Những ngày Gia Điền
Thu đông năm 1947, đang
khi dồn dập các tin quân Pháp nhảy dù chiếm Bắc Kạn, mở nhiều gọng kìm khuýp lấy
những khu quan trọng, thì chúng tôi được tin các đồng chí ấy đã về. Bọn tôi bảo
nhau sang ngay làng Thễ để gặp và đón.
Trong số những người sốt
sắng này có cả bác Ngô. Bác Ngô Tất Tố của chúng tôi vắt vẻo cái tay, khòm khòm
cái lưng đi từ nhà dưới lên nhà trên, qua nhà anh Kim Lân và tôi, hất hàm gọi:
– Ông Lân, ông Hồng ạ!
Tôi đã bảo mà! Các ông cứ về quách cả Nhã Nam trước có phải gọn không! Ông Tưởng
có muốn về Dục Tú làng nhà ông ấy hay về Cói, làng bà ấy cũng tiện! Hai ông mời
các ông ấy về ấp ta ngay nhá.
Kim Lân và tôi cười ngất. Chả là đang chuẩn bị chuyển Văn hóa Cứu quốc thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam để tập hợp rộng rãi hơn nữa anh chị em văn nghệ sĩ kháng chiến. Do đấy, địa điểm đóng cơ quan đang nhắm mấy nơi, ở Việt Bắc thì chọn Phú Thọ, Vĩnh Yên hay Bắc Giang, Thái Nguyên. Bên Phú Thọ có cơ sở của anh Tô Ngọc Vân, Thế Lữ, Bùi Huy Phồn, Thanh Tịnh, vân vân… Còn ở Bắc Giang thì có các bác Ngô Tất Tố, Hoàng Ngọc Phách, Tú Mỡ, các anh các chị Trần Văn Cẩn, Tạ Thúc Bình, Kim Lân, Anh Thơ, Vân Đài…
Làng Thễ cùng cánh đồng với
xã chúng tôi. Trên đồi nhà tôi trông thấy rõ cây đa đầu làng Thễ và cả ngôi
đình cũ của cụ Đề Thám dựng cho tổng Lân. Anh Kim Lân và tôi vừa đến quán Kĩnh
thì thấy ồn ào, re re gồng gánh và xe đạp ở cơ quan phát hành của báo Cứu quốc
khu mười hai đi ra. Và mấy người bạn trị sự quen thuộc vừa đi vừa khoe:
– Cả ông Trần Huy Liệu
cũng về rồi…
Thế này là thế nào? Tôi tự
hỏi, vừa bước gấp nữa. Đúng đồng chí Trần Huy Liệu đã về, và kia kìa, con ngựa
của đồng chí buộc ở bụi tre trước cổng. Tôi không còn thật nhớ lông nó màu gì,
hình như nhóm lang nhóm nâu, mà chỉ nhận ra nó, vì nó vừa nhỏ, vừa thấp lại gầy.
Nhất là bộ yên cương. Cái yên là chiếc bao tải gấp tư đắp qua lưng gần xuống bụng.
Còn cương là dây thừng nối thêm một đoạn dây da loăn xoăn như ruột mèo buộc vào
bộ hàm thiếc trông như cái rọ. Lạy Chúa sinh ra muôn vật và trời đất! Không hiểu
cái con của hiệp sĩ Đông Kisốt và của nhà thơ và nhà chính trị Nguyễn Công Trứ
có vào loại con cỡ này của đồng chí Trần Huy Liệu của chúng ta không?…
Nhà các anh Tố Hữu, Nguyễn
Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi về lại ở xóm bên cạnh cơ quan phát hành của báo Cứu
quốc. Và đây lại là chỗ đóng cũ của tòa soạn báo Xông pha hồi anh Kim Lân còn
công tác ở khu bộ khu Mười hai. Thoáng thấy nhau, chúng tôi reo cả lên và bá
vai bá cổ nhau rất lâu. Nhìn thấy đủ lệ bộ nào máy chữ, va-li tài liệu có khóa,
ba-lô nhớn, ba-lô nhỏ và còn một gánh hình như có cả đèn dầu và gạo nữa, Kim
Lân và tôi càng vui mừng. Kim Lân liền giơ tay hất hàm bắt chước diễn lại y như
điệu bộ của bác Ngô Tất Tố, bảo Nguyễn Huy Tưởng, nhưng cũng để cả anh Tố Hữu
và Nguyễn Đình Thi nghe nữa:
– Thế này thì về quách cả
ấp cầu Đen thôi. Cơ quan thường trực đóng ngay nhà bác Ngô hay nhà ông Hồng lại
càng tiện…
Mặc dầu lại có thêm tin
quân Pháp đã tràn xuống Thái Nguyên và tiến nhiều ngả từ Cầu Đuống lên, chúng
tôi vẫn càng chuyện trò rôm rả. Tối tối tụ họp ở nhà bác Ngô Tất tố, Nguyễn Huy
Tưởng càng kim cổ kim chỉ sự và từ Đông sang Tây lại từ Tây sang Đông với hết
nào Tô Đông Pha, Lý Bạch, Đỗ Phủ lại đến Đăng-tơ, Sếch-spia, Ip-xen, Gót, và đến
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, vân vân…
Nhưng rồi chưa đầy bốn
hôm, thì một buổi chiều Kim Lân và tôi nhận được quyết định đi ngay. Nghĩa là cả
cơ quan Văn hóa cứu quốc phải chuyển, và chỉ trong hai giờ là cùng, chúng tôi sẽ
chia làm hai tốp mà sang… hình như khu Mười để lại trở lên Việt Bắc. Không phải
là chuyện, là tin, là nghe nữa! Từ phía Hà Châu, Phú Bình bên Thái Nguyên về, từ
phía Chờ, Yên Phong, Từ Sơn, Bắc Ninh (chính quê ông bà Nguyễn Huy Thông ở Từ
Sơn đấy) người chạy giặc cứ từng đám từng đám, gồng gánh, dắt trâu bò, bồng bế
trẻ con, ông già, bà lão đìu díu nhau, chạy dồn lên mấy làng chung quanh nơi
chúng tôi ở. Rồi cả Nhã Nam là thị trấn cửa ngõ của khu chúng tôi ra ngã tư đường
giao thông chính đi lên Thái Nguyên, Lạng Sơn, xuống Bắc Giang, Bắc Ninh, sang
Phúc Yên, Vĩnh Yên… cũng “a-lô, a-lô” lệnh triệt để tản cư, rậm rịch sầm sập
dân quân phá thêm đường và làm vườn không nhà trống.
Cả bộ phận trị sự báo Cứu
quốc của Như Phong cũng chuyển gấp; Như Phong cùng mấy phóng viên tòa soạn cũng
đi… Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Thông với mấy đồng chí nữa lại đóng gánh lên đường.
Kim Lân và tôi theo anh Tố Hữu. Hai tôi lỉnh kỉnh gia đình phải đi suốt đêm ngủ
đỗ lại một quán bỏ không bên sông Cầu. Gà gáy sáng hôm sau, trời mưa rét, sương
mù, chúng tôi đã dậy dặn dò qua việc nhà đoạn đi ngay.
Quân Pháp đang kéo đến cả
phố Nhã Nam, và phố Thắng. Hai tôi quay lại đường Ni, ngược lên Sơn Cốt đón anh
Tố Hữu và lại gặp cánh Như Phong. Không hiểu đi tiền trạm nghe ngóng hỏi han và
liên lạc thế nào mà anh N.M. của ông Như Phong nhà ta, sau cả một buổi sáng đạp
xe về, báo tin quân Pháp đang tràn qua Tam Đảo; những toán này toàn lính da đen
rạch mặt, ngậm dao ngang miệng, đu chuyền các cây như vượn, đang sục sạo trong
các rừng. Chi tiết đã ghê cả người, lại thêm vẻ trợn trừng trợn trạo tái xanh
tái xám của “đặc phái viên” N.M… nên chị T.M. đi theo chúng tôi có một khẩu
súng (súng nhỏ như con chim chích, đạn không hiểu cỡ gì và tác dụng thế nào mà
to chỉ hơn hạt đỗ đen gói bằng mùi xoa lụa) lại giở ra thử đi thử lại rất bí mật,
và chị càng được mấy anh hỏi han săn sóc. Sau đấy chỉ mấy hôm thôi, chúng tôi
đã đầy đủ tụ nhau ở Thành Cù bên Phú Thọ, ai nấy đều hỏi N.M. đã chạm trán với
mấy toán quân Pháp đặc biệt nọ như thế nào, thì lại được một trận cười tức bụng.
…Chúng tôi cứ vượt Tam Đảo.
Anh Tố Hữu và chúng tôi qua đèo Nhe mà sang Vĩnh Tường, rồi qua Lâm Thao mà lên
Phú Thọ. Chính dọc đường Nhã Nam, Yên Thế, Sơn Cốt, Đèo Nhe và cuối cùng ở Gia
Điền, anh Tố Hữu đã làm hai bài thơ Phá đường và Cá nước. Cá nước đăng số 1 tạp
chí Văn nghệ, in ở nhà in báo Độc lập trong rừng Thần Sơn dưới chân Tam Đảo.
Nghĩa là Cá nước đã gột trứng không phải trong lũ mùa hè của sông Thao, sông Đà
mà ở giữa rừng thu đông Việt Bắc, và đã nằm trong ba-lô của Kim Lân và tôi chu
du, ngày đi đêm nghỉ ở các quán kháng chiến, từ Phú Thọ xuống cả Vĩnh Yên, Phúc
Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, rồi tuôn tràn trên mặt giấy đó, vây chắp bằng chữ
ty-pô mà bay đi khắp nơi…
Thế là cơ quan chọn đóng ở
Gia Điền. Một mặt chuẩn bị cho Ban vận động mở Đại hội Văn nghệ Việt Nam, một mặt
phải lo mau bài vở để ra ngay tạp chí. Bước vào Đại hội đã có tiếng nói của văn
nghệ kháng chiến cất lên chào mừng, và báo cáo trước với nhân dân tinh thần
tích cực và sự phục vụ của mình rồi.
Những tháng cuối 1947 và
đầu 1948 ấy sao mà rét! Không biết có phải khí hậu đặc biệt nơi chúng tôi ở,
hay vì ra đi chúng tôi chỉ có mỗi chiếc ba-lô mà các thứ quần áo hay thứ đồ vật
gì tốt nhất đều để lại cho nhà hết! Thường thường những khi trời giá lạnh đêm
càng dài và càng khó ngủ. Vì thế chúng tôi càng thích viết khuya. Dạo ấy dầu
tây đang khan vừa phần địa phương sẵn dầu trẩu dầu sỏ, nên cứ thắp từng đĩa to,
bắc từng túm. Một bếp lửa chất ba bốn gốc cây cứ cháy rực. Trước còn kiểu cách,
vẫn chỉ mặc bờ-lu-dông và mặc thêm sơ-mi và quấn khăn ngồi viết. Sau ai nấy đều
khoác chăn: riêng anh Kim Lân còn quấn cả quần nâu ta xù xù ở cổ và lột cái vỏ
chăn nâu trùm thêm đầu.
Đứng ngoài cửa nhìn vào
nhà, chung quanh đống lửa và ở mấy cái bàn ngùn ngụt khói đèn dầu đĩa, những
gương mặt tê lạnh cũng có, đăm đăm cũng có, hằm hằm cũng có nhăn nhó và chảy bệu
ra cũng có, thật là khó quên được. Và cũng khó mà yên tâm chui vào chăn sớm, nhất
là bài viết chưa xong và thấy mình, nếu chịu cho cái bị nó làm nhoài thêm người
một chút nữa… thì sẽ trở thành thằng khốn nạn mất.
Vì thế, nhiều lúc Kim Lân
ta đã rũ rũ chăn, lồng thêm màn chui vào nằm cu ru tưởng sắp ngáy rồi, bỗng lại
nhỏm dậy, khoác lòa xòa tất cả những thứ chăn màn trên người mà ra chỗ viết.
Chúng tôi ngồi viết bằng ghế con, bằng gốc cây, bằng cả chổi lúa; còn hắn thì
kê ván, chồng sách báo lên ba-lô hay mặt hòm sách. Những đêm khuya này, thường
lùi sắn ăn với nhau, và hút thuốc lào cứ rong róc. Người bám ruộng và cầy khỏe
nhất vẫn là Nguyễn Huy Tưởng. Kịch Những người ở lại, cứ từng màn Nguyễn Huy Tưởng
lại đọc cho anh em nghe để góp ý. Thứ đến Nguyễn Đình Thi. Không chỉ viết nghị
luận, Nguyễn Đình Thi còn làm thơ:
…Những dòng sông đỏ nặng
phù sa
Nước chúng ta, nước của
những người
chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng
đất
Những buổi ngày xưa vọng
nói về…
Bài Nhận đường của anh bản
thảo thứ nhất đến khi đưa in cũng đọc cho anh em nghe và sửa chữa; vòng móc cứ
như dây tơ hồng trên những trang chữ rất nhỏ chi chít. Như Phong làm báo Cứu quốc
khu Mười hai cũng đến đây viết ké. Một bên Nguyễn Huy Tưởng, một bên Như Phong,
giữa là đống lửa và cây đèn đĩa cháy nghi ngút, trông cứ như hai hộ pháp. Hai hộ
pháp ngồi không phải là nhập thiền hay canh giữ đền chùa nào, mà là đang bị cái
giống sáng tác yêu tinh thần nữ ốp đồng nó hành vậy!
Chúng tôi viết như thế và
cứ viết, mặc dầu từ tiền ra tạp chí đến việc chạy được nhà in vẫn còn ở những
đâu đâu ấy!
Nguyễn Huy Tưởng làm nội
vụ, vừa là thủ quỹ vừa đi giao tiếp in tạp chí. Khi thì ông đi biệt hàng nửa
tháng với một đồng chí vừa làm giao thông vừa là cấp dưỡng cho cơ quan, Nguyễn
Huy Tưởng làm chúng tôi hú hồn hú vía nhắn hết anh này đến anh em khác hỏi xem
tin tức công việc lành dữ thế nào, thì một anh cho biết ông không ốm đau hay
đánh mất tiền quỹ hay bị tai nạn gì cả…, mà đang đứng ở một cơ quan nằm chờ và
đang viết!…
– Thằng này mà ngồi viết
thì mọc rễ ở đấy mất! Phải rênh nó về mà tìm chỗ in khác thôi!
Hầu hết chúng tôi đều
xung thiên chi nộ, vì chỉ muốn lôi ngay Nguyễn Huy Tưởng về đả cho một trận.
Các bài đã xong: Đọc đi đọc lại bản thảo, ai nấy đều thấy “được rồi”, cả đến
Như Phong ì ạch như thế mà cũng được hai mẩu bút ký ngắn sau hàng chục năm tưởng
như tắc mất buồng trứng. Mấy mục chính như thể truyện nghị luận không những rôm
rả mà cả mục phụ như Những nẻo đường đất nước cũng vững. Bìa thì đúng là đã nộp
hàng trăm ý kiến của tòa soạn và mấy chục bản vẽ của hết Văn Cao, Trần Văn Cẩn
lại còn không biết bao nhiêu họa sĩ, nhạc sĩ, kịch sĩ khác xúm lại bàn bạc
thêm. Ma-két ruột cũng xong. Các kiểu chữ tít và chữ thường của các sách báo tiếng
tăm của nhà in lành nghề đẹp nhất thời ấy đều được khảo đi khảo lại để sắp cho
từng bài một. Tất cả hơn trăm trang! Chao ôi! Trong kháng chiến mà số đầu của một
tạp chí văn học ra mắt những hơn trăm trang, thì đúng là ra quân như Nguyễn Huệ
vậy! Bao giờ cũng như bao giờ, càng tối khuya và giá lạnh mà họp về việc in và
kiểm điểm về nội dung bài vở cũng như về hình thức trình bày, chỗ chúng tôi lại
ầm ầm lên quá như mổ bò, làm cả ông chủ bà chủ nhà thấy vui thấy quý, chứ không
thấy bận, thấy lạ gì cả. Càng như thế, chúng tôi càng điên người vì sự biệt tăm
của Nguyễn Huy Tưởng. Đặc biệt là ông lại giữ và chi các tiền tiêu pha chung,
và đồng chí giao thông kiêm cấp dưỡng độc nhất của cơ quan vẫn cứ theo ông!
Trong khi ấy cả anh Tố Hữu
và Nguyễn Đình Thi cùng bổ đi tìm đi chạy nhà in. Anh Kim Lân và tôi ru rú ở
nhà càng mong… mong như câu cửa miệng của nhân dân: Mong hơn cả mẹ về chợ ấy. Rồi
Nguyễn Huy Tưởng về. Cùng với ông là một gánh nặng sách báo tài liệu gởi lại ở
một nhà đồng bào bên Vĩnh Yên những tưởng không bị đốt thì cũng bị mối xông mất,
trong lúc ông suýt chạm trán với đám quân Pháp tan tác ở sông Lô kéo nhau về
xuôi! Anh em reo lên vì thấy Nguyễn Huy Tưởng không bị sì bu-du mà lại tươi tỉnh
và lại chuyện các thứ chuyện. Hỏi ra thì Nguyễn Huy Tưởng đã xong màn chót Những
người ở lại trong hai tuần “moong” của anh em và làm anh em phát sốt cả ruột
gan, mòn cả con mắt. Và nhà in đã có. Tạp chí Văn nghệ đã có nhà in rồi! Không
phải chỉ nhận in một số mà thề ra tới số năm số sáu, cốt nhất là phải có giấy!…
Anh em hét lên, túm lấy
ông “Tôn-xtôi” nhà ta mà vò đầu, mà bẹo má, mà lắc vai, mà thụi vào mạng mỡ mà…
châm luôn thuốc lá tiếp cho tận miệng: – thứ thuốc lá lẻ ngoại ngon nhất, sang
nhất mua lẻ ở quán Hồ Gươm, hay Áo Tím vân vân gì đây ở “Thành phố Thanh Cù”
ngày ấy.
– Đề nghị bữa chiều nay
làm một con gà… rồi ngày mai ngày kia ăn cơm canh sắn thôi cũng được!
– Phải, cứ phải tìm ngay
một con gà. Tiền này bắt thằng Tưởng phải trả! Nó phải khao kịch của nó! Không
thế thì là thằng khốn lạn!… Và mình không bắt nó khao, không ăn gà của nó thì
cũng là những thằng khốn lạn!
Nguyễn Huy Tưởng lại quằn người đỡ bên phải, né bên trái vì anh em vò đầu, bẹo má, đấm thụi túi bụi.
… Đã gần Tết. Càng lạnh
giá. Trong làng, người đi lấy lá dong và đem chè, đem cau, đem cam đi bán các
chợ, các bến cứ lũ lượt. Gà vịt, trầu vỏ, bòng bưởi đầy các lối vào chợ, vào phố.
Đồng bào các dân tộc mặc toàn quần áo mới mua sắm kín các hàng quán, và các
hàng quán tản cư gánh nhau dọn bán không thiếu một thứ gì của Hà Nội, của dưới
xuôi và đã treo các thứ tranh ảnh tết ra cả ngoài cửa, lại còn bầy la liệt đủ cả
chậu lan, chậu quất, chậu cúc, chậu thược dược, các lọ các bình hoa đào, la-dơn
và cả thủy tiên nữa. Nhiều áo bông dài đã sửa thành áo cộc chẽn. Những sa tanh,
cẩm châu, cỏ rếp với các màu óng ả rực rỡ hay nền nã, với các kiểu khăn vấn,
khăn choàng, càng làm những người qua đường quen thuộc thấy như vẫn ở một quãng
phố Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Cửa Nam nào đó. Bất chấp cả máy bay, hàng phố đã
kéo cờ và bày bàn thờ Tổ quốc đủ lệ bộ đỉnh lư, chân nến, bình hương bằng đồng,
đánh bóng còn hơn cả mọi năm. Cán bộ cơ quan và bộ đội đi lại rầm rập, cũng
đông hơn mọi ngày.
Bản thảo các loại đã đánh
máy xong, ghi chú đầy đủ rõ ràng các kiểu chữ tít và vi-nhét. Kim Lân và tôi
đưa đi nhà in. Cầm giấy giới thiệu và tiền công tác phí chúng tôi bàn nhau bảo
Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng:
– Hai ông này, chúng tôi
đề nghị hai ông hỏi mượn cho chúng tôi khẩu súng của bà T.M. nếu không hai ông
xuất tiền mua cho một mô-de, côn-bát…
Cả Nguyễn Đình Thi và
Nguyễn Huy Tưởng đều tròn mắt. Chúng tôi càng trịnh trọng:
– Đem tập bản thảo này và
khoác ba-lô lên đường trường mà không có súng tự vệ, nhỡ bị cướp hay ám sát thì
sao?
Nhất là gặp phải những
toán quân Pháp đặc biệt dao găm rạch mặt, dao găm ngậm miệng, đu chuyền các cây
rừng như vượn vẫn còn sục sạo và đón các ngả đường?
Nguyễn Huy Tưởng đỏ xửng
mặt.
– Và phải cho chúng tôi một
liên lạc đi theo chứ?
-??
– Để nhỡ có một thằng bị
cảm hay ốm nặng, thì có người về cơ quan báo tin, hoặc ở lại trông nom cho thằng
khỏe cứ việc đi nhà in…
Tất cả cười ngất. Xốc
ba-lô lên lưng, chúng tôi còn bắt tay nhau. Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi
còn dặn thêm:
– Ông Hồng vốn có tiếng cẩn
thận giữ bản thảo thì ông chịu trách nhiệm về bản thảo. Còn ông Lân người ý tứ
tinh việc thì chịu trách nhiệm về giao thiệp với nhà in! Thôi hai ông về trước
mà chuẩn bị tết và đón anh em nhé!
– Thế bao giờ ông Thi về
nào? (Gia đình Nguyễn Đình Thi dạo ấy ở chung với tôi).
– Tôi và ông Tưởng họp
xong đến 28, 29 tết thì về. Hai ông nhớ đón anh em ăn cái tết thứ hai, chiến thắng
Việt Bắc thật to đấy nhé.
– Tờ-rai! Tờ-rai! (tin tưởng,
tin tưởng) thôi kính chúc các ông ở lại mà họp, chúng tôi xin phép lên đường
ngay thôi ạ ạ ạ ạ!
Kim Lân và tôi lộc xộc ba
lô, ra đường cười vang với nhau, chưa bao giờ được sung sướng thế!
Kim Lân tụt cả dép chới với
gọi tôi:
– Ông Hồng ơi! Chờ nhau với
nào! Ông quay lại mà xem ông Tôn-xtôi nhà ta đang vẫy chào yêng em kia kìa!…
Hai tôi xuôi bờ sông Lô,
qua sông Lô lên bến Then rồi sang Thản Sơn huyện Lập Thạch. Tất cả những độ đường
này đều còn rành rành dấu vết mới. Đất Phú Thọ, Tuyên Quang là đất cọ đất gồi.
Những mái lá vàng cốm ẩn hiện ở những rặng cây giữa những nương, chè, ở những
bìa rừng và bên những sườn đồi đất đỏ.
Hai tôi lại các thứ chuyện.
Cố nhiên lại chuyện về tạp chí. Nhà in báo Độc lập đã nhận in đến số 5, số 6,
nhưng căn bản là phải có giấy. Giấy trong thành và ngoài vùng đều rất thất thường
và đắt. Như thế thì còn trông vào giấy ở Ấm Thượng. Nhưng rồi đây các sách báo
sẽ phát triển, kể cả tạp chí Văn nghệ nữa, vậy mình phải chủ động. Nghĩa là vừa
có nhà in riêng và xưởng giấy riêng. Hai tôi liền tính ngay đến việc liên lạc với
Tô Hoài, nhờ Tô Hoài giới thiệu hay tập họp cho mấy bà con thân thuộc ở làng Bưởi.
Hội Văn nghệ sẽ vay tiền cấp vốn cho bà con làm.
– Như thế, cả mấy gia
đình văn nghệ sĩ các bu Hà, bu Hiền, bác Tố gái, các bà Tạ Thúc Bình, bà chị
ông Trần Văn Cẩn và các con cháu anh em có thể vào xưởng tập rồi làm thợ giấy
được hết!… Kim Lân lại ngoắt cái tay lên, đi vắt va vắt vẻo bắt chước bác Ngô:
– Chi bằng các ông ấy cứ
đưa quách Hội và tạp chí về Nhã Nam cho tiện!
Hình như vào những ngày
20 hay 21 tháng chạp, ông Công sắp lên chầu giời thì phải. Trời bỗng nắng to
nhưng vẫn lạnh buốt. Gió thổi càng mạnh, cái thứ gió của núi rừng được buổi khô
ráo, quang đãng. Đường vào nhà in hầu hết đường mòn. Nhiều quãng, lá rừng lút cả
chân chúng tôi! Không hiểu lá rừng rụng từ bao giờ mà chúng tôi thấy như đi
trên thảm, và là một mặt thảm không có chiều dài thì hun hút. Dưới chân chúng
tôi lá vàng, trên đầu chúng tôi lá vàng, trước mắt chúng tôi lá vàng. Lá vàng
và nắng. Thỉnh thoảng một mảng trời lấp lóa. Các thứ chim hót. Những làn hương
rất lạ, không phải chỉ riêng của phong lan. Hai tôi mỗi người một cây hèo, đi hết
mấy chặng vất vả, vắng và dốc mà chỉ thấy hơi mỏi và khát…
Tạp chí Văn Nghệ số đầu tiên, in hơn một nghìn bản. Bìa giấy trắng đẹp còn hơn những bìa tạp chí Tiền Phong in ở Hà Nội trước đây. Phát hành chưa đầy một tháng, đã nhận thư và công văn nhiều nơi hỏi thêm. Khu Ba và Khu Bốn càng phía trong càng thiếu. Phải tái bản. Đi trên các ngả đường sâu lên Việt Bắc, lại trông thấy trang bìa trắng dày dặn cứng cáp với hình cánh cửa mở, lồng lộng ngôi sao và hai chữ V.N. như hai cánh chim ở chung những quán sách, những trạm giao thông, những phòng thông tin xa xôi… mà thấy cảnh vật vui thêm, chuyện trò dọc đường càng tươi hơn…
19/5/1973
Nguyên Hồng
Nguồn: Trích trong “Những nhân vật ấy đã sống với tôi”, Nxb Tác phẩm mới, 1978
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét