Tường Linh – một đời thơ
Theo tin từ gia
đình, nhà thơ Tường Linh, tên thật Nguyễn Linh (1931-2021), đã từ trần tại TP Hồ
Chí Minh ngày 05.02.2021, hưởng thọ 91 tuổi.
Tường Linh có lần nói với
người viết bài này, ông sinh đầu năm 1931 (trong khi giấy khai sinh ghi muộn là
ngày 12.12.1931), âm lịch là Canh Ngọ, nên tự nguyện làm con ngựa thồ văn
chương, thồ nhân nghĩa và ân tình xứ Quảng. Quê ông ở làng Trung Phước, huỵện
Quế Sơn, tình Quảng Nam. Ông là tri kỷ của hai văn nhân đồng hương nổi tiếng là
Bùi Giáng và Tạ Ký. Bút hiệu Tường Linh đứng tên trên 11 tập thơ, trong đó có
tác phẩm được giải thưởng Văn học Nghệ thuật Việt Nam Cộng hòa. Ông còn viết tiểu
phẩm với bút hiệu Út Cầu Sơn (có thời nhà ông ở gần Cầu Sơn, quận Bình Thạnh,
TP Hồ Chí Minh).
Tuyển tập thơ Tường Linh xuất bản mười năm trước (NXB Văn Học, 2011), khi nhà thơ đã qua tuổi 80. Hơn sáu thập niên làm thơ, vắt dòng qua hai thế kỷ, chọn lại 396 bài in trong tập sách, cho thấy Tường Linh là một nhà thơ thuộc thế hệ trước, một nhà-thơ-mới-cổ-điển. Ông là nhà thơ dụng công về kỹ thuật, chú trọng niêm luật và vần điệu của từng thể loại mà không gây cho người đọc cảm giác gượng ép, có lẽ một phần là vì thuở thiếu thời, ông đã được tập luyện nhuần nhuyễn khi làm các thể thơ cổ. Sở trường của ông là thơ bảy chữ, tám chữ và lục bát. Có đôi lần ông làm thơ cách tân – thơ tự do hay thơ văn xuôi – nhưng cảm hứng và tình điệu vẫn không rời mạch thơ truyền thống của dân tộc. Thơ ông được nuôi trong nguồn mạch đó và hoà vào tiếng nói trữ tình của người Việt một cách tự nhiên như hơi thở.
Tuyển chọn từ tám tập thơ
in riêng (tập đầu tay nhan đề Thơ tập làm thuở nhỏ, in thạch bản
ở Tam Kỳ năm 1950), ba tập thơ in chung, Tường Linh cấu trúc cuốn sách nói trên
theo ba phần: Nhánh hồn sông Thu, Chim bay biển Bắc và Thao
thức phương Nam. Thơ ở cả ba phần đều thấm đẫm một “dòng nhớ thương chảy
mãi qua hồn” và nồng nàn tình người, tình nhà, tình quê, tình nước. Không bao
giờ thơ Tường Linh thôi âm vọng những tiếng gọi Trung Phước, Đại Bình, Cà Tang,
Hòn Kẽm Đá Dừng…, lúc xôn xao trên sóng nước Thu Bồn, lúc hun hút trong mưa
ngàn gió núi.
Ở Sài Gòn từ năm 1956,
thơ ông luôn hướng vọng về “ngoài ấy”, “phương xưa”, phương của mẹ, phương của
quê nhà:
Ngoài ấy giờ đây mùa gió
mùa
Xiêu xiêu quán nhỏ mé đường
trưa
Vườn cau của mẹ hoa cau rụng
Giọt sáng rơi dường giọt
nước mưa.
Khi thơ ông cất tiếng
“Thu ơi, từ đó…”, thì hình ảnh sông Thu, mùa thu quyện chặt hình ảnh người
thương mến:
Anh mất mùa thu, mất cả
em
Lạc nhau từ thuở mới vừa
quen
Trùng trùng dâu bể đau hồn
bút
Đêm mịt mù sương lụn ánh
đèn.
Thi ảnh trong tác phẩm Tường Linh gắn liền hình tượng đất và người xứ Quảng, với tần số xuất hiện cao, vậy mà không thấy trùng lặp, mỗi lần đọc lại gợi lên những rung động mới. Những bài thơ như Tháng bảy, Tin bão miền Trung… được tác giả viết hơn nửa thế kỷ trước mà tưởng như là chuyện vừa mới tái hiện năm ngoái đây thôi, khi mùa bão lũ gây bao thảm cảnh cho đồng bào trên đất mẹ.
Phong vị cổ điển trong
thơ Tường Linh còn thể hiện ở chỗ dường như nhà thơ làm nhoà đi hình ảnh chính
mình mặc dù những điều ông nói đều bắt nguồn từ gan ruột. Phải chăng ông nghĩ rằng
những “gió dập sóng nhồi” của cuộc đời ông có thấm gì so với những chìm nổi của
đất nước, quê hương. Nhưng dù ông đứng lùi về phía sau thì tấm lòng ông, cái
tình trong thơ ông vẫn hiện lên dạt dào ở phía trước. Dễ nhận ra chất nhạc
trong thơ Tường Linh là yếu tố gây men cho những ca khúc phổ từ thơ ông của Anh
Việt Thu, Trầm Tử Thiêng, Minh Kỳ, Bắc Sơn… Khi viết những bài thơ thế sự về những
thảm họa do thiên tai hay chiến tranh, về những ngang trái đắng cay của cuộc đời,
Tường Linh vẫn giữ vẹn nguyên chất giọng nhỏ nhẹ, kín đáo mà làm chứng cho những
bể dâu và “cuộc tỉnh say” của kiếp người.
Hồi 50 tuổi, Tường Linh
viết về mình:
Ta năm mươi tuổi rồi sao?
Đời như một thoáng chiêm
bao chưa tàn
Nửa phần thế kỷ thời gian
Trăng tàn sau núi, mây
tan cuối trời
Quê xưa: bóng nhớ xa vời
Thề xưa câm nín như lời cỏ
cây.
Cái tôi của nhà thơ như
tan loãng vào thiên nhiên, vào giấc mơ, vào cả niềm thinh lặng. Đến khi viết lời
từ biệt chuẩn bị cho “ngày về”, ông vẫn muốn gửi lại mọi người giọng thơ chân
thành, lão thực ấy:
Bởi ta về phía mặt trời sẽ
lặn
Không gặp ai, cả chiếc
bóng của mình
Đi tay trắng thì trở về
tay trắng
Thơ một đời gửi lại phía
bình minh.
Đọc một tập thơ, hiểu một
tâm hồn, luận đề quen thuộc ấy càng đúng với thơ Tường Linh. Đó là một tâm hồn
rất mực khiêm cung mà chất chứa bao nỗi niềm tâm sự để viết ra những vần thơ,
như “tiếng trúc trầm luân”, thấm sâu vào những tấm lòng Việt Nam bình dị.
Xin tiễn ông đi bình an về phía mặt trời sẽ lặn.
9/2/2021
Huỳnh Như Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét