Cụ Phòng
Cụ Phòng ngồi trên chiếc
ghế giữa phòng khách. Khuôn mặt cụ bần thần, thờ ơ. Cô con gái út tên Tâm ngồi
cạnh bố, chờ đợi. Chốc chốc chốc cô lại cầm cây bút dí vào tay bố, sốt sắng giục:
“Bố ký đi để con về”. Không có tiếng ông cụ trả lời. Mỗi lần con gái giục, cụ
chỉ cười. Cái cười hiền hậu và đôi mắt lơ đễnh.
Cô con gái kiên nhẫn chờ. Rồi lại giục lần nữa. Cụ vẫn chỉ cười gượng gạo, hỏi: “Làm gì con?”. “Chán bố lắm, điếc đông điếc đặc”. Ông cụ đứng dậy đi ra ngõ. Mỗi lần ra ngõ, trở về thế nào cụ cũng nhặt vài cái chai nhựa, vỏ lon, tấm bìa carton hoặc cái bao tải nhặt được từ thùng rác bên vệ đường. Con trai cụ đi làm về, nhìn thấy. Trung giằng lấy đồ cụ nhặt, ném vào thùng rác, cáu kỉnh: “Con nói nhiều lần rồi, sao bố cứ nhặt rác về nhà thế nhỉ?”. Cụ thuyết phục con trai: “Cái này còn tốt”.
Lần nào trước khi buông,
cụ cũng nói câu đầy giận dỗi: “Ừ thôi, mai tao không nhặt nữa!” Nhưng không phải
đợi đến ngày mai, chỉ lát sau cụ lại đi ra phố, lại nhặt. Chị Vy, vợ Trung ghé
tai bố chồng nhỏ nhẹ: “Bố cứ nhặt thế này thì chả mấy ngày nữa nhà mình thành
bãi rác”. Nói mãi rồi nhưng vẫn vậy, nên gần đây, chị không ý kiến gì nữa. Bởi
chị cũng biết, cả chồng và bố chồng chị vậy thôi, chứ lát sau hai bố con lại
nói cười vui vẻ. Thế nên, cụ nhặt cứ nhặt, Trung nói cứ nói. Có bận, cả ngõ phố
tưởng nhà anh chị có vụ xô xát gì. Trung nói to, cốt để bố nghe đủ từng từ: “Nếu
lần sau bố còn nhặt nữa thì con không đưa bố về thăm quê. Tết cũng không về!”.
Nhắc đến quê! Một miền ký ức sâu thẳm trong bộ não già nua của cụ hiện về. Miền quê đó là vùng biên giới, xa thủ đô tới nửa ngàn cây số. Nơi ấy, cụ được sinh ra trong đói nghèo. Cụ Phòng, lúc bé dân bản quen gọi là Chuối. Họ gọi thế, vì cậu bé nhiều lần bị người lớn bắt quả tang ăn vụng chuối trong chính vườn nhà mình. Chuối bé tẹo, đen nhẻm, mắt lồi, tay chân như que củi khô đét, chỉ có da bọc xương. Thỉnh thoảng cụ xem phim tài liệu về nạn đói năm 1945, hình ảnh thuở thiếu thời của cụ hiện về như thước phim quay chậm.
Cậu bé Phòng mồ côi mẹ từ
lúc chưa biết bò. Mẹ cậu vì đói quá, không có sữa cho con bú, thương thằng con
èo uột khóc lả trên tay. Đang giữa mùa hè, hồi chiều ra ao vớt bèo về băm ra nấu
cám lợn, mẹ nhìn thấy mấy ngọn măng tre to như bắp đùi, tròn căng nhú lên khỏi
mặt đất. Rặng tre nhà hàng xóm, cũng là hàng rào ngăn giữa hai nhà. Đêm sáng
giăng, thứ ánh sáng nhờ nhợ đủ cho mẹ nhìn rõ đường đi, thấy rõ từng búp măng
căng tròn vươn lên nhọn hoắt. Mẹ lần ra bờ ao, đi nhẹ hơn con mèo già rình chuột.
Sẵn con dao quắm đi rừng của chồng trên tay, trong chớp mắt, mẹ đào được một lu
cở măng. Vẫn dáng vẻ hấp tấp, chiếc váy thổ cẩm xập xòe dưới chân, mẹ gùi măng
tươi về nhà, bóc bỏ lớp áo ngoài cứng ngắc giấu dưới gầm giường trong buồng.
Xong xuôi, mẹ bắc nồi luộc măng ăn vã.
Cha về đến nhà thì trời
đã quá nửa đêm. Vừa vào đến cửa, mùi hôi, chua xộc vào mũi. Ông hốt hoảng khi
nhìn thấy vợ nằm vật trên giường, bọt mép sùi ra. Một đống măng trộn lẫn nước
dãi, nhầy nhụa vung vãi trên nền đất. Cậu bé nằm trên bụng mẹ, miệng ngậm đầu
vú vừa nhai vừa làu nhàu, đầu dụi bên nọ húc bên kia cố tìm giọt sữa. Không có
tiền nộp quan tạo, không có trâu, có lợn làm lễ cúng ma, cha vác mẹ vào rừng
thiêng, đào hố chôn giấu trong đêm. Chôn lấp xác vợ xong, trời chưa kịp sáng,
ông bế con trai đi về đặt trước cửa nhà quan tạo còn mình thì men theo bờ suối,
ngược phía thượng nguồn chạy trốn. Trăng nhờ nhợ trôi trên nền trời vẩn đục.
Nhà quan tạo có bạc trắng
cả thùng, thóc cả kho, trâu ngựa hàng đàn. Cô Nu, em gái cha vừa đến tuổi mười
lăm đẹp như bông hoa rừng vừa hé nở đã bị nhà quan bắt về làm vợ cho con trai
quan. Hai bên không môn đăng hộ đối nên không có đám cưới dềnh dang. Sau khi bắt
được vợ cho con, quan tạo không cho Nu bén mảng về nhà đẻ. Đã mấy năm cướp được
người mà cạp váy con dâu quan tạo vẫn chưa lùm lùm. Nhà quan đang nóng lòng
mong chờ tin vui thì một buổi sáng sớm, sương còn ướt đẫm ngọn cỏ, mặt trời
chưa lên, nhà quan đã lao xao tiếng gọi nhau. Đầy tớ nhà quan ẵm vào nhà một đứa
bé trai còm nhom đang khóc ngằn ngặt vì đói sữa.
Quan tạo nhớ lại hồi đầu
năm, quan gặp ông thầy tướng số ở góc chợ huyện. Ông thầy gieo quẻ phán rằng,
nhà quan phải nuôi trẻ mồ côi gánh nghiệp may ra mới có người nối dõi. Quan nhẩm
tính, đợi ngày lành tháng tốt, quan đi tuần khắp vùng, gặp đứa trẻ nào ưng mắt
thì sai gia nhân bắt về. Nay, bỗng dưng có người đưa đứa trẻ đến, phải chăng đó
là ý mường trời. Thằng bé tuy không đẹp như quan mong đợi nhưng dẫu sao quan
cũng chỉ coi nó là đứa trẻ gánh nghiệp.
Nu đang cắm cúi bên khung
cửi dệt vải dưới gầm sàn thì nghe gia nhân truyền lệnh quan phải lập tức lên
nhà trên nhận con. Cả ngày, Nu dệt vải, se lanh và cặm cụi việc bếp núc chỉ đến
khi con gà trong chuồng te te gáy sang canh Nu mới được trèo lên giường ôm thằng
bé con vào lòng.
Ở nhà quan, thằng bé chỉ
được ăn một bữa và phải tự chơi dưới gầm sàn với mấy con chó con, đàn gà nhép.
Nó tha thẩn suốt ngày lăn lóc với con gà, con chó mãi cũng thành quen. Bọn chó,
gà coi nó như bạn, rúc vào lòng nó ngủ những lúc trời trở lạnh. Ở lâu dưới gầm
sàn, người nó đen đúa, nhem nhuốc, cạp quần lổm nhổm những con bọ chó.
Đứa trẻ được ba tuổi thì
cạp váy mẹ Nu vồng lên. Nhà quan Tạo mổ trâu ăn mừng mấy ngày. Từ ngày mẹ có em
bé, nó phải trông em, xách nước thay mẹ. Bù lại, nó được ăn đồ ăn thừa của em.
Năm tuổi, nó biết lùa trâu lên đồi cỏ. Bảy tuổi, nó đã là một tay trộm chuối
lão luyện. Đói bụng, nó thường mò ra vườn, vặt chuối xanh nhai ngấu nghiến. Nó
ăn miếng chuối đầy nhựa ngon lành như người ta gặm chiếc đùi gà luộc. Có lần, vừa
đưa miếng chuối vào miệng, nó bị quan bà bắt gặp. Bà bóp cổ nó rồi tiện tay tát
bốp vào giữa mặt. Nó chỉ kịp á một tiếng, gục mặt xuống, nhổ ra một bãi vừa
răng vừa chuối hòa lẫn máu tươi và nước dãi đỏ lòm. Sau bận ấy, đám gia nhân
trong nhà gọi nó là Chuối.
Cũng sau bận ấy, Chuối ăn
vụng tinh vi hơn. Chuối ngắm cả vườn, cây chuối nào ngả mình xuống đất vì sức nặng
của buồng, từng quả uốn cong, căng mẩy là nó dùng que khoét cái lỗ nhỏ dưới gốc,
nhét vào lỗ thủng một cục vôi trắng rồi dùng lá khô phủ kín. Chiều hôm sau, lúc
trời nhá nhem, lùa trâu về chuồng, đóng gióng xong xuôi. Chuối ra vườn, thế nào
cũng có những vài quả chuối ngả màu vàng óng như nắng. Chỉ cần lấy sào tre khều
nhẹ là rơi xuống gốc. Người nhà bận việc, không ra thăm vườn mấy ngày thì mấy
ngày ấy cái bụng của Chuối được nhét đầy chuối chín, thơm lừng. Khi người nhà
phát hiện, thì cả buồng chuối chỉ còn trơ cái cuống với vài quả ở ngọn buồng.
Bao nhiêu quả to đã làm mồi cho lũ chim, chuột, sóc và cho cả Chuối nữa.
Lớn lên, Chuối làm mọi việc
nặng nhọc như đám gia nhân. Nhìn mấy đứa em do mẹ Nu sinh ra được nuông chiều
nâng niu như cục vàng mười hay những thỏi bạc trong hòm gỗ nhà quan, Chuối
không khỏi tủi hờn. Mười sáu tuổi, Chuối tưởng mình nằm mơ. Bữa cơm ấy, mẹ lấy
cho Chuối bát đầy. Mẹ tránh cái nhìn của mấy đứa em theo đôi đũa có miếng đùi
gà mẹ gắp bỏ vào bát cơm của Chuối. Mẹ như không nghe thấy giọng cha e hèm. Đêm
ấy, Chuối đang ngủ trên cái chõng tre trong bếp thì mẹ nhào vào, ôm Chuối khóc
rưng rức. Mẹ dùng đôi bàn tay chai sần, rờ khắp mặt, vuốt ve bắp tay Chuối một
một cách lạ thường. Mẹ nức nở, đầy nghẹn ngào: “Mẹ không biết để thương con sớm
hơn”. Chuối thấy rờn rợn, một cảm giác lạ lùng khó hiểu. Người đàn bà Chuối gọi
là mẹ nhưng lúc nào cũng lạnh lùng với Chuối như tảng đá ngoài vệ suối. Lạnh
lùng với sự thiếu thốn của Chuối suốt chiều dài tuổi thơ, giờ đột nhiên ôm ấp
khóc thương. Chuối chau mày suy nghĩ. Hình như hồi chiều muộn, mẹ ra suối giặt
váy, có người đàn ông vờ bắt cá gần đó. Người đàn ông nói với mẹ những gì không
ai biết. Chỉ thấy lúc về, mắt mẹ đỏ hoe.
Chuối định hỏi mẹ câu gì
đó nhưng chưa kịp cất lời thì khắp bản rộn rã tiếng bước chân thình thịch. Ánh
đuốc rọi sáng bừng. Trâu ngựa nhà quan lồng phách. Cả nhà quan bị đánh thức khỏi
giấc ngủ. Trên sàn, quan miệng quát tháo, tay cố vơ tiền vàng, bạc trắng trong
hòm ném vào bao tải chất lên lưng ngựa. Chuối đứng trơ dưới gầm sàn nhìn gia
nhân áo quần xộc xệch, mạnh ai nấy chạy. Mẹ khản tiếng gọi mà Chuối vẫn đứng im
như tảng đá. Mẹ chạy đến kéo tay Chuôi. Thằng Pá khóc thét, nhào đến ôm cổ mẹ
đòi cõng. Cha túm tay mẹ lôi đi.
“Bộ đội về bản! Bà con
ơi, bộ đội về cứu bản! Bộ đội về, bà con ơi!”
Tiếng cười nói, chào hỏi xôn xao bản nhỏ, át cả tiếng vó ngựa nhà quan dồn dập nện xuống con đường sỏi đá.
Thanh niên, trai tráng nô
nức tòng quân. Chiến dịch Điện Biên Phủ sắp bắt đầu. Chuối đến gặp anh cán bộ,
ai đó xui Chuối khai tăng tuổi để được nhập ngũ. Chuối được đổi tên là Vàng A
Phòng, được huấn luyện và cầm súng chiến đấu. Những ngày này với Phòng thật là
sung sướng, hơn hẳn những tháng năm dưới gầm sàn nhà quan Tạo. Trong lán trại,
sau trận đánh, anh em đồng đội trò chuyện cười đùa râm ran. Bữa ăn, chia nhau từng
củ sắn, bát canh. Họ coi nhau như anh em ruột thịt trong nhà. Càng gần đến ngày
chiến dịch, bộ đội càng hăng hái. Dù có những đêm phải nhịn đói, chịu cái rét
thấu xương của vùng Tây Bắc khi gặp mưa. Giao thông hào sũng nước, chân tay xước
sát, mắt trũng sâu do nhiều đêm mất ngủ.
Đơn vị Phòng được giao
nhiệm vụ đào hào. Cả tuần trời mưa như trút nước. Dầm mình trong mưa lạnh và
bùn nhão làm sức lực các chiến sĩ giảm sút. Anh em binh sĩ dù mệt mỏi nhưng
không ai nhụt chí. Lệnh cấp trên ban ra, bằng mọi giá hầm phải được nối dài,
càng nhanh càng tốt. Chiến dịch đến ngày nước rút. Đêm qua, đơn vị Phòng đào hầm
xuyên đêm, sáng ra về tới lán trại. Cậu Huy người gốc Hà Nội, rút ủng ra khỏi
chân. Ủng thủng. Huy dốc ngược ủng, đổ ra nền đất lầy nhầy nước bùn đỏ, vàng nhợt
nhạt. Chân Huy trắng bệch, da bong tróc nham nhở. Mấy hôm trước, Huy đã đề nghị
với cấp trên được thay ủng nhưng đồng chí Tiểu đội trưởng báo hết hàng dự trữ,
phải chờ tiếp viện. Phòng lấy đôi ủng của mình ở góc lán đưa cho Huy. Huy nhất
quyết không nhận. Huy nói không thể làm thế với đồng đội, mày đi đất được thì
tao cũng đi được. Mỗi người cố thêm một chút có là gì.
Phòng nổi cáu: “Tao sinh
ra ở bản, ngủ gầm sàn từ bé, dầm mình trong mưa rừng gió núi quen rồi. Tao đi
chân đất khắp vùng, một chút bùn non này có nhằm nhò gì với thằng trai rừng.
Tao đeo ủng chỉ thêm nặng chân”. Phòng còn đang thuyết phục Huy dùng ủng của
mình thì anh nuôi phát tin vui: “Đồng chí Chính ủy viên gửi thông tin chiến sự
tới toàn đơn vị. Quân ta đang giành ưu thế. Đường hầm đã được mở rộng gấp đôi
so với dự định ban đầu. Ngày con nhím khổng lồ của Nava sụp đổ không còn bao
xa”. Nghe tin của Tiểu đội trưởng, không ai bảo ai, mọi người đều giơ cao nắm
tay lên trước mặt, thể hiện niềm kiêu hãnh và ý chí quyết tâm giành chiến thắng.
Chiều chạng vạng, đơn vị
xuất quân. Mỗi người mang theo trên mình nào cuốc, xẻng, bó ngụy trang. Cả đơn
vị cắm cúi làm việc. Phòng, Huy và hai chiến sĩ khác được Tiểu đội trưởng giao
nhiệm vụ đào một ngách. Đêm cuối tháng, trời tối đen như mực. Mưa ràn rạt đổ xuống
làm cho núi rừng thêm buốt lạnh. Phòng đang hì hụi đào, chợt anh nghe có tiếng
gọi khe khẽ:
– Phòng ơi! Sắp sáng
chưa?
– Sắp! Đói à?
– Rét! Rét quá! Tay chân
bủn rủn!
Uỳnh! Uỳnh! Tiếng pháo nã
xuống chát chúa. Cây rừng đứt gãy rào rào. Phòng lẩm bẩm: Khỉ gió, tưởng nó (địch)
đã ngủ ngon.
Huy rên hừ hừ! Phòng
buông xẻng, quay lại phía sau. Huy đổ sập xuống nền đất nhão. Phòng đỡ Huy ngồi
tựa vào thành hào. Cả người Huy như bễ lò rèn. Có lẽ Huy bị sốt rét. Lúc chiều
xuất quân, Huy nói với anh: “Tao thấy người khó chịu, đầu hâm hấp”. Phòng hỏi:
“Có đi làm được không?”. Huy bảo: “Chắc được”.
Huy ở cùng lán với Phòng.
Thời gian rảnh rỗi ít ỏi, Huy thường kể cho Phòng nghe về Hà Nội, về vẻ đẹp uy
nghi của tháp rùa và những bóng hồng thướt tha trên phố. Phòng nói trong niềm
mơ ước: “Chiến thắng thằng giặc, tao sẽ về thủ đô ngắm Hồ Gươm và ngắm cả các
cô nàng tiểu thư trên phố”. Huy bảo: “Con gái Hà Nội đẹp vẻ thanh lịch, còn con
gái Tây Bắc đẹp mặn mà. Tao mà gặp các nàng tiên nữ vùng sơn cước này tắm suối
giữa mùa hoa ban trắng, thì thôi thân này nếu phải hi sinh cũng chẳng còn gì để
nuối tiếc”. Huy đột ngột chuyển chủ đề kể về gia đình. Bố mẹ tao là công nhân.
Nhà có ba anh em, mỗi tao là con trai. Hôm nhận giấy báo nhập ngũ, mẹ tao khóc
nức nở. Mẹ bảo súng đạn vô tình, con có mệnh hệ gì mẹ làm sao sống nổi. Tao an ủi
mẹ, đất nước gặp nguy nan, cần lắm sức trai, chúng con sao ngồi yên một chỗ vui
vầy được. Con đi, thắng lợi rồi nhất định chúng con sẽ trở về. Nói thế thôi
nhưng tao cũng phải gỡ tay mẹ đang ôm chặt tao mà chạy thật nhanh.
Người Huy đổ sụp xuống.
Phòng cởi áo mưa của mình khoác lên vai bạn. Rồi nhanh tay xốc bạn lên lưng, an
ủi: “Cố lên Huy, để tao cõng mày về lán”. Hai hàm răng huy đánh vào nhau lập cập;
hai đầu gối, hai tay Huy cũng theo đó mà run rẩy trên lưng Phòng. Phòng dò dẫm
bước đi trong bùn nhão nhoét. Tiếng đạn pháo giặc ì ầm xung quanh nhưng Phòng
không nghe thấy gì. Tai anh ù đặc. Trên lưng anh, hình như Huy vẫn nghiến chặt
hai hàm răng để khỏi run thành tiếng. Chỉ còn một đoạn hào nữa là về đến lán.
Có tiếng quát lớn:
– Nằm xuống!
Nhanh như cắt, Phòng hất
Huy xuống hào, đè lên bạn như một phản xạ tự nhiên của người lính.
Rí…í…úi! Oành!
Một quả đạn pháo nổ gần.
Xương cụt Phòng buốt nhói. Cái buốt dồn lên ngực. Phòng ngất lịm.
Đơn vị chuyển Phòng và
Huy về tuyến sau trị thương. Thời gian dưỡng thương, Phòng quen biết, yêu và kết
hôn với cô gái tên Sua là thanh niên xung phong, người bản Hoa. Đám cưới của
Phòng và Sua diễn ra ngay tại đơn vị. Không có đại diện hai họ nhà trai và nhà
gái. Bỏ qua tất cả những thủ tục rườm rà, tiệc cưới chỉ đơn giản mấy bao thuốc
lá, đĩa kẹo, ấm chè xanh hái trên đồi. Chiều hôm đám cưới, hai cô bạn cùng tổ
Sua vào bản xin được mấy bắp ngô non đem về rang. Chú rể, cô dâu và mọi người
cùng mặc trang phục màu xanh ngắt như tán lá rừng. Tiệc cưới xong, lều ai người
ấy về. Phòng và Sua lần đầu ở chung một lều. Hai chiếc võng mắc song song sát
nhau còn nhiều ngượng ngùng, e thẹn. Đêm tân hôn của đôi bạn trẻ trôi qua êm đềm
như giấc mơ đẹp. Không tiếng súng nổ, không tiếng đạn pháo.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ mấy năm, hai vợ chồng Phòng được đơn vị cử về làm công nhân tại Nông trường Quốc doanh. Vợ chồng tranh thủ khai hoang, tăng gia sản xuất. Họ dựng nếp nhà sàn nhỏ trên quả đồi. Trong ngôi nhà nhỏ ấy, lần lượt ba người con của họ là Tuyến, Trung và Tâm ra đời.
Những năm gần đây, thành
phố phát triển nhanh, quả đồi vợ chồng ông Phòng khai hoang nằm trong khu quy
hoạch của tỉnh. Nhà nước cấp cho hai vợ chồng ông bà hai suất đất giáp nhau ở
trung tâm thành phố. Về khu nhà mới chưa được bao lâu thì bà Sua qua đời do cơn
bạo bệnh. Các con của ông bà trưởng thành đều được phân công công tác ở Hà Nội.
Chỉ còn mình cụ Phòng ở lại Điện Biên. Các con muốn đưa bố về Hà Nội chăm dưỡng
tuổi già nhưng cụ nhất quyết không đi. Mãi vừa rồi, Trung tìm được địa chỉ nhà
bác Huy, bạn chiến đấu năm xưa của bố. Anh ngỏ lời muốn đưa bố về thăm bác Huy.
Nhắc đến tên người đồng đội năm xưa, cụ Phòng lập tức đồng ý về Hà Nội.
Gần đây, hai cô con gái cụ
Phòng cứ nằng nặc đòi ông viết giấy sang tên cho các cô mảnh đất ở quê. Nhắc đến
chuyện đất cát, ông cụ lại có vẻ như mắc bệnh người già, có chút lẫn. Vừa ăn
cơm xong lại bảo đói quá, không có gì mà ăn. Cụ mặc quần áo trái, dép trong nhà
cụ đi ra sân, dép ngoài sân đi vào nhà. Cả ngày cụ lẩm bẩm những chuyện không đầu
không cuối. Toàn chuyện ngày xưa. Nào chiến đấu, hầm hào, hỏa lực, phòng tuyến,…
Hôm nay là ngày chủ nhật,
hai chị em Tuyến, Tâm cùng đến thăm bố. Chuyện trò một lúc, lại quay về chủ đề
xin đất. Tâm ghé vào tai bố, thì thầm:
– Bố cho hai chị em con mảnh
đất liền kề nhà. Mảnh đất ấy giờ bán chỉ được có vài tỷ đồng thôi. Còn cái nhà
để lại cho anh Trung.
Ba anh chị em, hồi hộp chờ
đợi câu trả lời của bố. Cụ ướm hỏi con trai:
– Thế được không con?
– Đất của bố mẹ. Mẹ mất rồi,
bố cho ai là quyền của bố. Con không có ý kiến gì. – Trung nói.
Cụ phân bua:
– Bố nghĩ thế này. Các
con đều đã có nhà ở, công việc ổn định. Bố tính, đợt này về quê, bố sang tên
căn nhà của bố mẹ cho vợ chồng anh Trung. Ngôi nhà ấy, mẹ con nằm xuống ở đó,
Trung giữ lại giúp bố. Sau này vợ chồng con nghỉ hưu, về quê sống cho thanh
bình. Tuổi già cần yên tĩnh.
– Còn mảnh đất bên cạnh bố
cho hai chị em con nhé! – Tâm nhanh nhảu.
Cụ Phòng nhấp một ngụm
trà, không nhìn các con mà thong thả nói:
– Mảnh đất liền kề, cạnh
cơ sở bảo trợ tỉnh, bố muốn các con đồng ý cho bố tặng cho cơ sở. Cơ sở cần một
không gian rộng hơn để người già cô đơn, không nơi nương tựa và những đứa trẻ mồ
côi có thêm không gian sinh hoạt. Bố còn một người đồng đội đang được nuôi dưỡng
trong cơ sở. Thời gian qua, bố ở với vợ chồng anh Trung, bố nhặt ve chai cũng
được món tiền nhỏ.
Ông rút từ túi áo ra tập
tiền lẻ để trong mấy lần túi bóng, đặt vào tay con trai.
– Đợt tới các con đưa bố
về quê. Trung dùng khoản tiền này, mua giúp bố chiếc áo ấm để bố tặng đồng đội
cũ. Còn bao nhiêu, con mua chút bánh kẹo tặng cho các cháu trong cơ sở bảo trợ.
Không gian trầm lắng, phố
ngoài kia hình như xe cộ đang dừng. Ba anh chị em, ai cũng thấy mình có lỗi với
bố. Công việc bận rộn, các con mải miết với cuộc sống hiện đại mà quên không để
ý tới tâm trạng của bố, lại còn trêu đùa bố chuyện đất cát. Thấy bố đi nhặt ve
chai về nhà thì ai cũng khó chịu. Chị Tuyến nói:
– Ba anh chị em mình cứ bảo
bố lẫn, nhưng chị nghĩ bố chưa lẫn đâu. Chúng ta có lỗi với bố thật nhiều. Sáng
nay, thấy cậu Trung treo cờ ngoài cổng, bố bảo sắp kỷ niệm ngày Chiến thắng Điện
Biên Phủ mùng bảy tháng Năm.
Trung nói với cả nhà:
– Nghỉ lễ đợt này, mấy chị
em mình đưa bố về quê thăm bà con, bạn bè, cho bố khuây khỏa chứ ở phố xá ồn ào
lâu ngày không tốt cho sức khỏe người già. Và cũng để bố thực hiện tâm nguyện
hiến đất, tặng quà đồng đội.
Không biết ông cụ có nghe
được các con nói chuyện hay không nhưng cụ cười. Nụ cười tuy móm mém mà tươi tỉnh.
28/6/2026
Đào Thanh Tám
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét