
do: tự do của nàng là tự thân nàng/ nàng sinh ra ở một thế hệ khác, thế
kỷ khác/ sống một thế giới tưởng tượng khác/ của riêng nàng/ đừng áp đặt lịch sử
và không gian với nàng/ nàng bên ngoài tất cả/ nàng chưa bao giờ phải chết đói/
chưa bao giờ phải hấp hối/ đừng nhìn nàng như những định kiến hẹp hòi những
tham vọng tối mù/ của những kẻ tầm thường (Nàng thơ). Chị hiểu tự do
không nằm ở đâu cả mà nó nằm ngay ở cách đặt vấn đề và xử lý của chính bản
thân. Thể hiện tâm trạng cô đơn, lạc lõng, vô vọng, không thể bắt nhịp với cuộc
sống một mặt giúp chị cất lên tiếng nói phản kháng, gửi gắm nỗi bất hòa, mặt
khác thể hiện ý thức, sự lựa chọn hoàn toàn chủ động của người cầm bút. Vậy,
Như Quỳnh de Prelle lựa chọn cô đơn, đón nhận cô đơn để giữ cái tôi, giữ bản
ngã không bị “nhào trộn” cũng là giải pháp kiếm tìm tự do cho chính mình và thực
hiện quyền năng hiện sinh cho thơ ca đấy thôi: “được sống trong một khoảnh
khắc hiện sinh có thật, đó là nàng thơ và quyền năng của nàng thơ” (Thi
ca hiện sinh). Càng rơi vào cô đơn, con người ta càng muốn giải thoát, vùng vẫy.
Và nhất là khi chúng ta làm chủ được nỗi cô đơn thì nỗi khát khỏa lấp càng mãnh
liệt.
Lẽ thường, khi không giải
tỏa được những dồn nén, ẩn ức, con người dễ rơi vào trạng thái hoang mang, nghi
hồ, thiếu hụt niềm tin, thậm chí nghĩ đến cái chết để giải thoát. Tâm hồn người
đàn bà trong thơ chị cũng rơi vào trạng thái chông chênh, bất an, luôn có sự giằng
xé giữa bản năng sống và bản năng chết: “nàng sẽ chết hay tiếp tục tồn
tại”. Nhưng người đàn bà thơ không bỏ cuộc, không xem cái chết là giải
pháp giải thoát bi thương cuộc đời bởi chị luôn biết cách tự đấu tranh với hiện
thực, phủ nhận hiện thực. Do đó, cái chết cũng là một hình tượng nghệ thuật, bộc
lộ thái độ của chị trước những vấn nạn cuộc sống. Cái chết được chị nhắc đến
đâu phải là cái chết u buồn, chấm dứt, đoạn tuyệt với cõi này mà là chết để cứu
chuộc, hồi sinh, mở ra những trang đời mới. Chúng tôi thống kê, có
56 từ chết xuất hiện (trong tổng số 81 bài). Một tỉ lệ khá
cao. Điều này lý giải vì sao những âu lo, bức bối đang chất chứa, thậm chí có
xu hướng chồng lấn trong thơ chị. Những phức tạp, ngột ngạt của cuộc sống và phận
người đắng đót được chị nhìn nhận dưới con mắt dạt dào tình yêu thương và trần
tình bằng cả tấm lòng ấm áp, hi vọng. Chúng tôi xem lời trần tình này là sự đối
thoại nhiều chiều và rất thành công của chị: người đàn bà thơ – anh (tình yêu
và thi ca) – cuộc thế (đời sống và thân phận).
Cuộc sống trong thơ chị
đang ở thì chưa hoàn tất. Mọi dữ liệu đều dở dang, tàn lụi. Đưa ra những “siêu
thị mặt” (tên một bài thơ của Trần Quang Quý) như trên, chị muốn phán xét và sắp
xếp, hoàn thiện thế giới theo một chu trình nhân ái. Trước những “lời
nói thối tha”, những “thấp hèn ti tiện” của thực tại,
chị nghĩ loài người cần có lúc chết đi, để hồi sinh, để vận vào đó chiếc áo mới,
“lành lặn” hơn:
có lúc loài người phải chết
đi để được tồn tại
trong ý niệm của chúng
ta, trở về cái hoang dại thủa xa xưa hay đôi lúc là một loài động vật tự nhiên
trong ý thức thoát khỏi các khái niệm và tư tưởng, con người tự do và lành lặn
hơn dù có khi muốn giết cái gì đó, ai đó trong tưởng tượng, như giết một lời
nói, một ý nghĩ của thú hoang
(Mặt
trời dưới bóng olive già)
Thi sĩ vốn là người sinh
ra đã mang nợ với trần gian, là kẻ chịu lưu đày giữa biển đời biển chữ. Họ hiểu
và cảm nhận được những gì xảy ra xung quanh và hơn cả là họ hiểu được thực trạng
của mình. Mâu thuẫn giữa cái tôi bản thân đời thường với cái tôi sáng tạo giúp
người nghệ sĩ nhận ra chính mình, nhận ra cái bản ngã biệt lạ, riêng khác của
mình. Vậy việc Như Quỳnh de Prelle đi tìm cái chết cho bản thân giữa sự tươi
ròng của không gian và vĩnh cửu của thời gian nghĩa là chị đang bộc lộ khao
khát được sống ở một thế giới khác, sáng và đẹp hơn: “và tôi đi tìm cái
chết của tôi/ trong sự sống/ trong những tái sinh/ nảy mầm/ trong mảnh vườn/
trên ban công/ bốn mùa nắng mưa/ bão táp” (Tôi. Đi. Đến. Nằm xuống). Quan
niệm cái chết như là sự tẩy trần, hồi sinh, chị thấy mình cần phải tiếp tục sứ
mệnh kẻ cầm bút: viết nhiều hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/
để được mất mát/ đớn đau (Cuộc thế). Theo chúng tôi, những cảm xúc trực
hiện, những diễn ngôn không hề đắn đo, do dự, quả quyết tham dự vào mê lộ thế
cuộc này của chị đã xây nên tầng quặng tư duy triết luận và cơn rung-chấn-tình
cho tập thơ.
Sự chuyển dịch, song song
tồn tại giữa sống và chết, giữa ma trận hợp âm thanh thản – day dứt, nhẹ nhàng
– gay gắt, hi vọng – thất vọng, vui – buồn, giữa trò chơi sấp ngửa, trắng đen
chữ nghĩa trong thơ Như Quỳnh de Prelle là một chặng đường không bao giờ về
đích, không bao giờ dừng lại. Những hợp âm ấy là kết quả của sự bung vỡ nội
tâm, của nỗi xót xa trước hiện thực vô cảm, trống rỗng, nhàm chán. Ở cái ngưỡng
chênh vênh, thơ chị đã đưa đến tiếng nói khác biệt và đầy cuốn hút.
Tâm thức lưu đày cũng là
một biểu hiện của sự cô đơn. Tâm thức ấy là tự thân, là máu chảy trong mỗi chữ,
mỗi câu thơ. Đọc thơ Như Quỳnh de Prelle, tâm thức cô đơn, lưu đày được hiện diện
qua những vần thơ da diết nhớ, khát khao trở về, ăm ắp nỗi buồn tha hương “của
người đàn bà ngoài 30 yêu thêm lần nữa/ lần nữa giữa lúc hoang mang/ giữa lúc tột
cùng hạnh phúc/ tuyệt vọng” (Thư tháng 6). Sự thiếu hụt một
tiếng nói, một bàn tay, một món ăn,… cũng đủ làm trái tim chị tê tái, nhức buốt.
Người đàn bà thơ không đòi hỏi nhiều, chỉ cần 1s để nhen ấm bình minh lòng “giữa
mùa đông Châu Âu” mà thôi: “sống nửa đời người nhận ra/ giao thừa tái sinh
nhân loại/ trong 1s/ được là người An Nam 100 phần trăm/ nguyên sơ/ 1s không
hoà nhập thế giới/ tự kỷ trong hình khối của nước mắt trong veo/ 1s để giữ lại
dòng máu vẹn nguyên/ 1s là quê cha đất tổ/ là nén hương không khói nhang/ cho một
linh hồn còn sống” (Giao thừa 16). Khoảnh khắc ngắn ngủi
nhưng yêu thương bỏng nhói như dồn tất cả về đây. Nỗi nhớ cố hương thêm vời vợi,
da diết. Mảnh vườn phơi phới mật yêu chị dành cho anh cũng được hòa quyện, đan
cài với tình quê. Chị chăm chút tình yêu như lòng say mê, nâng niu từng cọng
lá, cành hoa của người làm vườn. Cả hương quê, mùi quê được “cày xới” trên
mảnh vườn đong đầy tình yêu của chị: Em trồng rau muống để nhớ tuổi
thơ/ em từng làm luống trước nhà/ những hàng rau xanh mát// Em trồng rau mồng
tơi để nhớ mẹ già/ và bát canh cua mùa hạ/ mỗi mùa tháng 5 xưa// Em trồng rau dền
đỏ để nhớ bà/ và nồi cá kho niêu đất/ ở vùng biển đầy cói xanh// Em trồng cây
chanh nhỏ để món thịt gà/ không cô độc trên bàn ăn ngày tết (Vườn treo
trên mây). Những ký ức của tuổi thơ, những tình cảm ấm nồng với mẹ, với bà được
tái hiện thông qua các hình ảnh rất gần gụi, thân thiết, chan chứa yêu thương.
Không khí rộn ràng của tết là khoảng lặng đẹp nhất để người con xa quê hơn nửa
vòng trái đất được trở về đầm ấm với gia đình, được an ủi phần nào trong cái
giá lạnh của mùa đông nơi phương xa. Cũng chung cảm thức ngóng vọng cố hương ấy,
ở một bài thơ khác, tình cảm được đẩy cao hơn khi chị nhìn thấy “một
quê hương đầy màu xanh biếc từ chính cõi tâm hồn mình: “buổi sáng thứ 7 làm tôi
nhớ chợ quê ngoại/ trong những ký ức xa xưa còn nguyên/ đôi lúc tôi mở ra/ để
nhìn thấy một khuôn hình nhẹ nhàng trôi qua trôi lại/ một quê hương đầy màu
xanh biếc/ chứa đựng những tần tảo yêu thương vẹn nguyên/ những lần chờ mẹ về
cuối tuần/ trên những con đường chúng tôi đếm khoảng cách xa gần bằng những cây
cột điện” (Thứ 7 của tháng 7). Ở đây, chúng ta thấy, cảm
thức lưu đày không hề rơi vào trạng thái buồn đau, chán nãn, bất lực. Theo
chúng tôi, chính chị đã lấy ký ức tươi đẹp để nhen nhánh lửa lòng, xua tan cảm
giác lạc lõng, bơ vơ nơi đất khách quê người. Cảm thức về quê hương, nhờ vậy,
thêm phần khác lạ, khẳng định, minh chứng được bản lĩnh, nhân cách cao đẹp của
Như Quỳnh de Prelle. Và mấy ai đủ tình, đủ sâu sắc, bản lĩnh để có được ý tưởng
trồng cả quê hương như chị:
Em trồng bí ngô để nhớ
mùa tỏi thơm lừng bên bếp
Em trồng cả quê hương xa
xôi trên vườn treo cùng mây gió
và mặt trời ánh trăng
chan chứa tình yêu
Em trồng cho anh cả tình
yêu đất đai quê hương cày xới mặn mà
(Vườn treo trên mây)
Khoảng cách và sự chia cắt
không làm Như Quỳnh de Prelle đánh mất góc quê tha thiết và thiêng liêng. Dù ở
đâu, chị vẫn làm chủ trái tim mình, tìm về cội nguồn dân tộc. Có thể nói, trong
thơ Như Quỳnh de Prelle, cảm thức lưu đày không phản ánh trạng thái yếu đuối, ủy
mị, bởi vì, tình quê không bao giờ bị bật gốc, không bao giờ có thể xóa bỏ.
Tình cảm ấy đã làm nên vẻ đẹp hiện sinh cho tập Song Tử.
Song Tử của
Như Quỳnh de Prelle tẩy chay mọi ngụy biện và giả tạo. Cứ tuôn chảy, trào sôi tự
nhiên như nguồn nước tinh khiết được cất lên từ lòng đất. Đối với Như Quỳnh de
Prelle, thơ không đơn giản là cuộc chơi của chữ nghĩa, làm đỏm dáng, kênh kiệu
câu chữ mà cái chính thơ chị ngoài việc giải tỏa những dồn nén, ở đó, còn là tiếng
nói thiết thực về những đau buồn, những đổ vỡ, trầm luân của thế cuộc. Để chuyển
tải ý tưởng và cảm xúc đó, chị rất chú ý đến việc giữ gìn và cách tân thơ ca.
Thời đại bàn phím, theo chị, con người hầu hết đánh mất dòng chảy cảm xúc bản
năng, tự nhiên khi sắp đặt mọi thứ theo một lộ trình có sẵn, “nhân tạo”: “Những
bài thơ nhân tạo được sinh ra từ những tình yêu nhân tạo, thời tiết nhân tạo và
không gian sống nhân tạo, cả những cơn ốm nhân tạo để lọc bỏ những cạn bã của một
đời sống dư thừa mùi của máy móc và thông tin” (Thơ nhân tạo). Như thế,
sự xuất hiện những bài thơ nhân tạo báo động sự biến nhịp, lỗi nhịp của tình
người, của đời sống. Ý thức được hậu quả ấy, chị không cho phép ngôn từ thơ
mình “sinh ra từ những cuộc phẫu thuật thẩm mỹ của ngôn từ/ độn chữ/
edit mông,/ sửa vú/ kéo dài chân ra/ để dự thi trình diễn/ giả dối/ sinh ra
trong cơ hội rủi may/ trong những giọt nước mắt dối lừa/ sự hư danh/ tủn mủn và
tắt mắt/ cửa quyền/ quyền của tài năng/ quyền của danh tiếng/ quyền coi thường
người khác/ sống dựa vào hơi danh quá khứ lối mòn” (Thi ca và loài người). Trên
con đường gánh vác cây thánh giá chữ đầy nhọc nhằn, quan niệm về lao động nghệ
thuật của chị thật đáng được chúng ta ngưỡng mộ:
vươn mình lên nghiến những
câu thơ
nhạt như khói bay
để bùng lên khát vọng
yêu quê hương
thứ tình yêu màu mè
khoe mẽ
chả có rung động đớn đau
nào
nhớ nhung như giả vờ
khốn khổ
tha lương
(Chào tháng 3 và những
cái chết trong tưởng tượng)
Chị luôn vươn lên, sẵn
sàng vứt bỏ những tẻ nhạt, tầm thường để sống hết mình với thơ. Hành động nghiến này
rất cần thiết cho sự sống còn của nghệ thuật chân chính. Bởi, tình yêu và niềm
đam mê con chữ phải xuất phát từ sâu thẳm cõi lòng chứ không phải chỉ để phô
trương, cờ biểu rộn ràng. Phải đập vỡ sự nhạt nhẽo, giả tạo bên trong mới mong
kiếm tìm được những rung động đích thực.
Ẩn sau mỗi bài thơ của chị
là một hệ thống hình ảnh ẩn dụ, đầy tính biểu tượng, mang tính khái quát cao.
Ngôn ngữ, hình ảnh thơ khác lạ, độc đáo cứ thế ngồn ngộn quẫy đạp, bứt phá, vượt
qua những gò bó của câu chữ, gợi vẫy nhiều hứng thú. Đặc trưng giản nở của thơ
văn xuôi còn giúp chị bung phá cảm xúc và tình ý, giải phóng những chật chội của
hiện thực đời sống. Khi chị viết về nỗi buồn, có lúc như một ngọn gió chiều nhẹ
nhàng lướt qua, có lúc trào sôi quấy đảo cả bầu trời, có lúc quánh đặc, chà đi
xát lại, tê tái. Giải tỏa về nỗi buồn dấm dứ, dai dẳng, chị có cách nói khá ấn
tượng: “nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng”. Làm sao cạo/xóa/tẩy
hết nỗi buồn về thế cuộc khi chúng tạo sinh quá dày đặc: “nàng đi vòng
quanh thành phố nhỏ bên những ngôi nhà cổ xưa hàng trăm năm/ sao mà thấy cuộc đời
buồn bã/ loài người sống thật ngắn ngủi cho những cơn đau/ cơn đau tình ái/ cơn
đau bệnh đời/ cơn đau của cái chết/ của những sai lầm oán hận/ của đường đi phải
hay trái trước con đường về nhà/ nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng/ sự đớn
đau đang héo mòn của nàng/ tình yêu mồ côi của nàng” (Nắng không thể cạo
hết nỗi buồn của nàng). Không gian trần thế tối tăm, đặt con người trước những
thử thách, phải tự vùng vẫy, tự đấu tranh để tìm lối thoát. Cho nên, nỗi đau đời,
nỗi buồn của người đàn bà thơ cứ dấm dẳng trong thơ chị. Chúng tôi xem đó là nỗi
buồn đẹp, trong sáng, kiêu sa, không bị che phủ bởi các quầng mây đen như chị
đã tuyên ngôn: “nàng thơ, một hình hài cụ thể của một người đàn bà An Nam
bình thường. thi ca của cô ấy kết nối những con người cô độc, chạm vào cõi lòng
đang chơi với, đang kiếm tìm mơ hồ để tiếp tục được sống, được ngẩng đầu lên” (Thi
ca hiện sinh).
Những băn khoăn, trăn trở
của Như Quỳnh de Prelle về nỗi buồn, cái chết, cuộc thế,… trong tập “Song Tử” bật
lên sự sâu sắc và tinh nhạy của một cái tôi đa diện. Xuất phát từ điểm nhìn của
người đàn bà thơ đang yêu nên mọi cảm xúc đều được đẩy đến tận cùng. Ngay cả
cái thế giới bừa bộn kia cũng bị bóc tách theo cơ chế vận hành của tình yêu.
Tình yêu nối kết người với người nhưng tình yêu cũng làm nên lớp ngôn từ hiện
sinh để xóa bỏ, chọc thủng những ý nghĩ nhơ nhớp, đen tối. Nghiệm sinh mọi thứ
qua hình tượng nghệ thuật – anh – Song Tử, chị đã tưới lên mùa Song Tử sự
tươi mới, mạnh bạo nhưng vẫn hết sức chân thành, đậm tính nữ.
Cày ải tư duy và gieo chữ trên cánh đồng nào, Như Quỳnh de Prelle cũng thể hiện sự cởi mở và táo bạo. Khát vọng giãi bày yêu đương của chị hết sức nhân văn. Nó chứng tỏ bản lĩnh cũng như cá tính nữ của chị. Hành trình đi tìm bản thể, hạnh phúc, sự tự do của chị không dừng lại ở một không gian thời gian nào, mà luôn chuyển động. Nếu xem “Thơ vừa là chỗ dừng chân vừa là cuộc hành trình” (R.Gamzatôp) thì chúng tôi xem sự chuyển động tình cảm, sự chuyển động ngôn từ trong tập “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle như một một dòng sông đầy ma mị, luôn ẩn chứa các lớp sóng ngầm, miết mải bồi đắp nên những hình tượng thơ đẹp, mang tính nghệ thuật cao. Với một lối viết đầy cảm xúc, đầy lý trí và đầy ắp phù sa chữ nghĩa như thế, thơ chị không hề mòn vẹt, nhàm chán. Chúng tôi tin, dòng sông thơ của chị không bao giờ đứng yên, luôn vươn tới, khám phá và tận hiến vùng đất mới.
10/2/2020
Hoàng Thụy Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét