Cái mũ
“Cái mũ” là một chương trong cuốn “Livret de famille” (“Sổ hộ tịch”, 1977) của Patrick Modiano. Ông sinh năm 1945, là nhà văn người Pháp, tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết trong đó có “Quảng trường ngôi sao”, “Phố những cửa hiệu u tối”, “Từ thăm thẳm lãng quên”, “Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối”. Ông đoạt Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện hàn lâm Pháp năm 1972 và giải Goncourt năm 1978, được trao giải Nobel văn chương năm 2014.
Năm mười tám tuổi mẹ tôi
bắt đầu sự nghiệp điện ảnh ở thành phố quê hương Antwerp. Trước đó bà làm việc
cho công ty khí đốt và tham gia vài khóa học diễn thuyết, nhưng khi người ta dựng
một xưởng phim ở Pyckestraat theo sáng kiến của một người tên là Jan
Vanderheyden, bà bước vào và được tuyển.
Chẳng mấy chốc một nhóm
được thành lập quanh Vanderheyden, ông này luôn sử dụng cùng một đoàn diễn viên
và một đoàn làm phim. Ông kiêm cả sản xuất lẫn đạo diễn, và quay các bộ phim của
mình trong thời gian kỷ lục. Xưởng phim Pyckestraat hoạt động nhộn nhịp đến mức
các nhà báo gọi nó là “de Antwerpsche Hollywood”, Hollywood của Antwerp.
Mẹ tôi là nữ chính rất trẻ
trong bốn phim của Vanderheyden. Ông làm hai phim đầu, Người đàn ông này là một
thiên thần và Janssens đối đầu Peeters, năm 1939. Hai phim sau, Janssens và
Peeters hòa giải và Chúc may mắn, Monika, làm năm 1941. Ba trong số này là các
phim hài nổi tiếng, lấy bối cảnh ở Antwerp, biến Vanderheyden – như một nhà phê
bình nhận xét lúc đó – thành “Pagnol của sông Schelde”. Phim thứ tư,
Chúc may mắn, Monika, là phim ca nhạc.
Thời điểm đó, công ty sản
xuất Vanderheyden đã nằm dưới sự kiểm soát của Đức, và mẹ tôi được cử đến
Berlin vài tuần, nơi bà đóng một vai nhỏ trong bộ phim Bel Ami của Willi Forst.
Năm 1939, mẹ tôi cũng ký
hợp đồng với Nhà hát Empire của Antwerp. Bà làm vũ công. Từ tháng 6 đến tháng
12, họ dựng một vở chuyển thể từ vở Không, không, Nanette, mẹ
tôi cũng xuất hiện trong đó. Rồi từ tháng 1.1940, bà tham gia một chương trình
tạp kỹ “thời sự” tên là Ngày mai sẽ tốt lên. Bà đứng giữa
trong nhóm diễn viên hoạt cảnh cuối cùng. Khi các vũ công khác nhảy với những
chiếc ô “Chamberlain”, người ta có thể thấy mẹ tôi đứng dậy trong một chiếc giỏ,
đầu đội những tia nắng vàng. Từ từ bà được kéo lên cao, mưa tạnh, những chiếc ô
cụp xuống. Bà là hình ảnh mặt trời mọc, ánh sáng của nó xua tan mọi bóng tối của
năm đương tới. Từ trên giỏ bà vẫy tay chào khán giả, và dàn nhạc chơi một bản
liên khúc. Màn hạ. Lần nào cũng thế, để chọc bà, đoàn hậu đài lại kệ bà trên giỏ,
lơ lửng trên cao, trong bóng tối.
Bà sống trên tầng hai một
ngôi nhà nhỏ gần ke Van Dyck. Một cửa sổ nhìn ra sông Schelde và lối đi dạo ven
sông, quán cà phê lớn nằm ở cuối. Có Nhà hát Empire, với phòng thay đồ nơi bà
trang điểm mỗi tối. Có nhà hải quan. Có những con phố chạy dọc bờ sông, cảng và
các bến tàu. Tôi trông thấy bà băng qua đại lộ khi một chiếc xe điện chạy qua,
ánh đèn vàng của nó tắt dần trong màn sương. Bây giờ là đêm. Những chiếc tàu thủy
chạy bằng hơi nước kéo còi.
Ông giám đốc phục trang ở
Empire ái mộ mẹ tôi và đề nghị làm quản lý của bà. Một người đàn ông cằm nọng,
đeo kính gọng sừng to bản, nói rất chậm. Nhưng ban đêm, ở một quán rượu thủy thủ
ở khu phố Hy Lạp, ông hát trong một tiết mục âm nhạc trong vai Bà Bướm. Theo
ông, các bộ phim của Vanderheyden, quyến rũ và nhiều, không làm nên sự nghiệp
diễn viên. Cưng ạ, cưng phải nhìn xa trông rộng lên. Và tình cờ ông quen mấy
nhà sản xuất phim quan trọng sắp quay một bộ phim nhưng vẫn đang tìm một cô gái
vào vai thứ chính. Ông đưa mẹ tôi đến gặp họ.
Mấy nhà sản xuất này hóa
ra là một người đàn ông tên là Félix Openfeld và cha ông ta, mà người ta gọi là
Openfeld Già. Một nhà buôn đá quý ở Berlin, Openfeld Già di tản về Antwerp khi
Hitler thâu tóm quyền lực ở Đức và các mối làm ăn của người Do Thái bị đe dọa.
Ông con, từng là giám đốc sản xuất tại hãng phim Đức Terra Film, tìm được việc
làm ở Hoa Kỳ.
Họ ưng mẹ tôi. Họ còn
không bảo bà thử vai, chỉ yêu cầu bà đọc một cảnh trong kịch bản, ngay tại đó.
Bộ phim có cái tên là Các tay bơi và các thám tử, viết theo đề
xuất của nhà vô địch bơi lội Olympic trẻ tuổi người Hà Lan Willy den Ouden, anh
ta muốn đích thân đóng phim. Theo mẹ tôi kể thì cái cốt truyện thám tử khá sơ
sài này được mượn làm cớ cho nhiều cảnh lặn và múa ba lê dưới nước là chính. Mẹ
tôi vào vai bạn thân nhất của Willy den Ouden.
Tôi có bản hợp đồng mẹ
tôi ký hôm đó. Hai tờ giấy dày dặn màu xanh da trời, có dấu mờ, trên cùng có
dòng chữ Openfeld-Films. Chữ O trong Openfeld rất to, một vòng lặp nhã nhặn bằng
chữ viết tay nét thanh nét đậm. Bên trong chữ O là một Cổng Brandenburg thu nhỏ,
được in rất tinh xảo. Tôi đồ rằng nó ở đó là để gợi nhớ gốc gác của hai nhà sản
xuất ở Berlin.
Bà mẹ tương lai của tôi sẽ
nhận được một khoản tiền cố định bảy mươi lăm ngàn franc Bỉ, trả thành nhiều đợt
bắt đầu mỗi tuần quay. Và hai bên hiểu rằng khoản phí này sẽ không tăng không
giảm cho đến khi hợp đồng hết hạn hoặc được gia hạn khi đến lúc. Nó cũng quy định
thời gian trang điểm và chuẩn bị trang phục sẽ được coi là thời gian chuẩn bị
chứ không tính vào giờ làm việc.
Cuối trang là chữ ký cẩn
thận của mẹ tôi. Rồi đến chữ ký phắt ngang của Félix Openfeld. Chữ ký thứ ba
ngoáy hơn thế nữa, bên dưới có người đánh vào đó: Ông Openfeld Già.
Hợp đồng ký ngày 21 tháng
4 năm 1940.
Họ mời mẹ tôi dùng bữa với
họ tối hôm đó. Ông giám đốc phục trang cũng có mặt, và biên kịch Henri Putmann,
không rõ quốc tịch: Bỉ? Anh? Đức? Đáng lẽ ra Willy den Ouden cũng đến gặp mẹ
tôi nhưng bị giữ chân vào phút chót. Buổi tối rất vui. Hai người nhà Openfeld –
nhất là Félix – có cái vẻ lịch thiệp, vừa cứng nhắc vừa vui tươi, rất đặc trưng
của người Berlin. Félix Openfeld kỳ vọng cao vào bộ phim. Một hãng phim Mỹ đã
bày tỏ sự quan tâm. Chẳng phải ông ta luôn nói họ nên cho ra mắt một xê ri phim
hài trinh thám mang một “góc độ thể thao” đấy sao? Một lúc nào đó trong bữa tối
họ đã chụp một bức ảnh mà tôi có đây, trên bàn làm việc của mình. Người đàn ông
tóc đen chải ngược ra sau là Félix Openfeld. Hai người đàn ông béo, hơi hơi đứng
về phía sau ông ta là Putmann và ông giám đốc phục trang. Ông già có cái mặt chồn
nhưng mắt tròn tuyệt đẹp là Openfeld Già. Và cô gái trông giống Vivien Leigh là
mẹ tôi.
Trong cảnh đầu phim bà sẽ
xuất hiện một mình. Bà sẽ dọn dẹp phòng ngủ, tự hát và trả lời điện thoại.
Félix Openfeld, đạo diễn phim, quyết định quay các cảnh theo trình tự thời
gian.
Ngày quay đầu tiên được ấn
định vào thứ sáu, 10 tháng 5 năm 1940, tại Sonor Studios dưới Brussels. Mẹ tôi
sẽ đến lúc mười rưỡi. Vì sống ở Antwerp nên bà phải bắt tàu rất sớm.
Trước hôm đó bà nhận được
một khoản trả trước mà bà đã đem đi mua một chiếc túi trống làm bằng da và mấy
món mỹ phẩm của hãng Elizabeth Arden. Bà về nhà vào cuối buổi chiều, tập dượt một
chút, ăn tối rồi đi ngủ.
Khoảng bốn giờ, bà tỉnh
giấc vì tiếng động mà bà nghĩ là tiếng sấm. Nhưng tiếng động này lớn hơn thế –
một tiếng gầm dài, bít bùng. Xe cứu thương chạy trên ke Van Dyck, mọi người
nhoài ra ngoài cửa sổ. Còi hú khắp thành phố. Người đàn bà ở căn hộ bên cạnh
run rẩy giải thích rằng không quân Đức đang đánh bom cảng. Tiếng ồn ào ngưng lại,
mẹ tôi đi ngủ tiếp. Lúc bảy giờ chuông báo thức reo. Bà vội vã xuống nhà đợi xe
điện, ở quảng trường nhỏ, tay xách cái túi trống. Xe điện không đến. Những nhóm
người đi ngang qua, xì xầm nói chuyện.
Cuối cùng bà tìm được một
chiếc taxi, và cả chặng đường đến nhà ga tài xế cứ nhẩm đi nhẩm lại, như thể
nói những lời đáp trong thánh lễ, “Thôi xong rồi… thôi xong rồi… thôi xong rồi”.
Nhà ga chật cứng người, mẹ
tôi phải cố hết sức mới chen được vào sân ga để lên tàu xuống Brussels. Mọi người
búa xua quanh người điều hành xe lửa, tấp vào ông những câu hỏi: Không, tàu
không chạy. Ông đang đợi hướng dẫn. Và cùng một câu trên môi mọi người: “Quân Đức
vượt biên giới rồi… Quân Đức vượt biên giới rồi”.
Trên đài, bản tin sáu rưỡi
sáng thông báo Wehrmacht vừa xâm lược Bỉ, Hà Lan và Luxembourg.
Mẹ tôi cảm giác có ai đó
động vào cánh tay bà. Bà quay lại – đó là Openfeld Già, đội mũ nỉ đen. Râu ông
không cạo, cái mặt chồn của ông đã teo mất nửa, mắt ông to lắm. Hai con mắt
xanh to đùng giữa cái đầu nhỏ xíu, kiểu đầu mà thổ dân Jivaro sưu tập. Ông kéo
mẹ tôi ra khỏi ga.
“Chúng ta phải gặp Félix ở
xưởng – Brussels – taxi – mau lên – taxi”.
Ông nuốt một nửa những lời
ông nói.
Các tài xế taxi không chịu
chở xa như vậy vì sợ bị đánh bom. Openfeld Già thuyết phục được một người bằng
tờ một trăm franc. Trên taxi, Openfeld Già bảo mẹ tôi:
“Ta chia đôi tiền”.
Mẹ tôi phân bua bà chỉ có
hai mươi franc.
“Không sao. Đến xưởng rồi
tính”.
Trên xe ông nói rất ít.
Thỉnh thoảng ông tra sổ địa chỉ và sốt ruột lục túi áo khoác và áo khoác ngoài.
“Cô không còn cái va li
nào à?”, ông bảo mẹ tôi, hất đầu chỉ cái túi da trên đầu gối bà.
“Va li ạ?”
“Thứ lỗi cho tôi – phải rồi…
cô sẽ ở lại đây…”
Ông lẩm bẩm gì đó nghe
không rõ. Ông lại quay sang mẹ tôi:
“Chả bao giờ nghĩ được
chúng nó lại không tôn trọng sự trung lập của Bỉ”.
Ông gằn từng tiếng, sự-trung-lập-của-Bỉ.
Rõ ràng cho đến ngày hôm đó ông vẫn bám vào những từ này như một niềm hy vọng
mơ hồ, và hẳn là ông đã nhẩm đi nhẩm lại nó, không tin, nhưng đặt niềm tin. Giờ
thì nó đã bị cuốn phăng đi, cùng tất tật mọi thứ khác. Sự trung lập của Bỉ.
Taxi đưa họ đến Brussels
xuống đại lộ de Tervueren, nơi nhiều tòa nhà đã bị thiêu rụi. Các đội lính cứu
hỏa đang lục đống đổ nát. Tài xế hỏi có chuyện gì – một vụ đánh bom vào khoảng
tám giờ.
Trong sân Sonor Studios họ
nhìn thấy một chiếc xe tải và một chiếc xe mui trần lớn chất đầy hành lý. Lúc
Openfeld Già và mẹ tôi bước vào Phim trường B thì Félix Openfeld đang chỉ đạo
các thành viên đoàn làm phim thu dọn máy quay và máy chiếu.
“Chúng ta sẽ đến Mỹ”,
Félix Openfeld tự tin nói.
Mẹ tôi ngồi xuống một chiếc
ghế đẩu. Openfeld Già chìa một hộp thuốc lá ra.
“Cô không đi cùng chúng
tôi à? Ta sẽ tìm cách quay bộ phim bên đó”.
“Cô sẽ không gặp chuyện
gì ở biên giới đâu – Félix Openfeld nói – Có hộ chiếu còn gì”.
Kế hoạch của họ là đến
Lisbon nhanh nhất có thể, qua Tây Ban Nha. Félix Openfeld đã xin được giấy tờ từ
tay lãnh sự ở Bồ Đào Nha, một người bạn tuyệt vời của ông ta, ông ta nói.
“Ngày mai Đức sẽ vào
Paris, hai tuần nữa sẽ vào London”, Openfeld Già tuyên bố, lắc đầu.
Họ chất đồ đoàn lên xe tải.
Có ba người, hai người nhà Openfeld và Grunebaum, một cựu quay phim cho hãng
phim Tobis, tuy là người Do Thái nhưng trông rất dễ nhầm với Wilhelm II. Mẹ tôi
biết ông này vì tuần trước đó ông đã cho bà làm thử nghiệm ánh sáng cho các cảnh
quay cận cảnh. Grunebaum trèo lên ngồi sau vô lăng xe tải.
“Marc, theo tôi”, Félix
Openfeld nói.
Ông ta nhảy vào chiếc xe
mui trần. Mẹ tôi và Openfeld Già chen chúc trên ghế trước, cạnh ông ta. Ghế sau
chất đầy va li và một cái hòm.
Đoàn làm phim chúc họ thượng
lộ bình an. Félix Openfeld lái khá nhanh. Chiếc xe tải bám theo sau.
“Ta sẽ tìm cách quay bộ
phim bên Mỹ”, Openfeld Già lại nói.
Mẹ tôi không trả lời. Bà
cảm thấy hơi bối rối trước những diễn biến này.
Ở quảng trường de
Brouckère Félix Openfeld đậu xe trước Hôtel Métropole. Chiếc xe tải cũng dừng lại.
“Đợi đây – tôi quay lại
ngay”.
Ông chạy vào khách sạn.
Vài phút sau ông trở lại với hai chai nước khoáng và một cái bịch lớn.
“Sandwich ăn dọc đường.”
Họ sắp sửa đi tiếp thì bất
thình lình mẹ tôi nhảy xuống xe.
“Tôi… tôi phải… ở lại
đây”, bà nói.
Hai người đàn ông nhìn bà
với một điệu cười mơ hồ. Họ không nói lời nào hòng khiến bà đổi ý. Bà có gì để
mất cơ chứ, hẳn là họ đã nghĩ như thế. Và suy đi tính lại thì tại sao bà phải rời
đi? Bố mẹ bà đang đợi bà ở Antwerp. Chiếc xe tải lái đi trước. Hai bố con nhà
Openfeld vẫy tay chào tạm biệt mẹ tôi. Mẹ tôi vẫy lại. Félix Openfeld đánh xe
ra khỏi chỗ đậu với một cú giật vô lăng – hay vừa có một cơn gió thốc? Openfeld
Già đánh rơi cái mũ nỉ của mình, nó lăn xuống vỉa hè. Nhưng một cái mũ thì đáng
gì đâu. Họ không được phí phạm một giây phút nào.
Mẹ tôi nhặt cái mũ lên và
bắt đầu đi mà không biết nên đi về đâu.
Trước ngân hàng tín dụng
một hàng dài bất tận đàn ông và phụ nữ đang chờ rút tiền. Mẹ tôi đi bộ theo đại
lộ Nord đến nhà ga.
Ở đó bà thấy cảnh huyên
náo, đám đông sững sờ y hệt như bà đã thấy ở nhà ga Antwerp. Một người cửu vạn
bảo bà có một chuyến tàu sẽ khởi hành về Antwerp vào khoảng ba giờ chiều hôm
đó, mặc dầu có thể phải đêm khuya mới tới được.
Trong căng tin bà ngồi sụp
xuống một chỗ ngồi trong góc. Mọi người đi ra đi vào, đàn ông đã bận quân phục.
Bà loáng thoáng nghe thấy người ta kháo lệnh tổng động viên đã được ban hành
lúc chín giờ. Một chiếc radio ở cuối phòng phát bản tin. Ở Antwerp, cảng đã bị
đánh bom lần hai. Pháp vừa vượt qua biên giới. Đức đã chiếm Rotterdam. Ngồi xổm
bên cạnh bà, một người phụ nữ thắt dây giày cho một cậu bé. Một số du khách gọi
giục cà phê, một số người thì chen chúc xô đẩy, những người khác thì kéo sền sệt
va li, thở hổn hển.
Bà còn phải đợi đến ba giờ chiều. Bà cảm thấy một cơn đau đầu nhẹ sắp đến. Hốt nhiên bà nhận ra mình đã làm mất cái túi trống, trong đó đựng mấy đồ mỹ phẩm Elizabeth Arden và kịch bản. Có thể bà đã bỏ quên chúng ở Sonor Studios, hoặc trên xe. Thứ bà cầm trên tay mà không hề nhận ra cho đến tận lúc đó, là cái mũ nỉ đen, vành quăn của Openfeld Già.
14/10/2025
Patrick Modiano
Nguyễn Huy Hoàng dịch
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét