Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

Những nhân vật đầu tiên trong tiến trình chữ Quốc ngữ

Những nhân vật đầu tiên 
trong tiến trình chữ Quốc ngữ

Lâu nay, những người yêu tiếng Việt bình thường và một số tài liệu khi nói đến chữ Quốc ngữ thường cho rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes (thường gọi là Đắc Lộ), tác giả cuốn Từ điển Việt - Bồ - La in tại La Mã năm 1651, là ông tổ của chữ quốc ngữ.
Thế nhưng, sự thật chưa hẳn là vậy…
Ngay từ khi bập bẹ, chúng ta đã nói tiếng Việt, và hoàn toàn không có gì khó khăn. Nhưng "tiếng Việt khó quá!" là ý kiến của rất nhiều người phương Tây khi tiếp cận tiếng Việt.
Tiếng Việt cấu trúc đơn giản; đơn âm không có "thì", không có chia động từ, không có tiếp đầu ngữ, vĩ ngữ thì có gì là khó?
Xin thưa, đối với người phương Tây, tiếng Việt khó ở chỗ phát âm (nghe và nói).
Giáo sĩ Marini, người đã từng đến Đàng Trong những thập niên đầu thế kỷ 17, viết: "Khi đọc, người Việt không cần phải thay đổi tiếng mà vẫn làm cho một tiếng ấy có nhiều nghĩa khác nhau, bởi vì họ chỉ cần lên giọng hoặc hạ giọng tùy theo cường độ và nhịp điệu" (Lịch sử chữ quốc ngữ, Đỗ Quang Chính, NXB Tôn Giáo 2012, trang 15).
Đây là một nhận xét cực kỳ "mới" mà người Việt chúng ta không bao giờ để ý. Chỉ cần thay đổi chút xíu khẩu âm và không thay đổi khẩu hình thì các chữ "ca, cà, cá, cả" mang nghĩa khác nhau một trời một vực.
Nửa cuối thế kỷ 16, các giáo sĩ thừa sai Dòng Tên (Jésu) đã bắt đầu đến châu Á truyền đạo. Một trong những nơi họ đến ban đầu chính là Trung Quốc, nơi mà trước đó vài thế kỷ, Maco Polo, nhà buôn người Ý, đã đến và mang về nhiều đồ vật lạ lùng của phương Đông.
Dòng Tên là một dòng tu trí thức của đạo Thiên Chúa. Tất cả những giáo sĩ của dòng này đều có trình độ tiến sĩ, nếu ai không đạt được bằng cấp ấy thì buộc phải rời dòng.
Những giáo sĩ này xuất thân từ những nước sử dụng chữ viết Latin nên khi đến những nước sử dụng chữ tượng hình đã gặp khó khăn trong việc truyền đạo. Do là những trí thức có trình độ cao, họ nhanh chóng học nói tiếng của người bản địa.
Song việc truyền đạo không chỉ nói là đủ, mà cần phải có kinh sách để các con chiên có thể học, đọc theo và truyền lại. Bởi không có giáo sĩ, thầy giảng nào có thể thay thế kinh sách. Mà chữ tượng hình thì rất khó học, và mất rất nhiều thời gian để học mới có thể đọc sách được, chứ chưa nói đến việc dịch lại kinh sách nước ngoài.
Mặt khác, việc truyền đạo Thiên Chúa vào các nước này (trong đó có nước ta) vào thời điểm ấy không phải lúc nào cũng suôn sẻ, dễ dàng, liên tục, do tùy thuộc vào sự vui buồn của quan quân địa phương, tùy thuộc vào tình hình chính sự yên ả hay loạn lạc của quốc gia mà các giáo sĩ Dòng Tên đặt chân đến.
Nhiều giáo sĩ sau một thời gian ngắn truyền đạo đã bị bắt, bị giết, bị đuổi đi...
Để có thể truyền lại kinh sách một cách tốt hơn, các giáo sĩ đã nghĩ ra phương pháp "Latin hóa chữ tượng hình". Và họ đã làm việc này ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhựt Bổn.
Đầu thế kỷ 17, một số giáo sĩ thuộc Dòng Tên đã đến Hội An. Họ dùng tiếng Hán và Nhựt để giao tiếp với dân địa phương qua phiên dịch của các thương nhân.
Đến năm 1617, giáo sĩ Francesco de Pina người Bồ Đào Nha đến Hội An và Nước Mặn (thuộc Bình Định), rồi trở về cư ngụ tại Thanh Chiêm (Điện Bàn, Quảng Nam) đã học rất nhanh tiếng Việt và trở thành người phương Tây giỏi tiếng Việt nhất thời bấy giờ.
Và để có thể truyền lại kinh sách giáo lý của đạo Thiên Chúa, Pina cùng một số giáo sĩ khác đã có kinh nghiệm Latin hóa tiếng Nhựt, Hán bắt tay vào Latin hóa tiếng Việt.
Thuở ấy, người Việt vẫn nói tiếng Việt như bây giờ. Song do phải trải qua 1.000 năm bị Trung Quốc đô hộ, giới trí thức nước ta bị ảnh hưởng của Trung Hoa rất mạnh. Không rõ trước đó, người Việt có chữ riêng của mình hay không. Song các triều đại của người Việt sau này đều dùng chữ Hán trong các văn bản chính thức.
Khoảng thế kỷ thứ 10, người Việt đã "sáng chế" ra thứ chữ Việt bằng cách mượn chữ Hán mà viết, gọi là chữ Nôm (nghĩa là Nam, sau gọi là quốc âm). Song nếu chữ Hán khó một thì chữ Nôm khó mười. Bởi phải biết và giỏi chữ Hán mới có thể viết được, học được chữ Nôm.
Đối với người Việt học chữ Nôm đã khó, với người ngoại quốc xa lạ với chữ tượng hình thì chữ Nôm càng khó. Vẫn có thể học được, viết được nhưng không thể phổ biến rộng được. Chính vì vậy các giáo sĩ đã nghĩ đến việc Latin hóa tiếng Việt bằng mẫu tự Latin, mà ngày xưa gọi là "chữ Annam viết bằng mẫu tự Latin".
Có một số người được công nhận là "tác giả" chữ quốc ngữ là các giáo sĩ Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa (đều là người Bồ Đào Nha), Cristoforo Borri (người Ý), Alexandre de Rhodes (người Pháp)...
Giáo sĩ Borri chỉ ở nước ta ba năm từ 1615 đến 1618. Còn ba giáo sĩ còn lại đều đến Đàng Trong năm 1624 và đều là học trò tiếng Việt của giáo sĩ Francesco de Pina.
Tuy nhiên, trong số này, chỉ có giáo sĩ Đắc Lộ cho in cuốn sách tiếng Việt đầu tiên là cuốn Từ điển Việt - Bồ - La nên được dân Việt cho là "ông tổ" của chữ quốc ngữ từ hơn trăm năm qua.
400 năm sau, người Việt, những người thụ hưởng và tự hào thứ chữ này, lại biết rất lơ mơ về lịch sử của nó. Họ không biết chắc ai là người sáng tạo ra chữ Việt, Francesco de Pina hay Alexandre de Rhodes?
Ở đâu, Thanh Chiêm hay Nước Mặn? Lưu giữ thế nào? Phổ biến ra sao? Phát triển thế nào? Lúc nào được sử dụng phổ thông?
Trong hai thế kỷ từ 15 đến 17, các thương buôn Bồ Đào Nha có mặt hầu như khắp thế giới. Theo chân họ là những nhà truyền giáo, phần lớn là người Bồ và người Ý, tháp tùng truyền đạo ở những vùng đất mới.
Theo thống kê của linh mục Đỗ Quang Chính thì trong số 145 giáo sĩ thuộc 17 quốc tịch đến Đàng Trong truyền giáo từ năm 1615-1788, có đến 74 người Bồ Đào Nha, 30 người Ý.
Dòng Tên (Jesu) của đạo Thiên Chúa là dòng tu đi truyền đạo thời kỳ ấy. Theo luật của dòng, mỗi khi đến vùng đất mới phải học tiếng địa phương, và với tài năng riêng từng người, họ đã Latin hóa tiếng nói và chữ viết địa phương để những người theo đạo có thể đọc được những kinh sách của đạo.
Thứ chữ Latin này được truyền lại cho các giáo sĩ đến sau. Đây là phương thức mà họ đã thực hiện ở nhiều nơi như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Brasil... trong các thế kỷ 15, 16 trước khi đến Việt Nam. Riêng ở Viễn Đông, dòng tu này thiết lập một trụ sở lớn và lâu dài ở Macau để làm nơi đi và đến cho các giáo sĩ.
Đầu thế kỷ 17, năm 1615, các giáo sĩ Dòng Tên đã đến Đàng Trong và lần lần họ học tiếng Việt. Sau đó, các giáo sĩ này đã bắt tay vào việc Latin hóa chữ Việt.
Tài liệu viết tay của giáo sĩ João Roiz (người Bồ) viết năm 1621 đã có các chữ quốc ngữ ban đầu như An Nam (Việt Nam tức Đàng Trong. Thời điểm này nước ta chưa có vùng đất Nam Bộ), Sinoa (xứ Hóa tức Thuận Hóa), unsai (ông sãi), Cacham (Kẻ Chàm, sau này là Thanh Chiêm), ungue (ông nghè)...
Còn những chữ Việt trong bản tường trình của Gapar Louis (người Bồ) viết năm 1621 cũng đã có chữ ungué (ông nghè), bancô (bàn cổ). Còn Cristoforo Borri (người Ý), tác giả cuốn Xứ Đàng Trong, đến Đàng Trong cùng với Francesco de Pina thành lập trú sở Nước Mặn (Bình Định) năm 1618, trong tác phẩm viết năm 1621 đã có những chữ: Tunchim (Đông Kinh, tức Hà Nội), Lai (Lào), Ainam (Hải Nam), kemoi (kẻ mọi, xứ mọi, Tây Nguyên), Quanguya (Quảng Nghĩa), Quignin (Qui Nhơn), dàdèn lùt (đã đến lúc), nayre (nài), doij (đói), chià (trà), sayc kim (sách kinh), cò (có). Cũng năm 1621, giáo sĩ Bozumi viết các chữ: onsaij (ông sãi), Quanghia (Quảng Nghĩa), Nuoecman (Nước Mặn), da an nua (dạ ăn nữa)...
Như vậy, tới năm 1621, việc Latin hóa tiếng Việt vẫn chưa có dấu thanh. Tài liệu viết tay của giáo sĩ Antonio de Fontes, một học trò của Francesco de Pina, viết năm 1626 đã thấy xuất hiện dấu thanh. Dĩgcham (Dinh Chàm), Núocman (Nước Mặn), Sinúa (xứ Hóa), ondedóc (ông đề đốc), nhít la khấu, khấu la nhít (nhứt là không, không là nhứt).
Và di cảo của Pina vừa tìm thấy ở Thư viện Hoàng gia Bồ Đào Nha giữa năm 2018 thì chữ quốc ngữ đã có dấu như ngày nay. Tài liệu này trưng bày trong Hội thảo về chữ quốc ngữ diễn ra tại Lisbon vào tháng 7-2018.
Như vậy, có thể khẳng định rằng chữ quốc ngữ ra đời có một quá trình dài từ năm 1618 cho đến 1625 với sự hợp tác của nhiều người chứ không chỉ một người. Và đa số "tác giả" của chữ quốc ngữ đều là người Bồ Đào Nha, người Ý cùng với một số người Việt theo đạo Thiên Chúa góp sức.
Và người được xác định "giỏi tiếng Việt nhứt" và có công lớn nhứt trong việc sáng tạo ra chữ quốc ngữ chính là giáo sĩ Francesco de Pina người Bồ Đào Nha.
Francesco de Pina đến Hội An đầu năm 1617, thành lập trú sở Nước Mặn năm 1618, rồi thành lập trú sở Thanh Chiêm (tức Kẻ Chàm, Dinh Chàm) năm 1623. Từ năm 1619, Pina đến cư trú tại Thanh Chiêm và cuối năm 1625 ông chết đuối trên biển Cù Lao Chàm do vướng áo chùng không bơi được khi thuyền lật.
Thi thể ông được chôn ở sau nhà thờ Phước Kiều (nay là nhà thờ Thánh Andre), thuộc thôn Thanh Chiêm 1, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đây là nhà thờ do chính ông thành lập khi đến cư trú tại Thanh Chiêm và là nơi trú ngụ của nhiều giáo sĩ khác, trong đó có Đắc Lộ.
Sau khi ông mất, một học trò tiếng Việt của ông là giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đến Đàng Trong năm 1624, đã ôm tất cả những di cảo của thầy mang về Macau vào năm 1626. Tại Macau thuở ấy còn có hai giáo sĩ cũng chăm chú nghiên cứu chữ quốc ngữ và đã soạn thảo hai cuốn tự điển Việt-Bồ-La và Bồ-Việt.
Đó là hai giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa cư trú ở Macau gần 10 năm. Đáng tiếc là công trình của họ chưa kịp công bố thì tháng 2-1646 Gaspar mất trên đường biển đi đến nước ta và sau đó một năm thì Barbosa cũng mất vì bệnh.
Trong lời nói đầu cuốn Tự điển Việt - Bồ - La của mình, Đắc Lộ có nhắc đến việc "tham khảo" tài liệu của hai giáo sĩ trên, cho thấy Đắc Lộ đã thừa hưởng những di sản được người khác sáng tạo ra để góp phần hoàn thành cuốn tự điển có tiếng Việt đầu tiên trên thế giới.
Điều đáng tiếc là hiện nay vẫn chưa tìm thấy hai cuốn tự điển của Gaspar và Barbosa đã viết. Rất mong số phận của nó giống như cuốn tự điển của Bá Đa Lộc, tưởng đã cháy mất trong một trận hỏa hoạn ở Cà Mau nhưng lại được tìm thấy vào thập niên 1980.
Để chứng minh "lòng tin" của mình, R. Jacques đã bỏ ra hơn mười năm lục tung các thư tịch của Dòng Tên ở châu Âu tìm bằng chứng.
Và cuối cùng, tại Thư viện Hoàng gia Lisbon của Bồ Đào Nha, ông đã tìm được hai tác phẩm của Pina chưa hề được công bố.
Đó là bức thơ viết dở dài 7 trang Pina viết năm 1623 (một năm trước khi Đắc Lộ đến Đàng Trong và học tiếng Việt năm 1624) gửi cho bề trên Jerómino Rodiguez ở Macau, và một tiểu luận dài 22 trang tựa đề Nhập môn tiếng Đàng Ngoài.
Francesco De Pina sanh tại thành Guarda, Bồ Đào Nha khoảng năm 1585, gia nhập Dòng Tên vào năm 19 tuổi, sau đó đến xứ Goa (Ấn Độ) sống ít lâu trước khi sang Trung Quốc truyền đạo. Năm 1611, ông theo học tại Học viện Macau (Collège de Macau) về khoa học xã hội, thần học và tiếng Nhật.
Năm 1617, ông thụ phong linh mục và được cử đến Đàng Trong làm việc tại trú sở Hội An. Qua năm 1618, Pina đến cư trú tại Nước Mặn với Buzomi và Borri, người Ý.
Năm 1619, ông đến Thanh Chiêm mua đất dựng nhà thờ và năm 1623 thành lập trú sở Thanh Chiêm. Pina chết đuối trên bờ biển Quảng Nam ngày 15-12-1625.
Dịp đó, tàu Bồ Đào Nha từ Campuchia về Macau, bỏ neo ở hải phận Quảng Nam, gần Cù Lao Chàm, Pina cùng một người Việt Nam chèo thuyền ra tàu để lấy các đồ phụng sự.
Khi trở vào bờ, bất ngờ gió bão nổi lên, thuyền lật, Pina vì vướng áo chùng không bơi được nên chết đuối, còn người kia bơi vào bờ thoát nạn. Theo linh mục Đỗ Quang Chính, xác ông được đưa về Hội An làm lễ an táng rất trọng thể.
Gần đây, theo ông Đinh Trọng Tuyên - người dân Thanh Chiêm rất quan tâm đến chữ quốc ngữ, Pina được chôn cất sau nhà thờ Phước Kiều, nay là nhà thờ Thánh Andre, nhà thờ chính ông mua đất và xây dựng đầu tiên năm 1619, thuộc thôn Thanh Chiêm 1, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Việc Latin hóa thổ âm, đặc biệt là những tiếng của những quốc gia dùng chữ tượng hình, đã được các giáo sĩ thực hiện từ thế kỷ 15-16. Các công trình Latin hóa này được thực hiện với mục đích duy nhứt là làm cho các con chiên có thể đọc được kinh sách đạo Thiên Chúa, để đạo giáo này phổ biến mạnh hơn.
Đối với tiếng Việt, Pina cũng thực hiện Latin hóa với mục đích trên.
Vừa đến Hội An, Pina lao vào học tiếng Việt và chỉ trong thời gian rất ngắn, ông đã có thể đàm thoại với người bản xứ mà không cần qua phiên dịch. Giáo sĩ Gaspar Luis, người đến Đàng Trong năm 1624 cùng với Đắc Lộ, đã ghi lại như sau: "Linh mục De Pina đến Đàng Trong năm 1617. Đó là giáo sĩ đầu tiên đã miệt mài nghiên cứu tiếng nói".
Khi Đắc Lộ đến Thanh Chiêm vào năm 1624 thì đã thấy Pina giảng Kinh thánh mà không cần phiên dịch. Và Pina cũng là giáo sĩ duy nhứt giảng Kinh thánh bằng tiếng Việt ở Thanh Chiêm. 
Không chỉ vậy, để có thể nghiên cứu tiếng Việt chuẩn hơn, ông đã xin về Thanh Chiêm từ năm 1619, trước khi trú sở này được thành lập vào năm 1623.
Trong tài liệu mà Roland Jacques tìm được, ông viết: "Đối với việc nghiên cứu tiếng nói, Kẻ Chàm vẫn là nơi tốt nhất với tư cách là trung tâm triều đình (thời điểm này Thanh Chiêm, tức Kẻ Chàm, là nơi đóng dinh Trấn Quảng Nam).
Hội An xưa là thủ đô kinh tế của Đàng Trong và là khu phố chợ quan trọng, một trung tâm thương mại lớn của cả vùng miền Trung. Do là khu thương mại, mua bán nên dân cư cũng hỗn tạp, ngôn ngữ cũng lai tạp.
Trong khi đó, Thanh Chiêm là "thủ đô" chính trị của Đàng Trong thời kỳ này, tiếng nói ổn định hơn và có nhiều trí thức hiểu biết về chữ nghĩa hơn. Vì vậy, việc lựa chọn của Pina rõ ràng là nhắm vào việc nghiên cứu tiếng Việt chuẩn xác hơn. Tại nơi này, ông cũng thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với quan trấn thủ dinh trấn.
Đối với việc nghiên cứu tiếng Việt, Pina bắt đầu bằng suy nghĩ mà đã có nhiều người phương Tây nói đến là tiếng Việt tuy khó nhưng lại "du dương hòa điệu", "giống như bản nhạc liên hồi". Khi nghe người Việt nói, C. Borri cho rằng: "Người nào có tài về âm nhạc, biết phân biệt âm thanh thì tiếng Việt là tiếng dễ dàng đối với họ" (Lịch sử chữ quốc ngữ, Đỗ Quang Chính, NXB Tôn Giáo 2012, trang 15).
Việc Latin hóa tiếng Việt là công việc được tiến hành lâu dài và tiệm tiến. Ban đầu, các giáo sĩ chỉ có thể ghi lại âm tiếng Việt bằng những từ ngữ mà "chỉ có họ mới hiểu được" như Cecham (Kẻ Chàm, một cách gọi xưa của Thanh Chiêm), Quamguya (Quảng Nghĩa), Quinin (Qui Nhơn), nayre (nài, nài voi), Onsaij (ông sãi)... rồi tiến đến Ke Cham (Kẻ Chàm), Qui nin (Qui Nhơn), ten si (tiến sĩ), dau nhu (đạo Nho), ba hon (ba hồn) bai via (bảy vía)... sau hết mới có dấu như ngày nay.
Do đó, khi bắt đầu nghiên cứu sáng tạo chữ quốc ngữ, Pina ghi lại tiếng nói của người Việt bằng "những khung nhạc". Và trong tài liệu mới đây được triển lãm trong hội thảo chữ quốc ngữ vào tháng 7-2018 tại Lisbon, Bồ Đào Nha, người ta đã thấy những khung nhạc để thể hiện dấu âm của tiếng Việt.
Chính những người Bồ và người Ý mới có thể tạo ra những dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) của chữ quốc ngữ. Nếu chữ Ba là nốt La (A) thì Bá là nốt La thăng (A#), Bả là nốt Mi (E), Bà là nốt Rê (D)... trong âm nhạc. Đây cũng là một nguyên tắc đánh dấu âm của tiếng Việt mà người Pháp như Đắc Lộ, vốn chữ không có dấu, không thể làm được.
Cũng trong tài liệu trên, Pina ghi chép khá nhiều chữ, từ những chữ bình thường dễ nghe dễ đọc đến những chữ khó nghe, khó viết như "chớ đi", "đừng làm", "khoãn đã nào" [khoan đã nào], "có đi thì đến", "bán bạo nheo" [bán bao nhiêu], "bao mlớn" [bao lớn]... và tất cả những chữ này đều rất gần với chữ Việt hiện nay.
Tượng ông được dựng ở Hà Nội, tên ông được đặt ở đường phố trung tâm của thành phố Sài Gòn. Song đó chỉ là một nửa sự thật. Lý do đơn giản vì ông là người Pháp.
Giáo sĩ Đắc Lộ sinh tại Avignon (vùng đất thuộc tòa thánh La Mã đến năm 1791 mới sát nhập vào nước Pháp) ngày 15-3-1593 trong một gia đình Do Thái, quốc tịch Tòa thánh La Mã, trong một gia đình quý phái.
Ông gia nhập Dòng Tên ngày 14-4-1612, thụ phong linh mục tại La Mã năm 1618. Cùng năm đó, ông được chấp thuận cho đi truyền giáo tại Đông Á sau ba lần xin. Ông tới thủ đô Bồ Đào Nha đáp tàu đi Đông Á và ngừng lại ở Goa (Ấn Độ) khá lâu, đến ngày 29-5-1623 mới tới Macau. Dù muốn đi Nhật song bề trên muốn ông truyền giáo ở Đàng Trong.
Ông tới Đàng Trong lần thứ nhất tháng 12-1624, tới tháng 7-1626 ông trở về Macau. Tháng 3-1627 ông tới Đàng Ngoài và tháng 5-1630 ông bị chúa Trịnh Tráng trục xuất. Từ năm 1630-1640 ông dạy thần học ở Học viện Madre de Dues.
Từ năm 1640-1645 ông lại truyền giáo ở Đàng Trong. Tháng 7-1645 ông rời Đàng Trong về Macau rồi đi châu Âu. Năm 1654 ông đi Ba Tư rồi qua đời ở Ispahan ngày 5-11-1660.
Khi tới Đàng Trong, ông đã đến Thanh Chiêm và học tiếng Việt. Và thầy dạy tiếng Việt cho Đắc Lộ chính là Francesco de Pina. Đắc Lộ được bố trí ở chung nhà với Pina.
Trong lời đề tựa cuốn Tự điển Việt - Bồ - La, Đắc Lộ cho biết "ông học tiếng Việt chăm chỉ như khi theo học khoa thần học ở La Mã. Nhờ đó sau bốn tháng ông được giải tội và thêm sáu tháng nữa là ông có thể giảng bằng tiếng Việt".
Ông còn học tiếng Việt với một em nhỏ người Việt 13 tuổi. Nhờ vậy mà trong ba tuần ông đã biết phân biệt các "thanh" tiếng Việt và cách phát âm mỗi tiếng. Em nhỏ này sau đó được Đắc Lộ làm phép rửa tội (nghi thức nhập đạo Thiên Chúa) và đặt tên là Raphael Rhodes, sau đó trở thành "kẻ giảng" (tu sĩ cấp 2 trong dòng tu).
Ông này tham gia truyền giáo ở Lào, Đàng Ngoài nhưng sau đó không tu nữa, lấy vợ và trở thành một thương gia giàu có ở Đàng Ngoài và Phố Hiến.
Cũng nên biết rằng Đắc Lộ là một giáo sĩ có năng khiếu về ngôn ngữ, biết khá nhiều thứ tiếng. Ông có thể viết và nói các tiếng Pháp, Ý, Latin, Bồ, Việt và sử dụng sơ sơ tiếng Nhật, Trung Hoa, Ba Tư và Kokani.
Trong những lần trở lại Đàng Trong và Đàng Ngoài, ông thu thập thêm những kiến thức về tiếng Việt và phương thức Latin hóa tiếng Việt, đặc biệt là dấu thanh, đồng thời so sánh với những chữ đã được Pina cùng các giáo sĩ khác Latin hóa như Barbosa, Gaspar...
Một trong những người giúp sức tích cực cho Đắc Lộ được ghi nhận là thầy giảng Y Nhã (người Việt), một người thông thạo văn chương, triết học, từng làm quan trước khi gia nhập hàng thầy giảng.
Để hiểu trình độ chữ quốc ngữ của Đắc Lộ, chúng ta hãy đọc bản thảo viết tay bằng tiếng Bồ cuốn "Tình hình truyền giáo ở Đàng Ngoài từ năm 1636-1646" của Đắc Lộ được lưu trữ tại văn khố Dòng Tên ở La Mã.
Dù viết bằng chữ Bồ nhưng bản thảo có rất nhiều chữ quốc ngữ như Ainam (Hải Nam), Che ce (Kẻ Chợ), chúa õu (chúa Ông), Uuan (vương), bat minh (bất minh), thuam (thuận), gna ti (nhà ti), cai huyen (cai huyện), bua (vua), den (đền), ten si (tiến sĩ)...
Trong khi đó, từ năm 1626, giáo sĩ Gaspar đã viết Bến Đá (xã Bến Đá), bude (bồ đề), ondedóc (ông đề đốc), onghe (ông nghè), nhít la khấu, khấu la nhít (nhứt là không, không là nhứt)... Hoặc giáo sĩ Francesco Buzumi viết năm 1626: xán tí (thượng đế), thien chu (thiên chủ, thiên chúa), ngoac huan (ngọc hoàng)...
Những so sánh này để cho thấy các giáo sĩ khác trong việc Latin hóa tiếng Việt đã đi trước Đắc Lộ chừng 10 năm, và Pina chắc chắn phải đi xa hơn dù ông mất sớm.
Để có được cuốn Tự điển Việt - Bồ - La in năm 1651 tại La Mã, ngoài việc nỗ lực tuyệt vời trong học hành và nghiên cứu, Đắc Lộ còn phải dựa vào tài liệu những người đi trước. Hai tài liệu được khẳng định từ lâu là hai cuốn tự điển Việt - Bồ và Bồ - Việt của hai giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa (viết xong nhưng chưa kịp công bố thì đã qua đời).
Những tài liệu này được lưu giữ tại nhà thờ Saint Pauli (Macau). Có thể Đắc Lộ cũng đã sử dụng cả những di cảo của thầy ông là giáo sĩ Pina. Các phát hiện gần đây cho thấy trong di cảo của Pina chữ quốc ngữ viết bằng mẫu tự Latin đã có những dấu âm và khá gần với chữ quốc ngữ hiện nay.
Cũng cần nên biết tại sao tự điển của Đắc Lộ lại chỉ là Việt - Bồ - La mà không có thứ tiếng khác. Trong hai thế kỷ từ 15 đến 17, vai trò thương mại của Bồ Đào Nha bao trùm cả khu vực châu Á và theo đó là các giáo sĩ phương Tây sử dụng tiếng Bồ.
Trong lời nói đầu, Đắc Lộ đã nói rõ mục đích của cuốn tự điển là "giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt" và "làm theo ý muốn của một số vị Hồng y ở La Mã là thêm chữ Latin vào để người Việt có thể học thêm La ngữ".
Cuốn sách đầu tiên về chữ quốc ngữ của Đắc Lộ gồm có hai phần. Phần một mang tên "Báo cáo vắn tắt về tiếng Annam hay Đông Kinh", phân tích văn phạm tiếng Việt. Phần còn lại chính là quyển tự điển.
Ngoài ra, ông còn viết một cuốn sách bằng hai thứ tiếng Việt-Latin tên là Phép giảng tám ngày. Đây là cuốn giáo lý dành cho các thầy giảng đạo Thiên Chúa. Bản in lần đầu tiên hiện còn được bảo quản ở nhà thờ Mằng Lăng (Phú Yên).
Chỉ riêng điều này, ông xứng đáng là "tiền hiền" trong số những người có công sáng tạo và phổ biến chữ quốc ngữ ở nước ta.
Tháng 5-1862, sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, gồm Biên Hòa, Gia Định và Định Tường, phó đô đốc Charner đã ký lịnh thành lập Trường Thông ngôn (Collège des Interprèste) dạy hai thứ tiếng Pháp và quốc ngữ nhằm đào tạo thông ngôn cho quân đội viễn chinh.
Ngày xưa, trường được dân chúng và báo chí gọi là Trường Khải Tường, vì trường đặt trong khuôn viên chùa Khải Tường; và cơ sở đó nay là Trường Lê Quý Đôn.
Vì sao quân Pháp không sử dụng tiếng Pháp mà phải dùng cả chữ quốc ngữ ở Nam kỳ?
Thực tế, sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, quân Pháp phải dùng rất nhiều giáo sĩ Thiên Chúa để làm thông ngôn trong việc giao tiếp với dân chúng. Song không phải giáo sĩ nào cũng "hết mình" vì công việc. Một số thông ngôn đã lợi dụng công việc để truyền đạo.
Năm 1861, giáo sĩ Paulus Galy (tên Việt là Lý) được cử đến làm thông ngôn cho đồn Thuận Kiều đóng tại làng Thuận Kiều thuộc 18 thôn vườn trầu.
Đến năm 1863, không rõ công trạng làm thông ngôn của ông thế nào nhưng ông đã thành lập được giáo xứ Bà Điểm và lập nhà thờ sau chợ. Và cuối cùng vị giáo sĩ này trở thành chủ chăn ở giáo xứ Bà Điểm và rời bỏ công việc thông ngôn. Đó là một nguyên nhân.
Nguyên nhân thứ hai là giới giáo sĩ Thiên Chúa lúc bấy giờ muốn "tham chánh" để chia sẻ quyền lực với quân đội Pháp. Đây là yêu cầu khó chấp nhận đối với giới quân đội.
Cuối cùng, một giải pháp trung dung được cả hai phía chấp thuận là "sử dụng chữ viết của công giáo ở Nam kỳ". Đó là chữ Annam viết bằng mẫu tự Latin, tức chữ quốc ngữ, chữ Việt ngày nay.
Trong suốt mấy trăm năm hình thành, chữ quốc ngữ, do chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn, luôn bị coi là thứ chữ "của người ngoại quốc" và chỉ phổ biến trong các nhà thờ và các xứ đạo Thiên Chúa.
Việc chánh quyền Pháp ở Nam kỳ chấp nhận cho phổ biến rộng rãi thứ chữ này là một bước đi quan trọng đối với các giáo sĩ. Và chính vì vậy Trường Thông ngôn ra đời.
Ngay khi Trường Thông ngôn thành lập, ông Trương Vĩnh Ký được mời làm giáo sư. Và ông trở thành người Việt đầu tiên làm thầy giáo dạy chữ Việt, một công việc không hề dễ dàng lúc bấy giờ. Và năm 1864, sau khi từ Pháp trở về, ông được bổ nhiệm làm giám đốc trường này.
Cái khó khăn đầu tiên là làm sao có được giáo trình một thứ chữ mới rợi đối với mọi người? Sau khi trở thành giám đốc, Trương Vĩnh Ký đã viết cuốn sách giáo khoa đầu tiên mang tên Ngữ pháp tiếng Annam (Abrégé de grammaire Annamite) in năm 1867.
Sau đó là hàng loạt sách giáo khoa như Chuyện tiếng An Nam và tiếng Langsa, Sách tập nói chuyện tiếng An Nam và tiếng Langsa, Phép lịch sự An Nam, Văn phạm tiếng An Nam, Chữ quốc ngữ và lịch sử An Nam...
Riêng cuốn Văn phạm tiếng An Nam đã dày 304 trang in. Sách giáo khoa của ông rất chi tiết, từ cách đánh vần cho tới những từ ngữ, các danh từ, động từ, tính từ... đều phân biệt chi tiết. Ví dụ "con ốc" là loài ốc nói chung, khác với "con ốc vặn" mà ta gọi là ốc vít. Còn con cò thì khác với cò súng, con ngựa khác với ván ngựa (bộ ván), con ngựa của cây đờn...
Sách của ông cũng dạy đặt câu sao cho trúng cách và phân chia từ thấp đến cao một cách có hệ thống và khoa học. Đây lại là công việc của một người quả là rất đáng nể!
Không chỉ viết sách dạy chữ, ông còn viết cả lịch sử, chuyển âm truyện thơ Lục Vân Tiên, Kiều, Trương Lương... cho học trò có sách để đọc tham khảo.
Trong lời nói đầu cuốn Vần quốc ngữ và lịch sử An Nam, ông viết: "Sách nầy để cho con trẻ mới vô trường, học những điều đại lược mà phá ngu. Hai nữa là để tập coi, tập đọc, tập viết tiếng An Nam trong chữ quốc ngữ cho trúng tiếng, cho nhằm giọng, phân biệt ra cho rõ ràng...".
Ông đã làm thầy giáo trong suốt 22 năm kể từ năm 1864 cho đến năm 1886, thời điểm ông rời Sài Gòn ra Huế làm cố vấn cho vua Đồng Khánh theo đề nghị của toàn quyền Đông Dương Paul Bert.
Suốt thời gian này, ông có 9 năm trực tiếp ở các trường (từ 1864-1869 làm giám đốc Trường Thông ngôn, từ 1872-1876 làm giám đốc Trường Sư phạm) và đã viết khoảng 25 cuốn sách giáo khoa dành cho học trò học, trong số gần 200 tác phẩm của ông.
Đó là một số lượng rất lớn đối với một thầy giáo dạy chữ quốc ngữ trong điều kiện chưa có tiền lệ.
Thuở ấy, rất khó tìm được học sinh cho trường, do trong dân chúng truyền miệng nhau chữ quốc ngữ là thứ chữ của người ngoại quốc, học nó sẽ mất gốc hoặc bị Pháp bắt đi mất.
Ban đầu học sinh Trường Thông ngôn là lính Pháp, con em những người cộng tác với Pháp và con cháu của giới theo đạo Thiên Chúa. Về sau, để có học sinh, chánh quyền thực dân ra lịnh mỗi làng phải chọn một hay hai em trong lứa tuổi từ 10 đến 16 đi học.
Làng xã thường nhắm vào các gia đình có tiền của để bắt đi học, nên "kiếm người đi học mà như đi đánh giặc". Dù học nội trú, không tốn tiền, lại có tiêu vặt phí nhưng không mấy gia đình muốn con đi học. Sợ mất con, rất nhiều gia đình có tiền đã mướn người đi học thế.
Nghiệp làm thầy của ông Trương Vĩnh Ký để lại khá nhiều dấu ấn tốt đẹp. Một lớp khá đông học trò của ông, sau là những công chức mẫn cán của chế độ hoặc là những người có công lớn đối với nền văn học, văn hóa của nước nhà.
Nổi bật là các ông Trương Minh Ký (nhà báo, nhà văn, thầy giáo), Đặng Thúc Liêng (nhà báo, nhà văn), Nguyễn Khắc Huề (thầy giáo)...
Song điều rất ít người biết, ông là nhà báo viết chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta.
Huỳnh Tịnh Của còn gọi là Huỳnh Tịnh Paulus Của, hiệu là Tịnh Trai, bút danh là Paulus Của, sanh năm Canh Thân (1830) tại làng Phước Tụy, tổng Phước Hưng Hạ, tỉnh Bà Rịa (nay là Bà Rịa - Vũng Tàu).
Là người theo đạo Thiên Chúa, năm 12 tuổi ông được sang học ở trường đạo Pinang (Mã Lai), thông Hán tự, giỏi chữ Pháp, Latin và chữ quốc ngữ. Khi lên đến chức thầy tư thì hoàn tục về quê cưới vợ. Trong đạo Thiên Chúa, để trở thành linh mục có sáu bậc, học hết bậc thầy sáu mới trở thành linh mục.
Năm 1861, ông ra làm thông ngôn cho Pháp. Năm 1865 ông làm chủ bút tờ Gia Định Báo. Năm 1873 ông làm việc tại phòng phiên dịch của Dinh Thượng thơ (Nha nội vụ), năm 1892 ông là ủy viên ủy ban cải tổ Trường Thông ngôn, có chân trong bán nguyệt san Revue Indochinoise, một tạp chí chuyên nghiên cứu về Đông Dương tồn tại từ năm 1893 đến 1925. Nhiều lần ông làm giám khảo trong các kỳ thi tuyển công chức. Ông được thăng hàm đốc phủ sứ năm 1881 và mất ngày 26-1-1908 tại Sài Gòn.
Gia Định Báo là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta, ra đời ngày 15-4-1865 do Ernest Potteau làm chánh tổng tài, Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút. Công việc của ông là biên dịch tất cả những văn bản của chánh quyền ra chữ quốc ngữ, tổ chức trang báo, tổ chức nội dung và viết tin tức. Trong ba số báo được lưu lại tới ngày nay, chúng tôi đều thấy bài viết của ông dưới bút danh Paulus Của.
Xin chép nguyên văn vài tin với chữ quốc ngữ thời kỳ đó: "Tháng trước quan Thượng thơ có truyền cho quan Bố Sai phủ Saigon đi vào trong làng Bình Hòa Gò Vấp mà làm sổ, biên nam phụ lão ấu, biên sanh tử nghề nghiệp, ruộng đất, biên thử một ít làng cho quan trên đặng biết, chẳng phải có ý biên mà tấn thuế thêm hay là lấy vườn đất ai, mà có nhiều người nghi nan sợ hãi zấu đi, không muốn khai cho thiệt, trong nhà có nhiều người khai ít, ruộng đất nhiều khai chừng một đôi miếng mà thôi, sợ quan có lấy đất đi hay là có bắt người mà đem đi đâu, lại nghe có kẻ muốn đút tiền cho làng ăn cho được khai ít vậy, những người làm thế ấy thì đã mất tiền mà có khi lại mắt lấy tội zối quan, nào có ích gì, có làm sao mà phải làm đều zối trá như vậy..." (số 5 ngày 15-8-1865). "Tại Cần Giuộc, mới bắt đặng Huyện Đức là người của Quản Định cử để mà hay việc thâu thuế nội huyện Phước Lộc mà cấp cho quân giặc..." (số 6 ngày 15-9-1865).
Tuy nhiên, thời gian làm báo của ông dường như không lâu lắm. Không rõ thời kỳ 1869-1871, thời kỳ mà ông Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài, thì ông Huỳnh Tịnh Của còn làm việc ở Gia Định Báo không! Do không có những số báo từ năm 1866 đến 1870 nên chúng tôi chưa biết chắc. Song đến năm 1872 thì không còn thấy tên của Paulus Của nữa. Có thể từ những năm này ông đã chuyển sang làm công việc khác trong phòng thông ngôn của Dinh Thượng thơ.
Là một trong hai người Việt biết chữ quốc ngữ cộng tác với quân đội Pháp ở Nam kỳ, Huỳnh Tịnh Của luôn cổ động mạnh mẽ việc người Việt dùng chữ quốc ngữ, thứ chữ mà sau này chính người Pháp phải thừa nhận "đã trở thành vũ khí của người Việt", và cổ xúy cho văn hóa dân tộc.
Ngoài bộ Đại Nam quấc âm tự vị in vào hai năm 1895 và 1896, ông còn khoảng 25 tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ. Hầu hết những tác phẩm này đều chuyển ngữ từ chữ nho, Nôm sang quốc ngữ những tác phẩm văn học cổ hoặc sưu tầm các câu hát, chuyển tục ngữ, cổ ngữ... từ dân gian như Chuyện giải buồn, Tục ngữ cổ ngữ, gia ngôn, Quan Âm diễn ca, Gia Lễ, Chiêu Quân cống Hồ, Câu hát góp...
Song có lẽ gia tài đáng kể nhứt của ông chính là Đại Nam quấc âm tự vị. Bộ sách được chánh quyền bấy giờ tài trợ in ấn, với khổ lớn, 2 tập dày 1.200 trang in. Đây là cuốn tự điển chữ quốc ngữ và giải nghĩa bằng chữ quốc ngữ đầu tiên do người Việt viết.
Sự ra đời của cuốn sách này ngoài nhu cầu đương thời là "phổ biến chữ quốc ngữ", nhu cầu "tra cứu của các thông ngôn" còn có nhu cầu tự thân của tác giả nữa. Bởi không phải ai cũng có điều kiện làm tự điển và không phải ai cũng có thể làm tự điển và cuốn tự điển này đã chứng tỏ trình độ và tài năng của Huỳnh Tịnh Của.
Muốn làm được như Huỳnh Tịnh Của đòi hỏi phải có sở học tốt, có khả năng về ngôn ngữ lẫn say mê ngôn ngữ, đồng thời phải thật yêu ngôn ngữ của dân tộc hết mực. Chính điều đó đã giúp cho một công chức mẫn cán và có lẽ không có nhiều thời gian, đã làm được điều mà ngày nay nhiều người có điều kiện chưa chắc đã làm được.
Bộ tự điển đã giúp chúng ta giữ gìn được gia tài tiếng nói cổ xưa của tiền nhân ở đủ các lãnh vực từ thấp đến cao trong xã hội, đồng thời cung cấp một phần nào đó bộ mặt của xã hội Việt vào cuối thế kỷ 19. Chỉ riêng việc này thôi, Huỳnh Tịnh Của đã xứng đáng được tôn vinh là một trong những ông tổ có công phổ biến chữ quốc ngữ.
Trương Minh Ký luôn bị cái bóng của thầy che mờ nên đời sau rất ít người biết về ông một cách đầy đủ.
Ông sinh năm 1855 tại Hanh Thông Xã (Gò Vấp) trong một gia đình buôn bán. Bảy tuổi, năm 1862, cũng là năm Nam Kỳ mất vào tay quân Pháp, ông mất mẹ. Cũng vì vậy mà ông được cha chăm sóc tốt, cho ăn học đàng hoàng.
Ông bắt đầu học chữ nho với cha và bà nội và học chữ quốc ngữ với giáo sĩ Puginier Phước, người thành lập giáo xứ Hạnh Thông Tây cách nhà ông chừng hai cây số.
Là người cực kỳ thông tuệ nên Puginier Phước trước khi ra Bắc nhận nhiệm sở mới đã giới thiệu ông vào Trường Thông ngôn (Trường Khải Tường) ngay khi thành lập (tháng 5-1862). Và tại đó ông đã gặp thầy Trương Vĩnh Ký.
Năm 1872, ông ra trường và trở thành thầy giáo dạy chữ nho và chữ quốc ngữ ngay nơi mình đã học. Nối nghiệp thầy Trương Vĩnh Ký, ông trở thành một thầy giáo nổi tiếng và hai năm sau, năm 1874, ông được thăng hạng: "Trương Minh Ký, nguyên làm thầy giáo dạy giúp hạng ba lên hạng nhì, lương đồng niên ăn 1.400 quan tiền" (Gia Định Báo số 3 ngày 1-2-1874).
"Dạy giúp" là một thứ bậc trong nghề giáo thời ấy.
Năm 1880, Thống đốc Nam Kỳ dân sự đầu tiên Le Myre de Vilers đã cử ông dẫn một đoàn học sinh gồm 11 em sang Alger du học bậc cao đẳng. Trong số 11 em này có một "em" sau này khá nổi tiếng trong giới thầy giáo lẫn báo chí là Diệp Văn Cương.
Diệp Văn Cương (1862-1929), đồng môn của Nguyễn Trọng Quản - tác giả cuốn truyện Thầy Lazaro Phiền in năm 1887, sau khi tốt nghiệp trở về làm giáo sư Trường Chasseloup Laubat (nay là Lê Quý Đôn) và từng là chánh tổng tài cuối cùng (1909-1910) của tờ Gia Định Báo.
Trong chuyến đi này ông Trương Minh Ký đã đi thăm Paris, khi trở về ông viết một du ký dài 2.000 câu bằng văn vần "Như Tây nhựt trình" (Nhựt ký đi Tây) in tại Sài Gòn năm 1889.
Sau chuyến đi, trở về ông được bầu làm ủy viên Hội đồng thành phố Sài Gòn và chuyển sang làm chủ bút tờ Gia Định Báo từ giữa năm 1881 đến năm 1896.
Từ năm 1897, ông làm chủ bút tờ báo tư nhân Nam Kỳ (còn gọi là Nam Kỳ nhựt trình) cho đến giữa năm 1900, báo đóng cửa. Tháng 8-1900, ông mất đột ngột ở tuổi 45. Trong năm 1889, ông được thống đốc Nam Kỳ cử làm phiên dịch cho phái đoàn Hoàng gia nhà Nguyễn do hoàng thân Miên Triện dẫn đầu đi dự hội chợ quốc tế tại Paris.
Trong chuyến đi, tại Paris, ông được hoàng thân Miên Triện ban cho cái tên "Thế Tải". Sau chuyến đi này về, ông xuất bản cuốn du ký Chư quấc thại hội dài 2.000 câu thơ song thất lục bát.

Được đánh giá là người có kiến văn sâu rộng cả ba ngôn ngữ Việt, Pháp, Hán; ông làm thầy giáo dạy chữ quốc ngữ và chữ nho trong 8 năm.
Sau khi chuyển sang làm báo ông viết nhiều sách giáo khoa như Ấu học khải mông, Tập dạy học tiếng Phansa và tiếng Annam, Hiếu kinh diễn nghĩa, Pháp học tân lương, Quấc ngữ sơ giai, Tiểu học gia ngôn... và sáng tác, dịch thuật thơ truyện.
Cuốn sách 100 bài học tiếng Pháp (Pháp học tân lương) gồm bài giảng về từ ngữ, văn phạm tiếng Pháp và tiếng Việt mà ngày nay cũng có thể dùng được cho người muốn học tiếng Pháp.
Thời ông làm chủ bút tờ Gia Định Báo, tờ báo này chính thức trở thành công báo, hầu hết các trang báo đều đăng ròng các văn bản, nghị định... của chính quyền. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng Gia Định Báo thời Trương Minh Ký có hai thay đổi căn bản và rất có lợi cho việc tìm hiểu xã hội cuối thế kỷ 19.
Đó là phần Công vụ báo có đăng nguyên văn biên bản các buổi họp của Hội đồng quản hạt Nam Kỳ (do vậy mà có khi báo tăng lên đến 20 trang). Đây là việc vô tiền khoáng hậu, bởi xưa nay các nhà chính trị không bao giờ muốn đưa những chuyện họ bàn bạc lên báo. Những phát biểu trong các buổi họp rất có thể ảnh hưởng đến hình ảnh của họ và đôi khi để lại những di chứng không lành!.
Và ở phần Thứ vụ, Tạp vụ có dành một phần nhỏ cho những sáng tác văn học. Và đây là trang văn học đầu tiên trên báo chí quốc ngữ nước ta. Hai truyện ngắn văn xuôi Tên chăn bò và Thằng ăn trộm với con heo, viết lại theo nội dung thơ La Fontaine của Trương Minh Ký in trên số ra ngày 1-12-1881 là những truyện đầu tiên của nền văn học nước ta.
Với tiền lệ Truyện Kiều viết lại theo nội dung Kim Vân Kiều truyện bằng văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân, thì hai truyện văn xuôi của Trương Minh Ký phải được coi là truyện sáng tác đầu tiên. Hai truyện này sau đó, năm 1884, được in chung với 128 truyện khác trong tập Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ của Trương Minh Ký.
Song ông cũng là một nhà báo tài năng. Nếu 16 năm làm chủ bút Gia Định Báo ông đã gieo mầm cho văn học Việt, thì chỉ ba năm sau cùng (1897-1900) làm chủ bút tờ Nam Kỳ, ông thể hiện rõ tài năng trong nghề báo.
Nam Kỳ là tờ báo tư nhân, do ông A. Schreiner, một doanh nhân, làm chủ. Tờ báo tuy chỉ sống có ba năm nhưng lại là một tờ báo "đúng nghĩa" so với các báo khác trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Mặt báo phong phú tin tức từ ngoài nước cho đến trong nước. Báo đã có mục giao lưu với bạn đọc xa gần và mức quảng cáo khá mạnh (8 trang trong số 16 trang). Đọc báo Nam Kỳ chúng ta có thể thấy được một phần nào đó xã hội thế kỷ 19, đặc biệt là xã hội Sài Gòn.
Báo này có rất nhiều sáng tác thơ văn và truyện dịch. Năm 1895, truyện Một ngàn lẻ một đêm được chuyển ra tiếng Pháp thì năm 1897 đã có bản dịch tiếng Việt trên Nam Kỳ. Để làm được tất cả những điều này, chủ bút Trương Minh Ký với bút danh Mai Nham đã phải mất rất nhiều công sức viết, dịch và lựa chọn các tin bài đưa lên mặt báo...
Theo https://tuoitre.vn/

Bâng khuâng mùa thu

Bâng khuâng mùa thu

Trong những mường tượng mang chút hơi hướng duy tâm ở mình, tôi luôn có ý nghĩ rằng, có lẽ kiếp trước mình là một mùa thu dịu nhẹ, mỗi năm chỉ khẽ khàng đậu xuống nhân gian khoảng thời gian vừa đúng ba tháng giống như các mùa khác, rồi lại lặng lẽ bỏ đi. Để lại nỗi mong ngóng khắc khoải trong lòng người.
Biết bao lần tôi cặm cụi viết viết xóa xóa, đọc đi đọc lại rồi tự cảm thấy thất vọng. Tôi không có đủ ngôn từ để có thể diễn đạt được cảm xúc của mình về mùa thu. Bao năm tôi ngồi trong lớp học, bao nhiêu thầy cô giáo dạy văn đã dìu dặt bên tai tôi những lời giảng chứa chan cảm xúc về cái mùa mà chỉ nhắc đến tên đã khiến biết bao người xao xuyến.
Từ dạo ấy, tôi đã gửi ánh mắt thiết tha của mình theo những đời lá chuyển màu phía bên ngoài cửa lớp. Nhưng tôi đã chẳng bao giờ đủ năng lực diễn tả được những cảm nhận của mình về cái khoảnh khắc xốn xang này. Có lẽ, khi quá yêu một điều gì đó, người ta thường không thể diễn đạt một cách rành mạch về nó chăng? Nên tôi mãi như kẻ vu vơ với tình yêu cất giữ mãi ở trong lòng.
Pleiku của chúng tôi chẳng phân định bốn mùa xuân - hạ - thu - đông. Tứ thời neo lại trên xứ sở bazan này chỉ có thể cảm nhận trong từng khoảnh khắc. Pleiku thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, nửa năm nắng và nửa năm còn lại thì mưa. Nhưng thời gian gắn bó đã đủ lâu để tôi có thể cảm nhận được những khoảnh khắc mùa về, dẫu chỉ thoáng qua, mà nếu vô tâm hờ hững sẽ không thể nhận biết.
Thời khắc chuyển thu ở đây rất lạ, không có gió heo may, cũng không có những thảm cỏ may tím lên trong những buổi chiều thu mơn man xứ Bắc. Đó là lúc mưa không còn dầm dề ngày ngày tháng tháng. Mưa chỉ vừa đủ nhẹ để mang về những sớm mai mù sương, sương trắng như tấm voan lụa mỏng khẽ khàng la đà trên cảnh vật. Cây lá cũng dần đổi sắc. Những chiếc lá chưa thật sự chuyển vàng, chúng chỉ già hơn cái màu diệp lục cố hữu một chút. Nhìn từ xa, ngỡ như màu lá non, nhưng đến gần mới nhận ra, chúng đang xanh nốt những ngày cuối cùng của đời lá, để rồi rụng xuống làm thành một mùa thu xao xác với bao người.
Chúng tôi vẫn giữ cho mình chỗ ngồi quen thuộc khi bắt đầu một ngày mới. Những ngày rảnh rỗi, chúng tôi thả bộ dưới những vòm cây đang vào thời điểm thay lá, trong khí trời se sẽ lạnh, cái lạnh không phải từ gió, bởi gió chưa phải lúc vào mùa; cái lạnh cũng không phải từ mưa, bởi mưa cũng không còn dầm dề se sắt nữa. Ai cũng gượng nhẹ bước chân, những câu chuyện cũng rất đỗi khẽ khàng, như sợ làm tan biến đi cảnh vật quá đỗi mong manh đang hiển hiện trước mắt. Thỉnh thoảng một chiếc lá vàng buông mình, chao liệng, rồi đậu xuống, nhẹ như một niềm bâng khuâng.
Bốn mùa trôi qua theo vòng tuần hoàn của đất trời, đời người cũng vậy. Xuân qua, hạ hết, thu sang… Thời gian để lại tuổi tác, sự trải nghiệm chín dần theo năm tháng. “Sang thu”, con người, như chiếc lá xanh nốt mình, như mặt hồ phẳng lặng biêng biếc màu ngọc lục bảo sau những ngày gom góp nắng mưa. Trước thiên nhiên, cảnh sắc đất trời, lòng người cũng như dịu đi, dễ đồng cảm, thứ tha và dường như thấy yêu thương tất thảy.
15/11/2020
Đào An Duyên
Theo https://www.sggp.org.vn/

Nhà văn Vũ Tú Nam: Còn mãi Mùa xuân tiếng chim

Nhà văn Vũ Tú Nam: 
Còn mãi Mùa xuân tiếng chim!

Nhà văn Vũ Tú Nam, nguyên Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV đã rời xa chúng ta vào ngày 9-9 vừa qua ở tuổi 92. Nhớ về ông là nhớ về một gương mặt lớn của văn học nước nhà với những tình cảm gần gũi và thương mến, và mãi còn đó như tên gọi một tác phẩm của ông - Mùa xuân tiếng chim...
1. Với nhà văn Vũ Tú Nam, tôi là kẻ hậu sinh. Nhưng tôi sớm biết tên tuổi ông qua văn chương. Cũng là do cơ duyên khi cuối năm 1974, sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi chính thức được giữ lại làm trợ giảng. Tôi được thụ giáo một người thầy đáng kính, tài hoa nghệ sĩ - thầy Hoàng Như Mai. Giáo trình đại học tôi tiếp thu để lên lớp sau hai năm là Văn học Việt Nam 1945 - 1960. Thầy Hoàng Như Mai và thầy Trần Hữu Tá viết giáo trình về giai đoạn văn học này, đã in thành sách. 
Nhưng lên lớp mà chỉ đọc giáo trình của người đi trước là chưa đủ, phải có thực tiễn văn học. Theo lời khuyên của thầy hướng dẫn, tôi vào Thư viện Quốc gia đọc tài liệu. Quan trọng nhất là Tạp chí Văn nghệ (1948 - 1954).
Dạo đó tài liệu còn ít, phương tiện photocopy chưa có, nên muốn tích lũy được “bột” thì chỉ còn cách ghi chép. Tôi “gặp” nhà văn Vũ Tú Nam trên Tạp chí Văn nghệ thời kháng chiến chín năm là như thế. Rồi đọc rộng ra và ghi chép cẩn thận nội dung chính tập truyện Bên đường 12 của ông (tác phẩm được giải Nhất về văn xuôi của Trại Văn nghệ Lam Sơn, Liên khu Bốn, 1950). Tuy chất ký sự còn trội nhưng những truyện Bên đường 12, Sau trận núi Đanh, Nhân dân tiến lên có cái tươi nguyên của chất liệu sống, theo cách diễn đạt của nhà văn Nguyễn Đình Thi là “ròng ròng sự sống” (dễ nhìn thấy cả trong các tác phẩm của những “nhà văn binh nhì” như Từ Bích Hoàng, Hồ Phương, Siêu Hải, Sao Mai...).
Sáng tác của nhà văn Vũ Tú Nam thời ban đầu được gọi một cách trìu mến là thuộc dòng “văn học bộ đội” (về sau gọi là “văn nghệ quân đội”). Tôi quan sát thấy một thực tế: Các nhà văn mặc áo lính thường “hòa mạng” vào văn học dân tộc nhanh nhạy, trong những thời kỳ chuyển biến lịch sử quan trọng họ thường là những người tiên phong đổi mới văn học. Trong số hơn 10 tác phẩm văn xuôi của nhà văn Vũ Tú Nam, thấy chỉ có mấy tác phẩm đầu tiên gắn chặt với môi trường quân đội và khung cảnh chiến tranh, còn lại vươn ra xa, thẩm sâu vào đời sống rộng lớn của nhân quần: Kể chuyện quê nhà (1954), Thử thách thầm lặng (1971), Sống với thời gian hai chiều (1983), Mùa xuân tiếng chim (1985), Vũ Tú Nam 20 truyện ngắn (1994).
Vợ chồng nhà văn Vũ Tú Nam và cuốn 
Hồi ức tình yêu qua những lá thư riêng
2. Vũ Tú Nam là ngòi bút có tình (có người gọi là “duy tình”). Quy luật sáng tạo nghệ thuật là quy luật tình cảm, lý lẽ của con chữ là lý lẽ của trái tim. Tôi không chỉ căn cứ vào 5 tập thơ của Vũ Tú Nam (theo tư liệu của nhà thơ Phạm Đình Ân trong bài Vũ Tú Nam - Nhà thơ, in trên Báo Văn nghệ số 35-36, ra ngày 29-8-2020) hay Hồi ức tình yêu (gồm 500 bức thư tình cùng người bạn đời Thanh Hương) có sức mê dụ người đọc hôm nay vốn thông minh nhưng khó tính và quá tỉnh táo.
Dẫu sao thì thơ và những bức thư này cũng chứa đựng nhiều điều riêng tư thầm kín, đôi khi là những bí mật cuộc đời được bạch hóa khi có điều kiện. Tôi muốn nói đến chất “duy tình” trong văn Vũ Tú Nam. Mùa xuân tiếng chim là một trong những truyện hay nhất của Vũ Tú Nam (được tuyển chọn vào bộ sưu tập 100 truyện ngắn hay Việt Nam, 3 tập, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1997).
Truyện được viết theo dòng hồi ức, kể từ ngôi thứ nhất. Một câu chuyện buồn: Mẹ “tôi” có người bạn thân tên Mai, vì cảnh ngộ ngặt nghèo mà đã quyên sinh, để lại một cô con gái mới lên mười tuổi, tên Thu, em kém “tôi” bốn tuổi. Mẹ “tôi” nhận nuôi. Thu ốm yếu, cần được chăm sóc. Nhà có con gà mái đẻ được 13 trứng, “tôi” đem ra chợ bán 10, còn 3 quả để lại luộc cho em Thu bồi dưỡng sức khỏe. Nhưng hai anh em cứ nhường nhịn nhau...
Truyện Mùa xuân tiếng chim của nhà văn Vũ Tú Nam rất nhiều dư vị nên gợi nhiều liên tưởng. Khi “tôi” 18 tuổi, xa nhà đi làm gia sư. Một bận bị ốm, Thu đã tìm gặp chăm sóc. Sau đại thắng Điện Biên Phủ, “tôi” nhập ngũ, khoác bộ quân phục mới thơm mùi hồ. Sau hai năm “tôi” về thăm nhà. Lúc này Thu đã là một thiếu nữ thực thụ: “Sau bữa cơm, Thu dẫn tôi đi thăm các bạn bè và gia đình trong xóm. Hai đứa đi trong bóng tối dìu dịu mùi hoa xoan, hoa bưởi. Chốc chốc Thu đứng lại, hỏi tôi có nghe tiếng chim gọi vịt kêu không. Tôi bảo có. Thu nói, giọng rầu rầu: “Như tiếng ai gọi ấy, anh nhỉ...”. Thế là từ đấy, tiếng chim gọi vịt vời vợi khi xa, khi gần mùa xuân nào cũng gợi cho tôi nhớ đến Thu, một nỗi nhớ giằng xé gần như là một nỗi đau không bao giờ dứt”. Sau đó Thu lấy chồng (theo ý mẹ “tôi”, vả lại chồng Thu cũng là người con trai tốt).
Câu chuyện được nhân vật “tôi” kể lại cho một người bạn nhằm: “Để sống lại những kỷ niệm xa xưa”. Tôi nghĩ, một câu chuyện tình yêu trong chiến tranh, có nhiều phần éo le, nhiều chịu đựng được nhà văn kể lại với một thái độ bình tĩnh, san sẻ, đồng cảm. Trên hết là sự chắt chiu tình thương. Ai đó nói: “Cái đẹp có thể cứu rỗi thế giới”. Tôi thì nghĩ: “Tình thương có thể cứu rỗi thế giới”.
3. Đọc văn của Vũ Tú Nam, tôi nghĩ đến một vấn đề căn cơ của “nghề” văn (đúng hơn là “nghiệp văn”), đó là văn hóa của nhà văn và sự phát triển văn học. Khi nói về văn hóa nhà văn, tôi nghĩ, cần trước hết nói về thái độ ứng xử của người nghệ sĩ ngôn từ đối với tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt. Thế hệ nhà văn Vũ Tú Nam tất nhiên đều giỏi tiếng Pháp. Nhưng đọc văn ông tôi thấy đượm đà một lối văn thuần Việt. Quý vị hãy cùng tôi đọc lại một đoạn văn trong Mùa xuân tiếng chim: “Thu đã đón tôi một cách thật là bồng bột. Em đang vo gạo. Thấy tôi bước vào cổng, em quăng cả rá gạo, reo lên, chạy ù ra nắm chặt lấy hai tay tôi mà lắc (...). Bữa cơm tối đó, Thu hầu như không ăn mà chỉ ngồi nói chuyện líu lo và gắp cho tôi. Dưới ánh đèn, trông Thu càng đẹp. Người em dỏng cao, chắc lẳn; hai con mắt to, đen nhánh. Thu nhìn tôi, lộ rõ niềm vui rạng rỡ và sự cảm mến không che giấu”.
Tôi chưa đọc được nhiều thơ Vũ Tú Nam, theo nhà thơ Phạm Đình Ân thì ông đã in 5 tập thơ. Trong đó “có những tứ tuyệt tài hoa, chẳng kém là bao so với thơ của một bậc thầy nào đó”, kiểu như bài Thu đêm: “Trong đêm mơ anh đắp áo cùng em/ Gió bổi hổi - em nhìn anh náo nức.../ Gió xô cửa/ Một mình anh chợt thức/ Xa thật xa đơn chiếc mảnh trăng vàng”.
Văn hóa nhà văn còn thể hiện ở cách nhìn con người, cách đặt niềm tin vào nó dù trong bất kỳ cảnh ngộ nào, kể cả lúc bĩ cực nhất vẫn nhìn thấy thái lai. Dân gian có câu “Người ta là hoa của đất”. Nói thế là chạm đến “linh hồn” của con người như một tinh túy của trời đất, tạo hóa. Trong bài thơ Hai trong một, Vũ Tú Nam viết thật phóng khoáng: “Nằm cùng giường mà vẫn mơ thấy vợ/ Nhớ em đâu cứ lúc xa em/ Từng miếng ăn, bước đi, giấc ngủ/ Ta là hoa trong một linh hồn”.
Sự hình dung của tôi về nhà văn Vũ Tú Nam là thế, những gì được viết ra đều nương theo quy tắc “Văn là người”.
Nhà văn Vũ Tú Nam sinh năm 1929 trong một gia đình nhà nho tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông từng trải qua các vị trí công tác như Giám đốc Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV, đại biểu Quốc hội khóa IX, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III, IV. Các tác phẩm chính đã xuất bản gồm 10 tác phẩm văn xuôi, thơ, thơ dịch và nhiều sáng tác khác. Các giải thưởng văn học: Giải Nhất văn xuôi năm 1950 cho tập truyện Bên đường 12, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I năm 2001.
18/9/2020
Bùi Việt Thắng
Theo http://www.hanoimoi.com.vn/

Thanh xuân tươi đẹp

Thanh xuân tươi đẹp

Nhìn trang mạng xã hội của cô bạn bên xứ sở Bạch Dương đưa clip về những bông tuyết đầu mùa, lòng tôi chợt dâng lên những cảm xúc khó tả. Vậy là bốn năm rồi tôi không được nhìn thấy những điều tưởng như đã theo mình suốt cả quãng thời gian thanh xuân tươi đẹp.

Tôi ấp ủ nhiều lắm, nghĩ ngợi nhiều lắm để nói ra được hết tình cảm của mình với mảnh đất xa xôi kia bằng câu bằng chữ mà chao ôi, những kỷ niệm cứ kéo về làm tôi choáng ngợp. Thế là tôi nghĩ mãi, nghĩ mãi mà không biết nên viết cái gì. Cuối cùng, tôi quyết định sẽ đi theo cảm xúc, cảm xúc mách bảo điều gì tôi sẽ viết điều ấy.
Bốn năm là khoảng thời gian không quá lâu, đủ để tôi vẫn còn nhớ được những ngóc ngách của thành phố, chuyến xe bus nào dẫn đến trung tâm hay góc ngồi công viên nào yên tĩnh, thư thả… Tôi sống ở Tula, quê hương của đại thi hào Lev Tolstoy. Tula mà tôi yêu rất đỗi giản dị; không quá nhộn nhịp, sầm uất như Moskva; không có nét cổ kính châu Âu như Saint Peterburg; càng không giao hòa nhiều màu sắc văn hóa như Kazan... Tula cứ thế nhẹ nhàng, sâu lắng và yên bình. Dù rất thích khám phá nhiều nơi, nhưng Tula luôn là nơi tôi muốn nhanh chóng trở về sau những buồn vui, mệt mỏi. Không xa trường tôi học cho lắm là điền trang Yasnaya Poliana của Lev Tolstoy. Chúng tôi đã đến nơi đây không biết bao nhiêu lần, bốn mùa đủ cả; điều thích thú nhất là dạo quanh nhà Lev một hồi, rồi chạy đến cánh đồng rộng lớn xa xa sau vườn táo để hòa vào khung cảnh bao la ấy. Thời gian tuyệt vời để ghé thăm nơi đây là mùa hè và mùa thu. Mùa hè vườn ngập hoa táo trắng, cánh đồng ngập cúc họa mi, cải vàng. Còn mùa thu lại mơ màng, mang đầy tiếc nuối vì ngay sau đó sẽ là một mùa đông dài giá lạnh. Nếu như Lev Tolstoy có thể viết nên “Chiến tranh và hòa bình” tại nơi đây, thì tôi cũng có thể hoàn thiện bức tranh đồng quê được nhuộm một màu vàng óng ả của trời thu cùng ánh nắng chan hòa trong tâm trí.

Cộng đồng sinh viên Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Tula chụp ảnh cùng những người bạn Nga (năm 2016). Ảnh nhân vật cung cấp.

Thời gian mà tôi yêu thích nhất trong năm là mùa hè, mùa mà tôi có thể khoác ba lô và rong ruổi trên khắp nẻo đường nước Nga. Tôi háo hức đặt vé tàu, xếp hành lý và lên đường. Mùa hè nước Nga đẹp quá, bầu trời xanh cao, những cánh đồng hướng dương trải dài, những khung cảnh ngút ngàn, non nước mây trời… làm tôi quên đi những mệt nhọc sau hàng giờ gật gù trên ô tô hay tàu điện. Đó là lý do tôi vẫn thích đi du lịch bụi cho đến tận bây giờ, cảm giác tự mình mày mò và tìm hiểu thú vị hơn nhiều so với việc đi theo đoàn cùng một lịch trình lên sẵn. Có người hỏi tôi về chuyến du lịch trên đất nước Nga mà tôi nhớ nhất, hẳn tôi không ngần ngại mà nói rằng đó là chuyến đi đến Irkutsk và hồ Baikal. Dự định ban đầu của tôi chỉ đi trong hai tuần mà nó đã kéo dài đến một tháng rưỡi với biết bao kỷ niệm. Tôi vẫn giữ cuốn lưu bút viết trên tàu với những nét chữ nguệch ngoạc vừa viết vừa rung theo nhịp chuyển động không ngừng. Ước gì tôi có thể được ngắm Baikal ngay bây giờ, sau một ngày dài làm việc mệt mỏi. Tôi nhớ làn nước xanh trong ngỡ như đại dương bao la của hồ nước ngọt lớn nhất thế giới này. Cảnh sắc nước Nga thật khiến cho con người ta mê đắm, gợi nhớ lời bài hát của Vitas tôi vẫn hay nghe Ты мой дом, ты мой берег, Россия моя... Năm tháng dần trôi nhưng tôi chưa bao giờ hối tiếc vì đã dốc sạch hầu bao và sức trẻ để thỏa sức khám phá khi đang ở những tháng ngày tràn trề sức sống của cuộc đời. Như những gì mà chị bạn tôi đã nói: “Đó là những năm vàng tuổi trẻ”.
Cuộc sống du học giúp tôi từ một đứa ở nhà được mẹ chiều chuộng, nấu ăn vụng về cũng thành người biết xoay xở, tự lo cho cuộc sống cá nhân khá ổn. Bằng chứng là ngần ấy thời gian du học tôi cũng ít ốm đau, luôn vui vẻ và hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Tôi chỉ luôn mong sao mùa hè hoặc mùa thu dài hơn một chút, thế chỗ cho cái lạnh giá của mùa đông và cái ẩm ướt khi xuân đến tuyết tan. Bạn bè ở nhà khi nói chuyện thường trầm trồ về những cảnh băng tuyết đẹp như cổ tích, ao ước nhìn thấy tuyết dù chỉ một lần. Tôi cũng từng thế, háo hức nhìn những bông tuyết đầu tiên nhưng giờ mỗi khi nghĩ lại tôi vẫn thấy sợ đôi chút. Tuyết thì đẹp thật đấy, nhưng khi tuyết đóng thành băng - thủ phạm của những vụ gây trơn trượt thì chắc ta không còn thích tuyết như vậy nữa. Nhiều lần tôi ê ẩm cả mình mẩy vì những cú trượt chân giữa phố; cộng thêm việc tôi tự thấy mình cũng không có duyên với các môn thể thao liên quan đến tuyết sau những lần thử chơi đầy khốn khổ. Môn tôi thích nhất chắc là trượt phao mùa đông, môn thể thao thật trẻ con nhưng với tôi nó thật an toàn. Lại nhớ có những ngày bão tuyết nhưng vẫn phải đi chợ mua đồ ăn, tôi lao đi, tuyết táp vào mặt lạnh rát, mù mịt không thấy đường, chỉ mong nhanh về với căn phòng nhỏ ấm áp yêu thương. Điều khiến tôi có cảm tình nhất với mùa đông là thời gian nghỉ lễ Năm mới. Tầm tháng12 tôi hay lên Moskva để thăm bạn bè hoặc các em, tranh thủ thưởng thức và ngắm nhìn không khí năm mới đang ngập tràn. Bỗng chốc thủ đô khoác lên mình những bộ cánh thật rực rỡ, lung linh và đầy ắp sắc màu. Quảng trường Đỏ, Gum là nơi rực rỡ nhất. Nói đến đây mà tôi đã tưởng tượng ra mình đứng ngay giữa Quảng trường Đỏ, hòa vào dòng người, cảm nhận mọi thứ xung quanh bằng tất cả các giác quan. Mỗi lần đến đây là một lần tôi có cảm giác hoàn toàn khác, vừa mới mẻ lại vừa thân thuộc biết bao.

Tác giả bài viết chụp tại khuôn viên Trường Đại học Sư phạm Quốc gia Tula (năm 2014). Ảnh nhân vật cung cấp.

Cuộc đời du học sinh tại Nga cũng cho tôi cơ hội đến nhiều nơi, được giao lưu học hỏi nhiều điều. Quan trọng nhất là được đồng hành cùng những người bạn thân thiết; cả cô bạn thân từ thời cấp ba, lên đại học không gặp nhau nhưng rồi vẫn may mắn được cùng du học tại Tula. Bên bạn bè, nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương Việt Nam như được san sẻ. Năm đầu tôi đón Tết xa nhà, mồng Một Tết vẫn phải đi học, Giao thừa chẳng có không khí như ở nhà, bố mẹ người thân gọi điện hỏi han suốt làm tôi tủi thân và bật khóc. Những năm sau đã viết bày biện nấu nướng, đón Giao thừa, xếp mâm ngũ quả cùng bạn bè. Thời khắc Giao thừa cùng nhau đắp người tuyết, đi khắp ký túc xá chúc Tết, lì xì lũ em nhỏ những phong bao đỏ tự làm, có khi còn karaoke thâu đêm suốt sáng… Năm cuối tôi học Thạc sĩ là năm đầu tiên chúng tôi được nhà trường cho phép tổ chức Tết Nguyên đán. Phải nói chúng tôi háo hức như thế nào, gói bánh chưng, mở chợ Tết, trang trí cành đào… Tết Việt Nam xa mà cũng thật gần. Càng ở trong những hoàn cảnh thiếu thốn, ta mới thêm trân trọng những gì mình có, biết tự vươn lên và làm cuộc sống có ý nghĩa mỗi ngày. Những ngày đầu đi học nhớ gia đình biết bao, thì những ngày cuối chuẩn bị rời xa đất nước Nga lại càng lưu luyến bấy nhiêu. Mỗi khi có dịp được nhấm nháp chút bánh mì đen, đĩa súp Borsch tự nấu hay vài chiếc bánh Blin phết mứt hoa quả; hương vị nơi xa xôi lại ùa về trong tôi. Đôi mắt hơi nhòe đi và lòng miên man theo cảm xúc. Tôi để mình trôi theo cảm xúc ấy để nhớ hoài không quên hồn Nga đã thấm sâu vào hơi thở, tâm thức mình như thế nào.
Đất nước Nga, con người Nga thật khiến người ta nhớ mãi. Tôi nói với bạn bè mình rằng Nga là quê hương thứ hai của tôi và ước mơ được quay lại miền đất ấy khiến tôi luôn thổn thức. Bao lần tôi mơ mình đang được thả tung làn tóc qua khung cửa sổ xe bus, đi qua những lối nhỏ vào khu chợ nhỏ bên đường, len lỏi vào khu chợ Việt để tìm mua hương vị thân quen… Trong những năm tháng xa gia đình, chính những con người Nga hiền hòa đã sưởi ấm trái tim tôi. Tôi nhớ như in hình ảnh cô giáo Marina dạy dự bị tiếng Nga năm nào, cô như người mẹ, người cô che chở cho chúng tôi, dạy chúng tôi biết bao điều; không quên tự tay làm bánh hay những món ăn tặng chúng tôi mỗi dịp. Cô có thể thuộc được hết những cái tên Việt Nam dài ngoằng, hao hao tựa tựa nhau của lũ trò nhỏ. Tôi còn nhớ lần gặp bà bán bánh ngọt ở chợ gần trường tôi. Đó là ngày mùa đông lạnh giá, tuyết và gió lạnh làm cay xè đôi mắt. Ngày mai là ngày tôi lên máy bay về Việt Nam ăn Tết, mặc gió tuyết tôi ra chợ mua bánh về làm quà. Dừng chân ở quầy bánh, tôi mua ít đồ và gặp bà bán hàng rất hiền lành. Bà ân cần hỏi tôi, thông cảm cho những sinh viên xa nhà như tôi. Bà tặng tôi một phong sôcôla để đem về làm quà cho gia đình. Có lẽ đó là phong sôcôla ý nghĩa nhất tôi từng được tặng. Trong suốt quãng thời gian ở nơi đây, không thể đếm được biết bao lần tôi đã gặp những con người Nga tốt bụng như vậy: Là người phụ trách thư viện tận tâm; hay chỉ là bà lao công nghèo; người phụ nữ trung tuổi gặp trên đường bảo vệ chúng tôi khỏi sự trêu trọc của một gã say rượu... Sau này, khi có dịp được dạy các em sinh viên người nước ngoài, tôi như nhìn được hình ảnh mình trong các em. Tôi tâm niệm mình cũng sẽ giúp đỡ các em như những con người Nga đã giúp đỡ tôi năm nào. Các em sinh viên chính là nguồn động lực, cổ vũ tôi vững tay lái đò dù còn nhiều khó khăn phía trước.
Quãng thời gian thanh xuân tươi đẹp quá nên tôi thường hay tiếc nuối, vì chẳng bao giờ ta có thể quay lại được một lần nữa. Hành trình sống và học tập tại nước Nga - quê hương thứ hai của tôi là những kỷ niệm đẹp không thể nào quên. Chắc chắn tôi sẽ quay lại nơi ấy để thăm lại thanh xuân tươi đẹp của mình. Thanh xuân ấy, vì có nước Nga bên tôi mà trở nên tươi đẹp.
30/11/2020
Lưu Thu Trang
Theo https://www.qdnd.vn/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...