“Thập tải phong trần” và tư tưởng nhân văn trong những bài thơ chữ Hán viết về người đẹp tài hoa của Nguyễn Du
Trong sự nghiệp văn chương Nguyễn Du, bên cạnh tuyệt tác Truyện Kiều, thơ chữ Hán của ông cũng luôn có sức “vẫy gọi” người đọc bởi giá trị nhân văn đặc sắc. Nguyễn Du – một nhà Nho dù sống trong sự kiềm tỏa ráo riết của tư tưởng phong kiến, nhưng bằng sự tinh tế của một tâm hồn thấu đến “sáu cõi hồng trần” đã thấu hiểu và cảm thương sâu sắc thân phận đàn bà và đặc biệt những “khách má hồng” vốn tài hoa, xinh đẹp nhưng chịu bao nỗi truân chuyên…
1. Năm 1786, Nguyễn Huệ
ra Bắc Hà nêu danh phù Lê diệt Trịnh, nhiều trí thức phong kiến không hợp tác với
Tây Sơn và trốn chạy, lưu lạc khắp nơi. Nguyễn Du là một trong số những người
dám dấn thân bởi hai chữ “trung quân” và ông đã chấp nhận một cuộc sống “lưu
đày” trên chính quê hương vợ – miền đất Hải An (tỉnhThái Bình) nghèo khó nhưng
nặng nghĩa sâu tình. Trong niên biểu cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du, mốc
thời gian Nguyễn Du ở Thái Bình (từ 1786 – 1796) được nhiều nhà nghiên cứu coi
là giai đoạn “thập tải phong trần” (mười năm gió bụi) của Đại thi hào. Sở dĩ
nói như vậy bởi đây là một chặng đường Nguyễn Du phải sống nơi quê người với cuộc
sống đau bệnh, khó khăn, khắc khoải âu lo thời loạn lạc. Nhiều bài thơ
trong Thanh hiên thi tập(U cư – bài 1; U cư – bài 2; Thu chí; Tự
thán…) cho thấy rõ bi kịch nội tâm của một trí thức phong kiến đầy hoài bão
nhưng do thời cuộc đổi thay, phải sống nhốt mình trong chốn “U cư” nhàm chán,
vô vị: “Thập tải phong trần khứ quốc xa, Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia.
Trường đồ nhật mộ tân du thiểu, Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa…” (U Cư –
Bài 1) Dịch: “Mười năm gió bụi quê xa/ Phơ phơ tóc trắng nương
nhà của ai/ Trời chiều bạn ít đường dài/ Mùa xuân bệnh cũ rét cài một
gian…” (Ở nơi vắng vẻ – Bài 1); Hình ảnh một nhà nho buồn chán
vì bế tắc không làm gì được cho mình, cho đời trở đi trở lại nhiều lần: “…Trù
trướng lưu quang thôi bạch phát, Nhất sinh u tứ vị tằng khai.” (Thu Chí) Dịch:
“Buồn ngày trôi tóc bạc phơ/ Một đời ngẫm nghĩ bao giờ gỡ ra.” (Mùa
thu đến); Và Nguyễn Du cũng hay than trách cho sự nghiệp của mình còn long đong
hoặc cho rằng những khó khăn mình đang chịu đựng là do trời đất phú cho: “Sinh
vị thành danh thân dĩ suy, …Thiên địa dữ nhân truân cốt tướng.” (Tự Thán –
Bài 1).
Từ những áng văn chương
ký thác niềm tâm sự của Nguyễn Du, chúng ta thấy rõ “thập tải phong trần” (mười
năm gió bụi) trên đất Thái Bình là giai đoạn mà cuộc đời ông chịu nhiều cơ cực,
dằn vặt cay đắng… “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” (Truyện Kiều) đã thấm
sâu trong tiềm thức Nguyễn Du, và phải chăng lớp lớp những “ẩn ức” đã
làm nên “dự phóng” sáng tạo nghệ thuật sau này của Đại thi hào? Và đây
cũng chính là vấn đề cần luận giải rõ để bạn đọc văn chương nhiều thế hệ hiểu
hơn vì sao Nguyễn Du – một Con Người tài hoa, sinh ra và được nuôi dưỡng trong
bầu khí quyển của giai cấp quý tộc phong kiến, từng sống cuộc đời phong lưu
công tử ở chốn đế đô Thăng Long lại có thể để lại cho đời sau nhiều trang văn
thấm đẫm yêu thương, nhân ái, trân trọng với những kiếp người hèn mọn, đặc biệt
là những người đẹp, tài hoa,nhưng yếm thế, bị vùi dập tàn bạo bởi nhiều bất
công phi lý của xã hội.
Bài viết này chúng tôi tập
trung luận giải vấn đề tư tưởng nhân văn trong những bài thơ chữ Hán viết về
người đẹp tài hoa nhưng “phận mỏng” của Nguyễn Du để từ đó phần nào thấy cuộc đời
phức tạp sóng gió, đặc biệt là “thập tải phong trần” (mười năm gió bụi) trải
nghiệm nhiều đau khổ của Nguyễn Du là cơ sở quan trọng, giúp bút lực Nguyễn Du
thêm sắc sảo và để lại cho hậu thế những thi phẩm độc đáo với giá trị nhân văn,
nhân bản sâu sắc, đồng hành cùng bao thế hệ bạn đọc qua năm tháng…
2. Khảo sát thơ chữ Hán của
Nguyễn Du, ta thấy số lượng bài viết về đề tài phụ nữ không nhiều và số bài viết
về người phụ nữ vừa đẹp, vừa tài lại càng ít hơn. Trong tổng số 250 bài chỉ có
khoảng 5 bài nhắc đến phụ nữ. Họ có thể là một bà phi, một cô hầu, một cô bé
ngây thơ hay một kỹ nữ… Tuy hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp, tài hoa xuất hiện
trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du không nhiều nhưng sự xuất hiện của họ để lại ấn
tượng và sự ám ảnh khôn nguôi trong lòng người đọc. Đó là nàng Tiểu Thanh
trong Độc Tiểu Thanh ký, là cô Cầm trong Long Thành Cầm giả
ca, là người ca nữ đất La Thành trong Điếu La Thành ca giả.
Chúng tôi đồng ý với ý kiến
của nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là những thi phẩm bộc lộ rõ nỗi thương
xót chân thành của tác giả về kiếp người bất hạnh, nhất là những phụ nữ khổ
đau, bị vùi dập trong xã hội phong kiến. Song, ở những bài thơ trên theo chúng
tôi còn ẩn chứa nhiều thông điệp nghệ thuật mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Không dừng lại ở chỗ chỉ miêu tả, than vãn, thương cảm cho hoàn cảnh sầu thảm,
bi đát, khốn cùng của những người phụ nữ đẹp, tài hoa hơn người mà đồng
thời với việc tái hiện bi kịch cuộc đời của họ Nguyễn Du luôn bộc lộ thái độ
trân trọng, nâng niu nhan sắc và tài năng của người phụ nữ. Trong thi phẩm
của Nguyễn Du người đọc hôm nay có thể nhận thấy ông luôn đề cao vấn đề dân
chủ, bình đẳng đối với phái đẹp. Phải chăng vì thế, những bài thơ chữ
Hán của Nguyễn Du viết về người đẹp là những bài thơ hay nhất trong di sản thơ
chữ Hán của ông. Bởi mỗi bài thơ đều lắng sâu những suy tư, trăn trở của Thi
nhân về thân phận con người bị đọa đầy trong một xã hội mà mọi giá trị đều bị đảo
lộn.
Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn
Du chúng ta thấy nàng Tiểu Thanh trong Độc Tiểu Thanh ký, cô
Cầm trong Long Thành Cầm giả ca, người ca nữ không tên đất La Thành
trong Điếu La Thành ca giả mỗi người mang một vẻ đẹp
khác nhau. Chỉ qua một vài nét chấm phá, vẻ đẹp ngoại hình của những người
phụ nữ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du hiện lên thật quyến rũ. Đó là vẻ đẹp phong
nhã, kiêu sa, trong sáng ở cô Cầm đang độ tuổi hoa niên:
Áo hồng ánh lên mặt hoa
đào/ Má hừng rượu, vẻ ngây thơ, rất dễ thương
(Long
Thành Cầm giả ca)
Hay vẻ đẹp vừa e ấp, vừa
rực rỡ, cuốn hút, rung động lòng người ở người ca nữ La Thành
Như cánh hoa thắm từ
cõi tiên xuống/ Sắc đẹp uyển chuyển làm rung động cả sáu thành.
(Điếu
La Thành ca giả)
Còn
nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du chỉ nhắc đến hình ảnh “Tây hồ hoa uyển” cũng
làm người đọc mấy trăm năm sau xúc động, nhớ đến một vẻ đẹp phong lưu, ngọc
ngà, kiều diễm được lưu truyền trong dân gian như huyền thoại. Thế
nhưng những người phụ nữ tài hoa ấy có khi nào được sống hạnh phúc (!)
Có một vấn đề gần như là
quy luật của muôn đời của cuộc sống đó là người đàn bà đẹp thường hay gặp gian
truân, thiếu may mắn. Vì vậy, đã xuất hiện trong nhân gian những cụm từ “hồng
nhan đa truân”, “hồng nhân đa đoan”, “hồng nhan bạc mệnh”…điều này
như một tâm thức hiện sinh ám ảnh biết bao người, nhất là đối với phụ nữ.
Người đẹp đã thế, người đẹp mà tài hoa còn bị kịch hơn nhiều…Trong xã hội xưa họ
bị lệ thuộc vào người khác theo những nguyên tắc lễ giáo khắc nghiệt đến phi lý
của tư tưởng Nho giáo: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”;
người phụ nữ hoàn toàn không chủ động được cuộc sống của mình, họ không có quyền
lựa chọn cho mình cách sống, cách ứng xử, hay thậm chí là không có quyền làm chủ
thân xác và tâm hồn của mình. Nhiều khi nhan sắc của phụ nữ bị biến thành một
trò mua vui, một thứ tiêu khiển của những kẻ lắm tiền nhiều của hay một phương
tiện để mua quan bán tước của những kẻ có quyền hành trong xã hội. Thế nên, những
người phụ nữ đẹp, tài hoa đã trở thành một lớp người đặc biệt trong xã hội. Họ
được gọi là đào nương, ả đào, cô đào (điều này lý giải vì sao những người đẹp
trong các tác phẩm của Nguyễn Du và một số tác giả khác đa số đều là kỹ nữ).
Trong khi xã hội coi khinh vai trò của người phụ nữ, nhất là những mỹ nhân thì
Nguyễn Du đã cảm nhận nhan sắc của những người phụ nữ mà ông tình cờ gặp gỡ
trong cuộc đời với một tấm lòng trân trọng, nâng niu. Những phụ nữ mà Thi nhân
không hề quen biết đã lưu lại trong cảm thức của ông những nét đẹp độc đáo – đó
là vẻ đẹp thiên phú mà không phải ai cũng có. Khác với nhiều nhà nho
trong xã hội đương thời, Nguyễn Du không coi vẻ ngoài của phụ nữ là thứ mua
vui, tiêu khiển, ông coi nhan sắc của người phụ nữ như là một giá trị, một
nhân vị. Vì vậy, vẻ đẹp của họ qua cảm thức của Nguyễn Du thêm
phần lung linh lộng lẫy. Điều đó xuất phát từ sự trân trọng, ngưỡng mộ và cảm
thông của ông đối với những mỹ nhân, tài hoa nhưng “phận mỏng”. Qua cách đặc tả
của Nguyễn Du, chúng ta nhận thấy ông coi nhan sắc của những người phụ nữ
như sự kết tinh của văn hóa – họ là những mỹ nhân mang vẻ đẹp bí ẩn, thấm
đẫm hồn cốt văn hóa phương Đông: vừa e ấp, dịu dàng vừa rực rỡ, cuốn hút, quyến
rũ đến mê hồn (Quan niệm này nhất quán trong tất cả các sáng tác cả chữ
Nôm và chữ Hán của Nguyễn Du mà Truyện Kiều là đỉnh cao nhất –
C.T.H).
Dù Nguyễn Du hiểu chính
ông cũng rơi vào cảnh ngộ “lực bất tòng tâm”, không thể làm gì để giúp những kẻ
“hồng nhan” tránh được kết cục “bạc phận” nhưng như một lẽ tự nhiên, sức mạnh của
tình yêu thương vô hạn đối với con người vốn thường trực trong ông đã giúp ông
vượt qua trường thành kiên cố, nghiệt ngã của hệ hình tư tưởng phong kiến. Thi
nhân đã bày tỏ thiện chí, thể hiện thái độ vô cùng trân trọng nâng niu vẻ đẹp
mong manh của những kẻ hồng nhan, dẫu họ chỉ là những người thuộc tầng lớp “dưới
đáy” của xã hội, là những kiếp người hẩm hiu, thấp cổ, bé họng, luôn bị đọa
đày, khinh rẻ. Và qua mấy trăm năm đã minh định: với cảm quan thẩm mỹ tinh tế,
với trái tim nghệ sĩ đa tình Nguyễn Du đã thành công trong việc bất tử
hóa cái Đẹp bằng nghệ thuật. Vẻ duyên dáng, kiêu sa, quyến rũ mê hồn của cô
Cầm, nàng Tiểu Thanh, và ca nương đất La Thành… mãi mãi được tôn vinh trong tâm
thức văn hóa của nhiều thế hệ bạn đọc khi tiếp nhận thơ Nguyễn Du. Bởi lẽ muôn
đời nay, trong sự phát triển của nhân loại, ở những xã hội mà tư tưởng nhân văn
được đề cao thì đối với phụ nữ, nhan sắc bao giờ cũng là một trong những
giá trị quan trọng nhất, là thứ “của cải” tinh thần quý giá, nó không chỉ
là niềm hãnh diện, tự hào mà còn là cội nguồn mang đến sức mạnh, sự tự tin để
phụ nữ luôn được sống là chính mình, khẳng định mình trên hành trình hướng
đến chân trời ánh sáng văn minh, tiến bộ của nhân loại.
Song, những người phụ nữ
chúng ta bắt gặp trong thơ Nguyễn Du không chỉ đẹp ở ngoại hình, họ còn là những
phụ nữ mang vẻ đẹp nội tâm, là những người thực sự có tài năng nghệ thuật.
Mỗi người có một tài riêng: Tiểu Thanh có tài thơ, cô Cầm có tài đàn, cô gái đất
La Thành có tài ca hát. Và đặc biệt, tài năng của những người phụ nữ này trong
cái nhìn của Nguyễn Du luôn là tài năng xuất sắc hơn người. Câu
danh ngôn “Sự thông minh và tinh tế ở người đàn bà là thứ nhan sắc không
bao giờ tàn phai”, có lẽ rất xứng đáng dành tặng cho những người đẹp trong thi
phẩm của Nguyễn Du.
Xưa nay, khi bàn về trước
tác của Nguyễn Du, nhiều học giả cho rằng chính những bài thơ chữ Hán của Thi
nhân đã cho hậu thế thấy phần sâu kín nhất trong tâm tư tình cảm của ông. Chúng
tôi cho rằng nhận xét trên là hoàn toàn xác đáng. Tuy nhiên xem xét những bài
thơ chữ Hán của Nguyễn Du về đề tài người đẹp, thiết nghĩ cần phải bàn rộng
thêm một số giá trị khác như bên cạnh tiếng lòng xót thương thân phận người phụ
nữ thì tiếng nói thể hiện quan niệm về quyền dân chủ, bình đẳng cho
họ đã hiện diện trong thơ Nguyễn Du như thế nào?
Bài thơ Độc Tiểu
Thanh ký của Nguyễn Du từng gây ra nhiều tranh luận nhất là về vấn đề
tư liệu và hướng nghiên cứu. Để hiểu bài thơ này người đọc thường phải gắn
nó cùng câu chuyện như một huyền thoại về cuộc đời của một giai nhân họ Phùng
tên Tiểu Thanh mà chúng ta đã từng biết. Như vậy, khác với cô Cầm và ca nữ đất
La Thành là những người sống cùng thời, Nguyễn Du từng gặp đó đây trên mọi nẻo
đường, Tiểu Thanh là người đẹp mà Nguyễn Du chỉ được ngưỡng vọng qua trang
sách. Ở đây không nên quá quan trọng việc xem xét Tiểu Thanh có thật hay không
có thật, sống trước Nguyễn Du ba trăm năm hay mấy trăm năm như nhiều người đã
tranh luận, theo tôi bi kịch của nàng Tiểu Thanh chỉ là cái cớ nghệ thuật
để Nguyễn Du giãi bày quan điểm của ông về kiếp người mong manh trong cõi trần
ai đầy bất trắc, nhất là thân phận của những người phụ nữ vừa có nhan sắc vừa
có tài năng. Nguyễn Du tưởng nhớ Tiểu Thanh và ngưỡng mộ nàng là
bởi nàng đoan trang, kiều diễm, cao quý, ngọc ngà, nhưng hơn hết còn bởi nàng
là một phụ nữ thông minh, thơ phú tài hoa, tâm hồn phong phú. Di cảo thơ của
nàng còn sót lại như tiếng vọng xa xăm kể về câu chuyện bi thương của cuộc đời
nàng. Thương tiếc Tiểu Thanh, xót xa cho nỗi oan khổ của nàng, Nguyễn Du đã thốt
lên:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn/
Phong vận kỳ oan ngã tự cư
dịch nghĩa:
Những mối hận cổ kim, khó mà hỏi trời được. Ta tự coi như người cùng một hội với
kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã (Vũ Tam Tập dịch).
Nguyễn Du tự coi nàng Tiểu
Thanh là người cùng “một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng”. Chưa dám bàn đến
vấn đề Nguyễn Du đấu tranh vì quyền dân chủ, tự do, bình đẳng cho phụ nữ nhưng
rõ ràng ở đây sự cảm thông, chia sẻ với nỗi đau khổ, oan trái mà người phụ nữ
tài hoa, xinh đẹp phải gánh chịu đã đạt đến độ kết tinh sâu sắc về tư tưởng: đó
là tư tưởng nam nữ bình đẳng, bình quyền. Không hề ngần ngại trước
quan niệm “nam tôn nữ ti”, Tố Như tiên sinh đã nâng đỡ Tiểu Thanh – một phụ nữ
yếu đuối, bất hạnh lên ngang bằng với chính mình, coi Tiểu Thanh như
người tri âm, tri kỷ, đồng điệu với mình. Nguyễn Du – đường đường một
đấng nam nhi và hơn nữa lại là một quan chức sống trong xã hội bị bao phủ nặng
nề bởi quan niệm trọng nam khinh nữ, khẩu hiệu “nhất nam viết hữu, thập nữ viết
vô” được đề cao như lẽ đương nhiên, vậy mà ông đã có một ứng xử trái ngược với
“đám đông” đương thời. Ông đã dám vượt ra / lên khỏi hệ thống tư tưởng nho giáo
để làm một cuộc cách mạng trong tư tưởng của mình, một cuộc cách mạng như một lựa
chọn hiện sinh mà Thúy Kiều là một biểu tượng đẹp đẽ của sự chọn lựa ấy… Có lẽ
hơn ai hết, xuất phát từ chính sự nghiệm sinh của cuộc đời cô độc đầy ưu tư dằn
vặt của mình, Nguyễn Du thấm thía sâu sắc nỗi đau trước những bất công, phi lý
luôn xảy ra với những kẻ hiền tài mà ông đã xót xa xác quyết trong Truyện Kiều
bất hủ: “chữ tài liền với chữ tai một vần”. Và với phụ nữ tài hoa mà bất hạnh,
tôi đồ rằng trái tim đầy yêu thương, nhạy cảm của Nguyễn Du đã đau đớn vô cùng
khi ông thấu hiểu về Tiểu Thanh và tấn bi kịch của đời nàng. Thi nhân
đã lấy nỗi đau của mình để thấu hiểu nỗi đau của người, coi nỗi đau của người
như nỗi đau của mình. Với ông, phụ nữ nhan sắc, trí tuệ, tài năng, phẩm hạnh…
được coi như một cá thể hiện hữu. Họ không phải chỉ là chiếc xương sườn
của A Đam như người đời thường nghĩ. Khát vọng, ước mơ về sự bình đẳng, bình
quyền, tự do, dân chủ cho phụ nữ và vì sự phát triển của phụ nữ cho đến hôm nay
vẫn luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của nhân loại… Xuất phát từ bi kịch của
nàng Tiểu Thanh để suy ngẫm và bộc bạch quan điểm của bản thân về thế thái nhân
tình, quên mình để nghĩ cho người phải chăng đó chính là hồn cốt làm nên hệ giá
trị nhân văn sâu sắc trong sự nghiệp lớn lao của Nguyễn Du. Cho nên hai câu cuối
của bài thơ vẫn là sự tiếp nối dòng cảm hứng đau đáu khát vọng của Thi nhân:
Bất tri tam bách dư niên
hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Đã có nhiều người khi bàn
về hai câu kết trên cho rằng Nguyễn Du đã thương khóc nàng Tiểu Thanh, người sống
cách ông ba trăm năm trước và ông cũng chờ mong sau mấy trăm năm có người lại
khóc ông như thế. Những theo tôi, có lẽ trái tim nhân hậu bao dung, vị
tha, giàu lòng trắc ẩn của một nghệ sĩ lớn như Nguyễn Du không thể dừng lại ở
chỗ chỉ âu lo, băn khoăn về sự lưu danh thiên cổ cho riêng mình. Trong tột cùng
của nỗi cô độc, không tìm đâu người tri âm, tri kỷ, Nguyễn Du hướng đến một dự
báo: Mai sau liệu có ai là người khóc cùng ông những điều đáng khóc? Khóc cùng
ông nỗi đau về thế thái nhân tình? Khóc cùng ông về những đau khổ bất công, đọa
đày phi lý mà con người (đặc biệt là những giai nhân yếu đuối, mong manh, xinh đẹp,
tài hoa như nàng Tiểu Thanh, hay những thi nhân một đời chỉ biết sáng tạo và
trân quí cái đẹp như ông) phải gánh chịu? Tại sao một người con gái xinh đẹp,
đức hạnh, tài hoa như Tiểu Thanh lại phải chết oan ức đến vậy!?
Với ý nghĩa ấy, thông
điệp mà bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du ký thác cho đời sau có thể
coi là một thông điệp vươn đến tầm tư tưởng nhân văn sâu sắc của nhân loại. Nguyễn
Du đã đề cập đến vấn đề mà cả nhân loại đã, đang và sẽ tiếp tục luận bàn, đó
là: quyền được làm vợ, được hưởng cuộc sống hạnh phúc không bị trói buộc, lệ
thuộc vào đàn ông và quyền được bình đẳng, dân chủ, tự do trong mọi sáng tạo
dành cho người phụ nữ.
Nếu qua số phận bi kịch của
người đẹp Tiểu Thanh, bên cạnh tiếng kêu thương cho số phận bất hạnh của nàng,
Nguyễn Du hé lộ cho chúng ta thấy tiếng nói khát khao về quyền bình đẳng, tự
do, dân chủ và hạnh phúc cho người phụ nữ thì trong Long Thành Cầm giả
ca, và Điếu La Thành ca giả ông lại có một góc nhìn khác về nhân
vị của người những người đẹp, có tài năng hơn người.
Khác với Tiểu Thanh, cô Cầm
và người ca nữ đất La Thành là những kỹ nữ. Trong quan niệm của xã hội, loại
người này bị coi là “xướng ca vô loài”, luôn hứng chịu những thiệt thòi, bị xem
thường, khinh miệt, coi rẻ. Song trong con mắt của Nguyễn Du, họ là những
nghệ sĩ tài hoa điêu luyện chứ không phải đơn thuần chỉ là
những kẻ mua vui cho thiên hạ.
Trong lần đầu gặp gỡ tình
cờ nhưng Nguyễn Du đã nhận ra “chất ngọc” của người đẹp đất Long thành,
ông trân trọng ví cô như “báu vật vô giá đất Trường An”:
Riêng thạo đàn Nguyễn/
Người trong thành bèn lấy chữ Cầm mà đặt tên/ Nàng học được khúc Cung Phụng
trong cung tiền triều/ Đó là những khúc đàn hay nhất trời đất.
(Long Thành Cầm giả ca)
Nguyễn Du đã đặc tả một
cách tài tình ngón đàn tuyệt diệu của kỹ nữ Long Thành trong một đêm tiệc lớn của
các tướng lĩnh Tây Sơn. Tiếng đàn của nàng là sự tuyệt vời nơi thượng giới cũng
như trong chốn nhân gian:
Khoan như gió nhẹ lướt
qua rừng thông/ Trong như tiếng hạc kêu nơi xa xăm
Mạnh như tiếng sét đánh
vào bia Tiến Phúc vỡ tan/ Buồn như tiếng rên của Trang Tích, ốm nhưng giọng
quê vẫn không quên
(Long Thành cầm giả ca)
Trong cảm thức của Nguyễn
Du, đây là tiếng đàn độc đáo, nó là sự kết tinh của trí tuệ mẫn tiệp tuyệt vời
và tâm hồn phong phú, tiếng đàn lắng đọng bao cung bậc thăng trầm của cảm xúc
diệu kỳ, vừa tinh tế, vừa da diết nồng nàn, vừa bay bổng thiết tha. Chính vì tiếng
đàn “tuyệt kỹ” như vậy nên nó mê hoặc lòng người, có sức quyến rũ lạ thường khiến
cho:
Các quan Tây Sơn trong tiệc
đều ngả nghiêng/ Vui không biết chán thâu đêm/ Bên này bên kia tranh
nhau khen thưởng/ Tiền bạc quăng ra như đất bùn / Hào hoa lấn át
cả công hầu/ Bọn trẻ Ngũ Lăng có đáng kể vào đâu
(Long
Thành cầm giả ca)
Nàng Cầm được những người
Tây Sơn quí trọng, hâm mộ chính là nhờ tài đàn những bản nhạc “hay nhất ở trên
trời cũng như giữa cõi người”. Ngón đàn ấy không tàn phai theo năm tháng. Nó
luôn trường tồn. Nhưng không phải lúc nào cũng có những khách tri âm hiểu và
trân trọng. Nguyễn Du đau lòng “bồi hồi không yên, ngẩng lên, cúi xuống, ngậm
ngùi cho cảnh xưa và nay” là vì vậy!? Trong âm vang lời thơ chúng ta như thấy vọng
lại muôn câu hỏi nhức nhối xung quanh số phận hẩm hiu của người kỹ nữ. Nguyễn
Du nhận thấy những người phụ nữ xinh đẹp, có tâm hồn tinh tế như cô Cầm, đã
dâng tặng cho cuộc sống tiếng đàn điêu luyện, mê hồn – kết tinh những giá trị
tinh thần cao khiết, họ kiếm sống bằng tài năng, bằng sức lao động chân chính,
họ hoàn toàn tự lập, không dựa dẫm vào đàn ông, họ cũng là những con người luôn
khát khao hạnh phúc và có ý thức về bản thân rất cao trên con đường đi tìm hạnh
phúc vậy hà cớ gì mà họ luôn phải gánh chịu thiệt thòi, đau khổ, bi kịch?
Phải chăng trong sự xót xa cho số phận ca nữ, cho người ta trong cõi trăm năm,
những sự vinh, nhục, buồn, vui thật không lường trước được, bao hàm cả sự xót
xa cho chính bản thân mình của nhà thơ? Sự ngưỡng mộ đối với tài năng cô
Cầm đạt đến độ đồng cảm, tri âm sâu sắc của Nguyễn Du cho thấy ở ông xuất hiện
một tư duy khác xa với nhiều kẻ đương thời. Với Nguyễn Du bên cạnh nhan
sắc, tài năng của người phụ nữ cũng là một hệ giá trị để khẳng định nhân
vị của họ. Những phụ nữ có tài năng xuất chúng cũng hoàn toàn xứng đáng được hưởng
sự vinh danh của xã hội và cộng đồng; tài năng không phân biệt giới tính, đẳng
cấp sang hèn. Nguyễn Du đã tạc vào lòng người đọc hình ảnh người đẹp gảy
đàn đất Long Thành như một biểu tượng của cái Đẹp và Tài năng con người.
3. Trong sự nghiệp văn
chương Nguyễn Du, bên cạnh tuyệt tác Truyện Kiều, thơ chữ Hán của
ông cũng luôn có sức “vẫy gọi” người đọc bởi giá trị nhân văn đặc sắc. Nguyễn
Du – một nhà Nho dù sống trong sự kiềm tỏa ráo riết của tư tưởng phong kiến,
nhưng bằng sự tinh tế của một tâm hồn thấu đến “sáu cõi hồng trần” đã thấu hiểu
và cảm thương sâu sắc thân phận đàn bà và đặc biệt những “khách má hồng” vốn
tài hoa, xinh đẹp nhưng chịu bao nỗi truân chuyên. Trong cảm thức nghệ thuật của
Nguyễn Du, những mỹ nữ ấy đã hiện hữu với tư cách là một nhân vị. Họ
không chỉ có nhan sắc tuyệt trần mà còn là người đa tài, đa cảm, đa tình, biết
yêu cái đẹp và dẫu bi kịch đến đâu vẫn luôn khát vọng hướng đến tự do trong
tình yêu và cuộc sống. Cùng với Truyện Kiềubất hủ, những bài thơ chữ
Hán viết về số phận người phụ nữ đẹp, tài hoa trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du
như Độc Tiểu Thanh ký, Điếu La Thành ca giả,Long Thành Cầm Giả
Ca, … luôn tìm được sự đồng vọng trong lòng người đọc và tư tưởng nhân
văn, đấu tranh cho nữ quyền của ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Như vậy từ niên biểu cuộc đời Nguyễn Du, nghiên cứu về sự nghiệp văn chương của ông, hậu thế không thể phủ nhận: “Thập tải phong trần” (Mười năm gió bụi) đã ảnh hưởng sâu sắc của đến tư duy nghệ thuật của Nguyễn Du. Mười năm gian khó “nếm mật nằm gai”, chịu nhiều uất ức, đau khổ, bi kịch đã giúp Thi nhân có “vốn sống” để từ lòng mình hiểu cho lòng người, thông cảm sâu sắc được mọi cảnh ngộ éo le, sự oan trái, khổ cực của người đời. Đúng như Chu Mạnh Trinh trong bài tựa Truyện Kiều trong Thanh Tâm tài nhân thi tập (sách: Việt Văn diễn giảng (hậu bản) thế kỷ thứ XIX, Tài liệu giáo khoa, Hà Nội, 1954) đã viết: “Than ôi! Một bước phong trần, mấy phen chìm nổi!/Trời tình mù mịt, bể hận mênh mông/ Sợi tơ mành theo gió đưa đi, cánh hoa rụng chọn gì đất sạch!/ Ai dư nước mắt khóc người đời xưa?/ Thế mà giống đa tình luống những sầu chung, giọt lệ Tầm dương chan chứa; lòng cảm cựu ai xui thương mướn?/ Nghe câu Ngọc thụ não nùng/ Cho hay danh sĩ giai nhân, cũng kiếp hoa nghiêm nặng nợ/ Ngán nỗi non xanh đất đỏ, để riêng ai lưu lạc đau lòng”.
Tài liệu tham khảo:
1. Trương Chính (giới thiệu), Thơ
chữ Hán Nguyễn Du, Nxb. Văn học, 1978
2. Trần Thái Đỉnh, Triết
học hiện sinh, Nxb. Văn học, H., 2008.
3. Phạm Thế Ngũ, Việt
Nam văn học sử giản ước tân biên, quyển 2, Quốc học Tùng thư xuất bản,
SG.1963
4. Thảo Nguyên, Đọc
và dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Nxb. Hội Nhà văn, 2007
5. Nguyễn Tường Phượng, Phan
Văn Sách, Bùi Hữu Sủng, Việt Văn diễn giảng (hậu bản) thế
kỷ thứ XIX, Tài liệu giáo khoa, Hà Nội, 1954
6. Ra man Selden, Phê
bình nữ quyền, Hồ Thị Dương dịch, Nguyễn Tiến Văn hiệu đính, Tạp chí Sông
Hương (số 277/ 2012), tr. 3-12
8/2/2021
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét