Thung Mơ
Ở thung Mơ này, loài chim
họa mi được uống nước đầu nguồn trong vắt, ăn quả chín đầu mùa. Sáng sáng vỗ
cánh bay tít tận trời mới hòng thoát khỏi lòng thung. Họa mi là loài chim anh
hùng, nghĩa hiệp, thủy chung… Mỗi cặp sống riêng một thung gọi là quản thung.
“Quản thung Mơ” phải là con chim số một trong vùng, bởi có nơi nào thiên nhiên
hùng vĩ mà thơm thảo hơn được nơi đây. Họa mi ở thung Mơ là loài bách chiến
bách thắng.
Chiều nào cũng vậy, khi cái xưởng cưa khép chặt hai cánh cửa gỗ nặng trịch, thì cũng là lúc không gian yên tĩnh nơi “Phố Núi”, cửa rừng này được hoàn trả một cách đầy đủ, ăm ắp nguyên sơ… Trong cái khoảnh khắc ấy, Lạc có cảm tưởng mình rơi tõm vào một thế giới khác. Anh bần thần đi hết phòng nọ đến phòng kia trong ngôi nhà nhiều tầng của mình, rồi thoảng thốt như sợ ai nhìn thấy điều dị biệt trong tính cách của anh. Lạc là một chủ xí nghiệp đang vào thời kỳ làm ăn thịnh phát. Với số vốn liếng mà nhiều người nằm mơ cũng không thấy được dưới tay gần trăm công nhân, “cô ta” xuất khẩu gỗ ký thẳng với nước ngoài… Lạc không thể ngờ đời mình lại có ngày như hôm nay!
Mồ côi cả cha lẫn mẹ, không họ hàng thân thích, Lạc tồn tại bên người chú họ xa tật nguyền, cả đời ông ta không hề rời xa cây nạng gỗ. Hai chú cháu lê lết lần hồi trong sự thương hại của người đời. Chơm chớm biết, Lạc đã hiểu thế nào là nỗi nhục của kẻ ăn xin. Người chú đột ngột qua đời, Lạc quyết định bỏ con đường này. Năm, sáu tuổi Lạc đã tự đi bộ một mình vào rừng lấy lá chuối về gánh về bán cho phường thịt gói giò, nhọc nhằn đổi lấy miếng ăn, có những buổi một mình thui thủi nơi rừng chiều thăm thẳm. Lạc giận dữ vung những nhát dao phầm phập vào thân chuối. Nghe tiếng ngã ràn rạt hình như cậu thấy nguôi ngoai hơn.
Một hôm, giữa buổi trưa
hè nồng nực, mưa rừng xối xả trút xuống, không nơi ẩn náu, Lạc bị trúng cảm khuỵu
xuống cạnh một tảng đá lớn nằm kề bên bờ suối. trong cái chập chờn mê tỉnh, Lạc
cảm thấy một ông thần núi bê bổng mình lên, tiếng ông lào khào như gió lướt bên
tai:
– Tội nghiệp quá! Chẳng
biết con cái nhà ai đi đâu mà nên nông nỗi này!
Lạc tỉnh dậy vào lúc gần
sáng. Những thìa cháo củ mài sánh quyện đã giúp cậu lại sức. Lạc đưa mắt ren
rén nhìn qua đống lửa đang rừng rực cháy giữa căn lều. Phía bên kia một cặp mắt
long lanh, trong đáy mắt thỉnh thoảng cũng lóe lên hai đốm lửa, nhưng nồng ấm
và chan chứa tình người đáp lại. Sau khi nghe Lạc kể về hoàn cảnh của mình, ông
lão chép miệng thở dài, bảo:
– Thứ nhất thiếu mẹ, thiếu
cha, thứ nhì gánh vã, thứ ba sơn tràng. Mới tý tuổi đầu mày đã phải chịu đủ cái
vất vả của con người rồi!
Ông lão vuốt bàn tay vụng
về chai cứng của mình lên mái đầu khé nắng của Lạc, rồi vòng tay ôm cậu bé vào
lòng. Từ hôm đó, Lạc trở thành con nuôi người gác rừng.
Người gác rừng cả núi
quen gọi là lão Ngạc. Lão Ngạc là người khó hiểu và khó đoán tuổi, lão sống giản
đơn bao năm nay trong một mái lều lợp lá cọ. Căn lều nằm án ngữ trước một lối
mòn độc đạo dẫn lên núi, nhiều năm nay vắng người qua lại, cỏ bông lan mọc trùm
lên nền đường, con đường chỉ còn lại những dấu vết mờ mờ. Vật liệu trong lều hầu
như chẳng có gì đáng giá ngoài một chiếc lồng chim, chiếc lồng treo lơ lửng
ngay trên đầu chỗ lão thường ngồi trong lều. Trong lồng chỉ có duy nhất một con
rắn hổ mang to cỡ bắp tay, nằm cuộn khoanh ở đáy lồng, đầu nghếch lên cái cóng
sứ tráng men. Một màu xanh tảo, một màu đỏ tía, thoạt nhìn tựa như một cục máu
mới đông. Thỉnh thoảng thấy động con rắn lại ngóc đầu, mắt mở thao láo như hai
hòn bi ve, mang bạnh ra, miệng phun phì phì những tiếng ghê rợn vốn có của loài
rắn này. Có điều rất lạ là cửa lồng luôn mở mà con rắn không bò ra ngoài trốn
đi. Một lần Lạc tò mò hỏi, lão Ngạc bảo:
– Một tháng nó cũng ra
đôi lần, tới kỳ luyện nọc nó nằm im trong lồng, nhưng ta cũng không hề biết nó
ra vào lúc nào.
Lão Ngạc bắn nỏ giỏi lắm,
cánh thợ sơn tràng từ khi có lão canh giữ cánh rừng này lảng dần. Những lúc rảnh
rỗi, Lạc mân mê cây nỏ, hỏi cách bắn, lão Ngạc bảo:
– Đạn ăn lên, tên ăn xuống,
cứ thế mà bắn, mãi cũng thành tài.
Một bữa, Lạc tỳ đốc nỏ
vào rốn, hai chân đạp vào hai cánh nỏ, những ngón tay như những cái móc thép quặp
chặt vào sợi dây, cả người cậu gồng lên, chính Lạc cũng không ngờ mình cài được
dây vào lẫy. Lão Ngạc trố mắt ngạc nhiên, bảo:
– Mày phải đi học thôi! –
Hình như lão Ngạc đoán được sức mạnh của một cậu bé, một thứ nội lực tiềm tàng
mà lửa cuộc đời đã hun đúc lên.
Mấy hôm sau, lão Ngạc đưa
cậu xuống núi, lão gửi Lạc vào một trường nội trú của các học sinh người dân tộc.
Chiều chiều nhìn về phía núi, lòng Lạc chạnh buồn vì cảm giác cô đơn, lạc lõng
nhưng cậu không hề oán trách bởi lão Ngạc có bao giờ xuống núi đâu. Cả năm chỉ
mỗi một lần, ấy là vào mùa xuân, lần nào lão cũng dẫn Lạc theo. Lão về dự hội
làng Yến Vĩ! Yến Vĩ là một làng trù phú nằm cách xa chân núi. Hội làng tưng bừng
vào đám, đám nào cũng vui, cũng cuốn hút nhưng lão chỉ xoắn vào đám chọi mi. Hội
chọi mi kéo dài năm ngày từ tế khai xuân mùng mười tháng Giêng, đến Tết Nguyên
tiêu Rằm tháng Giêng là hết hội. Trong năm ngày ấy, lão Ngạc là người
khác hẳn, lão vui vẻ hòa đồng, trên gương mặt phảng phất nét trẻ thơ.
Lão không có chim góp vui
nhưng lão được mọi người bầu vào chân trọng tài. Lão đếm mỏ (thời gian cho trận
đấu) cho mỗi cặp, có một năm vào chung kết là một cặp quá hăng. Lão Ngạc đếm đến
gần bảy trăm mỏ mới phân thắng bại. Trải đã năm ngày mà giọng lão vẫn sang sảng
như tiếng chuông đồng. Nghe tiếng đếm đều đều thả nhịp chắc gọn, đanh thép, cuộc
đấu như tăng thêm trang trọng quyết liệt. Mọi người bảo:
– Lão Ngạc tốt giọng thật,
mấy chục năm trời mà giọng lão vẫn như xưa…
Thấm thoắt đã mười năm. Lạc
tốt nghiệp xuất sắc trong kỳ thi phổ thông trung học và được tuyển vào đại học.
Lòng phơi phới, Lạc nhằm hướng núi ngược rừng. Nắng lấp lóa trải vàng trên những
triền đồi thoai thoải…
Lạc bước chân vào lều,
lão Ngạc vẫn như xưa, lão vẫn ngồi bình thản hút thuốc lào, khói thuốc từ miệng
lão bay lên trùm kín cái lồng, con rắn lại nhịp nhịp cái đầu như say khói, nhìn
thấy Lạc, lão Ngạc quắc mắt hỏi:
– Mày về đây làm gì nữa,
hãy đi đi, đừng bao giờ quay lại cái xó rừng heo hút này nữa.
– Không, ông không thể sống
thế này được. – Lạc gào lên – Chẳng lẽ sống mà như kẻ cầm tù, câm lặng suốt đời
ư!
– Mày nói gì? – Giọng lão
Ngạc trùng xuống – Mày phải đi học tiếp. Tao còn đủ sức nuôi mày, đừng để những
tình cảm mê muội ràng buộc mình.
Lạc quỳ xuống, cậu nấc
lên nghẹn ngào và bật gọi: “Cha ơi!” Đôi mắt lão Ngạc vốn lành lạnh và hoang dại
như mắt thú, giờ đây lại lặng lẽ lăn tròn những gọi nước mắt hiếm hoi. Phần đêm
còn lại lão Ngạc đã kể về cuộc đời mình.
Lão tên thật là Nguyễn
Phi Ngạc, con trai độc muộn mằn của một gia đình giàu có. Vì hiếm hoi nên cả
nhà gọi lão là “Cậu”. Năm mười ba tuổi, bố cậu bảo:
– Cậu phải lấy vợ thôi,
có lấy vợ cho Cậu thì mới hòng giữ được cái cơ nghiệp này.
Ngạc nhe răng cười khì
khì.
– Cậu cười gì? – Người bố
quắc mắt.
– Lấy vợ để chúng nó giễu
à, xấu hổ chết.
– Học hành là cái việc “đại
đăng khoa” Cậu đã chẳng đâu vào đâu. Đến cái việc “tiểu đăng khoa” Cậu cũng coi
là một thứ trò đùa. – Người bố nét mặt rầu rầu buông một tiếng thở dài thườn
thượt.
Càng lớn Ngạc càng tỏ ra
mình là người không còn hy vọng gì. Cậu lêu lổng khắp nơi nhưng cũng may không
đụng vào cờ bạc, thuốc sái, cô đầu… mà chỉ một niềm đam mê chim. Trong muôn
loài chim, cậu chỉ mê mỗi họa mi. Hễ thấy ai có chim hay cậu liền mang chim của
mình đến gạ đấu cho bằng được. Được thì thôi, nếu chim của cậu thua thì cậu vật
nài mua lại con chim thắng bằng mọi giá. Gặp những kẻ nhẫn tâm, lồng cái ý định
“đào mỏ” vào, có nhiều con chim cậu phải mang cả ruộng ra mà đổi. Cứ như thế
gia sản từ từ đội nón ra đi, cha mẹ cậu héo mòn trước những đam mê chết người
đó. Một ngày kia, bố mẹ đặt mình nằm xuống, Ngạc mồ côi vào cái tuổi thanh
niên. Nỗi đau mất cha mẹ cũng không làm cho Ngạc tỉnh ngộ, ngược lại được tự
do, cậu lại càng ngông cuồng hơn. Trong nhà lúc nào cũng có hơn chục thực
khách “cùng hội cùng thuyền”. Mãi cũng nhàm, một bữa trong số bạn chơi có người
bảo:
– Tôi nghe nói chỉ có
loài họa mi sống ở thung Mơ mới là bách chiến bách thắng.
Câu nói của người bạn như
thổi bừng lên những đam mê của cậu đến tột cùng. Cậu lao vào thung Mơ, tìm tòi,
theo đuổi những cánh chim để thỏa mãn những khát khao rồ dại của mình.
Gần một năm trời trên
núi, Ngạc mới mò về làng. Làng Yến Vĩ được chứng kiến niềm đam mê thứ hai của
Ngạc. Đó là một cô gái sống ở thung Mơ, hai người nên vợ nên chồng. Họ xây hạnh
phúc trong mái nhà của tiên tổ. Nhưng “tiếng cả nhà không”, gia sản Ngạc đã
phát tán tít tận phương trời nào. Trong hội chơi có người bảo:
– Tiền ở trong tay cậu đấy!
Việc gì mà phải tìm đâu xa.
Cậu như tỉnh người ra sau
nỗi đam mê bấy lâu. Cậu lại lao vào những cuộc đỏ đen, rốt cuộc tay trắng vẫn
hoàn tay trắng.
Một năm làng Yến Vĩ đã
vào kỳ chung cuộc, phần thắng như đã nằm trong tay mình, cậu Ngạc phởn phơ mặt
mày. Bỗng có một người khách thuốc gần đây thường hay qua lại làng này, lách
đám đông len vào, miệng líu la líu lô:
– Còn tôi, tôi xin quyết
đấu… chim ông này sẽ thua!
– Sao ông dám quả quyết
thế? – Ngạc giật mình hỏi lại.
– Tôi dám chắc vì chim của
ông chỉ được nuôi dưỡng bằng nguyên khí trời đất, nên nó còn thô mộc vụng về,
ông hãy nhìn chim của tôi xem. – Người khách nói và chỉ vào lồng của mình.
Trong lồng nổi bật lên là
hai cái cóng Tàu lóng lánh đối chọi nhau, làm nền cho thêm phần chói lọi.
– Đây là hai cái cóng đựng
thức ăn và nước uống. – Người khách nói – Cái “âm” màu xanh tảo đựng nước. Cái
“dương” màu tiết dê đựng thức ăn, men của nó được chế ra từ cặp ngọc trong
vương phủ nhà Thanh. Mọi thứ đựng vào đây thì kiến, mối, côn trùng đều bất khả
xâm phạm. Lại nữa: giảm độc tố, tăng cường sức lực cho chim đấu. – Nói xong lão
khách dương dương tự đắc.
– Cứ thử xem.
– Nếu vậy ta phải đánh cược!
– Cược gì?
– Nếu mỗ thua, – người
khách trỏ tay vào ngực mình – mỗ mất với ông đôi cóng này. Nếu ông thua thì…
thì…
– Ông sẽ được con họa mi
này của tôi. – Cậu Ngạc tiếp lời.
– Tôi… tôi cần cái khác
kia!
– Cái gì?
– Vợ ông.
Cậu Ngạc lắc đầu, hình
như còn một chút gì sâu tận đáy lương tâm níu giữ lại. Nhưng cậu vẫn tin vào lời
nói của ông bố vợ: “Ở thung Mơ này, loài chim họa mi được uống nước đầu nguồn
trong vắt, ăn quả chín đầu mùa. Sáng sáng vỗ cánh bay tít tận trời mới hòng
thoát khỏi lòng thung. Họa mi là loài chim anh hùng, nghĩa hiệp, thủy chung… Mỗi
cặp sống riêng một thung gọi là quản thung”. “Quản thung Mơ” phải là con chim số
một trong vùng, bởi có nơi nào thiên nhiên hùng vĩ mà thơm thảo hơn được nơi
đây. Họa mi ở thung Mơ là loài bách chiến bách thắng.
Lòng tự ái, nỗi đam mê và
sự linh cảm chỉ có riêng cậu Ngạc mới có đã thầm mách bảo, Ngạc dứt khoát đặt một
chữ “đấu” nặng trịch vào cuộc. Cả làng Yến Vĩ chưa bao giờ chứng kiến cuộc cá
cược độc đáo, tàn nhẫn và bạc bẽo đến như vậy!
Người vợ ôm chặt đứa con
trai nhỏ vào lòng, nức nở khóc, miệng bải lải van nài bất lực trước vòng người
đen đặc, dần dần thít chặt chứng kiến cuộc đấu có một không hai ấy. Hơn bảy
trăm mỏ chưa phân thắng bại, con chim của người khách ra đòn rất phũ, mỗi đòn
trúng đích con chim của cậu Ngạc bật ra, cơ hồ không thể đứng vững. Rồi bỗng
chúng buông nhau, nhảy lên cầu uống nước. Con chim của người khách sau khi uống
nước trong cái cóng ngửa cổ lên trời hót vang. Nguy cơ vỡ trận, cuộc đấu
không thành… Trong nháy mắt như hai ánh chớp, chúng sà xuống lăn xả vào
nhau. Sau khi tránh thoát “miếng cánh” hiểm hóc, com mi của cậu Ngạc quặp chặt
lấy con chim kia, liên tiếp giáng xuống đầu nó những mỏ nặng nề như búa tạ. Con
chim của người khách bật ngửa bụng, chân giãy tê tê… Con chim của cậu Ngạc cũng
không đủ sức bay lên cầu nữa, cánh nó xõa ra, nhưng nó vẫn ngẩng cao đầu ca
khúc khải hoàn trong tiếng reo hò của cuộc vui giã đám.
Cậu Ngạc thu lại đôi cóng
Tàu độc đáo trước con mắt thèm khát của bao người. Con chim của cậu được phong
danh “bất khả chiến bại”. Có được con chim quý và đôi cóng Tàu, Ngạc lại càng
say mê đấu, tiếng tăm lừng lẫy. Của cải, đồ đạc sau mỗi trận lại từ từ bò về.
Dân bản Yến Vĩ bảo nhau:
– Cách làm giàu của Cậu
có một không hai.
Cậu Ngạc quý con chim đó lắm! Nó là cục vàng sống, nó là của gia bảo, nó là niềm kiêu hãnh của kẻ đam mê. Nó là sự sống của đời Ngạc. Việc phục vụ chim kiêng kỵ đầu phần là đàn bà con gái, Ngạc đi vắng chỉ duy nhất có đứa con trai là thay thế được, và cũng từ đây dẫn đến khúc ngoặt bất ngờ trong cuộc đời đam mê chim của cậu Ngạc.
Một hôm, Ngạc đi ăn giỗ ở
làng bên qua đêm mới về được. Ngạc dặn con thay mình cho chim uống, trong lúc
sơ sảy chim sổ lồng bay mất… Quá hoảng sợ, đứa trẻ trốn biệt tăm. Biết chuyện cả
nhà bố đi tìm, tìm mãi chẳng thấy. Vợ Ngạc thuê cả các phường câu về mò các ao
đầm, sông suối mà vẫn “bặt vô âm tín”. Buồn bã, vợ Ngạc qua đời trong mòn mỏi…
Ngạc bỏ nhà, bỏ làng ôm mối hận lên núi làm lều cạnh thung Mơ mà ở… Nguyễn Phi
Ngạc từ đó trở thành lão Ngạc gác rừng.Trống
Lão Ngạc là người mẫn cán
với công việc. Từ ngày có lão, khu rừng vơi đi tiếng chặt gỗ và cưa gỗ. Lão bảo
Lạc:
– Cây lát da đồng trên đỉnh
núi là linh hồn của núi này, nó là cây cột chống trời, nó mà đổ cả núi rừng này
sụp xuống.
Chẳng biết có phải vì đồng lương mà Sở lâm nghiệp cấp cho lão sống, để lão làm việc hay vì cái gì? Có lẽ do lòng trắc ẩn, sự ăn năn hối hận trước những việc làm của mình, hay còn một nỗi đam mê sâu kín trong lòng mà lão không từ bỏ được, đó là hình bóng của người vợ, của những cánh chim họa mi cư trú ở thung này.
Lạc vào Đại học Lâm nghiệp,
anh chọn khoa Lâm sinh. Sau khi tốt nghiệp, anh một mực xin về đây lập một trạm
nghiên cứu lâm sinh ngay bên cạnh căn lều của lão Ngạc mặt hướng nhìn xuống
thung Mơ. Từ trong thâm tâm Lạc muốn bù lấp những mất mát trong đời lão Ngạc,
có làm được như thế, lòng anh mới phần nào thanh thản được.
Một hôm, đi kiểm tra cây ở
trên cốt hai ngàn về, Lạc chột dạ nghe thấy tiếng nói nằng nặng của một người
vùng xuôi đang ngồi trong lều. Lạc đứng ngoài vách và vô tình anh nghe được câu
chuyện giữa hai người. Lão Ngạc bảo:
– Ông xuống núi đi, đừng
bao giờ nói chuyện mua bán với tôi.
– Ông còn chê ít sao, hơn
chục cây vàng, cả một gia tài chứ ít gì. Bao kẻ cày đầu, cắm mặt suốt cả cuộc đời
mà chẳng có lấy mảy may… vả chăng ông không muốn nuôi chim nữa, đôi cóng ấy ông
giữ làm gì.
– Tôi không bán, không
bao giờ bán. – Lão Ngạc gằn lên từng tiếng. Trong lồng con rắn thấy động
cất cao đầu, bành mang bạnh ra phun những tiếng phì phì tức giận. Người khách lắc
đầu đi giật lùi ra cửa, mắt lấm lét nhìn con rắn. Một lát sau, con rắn lại bình
thản nằm nghếch đầu lên hai cái cóng.
Đời sống con người cũng
như con sông, con suối, cũng thác ghềnh, cũng êm đềm và những khúc ngoặt. Lạc
cũng có một khúc ngoặt như thế… Vài năm sau khi tốt nghiệp đại học, công việc
và tháng ngày chậm chạp trôi đi như một thứ luật “nhắc lại” nhàm chán. Lạc
không còn là một anh sinh viên nhiệt huyết, đầy hoài bão nữa, anh hiện nguyên
hình là một thằng đàn ông trước cuộc đời đầy ma lực quyến rũ. Một hôm, Lạc nói
với lão Ngạc bằng cái giọng rầu rầu.
– Con phải đi thôi cha ạ!
Cha hãy tha thứ cho con…
Lão Ngạc chỉ lặng lẽ cười
nhạt, tiễn Lạc xuống núi bằng cái nhìn vời vợi. Nửa năm sau, Lạc lên núi bảo với
lão Ngạc rằng mình đã lấy vợ. Vợ Lạc là một cô con gái con nhà buôn bán ở phố
huyện, nấn ná mãi cho đến nửa đêm Lạc vò đầu bứt tai bảo lão Ngạc:
– Thưa cha, cha đã thương
chúng con thì thương cho trọn vẹn. Cha hãy cho chúng con một ít, tạo điều kiện
cho chúng con khởi nghiệp.
– Ta còn có gì đâu!
– Cha vẫn còn – Lạc năn nỉ,
mắt ngước nhìn cầu khẩn.
– Không được! – Lão Ngạc
quắc mắt, hình như lão đã đoán được ý định của Lạc – Mà ta cũng báo cho anh biết,
không thể động vào nó được, con rắn sẽ không tha mạng cho bất cứ ai mạo hiểm
làm điều đó.
Vẻ mặt lão Ngạc đầy tức
giận, xách nỏ, lão bỏ ra ngoài. Lạc nhìn theo, tuổi tác đã đè nặng lên vai lão.
Lão Ngạc đi ngược lên núi, bàn chân lão choãi ra bám vào đá như bàn chân thạch
sùng bám trên tường. Lão đi đơn độc lẻ loi, đến đỉnh núi chỗ cây “cột chống trời”.
Lão đứng im phăng phắc nhìn xuống thung Mơ, dáng lão bất động như pho tượng đá.
Lạc như kẻ cùng đường, anh ở lại mấy ngày chờ lão về để thuyết phục. Đã mấy
ngày chẳng thấy lão Ngạc quay lại lều. Lạc thấy lo lo, vào một buổi chiều tà,
bóng tối lễnh loãng khắp thung Mơ thì lão Ngạc về, bước vào lều, lão bảo:
– Cũng may, tìm mãi đến
ngày thứ ba mới tìm được cái thế “tử địa” nếu không thì cũng đành bó tay. Con
chim này tướng rất lạ, tản đầu, cát xanh, mắt ướt và đặc biệt “rập mềm” – nó sẽ
đánh miếng quắp tuyệt vời. Đây là lần cuối cùng ta cho anh, cầm lấy mang về mà
kiếm tiền lập nghiệp.
Lạc nửa mừng, nửa lo xuống
núi…
Qua hai mùa xuân hội làng
Yến Vĩ, bằng con chim, Lạc có số vốn… đầu tiên. Cuối mùa xuân năm đó, Lạc mở cửa
lồng nói:
– Mày hãy bay đi và đừng
bao giờ mang oan uổng gieo xuống đầu tao.
Bằng sự thông minh lanh lợi
và tính quyết đoán, với một số vốn ít ỏi ban đầu nhờ vào con chim mang lại, Lạc
đã trở nên giàu có, anh mở một xưởng cưa. Gỗ tròn, gỗ tấm, to nhỏ qua lưỡi cưa
như hàm răng cá mập của Lạc là tan tành hết. Gỗ ra, tiền vào, rừng teo tóp, gỗ
càng khan hiếm. Những phu gỗ đã phải vào sâu trong rừng. Qua chuyện của họ, Lạc
biết cánh rừng bên này do lão Ngạc trấn giữ vẫn nguyên vẹn. Lạc muốn như thế bởi
trong lòng anh không dễ một sớm một chiều mà quên đi lão Ngạc được. Từ ngày làm
ăn phát đạt, Lạc đã mấy lần đích thân lên núi đón lão về phụng dưỡng nhưng lão
chối đây đẩy và buông một câu nhạt nhẽo:
– Về đấy làm sao ta sống
nổi.
Chiều nay, khi đóng cửa
xưởng cưa, Lạc nhìn về phía núi, miệng lẩm bẩm: “Mũ núi mưa mai, đai núi mưa
chiều”, lưng chừng núi là một dải mây xám đục sũng nước dang ngang như một bức
tường thành… Lạc quên làm sao được những trận mưa rừng xối xả. Ký ức cứa vào
lòng anh lạnh buốt. Anh nỡ phụ bạc cả một tấm lòng nhân hậu, đùm bọc anh từ thuở
thiếu thời đến lúc trưởng thành. Giận hờn lẫn lộn, Lạc cáu gắt nói với vợ nhưng
chính là để cho mình nguôi ngoai:
– Cho lão chết, ôm một đống
vàng mà phải sống nghèo, giam hãm đời mình nơi “thâm sâu cùng cốc”, thật là lão
già cố chấp!
Sáng hôm sau, công việc lại kéo Lạc vào những bận rộn thường nhật.
Lạc lại ký được một hợp đồng
xuất khẩu gỗ rất lớn, anh phấn khởi mừng thầm bảo vợ:
– Xong chuyến này mình
lên đón lão Ngạc, chuyển hẳn ra thành phố làm ăn buôn bán cho nó nhàn.
Nhưng khi đặt gỗ với các
lái thì họ bảo:
– Đào đâu ra những cây gỗ
ấy bây giờ, toàn là “nhóm một”, “vanh” lớn như thế cây cũng phải hàng trăm tuổi,
gỗ ấy phải rừng nguyên sinh mới có, cánh rừng này xin lạy cả nón!
Tưởng họ chê ít. Lạc đặt
giá cao gấp hai, ba lần cũng chẳng ai nhận lời. Tìm mãi mới được một lái rất bợm
nhận lời nhưng hắn lại bảo:
– Chỉ có thể lấy ở vạt rừng
mà lão Ngạc coi giữ là còn.
Lạc bỏ đi ngay. Từ ngày đầu
mở xưởng Lạc tuyên bố:
– Có cho không cũng không
lấy nếu là gỗ của vạt rừng ấy.
Một hôm, có một lái đánh
đến xưởng của Lạc mấy chục mét gỗ lát, giá cả phải chăng, Lạc ra xem, biết là
“cây cột chống trời” đã bị phạm tội. Anh quay đi, lòng bồn chồn nhớ lão Ngạc,
ông lái nhổ toẹt bãi nước bọt bảo:
– Đã là chó mà còn chê… của
béo bở lại để thằng khác phỗng mất.
Mối lợi như vừa tuột khỏi
tay, máu kinh doanh xem đồng tiền làm trọng. Lạc quay lại, lái gỗ bảo:
– Tôi biết “hèm” của ông
rồi “cửu gỗ” phải vòng sang bên kia nói mới “đánh” được đấy!
Lạc giật mình hỏi:
– Thế ông già không biết
à?
– Lão già khú ấy sắp chết
rồi, cựa còn khó nói gì đến gác xách nữa, chúng nó chỉ sợ có cây nỏ thôi, mà
hình như lão không đủ sức căng dây nữa.
Lạc đưa cây gỗ vào xẻ, thật
đúng như tên của nó, từng súc gỗ rộng bản đông đặc như miếng tiết, nạc như
khoanh giò lụa được bong ra, mới chỉ qua đường cưa đi mà vân gỗ đã nổi lên đẹp
chưa từng thấy bao giờ. Lạc hình dung ra sau khi đã bào nhẵn nhụi, tráng qua một
nước sơn mặt dầu áp mộc, hoa gỗ lồng lộng nở rực rỡ như một cái đuôi công xòe
ra, ai dám chê. Lạc như cầm chắc món hàng sẽ được giao trót lọt.
Xuất xong lô hàng, tiền
nong gọn ghẽ nhưng lạc vẫn cảm thấy áy náy. Một cái gì phảng phất trong đầu anh
khi xẻ tan “cây cột chống trời” ở rừng này. Sau rồi Lạc chặc lưỡi: “Chẳng qua
là những lời nói của lão Ngạc ám ảnh”. Anh lại lao vào những vụ làm ăn “hấu”
hơn nhiều.
Một đêm mùa hạ, trời oi bức
ngột ngạt, mây đen tụ kín bốn bề mà chẳng có giọt mưa. Quãng nửa đêm, sấm chớp
bỗng nổ vang trời, rồi mưa ồ ạt trút xuống, như đổ nước, kéo dài mấy tiếng đồng
hồ liền. Không khí dìu dịu, Lạc thiu thiu ngủ trong cái yên ả, mát mẻ của trời
đất sau mưa, anh chập chờn thấy những tiếng ì ầm như từ trong lòng đất vọng tới,
mỗi lúc một to, một gần… Đến lúc Lạc cảm thấy như có ngàn vạn cặp ngựa đang cấp
vó tung bờm sầm sập từ trên núi lao xuống, anh chỉ kịp thét lên một tiếng man dại:
“Lũ quét!” và lôi vợ con lên tầng thượng tòa nhà. Bốn bề nước ào ạt đổ về với một
sức mạnh khủng khiếp.
Sáng hôm sau, Lạc được chứng
kiến quang cảnh đổ nát hoang tàn, chỗ hướng chính lũ đi, mặt đất bị rạch xuống
như một dòng sông cạn. Cả nhà Lạc thoát chết nhờ tòa nhà xây cao và vững chắc
như một cái lô cốt. Lạc thoảng thốt giật mình. Mấy hôm sau, Lạc quyết định mang
lễ vật lên núi để “tạ thần gỗ” và nhân thể đón bằng được lão Ngạc về. Có lẽ lão
đã già lắm rồi, không còn đủ sức gác rừng nữa, vả lại lương tâm không cho phép
anh cứ trơ ra mà sống.
Đến nơi, trong bời bời
bông lau nở trắng xóa, cây cối như biến mất, chẳng còn nhận ra đâu là mái lều
ngày xưa anh đã từng sinh sống. Tìm mãi mới thấy dấu vết của nền xưa, có lông
lan trùm kín trên đất lều. Đang băn khoăn thì có một người Mán đi săn qua Lạc hỏi,
người Mán chỉ biết họ đã chôn ông lão ở bờ suối.
Lạc bàng hoàng kinh sợ,
anh lội qua suối đến chỗ người Mán chỉ. Một đống đá xếp lùm lùm làm dấu, bên
trên những chiếc nan lồng bị thời gian hủy hoại giờ chỏng chơ, ải nát như một nắm
xương của một khúc cá kho nục. Chẳng cầm đặng lòng mình, nước mắt Lạc rưng
rưng.
Lạc lặng lẽ bày lễ vật ra
trước nấm mồ lạnh đá, cắm xuống những nén nhang. Lạc bỗng giật thót mình, một
tiếng “phè” làm anh ngây người chết đứng. Định thần, anh nhận ra con rắn ngày
xưa. Nó đã già lắm, thân hình mốc thếch nhưng cặp mắt vẫn tròn xoe lồi ra nhìn
Lạc. Anh cắm hương rồi nằm phủ phục trên mặt đất nức nở gọi: “Cha ơi!” Trời lặng
gió, khói hương chầm chậm tỏa, con rắn lắc lư cái đầu. Lạc đi xuống thung Mơ,
lòng thung tan hoang như một bãi chiến trường, đá lổng chổng lộn xộn vì những kẻ
đào vàng lật lên, hai bên vách đá dựng đen sì lởm chởm chẳng còn một cội mơ nào
sót lại. trong đống đá Lạc nhìn thấy một vật gì mòng mọng… Anh lại gần nhặt lên
xem thì ra đó là một mảnh vỡ của cái “cóng Tàu”. Lạc tìm quanh quất rồi ghép lại,
rung rung trong tay nó đỏ bầm như một cục máu. Vành của cái viền đáy cóng nổi bật
bốn chữ hán viết đá thảo “Khang Hy niên chế”. Cái cóng tuột khỏi tay tóe ra đỏ
rực trên nền đất. Lạc ngồi xuống tần ngần nhìn lại hai bàn tay mình, rồi anh ôm
đầu gục xuống… Hoàng hôn buông lòng thung bịt bùng hoang dã.
… Mấy năm sau, trên một
trục đường mới mở ven chân núi, thấp thoáng trong những vạt rừng trồng đang vào
kỳ khép tán, có một nếp sàn nhỏ, trước cửa treo một tấm biển lớn, biển có một
dòng chữ đỏ thắm nổi bật giữa màu xanh núi đồi: “Trạm nghiên cứu lâm sinh”. Mọi
người đi qua bảo:
– Đó là nhà của anh kỹ sư
kiêm gác rừng có một cái tên ngồ ngộ: “Lạc Rừng”.
17/7/2026
Hà Nguyên Huyến
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét