Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

Hào nhoáng Trịnh Công Sơn

Hào nhoáng Trịnh Công Sơn
A thousand years of Chinese reign
A hundred years of French Domain
Twenty years fighty brothers each day
A mother ‘s fate left for her child
A mother’s fate, a land defiled
(Một phần trong ca khúc Gia Tài Của Mẹ
được dịch sang tiếng Anh bởi Richard Fuller)
 Sau năm 1975 nhạc Phạm Duy bị cấm hát ở Việt Nam. Cứ tưởng Trịnh Công Sơn ở lại và là người “có công với cách mang” thì nhạc của ông được phổ biến nhưng sự thực hoàn toàn ngược lại. Những Diễm Xưa, Nắng Thủy Tinh, Hạ Trắng, Tình Nhớ, Dấu Chân Địa Đàng …. đã bị xếp vào loại “nhạc Vàng” và không được phép phổ biến. Còn ca khúc Da Vàng một thời được gọi là nhạc phản chiến với tiếng kêu khóc:
”Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng
Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ máu xương “
Thì số phận ra sao?
Sự thực Ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn đã  từng được sử dụng như tiếng kêu thét dưới bom đạn Mỹ của người dân miền Nam trong cuộc đua giành sự ủng hộ của thế giới. Sau  1975  Ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn không còn được trọng dụng. Lúc này cái chết của hàng triệu thanh niên trong “hai mươi năm nội chiến từng ngày “ theo Trịnh Công Sơn là hậu quả của cuộc tương tàn đã bị cố ý chôn vào quên lãng.
Trong khi trước 1975 người dân miền Nam tự do hát
“Xác người nằm trôi sông,
Phơi trên trên ruộng đồng …”
Hay
“Chiều đi trên đồi hoang hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Bên khu vườn, một người mẹ ôm xác đứa con”
Rồi
“Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Người cha già ôm con lạnh giá…”
Thì những điều TCS “thấy” đó sau 1975  bị  sợ nhắc tới.
Bài hát Ngủ Đi Con lay động hàng triệu trái tim người Nhật  nói lên nỗi đau cùng cực của hàng triệu bà mẹ  mất con vì chiến tranh  lại không được chính thức phổ biến ở nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa. 
Sự kiện bài hát “Ngủ Đi Con” được đĩa vàng ở Nhật năm 1972 (bán được 2 triệu đĩa) đáng lẽ phải được nhắc tới như một vinh dự của nền âm nhạc Việt Nam nhưng mọi thứ liên quan về Trịnh Công Sơn vẫn là điều cấm kỵ.
Sau khi qua đời, bỗng nhiên Trịnh Công Sơn lại được thổi phồng, được ái mộ một cách ầm ĩ. Hàng trăm bài báo, hàng chục quyển sách ra đời kể lại tiểu sử Trịnh Công Sơn.
Theo tôi Trịnh Công Sơn chỉ là một  nhạc sĩ  phản chiến.
Rồi từ đó, nhạc của ông được hát trong phòng trà, trong các sự kiện, trong các show ca nhạc như dòng nhạc thời thượng nhất. Thậm chí bài “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui” được chọn làm nhạc quảng cáo cho một doanh nghiệp và biến thành tiếng ca hạnh phúc của một người sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa trong khi ông làm bài hát này  để tự an ủi mình trong thời gian bị bắt đi lao động ở Huế.
Trịnh Công Sơn trở thành nhạc sĩ viết tình ca hay nhất. Đó là những gì người dân trong nước được quyền biết về Trịnh Công Sơn.
Tôi cho rằng một lần nữa Trịnh Công Sơn bị lợi dụng để chứng minh rằng không khí âm nhạc của Việt Nam rất tự do, rất đổi mới.
Trong khi đó nếu ai thực sự có lòng với TCS sẽ thấy rằng ông đã bị chà đạp vì tiếng khóc con đau đớn của những bà mẹ Da Vàng của ông đã bị bịt miệng.
Trong bài báo “Tây hát trong đêm nhạc giỗ Trịnh Công Sơn” đăng trên Yahoovanhoaviet có nhắc đến sự kiện có ba người nước ngoài yêu thích nhạc Trịnh Công Sơn và hát rất hay dòng nhạc này. Đó là Richard Fuller (người Mỹ) Kyo York (người Mỹ) và Lee kirby (người Anh). Khi ca sĩ Ánh Tuyết đưa Kyo York và Lee Kirby ra Hà Nội trình diễn ca khúc TCS nhân lần giỗ thứ 11 tác giả bài viết hỏi Ánh Tuyết:
“Vì sao chị không đem Richard Fuller ra Hà Nội trong dịp này?
Ca sĩ Ánh Tuyết trả lời “Tại ca khúc Da Vàng mình chưa xin phép được mà ông ấy thì nhuần nhuyễn về mảng đó”
Nếu vậy thì những đêm nhạc lộng lẫy kỷ niệm ngày mất của ông có ý nghĩa gì? Con đường mang tên Trịnh Công Sơn và nhà lưu niệm của ông sắp được xây ở Huế phải chăng là trò mỉa mai, giả dối. 
 Hà Phan
Theo http://www.vanchuongviet.org/

Điệu Valse của Văn Cao

Điệu Valse của Văn Cao
Dù nhạc sĩ Văn Cao sống ở miền bắc, trước năm 1975, người miền nam không hề xa lạ với ông. Những Bến Xuân, Buồn Tàn Thu, Suối mơ, Trương Chi, Sông Lô… luôn được hát, được yêu mến. Và chúng tôi càng yêu ông, thương xót cho ông hơn khi biết rằng sau khi đất nước trở thành đôi bờ chiến tuyến, ông không còn sáng tác. Lý do tại sao, tôi không được rõ. Có thể ông bị cấm sáng tác, có thể tự ông muốn biến thành người câm khi biết rằng tâm hồn mình đã trở thành cung đàn lỗi nhịp.
Trong khi ở miền nam, Phạm Duy, người bạn thân của ông, như con bướm bay lượn trong tự do (có khi quá đà), thì tôi có cảm giác Văn Cao như con chim cô đơn, tàn tạ trong chiếc lồng chật chội. Ước gì thời gian đó, ông biết được rằng ở một miền đất nước cách chia có người vẫn nghĩ, vẫn nhớ rất nhiều đến ông, đến một người đã có cái nhìn vô cùng trang trọng với tình yêu đôi lứa.
“Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác
Em vắng tôi một lần”
Trong ngôi nhà tình yêu, chỉ vắng nhau một lần, đã trở nên hoang vắng, buồn bã đến thế sao?
Văn Cao sáng tác không nhiều nhưng bài nào cũng hay. Với riêng   tôi, tôi vẫn thích nhất Cung Đàn Xưa.
“Hồn cầm phong sương, hình dáng xuân tàn
Ngày dài mờ trôi, sầu lắng cung đàn”
Điệu valse của Cung Đàn Xưa thật lạ kỳ. Nhịp điệu rất sang , rất “Tây” ấy không gợi cho tôi nhớ đến những điệu valse của Strauss mà lại đưa tôi vào không gian man mác buồn của Đường thi.
“Tạ từ Hoàng Hạc người đi
Tháng ba hoa khói xuôi về Giang Châu
Cánh buồm lẻ bóng khuất mau
Dòng trường giang chảy về đâu hỡi người” (*)
Cung Đàn Xưa ấy bao năm trời đành “tắt bao thắm tươi” và chúng ta không còn nữa được nghe tiếng sáo “ai oán khúc ca cầm châu rơi” của chàng “Trương Chi” tội nghiệp. .
“Cung thương lạc phím đàn
Cung Nam lạc phím người”
Thật đau đớn khi người nghệ sĩ phải tự giam cầm trái tim chan chứa yêu thương của mình..
Một sáng tháng giêng năm 2000, ngồi bên một quán nước nhìn ra dòng sông Saigon thấp thoáng sau những rặng trúc bên bờ Thanh Đa, tôi bổng nghe văng vẳng một điệu valse kỳ diệu như một dòng suối ngọt ngào.
“Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về
Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông…”
Người bạn ngồi bên nói cho tôi biết đó là bài “Mùa Xuân Đầu Tiên” của Văn Cao. Bài hát như một tiếng khóc mừng khi đất nước im tiếng súng.
Tại sao ông chỉ thầm vui được thấy một “mùa bình thường” trong khi những người chung quanh ông đang hò reo một “mùa xuân đại thắng”?
Có phải một chút bình thường như tiếng gà gáy trưa, một chút khói bay trên sông, một trưa nắng vui, cũng là điều tâm hồn dịu dàng của ông khao khát trong suốt bao nhiêu năm?
Lòng ngập tràn hy vọng, ông thật thà trong niềm vui đoàn tụ:
“Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người”
Vậy mà theo lời người bạn, không dễ để tiếng lòng chân thực của Văn Cao đến được với mọi người. Được sáng tác năm 1975, phải đến sáu năm sau bài hát mới được phép phổ biến.
Thật dịêu kỳ khi con chim ủ rủ, chết lặng trong lồng hơn  20 năm, bỗng một ngày hồi sinh cất cao tiếng hót lảnh lót, tươi vui đến như vậy. Tôi nghe như có những giọt nước mắt đang lăn xuống trên đôi gò má nhăn nheo của tác giả.
Mùa Xuân  Đầu Tiên được phép hát có lẽ là hạnh phúc cuối đời của ông và ông sớm ra đi sau đó lại là điều may mắn.Bởi nếu còn sống đến giờ này chắc chắn ông lại buồn bã, tuyệt vọng nhìn thấy  “Mùa Bình Thường” của ông  chưa bao giờ là hiện thực.
Sau khi im tiếng súng, người có nhận ra quê người? người có thực sự  yêu thương người?
Đã 20 năm ừ ngày Văn Cao  từ biệt chúng ta nhưng dường như:
“Tơ đàn chùng cùng với tháng năm
Rừng còn nhắc tới người
Trong chiều nào giữa chốn đây
Hồn cầm lắng tiếng đời”.
(Suối Mơ)
(*)
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận.
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.
Thơ Lý Bạch
(Người viết dịch)
Hà Phan
Theo http://www.vanchuongviet.org/

7 ngày ở Kuala Lumpur, Malaysia

7 ngày ở Kuala Lumpur, Malaysia
Thú thật, chẳng biết từ bao giờ, trong tôi đã có “dòng máu kỳ thị” và xem Malaysia chỉ là một quốc gia chậm tiến, nếu không nói là còn man rợ, nhưng tôi phải cực kỳ ngạc nhiên về sự tiến bộ sau khi đặt chân lên quốc gia nầy. Malaysia đã chuyển mình và thực sự là một con rồng ở Đông Nam Á.
Chỉ 10 năm Malaysia tiến gần bằng Nhật và 5 năm theo kịp Singapore. Trước khi đi vào cuộc hành trình trên xứ người, tôi xin gởi đến quý độc giả sơ lược về lãnh thổ Malaysia.
Quốc gia Malaysia, có hai hòn đảo chính, chia thành hai vùng rõ rệt: Tây và Đông Malaysia. Tây Malaysia được gắn liền với đất liền, nên gọi là bán đảo, còn Đông Malaysia nằm ngoài khơi Thái Bình Dương. Hai nơi nầy cách nhau một vùng biển 640 cây số. Cả hai vùng có chung diện tích độ 329.750 cây số vuông. Bán Đảo Tây Malaysia chiếm gần 60% tổng số diện tích. Chiều dài 800 cây số, nơi rộng nhất 330 cây số. Đông Malaysia có chiều dài 1.130 cây số, nơi rộng nhất 275 cây số. Liên bang Malaysia có 13 tiểu bang và 3 hạt. Kuala Lumpur là thủ đô và cũng là hạt lớn nhất của quốc gia nầy.
Theo thống kê năm 2004, Malaysia có gần 24 triệu người. Mật độ trung bình 72 người/cây số vuông. 59% dân số Malaysia sống ở đô thị. Họ dùng 3 ngôn ngữ chính: Malaysia, Hoa và Anh.
Malaysia là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có nền giáo dục tuyệt vời. Học sinh bắt đầu cắp sách đến trường cho đến khi học hết lớp 12 không phải đóng học phí và được cấp toàn bộ sách vở. Vào đại học, được chính phủ cho vay tiền để học, sau khi ra trường nếu có việc làm và có khả năng trả nợ thì trả, nếu không có việc làm, không có khả năng trả nợ thì  đương nhiên được xóa nợ. Thường việc xóa nợ rất ít xảy ra. Học sinh vào trường được quyền chọn ba ngôn ngữ: Malaysia, Hoa và Anh.
Thông thường, mỗi học sinh đều học hai ngôn ngữ. Và tiếng Anh là ngôn ngữ bắt buộc. Trong lãnh vực văn học, công trình quan trọng nhất là Sejarah Melayu (Biên Niên Sử Malaysia), được viết từ năm 1500, mặc dù được viết theo lối tiểu thuyết, nhưng mô tả đầy đủ những sự kiện trong các triều vua Hồi giáo Malacca. Vào thế kỷ 18, chế độ thực dân làm ảnh hưởng đến nền văn học của Malaysia.
Năm 1876, tờ báo sử dụng tiếng bản xứ đầu tiên được lưu hành trong nước.
Nền kiến trúc Malaysia chịu ảnh hưởng chính của hai dòng văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ, ngoài ra còn ảnh hưởng của Ma Rốc và các nước Hồi giáo...
Năm 1998, khởi công xây dựng công trình Petronas (còn gọi là Kall), hoàn thành vào năm 2003. Đây là hai toà tháp “sinh đôi” đứng song song với nhau (nên gọi là Tháp Đôi). Tháp Đôi có 88 tầng cao 452 mét, trước năm 2004, được xem là cao nhất thế giới. Kiến trúc nầy đậm nét văn hóa Hồi giáo Malaysia.
Về tài nguyên, Malaysia có khoảng 8.000 loài thực vật trong đó có gần 3.000 loài thân gỗ. Đặc biệt, cây Dái Ngựa (Đầu sư?) và cây Tếch thông thường cao hơn 50 mét và đường kính tới 3 mét. Vùng Đông Malaysia có loài hoa lớn nhất thế giới tên Rafflesia.
Ngoài ra, Malaysia còn có khoảng 500 loài chim, 100 loài bò sát, 80 chủng loại thằn lằn khác nhau và rất nhiều loài động vật hoang dã có kích thước lớn: voi, sư tử... Rừng Malaysia chiếm tới gần 59% diện tích. Nguồn lợi chính của Malaysia là dầu mỏ, quặng thiếc, gỗ, cao su, cây dừa cọ (một loại dùng để lấy dầu dùng trong ngành dược, trồng mênh mông bát ngát như dừa Bến Tre, dừa Tam Quan) và nguyên liệu khô.
Năm 1957, Malaysia giành được độc lập, nhờ đó việc phát triển sản xuất chiếm ưu thế. Thời gian 1970 - 1990, Malaysia thật sự chuyển mình biến thành một trong những con rồng châu Á.
Đầu năm 1991, chính quyền Malaysia đặt ra chương trình qui mô “Vision 2020” biến Malaysia thành một nước công nghiệp. Kế hoạch nầy đã đưa Malaysia trở thành một trung tâm kinh doanh kỹ nghệ cao toàn vùng Đông Nam Á. Trong thời điểm 1997 - 1998, trước sự suy thoái về kinh tế của cả khu vực và cả thế giới, Malaysia không chịu ảnh hưởng bởi sự suy thoái nầy là nhờ “Vision 2020”.
Trung bình mỗi năm Malaysia tăng trưởng 6,2% kinh tế. Ngân sách năm 1997 thu 23 tỉ USD, chi 20 tỉ USD. Năm 2002 GDP của nước nầy là 94,9 tỉ USD. Malaysia không có trợ cấp thất nghiệp. Khi sang Malaysia, tôi hỏi Ngành Sáng - người Hoa, sống nhiều đời ở Kuala Lumpur, vì sao? Ông đáp: “Nước chúng tôi nhiều việc làm lắm, chúng tôi thiếu rất nhiều công nhân, chính phủ còn thuê mướn công nhân ở Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia... vì vậy đâu thể trợ cấp cho những người lầm piếng (lười biếng).”
Tháng 9 năm 2005, tôi về VN, trong một buổi dạ tiệc ở Đệ Nhất Khách Sạn, Hoa Sứ I, tình cờ tôi gặp ông Gan Cheng Hai (Ngành Sáng), Tổng Giám Đốc Công Ty Nhập Khẩu Continental Foodwear SDN ở Kuala Lumpur, công ty nầy cung cấp giầy dép cho toàn lãnh thổ Malaysia.
Ngành Sáng, là người Hoa, sinh trưởng ở Malaysia, trước 1975 ông có sang Việt Nam làm ăn ở Chợ Lớn, trong khi gia đình ông nhiều đời vẫn ở Malaysia. Thời gian Việt Nam và Trung Quốc “chọi nhau”, ông Ngành Sáng trở về Malaysia sum họp với đại gia đình.
Vì muốn bắt nhịp cầu mở rộng công việc làm ăn, sau đêm ấy, những buổi tối chúng tôi thường hẹn hò gặp nhau. Trong những buổi tọa đàm, ông Ngành Sánh thường tỏ vẻ không hài lòng nhiều vấn đề ở đất nước Việt Nam, chê Việt Nam dơ, và những nhu cầu công cộng cho người dân còn kém quá, đồng thời ông không tiếc lời ca tụng Malaysia. Và, ông mời tôi sang thăm gia đình ông và Kuala Lumpur. Tôi nhận lời.
Tháng 8-2005 về nước, sau khi nghỉ ngơi, tôi gọi ông Ngành Sáng hẹn ngày bay sang Malaysia. 10 giờ sáng ngày 08.8, tôi cùng bà Chu Thị Kim Anh, Giám đốc công ty sản xuất và xuất khẩu dép có quay lên chuyến bay của hãng hàng không Việt Nam bay sang Kular Lumpur và đáp xuống phi trường K.L.I.A Airport lúc 11:30 giờ.
Hành khách trên chuyến bay nầy, đa số là những chàng thanh niên “trên khắp nẻo đường đất nước”, sang lao động ở Malaysia. Nhân cơ hội nầy, tôi làm một cuộc phỏng vấn nhanh:
- Cháu người Tỉnh nào?
- Dạ! Quảng Trị
- Còn cháu?
- Dạ! Cháu ở Quảng Ngãi.
- ...
- Làm thế nào các cháu được đi lao động nước ngoài?
- Nhờ dịch vụ đó bác.
- Dịch vụ họ ăn bao nhiêu?
- Dạ, hai mươi triệu.
- Hai mươi triệu? Mình nghèo, làm thế nào để có số tiền đó?
- Họ ứng trước cho mình và trừ vào tiền lương.
- Ở Mã Lai, mình làm mỗi tháng được bao nhiêu?
- Ba triệu, bác!
- Như vậy trừ hết chi phí mình còn được bao nhiêu?
- Dạ khoảng hơn triệu.
- Hợp đồng mình làm được bao lâu?
- Ba năm.
Tôi biết trong lòng họ đang nôn nao và hồi hộp...
Rời phi cơ, chúng tôi lên xe điện vào nhà ga phi cảng làm thủ tục nhập cảnh, ở đây tôi thấy nhân viên làm việc không có mặc đồng phục, có những phụ nữ họ mặc toàn y phục đen dài và mặt được che kín chỉ chừa hai con mắt. Đến chỗ hải quan, tôi cũng thấy như vậy. Cả hai nơi làm việc rất nhanh và vui vẻ. Phần đông họ là người có nguồn gốc Trung Hoa.
Sau khi làm xong các thủ tục, tôi bắt đầu quan sát nhà ga phi cảng. Đó là một công trình kiến trúc quy mô, nguy nga tráng lệ có tầm vóc quốc tế, hoàn toàn tân tiến, không như phi cảng Tân Sơn Nhất của chúng ta.
Đón chúng tôi tại lối ra phi trường là một phụ nữ ngoài bốn mươi - bà Ngành Sáng, bà nói tiếng Quảng Đông địa phương, hơi khó nghe. Tôi, gốc Quảng Đông nửa vời, nghe, hiểu tiếng được tiếng không, nhưng cũng tóm tắt được ý, bà chuyển lời chồng đến xin lỗi vì bận việc bất ngờ, nên không thể ra đón chúng tôi.
Ngồi trên chiếc Toyota đời mới, rời phi cảng chạy trên xa lộ gần 45 phút mới vào thủ đô Kular Lumpur. Trên xa lộ chúng tôi thấy toàn là xe hơi nườm nượp nối đuôi nhau, không thấy bóng một chiếc xe gắn máy bất cứ loại nào. Hình ảnh trên xa lộ xe hơi đông đảo chẳng khác gì ở các tiểu bang North và South Carolina của Mỹ.
Về đến nhà, bà Ngành Sáng dẫn chúng tôi lên phòng ở tầng trên. Đó là căn phòng rộng rãi như Master Room của những ngôi nhà có giá khoảng trên hai trăm ngàn ở Mỹ. Quan sát toàn phòng, tôi thấy tiện nghi đầy đủ như ở Mỹ, khác ở điểm là nhà lát toàn đá hoa cương, nhưng máy lạnh lại là loại máy sử dụng cho từng phòng. Sau nầy, tôi có hỏi ông Ngành Sáng về vấn đề nầy, ông cười đáp: “Tại sao chúng ta phải xài máy lạnh cho cả nhà, trong khi đó là điều không cần thiết?”
Còn gas thì sao? Ở Malaysia không có hệ thống Gas đến từng gia đình nhưng Mỹ, mà lại dùng gas bình. Tôi hỏi: “Vì sao ở đây các công ty Gas không đưa gas vào mỗi nhà?” Ông Ngành Sáng đáp: “Gas được chánh phủ bảo trợ một phần giá, cho nên không thể lập hệ thống đưa gas đến từng gia đình, vì nếu làm như vậy, gas sẽ bị ăn cắp rất nhiều, không kiểm soát được.”
Gần một giờ chiều trong ngày, Ngành Sáng về tới, ông vội vã lên lầu tìm chúng tôi. Ông hối hả xin lỗi và bảo chúng tôi thay đồ đi ăn. Chúng tôi xuống xe trước nhà hàng người Hoa, điều đập vào mắt tôi là bảng hiệu. Từ bảng hiệu của nhà hàng, chuyển sang bảng hiệu các nơi khác, thấy chữ nghĩa người Malaysia viết như vầy, Restorant, Pharmasy, Pulis (cảnh sát),...Không để tôi ngạc nhiên, ông Ngành Sáng cười nói: “Ở đây, chúng tôi viết nửa Tây, nửa Mỹ và nửa Malaysia.” Nói xong ông cười.
Trong khi gọi thức ăn ông bảo chúng tôi gọi những món ăn đắt tiền và ngon, chúng tôi bảo vợ ông ta “đi chợ”, trước khi order, bà ấy giải thích cho chúng tôi hiểu rõ từng món ăn và hỏi chúng tôi nên chọn món nào. Xong, ông Ngành Sáng hỏi chúng tôi uống gì. Tôi đáp, “Diệt xà” (trà nóng)..., bạn Kim Anh nói “Sweet Tea”... tóm lại không ai dùng Beer cả. Bà Ngành Sáng nói: “Ở Kuala Lumpur rất ít người “nhẩm chẩu” ở nhà hàng.”
Món ăn nhà hàng Hoa ở Malaysia hoàn toàn khác xa khẩu vị món ăn người Hoa ở Việt Nam hay ở Mỹ. Tất cả đều lơ lớ, ít dầu mỡ và thiếu chất đậm đà. Đặc biệt, Ngành Sáng dù là một tay cự phách trong nền kinh tế ở Kuala Lumpur, và đối với ông, chúng tôi là khách đến từ xa, nhưng trước khi tàn tiệc, mọi người đều căng bụng, Ngành Sáng đã không ngần ngại chia xớt hết phần ăn còn lại vào chén bát của ông và vợ con ông.
Ông chân thành nói: “Ở đây chúng tôi không dám phí phạm thức ăn. Đã gọi thì phải ăn cho hết. Không như ở Việt Nam, khi đến nhà hàng gọi cho nhiều, ăn không hết rồi bỏ. Tại sao ta phải làm như vậy?” Xong ông cười nói: “Ở Việt Nam ra hàng quán ăn, người ta hay la to “một, hai, ba! Dzô! Dzô!” Họ phí những đồng tiền rất vất vả mới kiếm được!”
Khoảng 4 giờ, chúng tôi lại “bị bắt đi ăn”. “Ăn cho hết tất cả những món ăn của Malaysia trong một tuần.” Trên xe Ngành Sáng cười nói.
Sau đó chừng hai, ba tiếng đồng hồ, trước khi đến China Town, ông Ngành Sáng đưa chúng tôi đến một chỗ ăn rộng lớn ngoài trời. Ở đó, có hàng trăm chiếc bàn chữ nhật, hoặc tròn sắp xếp thẳng hàng và được sử dụng không biên giới.
Đối diện bên kia là một dãy xe - kiểu xe hủ tiếu ở Sàigòn trước 1975, bán đầy đủ các món ăn, đa số là các món nướng. Sau lưng những chiếc xe bán thức ăn là một hàng dài xe hơi kiểu du lịch - xe của những người bán thức ăn, khi bán xong họ lái xe về. Chúng tôi vừa ngồi xuống thì hàng loạt tiếp viên cùng chạy đến, họ luôn miệng “chào hàng” (Ở đây, khi họ đem thức ăn đến thì trả tiền ngay, vì có đến hàng trăm chiếc bàn và bất cứ người bán nào cũng được đặt thức ăn trên những chiếc bàn đó).
Quanh chúng tôi, thực khách ăn những món nướng và uống trà nóng, trà đường hoặc Café.
Điều làm cho tôi vô cùng ngạc nhiên, ở chỗ ăn ngoài trời như thế, với hàng trăm chiếc bàn đông nghẹt người như thế, mà mọi người ăn uống rất lặng lẽ, êm đềm. Cá biệt, cách chúng tôi chừng 9, 10 bàn, có 4 chàng thanh niên đang uống Beer tưng bừng. Ngành Sáng chỉ tay về phía đó rồi nói: “Họ là người Việt Nam sang lao động ở đây.”       
Như để chứng minh lời của Ngành Sáng là đúng, một tiếng chửi thề Đ.M, lạc lõng to lên. Tôi và người bạn đồng hành đưa mắt nhìn nhau. Nhân đó, tôi hỏi ông Ngành Sáng về tình hình lao động Việt Nam sang làm việc ở Malaysia. Ông Ngành Sáng đáp: “Họ siêng năng, cần cù nhưng hay gây gổ, chúng tôi không thích họ, vì khu họ ở con chó, con mèo chạy ngang đều bị họ bắt làm thịt.” Ông vừa nói vừa xòe bàn tay cứa ngang trước cổ. Xong, tiếp: “Dân lao động ở đây, người Indonesia hay ăn cắp, người Việt Nam nhậu nhẹt quậy phá, chỉ có người Ấn là hiền lành.”
Ăn xong, chúng tôi đến khu phố Tàu (China Town). Đến đây rồi, tôi thật sự kinh ngạc về khả năng “xâm chiếm và bành trướng” của người Hoa ở khắp nơi trên thế giới. Đó là một khu phố vào đêm thứ Hai mà người đông nghẹt, phải chen, lách vai nhau đi, chẳng khác gì   người và xe gắn máy trên đường phố Sàigòn trong giờ cao điểm. Ngành Sáng luôn nhắc nhở: “Coi chừng lạc!” Ở đây người ta bày bán đầy đủ tất cả các mặt hàng, đặc biệt là đồng hồ. Đồng hồ nhiều vô số kể, nhưng có lẽ đó là hàng mạo hóa.
Ra xe trước khi về nhà, ông Ngành Sáng chở chúng tôi đến Trà Quán. Vào đây, không phải để uống trà, mà để ăn món “Quấy Linh Cù”. Đó là thức ăn nhẹ, có màu xanh và hình thể giống như sương sâm Việt Nam. Giá mỗi chén 4 Gringrit (= 1dollar, thời điểm đó). “Quấy Linh Cù” dường như chỉ có ở Tàu Malaysia (dường như bây giờ ở Việt Nam đã có?)
Những ngày sau, ông Ngành Sáng lần lượt chở chúng tôi đi viếng các thắng cảnh và những công trình kiến trúc ở Kuala Lumpur: Tòa Tháp Đôi, đại siêu thị Sunway cao 5 tầng, ngay từng dưới của siêu thị nầy có cả sân trượt băng.
Có lẽ Mall nầy còn lớn không thua gì Georgia Mall ở Mỹ. Đi đâu, tôi cũng thấy đường phố đều sạch sẽ. Điều đáng chú ý có lẽ là những nhà vệ sinh công cộng. Gần như, tất cả nhà vệ sinh ở Malaysia - kể cả nhà vệ trong phi cảng quốc tế K.L.I.A Airport đều mang sắc thái rất Malaysia, rất sạch nhưng không nơi nào có để giấy vệ sinh, họ chỉ thiết kế một vòi nước ngắn cho khách “làm cái việc ấy” sau khi bài tiết. Nhưng, nó vẫn có thứ để chúng ta giải quyết vấn đề, dù phải trực tiếp bằng tay.
Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến “nỗi kinh hoàng” khi vào phòng vệ sinh trong siêu thị An Đông và nhà vệ sinh ở tầng trệt phi cảng Tân Sơn Nhất, Việt Nam. Hai nơi nầy chẳng có giấy và cũng chẳng có nước để... Tôi lại chợt nhớ câu chuyện vui “Chàng sinh viên Pháp gặp chàng sinh viên Việt Nam bèn khoe: “Các nhà khảo cổ chúng tôi vừa tìm được những sợi dây đồng, điều nầy chứng tỏ tổ tiên tôi từ xưa đã biết dùng điện thoại rồi.” Chàng sinh viên Việt Nam tỉnh bơ đáp: “Không nhà khảo cổ nào có thể tìm được một sợi đồng trên đất nước tôi. Bởi vì từ ngàn xưa tổ tiên tôi đã biết dùng vô tuyến.” Dân mình “khôn, thông minh” mà cũng tinh ranh, ma mãnh hết sảy!
Gần 7 năm sống ở Nam Vang, Kampuchia, tôi thấy ở thôn quê, người nông dân thường ra đồng làm việc bài tiết, xong, họ dùng gót chân quẹt, rồi vừa đi vừa chà gót chân trên đồng ruộng. Tôi lại nhớ hai câu trong kho tàng Ca Dao Việt Nam:
“Anh thương em lấy cây quẹt đít,
Em đi rồi anh hít hít cái cây!”
Vậy, ta thử so sánh, nhà vệ sinh ở Malaysia thì có vòi nước, ở Miên người nông dân sau khi “đi đồng” thì dùng gót chân để chùi, còn nhà vệ sinh công cộng ở Việt Nam thì chẳng có gì cả. Phải chăng quý nhà lãnh đạo phi cảng Tân Sơn Nhất (thời 2004ù), ở siêu thị An Đông và ở nhiều nơi khác nữa trên đất nước ta muốn “tiến bộ” kiểu như chàng sinh viên ở trong câu chuyện vui trên đây? Hay là họ muốn sửa hai câu ca dao trên thành:
“Đi cầu rồi lấy tay quẹt đít,
Bước ra ngoài hít hít cái tay” (Hi!)
Mỗi ngày, sau thời gian đưa chúng tôi đi du ngoạn, ông Ngành Sáng vội vã đến văn phòng, giải quyết vài công việc, thời gian đó, ông giao phó chúng tôi cho bà Ngành Sáng. Bà gọi thêm một bà bạn người Hoa, họ hè nhau chở chúng tôi đi massage. Điều nầy làm tôi chợt nhớ ở Việt Nam. Có lần, vào Rex massage, khi tôi vào phòng rồi, một thiếu nữ đẹp, trên dưới hai mươi, hai tay bưng vào một ly trà ấm, giọng ngọt lịm: “Mời anh uống nước.” Tôi trợn mắt hỏi: “Mầy gọi tao bằng anh? Cháu ngoại của tao còn lớn hơn mầy đó.” Cháu ấy vội vàng nói: “Con xin lỗi bác, con gọi bác như vậy là vì mấy ông già Việt Kiều vào đây họ bảo gọi bằng anh chứ không cho con gọi bằng chú hay bằng bác.” Nghe qua, tôi cảm thấy xót xa vô cùng! Những thằng già nào đó ở hải ngoại rủng rỉnh chút tiền về nước dễ biến thành thứ chó trâu. Trở ra hải ngoại còn vênh mặt khoe khoang về nước tha hồ ôm gái non, chẳng biết đó là điều sỉ nhục cho quê hương đất nước.
Chửi như vậy, không có nghĩa tôi là một nhà đạo đức - Đạo đức gì cái thằng vốn “lang bang chi địa, quậy mút mùa Lệ Thủy” như tôi (cười)! Nếu về quê hương, muốn có chút tình còm để dung dăng dung dẻ cho vui, tôi cũng chỉ tìm những góa phụ ngấm nghé với tuổi mình, tuyệt đối chẳng làm một thằng mù trước sắc đẹp ở hàng con cháu. Theo chân hai bà, chúng tôi bước vào phòng massage Trung Quốc trong Mall, trong phòng có chừng 15, 16 chiếc ghế massage, đã đầy khách làm chân. Bà Ngành Sáng nhanh nhẹn lại quầy mua phiếu, trong khi một nhân viên của họ đến bảo chúng tôi, cởi giày và rửa hai bàn chân. Tôi cùng bà Kim Anh ngạc nhiên, làm theo.
Một bà khách phốp pháp vừa xong bước ra phòng, tôi được nhường ưu tiên. Vào phòng, trong khi nằm massage, tôi phải gồng mình chịu “tra trấn”. Massage kiểu Trung Quốc là kiểu massage ấn huyệt, họ ấn tận tình không chút khách sáo, những đầu xương hai bàn tay massage viên, ấn, xoáy, ma sát vào những huyệt đạo trên lưng và hông tôi không một chút nương tay. Sau đó, tôi ra ngoài ngồi ghế tựa để họ massage chân.
Bấy giờ tôi mới thấy, họ nắm tay lại như cú đấm, đầu xương lóng gốc và lóng giữa của ngón tay giữa nhô cao, và họ dùng nó tận sức xoáy vào chân tôi. Thật là khủng khiếp. Khi “phái đoàn” chúng tôi massage xong, bà Ngành Sáng lại quầy lấy và phân phát mỗi người một tấm giấy. Trên tấm giấy của tôi, họ ghi các chứng bệnh bằng Hán tự: “Hai bắp chân đau, tiểu đêm nhiều, ngủ ngáy...” Tôi lại một phen kinh ngạc. Nhưng kinh ngạc trong thán phục. Tôi móc bóp lấy tiền tặng Tip, họ cười, lắc đầu không nhận. Người bạn của bà Ngành Sáng cười nói: “Người Malaysia không có nhận tiền boa!” Trời đất, tiền tặng mà không nhận. Đúng là “đồ điên!” Chẳng biết đến khi nào người Việt mình “biết điên” và “biết chê tiền” như người Malaysia?
Mấy ngày sau, có lẽ nhờ cơn hành hạ “từ buổi massage ấy”, hai bắp chân tôi hết đau. Tôi nói với ông Ngành Sáng điều đó, ông ta bảo: “Vậy chiều nay ngộ đưa nị đi massage nữa.” Tôi lắc đầu cười từ chối.
Thứ Sáu tuần lễ ấy, ông Ngành Sáng lái xe đi rước hai đứa con gái lớn học nội trú về, chúng nói tiếng Anh xen trong tiếng Hoa và tiếng Malaysia. Sáng hôm sau, cả nhà Ngành Sáng và chúng tôi đi cao nguyên Genting.
Nằm trên cao độ 1.802 mét Genting uy nghi sừng sững trên những chòm mây bạc. Xe đến thị trấn Gentong Jaya, ở cao độ 950 mét, ông Ngành Sáng “đuổi” chúng tôi và vợ con ông xuống xe để đi cáp treo lên Genting. Mình ông lái xe vòng quanh núi đi lên. Hệ thống xe cáp treo nơi đây là cả một công trình to lớn, nó đi xuyên qua nhiều đỉnh núi ngợp mây mù, tôi có cảm giác mình là Tôn Hành Giả đang cân đẩu vân lên náo loạn thiên cung. Có lẽ phải khoảng 15, 20 phút hệ thống cáp mới đưa chúng tôi “bay” đến Genting.
Từ trong nhà ga trên đỉnh núi nhìn ra tôi thấy mây trắng, mây xám lững lờ trôi bên ngoài khung cửa kính. Trên cao nguyên Genting có rất nhiều khách sạn loại nhiều sao, nhưng nếu muốn được ngủ đêm nơi đó, phải gọi đặt phòng từ tuần trước. Bước ra ngoài phòng kính, khí trời se lạnh rất dễ chịu, chúng tôi đi trong mây, bỗng tôi thấy hai chàng thanh niên Việt Nam. “Tha hương ngộ “đồng hương”, tôi rất mừng, định tiến tới, nhưng tôi vội chùn chân, khi một trong hai người ấy nói: “Đ. mẹ, nó nói chờ, mới đi tiểu ra đã đi đâu mất. Biết tìm đâu đây?” Hóa ra họ là những người đi du lịch bị... lạc đàn. Tôi rất buồn, chẳng hiểu vì sao, dân tộc ta có nhiều từ thanh, đẹp mà giới trẻ bây giờ không chịu dùng, lại dùng những ngôn từ khiếm nhã khó nghe.
Khu giải trí ở Genting rất nhiều trò chơi, đặc biệt có Casino rộng, lớn với hàng nghìn máy kéo, bàn chơi bài,... Nơi nầy thu hút đông khách nhất. Tôi không có máu mê cờ bạc, nhưng đã chơi thì “chơi hết biết”. Trước khi kéo máy, tôi nhớ một lần đến Casino xem Show ca nhạc, ở đó nhạc sĩ Song Ngọc là một trong nhiều vị chủ nhân. Tôi nói đùa:
 “Toa chỉ cho moa làm thế nào để đánh trúng vài chục ngàn đi!” Song Ngọc cười đáp:
- “Dễ ợt, “toa” đừng đánh gì hết.”
Vào sòng bài không đánh tức là thắng rồi. Nhưng mấy ai chế ngự được lòng ham muốn của mình để được cái thắng không chơi ấy?
Đêm ấy, Ngành Sáng lời được $400.00 Gringrit, tôi nướng hơn $800.00 Gringrit mới chịu về phòng ngủ.
Trưa hôm sau chúng tôi trở lại Kuala Lumpur. Trên đường về Ngành Sáng ghé vào nhà hàng bên đường. Thực đơn nhà hàng nầy toàn là đồ biển: Sò huyết, cua, sò, cá... tất cả đều nướng. Vừa đến ven đô Kualar Lumpur, Ngành Sáng lại đưa chúng tôi vào nhà hàng. Tôi đưa mắt nhìn bà Kim Anh, nói: “Kỳ nầy trở lại Mỹ tôi bị lên cân!”
Trong khi ăn, tôi nói với Ngành Sáng: “Nị cho ăn vừa vừa thôi, ăn như vầy làm sao ăn nổi?” Ngành Sáng cười ha hả: “Mai nị về rồi, phải ăn cho biết hết các món ăn Malaysia mới được.”
Tuy được khao mỗi ngày ăn 5, 6 lần, lần nào vợ chồng con cái của Ngành Sáng và chúng tôi cũng “không hề khách sáo” và không lần nào Ngành Sáng để lại dĩa phần ăn còn lại. Một vài lần, chính tôi hoặc người bạn đồng hành phải ra tay chia đều tất cả phần ăn còn lại cho mọi người.
9 giờ sáng thứ Hai ngày 15.08.2005, Ngành Sáng đưa chúng tôi ra phi trường trở về Việt Nam.
Ngồi trên xe, tôi nói với Ngành Sáng, “Cám ơn nị và gia đình nị đã dành cho ngộ nhiều thời gian trong một chuyến du lịch vui vẻ và đầy hứng thú”. Ngành Sáng khoác tay nói: “Sao nị cám ơn?” Đột nhiên, ông ta đổi cách xưng hô thân mật - lối xưng hô của người Hoa: “Tao với mầy không phải là anh em sao?” Bà Giám Đốc Kim Anh nói bâng quơ một mình: “Ở đây thật là sạch sẽ, còn về con người tôi cảm thấy họ rất yên bình.”
Xe chạy phăng phăng trên xa lộ, tôi nhìn ra ngoài quan sát, tất cả những chân đồi nằm xa xa dọc theo xa lộ dưới chân đồi đều được xây những nấc thang, có nơi còn được xây bằng đá, gạch kiên cố và có những con mương nhân tạo bằng xi-măng khởi đầu từ đỉnh xuống chân đồi. Họ chống sạt, lở và bảo vệ thiên nhiên.
Tôi nói, như phiền hà: “Ở đây nhà nào cũng có một hai chiếc xe hơi, nhưng parking ở các khu thương mại quá eo hẹp, đậu xe rất khó khăn.” Ngành Sáng nói: “Có sao đâu, mình nhường nhau đậu là được.” Trời đất, đúng là luận điệu huề vốn!
Nghe Ngành Sáng nói như vậy, tôi nhớ lại, hôm ông ta chở chúng tôi đi gội đầu, đến nơi, không còn chỗ đậu xe, ông đậu ngay bên ngoài chiếc xe khác đang nằm trong parking ngang. Bà Kim Anh nhìn tôi cười cách đậu xe bít lối ra ấy, tôi hỏi Ngành Sáng: “Nị đậu xe như vậy người ta làm sao lấy xe?” Ngành Sáng cười nói: “Hỏng có sao, khi họ ra mình sẽ thấy!”
Vào tiệm tóc, Ngành Sáng bảo người chủ tiệm nhìn giùm, có người ra lấy xe thì nói với ông ta biết. Thì ra, Ngành Sáng chẳng thấy mà chủ tiệm nơi ông ta đến “phải có trách nhiệm” thấy. “Quái quỷ” thật!
Về gội đầu, có lẽ phải nói như thế nầy, ở Malaysia massage kiểu Trung Quốc thì kinh hoàng nhất nhưng hiệu quả nhất; còn gội đầu thì tồi tệ nhất trong những thứ tồi tệ. Ở Việt Nam. những tiệm tóc gội đầu tuyệt nhất.
Vừa cho xe vào Parking trong phi trường Ngành Sáng vừa nói với tôi: “Xe hơi ở đây là cái chân, mỗi nhà ít nhất cũng phải có một hai chiếc xe. Những người giàu có trong gia đình mỗi người một chiếc.” Tôi đùa: “Chẳng hạn như nhà nị phải hôn?” Ngành Sáng cười nói: “Hai đứa con gái của ngộ đi học nội trú, đâu cần có xe. Chừng nào nó ra trường cũng phải mua.”
Ngành Sáng cười rồi nói: “Ở Việt Nam, người ta lái xe hay giành đường lắm, họ không biết nhường nhau. Ở đây chúng tôi lái xe biết nhường nhau. Mình nhường một chút còn hơn để tai nạn xảy ra. Tai nạn xảy ra làm mất thời gian nhiều hơn!” Rồi ông ngần ngừ cười tiếp: “Ngộ thấy ở Việt Nam người ta kỳ lắm, cái gì không vừa ý thì “Lụ Mẹ”  liền, ở đây người ta không thích gây gổ. Chúng tôi thích bình yên.”
Nghe Ngành Sáng nói, tôi giật mình, phải chăng ông ta muốn nói về hai trường hợp xảy ra tại bàn nhậu ở chỗ ăn ngoài trời và ngoài cửa nhà ga xe cáp treo trên Genting không?
Vào trong nhà ga phi cảng, Ngành Sáng ân cần dặn dò chúng tôi đủ thứ, ông còn có ý muốn mua bánh ngọt cho chúng tôi ăn trên máy bay. Tôi từ chối. Sau cùng Ngành Sáng nói: “Chừng nào về tới Việt Nam, nhớ gọi phone cho ngộ “piết!”
Chúng tôi bắt tay giả từ.
Ngồi trên chiếc Vietnam Airlines trở về Việt Nam, tôi suy nghĩ miên man những gì tôi đã thấy, nghe, cảm nhận được từ chuyến du hành trên xứ người. Tôi thầm nghĩ, chẳng biết đến khi nào quê hương yêu dấu của tôi CHUYỂN MÌNH THÀNH RỒNG đây? Tôi không thể trả lời. Đó là chuyện của những nhà lãnh đạo đất nước Việt Nam. Nhưng tôi khẳng định, đi du lịch bất cứ nơi nào mà ở đó có “thổ địa” thì cuộc du hành mới tuyệt vời nhất.
Cám ơn Ngành Sáng và gia đình ông đã cho chúng tôi 7 ngày tuyệt vời trên đất nước Malaysia.
Liên bang Malaysia
Tháp Petronas (còn gọi là Kall hoặc Tháp Đôi)
Các thanh niên Việt Nam sang lao động 
tại Malaysia ra phi trường về nước. 
Ông Ngành sáng (thứ hai từ trái sang) và tác giả (giữa)
Cầu vệ sinh ở phi trường Malaysia
Toàn cảnh khu giải trí Genting
Khách sạn Gentinh (trên đỉnh Genting)
Hồ Genting, trên đỉnh Genting
Thái Quốc Mưu
Theo http://www.vanchuongviet.org/

Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

Cảm nhận văn chương "Sông chưa lấy chồng" của nhà thơ trẻ Mạc Phong Tuyền

Cảm nhận văn chương "Sông chưa lấy chồng" 
của nhà thơ trẻ  Mạc Phong Tuyền 
SÔNG CHƯA LẤY CHỒNG
Dòng sông chưa lấy chồng
Sông thổn thức năm canh
Kéo con đò qua đêm trăng bạc tóc
giăng tơ bên lở bên bồi
Dòng sông…
Dòng sông gầy ngàn năm
Đêm qua hóa thân ngực tròn trăng thiếu nữ
E lệ hạt sớm mưa bay
Thẹn thùng chiều hoàng hôn mắt đỏ
Câu thề đêm nao bậu thơm hương vàm cỏ
Khắc khoải dấu chân lữ khách trở về
Dòng sông…
Dòng sông đêm nay
Ngọn sóng nhung dềnh loang thảm nước
Liếm mặt doi cát …vàng hơn ánh trăng
Ngậm dấu chân người
Uống lụm ký ức
Nuốt câu thề vào lòng sông…

(Mạc Phong Tuyền)
Không biết tự bao giờ hình tượng dòng sông trong thi ca thường gắn liền với cuộc đời người phụ nữ có duyên phận bẽ bàng. Dòng sông trong “Cô lái đò” của nhà thơ Nguyễn Bính “Cô hồi tưởng lại ba xuân trước/ Trên bến cùng ai đã hẹn thề/ Nhưng rồi người khách tình quân ấy/ Đi biệt không về với bến sông”. Dòng sông trong “Chị tôi” của nhạc sĩ Trần Tiến “Ngày chia tay bên sông thấy chị buồn mà thương”…. Dòng sông ấy cứ chảy tràn mãi trong thơ ca và đã chảy vào trang thơ của Mạc Phong Tuyền qua bài “Sông chưa lấy chồng”.
Mạch cảm xúc của bài thơ được chảy theo trình tự kết cấu của tác phẩm. Hiện tại (Khổ thơ 1) - Quá khứ (Khổ thơ 2) - Hiện tại (khổ thơ 3).
Hiện tại: Dòng sông chưa lấy chồng
Sông thổn thức năm canh
Kéo con đò qua đêm trăng bạc tóc
giăng tơ bên lở bên bồi

Dòng sông được nói đến trong bài thơ là hình ảnh ẩn dụ chỉ cho người phụ nữ chưa lấy chồng. Mặc dù “chưa lấy chồng” nhưng người “con gái” này đã luống tuổi “Kéo con đò qua đêm trăng bạc tóc”. Đây là một thi ảnh lạ có sức gợi về tuổi đời của nhân vật trong bài thơ “bạc tóc”, về sự mỏi mòn trông đợi tình duyên “Kéo con đò qua đêm trăng”. Có người con gái nào đến tuổi trăng tròn mà không mơ đến chuyện lứa đôi. Còn nhớ ca từ “Có người con gái buông tóc thề. Thu về e ấp chuyện vu quy” lúc “Trăng gầy nghiêng bóng cài song thưa”(Nỗi buồn gác trọ).Hình ảnh “trăng” trong ca từ thật đẹp, thật lãng mạn và trong veo giấc mơ vu quy của cô gái. Còn “trăng” trong bài thơ này bàng bạc một màu buồn vì nó mang màu “bạc tóc" và nặng nề vì phải “kéo con đò” chở ước mơ vu quy của chị qua bao mùa trăng. Vì thế mà “sông thổn thức năm canh”. Chỉ một từ “thổn thức” thôi mà nhà thơ đã lột tả hết nỗi lòng của người phụ nữ “chưa lấy chồng”. Đọc câu thơ mà tưởng chừng như nghe được tiếng nấc bậc lên từ nơi sâu thẳm cõi lòng chị oán than cho duyên số bẽ bàng. Thật thương!
Trong hiện tại buồn đau, con người thường an ủi mình bằng những hoài niệm đẹp của quá khứ. Trong tâm trạng “thổn thức năm canh, chị đã hồi tưởng lại một thời vàng son của mình:
Dòng sông gầy ngàn năm
Đêm qua hóa thân ngực tròn trăng thiếu nữ
E lệ hạt sớm mưa bay
Thẹn thùng chiều hoàng hôn mắt đỏ

Đẹp quá! Dưới ngòi bút miêu tả giàu hình ảnh của thi sĩ, hình ảnh thiếu nữ hiện lên tràn trề sức sống “ngực tròn trăng” và thật dịu dàng nữ tính “E lệ hạt sớm mưa bay/ Thẹn thùng chiều hoàng hôn mắt đỏ”. Một cô gái đẹp,duyên dáng đầy quyến rũ như thế thì chuyện tình duyên của cô như thế nào?

Câu thề đêm nao bậu thơm hương vàm cỏ
Khắc khoải dấu chân lữ khách trở về

Hai câu thơ trên đã tái hiện cả một câu chuyện tình dài. Cô gái đã gặp người trong mộng. Hai người yêu nhau say đắm và thề ước chuyện trăm năm. “Hương” tình yêu của họ “thơm” lan tỏa cả dòng sông nơi vòm Cỏ. Dòng sông và vàm cỏ cũng chính là chứng nhân tình yêu của họ. Nhưng rồi người tình của cô phải chia tay cô vì một lý do nào đó. “Lữ khách” “khắc khoải” mang “câu thề” cùng lời hẹn ước “trở về” cùng cô xây đắp mối tơ duyên. Một câu chuyện tình dài mà chỉ gói gọn trong hai câu thơ,đó cũng là cái “khéo” của thi sĩ tránh gây ấn tượng “tự sự” dài dòng nhàm chán.
Hết hoài niệm, chị lại trở về thực tại:
Dòng sông đêm nay
Ngọn sóng nhung dềnh loang thảm nước
Liếm mặt doi cát…vàng hơn ánh trăng
Ngậm dấu chân
Uống lụm ký ức
Nuốt câu thề vào lòng sông…

“Đêm nay” cũng như bao đêm khác, chị lại tiếp tục “giăng tơ nối bên lở bên bồi”. “Ngọn sóng” lòng chị về tình yêu đôi lứa cũng “dềnh loang” lai láng. “Ký ức” về tình yêu say đắm của chị như sống lại phút giây này. Sóng lòng chị dào dạt quá! Mãnh liệt quá! Hết “Liếm mặt doi cát” lại “Ngậm dấu chân” rồi “Uống lụm ký ức” và “Nuốt câu thề”. Đặt hàng loạt những động từ mạnh: Liếm, Ngậm, Uống, Nuốt ở đầu mỗi dòng thơ có phải tác giả muốn thể hiện những khát khao yêu đương rất “phồn thực” dâng trào trong lòng người phụ nữ? Cũng phải thôi, có ai khi yêu mà không nghĩ đến phồn thực. Nhất là lúc con người ôm nỗi nhớ niềm thương, “khắc khoải” đợi trông người yêu “trở về” tính chuyện trăm năm thì khao khát đó càng mãnh liệt. Khác với “Chị tôi”, nhạc sĩ Trần Tiến chỉ thể hiện cái buồn và sự cam chịu của người phụ nữ, còn Mạc Phong Tuyền không chỉ cảm nhận nỗi buồn mà còn “thấy” được những khát khao thầm kín nhưng rất thật đó của họ nữa. Và nếu trong “Chị tôi”, ca từ “Chị tôi chưa lấy chồng” láy đi láy lại như điệp khúc buồn buông vào dòng đời thầm lặng, cam chịu của “chị tôi’ thì Mạc Phong Tuyền, mặc dù lấy tiêu đề bài thơ “Sông chưa lấy chồng” nhưng không lặp lại cụm từ ấy. Có phải nhà thơ không muốn nói đến “chưa” trong vô vọng mà chỉ muốn dự cảm về cái “có” trong tương lai? Dấu chấm lửng (…) đặt cuối dòng thơ kết của bài thơ đã gợi cho người đọc liên tưởng đến điều này. “Thổn thức năm canh” ôm nỗi nhớ niềm thương chờ đợi người yêu trở lại là “rất phải”. Nhưng “Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi” (Nguyễn Bính), đến lúc chị cũng phải “nuốt câu thề” để đi lấy chồng chứ. Dấu chấm lửng (…) ở cuối bài thơ đã mở ra một kết thúc có hậu cho bài thơ. Cảm thương cho số phận bất hạnh của người phụ nữ, đồng cảm với những khát khao và tin tưởng ở ngày mai lạc quan của họ quả là rất…rất nhân văn!
Đề tài cũ, tứ thơ không mới nhưng Mạc Phong Tuyền vẫn có cái “mới”, cái “rất riêng” của mình qua “Sông chưa lấy chồng”. Giọng điệu thơ không buồn thương dằng dặc như “Cô lái đò”, ”Chị tôi” mà ở đây luôn có sự đổi thay. Lúc buồn thương (khổ1) khi phấn chấn, say mê (khổ 2) và dồn dập mạnh mẽ (khổ 3). Buồn thương cho số phận bất hạnh của người phụ nữ là điều không mới. Cái mới ở đây là nhà thơ đã hướng cái nhìn lạc quan về họ và bộc lộ những khát khao thầm kín của họ. Chính vì thế nên giọng điệu ở khổ thơ cuối mới chính là âm hưởng chủ đạo của toàn bài thơ. Nó như bứt phá, vượt thoát chứ không lặng thầm cam chịu sự an bài của số phận. Bài thơ cũng có nhiều thi ảnh lạ “Kéo con đò qua đêm trăng bạc tóc”, “ngực tròn trăng thiếu nữ”, “ngọn sóng nhung”… Tất cả những yếu tố nghệ thuật đó đã góp phần tạo nên sự thành công bài thơ.
Viết về đề tài không mới nhưng bài thơ “Sông chưa lấy chồng” vẫn có sức thu hút đông đảo bạn đọc bởi có sự tìm tòi đổi mới trong cách thể hiện của nhà thơ trẻ Mạc Phong Tuyền. Và trên hết vẫn là ở tấm lòng của nhà thơ đối với những mảnh đời phụ nữ bất hạnh. Phải có sự đồng cảm sâu sắc và có trái tim yêu thương chân thành, nhà thơ mới nhập thân vào nhân vật để nói hộ tiếng lòng của họ như thế này.
26/2/2016
 Tuệ Mỹ
Theo http://www.tho.com.vn/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...