Mỹ nhân nơi đồng cỏ
Tiểu thuyết Mỹ nhân nơi đồng cỏ (NXB Hội Nhà văn, 2017) của nhà văn Lê Hoài Nam tái hiện một giai đoạn ngắn trong lịch sử dân tộc dưới triều nhà Lê, kể từ lúc vua Lê Thái Tông đột ngột băng hà cho tới khi Hoàng tử Lê Tư Thành lên ngôi trở thành minh quân Lê Thánh Tông. Thông qua nhân vật trung tâm là cô gái cắt cỏ xinh đẹp và sắc sảo trở thành Thái hậu Nguyễn Thị Anh, tác giả đã khai mở và lý giải nhiều vấn đề còn ẩn khuất của lịch sử bằng góc nhìn của nhà tiểu thuyết giàu kiến văn và sức liên tưởng. VHSG xin cảm ơn nhà văn Lê Hoài Nam và trân trọng giới thiệu bạn đọc một số chương trích từ tiểu thuyết.
Chương mười bảy
Trong khuôn viên cung
Diên Khánh có một căn phòng kê hai bộ salông gỗ gụ khảm trai, trên tường gắn những
bức tranh vẽ thiếu nữ xinh đẹp của các họa sĩ Trung Hoa. Khi thiết triều có
đông đủ văn võ bá quan thường diễn ra ở điện Kính Thiên. Nhưng phiên thiết triều
ấy cho dù Hoàng thái hậu chính là tác giả của những điều nhà vua ban bố thì bà
cũng chỉ ngồi ở vị trí nhiếp chính. Sinh ra căn phòng khách trong cung Diên
Khánh là để những khi bà lấy quyền hành của chính bà, quyền của mẹ vua để nói với
vua và các quan điều này điều khác. Tỷ dụ như sáng hôm nay Hoàng thái hậu cho gọi
Đức vua Bang Cơ, Bình Nguyên vương Lê Tư Thành, Nhập nội đô đốc Đinh Liệt, Thiếu
bảo tri quân sự Nguyễn Xí, Nội quan Đào Biểu, Trưởng cung nữ Lưu Bích đến phòng
khách này để bà phủ dụ. Bà
– Ta được người trong Lam
Kinh báo ra rằng, mấy hôm nay nước đầm trước cửa lăng miếu có sắc đỏ như máu, Đức
vua và các khanh thử đoán xem vì sao như
Mọi người còn đang ngẫm
nghĩ tìm câu trả lời thì Nguyễn Thị Anh đã nói:
– Đó là điềm báo không
lành! Lăng tẩm ở Lam Kinh xây xong mà Đức vua và Bình Nguyên vương chưa vào đó
làm lễ tế cáo nên các bậc tổ tiên có ý trách giận. Ngay sáng mai Đức vua và
Bình Nguyên vương hãy xa giá vào Lam Kinh cúng tế làm trọn đạo hiếu nghe chưa?
Bang Cơ chưa kịp đáp lời
thì Tư Thành đã nhanh nhảu nói:
– Bẩm Hoàng thái hậu,
chúng con xin lĩnh ý!
Hoàng thái hậu nhìn sang
phía Đinh Liệt và Nguyễn Xí, nói:
– Đức vua và Bình Nguyên
vương còn ít tuổi, chưa hiểu nhiều về việc cúng tế nên Nhập nội đo đốc và
Thiếu bảo hãy đi cùng giúp đỡ họ. Ngoài ra hai ông phải có trách nhiệm hướng dẫn
cho các quan đi cùng nữa. Bệ hạ, Điện hạ và hai ông đích thân hướng
dẫn bá quan bái yết Sơ Lăng và ra lệnh cho quan coi lăng ở Lam Sơn rằng: “Mọi
việc ở đền thờ cần phải thành kính, tinh khiết như ngả cây, chặt che, kiếm củi…”.
Tế tẩm miếu thì dùng bốn trâu, đánh trống đồng, cho quân lính reo hò hưởng ứng.
Về nhạc: võ thì múa điệu “Bình Ngô phá trận”, văn thì múa điệu “Chư hầu lai triều”.
Đức vua và các khanh nhớ rồi chứ?
– Thưa mẫu hậu, trẫm nhớ
rồi – Bang Cơ nói – Mẫu hậu hãy an lòng.
– Còn nữa – Hoàng thái hậu
Nguyễn Thị Anh nói tiếp – Tế xong thì ban yến cho các quan hộ giá, các
quan nhận chức ở ngoài và các quan trí sĩ ở hành điện Lam Kinh, thưởng tiền cho
họ theo thứ bậc khác nhau. Ra sắc chỉ để các đại thần bàn định đặt tên hiệu cho
các miếu điện. Ta có hỏi ý kiến của các quan văn – sử, họ nói nên đặt Chính điện
là điện Quang Đức, điện Sùng Hiếu, hậu điện gọi là Diên Khánh. Đức vua và các
khanh hãy tham khảo. Một việc nữa là hãy sai quân phủ Thanh Hóa làm tẩm cung thờ
Thái hoàng thái phi ở phía tây điện lăng Lam Kinh. Đức vua và các khanh nhớ cả
rồi chứ?
-Dạ, chúng thần đã ghi nhớ
lời người – Đinh Liệt và Nguyễn Xí cùng đáp.
Sáng hôm sau, Hoàng đế
Lê Bang Cơ, Bình nguyên vương Lê Tư Thành thì ngồi chiếc xe song mã có trang
trí riềm vàng rồng phượng. Đinh Liệt, Nguyễn Xí và các quan văn võ ngồi vừa ba
xe. Xe sau cùng chở Đào Biểu, Lưu Bích và bốn cung nữ theo hầu. Lính cấm vệ đi
trong ba xe, một xe dẫn đầu, một xe đi giữa và một xe khóa đuôi. Hoàng
thái hậu Nguyễn Thị Anh ra tận cổng Hoàng cung tiễn họ. Hoàng thái hậu nhìn khắp
lượt xem còn thiếu ai không. Tất cả những ai có quan hệ thân tín với Trịnh Khả
và Trịnh Khắc Phục, đều được bà phân công đi trong chuyến này. Họ đều đã có mặt
trong đoàn xa giá.
Đoàn đi Lam Kinh buổi
sáng thì buổi chiều Nguyễn Thị Anh ra lệnh cho Tòa Đại Hình:
– Các khanh hãy bắt giam
ngay hai cặp cha con: Nhập nội thiếu úy Trịnh Khả cùng con trai là Trịnh Quát,
Tư khấu Trịnh Khắc Phục cùng con là Phò mã đô úy Trịnh Bá Nhai.
Tây đạo đô đốc Lê Lựu
cũng được triệu vào cung Diên Khánh nghe thấy việc đó liền quỳ xuống tâu:
– Bẩm Hoàng thái hậu, Trịnh
Khả và Trịnh Khắc Phục mắc tội gì ạ?
– Tội phản quốc! – Nguyễn
Thị Anh nói như quát lên – Nhưng chuyện này không phải việc của khanh thì đừng
biết sâu làm gì? Hử?
Lê Lựu cũng là một công
huân của Hoàng triều, ông chưa chịu cách hành xử của Nguyễn Thị Anh, nói:
– Nhưng thưa Hoàng thái hậu,
cha làm cha chịu; con làm con chịu, cớ sao lại cho bắt cả con của họ?
– Tây đạo đô đốc hỏi nhiều
quá đấy – Nguyễn Thị Anh tỏ ra không hài lòng nhưng trước một vị đại thần có
tính thật thà, sòng phẳng như Lê Lựu, sẽ rất bất lợi cho bà nếu bà không không
trả lời – Hai cặp cha con này rất giống nhau, ăn ý với nhau, giống như câu
trong dân gian “giỏ nhà ai, quai nhà ấy”, hay “hổ phụ sinh hổ tử”. Từ những câu
ấy mà xét thì cha làm gì, con theo thế. Nếu trừng phạt cha mà để con thì hãy
coi chừng, hai đứa con ấy hiện cũng làm quan trong triều, chúng sẽ phá từ trong
phá ra, triều đình nghiêng ngả, thậm chí đổ nhào vì chúng…Ngài hiểu chưa, ngài
Tây đạo đô đốc?
Biết có hỏi thêm cũng không cải thiện được tình hình, Lê Lựu đành thi lễ rồi cáo lui.
Tòa Đại Hình ngự trên một
mảnh đất rộng khoảng hai sào bắc bộ, cách cổng hậu Hoàng cung mấy khu vườn với
những giống cây tạp mọc tự do. Phía bắc là một tòa nhà rất kì lạ: tầng dưới
là tầng hầm, gồm rất nhiều phòng giam. Những người tử tù đã được điều
chuyển đến đây thì hầu hết là không còn hy vọng có ngày về. Những người xử xong
mà được sống để ngồi tù thì chuyển về nhà ngục gần vườn hoa thành phố, cách nơi
này vài đạc đường.
Sở dĩ Tòa Đại Hình ở ngay
sau lưng Hoàng cung là bởi không ít trường hợp trong buổi thiết triều, khi người
phạm tội đã rõ, Đức vua và Hoàng thái hậu ra lệnh xử chém tức thì, đao phủ chỉ
việc lôi tội nhân ra cổng hậu, đi thêm một quãng qua vườn cây là đến Tòa Đại
Hình, tội nhân sẽ bị chém ở dưới cái sân cỏ đó.
Hai cặp cha con Trịnh Khả
– Trịnh Quát, Trịnh Khắc Phục – Trịnh Bá Nhai bị bắt không cần phải điệu đến
nơi tạm giam tra xét mà đưa thẳng đến nhà hầm trong Tòa Đại Hình chờ xét xử.
Bên trên mái khu nhà hầm
tạm giam tử tội nhô lên khỏi mặt sân cỏ hơn một thước là một lớp sân nền ghép gạch
với vữa mật mía, có tấm bình phong phía sau mang hình thù chiếc khánh , đắp nổi
ba chữ Tòa Đại Hình. Mỗi khi xử án, các nội quan lại bê lên cái “sân thượng” ấy
một chiếc ghế rất to, bằng gỗ gụ, trạm trổ hoa văn, khảm trai. Quan tòa phiên ấy
dù là Đức vua, Hoàng thái hậu hay các quan của Tòa Đại Hình đều ngồi trên cái
ghế ấy. Hai bên là bốn chiếc ghế cũng đóng theo mẫu như chiếc ghế quan tòa
nhưng kích thước nhỏ hơn dành cho các quan ngự sử và gián quan. Khi tòa xử, tội
nhân quỳ bên dưới trả lời những câu hỏi của quan tòa. Nếu tội nhân bị án tử thì
cũng chém ngay tại chỗ để quan tòa , các quan ngự sử, gián quan chứng
kiến. Xung quanh sân Tòa Đại Hình có tường xây, để một cổng nhỏ nối với con đường
lát gạch thất dẫn về cổng hậu Hoàng cung, một cổng lớn để dân chúng vào xem, và
cũng là để di quan tài tội nhân ra con đường dẫn đến nghĩa địa. Thời Lê Thái Tổ,
Lê Thái Tông thì con đường này rải gạch vỡ lẫn đá dăm, hai ven đường để cỏ
mọc, cứ vài chục bước lại có một cây bàng. Giống bàng ở kinh đô Đông Quan thường
rất nhiều lá. Lá xanh mướt mát suốt từ tháng ba cho đến tận tiết tiểu hàn, có
gió bấc về lá mới ngả vàng. Đến tiết đại hàn thì lá ngả màu đỏ thắm. Sang thời
Nhân Tông tuyên Hoàng đế có Tuyên từ Nguyễn Thị Anh nhiếp chính, phiên tòa xử
Đinh Liệtcùng vợ và các con ông diễn ra vào tháng 8 mà chẳng hiểu sao ngày hôm
đó những tán lá bàng đã đỏ thẫm như máu người. Các nhà phong thủy cho rằng đó
là điềm gở, sẽ có tai ương chướng họa giáng xuống kinh thành. Tuyên từ Nguyễn
Thị Anh ra lệnh cho cấm binh chặt hạ tất cả những cây bàng lá đỏ quái gở đó. Bà
sai Văn Lão và Xương Lê về quê Bố Vệ của bà nhổ những cây huyết dụ ngoài nghĩa
địa làng, xếp lên xe song mã, chở ra kinh đô trồng hai bên con đường này thay
thế những cây bàng đã bị chặt.
Nghe nói thủa nhỏ Nguyễn
Thị Anh hay quẩy đôi quang sọt ra khu nghĩa địa làng cắt cỏ cho bò. Gia đình bà
nuôi hai con bò kéo. Vào thời vụ, chúng kéo cày, kéo bừa làm đất ngoài đồng trồng
lúa, trồng khoai lang, lạc, vừng…Khi nông nhàn chúng lại kéo hai chiếc xe đi chở
hàng thuê. Bố và anh trai Nguyễn Thị Anh, mỗi người điều khiển một xe. Còn
nàng, quanh năm gắn bó với cánh đồng cỏ rộng mênh mông, giữa cánh đồng cỏ ấy là
mọt khu nghĩa địa có rất nhiều cây huyết dụ màu đỏ thẫm. Vẻ đẹp trời cho của cô
thiếu nữ cắt cỏ Nguyễn Thị Anh đã biến khu nghĩa địa xã Bố Vệ quê kiểng, hoang
vắng trở thành nơi đi về dập dìu của các giai nhân, thề non hẹn biển với nàng.
Nhưng mãnh liệt nhất phải kể đến chàng Lê Sủng. Chàng cao to như ông hộ pháp. Cứ
mỗi lần ra nghĩa địa tìm nàng, chàng lại ôm nghiến lấy nàng đè xuống thảm cỏ.
Chàng lột phăng quần áo của nàng ném lên khóm huyết dụ. Chàng giao cấu với
nàng, cảm giác sung sướng tột cùng khiến chàng cứ kêu o o rống lên như con bò.
Nếu trong vùng không có viên quan phiên trấn phát hiện ra nàng có một vẻ
đẹp sắc nước hương trời tiến cử vào Hoàng cung làm vợ Thái Tông để lĩnh thưởng,
hẳn là Nguyễn Thị Anh đã nên đôi lứa với Lê Sủng!
Đó là căn nguyên những
cây huyết dụ và những cây dùng dành người ta trồng đánh dấu mộ ở nghĩa địa Bố Vệ
trở nên thân thuộc với nàng. Khi ra Đông Đô và được tiến vào cung làm vợ Thái
Tông, lụa là phủ đầy người, ăn uống thì chẳng thiếu cao lương mĩ vị, nhưng đôi
khi nhớ về cố quận thì cái màu đỏ thẫm của những cây huyết dụ ở khu nghĩa địa
làng lại hiện lên trong ký ức khiến nàng nhớ đến nao lòng. Nàng đưa huyết dụ về
kinh đô trồng trên con đường từ Tòa Đại Hình dẫn ra khu nghĩa địa cũng là để
nàng luôn được nhìn ngắm rồi hoài niệm về những năm tháng với mối tình đầu
không dễ quên ấy.
Văn Lão và Xương Lê nhổ
huyết dụ xếp lên xe song mã chở từ Bố Vệ ra Đông Quan nhiều lần mới trồng đủ
hai bên con đường ấy. Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh đã ra lệnh chi cho
hai ông một khoản tiền rất hậu để làm việc này khiến Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục
tỏ ý không hài lòng. Nhưng vì đích thân Nguyễn Thị Anh ra lệnh chi tiền nên hai
ông chỉ dám nói xa xôi, bóng gió với Đức vua Bang Cơ để ngài liệu đường chi
tiêu ngân khố quốc gia sao cho hợp lý.
Văn Lão và Xương Lê cho
trồng cách hai bước một cây huyết dụ. Hồi mới trồng trông con đường chỉ thấy
loáng thoáng những châm đỏ. Cái giống huyết dụ đẹp thì có đẹp, nhưng dường như
nó phải được trồng nơi tha ma nghĩa địa, có mùi tử khí thì nó mới mau lớn và sống
lâu. Vì nó sống lâu nên người ta trồng nó để đánh dấu mộ từ đời này sang đời
khác mà không bị thất lạc. Hai hàng huyết dụ Văn Lão, Xương Lê mới trồng dăm
tháng đã lên cao quá đầu người, tốt um tùm, nhuốm con đường thành một màu đỏ thẫm
trông rất lạ mắt.
Thường thì các phiên xử,
vua đều cho mở của sân tòa cho dân chúng vào xem, để cho phiên tòa mang tính
quang minh chính đại, lại răn đe những ai đang có ý đồ phạm tội. Nhưng phiên
tòa xử hai căp cha con: Trịnh Khả – Trịnh Quát, Trịnh Khắc Phục – Trịnh Bá Nhai
thì những người lính cấm vệ gác ngoài cổng không cho một ai vào, với lý do: “ảnh
hưởng tới an ninh Hoàng triều”!
Hai cặp cha – con bị bắt
giam mới có một ngày nên thần sắc của họ chưa thay đổi là mấy so với trước khi
bị bắt. Lúc bị trói quặt hai tay về đàng sau đưa ra khỏi ngục, họ vẫn bước đi
nhanh nhẹn, đôi mắt nhìn bình thản, tinh anh như hàng ngày họ vào Hoàng cung
thiết triều. Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục quỳ nơi chính diện. Trịnh Quát và Trịnh
Bá Nhai quỳ hai bên, sát nách hai người cha của họ. Các quan Tòa Đại Hình, các
ngự sử và gián quan cũng đã ngồi vào vị trí của mình. Những người lính cấm vệ
tuốt gươm đứng nghiêm như tượng. Bốn tên đao phủ đeo bốn thanh gươm đứng túc trực
ngay sau lưng bốn tội nhân.
Phiên tòa bắt đầu. Nguyễn
Thị Anh hỏi:
-Bốn tội nhân nghe cho rõ
đây. Các người đã biết tội của mình nghiêm trọng đến mức nào chưa?
Trịnh Khả và Trịnh Khắc
Phục không đáp, chỉ hướng đôi mắt trợn trừng nhìn sói vào mặt Nguyễn Thị Anh.
Cái nhìn như muốn nói: Ta đã hết lòng cung phụng triều đình để rồi kết cục phải
nhận một hình phạt như thế này ư? Hỡi con đàn bà đẹp mã kia, mới hôm nào ngươi
còn ngợi khen hai chúng ta hết lời, nay đã trở mặt lôi chúng ta ra Tòa Đại Hình
là nguyên cớ gì? Không, ta không thể tin được ta lại phạm một cái tội để đến nỗi
bị đối xử thế này. Sự bất công khiến hai ông như chết lâm sàng, không sao mở miệng
được.
– Sao, các người đã phạm
trọng tội nên không thể há miệng ra trả lời được sao?
Lần này, Nguyễn Thị Anh vừa
dứt lời thì Trinh Quát, con Trịnh Khả lên tiếng:
– Nguyễn Thị Anh, bà nghe
cho rõ đây: Cha con chúng ta không có tội! Người có tội với Hoàng triều chính
là bà!
Trịnh Bá Nhai, con Trịnh
Khắc Phục tiếp lời, giọng dữ dằn hơn:
– Nguyễn Thị Anh, bà là một
con lươn đội lốt rồng! Cái ghế bà đang ngồi là của người khác chứ không phải của
bà. Hãy đứng lên và bước xuống đi. Dơ dáy lắm!
– Chém đầu!
Sau tiếng hét của Nguyễn
Thị Anh, bốn tên đao phủ tiến đến từ phía sau các tội nhân, rút kiếm chém ngang
cổ. Hình như còn nhiều nỗi niềm ẩn ức với cuộc sống nên hai cái đầu của Trịnh
Khả và Trịnh Khắc Phục chỉ ngả ra phía sau và sang bên trái mà không rơi xuống
đất, máu từ cổ phun lên thành hình cầu vồng. Hai cái đầu của Trịnh Quát và Trịnh
Bá Nhai thì văng xuống đất lăn long lóc trên nền cỏ, máu từ cổ phun thẳng lên
trời. Phải một lúc sau, kẻ trước người sau mới đổ gục xuống, chết hẳn.
-Các đô tùy đâu, bỏ chúng
vào quan tài đưa ra nghĩa địa!
Nguyễn Thị Anh nói thế rồi rời khỏi ghế. Hai cung nữ đỡ bà đi xuống sân mà tay họ run như cầy sấy.
Chương mười tám
Đoàn xe song mã xa giá Đức
vua Lê Bang Cơ, Bình Nguyên vương Lê Tư Thành, Nhập nội đô đốc Đinh Liệt, Thiếu
bảo Nguyễn Xí và quần thần từ Lam Kinh trở về đến Cửa Nam thì gặp một tốp khoảng
ba chục người, có cả người lớn và trẻ con, mặc đồ tang ngồi phủ phục ngang đường.
Nhập nội đô đốc Đinh Liệt vội xuống xe bước đến quát:
– Các ngươi là ai mà dám
ngồi ngáng đường của Đức vua thế này, hử?
Tất cả đám người ngẩng mặt
lên. Đinh Liệt bần thần cả người khi nhận ra là người quen: phu nhân Trịnh Khả,
phu nhân Trịnh Khắc Phục, hai nàng dâu của họ là vợ Trịnh Quát và vợ Trịnh Bá
Nhai, cùng những người con, người cháu khác nữa.
– Kìa, hai phu nhân, đã
có chuyện gì xẩy ra vậy?
– Quan Nhập nội đô đốc
ơi, ông Trịnh Khả bị xử chết rồi! – Vợ Trịnh Khả nói.
– Ông Trịnh Khắc Phục chồng
tôi cũng bị chém cùng lúc với ông Trịnh Khả – công chúa Ngọc Lan, vợ Trịnh Khắc
Phục nói.
– Cả Trịnh Quát, con trai
tôi và Trịnh Bá Nhai, con trai Trịnh Khắc Phục cũng bị chém cùng với bố chúng
nó – Vợ Trịnh Khả nói tiếp, rồi chỉ vào hai cô gái ngồi bên cạnh đang khóc sụt
sùi – Hai nàng dâu của chúng tôi đây. Một đứa đang mang thai. Một đứa mới cưới
được hai tuần! Hai gia đình chúng tôi đã đến cổng Hoàng cung xin vào hỏi xem chồng
con chúng tôi mắc tội gì mà bị đối xử như thế, nhưng quân cấm vệ không cho vào.
Chúng tôi đành phải đón Đức vua và các quan lớn ở đây…
Đức vua Bang Cơ ngồi trên
xe sau nhưng nghe thấy hết, mặt chàng tái nhợt, tỏ ra khó xử. Đinh Liệt biết ý,
liền nói với đám người:
– Bệ hạ và chúng tôi đi
công cán Lam Kinh mấy hôm rồi nên chưa biết ở Hoàng cung xẩy ra những chuyện
gì. Bây giờ hai phu nhân và các cháu hãy cứ đứng lên nhường đường cho Thánh thượng
đi đã. Nếu có oan khiên gì xẽ tra xét sau!
Phu nhân của Trịnh Khả và phu nhân của Trịnh Khắc Phục đều biết Đinh Liệt là bạn thân thiết của chồng họ; hai người đứng lên bước sang bên vệ đường; hai cô con dâu và những người còn lại cũng lặng lẽ làm theo. Tiếng khóc cũng nhỏ lại. Nhìn thấy Đức vua ngồi xe sau, họ cùng cúi rạp xuống thi lễ, nhưng Bang Cơ đang rất sốt ruột, tâm trạng rồi bời, cảm thấy rất khó nói với họ, chàng chỉ xua xua tay ra hiệu đã miễn lễ cho họ, rồi bảo người xà ích đánh xe đi.
Bang Cơ cố kìm nén
nỗi tức giận đang ngùn ngụt bốc lên khi bước vào cung Diên Khánh. Chàng chưa kịp
ngồi xuống đã hỏi:
– Mẫu hậu! Mẫu hậu có muốn
để cho con làm vua nữa hay không?
Nguyễn Thị Anh giữ một
thái độ bình thản, như biết lỗi:
– Bệ hạ sao hỏi câu kỳ lạ
vậy? Bệ hạ không làm vua thì còn ai vào đây?
– Con là vua mà mẫu hậu lại
lừa con. Mẫu hậu bảo con đi vào Lam Kinh viếng lăng để ở nhà mẫu hậu rảnh tay
sát hại Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục! Mẫu hậu có biết rằng con yêu kính hai ông
ấy đến mức nào không? Nhờ hai ông ấy, cùng với Nguyễn Xí và Đinh Liệt kèm cặp,
dậy dỗ con và Lê Tư Thành, chúng con mới trưởng thành lên được. Họ là những
trung thần thực sự!
– Bệ hạ không được phép nặng
lời với bậc sinh thành như vậy – Nguyễn Thị Anh vẫn nhẹ giọng – Bệ hạ đang phạm
vào đạo thánh hiền, người có biết không? Chính vì cái lòng yêu kính còn bồng bột
của Bệ hạ mà ta phải bố trí cho Bệ hạ vào Lam Kinh để ta thực thi quyền hành
chính đáng của Hoàng triều.
– Cả hai người con
trai của hai ông ấy nữa, họ đã bộc lộ những khả năng và phẩm hạnh mà con muốn
đào tạo, tiến cử vào những vị trí rường cột sau này, thế mà mẫu hậu cũng ra tay
sát hại!
– Bang Cơ! Bệ hạ nói lại
đi! – Nguyễn Thị Anh nổi nóng quát – Ta xử tội họ chứ không sát hại họ!
– Kể từ ngày mai con sẽ
không thiết triều, không làm vua nữa. Mẫu hậu muốn làm gì thì làm! – Bang Cơ đứng
dậy toan bỏ đi thì Nguyễn Thị Anh vội chạy đến quỳ xuống trước mặt chàng. Bà lạy
chàng như lạy Phật:
– Mẹ xin con! Có những việc
mà ở tuổi con mẹ chưa thể nói cho con biết được – giọng nói của Nguyễn Thị Anh
khàn đi nghe như giọng một người khác – Con hãy cứ trưởng thành lên, rồi con sẽ
biết, rằng mọi việc mẹ làm đều có lý lẽ của nó, đều vì sự bảo vệ ngai vàng cho
con. Con gắng suy nghĩ và hiểu cho mẹ!
Bang Cơ nhìn thấy hai
dòng lệ hai bên khóe mắt Nguyễn Thị Anh lăn nhanh xuống hai bên gò má. Bang Cơ
chưa từng nhìn thấy bà khóc bao giờ. Cũng chưa bao giờ bà quỳ xuống trước mặt
chàng. Hôm nay bà làm thế hẳn cũng phải có một căn nguyên gì đó không hề đơn giản?
Vậy thì việc bà giết Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục và hai người con trai của họ
không phải không có những căn nguyên xác đáng?
Nỗi giận như lắng xuống
nhường chỗ cho một tình thương vừa nhen lên. Chàng thấy thương mẹ. Mẫu hậu có
làm gì thì cũng vì mình chứ đâu phải vì bà ấy?
– Mẫu hậu đứng dậy đi!
Xin mẫu hậu cho con về điện Trường Xuân nghỉ ngơi. Con sẽ suy nghĩ thêm về
chuuyện này…
Năm ấy Bang Cơ mới 10 tuổi.
Đoàn xe song mã đi qua
trước cửa nhà Đinh Liệt thì dừng lại cho ông xuống, rồi họ đi tiếp về Hoàng
cung. Phu nhân Lương Minh Nguyệt ra cổng ngóng ông từ trước đó, dường như có một
linh cảm nào đó mách bảo bà rằng ông sắp về đến nơi. Bà mở cánh cổng cho ông bước
vào sân, nói:
– Trịnh Khả và Trịnh Khắc
Phục cùng hai con trai của họ bị xử chết rồi, phu quân biết chưa?
– Tôi biết rồi – Đinh Liệt
đáp – Cũng vừa đây thôi. Hai gia đình của họ ra Cửa Nam chặn đường đón Hoàng
thượng, chỉ muốn hỏi một câu: “Chồng con họ bị xử chết vì tôi gì?”. Hoàng thượng
không trả lời. Tôi phải động viên họ, rồi nói với họ đứng dậy dẹp sang hai bên
lấy lối cho Hoàng thượng và đoàn xa giá đi! Mọi chuyện sẽ xem xét sau!
Nguyễn Thị Hằng đang giặt
quần áo bên bể nước sau nhà, chạy ra khoanh tay cúi chào bố nuôi, rồi lại trở
vào tiếp tục công việc của nó.
– Hôm ấy họ chém hai ông
và hai con của hai ông xong thì bỏ xác vào bốn cái quan tài, mỗi cái chằng ba sợi
dây thừng, luồn vào ba cái đòn tre để sáu người khiêng ra nghĩa địa – Lương
Minh Nguyệt tường thuật – Trong cung đình có mười cái xe đòn, mười cái kiệu mà
họ không dùng, lại khiêng các ông ấy như khiêng lợn. Ngoài hai mươi bốn viên đô
tùy, một quan nội thị và đội cấm binh thì không có một người nhà nào được phép
đi theo. Chắc họ ngại cho người nhà đi theo khóc lóc rồi nói năng thiếu kiềm chế
xúc phạm triều đình! Nghĩa tử là nghĩa tận! Ông cha đã dậy như thế đâu có sai.
Vậy mà họ đối xử với công thần bạc bẽo thế. Thật là ngao ngán!
– Lúc này tôi cũng chẳng
biết nói gì – Đinh Liêt nghẹn ngào – Chỉ thấy thương bạn quá thể, mình ạ.
– Họ sống oanh liệt như
thế mà phải chết khổ nhục như thế, đến những vật vô tri vô giác còn
thương huống chi là con người! – Lương Minh Nguyệt chỉ tay về phía xa xa ngoài
nghĩa địa có con đường nối với Tòa Đại Hình – Ông hãy nhìn xem, trên con đường
dẫn từ Tòa Đại Hình ra nghĩa địa có gì khác lạ đâu, nhưng hôm người ta khiêng bốn
cái quan tài đi trên ấy, tôi trông hai hàng cây huyết dụ giống hệt như hai dòng
máu lớn đang tuôn chảy. Lúc tòa đang xử thì trời vẫn nắng. Khi chặt đầu họ thì
trời đổ mưa. Mưa sụt sùi như khóc suốt thời gian đám tang diễn ra. Mưa rửa hết
bụi bặm trên những tán lá huyết dụ nên nó mới đỏ thẫm màu máu như thế…
– Quả thật, ngay lúc này
tôi cũng thấy hai hàng cây huyết dụ giống hai dòng máu thật – Đinh Liệt nhìn về
phía nghĩa địa thừa nhận, rồi nói.
– Nhưng tôi muốn hỏi ông,
rằng ông có biết tội của ông Khả, ông Phục và hai con của họ là gì không?
– Lúc này tôi cũng chưa
đoán ra – Đinh Liệt nói – Chắc Tuyên từ lại buộc cho hai ông ấy cái tội kết bè
kéo phái âm mưu phản loạn, phản quốc gì đó thì mới giết cả hai người con của họ!
– Ông là bạn thân của ông
Khả và ông Phục, ông có tin hai ông ấy dám làm chuyện phản loạn, phản quốc
không?
– Họ thừa dũng khí để làm
– Đinh Liệt đáp – Nhưng nếu họ làm thì đã làm rồi. Còn lúc này bảo họ làm thế,
tôi không tin!
Đinh Liệt bước vào nhà,
Lương Minh Nguyệt đi sau. Bà còn muốn giãi bày gì đó nhưng ông ngăn lại, nói:
– Này phu nhân, khoan hãy
nói chuyện của họ, tôi thấy rất cần phải bàn ngay với phu nhân một việc của nhà
mình. Sau khi Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục bị xử chết, e có loạn, chắc chắn đội
quân gián điệp của Tuyên từ Nguyễn Thị Anh sẽ hoạt động mạnh. Rất có thể chúng
kiểm tra hộ tịch, sẽ truy đến cùng nguồn gốc Nguyễn Thị Hằng, con gái
nuôi của chúng ta. Tôi với phu nhân giờ có chết cũng không còn là vấn đề nữa,
nhưng mạng sống của Hằng thì phải bảo trọng. Đấy là một nghĩa vụ thiêng liêng của
vợ chồng mình. Phu nhân chắc đã hiểu ý của tôi!
– Hay ta tạm gửi Hằng
sang nhà Thiếu úy Nguyễn Đức Trung? Dẫu sao Nguyễn Đức Trung cũng còn anh em họ
xa với Nguyễn Trãi, ông ấy không thể không tìm mọi cách để bảo vệ nó!?
– Không được đâu – Đinh
Liệt nói – Phu nhân không nhớ rằng chỉ vì còn anh em họ xa với Nguyễn Trãi mà
sau vụ Lệ Chi Viên, Nguyễn Đưc Trung đã bị vô hiệu hóa; Nguyễn Thị Anh đẩy ông
đi làm Điện tiền chỉ huy xứ từ ngày ấy đến giờ sao? Cho bé Hằng đến đấy khác gì
“Lạy ông tôi ở bụi này!”!
– À, hay là thế này –
Lương Minh Nguyệt như sực nhớ ra điều gì – Phu quân còn nhớ đã có lần tôi kể với
ông rằng, cái hôm tôi cho Nguyễn Thị Hằng đi chùa An Quốc, gặp một đào nương ca
trù tên là Cúc Phương ở phường Khán Xuân. Người cha của Cúc Phương đã quá già,
tay chơi đàn đáy bị run làm cho tiếng đàn không có hồn, tôi cho Hằng cầm đàn
thay ông cụ. Khi Hằng chơi đàn, Cúc Phương rất phục, ngỏ ý muốn mời nó tham gia
nhóm ca trù với cô ấy. Cúc Phương còn ghi cho tôi địa chỉ, hẹn nếu tôi nếu đồng
ý thì quay lại. Hay là tôi cho con đến đấy?
– Vậy thì phu nhân cho
con đến đấy đi – Đinh Liệt nói – Chậm ngày nào nguy hiểm cho tính mạng của nó
ngày ấy!
Nguyễn Thị Hằng ngồi giặt
quần áo bên bể nước nhưng tai nó nghe hết câu chuyện bố mẹ nuôi nói với nhau. Đến
khi hai ông bà quyết định cho nó đi theo ca nương Cúc Phương ở phường Khán Xuân
thì nó chạy ra quỳ xuống ôm lấy hai chân bà Lương Minh Nguyệt như có ý nói nó
không muốn xa bố mẹ. Đinh Liệt hiểu ý tứ con bé, đỡ nó đứng dậy nói:
– Con chỉ tạm lánh ra đó
một thời gian, khi yên hàn, mẹ lại đón con về với bố mẹ thôi mà!
Khi ấy nó mới gạt nước mắt,
đứng lên.
Tối hôm ấy, Lương Minh
Nguyệt kín đáo dẫn Nguyễn Thị Hằng đến ngõ Cây Duối, đường bờ hồ Dâm Đàm, phường
Khán Xuân. Lúc hai mẹ con vào nhà, ca nương Cúc Phương đang tập một bài
hát mới soạn theo lời thơ của Nguyễn Mộng Tuân. Nhìn thấy bà Lương Minh Nguyệt
và Nguyễn Thị Hằng, Cúc Phương không giấu được niềm vui.
– Ôi thế là phu nhân đã
cho cháu đến với hạ nhân – Cúc Phương nói như reo lên – Sau cái đêm gặp phu
nhân và cháu ở chùa An Quốc, cha hạ nhân bị quỵ hẳn, phải nằm một chỗ dưỡng
lão. Cứ mỗi khi có nơi mời hát, hạ nhân lại phải sang gánh hát bầu bạn mượn người
chơi đàn. Thỉnh thoảng mới có lần mời được tay đàn chính, còn thì chỉ là tay
đàn phụ. Không ai so được với ngón đàn của con gái phu nhân đâu ạ.
– Tuy nhiên, tôi cũng phải
nói trước, vì dạo này chúng tôi có việc hay đi vắng nên chỉ cho cháu ra đây
giúp cô một thời gian trong khi cô chưa tìm được người chơi đàn chính thức thôi
– Lương Minh Nguyệt nói – Nhưng dù cháu ở đây lâu hay chóng, chúng tôi cũng muốn
cô coi cháu như con, ai hỏi cô cũng trả lời cháu là con cô. Cháu bị bệnh tật, dễ
tủi thân. Cô hiểu ý tôi chứ?
– Vâng, thưa phu nhân, hạ
nhân hiểu rồi!
Phu nhân Lương Minh Nguyệt
ngồi nói chuyện thêm với Cúc Phương một lúc nữa rồi xin cáo lui. Nguyễn Thị Hằng
theo bà ra đến cổng, bịn rịn muốn khóc, bà phải xoa tay lên tóc nó, âu yếm nói:
– Chịu khó và mạnh dạn
lên con nhé. Thỉnh thoảng mẹ sẽ ra thăm con!
Chương mười chín
Hôm nay, Tuyên từ
Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh lại tiếp khách tại phòng khách của riêng bà trong
cung Diên Khánh. Khách là Phó đô ngự sử Ngô Sĩ Liên và Đồng tu sử Phan Phu
Tiên. Hai ông đều đã ở tuổi ngoài bảy mươi, râu và tóc đều trắng như cước nhưng
nhờ kiến văn cao và có uy tín mà vẫn được giữ lại làm việc trong Viện Quốc Sử.
Ngô Sĩ Liên vẫn giữ tác phong nhanh nhẹn của một chiến binh trận mạc năm xưa.
Phan Phu Tiên có vẻ gầy gò, dáng ông đồ.
Nguyễn Thị Anh tiếp hai sử
quan với vẻ trịnh trọng. Bà sai Lưu Bích pha trà tuyết ướp hương sen để hai ông
uống với mứt gừng và chè lam.
– Hôm nay ta cho gọi hai
ông đến phòng khách riêng, hẳn hai ông hiểu cho mối thịnh tình của ta đối với
hai ông – Nguyễn Thị Anh nói, giọng nhẹ nhàng mà chắc nịch – Chỉ có những người
ta tin yêu thì mới được ngồi ở phòng này để nói những điều tâm huyết mà chỉ người
nói và người nghe biết với nhau, sống để dạ, chết mang theo!
– Thưa Tuyên từ, lời người
nói, chúng thần đã hiểu và xin lĩnh ý – Ngô Sĩ Liên vuốt chòm râu dài nói.
– Xin Hoàng thái hậu cứ
an tâm – Phan Phu Tiên tiếp lời – Chúng thần vinh hạnh được làm bề tôi của
Tuyên từ và Hoàng thượng đến nay cũng đã một thập kỷ, cho dù khi ở trong Hoàng
cung, khi ở dưới phiên trấn thì những nguyên tắc kỷ cương mà Hoàng triều ban
ra, chúng thần đâu dám trái phép. Xin người cứ nói!
– Hai ông hiểu cho như thế
là ta an tâm lắm – Nguyễn Thị Anh nói – Trước hết, ta muốn hỏi các ông về công
việc đã. Phó đô ngự sử Ngô Sĩ Liên, công việc của ông hiện nay thế nào, có khó
khăn gì không?
– Bẩm Hoàng thái hậu –
Ngô Sĩ Liên đáp – Như hạ thần cũng đã có lần khải tấu, rằng thần đang chuẩn bị
tư liệu cho một bộ quốc sử. Từ xưa đến nay Đại Việt ta chỉ mới có một bộ quốc sử,
đó là Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu. Hồi quân Minh xâm lược, cai trị nước ta suốt
một thập kỷ, nhiều sách quý chúng đốt hoặc mang về bên bắc quốc hết. Riêng cuốn
Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu thì rất may là Thái Tổ cao Hoàng đế vẫn bằng mọi
cách giữ được. Cuốn ấy ghi lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời
gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế, tức Triệu Đà cho tới Lý Chiêu
Hoàng. Còn từ Trần Thái Tông trở lại đây, thần đang rất tích cực sưu tầm tư liệu.
– Thế còn Đồng tu sử –
Nguyễn Thị Anh quay sang hỏi Phan Phu Tiên – Ta nghe các quan văn sử rất khen
cuốn Việt âm thi tập do ông biên soạn từ thời Thái Tổ còn bình sinh. Họ nói rằng
đấy là bộ hợp tuyển thơ văn đầu tiên của Đại Viêt…
– Hạ thần đội ơn Tuyên từ
Hoàng thái hậu đã có lời khen – Phan Phu Tiên chắp hai tay, đầu hơi cúi xuống,
tỏ vẻ rất cảm kích.
– Thế còn cuốn Đại Việt sử
ký tục biên mà đích thân ta và Đức vua giao cho ông biên soạn thì đã làm đến
đâu?
– Bẩm Hoàng thái hậu, phần
đầu, hạ thần dựa vào những tài liệu trong cuốn Đại Việt sử ký của Lê Văn
Hưu – Phan Phu Tiên đáp – phần sau hạ thần biên soạn xong từ thời Trần
Thái Tông cho đến khi quân Minh rút khỏi Đai Việt. Hiện nay thần đã bắt đầu viết
sang triều Nhân Tông tuyên Hoàng đế, bản triều mà Hoàng thái hậu nhiếp chính…
– Đồng tu sử làm việc như
thế là rất đáng khen – Nguyễn Thị Anh nói – Vậy sau cuốn Đại Việt sử ký tục
biên, ông còn dự định biên soạn cuốn gì nữa không?
– Bẩm Hoàng thái hậu, tuổi
già đang sầm sập đến với hạ thần nên hạ thần phải cố gắng để khi nằm xuống sẽ
không phải ân hận vì những dự định còn dang dở – Phan Phu Tiên nói – Cuốn Đại
Việt sử ký tục biên chỉ ít ngày tháng nữa là tạm ổn, thần chuyển sang biên soạn
cuốn Bản thảo thực vật toát yếu, nói về các loại thực phẩm của nước ta. Hạ thần
đã kê ra được hơn bốn trăm loại thức ăn động vật và thực vật có ở trong nước và
công dụng của các loại thức ăn đó!
– Như vậy sơ bộ ta cũng
biết được cả hai ông đều rất yêu và mẫm cán với công việc biên soạn quốc sử nước
nhà – Nguyễn Thị Anh nói – Sở dĩ ta để cho hai ông cùng biên soạn quốc sử, mỗi
người biên soạn một bộ, là cũng có ý phòng ngừa nếu có chuyện can qua mà bị mất
cuốn nọ thì cũng còn cuốn kia lưu lại cho hậu thế. Song có hai điều kiện mà ta
yêu cầu các ông bắt buộc phải làm theo: một là, khi soạn đến đoạn Tiên đế Lê
Thái Tông đi tuần và mất trên sông Thiên Đức, các ông phải ghi rõ Nguyễn Thị Lộ
là con rắn báo oán. Nguyễn Trãi nuôi âm mưu phế lập đã cho Thị Lộ xuống thuyền
hầu vua rồi đầu độc vua chết. Thứ hai là về vụ xử tử hai cặp cha – con Trịnh Khả
và Trịnh Khắc Phục vừa mới đây, vì cũng có những dư luận bất lợi cho triều
đình, các ông không nên ghi chép chuyến đi Lam Kinh của Đức vua diễn ra
trước vụ án một ngày, như thế người đời sẽ suy diễn rằng ta bày đặt cho vua đi
Lam Kinh để ở nhà rảnh tay xử tội chết hai cặp cha con ấy.
Cả Ngô Sĩ Liên và Phan
Phu Tiên đều tái mặt nhìn nhau. Sinh ra, lớn lên trong gia đình nho học, hai
ông đều hiểu tình huống gian dối này là trái đạo, nhất là đối với người viết sử,
nhưng giờ đây họ buộc phải lựa chọn, hoặc làm theo lời chỉ giáo của Nguyễn Thị
Anh, hoặc bị buộc tội chống lại triều đình, mà chống lại triều đình nghĩa là phản
quốc. Tội phản quốc thì nhận án tử là điều không còn phải bàn cãi! Tuy tuổi đã
cao, bằng tuổi các ông, nhiều người đã thanh thản về nơi cát bụi, nhưng
Ngô Sĩ Liên và Phan Phu Tiên đều còn nuôi khát vọng hoàn thành mỗi người một bộ
quốc sử, lưu danh cho hậu thế. Cuối cùng thì hai ông đành phải chọn sự sống!
– Bẩm hoàng thái hậu, ghi
về cái chết của Tiên đế Thái Tông như thế là rõ rồi – Ngô Sĩ Liên nói – nhưng
ghi về chuyến đi Lam Kinh của Đức vua thì thời gian vào thời điểm nào là thích
hợp ạ?
– Các ông nên ghi lui về
sau!
– Chúng thần tuân chỉ! – Cả Ngô Sĩ Liên và Phan Phu Tiên đưa mắt nhìn nhau, dùng ánh mắt để nói với nhau, cùng đáp.
Khống chế được hai sử
quan, Nguyễn Thị Anh tạm an lòng. Bây giờ người mà bà cần phải vấn an chính là
Hoàng đế Bang Cơ, con trai bà. Mấy hôm nay, mỗi sáng mỗi chiều đến Võ Miếu
và Kinh Diên chỉ thấy Nguyễn Xí và Đinh Liệt, Bang Cơ và Tư Thành lại ngẩn ngơ
nhớ thương Trịnh Khả và Trịnh Khắc Phục. Có hôm hai chàng trai còn mang theo
hương nến châm lửa thắp ngay trên hương án Võ Miếu thầm khấn hai ông, như là viếng
muộn hai người thầy của mình. Khi trở về điện Trương Xuân mặt Bang Cơ buốn rười
rượi.
Hôm nay cũng vậy, Nguyễn
Thị Anh đến điện Trường Xuân, thấy Bang Cơ ngồi trước án thư, cuốn Binh thư yếu
lược trước mặt, nhưng mắt chàng thì nhìn xa xăm tận đẩu đâu.
– Bang Cơ, sao trông mặt
con ủ rũ thế kia? – Nguyễn Thị Anh hỏi.
– Con nhớ thầy Khả và thầy
Phục lắm, mẫu hậu biết không?
– Ta hiểu! Nhưng người mắc
tội thì đã chết rồi – Nguyễn Thị Anh nói – Người sống thì phải sống sao cho ra
dáng một con người! Cuộc sống dù có lúc vui lúc buồn, nhưng nên nhớ con đang là
Hoàng đế của một nước. Một nước mà thời nào cũng có binh hùng tướng mạnh, đánh
tan nhiều đội quân xâm lược lớn, thì vua không được phép mềm yếu, ẻo lả!
– Làm vua, nhưng con có
quyền gì đâu! – Bang Cơ cãi.
– Con làm vua, nhưng vì
còn ấu nhi nên mẹ phải nhiếp chính dìu dắt, giúp đỡ con, đó là luật của Hoàng
triều – Nguyễn Thị Anh nói đến đó thì có cảm giắc dễ gây căng thẳng, liền hạ giọng
– Chỉ hai năm nữa thôi, bước sang tuổi mười ba, tuổi vị thành niên, vững chãi
hơn, mẹ sẽ trao lại quyền hành cho con!
Thấy Bang Cơ có vẻ nguôi
nguôi, Nguyễn Thị Anh hỏi:
– Bây giờ con yêu cầu mẹ
điều gì nữa, cứ nói?
– Qua dư luận từ bá
quan văn võ mà con biết, việc mẫu hậu cho giết hai cặp cha con Trịnh Khả và Trịnh
Khắc Phục đã gây ra một dư luận rất không hay từ trong triều ra ngoài dân chúng
– Bang Cơ nói – Bây giờ mẹ con mình phải làm thật nhiều việc tốt, lấy lại niềm
tin của mọi người. Việc đầu tiên, con muốn có một yến tiệc để bốn người vợ và bốn
con trai của Tiên đế gặp nhau như con đã nói với mẫu hậu mấy lần.
– Được, lần này thì ta đồng ý. Con hãy viết thư cho Lê Nghi Dân thăm dò xem ý tứ nó thế nào!
Chương hai mươi
Suốt đêm Nội nhập đô đốc
Đinh Liệt không sao chợp mắt. Ông cứ trăn trở với những câu hỏi: “Thực chất
mình là con người thế nào nhỉ? Mình có phải là một kẻ hèn không? Không! Hồi
kháng chiến chống quân Minh, rất nhiều lần mình bị rơi vào tình thế hiểm nghèo,
nhưng chưa bao giờ mình có tư tưởng đầu hàng hay thỏa hiệp. Mình là bạn Nguyễn
Trãi, nhưng mình lại phải nhận lệnh truy bắt và ngồi ghế quan tòa xử Nguyễn
Trãi. Nếu mình chống lại thì chắc chắn mình cũng đã bị rơi đầu, về với cát bụi
như ông ấy. Mình là bạn với Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục mà khi hai cặp cha con
các ông ấy bị xử chết đã mấy hôm rồi, mình chưa dám ra mộ thắp cho họ một nén
nhang! Mình ra mộ các ông ấy thắp nhang thì sao nhỉ? Biết đâu mình sẽ bị Hoàng
thái hậu Nguyễn Thị Anh quy cho tội đồng lõa với các ông ấy, nhẹ cũng vài năm tống
giam, nặng thì mình sẽ phải ra nghĩa địa nằm cùng hàng với các ông ấy. Phải,
trong chiến tranh, mình có đủ phẩm chất của một anh hùng, nhưng trong thời
bình, mình đã trở thành một thằng hèn chăng!”.
“Nhưng cũng có khi mình
phải hèn để được sống. Mình cần phải sống để làm một cái gì đó rất mệnh hệ mà
những bạn mình đã chết mà chưa làm được! Có những việc mà nếu mình chết đi sẽ
không ai có thể làm thay!”.
“Một tin mật báo cho mình
biết, hôm qua, Nguyễn Thị Anh còn gọi hai sử quan Ngô Sĩ Liên và Phan Phu Tiên
đến phòng khách riêng ép hai ông phải chép sử theo ý của bà. Nếu hai ông buộc
phải chấp hành lệnh của bà thì hậu thế sẽ hiểu thế nào về cái thời cam go mình
đang sống đây? Nguyễn Trãi,Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục! Nếu có vong hồn thì vong
hồn các đại nhân hãy về bên ta chứng giám những việc ta làm. Ta sẽ chép sử.
Nhưng ta có cách làm của riêng ta. Nguyễn Thị Anh không thể kiểm soát! Ta sẽ
làm cho hậu thế hiểu đúng về các đại nhân, về thời ta đang sống. Ta bắt đầu đặt
bút viết đây…”
Phu nhân Lương Minh Nguyệt
nằm ở giường bên hỏi vọng sang:
– Đêm nay có chuyện gì
khiến phu quân khó ngủ đến vậy? Hay vẫn là nỗi băn khoăn vì chưa ra nghĩa địa
thắp hương cho ông Khả, ông Phục?
– Đó chỉ là một lẽ thôi
mình ạ – Đinh Liệt đáp.
Bà Lương Minh Nguyệt
không hỏi thêm gì nữa, Đinh Liệt lại tiếp rục viết. Gần sáng, Lương Minh Nguyệt
thức giấc vẫn thấy chồng ngồi viết, bà nhắc:
– Gần sáng rồi, mình phải chợp mắt một lát, mình vẫn còn đang phải uống thuốc chữa suy nhược cơ thể mà!
Trong nhà Đinh Liệt có
hai bàn thờ. Bàn thờ Phật, nhỏ nhưng đặt trên cao, phải kê chiếc ghế đôn đứng
lên mới thắp hương được. Bàn thờ gia tộc lớn hơn, nhưng đặt ở vị trí thấp
hơn. Đinh Liệt là con trai út, nhưng vì anh cả Đinh Lễ và anh thứ Đinh Bồ đã hy
sinh trong kháng chiến chống quân Minh nên ông phải thay thế các anh lập bài vị
thờ phụng tổ tiên và những người thân đã mất.
Sáng nay không phải ngày
kỵ, nhưng Đinh Liệt vẫn thắp hương khấn gia tiên, bởi ông vừa làm một việc hệ
trọng và ý nghĩa. Ông viết một tài liệu quan trọng về cái vương triều mà ông
đang phụng sự, không thể công khai lúc này, mà ông muốn gửi lại cho hậu thế.
Ông sẽ bỏ vào một cái rương kê bên dưới bát hương tổ đường, nhờ vong hồn các cụ
lưu giữ, đến một thời nào đó, hậu duệ của ông sẽ công bố. Việc làm này của Đinh
Liệt chỉ cho một người duy nhất biết, đó là Nguyễn Xí, người bạn tri âm tri ngộ
của ông.
Đinh Liệt sai nô tỳ đi mời
Nguyễn Xí từ sớm. Giữa buổi sáng thì Nguyễn Xí đi xe song mã đến. Xe dừng trước
cửa ngôi biệt thự mà trong sân có cây hoa mộc lan và cây thu hải đường. Nguyễn
Xí dặn người xà ích và hai người lính hầu ngồi chờ, một mình ông vào nhà Đinh
Liệt. Thấy Đinh Liệt đang chắp tay đứng trước ban thờ, Nguyễn Xí cũng làm theo.
Sau đó Nguyễn Xí đến đứng trước bài vị Đinh Lễ, trịnh trọng khấn thầm:
– Thưa vong linh Hiển
khánh vương tướng quân. Tôi là Nguyễn Xí, bạn đồng ngũ với anh đây. Hôm nay trước
vong linh anh, Nguyễn Xí tôi xin nhắc lại một vài kỷ niệm trong quân ngũ của
chúng ta. Hôm ấy, anh đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động.
Tôi bắt được tên thám tử của Vương Thông. Tôi và anh đều biết Vương Thông
định chia đường, hẹn nhau khi pháo nổ thì quân mặt trước mặt sau cùng đánh úp đội
quân của tướng Lý Triện. Tôi và anh bèn tương kế tựu kế dụ Vương Thông vào ổ
mai phục Tốt Động, rồi đốt pháo giả làm hiệu cho quân Minh tiến vào để ta đánh.
Quân Vương Thông thua to. Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân
bị bắt sống. Vương Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan. Bình Định
vương Lê Lợi được tin thắng trận liền tiến đại quân ra bắc, vây thành Đông
Quan. Lê Lợi lệnh cho tôi và anh mang quân vây phía nam thành.
Tháng 2 năm 1427, tướng
Minh là Phương Chính đánh cánh quân của tướng Lý Triện ở Từ Liêm. Lý Triện
bị tử trận. Tháng 3 Vương Thông đánh trại quân Lam Sơn ở Tây Phù Liệt. Tôi cùng
anh mang 500 quân Thiết đột tiếp viện, đánh đuổi quân Minh đến My Động. Hậu
quân Lam Sơn không theo kịp, Vương Thông bèn quay lại đánh, hai chúng ta cưỡi
hai con voi bị sa xuống đầm lầy, quân Minh bắt mang về thành. Chúng tra khảo,
anh quả cảm không chịu hàng, liền bị giết. Nhìn thấy chúng giết anh mà tôi bị
trói không thể làm gì cứu anh. Tôi không chịu hàng nhưng không hiểu sao chúng
chỉ tống giam chứ không giết. Nhân một đêm mưa gió tôi dùng mưu lừa quân gác ngục
trốn thoát trở về. Sau đó tôi lại cầm quân tham gia trận chiến Xương Giang tiếp
ứng cho Lê Sát bắt được Hoàng Phúc, Thôi Tụ là đạo viện binh sót lại sau khi Liễu
Thăng bị chém. Đó là trận đánh mang ý nghĩa kết thúc cuộc kháng chiến. Mọi người
trở về trong niềm vui chiến thắng, nhưng khi tôi nói đến việc anh hy sinh như
thế nào thì ai cũng ngậm ngùi thương anh. Cho tôi được thắp nén nhang này cầu
cho vong hồn anh bình an nơi chín suối sớm siêu thoát về nơi niết bàn dưới vòng
tay che chở của Đức Phật…
Đinh Liệt mời Nguyễn Xí
ngồi bên án thư. Đinh Liệt ra hiệu cho các nô tỳ của ông hầu trà xong thì lui
ra ngoài để hai ông nói chuyện. Đinh Liệt mở tập tài liệu ông mới viết đêm qua:
– Hồi này tôi mang nặng nỗi
ưu tư nên võ vẽ làm thơ, xin đọc mấy bài đại nhân nghe thử:
Nhung tân lục cá nguyệt
khai hoa
Bất thức hà nhân chủng bảo đa
Chủ kháo Tống khai vi linh dược
Cựu binh tân tửu thịnh y khoa
Đinh Liệt đọc xong, hỏi
Nguyễn Xí:
– Đại nhân thấy có được
không?
Nguyễn Xí cứ xem đi xem lại
bài thơ, rồi gật gù:
– “Nhung tân” đọc lái là
Nhân Tông, tức là Bang Cơ, con Nguyễn Thị Anh; “thịnh y” là “Thị Anh”. Bài này
có thể tạm dịch:
Nhân Tông sáu tháng đã ra
hoa
Dòng máu ai đây quý báu à?
Núp bóng Thái Tông làm linh dược
Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha
– Chà chà, thâm hậu và
khí phách quá Đinh Liệt đại nhân ơi! – Nguyễn Xí nói.
– Bài thứ hai nhé – Đinh
Liệt nói – rồi đọc luôn:
Tống Thai mạc kiến nguy
ký hiện
Nịch ái Thịnh y nhật nhật tăng
Mỹ sắc điềm ngôn gia phỉ báng
Cơ đồ sự nghiệp hải hà băng
– Bài này tôi dịch luôn
nhé – Nguyễn Xí nói – rồi đọc:
Thái Tông chẳng thấy nguy
đã hiện
Say đắm Thị Anh cứ mãi tăng
Sắc đẹp lời ngon kèm phỉ báng
Cơ đồ sự nghiệp có ngày băng
– Khen thay cho đại nhân
đã dịch đúng ý hiền đệ! – Đinh Liệt bảo – Bây giờ đến bài thư ba:
Nhung Tân hà hữu Tống
thai tinh
Lục nguyệt khai hoa quái dị hình
Niên nguyệt nhật thời Thăng Đính ký
Hoàng bào ô nhiễm vạn niên thanh
– Bài này nghe qua đã nhận
ra có nói đến Đinh Thắng và Đinh Phúc rồi!
– Phải, hai vị hoạn quan
này đã ghi chép lịch chăn gối của vua. Họ chết oan chỉ vì tiết lộ cho Nguyễn
Trãi chuyện Nguyễn Thị Anh vào cung sáu tháng đã sinh vua Bang Cơ! – Đinh Liệt
nói – Đại nhân cũng biết chính hiền đệ được phân công ngồi ghế quan tòa xử Đinh
Thắng và Đinh Phúc cùng một ngày với phiên xử Nguyễn Trãi – Nguyễn Thị Lộ. Thần
viết bài thơ này thay cho lời xám hối và xin lỗi vong hồn họ.
– Ta hiểu – Nguyễn Xí nói
– Ta xin dịch như sau:
Nhân Tông không phải máu
Nguyên Long
Sáu tháng hoài thai cảnh lạ lùng
Năm, tháng, ngày, giờ Đinh Thắng chép
Hoàng bào dơ bẩn tiếng ngàn năm
– Đại nhân dịch thoát ý lắm!
– Đinh Liệt khen, rồi hỏi Nguyễn Xí – Đại nhân nghĩ sao khi đọc những bài thơ
này của hiền đệ?
– Ta chỉ thấy vui vì quan
Nhập nối đô đốc, từng vào tù ra tội, dù có lúc vì phải giữ mạng sống mà làm
trái với luân thường, nhưng trước sau cái trí của người vẫn mẫm tiệp, tâm của
người vẫn tỏa sáng!
– Đội ơn đại nhân đã khen
– Đinh Liệt tỏ ra rất vui, nói tiếp – Chắc đại nhân còn nhớ cái hôm bốn chúng
ta: Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục đi từ Hoàng cung ra Võ Miếu
để chuẩn bị cho việc giảng dậy Bang Cơ và Lê Tư Thành, chúng ta đã thống nhất với
nhau một điều rằng, nếu như Bang Cơ chứng tỏ là bậc minh quân thì dù chàng có
nguồn gốc như thế nào, chúng ta cũng sẽ một lòng một dạ phụng sự. Chúng ta đặt
sự hưng vong của Hoàng triều và xã tắc lên trên những lơi ích của dòng họ và những
toan tính cá nhân. Nhưng đến khi Nguyễn Thị Anh ra tay sát hại Trịnh Khả và Trịnh
Khắc Phục thì hiền đệ thấy không thể tha thứ cho bà ta được nữa. Hiền đệ vẫn phụng
sự Hoàng triều, nhưng hiền đệ buộc phải ghi chép những dòng này lưu lại
cho mai hậu!
– Ta đồng tình với việc
làm của quan Nhập nội đô đốc – Nguyễn Xí nói – Ta chỉ khuyên người phải di chúc
lại cẩn thận và phải cất giấu cho cẩn mật. Gián điệp của Nguyễn Thị Anh mà biết
thì không những quan Nhập nội rơi đầu mà ta cũng liên lụy!
– Vâng, thần sẽ viết thêm
một số bài nữa, đóng thành quyển, nhờ vong linh tổ tiên giữ hộ!
Đinh Liệt ra hiệu cho nô tỳ bưng mâm cơm lên. Hai ông nâng chén với nhau trong niềm phấn chấn của những người vừa hoàn thành xong một công việc nhiều ý nghĩa.
28/10/2020
Lê Hoài Nam
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét