Thục Uyên – tiếng thơ buồn của người đàn bà giàu lòng trắc ẩn
Thơ Thục Uyên
là tiếng thơ buồn của một người đàn bà giàu lòng trắc ẩn. Mỗi bài thơ của chị
là biết bao nỗi niềm chất chứa được gửi gắm vào đó. Chị làm thơ từ khi rời
quê hương. Thục Uyên lặng lẽ viết, viết như để giãi bày những gan ruột, những
gì chị nhìn thấy, những gì chị rung cảm, đau xót trước bao thăng trầm, biến cố
của con người và thời cuộc. Do vậy, Thục Uyên đến với thơ không
phải để khẳng định tên tuổi, cũng không phải để mình được danh xưng nhà thơ mà
chị đến với thơ một cách tự nhiên, hồn hậu.
Tìm đến thơ, trải lòng với
thơ đó là cách mà Thục Uyên cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, thư thái
và an toàn nhất. Đến với thơ và coi thơ như một Đức tin tôn giáo, một sự cứu rỗi
tâm hồn. Vì thế, chị sống vẹn toàn với thơ bằng sự hồn nhiên, trong trẻo. Mỗi
câu thơ, bài thơ chị viết đều như trút cả tâm can mình vào đó. Người đọc thấy hầu
như bài thơ nào của chị cũng man mác nỗi buồn. Nỗi buồn đến từ nhiều nguyên
nhân khác nhau nhưng tựu trung vẫn là những nỗi đau đáu hoài niệm về quê hương,
về người thân, về bạn bè và cả những nỗi đau nhân thế.
Nhà thơ Thục Uyên
Hạnh phúc đích thực là
khi con người hướng đến những giá trị tinh thần mang tính nhân văn sâu sắc. Đó
có thể là những điều quá đỗi bình thường, giản dị nhưng đôi khi vì mải mê công
việc, vì nặng nợ áo cơm hoặc cũng có thể vì hiện tại cuộc sống đủ đầy mà có người
đã quên đi quá khứ của những năm tháng khổ nghèo. Với Thục Uyên, nỗi niềm với mảnh
đất quê hương, với bao kỷ niệm một thời lần lượt hiện diện trong thơ của chị.
Con sẽ về thăm lại căn
nhà nhỏ
Ngọn đèn dầu le lói thắp
đêm khuya
Con sẽ về để thấy mẹ hôm
xưa
Lom khom nấu chiều khơi
trong bếp nhỏ
Cơn mưa về trơn ướt đường
đất đỏ
Mẹ loay hoay mớ củi ướt
bên hiên
Khói bếp cay hong mắt mẹ
triền miên
Tuổi thơ con buồn như những
ngày ám khói
Con sẽ về giữa mùa gió nổi
Gió đầu mùa xao xác những
giấc mơ
Gió mênh mông, tan vào
đêm hiu quạnh
Gió âm thầm qua ruộng bắp
xác xơ
Con sẽ về cao nguyên mù
sương khói
Mơ cơm chiều được bên mẹ ấm
êm
Nắng lung linh hoa cà phê
nở trắng
Đàn trẻ đùa trong đất đỏ
lấm lem
Chưa về được nên nghe
lòng quặn thắt
Dáng mẹ ngồi bên bếp lửa
chiều đông
Thương những đứa con lạc
loài đâu đó
Mắt mẹ buồn chạm tới mênh
mông.
Bài thơ Nhớ cao
nguyên là một trong những bài thơ hay của Thục Uyên. Hình ảnh người mẹ
tảo tần, vất vả, hi sinh hôm sớm đã trở thành biểu tượng, trở thành lẽ sống cho
chị. Nhớ cao nguyên là nỗi nhớ bao trùm nhưng mẹ chính là trung tâm của nỗi nhớ.
Ở đó gắn liền với nhiều thứ bình dị, gẫn gũi và đã in đậm trong trí não đứa
con. Người con ấy, dù đã rời xa mảnh đất quê hương, nơi chở che và ghi dấu những
năm tháng đầy ắp kỉ niệm. Nơi có căn nhà nhỏ, có ngọn đèn dầu le lói thắp đêm
khuya, có hình ảnh của mẹ lom khom nấu chiều khơi trong bếp nhỏ. Bao hình ảnh
thân thương lại hiện về, những năm tháng gian lao, khốn khó hiện diện trong tâm
thức của người con. Điệp khúc Con sẽ về được lặp đi lặp lại 4
lần. Đó là nỗi mong chờ da diết của một đứa con xa quê muốn được trở về mảnh đất
nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn với bao ký ức niềm thương mà con và cả gia đình
đã trải qua. Cơ bản là những chuỗi dài buồn, nỗi buồn được chắt lắng và trở
thành nỗi ám ảnh, day dứt. Vùng đất khắc nghiệt: nắng – gió – mưa – bão nên con
người phải luôn chống chọi với thời tiết bất thường này. Vùng đất ấy đã trở
thành nỗi nhớ, niềm thương, nỗi nhung nhớ không thể nguôi ngoai trong tâm khảm
của một người đứa con (giờ đã đứng tuổi) xa quê nhưng lại rất nặng nợ với quê
nhà. Nhà thơ tự thức:
Tôi đã mất mùa xuân từ daọ
ấy
Từ thuở đời tao loạn buổi
chia ly..
Thân trôi nổi với chợ đời
cơm áo
Dám mong gì xuân đến với
xuân đi!
Hai mấy năm xuân về trên
đất lạ…
Luôn nhớ về mùa xuân tuổi
ấu thơ
Dòng sông kia có ngược về
dĩ vãng
Chuyên chở cho tôi mùa
xuân cũ đợi chờ.
Tha thiết và gắn bó với
quê hương, với cuộc đời nên nhà thơ Thục Uyên đã có rất nhiều bài thơ hay viết
về đề tài này. Có thể kể ra một số bài như: Soi bóng cội nguồn, Kinh
khổ, Tìm mãi mùa xuân, Những cơn gió cuối mùa, Em đi, Này
em có nhớ, Từ lúc em đi, Nhớ Huế, Nhớ cao nguyên, Những sợi buồn… mà
khi đọc, người đọc sẽ không thể nào không nghĩ suy, không day dứt. Đặc biệt là
những người con xa xứ nhưng trong trái tim vẫn luôn hướng về nơi cội nguồn sinh
dưỡng, nơi chứa đựng không biết bao nhiêu mối ân tình.
Thơ Thục Uyên đọng lại
trong tâm hồn người đọc bởi những liên tưởng phong phú, tứ thơ lạ cùng với những
hình ảnh mang tính biểu trưng. Ngôn ngữ thơ tự nhiên nhưng chứa đầy cảm xúc, bộc
lộ được bản sắc cá nhân – đó là một hồn thơ trữ tình da diết, đau đáu nỗi đời,
nỗi người. Thơ chị là tiếng lòng của một người phụ nữ đầy bao dung và giàu lòng
nhân ái. Những kỷ niệm thường trực thao thức tạo nên những dòng chảy bền bỉ vừa
thực, vừa mang nét u huyền. Đôi lúc là nỗi đau, sự u uất, nghẹn ngào của nhà
thơ.
Em đi là
một trong số những bài thơ ấn tượng của Thục Uyên. Ở đó trùng điệp những nỗi buồn.
Lời thơ nhẹ nhàng nhưng nó như vết dao cắt cứa vào tâm can, giăng mắc vào lòng
người bao nhiêu câu hỏi. Nhà thơ đã trải qua những năm tháng thăng trầm, nhiều
mất mát, tổn thương và vốn là người nặng tình nên điều gì cũng làm cho chị trăn
trở, day dứt.
Gió vẫn phất phơ chiều
đông muộn
Nắng võ vàng thấp thoáng dáng em
Lũ chim trắng u hoài như phế tích
Vỗ cánh buồn luyến nhớ dấu chân êm..
Nắng bàng hoàng hôm em xa
vắng
Đường em đi ngơ ngác lối rẽ hai ..
Chiều hôm đó ngập tràn hoa lau trắng
Nắng rất vàng sao hiu hắt tàn phai..
Lối em đi rừng xưa đã
khép
Màu lá xanh chia biệt buốt cô đơn
Em chỉ còn phôi pha như ký ức
Trăng lụi tàn tan tác giấc mơ đêm..
Em đã về chưa con ngõ vắng?
Dốc mơ cao, mùa cỏ úa hoang vu…
Tiếng gà gáy vọng trong trưa nắng
Em có còn thương nhớ tiếng mẹ ru?
Em đã xa, mịt mù như bóng
tối ..
Như loài chim vỗ cánh dị kỳ
Chỉ hiển linh trong cạn cùng nỗi nhớ..
Mất dấu rồi biền biệt cánh thiên di!
Thục Uyên miên man trong
ký ức về những câu chuyện thuở thiếu thời, về những năm tháng khổ nghèo nhưng sống
trong tình yêu thương đầy ắp. Vùng quê chị đã sinh ra, lớn lên và gắn bó thuở
nào (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Lâm Đồng) giờ đã trở thành không gian hoài niệm
vĩnh cửu.
Vì thế, trong thơ Thục
Uyên tứ thơ phần nhiều bắt nguồn từ nỗi nhớ: tôi đi tìm mãi trong
màu nhớ, tôi đi tìm lại một mùa xuân, Bao giờ
nhớ Huế về thăm Huế, Bước người xa thầm lặng mỏi mòn, em
giờ xa xôi quá, Đất mẹ gầy ôm ấp cả tuổi thơ, màu
kỷ niệm ươm vàng nỗi nhớ, Từng đêm về giấc mơ đời vụn vỡ, Em
có còn thương nhớ tiếng mẹ ru? Tôi đã mất mùa xuân từ daọ ấy…
Nỗi buồn giăng mắc vào cả
không gian và thời gian, Thục Uyên chỉ biết trải lòng mình bằng những giọt buồn
xốn xang của một trái tim đa cảm.
tôi đi tìm mãi trong
màu nhớ/ ô, nắng xuân về dọi thiết tha / xuân vẫn đến mùa vui không về
nữa/ nỗi nhớ xuân heo hút đến phôi pha (Tìm mãi mùa xuân).
Đêm nghe gió thì thầm
đâu đó
Tiền kiếp nào dắt
lối buồn thiu
Sương từng giọt rớt
trong tan vỡ
Đêm dịu dàng đưa tay
nắm quạnh hiu
Đêm che khuất vầng
trăng khuyết tật
Nghe linh hồn thoát kiếp
giấc mơ
Nghe tiếng đá thở dài
mệt nhọc
Tiếng chim kêu thảng
thốt bơ vơ
(Tiễn biệt)
Nhà thơ khao khát trở về
những năm tháng của tuổi thơ vô tư, hồn nhiên như cỏ cây hoa lá. Điều ước ấy tưởng
đơn giản nhưng không thể thực hiện được khi mọi thứ đã đổi thay và thời gian đã
không cho phép. Bởi tuổi già đã ập đến và đặc biệt hơn đó là khoảng cách về mặt
không gian xa tít mù khơi!
Nhà phê bình Nguyễn Văn
Hòa
Tình thương và sự sẻ chia
đã xây nên những vần thơ chân thành, mộc mạc mà giàu tình nghĩa. Lòng quặn đau
khi nhà thơ chứng kiến nhiều hoàn cảnh, mảnh đời bất hạnh. Đó có thể là cảnh ngộ
của cô gái Việt sống tha hương nơi đất khách:
tháng mười hai
đàn sẻ nhỏ thèm rúc
vào hang ổ
sợ những ngày khắc
nghiệt mùa đông
sợ đường bay tuyết rơi
trắng xóa
sợ những lúc bão
giông…
là tháng cuối trong
năm
em trộn lẫn với dòng
người xa lạ
giữa đám hàng Giáng
Sinh sáng chóa
rực rỡ sắc màu
dáng em thu nhỏ
đôi mắt buồn ẩn số Á
Châu…
(Tháng mười hai)
Này em người con gái
da vàng
Số phận khắc ghi em
bằng sắc tố
Dòng máu Việt Nam da
vàng ôi khốn khổ
Chạy lang thang khắp
mặt địa cầu
Có những chiều ảo não
tiếng đàn bầu
Những cánh chim tựa
vào nhau xơ xác
Những ngày vui quê
hương ơi xa lắc
Còn được không về soi
bóng cội nguồn?
Em chưa lớn lên sao đã
biết buồn
Ước mơ đi qua tủi hờn
rất thật
Vị mặn trên môi, vị
sầu lên mắt
Lịch sử ngậm ngùi
đắng ngắt tuổi thơ
Tới xứ người những
khuôn mặt ngây ngô
Miệng khờ khạo vài ba
câu sinh ngữ
Bập bẹ áo cơm, thuộc
lòng năm ba chữ
Nguôi ngoai không, đêm
viễn xứ đầy sao..
Phi cơ lướt bánh trên phi
đạo
Nghiến tái tê rách nát
mặt đường
Mẹ rưng rưng nhìn con tiễn
biệt
Em nhớ rằng em có một quê
hương …
(Này em có nhớ)
Bao nhiêu câu hỏi đặt ra
về kiếp người, lẽ sống, niềm tin, sự hạnh phúc – khổ đau… của những cô gái da
vàng đang mưu sinh ở hải ngoại. Càng xót xa hơn là những cô gái Việt Nam lấy chồng
ngoại quốc, “sang sông” rồi từ đó biền biệt không về!
Sang sông hôm ấy đò đưa/
Hương cau ngan ngát, bến xưa mẹ buồn/ Em cười vén vạt áo hường/ Con đi dăm bữa
về thường mẹ yêu !
Em ngoan xinh đẹp mỹ miều../
Mắt thơ ngây, dáng yêu kiều thướt tha/ Đàn em nhỏ chạy ra xa/ Níu lấy tay chị ở
nhà với em…
Vậy là bao buổi chiều êm/
Nhà vắng bóng chị buồn tênh mẹ ngồi…/ Mâm cơm chiều đã dọn rồi/ Cha ngồi chống
đũa mắt trôi phương nào…
Bến sông chiều ấy lao
xao/ Nước như phẳng lặng sóng trào rẻ đôi…/ Xác xơ nhánh lục bình trôi/ Em trôi
trôi mãi… bên đời quạnh hiu !
Mẹ buồn gói hết thương
yêu/ Ôm con trong mộng, lưng chiều sao sa…/ Mẹ ơi đừng gả con xa (*)/ Chim kêu
vượn hú biết nhà mẹ đâu?
Giấc mộng đổi đời, “sính”
lấy chồng ngoại quốc để rồi biết bao cô gái phải “sập bẫy”. Ở phương trời xa, họ
mòn mỏi được trở về nhà, về quê hương nơi có mẹ cha, gia đình, bè bạn nhưng tất
cả đều vô vọng. Đau đớn. Buồn tủi. Nhục nhã. Ê chề…
Khi biết tin người bạn trẻ
không may mắc bệnh hiểm nghèo, trái tim đa cảm của chị lại nhói đau. Bằng việc
sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ và nhân hóa, chị đã khéo léo gửi gắm rất nhiều
điều vào bài thơ Kinh khổ.
Có những ngày lòng buồn
như lá úa
Lay lắt trên cành đợi gió
thu phai
Lá vẫn xanh sao gánh nhiều
oan trái
Hành trình nào mờ mịt dấu
tương lai ..
Em lớn lên giữa những mùa
lúa chín
Đồng ruộng xanh xanh ngát
ước mơ
Cánh diều bay chập chùng
cơn viễn mộng
Đất mẹ gầy ôm ấp cả tuổi
thơ…
Rồi một buổi bão về cơn
sóng dữ
Cắn chặt môi chua xót nỗi
đau thương
Từng đêm về giấc mơ đời vụn
vỡ
Hồn tả tơi xơ xác những đấu
trường …
Định mệnh nào
giữa trùng trùng gươm
giáo
Cánh chim buồn tha thiết
níu trời cao
Đêm từng đêm lời nguyện cầu
vang vọng
Gởi ước mơ lên tới những
vì sao…
Hay sự ra đi của những
người thân yêu, ruột thịt làm cho Thục Uyên hụt hẫng, bàng hoàng. Chị thấm thía
sự mất mát của đời người. Dẫu biết rằng đó là quy luật tất yếu. Điều quan trọng
không phải là những tháng ngày tồn tại dài hay ngắn mà ý nghĩa của cuộc sống –
giá trị của con người mới là điều đáng lưu tâm. Sự sống – cái chết dưới cái
nhìn đầy nhân văn, với sự liên tưởng, so sánh độc đáo, nhà thơ đã làm sáng tỏ ý
nghĩa triết mỹ của nó.
Thục Uyên đã vận dụng
sáng tạo các biện pháp nghệ thuật để tạo ra những dòng thơ ẩn chứa nhiều ý
nghĩa sâu xa. Ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và tương phản là những phương thức được
nhà thơ chú trọng.
Em đợi mưa về mưa tháng bảy/
Bớt héo khô những ngọn cỏ lưu đày/ Lũ chim biệt xứ thôi nhớ tổ / Dấu hạ buồn
trên những cánh bay (Những sợi buồn).
Biển vẫy gọi những bến bờ
xưa cũ/ Cánh buồm nào căng gió nhớ bến mơ ?/ Hàng dừa xanh lả ngọn cười soi
bóng/ Vật vờ trong nỗi nhớ đã tàn tro…(Biển nhớ).
Ta nhớ lắm bạn bè và lớp
học./ Phấn trắng bảng đen cùng các cô thầy/ Ta đau xót tuổi hoa niên dang dở/ Số
phận mang ta xa tít tắp chân mây…
Chiều đã xuống về thăm
dòng sông cũ./ Nơi ta về một nửa đã cạn khô./ Một nửa dòng kia đang chảy lặng lờ/
Sa mạc trong hồn nuối tiếc tuổi ngây thơ…
(Về thăm Quảng Ngãi)
Thục Uyên không bao giờ dừng
lại ở những cảm xúc bề ngoài mà luôn đi vào bên trong để khám phá, phát hiện bản
chất của vấn đề. Từ đó, chị nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, tình người một
cách sâu sắc. Nhà thơ suốt đời kiếm tìm hạnh phúc trong những trăn trở và suy
tư. Nhưng giữa sâu thẳm của dòng thời gian, hạnh phúc vĩnh viễn chỉ là một niềm
mơ ước.
Các hệ từ chỉ sự buồn
đau, xa vắng, chia ly… được nhà thơ sử dụng dày đặc. Không khó để bạn đọc nhận
ra các từ như: lưu lạc, bơ vơ, buốt lạnh, vụn vỡ, lịm tắt, đọa đày, nhạt
màu, điệu buồn, hiu hắt, đơn côi, mịt mù, hỗn mang, truân chuyên, đổ vỡ, xác
xơ, chông chênh, loang đong, u uất, vỡ nát, mịt mùng, vết đau, bạc bẽo, rụng
rơi, tái tê, tao loạn, nghiệp, nợ, nỗi sầu, xót xa, ngàn trùng, trầm luân, mỏi
mệt, tro bụi, âm u, tan hoang, ngơ ngác, nổi trôi, quạnh hiu, khóc, lao đao, đa
đoan, chua xót, băng giá, lâm chung, thoi thóp, tan tác…
Trong hành trình sáng tạo,
Thục Uyên viết về cái tôi bản thể có lẽ là những vần thơ sinh động và để lại
nhiều dư âm nhất trong lòng độc giả. Bởi ở đó, chị đã bộc bạch, giãi bày thành
thật nhất, rõ ràng nhất những điều sâu kín của tâm hồn. Đâu đó có tiếng nấc nghẹn
vì buồn tủi, tiếng thở dài của những ước vọng không thành, những giọt nước mắt
vọng lại từ nỗi đau còn mới nguyên hay cả những tiếc nuối xa xôi ngỡ như đã ngủ
yên.
Người hỏi tôi khi nào về
cố xứ ?
Đến khi nào mỏi mệt cánh
thiên di !!
Mưa vần vũ trên bầu trời
u ám
Mây cũng bẽ bàng với cuộc
chia ly…
Yêu ca dao từ khi “trăng
là nguyệt..”
Yêu truyện Kiều từ thuở rất
ấu thơ…
Nhớ tha thiết tiếng rao
hàng cuối phố
Chợ nhóm xôn xao trong cả
giấc mơ…
Chim bạt gió từ khi xa tổ
ấm
Cánh bôn ba đời cơm áo
tha phương …
Thân phiêu bạt vẫn nhớ miền
đất hứa
Nữa linh hồn đã để lại
quê hương.
(Cánh chim Việt)
Thơ Thục Uyên chứa nhiều
gam màu trái ngược, nỗi buồn xuyên suốt nhưng không phải là sự tuyệt vọng mà đó
là những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc sống, về tình đời, tình người. Hiện tại –
Quá khứ – Tương lai đan cài vào nhau và mở ra nhiều không gian khác đã làm cho
tâm hồn thi sĩ tha hương như chị luôn khắc khoải, buồn thương và cả sự xót xa
khi nhớ về quê cha đất Tổ. Giọng thơ Thục Uyên vừa tâm tình, thủ thỉ, vừa trữ
tình sâu lắng và cũng không kém phần cay đắng xót xa. Từ sắc thái, giọng điệu
thơ; người đọc có thể hình dung ra hình ảnh của thi nhân. Đó là một đứa con của
tình yêu quê hương sâu đậm, lặn sâu vào thân phận dân tộc mình, bản thể mình để
suy tư, để nghiệm sinh về bản thể đời sống, con người.
Phú Yên, 7/1/2020
Nguyễn Văn Hòa
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét