Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021
Những nhân vật đầu tiên trong tiến trình chữ Quốc ngữ
Những nhân vật đầu tiên
Lâu nay, những người yêu tiếng Việt bình thường và một số tài liệu khi nói đến chữ Quốc ngữ thường cho rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes (thường gọi là Đắc Lộ), tác giả cuốn Từ điển Việt - Bồ - La in tại La Mã năm 1651, là ông tổ của chữ quốc ngữ.
Được đánh giá là người có kiến văn sâu rộng cả ba ngôn ngữ Việt, Pháp, Hán; ông làm thầy giáo dạy chữ quốc ngữ và chữ nho trong 8 năm.
Bâng khuâng mùa thu
Bâng khuâng mùa thu
Trong những mường tượng mang chút hơi hướng duy tâm ở mình,
tôi luôn có ý nghĩ rằng, có lẽ kiếp trước mình là một mùa thu dịu nhẹ, mỗi năm
chỉ khẽ khàng đậu xuống nhân gian khoảng thời gian vừa đúng ba tháng giống như
các mùa khác, rồi lại lặng lẽ bỏ đi. Để lại nỗi mong ngóng khắc khoải trong
lòng người.
Biết bao lần tôi cặm cụi viết viết xóa xóa, đọc đi đọc lại rồi
tự cảm thấy thất vọng. Tôi không có đủ ngôn từ để có thể diễn đạt được cảm xúc
của mình về mùa thu. Bao năm tôi ngồi trong lớp học, bao nhiêu thầy cô giáo dạy
văn đã dìu dặt bên tai tôi những lời giảng chứa chan cảm xúc về cái mùa mà chỉ
nhắc đến tên đã khiến biết bao người xao xuyến.
Từ dạo ấy, tôi đã gửi ánh mắt thiết tha của mình theo những đời
lá chuyển màu phía bên ngoài cửa lớp. Nhưng tôi đã chẳng bao giờ đủ năng lực diễn
tả được những cảm nhận của mình về cái khoảnh khắc xốn xang này. Có lẽ, khi quá
yêu một điều gì đó, người ta thường không thể diễn đạt một cách rành mạch về nó
chăng? Nên tôi mãi như kẻ vu vơ với tình yêu cất giữ mãi ở trong lòng.
Pleiku của chúng tôi chẳng phân định bốn mùa xuân - hạ - thu
- đông. Tứ thời neo lại trên xứ sở bazan này chỉ có thể cảm nhận trong từng khoảnh
khắc. Pleiku thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, nửa năm nắng và nửa
năm còn lại thì mưa. Nhưng thời gian gắn bó đã đủ lâu để tôi có thể cảm nhận được
những khoảnh khắc mùa về, dẫu chỉ thoáng qua, mà nếu vô tâm hờ hững sẽ không thể
nhận biết.
Thời khắc chuyển thu ở đây rất lạ, không có gió heo may, cũng
không có những thảm cỏ may tím lên trong những buổi chiều thu mơn man xứ Bắc.
Đó là lúc mưa không còn dầm dề ngày ngày tháng tháng. Mưa chỉ vừa đủ nhẹ để
mang về những sớm mai mù sương, sương trắng như tấm voan lụa mỏng khẽ khàng la
đà trên cảnh vật. Cây lá cũng dần đổi sắc. Những chiếc lá chưa thật sự chuyển
vàng, chúng chỉ già hơn cái màu diệp lục cố hữu một chút. Nhìn từ xa, ngỡ như
màu lá non, nhưng đến gần mới nhận ra, chúng đang xanh nốt những ngày cuối cùng
của đời lá, để rồi rụng xuống làm thành một mùa thu xao xác với bao người.
Chúng tôi vẫn giữ cho mình chỗ ngồi quen thuộc khi bắt đầu một
ngày mới. Những ngày rảnh rỗi, chúng tôi thả bộ dưới những vòm cây đang vào thời
điểm thay lá, trong khí trời se sẽ lạnh, cái lạnh không phải từ gió, bởi gió
chưa phải lúc vào mùa; cái lạnh cũng không phải từ mưa, bởi mưa cũng không còn
dầm dề se sắt nữa. Ai cũng gượng nhẹ bước chân, những câu chuyện cũng rất đỗi
khẽ khàng, như sợ làm tan biến đi cảnh vật quá đỗi mong manh đang hiển hiện trước
mắt. Thỉnh thoảng một chiếc lá vàng buông mình, chao liệng, rồi đậu xuống, nhẹ
như một niềm bâng khuâng.
Bốn mùa trôi qua theo vòng tuần hoàn của đất trời, đời người
cũng vậy. Xuân qua, hạ hết, thu sang… Thời gian để lại tuổi tác, sự trải nghiệm
chín dần theo năm tháng. “Sang thu”, con người, như chiếc lá xanh nốt mình, như
mặt hồ phẳng lặng biêng biếc màu ngọc lục bảo sau những ngày gom góp nắng mưa.
Trước thiên nhiên, cảnh sắc đất trời, lòng người cũng như dịu đi, dễ đồng cảm,
thứ tha và dường như thấy yêu thương tất thảy.
15/11/2020Đào An Duyên
Nhà văn Vũ Tú Nam: Còn mãi Mùa xuân tiếng chim
Nhà văn Vũ Tú Nam:
Còn mãi Mùa xuân tiếng chim!
Nhà văn Vũ Tú Nam, nguyên Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam
khóa IV đã rời xa chúng ta vào ngày 9-9 vừa qua ở tuổi 92. Nhớ về ông là nhớ về
một gương mặt lớn của văn học nước nhà với những tình cảm gần gũi và thương mến,
và mãi còn đó như tên gọi một tác phẩm của ông - Mùa xuân tiếng chim...
1. Với nhà văn Vũ Tú Nam, tôi là kẻ hậu sinh. Nhưng tôi
sớm biết tên tuổi ông qua văn chương. Cũng là do cơ duyên khi cuối năm 1974,
sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi chính thức
được giữ lại làm trợ giảng. Tôi được thụ giáo một người thầy đáng kính, tài hoa
nghệ sĩ - thầy Hoàng Như Mai. Giáo trình đại học tôi tiếp thu để lên lớp sau
hai năm là Văn học Việt Nam 1945 - 1960. Thầy Hoàng Như Mai và thầy Trần Hữu
Tá viết giáo trình về giai đoạn văn học này, đã in thành sách.
Nhưng lên lớp mà chỉ đọc giáo trình của người đi trước là chưa
đủ, phải có thực tiễn văn học. Theo lời khuyên của thầy hướng dẫn, tôi vào Thư
viện Quốc gia đọc tài liệu. Quan trọng nhất là Tạp chí Văn nghệ (1948 - 1954).
Dạo đó tài liệu còn ít, phương tiện photocopy chưa có, nên muốn
tích lũy được “bột” thì chỉ còn cách ghi chép. Tôi “gặp” nhà văn Vũ Tú Nam trên
Tạp chí Văn nghệ thời kháng chiến chín năm là như thế. Rồi đọc rộng ra và ghi
chép cẩn thận nội dung chính tập truyện Bên đường 12 của ông (tác phẩm
được giải Nhất về văn xuôi của Trại Văn nghệ Lam Sơn, Liên khu Bốn, 1950). Tuy
chất ký sự còn trội nhưng những truyện Bên đường 12, Sau trận núi Đanh, Nhân
dân tiến lên có cái tươi nguyên của chất liệu sống, theo cách diễn đạt của
nhà văn Nguyễn Đình Thi là “ròng ròng sự sống” (dễ nhìn thấy cả trong các tác
phẩm của những “nhà văn binh nhì” như Từ Bích Hoàng, Hồ Phương, Siêu Hải, Sao
Mai...).
Sáng tác của nhà văn Vũ Tú Nam thời ban đầu được gọi một cách
trìu mến là thuộc dòng “văn học bộ đội” (về sau gọi là “văn nghệ quân đội”). Tôi
quan sát thấy một thực tế: Các nhà văn mặc áo lính thường “hòa mạng” vào văn học
dân tộc nhanh nhạy, trong những thời kỳ chuyển biến lịch sử quan trọng họ thường
là những người tiên phong đổi mới văn học. Trong số hơn 10 tác phẩm văn xuôi của
nhà văn Vũ Tú Nam, thấy chỉ có mấy tác phẩm đầu tiên gắn chặt với môi trường quân
đội và khung cảnh chiến tranh, còn lại vươn ra xa, thẩm sâu vào đời sống rộng lớn
của nhân quần: Kể chuyện quê nhà (1954), Thử thách thầm lặng (1971), Sống
với thời gian hai chiều (1983), Mùa xuân tiếng chim (1985), Vũ
Tú Nam 20 truyện ngắn (1994).Vợ chồng nhà văn Vũ Tú Nam và cuốn Hồi ức tình yêu qua những
lá thư riêng2. Vũ Tú Nam là ngòi bút có tình (có người gọi là “duy tình”).
Quy luật sáng tạo nghệ thuật là quy luật tình cảm, lý lẽ của con chữ là lý lẽ của
trái tim. Tôi không chỉ căn cứ vào 5 tập thơ của Vũ Tú Nam (theo tư liệu của nhà
thơ Phạm Đình Ân trong bài Vũ Tú Nam - Nhà thơ, in trên Báo Văn nghệ số 35-36, ra ngày 29-8-2020) hay Hồi ức tình yêu (gồm 500 bức thư tình cùng
người bạn đời Thanh Hương) có sức mê dụ người đọc hôm nay vốn thông minh nhưng
khó tính và quá tỉnh táo.
Dẫu sao thì thơ và những bức thư này cũng chứa đựng nhiều điều
riêng tư thầm kín, đôi khi là những bí mật cuộc đời được bạch hóa khi có điều
kiện. Tôi muốn nói đến chất “duy tình” trong văn Vũ Tú Nam. Mùa xuân tiếng chim
là một trong những truyện hay nhất của Vũ Tú Nam (được tuyển chọn vào bộ sưu tập
100 truyện ngắn hay Việt Nam, 3 tập, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1997).
Truyện được viết theo dòng hồi ức, kể từ ngôi thứ nhất. Một câu
chuyện buồn: Mẹ “tôi” có người bạn thân tên Mai, vì cảnh ngộ ngặt nghèo mà đã
quyên sinh, để lại một cô con gái mới lên mười tuổi, tên Thu, em kém “tôi” bốn
tuổi. Mẹ “tôi” nhận nuôi. Thu ốm yếu, cần được chăm sóc. Nhà có con gà mái đẻ được
13 trứng, “tôi” đem ra chợ bán 10, còn 3 quả để lại luộc cho em Thu bồi dưỡng sức
khỏe. Nhưng hai anh em cứ nhường nhịn nhau...
Truyện Mùa xuân tiếng chim của nhà văn Vũ Tú Nam rất
nhiều dư vị nên gợi nhiều liên tưởng. Khi “tôi” 18 tuổi, xa nhà đi làm gia sư.
Một bận bị ốm, Thu đã tìm gặp chăm sóc. Sau đại thắng Điện Biên Phủ, “tôi” nhập
ngũ, khoác bộ quân phục mới thơm mùi hồ. Sau hai năm “tôi” về thăm nhà. Lúc này
Thu đã là một thiếu nữ thực thụ: “Sau bữa cơm, Thu dẫn tôi đi thăm các bạn bè và
gia đình trong xóm. Hai đứa đi trong bóng tối dìu dịu mùi hoa xoan, hoa bưởi.
Chốc chốc Thu đứng lại, hỏi tôi có nghe tiếng chim gọi vịt kêu không. Tôi bảo có.
Thu nói, giọng rầu rầu: “Như tiếng ai gọi ấy, anh nhỉ...”. Thế là từ đấy, tiếng
chim gọi vịt vời vợi khi xa, khi gần mùa xuân nào cũng gợi cho tôi nhớ đến Thu,
một nỗi nhớ giằng xé gần như là một nỗi đau không bao giờ dứt”. Sau đó Thu lấy
chồng (theo ý mẹ “tôi”, vả lại chồng Thu cũng là người con trai tốt).
Câu chuyện được nhân vật “tôi” kể lại cho một người bạn nhằm:
“Để sống lại những kỷ niệm xa xưa”. Tôi nghĩ, một câu chuyện tình yêu trong chiến
tranh, có nhiều phần éo le, nhiều chịu đựng được nhà văn kể lại với một thái độ
bình tĩnh, san sẻ, đồng cảm. Trên hết là sự chắt chiu tình thương. Ai đó nói: “Cái
đẹp có thể cứu rỗi thế giới”. Tôi thì nghĩ: “Tình thương có thể cứu rỗi thế giới”.
3. Đọc văn của Vũ Tú Nam, tôi nghĩ đến một vấn đề căn cơ
của “nghề” văn (đúng hơn là “nghiệp văn”), đó là văn hóa của nhà văn và sự phát
triển văn học. Khi nói về văn hóa nhà văn, tôi nghĩ, cần trước hết nói về thái độ
ứng xử của người nghệ sĩ ngôn từ đối với tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt. Thế hệ nhà văn
Vũ Tú Nam tất nhiên đều giỏi tiếng Pháp. Nhưng đọc văn ông tôi thấy đượm đà một
lối văn thuần Việt. Quý vị hãy cùng tôi đọc lại một đoạn văn trong Mùa xuân tiếng
chim: “Thu đã đón tôi một cách thật là bồng bột. Em đang vo gạo. Thấy tôi bước
vào cổng, em quăng cả rá gạo, reo lên, chạy ù ra nắm chặt lấy hai tay tôi mà lắc
(...). Bữa cơm tối đó, Thu hầu như không ăn mà chỉ ngồi nói chuyện líu lo và gắp
cho tôi. Dưới ánh đèn, trông Thu càng đẹp. Người em dỏng cao, chắc lẳn; hai con
mắt to, đen nhánh. Thu nhìn tôi, lộ rõ niềm vui rạng rỡ và sự cảm mến không che
giấu”.
Tôi chưa đọc được nhiều thơ Vũ Tú Nam, theo nhà thơ Phạm Đình
Ân thì ông đã in 5 tập thơ. Trong đó “có những tứ tuyệt tài hoa, chẳng kém là
bao so với thơ của một bậc thầy nào đó”, kiểu như bài Thu đêm: “Trong đêm mơ
anh đắp áo cùng em/ Gió bổi hổi - em nhìn anh náo nức.../ Gió xô cửa/ Một mình
anh chợt thức/ Xa thật xa đơn chiếc mảnh trăng vàng”.
Văn hóa nhà văn còn thể hiện ở cách nhìn con người, cách đặt
niềm tin vào nó dù trong bất kỳ cảnh ngộ nào, kể cả lúc bĩ cực nhất vẫn nhìn thấy
thái lai. Dân gian có câu “Người ta là hoa của đất”. Nói thế là chạm đến “linh
hồn” của con người như một tinh túy của trời đất, tạo hóa. Trong bài thơ Hai
trong một, Vũ Tú Nam viết thật phóng khoáng: “Nằm cùng giường mà vẫn mơ thấy vợ/
Nhớ em đâu cứ lúc xa em/ Từng miếng ăn, bước đi, giấc ngủ/ Ta là hoa trong một
linh hồn”.
Sự hình dung của tôi về nhà văn Vũ Tú Nam là thế, những gì được
viết ra đều nương theo quy tắc “Văn là người”.
Nhà văn Vũ Tú Nam sinh năm 1929 trong một gia đình nhà
nho tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông từng trải qua các vị trí công tác như
Giám đốc Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV, đại
biểu Quốc hội khóa IX, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II,
III, IV. Các tác phẩm chính đã xuất bản gồm 10 tác phẩm văn xuôi, thơ, thơ dịch
và nhiều sáng tác khác. Các giải thưởng văn học: Giải Nhất văn xuôi năm 1950
cho tập truyện Bên đường 12, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I năm
2001.
18/9/2020Bùi Việt Thắng
Thanh xuân tươi đẹp
Thanh xuân tươi đẹp
Nhìn trang mạng xã hội của cô bạn bên xứ sở Bạch
Dương đưa clip về những bông tuyết đầu mùa, lòng tôi chợt dâng lên những cảm
xúc khó tả. Vậy là bốn năm rồi tôi không được nhìn thấy những điều tưởng như đã
theo mình suốt cả quãng thời gian thanh xuân tươi đẹp.
Tôi ấp ủ nhiều lắm, nghĩ ngợi nhiều lắm để nói ra được hết
tình cảm của mình với mảnh đất xa xôi kia bằng câu bằng chữ mà chao ôi, những kỷ
niệm cứ kéo về làm tôi choáng ngợp. Thế là tôi nghĩ mãi, nghĩ mãi mà không biết
nên viết cái gì. Cuối cùng, tôi quyết định sẽ đi theo cảm xúc, cảm xúc mách bảo
điều gì tôi sẽ viết điều ấy.
Bốn năm là khoảng thời gian không quá lâu, đủ để tôi vẫn còn
nhớ được những ngóc ngách của thành phố, chuyến xe bus nào dẫn đến trung tâm
hay góc ngồi công viên nào yên tĩnh, thư thả… Tôi sống ở Tula, quê hương của đại
thi hào Lev Tolstoy. Tula mà tôi yêu rất đỗi giản dị; không quá nhộn nhịp, sầm
uất như Moskva; không có nét cổ kính châu Âu như Saint Peterburg; càng không
giao hòa nhiều màu sắc văn hóa như Kazan... Tula cứ thế nhẹ nhàng, sâu lắng và
yên bình. Dù rất thích khám phá nhiều nơi, nhưng Tula luôn là nơi tôi muốn
nhanh chóng trở về sau những buồn vui, mệt mỏi. Không xa trường tôi học cho lắm
là điền trang Yasnaya Poliana của Lev Tolstoy. Chúng tôi đã đến nơi đây không
biết bao nhiêu lần, bốn mùa đủ cả; điều thích thú nhất là dạo quanh nhà Lev một
hồi, rồi chạy đến cánh đồng rộng lớn xa xa sau vườn táo để hòa vào khung cảnh
bao la ấy. Thời gian tuyệt vời để ghé thăm nơi đây là mùa hè và mùa thu. Mùa hè
vườn ngập hoa táo trắng, cánh đồng ngập cúc họa mi, cải vàng. Còn mùa thu lại
mơ màng, mang đầy tiếc nuối vì ngay sau đó sẽ là một mùa đông dài giá lạnh. Nếu
như Lev Tolstoy có thể viết nên “Chiến tranh và hòa bình” tại nơi đây, thì tôi
cũng có thể hoàn thiện bức tranh đồng quê được nhuộm một màu vàng óng ả của trời
thu cùng ánh nắng chan hòa trong tâm trí.
|
Cộng đồng sinh viên Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Tula chụp
ảnh cùng những người bạn Nga (năm 2016). Ảnh nhân vật cung cấp. |
Cuộc sống du học giúp tôi từ một đứa ở nhà được mẹ chiều chuộng, nấu ăn vụng về cũng thành người biết xoay xở, tự lo cho cuộc sống cá nhân khá ổn. Bằng chứng là ngần ấy thời gian du học tôi cũng ít ốm đau, luôn vui vẻ và hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Tôi chỉ luôn mong sao mùa hè hoặc mùa thu dài hơn một chút, thế chỗ cho cái lạnh giá của mùa đông và cái ẩm ướt khi xuân đến tuyết tan. Bạn bè ở nhà khi nói chuyện thường trầm trồ về những cảnh băng tuyết đẹp như cổ tích, ao ước nhìn thấy tuyết dù chỉ một lần. Tôi cũng từng thế, háo hức nhìn những bông tuyết đầu tiên nhưng giờ mỗi khi nghĩ lại tôi vẫn thấy sợ đôi chút. Tuyết thì đẹp thật đấy, nhưng khi tuyết đóng thành băng - thủ phạm của những vụ gây trơn trượt thì chắc ta không còn thích tuyết như vậy nữa. Nhiều lần tôi ê ẩm cả mình mẩy vì những cú trượt chân giữa phố; cộng thêm việc tôi tự thấy mình cũng không có duyên với các môn thể thao liên quan đến tuyết sau những lần thử chơi đầy khốn khổ. Môn tôi thích nhất chắc là trượt phao mùa đông, môn thể thao thật trẻ con nhưng với tôi nó thật an toàn. Lại nhớ có những ngày bão tuyết nhưng vẫn phải đi chợ mua đồ ăn, tôi lao đi, tuyết táp vào mặt lạnh rát, mù mịt không thấy đường, chỉ mong nhanh về với căn phòng nhỏ ấm áp yêu thương. Điều khiến tôi có cảm tình nhất với mùa đông là thời gian nghỉ lễ Năm mới. Tầm tháng12 tôi hay lên Moskva để thăm bạn bè hoặc các em, tranh thủ thưởng thức và ngắm nhìn không khí năm mới đang ngập tràn. Bỗng chốc thủ đô khoác lên mình những bộ cánh thật rực rỡ, lung linh và đầy ắp sắc màu. Quảng trường Đỏ, Gum là nơi rực rỡ nhất. Nói đến đây mà tôi đã tưởng tượng ra mình đứng ngay giữa Quảng trường Đỏ, hòa vào dòng người, cảm nhận mọi thứ xung quanh bằng tất cả các giác quan. Mỗi lần đến đây là một lần tôi có cảm giác hoàn toàn khác, vừa mới mẻ lại vừa thân thuộc biết bao.
|
Tác giả bài viết chụp tại khuôn viên Trường Đại học Sư phạm
Quốc gia Tula (năm 2014). Ảnh nhân vật cung cấp. |
Đất nước Nga, con người Nga thật khiến người ta nhớ mãi. Tôi nói với bạn bè mình rằng Nga là quê hương thứ hai của tôi và ước mơ được quay lại miền đất ấy khiến tôi luôn thổn thức. Bao lần tôi mơ mình đang được thả tung làn tóc qua khung cửa sổ xe bus, đi qua những lối nhỏ vào khu chợ nhỏ bên đường, len lỏi vào khu chợ Việt để tìm mua hương vị thân quen… Trong những năm tháng xa gia đình, chính những con người Nga hiền hòa đã sưởi ấm trái tim tôi. Tôi nhớ như in hình ảnh cô giáo Marina dạy dự bị tiếng Nga năm nào, cô như người mẹ, người cô che chở cho chúng tôi, dạy chúng tôi biết bao điều; không quên tự tay làm bánh hay những món ăn tặng chúng tôi mỗi dịp. Cô có thể thuộc được hết những cái tên Việt Nam dài ngoằng, hao hao tựa tựa nhau của lũ trò nhỏ. Tôi còn nhớ lần gặp bà bán bánh ngọt ở chợ gần trường tôi. Đó là ngày mùa đông lạnh giá, tuyết và gió lạnh làm cay xè đôi mắt. Ngày mai là ngày tôi lên máy bay về Việt Nam ăn Tết, mặc gió tuyết tôi ra chợ mua bánh về làm quà. Dừng chân ở quầy bánh, tôi mua ít đồ và gặp bà bán hàng rất hiền lành. Bà ân cần hỏi tôi, thông cảm cho những sinh viên xa nhà như tôi. Bà tặng tôi một phong sôcôla để đem về làm quà cho gia đình. Có lẽ đó là phong sôcôla ý nghĩa nhất tôi từng được tặng. Trong suốt quãng thời gian ở nơi đây, không thể đếm được biết bao lần tôi đã gặp những con người Nga tốt bụng như vậy: Là người phụ trách thư viện tận tâm; hay chỉ là bà lao công nghèo; người phụ nữ trung tuổi gặp trên đường bảo vệ chúng tôi khỏi sự trêu trọc của một gã say rượu... Sau này, khi có dịp được dạy các em sinh viên người nước ngoài, tôi như nhìn được hình ảnh mình trong các em. Tôi tâm niệm mình cũng sẽ giúp đỡ các em như những con người Nga đã giúp đỡ tôi năm nào. Các em sinh viên chính là nguồn động lực, cổ vũ tôi vững tay lái đò dù còn nhiều khó khăn phía trước.
Quãng thời gian thanh xuân tươi đẹp quá nên tôi thường hay tiếc nuối, vì chẳng bao giờ ta có thể quay lại được một lần nữa. Hành trình sống và học tập tại nước Nga - quê hương thứ hai của tôi là những kỷ niệm đẹp không thể nào quên. Chắc chắn tôi sẽ quay lại nơi ấy để thăm lại thanh xuân tươi đẹp của mình. Thanh xuân ấy, vì có nước Nga bên tôi mà trở nên tươi đẹp.
30/11/2020
Lưu Thu Trang
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chuyện kể bên hồ XXXXXX
Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...
-
Đến với thơ của Bùi Hoàng Linh Tác giả Bùi Hoàng Linh đến với nghiệp văn chương khi còn đang học phổ thông tại Trường Quốc Học Huế. Thơ Bù...































































