Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026
Lê Phương Liên an nhiên "Quá giang lục bát"
Lê Phương Liên an nhiên
Có thể ví von một cách hình tượng rằng, tập thơ Quá giang lục bát của thi sĩ Lê Phương Liên là chiếc bình cổ với chất liệu lục bát truyền thống chứa đựng thi ngôn chưng cất từ cảm xúc, quán niệm của một hồn thơ mẫn cảm, thanh sạch, tâm thế an nhiên.
Mệnh đế vương - "Mệnh trời" hay "Lòng người"
Mệnh đế vương
"Mệnh trời" hay "Lòng người"?
Tôi đã không nghĩ tác giả quyển sách “Mệnh đế
vương” thuộc loại tiểu thuyết lịch sử có sự đồ sộ về kiến thức, giọng văn
mạnh mẽ lại là một nhà văn nữ – Trương Thị Thanh Hiền. Tác giả sống
và làm việc ở An Giang, quyển sách “Mệnh đế vương” đã nhận Giải nhì Cuộc
thi tiểu thuyết lần thứ V (2016-2019) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.
Quyển sách dày tận bốn trăm trang, tôi xem đó là thử thách
cho những ai mong muốn đọc và tìm hiểu. Tác phẩm kể về những cuộc nội chiến của
triều đình lịch sử Việt Nam, cụ thể là triều đại Lý – Trần, đó là một bước ngoặt
rất lớn khi Việt Nam lần đầu có Nữ hoàng đế đầu tiên – Lý Chiêu Hoàng. Đánh dấu
cho buổi hoàng hôn hào nhoáng dần lịm tắt của nhà Lý gầy dựng và buổi bình minh
rực rỡ của nhà Trần. Tưởng chừng đó chỉ là một chuyện xưa tích cũ, không mấy rõ
ràng nhưng dưới góc nhìn và ngòi bút của mình, Trương Thị Thanh Hiền miêu tả thật
sự sống động tính cách lẫn nội tâm từng nhân vật mà nổi bật là Lý Chiêu Hoàng,
Trần Cảnh, Trần Thủ Độ… những nhân vật có thật trong lịch sử.
Ta biết đến Lý Chiêu Hoàng là một Nữ Đế đầu tiên của phong kiến
Việt Nam, chỉ dừng có thế nhưng nhà văn đã thâm nhập, tạo ra một vị vua có những
nội tâm đầy xáo trộn, luôn suy nghĩ đến việc giành lại ngôi báu cho nhà Lý và
đánh bật các âm mưu dòng họ Trần. Những cuộc giao tranh khốc liệt diễn ra, mà
Thái sư Trần Thủ Độ cho rằng là tạo phản. Nội chiến âm ĩ, tranh giành quyền lực
khiến nàng mang sự u buồn, có khi giận dữ, nàng nói với chồng mình là Trần Cảnh
(bấy giờ đã làm vua):
“Bệ hạ biết nỗi lòng thiếp như thế nào? Bệ hạ có bao giờ hỏi
thiếp hay nằm mơ thấy gì không? Nếu bệ hạ vẫn hay mơ về những điều đẹp, thì thiếp
thấy những giấc mơ kinh hoàng. Bệ hạ có những hình ảnh đẹp về cha mình còn thiếp
mỗi khi nhắm mắt lại chỉ thấy vị thiên tướng lúc thì hùng hổ lúc thì yếu ớt bị
người ta treo cổ. Bệ hạ nghĩ về mẹ với những tình cảm thiết tha, với tuổi thơ
hiền hòa được mẹ ôm ấp, còn thiếp, mẹ chỉ đến với thiếp khi nào cần ở thiếp thứ
gì đó mà thiếp có, như ngai vàng chẳng hạn…”
Nàng bỗng thấy sự chua chát cho số phận mình là nữ nhi, là dấu
gạch nối cho buổi giao thời binh biến. Ngoài ra Lý Chiêu Hoàng được khắc họa là
một người vợ hiền bên cạnh Trần Cảnh, yêu chồng nhưng muốn giành lại ngôi vị vốn
có chính là sự khắt họa tài tình của nhà văn. Dường như mọi ưu phiền mệt mỏi biến
tan đi khi có Thiện hoàng – Trần Cảnh bên cạnh, đó là sự chở che duy nhất còn
sót lại khi dòng tộc họ Lý bị lưu vong gần hết, hoặc bị giáng chức thấp bé để
không nắm giữ binh quyền.
Riêng về Trần Cảnh, vốn xuất thân trong làng chài nhưng nhờ
mưu trí Thái sư Trần Thủ Độ mà ngồi trên ngôi báu, dù bao việc triều chính
nhưng chàng vẫn chung thủy với vợ thậm chí hết mực yêu thương. Mệnh đế vương,
lúc này như ám chỉ chính chàng là Thiên tử, thế nhưng trái tim nóng hổi của một
chàng trai còn trong huyết quản, khi nghe tin dòng họ Lý có người bắt đầy nổi
lên, tạo phản, e sợ vấn đề bất trắc chàng đã đặt mọi tâm trí vào một người duy
nhất – Lý Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng:
“Lý Phật Kim. Ta và nàng nên thẳng thắn với nhau. Mong rằng
sau này hai ta không còn hố sâu ngăn cách nữa. Nàng là Chiêu Thánh Hoàng hậu,
là vợ ta của Thiện hoàng Trần Cảnh này. Nàng không có tội với họ Lý. Nàng không
có trách nhiệm gì với chiếc ngai vàng. Nó còn hay mất là do mệnh trời. Mà nếu
không phải vì mệnh trời thì cũng do ở lòng người. Tà thà để hậu thế chê cười đã
cướp ngôi nhà Lý còn hơn là để nàng chịu tội làm mất ngôi. Vì vậy, nàng hãy yên
tâm sống. Nàng hãy vui hưởng những gì nàng có, hạnh phúc làm mẹ, hạnh phúc làm
vợ… Đêm nay, quân triều đình tấn công Quắc Hương vì công chúa Chu Vũ âm
mưu chống lại triều đình, đưa một người họ Lý nào đó trở lại ngôi. Ta không biết
người ấy. Nàng càng không biết người ấy. Nàng chỉ cần nhớ một điều, đêm nay
nàng ở cùng ta suốt đêm làm lễ Vu Lan. Và đã từ lâu không gặp Chu Vũ công chúa.
Đúng như vậy không, Lý Phật Kim?”
Đậm đà tình phu thê là những gì nhà văn muốn truyền tải, hiện
ra trong mắt người đọc là hai con người đang đau khổ vì đấu tranh, giành giật
quyền lực, họ khao khát thành người bình thường, muốn tự do trong tình yêu và
thời đại.
Quyển sách mang cho người đọc cảm xúc cảm thông cho nhân vật,
sự trải dài trong không gian và thời gian, ngoài ra các tuyến nhân vật phụ như:
Trần Ngọc Mai, Phạm Đức Việt, Nguyễn Nộn, Lý Huệ Tông… với số lượng nhân vật đồ
sộ ấy được nhà văn sắp xếp hợp lý làm tô điểm cốt truyện thêm tỏ rõ. Quyển sách
thật sự đáng đọc cho những ai đam mê văn – sử, như một phần tìm hiểu về một
giai đoạn đã qua mặt khác là cùng cảm thương, cùng chia sẻ cho từng nhân vật, số
phận đương thời.
7/5/2024
Huỳnh Chí Thiện
Theo https://vanvn.vn/
Cái đẹp hủy diệt của Mishima Yukio
Cái đẹp hủy diệt của Mishima Yukio
Một ngày của năm 1950, cả nước Nhật bàng hoàng
vì sự kiện một chú tiểu phóng hỏa đốt cháy tòa Kim Các Tự – di sản hơn 500 tuổi
ở Kyoto. Sáu năm sau, Mishima Yukio đã thu thập tài liệu liên quan đến vụ việc,
và viết nên tiểu thuyết “Kim Các Tự”.
Ông lý giải hành động đốt chùa là hành động của kẻ yêu cái đẹp
– một tình yêu cực đoan đến mức hủy diệt. Kim Các Tự trở thành tác phẩm
nổi tiếng nhất của Mishima Yukio – nhà văn đương đại Nhật Bản, từng hai lần được
đề cử Nobel Văn chương. Tác phẩm cũng từng được trao giải Văn học Yomiuri năm
1956.
Kim Các Tự – tòa kiến trúc ba tầng với “hai tầng trên dát
vàng rực rỡ, nằm trong khuôn viên chùa Lộc Uyển” xuất hiện ngay từ dòng đầu
tiên của cuốn sách. Ấn tượng ấy ở lại trong xuyên suốt ký ức của Mizoguchi – cậu
bé được sinh ra và lớn lên ở phía đông bắc Maizuru (Nhật Bản). Đó là khi cậu
nghe cha kể về vẻ đẹp diễm lệ của Kim Các Tự, trong hình dung của cậu như là một
vẻ đẹp tuyệt đỉnh, bất biến.
Cho đến một ngày, cậu chính thức trở thành tiểu tăng của Kim
Các Tự, được tận mắt nhìn ngắm báu vật trong tâm tưởng, nhưng vẻ đẹp trong đời
thực của tòa Kim Các chừng như đã khiến cậu thất vọng. Một tiểu tăng với tinh
thần bất định, luôn tự ti vì tật nói lắp và luôn cảm thấy cô độc với những ý
nghĩ của chính mình. Cái đẹp mà cậu nuôi dưỡng, cảm nhận về Kim Các Tự không thể
giãi bày, chia sẻ cùng ai. Thực tế trước mắt và những gì phải trải qua trở
thành ẩn ức khiến cậu nghĩ rằng, mình phải đốt cháy Kim Các Tự. Vẻ đẹp ấy chỉ
nên tồn tại trong tâm tưởng, trong hình dung về cái đẹp vĩnh cữu.
Nhà văn Mishima Yukio dựng lại tòa Kim Các Tự đã bị đốt cháy
bằng vẻ đẹp duy mỹ của ngôn từ. Ông miêu tả từng chi tiết kiến trúc, tái hiện
trước người đọc hình ảnh di sản đã mất của Kyoto đầy vẻ diễm lệ, lấp lánh vô
song. “Khói cuồn cuộn và lửa đang bốc lên trời. Hằng hà sa số tàn lửa bay chen
giữa cây cối, và bầu trời phía Kim Các như được rải vàng kim” – khoảnh khắc Kim
Các Tự hóa thành tàn tro và chú tiểu Mizoguchi ngồi trên đồi cao nhìn ngắm như
một khoái cảm của hủy diệt và tồn tại.
Cái đẹp trường cửu chính là cái đẹp đã bị hủy diệt – là
một tư tưởng có phần cực đoan. Đây cũng là điểm gây tranh luận về tác phẩm của
Mishima Yukio và cũng là triết lý làm nên giá trị trong tác phẩm của ông. Kim
Các Tự là câu chuyện về cái đẹp, đồng thời cũng là câu chuyện về ẩn ức tâm
lý của con người. Bối cảnh truyện diễn ra vào thời điểm cuộc chiến Thái Bình
Dương nổ ra, Nhật Bản bị tấn công bởi không quân Mỹ… Ngôi chùa đã không bị bom
đạn tàn phá, mà là do con người. Cái đẹp kiến tạo hay hủy diệt, đều do con người.
Một câu chuyện chứa đựng triết lý về thiền học, triết học, Phật
học. Và toàn bộ tiến trình của đời sống đều là vẻ đẹp duy mỹ trong trang viết của
Mishima Yukio. Cách ông miêu tả một cái chết, một đám tang, một nỗi thất vọng…
cũng mang một vẻ đẹp kỳ vĩ, lạ thường. Cái kết cho cuộc đời nhà văn cũng lạ thường
như những trang văn của ông.
Nhà văn Mishima Yukio từng viết các tác phẩm Khát vọng
yêu đương (năm 1950), Tiếng triều dâng (năm 1954, giải thưởng
Văn học Shinchosha, đã xuất bản tại Việt Nam)… Sau khi hoàn thành bản thảo Năm
tướng suy của người trời (tập thứ 4 trong tác phẩm trường thiên Biển
phì nhiêu, 1970), nhà văn đã tự sát…
7/5/2024
Cầm Thi
Nguồn: Báo Phụ Nữ
Theo https://vanvn.vn/
Người kể chuyện "Mệnh đế vương" và vai trò người đọc trong nghệ thuật tự sự
Người kể chuyện "Mệnh đế vương"
và vai trò người đọc trong
nghệ thuật tự sự
Tân lịch sử là dòng văn học phát triển khá rầm rộ, với
nhiều thành tựu rực rỡ. Thế hệ hậu sinh muốn nương theo lịch sử để đi tìm những
bí ẩn, những khuất lấp chưa được vén màn. Trương Thị Thanh Hiền với “Mệnh đế
vương” đã phục dựng lại một thời kỳ lịch sử hơn 40 năm từ cuối triều đại Lý Hạo
Sảm đến hết đời Trần Cảnh. Song, điều đáng nói không phải là ở chiều dài thời
gian, hay chiều rộng không gian mà ở độ sâu của những tấn bi kịch tâm lý của
các nhân vật, trung tâm là số phận làm vua của Thiện Hoàng – Trần Cảnh.
Đến với mỗi tác phẩm văn học, chúng ta không thể không đặt những
câu hỏi: ai là người kể, kể về vấn đề gì, và kể như thế nào. Có lẽ đấy cũng là
nỗi trăn trở của mỗi nhà văn khi cầm bút, làm thế nào để thực hiện ý đồ của
mình một cách hoàn hảo nhất. Vì vậy, lý thuyết tự sự học kinh điển, với nhiều
tên tuổi như R. Barthes, G. Genette, T. Todorov, P. Ricoeur, Claude Bremond…,
đã dồn Người kể chuyện (Narrateur, NKC) vào trung tâm cấu trúc văn bản, nó
không chấp nhận bất kỳ hệ lụy nào từ phía tác giả.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về NKC. R. Barthes cho rằng:
NKC là nhân vật giấy, nó mang chức năng môi giới giữa thế giới nghệ thuật được
miêu tả với độc giả tiếp nhận[1]. T. Todorov thì cho rằng: NKC không chỉ mang
chức năng kể mà còn định giá và đánh giá[1]. Nhưng điều cần đặt ra ở đây là dựa
trên cơ sở nào để nhận diện NKC. G. Genette đã dựa trên mối quan hệ giữa người
thuật truyện và câu chuyện mà anh ta kể, để nhận diện NKC. Và ông đã chia NKC
ra làm 3 kiểu: NKC dị sự, NKC đồng sự và NKC tự thống chế.
Trên cơ sở lý thuyết tự sự học ấy, chúng ta nhận thấy NKC
trong Mệnh đế vương là NKC dị sự toàn năng. Đây là kiểu tự sự giấu mặt. NKC đứng
sau nhân vật để bài trí, tổ chức, sắp xếp câu chuyện. Anh ta đứng ngoài nhưng lại
lộng quyền phán xét. Với cách kể này, tác giả Mệnh đế vương có cơ hội phản ánh
mọi vấn đề, mọi sự kiện của lịch sử, chính trị, văn hóa, tôn giáo… Ở đó, NKC có
một năng lực vô song của nhà biên sử, nhà y học, nhà biên soạn và khảo cứu
Folklore và đặc biệt là nhà phân tích tâm lý.
Tái hiện một thời kỳ lịch sử đầy bạo loạn, binh đao khói lửa
không gì trực tiếp cho bằng miêu tả việc chuẩn bị vũ khí. NKC đã chọn được điểm
khởi sự đắc địa. Bởi ở đó, NKC không chỉ có cơ hội để thêu dệt nên những truyền
thuyết, huyền thoại về nghề rèn, mở rộng không – thời gian tác phẩm mà còn trực
tiếp tạo dựng mối quan hệ quen biết giữa các nhân vật xoay quanh lò rèn của lão
Kiền. Cũng từ cách kể đó, NKC đánh giá phán xét thời cuộc, trách cứ con Trời
gây ra cảnh loạn ly, máu chảy, đói kém trăm bề: có trách thì trách ông trời…
còn muốn trách gần hơn nữa thì trách con của trời[2]. Để từ đó NKC đi vào tâm
điểm câu chuyện.
Tâm điểm câu chuyện là câu chuyện làm vua của Lý Hạo Sảm, Lý
Chiêu Hoàng và Trần Cảnh. Xoay quanh là bi kịch của biết bao nhân vật khác từ
Thái sư Trần Thủ Độ, Thái sư phu nhân Trần Thị Dung, Công chúa Chu Vũ, Thuận
Thiên… đến cả những cung nữ như Dương Diên, Dương Nghi; gia nô Phạm Đức Việt,
Phạm Gia Tú; và cả Lưu nhân, Lưu Hòa, Nguyễn Phước Hậu… Đọc Mệnh đế vương chúng
tôi nhận thấy, hầu hết nhân vật trong tác phẩm đều có bi kịch và những bi kịch ấy
gần như mang chung một tên là bi kịch của thân phận mà cụ thể là bất đắc dĩ
sinh ra mang trong mình sứ mệnh đế vương.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh vì vương quyền các thế lực sẵn
sàng dẫm đạp lên nhau, lên đạo lý và lương tri, nhưng liệu ai đã dặt ra câu hỏi
và trả lời rốt ráo như Trương Thị Thanh Hiền, rằng những người sinh ra trong
vương quyền có hạnh phúc trong thân phận đế vương? Bằng cách kể lại cuộc đời của
các đấng bậc đế vương, NKC đã chỉ cho ta câu trả lời chân thực mà sinh động nhất
bởi nó đã chạm được vào những mê lộ bi kịch trong sự rối rắm của những thân phận
và tính cách.
Ngay như hoàng tử Lý Hạo Sảm đâu có muốn ngồi trên chiếc ngai
vàng được xây bằng vô số thây người chết đói, chiếc ngai vàng nhuốm lênh láng
máu của anh em chú bác mình, ông chỉ muốn sống yên vui bên nàng Ngừ, sẵn sàng
đánh đổi ngôi báu vì nàng. Rốt cuộc ngai vàng thì ông không giữ được vì quanh
mình không người thân cận phò tá, bản thân lại là kẻ mềm yếu từ bi, cận thần nổi
loạn khắp nơi… mà tình yêu của nàng Ngừ ông cũng không bao giờ có được, ông chỉ
lãnh nhận về cho mình người đàn bà Trần Thị Dung, cùng với tham vọng đoạt vị
soán ngôi vô bờ của dòng họ Trần.
Hay nàng Ngừ mang trong mình bi kịch cũng chỉ vì vận vào lời
sấm của thầy địa lý: Phấn son chiếu về. Hoa sen nở trước mặt. Ngày sau nhờ sắc
đẹp đàn bà mà lấy được thiên hạ[2], mà Trần Thị Dung phải vâng mệnh làm vợ ông
vua yếu đuối, ẻo lả Lý Hạo Sảm, bà mang tội giết chồng (Lý Hạo Sảm) rồi lại lấy
kẻ giết chồng (Trần Thủ Độ), bà lại đoạt vương quyền và cả hạnh phúc của đứa
con gái tội nghiệp Lý Chiêu Thánh… Nhưng bà được gì cho bản thân ngoài đau khổ
mà chính NKC đã khẳng định bằng một câu hỏi xót xa số phận nào đã buộc bà hy
sinh nhiều như vậy?[2].
Cuộc đời của Lý Chiêu Thánh cũng không một phút được hạnh
phúc. Tuổi thơ thiếu vắng tình cảm mẹ cha, bởi mới 7 tuổi đầu nàng đã phải mang
trên mình gánh nặng vương quyền. Được hưởng chút vuốt ve của mẹ thì phải đánh đổi
bằng chiếc ngai vàng mà đến khi lớn lên nàng luôn mang trong mình mặc cảm là kẻ
phá tan cơ nghiệp của ông cha, dòng họ, xé tan những trang sử vàng hiển hách của
dòng họ Lý oai hùng. Bao giờ nàng cũng sống trong đau khổ và căm thù những người
ruột thịt nhất, đặc biệt là mẹ mình – người đàn bà mang họ Trần. Nỗi đau như vồ
vập cuốn xé nàng:
Nhường ngôi đã vậy lại nhường chồng
Nông nỗi chàng ôi có thấu lòng
Vẫy nước đùa nhau thành sóng cả
Dâng triều lên cuốn thiếp giữa dòng.
Nhưng có khác gì Chiêu Thánh, Thiện Hoàng cũng sống trong nỗi
đọa đày khốn cùng của thân phận đế vương. Làm vua dưới quyền của Quốc Thượng phụ
Trần Thủ Độ, đến khát vọng hạnh phúc giản dị vợ chồng như một người dân thường
cũng không thể được bởi người là vua. Chàng yêu thương Phật Kim hơn cả bản thân
mình, không chỉ vì nàng đã trao cả giang sơn cho chàng mà sâu xa là chàng hiểu
được những bi kịch đớn đau của người từng là vua, là vợ mình. Tột cùng bi kịch
của hai người là mưu lược tráo phượng đổi hoàng của Thái sư Trần Thủ Độ, để
Đông cung có chủ thì Thiện Hoàng phải dẹp hết tình riêng mà vì đại cuộc. Phế
truất hoàng hậu Chiêu Thánh, lập Thuận Thiên làm hoàng hậu. Đó không chỉ là bi
kịch chia uyên rẽ thúy của riêng Thuận Hoàng – Chiêu Thánh, mà còn là bi kịch của
Trần Liễu – Thuận Thiên, của người mẹ bất đắc dĩ phải vô tình với hạnh phúc của
hai đứa con… Đó cũng là đầu mối để nhân vật bộc lộ tính cách rõ ràng nhất, cũng
từ đó, số phận của mỗi nhân vật rẽ về mỗi hướng khác nhau: Thiện Hoàng thoát tục
không xong, vẫn phải kiên trì mang trên lưng cây thập giá của đời mình – số phận
làm vua, còn Chiêu Thánh lui về bóng tối, về lãnh cung u uẩn như chính tâm sự của
đời nàng.
Nếu Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu thuyết Hồ Quí Ly muốn chia sẻ
những khó khăn to lớn của một nhà cách tân vĩ đại thì ở Mệnh đế vương Trương Thị
Thanh Hiền đi sâu phân tích những bi kịch tâm lý sâu sắc – bi kịch của người
mang số phận làm vua, cho đến khi xuất thế nhập thiền Văn Hoàng còn phải ngậm
ngùi: Số phận của ta là số phận của một đế vương, phải gắn liền với số phận của
trăm họ, cho nên bây giờ đã là người tự do, ta vẫn không nỡ bỏ ra đi, vẫn quanh
quẩn quanh Đại Việt này cho đến chết, để khi nhắm mắt xuôi tay vẫn tự hào rằng
mình đã làm tròn bổn phận đế vương[2]. Vì vậy, nhân vật lịch sử trong tác phẩm
hiện lên không phải để được tôn vinh hay nhằm giải thiêng mà NKC đã khôi phục lại
diện mạo của ý thức hệ tư tưởng Nho giáo thời bấy giờ và con người là nạn nhân
của ý thức hệ ấy, con người không vượt qua vòng cương tỏa của nó, kể cả Thiên tử.
Mệnh đế vương còn ngồn ngột biết bao huyền thoại, truyền thuyết
về mỗi vùng đất, con người và sự ra đời hay suy vong của mỗi triều đại. Đó là
truyền thuyết về làng Cổ Pháp quê hương Thái Tổ Lý Công Uẩn và sự ra đời đầy mộng
triệu của vị vua lịch sử huyền thoại này. Hay sự suy thoái của Lý Hạo Sảm ứng với
câu thơ Mặt trời gác núi thế là hết (chữ Sảm gồm chữ Nhật ở trên chữ Sơn)… NKC
tài hoa đã lồng vào giữa những biến cố tang thương ấy là những truyền thuyết hư
ảo, những yêu thương và hận thù song câu chuyện vẫn chặt chẽ thống nhất đến bất
ngờ.
Nhưng, cũng khởi đi từ NKC, bạn đọc đặt ra câu hỏi NKC là ai
mà có khả năng siêu phàm, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa tri
nhân sự như vậy? Tác giả nên chăng xác định vai cho NKC để câu chuyện thêm phần
thuyết phục, ngược lại, bạn đọc có quyền hoài nghi, liệu NKC ở đây là kẻ nói dối
có ý thức.!
Thêm nữa, đọc xong dòng cuối của tác phẩm là người đọc như thấu
triệt được nội dung mà tác phẩm muốn chuyển tải. Chính lối viết quá ư đầy đủ,
phân tích kĩ lưỡng của ngòi bút Trương Thị Thanh Hiền đã đẩy người đọc vào cảnh
an nhàn, thanh nhã trong thụ động. Bởi NKC như Chúa toàn năng nắm trong tay
mình toàn bộ chân lý vĩ đại của loài người, và độc giả như những con chiên chịu
sự dắt dẫn ấy. Độc giả hiện đại không an phận thụ động lãnh nhận mà phải là người
đồng sáng tạo, họ tích cực kiếm tìm chân lý nhưng cội nguồn ý nghĩa ở văn bản
đã được bóc tách cụ thể nên cuộc tìm kiếm đó trở nên vô ích bởi đi đâu họ cũng
gặp điều mà NKC đã kể, và nghĩa là gặp lại chính mình.
Vấn đề chúng tôi đặt ra có thể còn mang màu sắc chủ quan cảm
tính. Song, không hiểu sao khi đọc xong Mệnh đế vương tôi có cùng cảm giác như
khi đọc Mật mã Da vanci, vụ án đã khép lại, lịch sử đã khép lại, nó không thôi
thúc tôi mở sách ra lần thứ hai. Điều đó hoàn toàn khác với cảm xúc khi tôi cầm
trên tay cuốn Tên của đóa hồng, cũng là tác phẩm trinh thám, vụ án đã trở nên
minh bạch, thủ phạm đã bị trừng phạt bằng cái chết thảm khốc, nhưng tác phẩm vẫn
cứ ám ảnh, réo gọi người đọc truy tìm những đường dẫn đến chân lý. Có lẽ,
Umberto Eco đã dấn thân Đi tìm sự thật biết cười[3], khi cho rằng: Có lẽ sứ mệnh
của kẻ yêu nhân loại là biết làm cho con người cười vào chân lý, làm chân lý cười
lên, vì chân lý duy nhất là việc học để giải phóng chúng ta ra khỏi sự đam mê
chân lý một cách mù quáng [4].
Tài liệu tham khảo:
[1] Trần Huyền Sâm (biên soạn và giới thiệu,
2010), Những vấn đề lý luận văn học phương Tây hiện đại, NXB Văn học, tr.
262.
[2] Trương Thị Thanh Hiền (2011), Mệnh đế vương,
NXB Hội Nhà văn, tr.7, 112, 314, 614.
[3] Tên sách của Umberto Eco (2004), Đi tìm sự thật
biết cười, Nxb Hội nhà văn, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây.
[4] Umberto Eco (Đặng Thu Hương dịch, 1989), Tên của
đóa hồng, NXB Trẻ TP HCM.
7/5/2024
Nguyễn Thị Tuyết
Theo https://vanvn.vn/
Hình, tình và ý trong thi luận của Hồ Thế Hà
Hình, tình và ý trong
thi luận của Hồ Thế Hà
Ngoài Phê bình Ấn tượng, Hồ Thế Hà còn vận dụng
linh hoạt các phương pháp phê bình khác phù hợp với phong cách mỗi nhà thơ. Chẳng
hạn, từ góc nhìn Kí hiệu học, ông đã phân tích sâu sắc về ý nghĩa của thế
giới biểu tượng trong thơ Hàn Mặc Tử từ đạo nguồn đến nghệ thuật. Hay từ Lý
thuyết cổ mẫu và Phân tâm học, Hồ Thế Hà đã diễn giải rõ thơ Nguyễn Quang Thiều
nhìn từ mẫu gốc và những mảnh vỡ tiềm thức trong thơ Nguyễn Hoa. Thiên tính nữ
trong thi giới thơ Xuân Quỳnh…
1. Hình trong cấu trúc thi luận và những luận giải khoa học
Những năm trước trước đây, khi đọc các tập thơ của Hồ Thế
Hà [4], tôi đã nghĩ rằng thơ anh giúp người đọc “hiểu hơn về tâm sự, quan
niệm sống của anh từ lĩnh vực nghiên cứu khoa học đến lao động nghệ thuật, từ
quan niệm về đời sống tâm linh đến quan hệ ứng xử và giao tiếp của con người
trong xã hội. Đằng sau các biểu tượng quen thuộc là tinh thần mới của tác giả
giúp người đọc mở rộng trường nhận thức, khám phá những giá trị văn hoá truyền
thống còn chìm khuất trong lòng đời sống cộng đồng xã hội. Hồ Thế Hà như thế đã
làm chủ năng lượng tinh thần của ngôn ngữ tiếng Việt” [3, tr.24].
Năm 2018, tiếp tục đọc tập tiểu luận phê bình Thơ Việt
Nam hiện đại, thi luận và chân dung, Nxb Hội Nhà văn 2018, tôi càng thấy rõ hơn
“kiểu Hình” riêng của Hồ Thế Hà trong hành trình nghiên cứu khoa học và sáng tạo
nghệ thuật đầy đam mê của anh. Tập tiểu luận Thơ Việt Nam hiện đại, thi luận
và chân dung ra đời góp phần khẳng định thêm đặc trưng riêng của phong
cách nhà phê bình tài hoa này. Nhiều người cho rằng, sự cẩn trọng trong nghiên
cứu, sáng tạo đến lối sống nhân ái trong cuộc đời luôn tỏa sáng trên gương mặt
Hồ Thế Hà, kể cả khi anh có đột ngột bị những cơn tai biến do tuổi tác hỏi
thăm. Hẳn các văn nghệ sỹ, giới nghiên cứu phê bình cả nước không ai không nhắc
đến Hồ Thế Hà khi đặt chân đến thành phố Huế với nhiều “giai thoại”, nhiều câu
chuyện thú vị về anh. Tôi thiết nghĩ, sống ở đời chỉ cần giúp một vài người vui
và có hạnh phúc là cuộc sống mình đã có ý nghĩa. Với Hồ Thế Hà, xét từ đời sống
tinh thần, đến khoa học và sáng tạo nghệ thuật, anh đã giúp, đã động viên khích
lệ tinh thần, mang lại niềm vui đến không biết bao nhiêu người, bao nhiêu thế hệ
yêu văn chương. Tất cả bạn bè, các thế hệ học trò được dịp quen biết anh dù
thân, sơ cũng đều dành cho anh một tình cảm yêu mến chân thành, vì nhiều lẽ.
Tôi đã thử đọc, viết một vài lần về cuốn thi luận khoa học
công phu này của Hồ Thế Hà từ các góc nhìn khác như phê bình ấn tượng, phân tâm
học, thi pháp học…nhưng mãi cũng không thấy được bí mật đã giấu trong “Hình” của
cuốn sách này là gì? Chợt nhớ trong các câu chuyện vui liên quan đến anh, nhiều
người thường kể đến khả năng chơi trò chơi ngôn ngữ nói lái nhanh nhạy, trò
chơi đọc ngược từ nhưng luôn có nghĩa vui của Hồ Thế Hà! Hóa ra, điểm thú vị của
“Hình” Thơ Việt Nam hiện đại, thi luận và chân dung là ở chỗ có thể đọc
xuôi, có thể đọc ngược, có thể đọc từ giữa lên hoặc xuống, đọc từ trong ra, hoặc
từ ngoài vào đều thấy ổn. Ồ! Đó mới là trò chơi thú vị, thân mật của riêng Hồ
Thế Hà với những bạn đọc cùng thế hệ và cũng là những bài học về nghiên cứu thơ
Việt Nam sâu sắc anh dành cho các bạn đọc trẻ cách xa thế hệ anh hàng chục năm.
Nếu thử cách đọc ngược với chuyên luận khoa học này bạn đọc sẽ ấn tượng trước hết
với cách anh gọi tên những chân dung các nhà thơ khá thú vị từ các góc nhìn
khác nhau.
Trước hết, có thể nói ấn tượng nhất vẫn là những chân
dung nhà thơ được ông phân tích từ góc nhìn của phê bình ấn tượng như Lê Khánh
Mai – duyên mệnh thi ca. Những dòng mở đầu cho bài viết về thơ Lê Khánh Mai
chính là những tâm sự, những khái quát tri âm của Hồ Thế Hà không chỉ dành
riêng cho nhà thơ nữ đáng yêu này mà còn dành cho các bạn thơ, và các bạn đọc
thơ: “Có người bảo thơ là người. Nó không chính là người thơ thì cũng là cái
bóng của người thơ. Dĩ nhiên là lung linh, biến ảo và kỳ diệu hơn nhiều. Vì thơ
được thanh lọc và kết tinh từ những gì hiển minh và vô minh, từ hiện thực và hư
ảo, từ có và không, từ nhớ và quên…để trong từng khoảng khắc bừng ngộ, run rẩy
của cảm xúc và tâm hồn, thơ hiện lên thành hình hài câu chữ, thành khoảng lặng
của những tín hiệu lấp lánh lời giải đáp về những vấn đề muôn thuở của cuộc sống
và con người mà thi nhân kịp lưu giữ.”[1, tr. 441].
Cũng từ trực giác thơ thiên phú nhìn vào Bản mệnh thơ Bùi
Giáng, anh nhận định “Những nghịch lý trong sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng
đã làm thành tổng hòa của sự hội tụ chứ không phải là sự phân hóa thi pháp thơ…
Tìm hiểu bản mệnh thơ Bùi Giáng, theo tôi, phải tính đến sự cộng hưởng thi pháp
rất riêng này của ông” [1,tr.265]. Phân tích Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng
Vũ Thuật, Hồ Thế Hà cho rằng: “Sau những câu thơ rướm máu là những giọt nghĩ đứt
nối trong đêm không phải chỉ cho mình mà chính là cho những điều hằng cửu của
cuộc sống và thi ca. Thế giới màu trong ngôi nhà cỏ của Hoàng Vũ Thuật lung
linh mỗi sáng mà ở đó luôn có sự giao động giữa ánh sáng và bóng tối giữa ngày
và đêm giữa hiện hữu và hư vô giữa hiện thực và siêu thực giữa thất vọng và hy
vọng…Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật vẫn đang vẫy gọi sự đồng vọng
của những độc giả đồng sáng tạo” [1, tr. 333]. Cũng từ góc nhìn Thơ Hữu Thỉnh
– Tương hợp và đa thanh, Hồ Thế Hà đã phát hiện ra điểm quan trọng “Hữu Thỉnh
là nhà thơ có khả năng nắm bắt và cảm nhận đời sống ở dạng uyên nguyên, minh
triết của nó và thổi vào đó những kinh nghiệm quan hệ sống của mình một cách bất
ngờ và sáng tạo” [1, tr. 288].
Ngoài Phê bình Ấn tượng, Hồ Thế Hà còn vận dụng linh hoạt
các phương pháp phê bình khác phù hợp với phong cách mỗi nhà thơ. Chẳng hạn, từ
góc nhìn Kí hiệu học, ông đã phân tích sâu sắc về ý nghĩa của thế giới biểu
tượng trong thơ Hàn Mặc Tử từ đạo nguồn đến nghệ thuật. Hay từ Lý thuyết cổ
mẫu và Phân tâm học, Hồ Thế Hà đã diễn giải rõ thơ Nguyễn Quang Thiều nhìn từ mẫu
gốc và những mảnh vỡ tiềm thức trong thơ Nguyễn Hoa. Thiên tính nữ trong thi giới
thơ Xuân Quỳnh…
Anh cho rằng thơ Nguyễn Quang Thiều “hoàn toàn mang tâm thức
Việt, khung cảnh Việt, tâm hồn Việt, cao hơn là văn hóa Việt, thông qua những
hiện thực tâm trạng và hiện thực làng quê Việt mà tượng trưng là làng Chùa quê
anh nên thật sự đánh thức tâm hồn những người nhà quê trong mỗi chúng ta như
cách nói của Hoài Thanh khi nhận xét về thơ Nguyễn Bính cách đây hơn nửa thế kỷ.
Nhưng ở Nguyễn Quang Thiều cao hơn, hiện đại hơn, nghệ thuật hơn nên có sự phân
hóa trong người đọc là điều dễ hiểu” [1, tr.367]. Còn “Thơ Nguyễn Hoa không mới
về thể thơ và hình thức biểu đạt, nhưng lại có thế mạnh về vốn sống và sự ám ảnh
lớn về nhân sinh, kiếp người do anh biết lọc từ hiện thực những sự việc và kinh
nghiệm quan hệ giàu tính triết lý, chiêm nghiệm thông qua cách tổ chức tứ thơ,
hình ảnh thơ và liên tưởng thơ gần gũi mà bất ngờ” [1, tr. 454].
Từ Phê bình Sinh thái học, Hồ Thế Hà đã lý giải rõ những tiêu
điểm thẩm mỹ thơ Trịnh Công Lộc, đó là “sự hòa quyện những cảm hứng lớn về nhân
dân, đất nước, dân tộc cùng với cảm hứng thẳm sâu về thiên nhiên, về tình yêu
và môi trường sinh thái thông qua cảm thức hiện sinh cá nhân đầy thao thức và
trách nhiệm” [1, tr. 454]. Vận dụng kết hợp Phê bình Hậu hiện hiện đại, Hồ
Thế Hà đã phân tích sâu sắc vấn đề Thơ tạo sinh nghĩa Mai Văn Phấn. Theo anh
“Mai Văn Phấn là một hiện tượng riêng của nền thơ đương đại Việt Nam – mà là hiện
tượng riêng, liên tục lấp lánh và mới lạ” [1, tr. 388]. Ngoài ra, kết hợp giữa
Phê bình Thi pháp học và Mỹ học hiện đại, Hồ Thế Hà đã luận giải rõ các các dạng
thái cái tôi trữ tình trong thơ Bích Khê, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ từ thời chiến đến
thời hậu chiến; Phân tích sâu sắc vấn đề triết mỹ lục bát của Huy Cận
trong Lửa thiêng; Chế Lan Viên – người lạ mặt giữa thế giới điêu tàn.
Điểm qua bút pháp phê bình của “Hình” Hồ Thế Hà như vậy để thấy việc nhiều người
nói anh là nghệ sỹ thơ (vì anh vừa sáng tác, vừa đọc thơ hay, vừa có biệt tài
thuộc nhiều thơ hay, lạ, vui) hay là nhà phê bình thơ Việt tài hoa cũng không
ngoa!
2. Tình và Ý trong thi luận
Tiếp tục đọc ngược Thi luận, bạn đọc sẽ thấy rõ quá trình lao
động nghiêm túc, khoa học của Hồ Thế Hà trong hành trình đi tìm bản chất giá trị
của thơ. Ai bảo Hồ Thế Hà là lãng đãng thi sĩ, là nhớ nhớ quên quên, là lang
thang hò hẹn bóng hồng giữa các “chiến hữu thơ”, là hẹn hẹn nữa…lần sau nhé…
thì nên đọc chậm các bài viết này của anh. Phê bình của Hồ Thế Hà vì vậy có thể
nói là kiểu phê bình khoa học khách quan trong cái Tình sâu và Ý hay.
Các nhận định của Hồ Thế Hà về Thơ Việt Nam 1975 -2016,
Đặc điểm thơ hiện đại Việt Nam, Thơ lục bát Việt Nam trên hành trình hiện đại,
Thơ tranh đấu của học sinh sinh viên xứ Quảng 1954 -1975, Nhóm thơ Bình Định thời
kỳ Thơ mới (1930 – 1945), Quan niệm về thơ của Dạ Đài – tiếp biến lý luận văn học
phương Tây, Tiềm năng của ngôn ngữ trong sáng tạo và tiếp nhận thi ca, Cái tôi
trong thơ trữ tình, về Thơ mới, về Khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín hiệu của
cái nhạt trong thi ca đều có những phát hiện mới quan trọng, có khả năng định
hướng tốt cho các bạn đọc trẻ nhiều thế hệ sau. Bên cạnh đó, các luận giải của
Hồ Thế Hà về thơ hậu hiện đại Việt Nam, giá trị thơ, tính triết lý trong thơ đã
cho thấy một quan điểm rõ ràng, một tư thế đối thoại khoa học đầy bản lĩnh của
Hổ Thế Hà trước sự biến chuyển thú vị của dòng chảy thơ Việt Nam hiện đại.
Phân tích về Tiềm năng ngôn ngữ trong sáng tạo và tiếp nhận
thi ca, Hồ Thế Hà cho rằng: “Ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ là một
thứ ngôn ngữ có độ mở cao nhất và đánh thức được nhiều trường cảm xúc nhất, làm
cho quá trình đồng sáng tạo giữa tác giả và độc giả càng thêm phong phú. Tính
hướng nội mạnh, tính cá thể cao, tính hình tượng giàu sắc thái mỹ cảm luôn là sự
phấn đấu không chỉ riêng chủ thể sáng tạo (dĩ nhiên là phải dựa vào tư duy
lô-gích) mà còn tùy thuộc vào từng phương thức làm việc, gắn với đặc trưng từng
thể loại” [1, tr.32]. Hay nhận diện về Khoảng lặng của ngôn từ thơ
hay tín hiệu của “cái nhạt trong thi ca, Hồ Thế Hà xác quyết “tôi liên hệ
đến đặc trưng thể loại, thông qua cách tổ chức ngôn từ thơ, tham chiếu với cái
nhạt, lại thấy giữa chúng có điểm gặp nhau trong sáng tạo của người nghệ sĩ và
trong mục đích cuối cùng ở tài năng của người thưởng thức. Và từ đó dễ dàng thấy
được cái nhạt chính là phẩm chất, cao hơn, là mỹ học rất cần thiết của thi ca,
giúp thi ca trở thành những tín hiệu kỳ diệu, cao sang và minh triết cho con
người và cho đời sống nghệ thuật. Tôi hiểu khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín
hiệu của cái nhạt trong thi ca chính là với khả năng gặp gỡ, giao nhau đó” [1,
tr.32]. Đây là kiểu phê bình đối thoại khách quan mà các nhà triết học thường ứng
dụng trong lịch sử.
Ở Hồ Thế Hà, đối thoại là để tìm ra nguyên lý chung, xác lập
rõ hơn quy luật của sáng tạo nghệ thuật để từ đó người đọc không chỉ thấy được
vai trò quan trọng của quá trình sáng tác thơ mà còn cần chú ý hơn đến quá
trình tiếp nhận thẩm mỹ ở người đọc. Người tiếp nhận cùng với quá trình nỗ lực
khách quan hóa tầm đón đợi cũng là một vấn đề cần thiết cho cả sáng tác lẫn
nghiên cứu, phê bình. Nghĩ về tính triết lý trong thơ, Hồ Thế Hà cho rằng “Thi
ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt…Nhưng như thế không phải lúc
nào và ở đâu, một tác phẩm thơ cũng trở thành trác tuyệt. Vậy cái gì đã làm nên
giá trị và sức sống của một thi phẩm? Đó chính là sự hài hoà thẩm mỹ giữa trí
tuệ và cảm xúc; giữa cái ảo và cái chân; giữa hình thức và nội dung”[1, tr.
56]. Tính triết lý trong thơ như vậy theo anh là một phương diện cần có để làm
giàu nhận thức, liên tưởng và suy tưởng của con người. Nhận định về “Quan niệm
về thơ của Dạ Đài – tiếp biến lý luận văn học phương Tây”, Hồ Thế Hà cho rằng
“Quan niệm về thơ của nhóm Dạ Đài thấm đẫm tính chất của chủ nghĩa tượng trưng.
Họ muốn dứt bỏ những ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, vì nó đã đi tận mút của
con đường cùng” [1, tr. 66]. Hay khi phân tích về Thơ tranh đấu của học sinh,
sinh viên xứ Quảng, Hồ Thế Hà có nhận xét “Thơ tranh đấu xứ Quảng không chỉ phản
ánh hiện thực, mà cao hơn là bình luận và triết luận về hiện thực. Sự bắt đầu của
lòng yêu nước đồng nghĩa với sự bắt đầu của hy vọng và tin yêu cách mạng mà
mình có phần trong ấy” [1, tr.82]… Hầu như trước Hồ Thế Hà, chưa ai có những
nhận xét đầy đủ như vậy về giá trị của nhóm thơ này.
Làm thơ, đọc thơ, dạy về thơ, yêu thơ đến hết cả phần đời sống
thực, Hồ Thế Hà luôn ý thức rõ về giá trị thơ và giới hạn của quá trình thơ ca.
Trong quá trình sáng tạo, anh luôn trăn trở với những câu hỏi: “Làm cách nào để
hiểu bản chất của giá trị thi ca và quá trình thi ca? Có cần phải xác lập một
kí ức và thức nhận văn hoá có tính tập thể, cộng đồng, cộng hưởng làm nền tảng
cho quá trình tiếp nhận và định hướng tri thức thi ca cho mọi người không? [1,
tr. 118]. Và anh cũng tự lý giải: “Quá trình nhận diện và thẩm định thi ca
chính là con đường nỗ lực tích hợp những hiểu biết có tính siêu ngôn ngữ, siêu
văn bản, siêu văn hóa… mới mong làm giàu nhận thức, phù hợp với đặc trưng thể
loại có tính “đỏng đảnh” nhưng kì diệu và cao sang này. Và cũng cần lưu ý những
trường hợp cá thể, cá biệt, ngoại lệ mà tính phi qui luật của nó không có chỗ đứng
trong chủng loài. Khi ấy, không có lời biện hộ nào, dù hay ho và ngụy biện tinh
vi nhất, lại đủ sức làm xoay chuyển tình thế và có tính thuyết phục được công
chúng, kể cả công chúng bình thường nhất” [1, tr. 118]… Đọc tiểu luận này người
đọc sẽ hiểu rõ hơn vì sao Hồ Thế Hà dễ gần bạn đọc, dễ được bạn đọc yêu quý
không chỉ với những sáng tác của anh mà còn yêu mến phong cách sống trong đời
thực và “mơ thơ” của anh. Có thể nói, đọng lại với người đọc trong tiểu luận
phê bình vẫn là những kiến giải sâu sắc, đầy tâm huyết của Hồ Thế Hà với câu hỏi
lớn của muôn thuở thơ là gì? Thử trả lời cho câu hỏi này, Hồ Thế Hà đã đi từ
khái niệm, từ các góc nhìn khác nhau về thơ. Anh nhất trí rằng đây là câu hỏi đầy
thách thức và lý thú! Từ việc hệ thống những định nghĩa khá thú vị đến từ các
quan điểm khác nhau về thơ, Hồ Thế Hà đã có những nhận xét khách quan các quan
niệm nhìn từ chức năng xã hội và lý tưởng của thi ca của Sóng Hồng, Hà Minh Đức,
Johnannes Bêchr; chú trọng về duy mỹ và cái đẹp thuần túy của Lamartine, Tố Hữu;
đề cao sứ mệnh thi ca, gắn thi ca với sáng tạo của Apollinaire, Nguyễn Tuân; tập
trung vào quan điểm duy tâm, thần bí của Hàn Mặc Tử, Baudelaire; đề cao hình thức,
gắn với sự xảo thuật ngôn từ của André Gide. Paul Valéri; nhấn mạnh quan niệm
nhân sinh của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Vương Duy, Bạch Cư Dị, Ngô Giang Thanh, Hoàng
Đình Kiên; nghiêng về ảnh hưởng của Phật, Lão, Nghiêm Vũ lấy đạo Thiền so sánh
với thơ, chủ trương thuyết Tài và Phú, Diệu ngộ trong thơ, thơ để ngâm vịnh
tính tình… Theo Hồ Thế Hà, từ các góc nhìn này, mỗi người mỗi phong cách nhưng
đều gặp nhau ở quan niệm: thơ phải gắn liền với cái đẹp, cái thật và cái
có ích, dẫu có lúc họ có tỏ ra bay bổng và lãng mạn. Mặt khác, bên cạnh ý kiến
về thơ của Roman Jakobson, Hồ Thế Hà cũng đã hệ thống lại các quan niệm thơ
khác của các nhà thơ trong thời kỳ Thơ mới như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu,
Lưu Trọng Lư, Huy Cận; quan niệm về thơ của các tác giả sau 1986 như Bùi Chí
Vinh, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Mã Giang Lân, Phan Ngọc, Phạm Tiến Duật…Từ
các quan niệm về thơ theo các góc nhìn khác nhau như vậy, Hồ Thế Hà đưa ra định
nghĩa ngắn gọn: “Thơ là một thông điệp thẩm mỹ nhân văn đặc biệt được tổ chức
và tư duy bởi hệ thi pháp của một ngôn ngữ cụ thể để tạo nên chỉnh thể nghệ thuật
độc đáo nhằm đem lại cho người đọc những rung cảm bất ngờ” [1, tr. 18]. Định
nghĩa thơ là một việc khó! Nhưng đây là lần đầu tiên ở Việt Nam có một định
nghĩa thơ khái quát, cần cho nhiều bạn đọc thơ thế hệ sau bởi tính khái quát
cao, nhấn mạnh được tính chỉnh thể của thơ, thể hiện rõ quan điểm của tác giả về
mối quan hệ giữa tác giả và người đọc. Chỉ rõ mối quan hệ tiếp nhận đồng sáng tạo,
góp phần xác lập quan điểm xem thơ như là một cấu trúc ngôn từ mở. Đây chính là
đặc trưng của Ý và Tình trong phê bình lí luận của Hồ Thế Hà.
Nói như nhà nghiên cứ Nguyễn Văn Hùng thì “Diễn ngôn nghiên cứu
phê bình của Hồ Thế Hà vừa đa dạng do sự tích hợp nhiều tri thức, tư tưởng, vừa
độc đáo bởi sự sáng tạo, liên tưởng thú vị. Với ông nghiên cứu khoa học không
chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật. Ở đó không đơn thuần là những
thao tác, phương pháp có tính khách quan, khoa học, mà còn là hành vi đồng sáng
tạo, tạo sinh/làm dôi nghĩa cho văn học…Dù có đa dạng đến đâu, nhưng diễn ngôn
nghiên cứu phê bình của ông luôn hài hòa, thống nhất giữa tư tưởng- triết luận
– thẩm mỹ” [2]. Đúng vậy, trong hành trình trình xác lập bản chất thơ Việt,
Hồ Thế Hà đã có sự chuyển động, thay đổi phương pháp nghiên cứu nhưng luôn tập
trung nguyên lý cơ bản: Từ truyền thống đến hiện đại, hậu hiện đại, từ thực tiễn
văn bản đến khái quát thành quan điểm, khái niệm, và ngược lại từ lý thuyết đến
thực hành qua các các văn bản. Quá trình luân chuyển biện chứng về mặt phương
pháp, sự dung hợp, đa dạng hóa tầm nhìn theo nguyên tắc hòa trộn tầm đón đợi
trong quá trình phức hợp các phương pháp phê bình của Hồ Thế Hà phù hợp với xu
thế nghiên cứu văn học liên ngành ở Việt Nam.
Chú thích:
[1]. Hồ Thế Hà, Thi luận và chân dung, Nxb Hội Nhà
văn, 2018.
[2]. Nguyễn Văn Hùng, Hồ Thế Hà và hành trình khám phá bản
thể thơ ca, giải mã chân dung thi sĩ, Tạp chí Sông Hương 365/07.2019.
[3]. Mai Thị Liên Giang, Biểu tượng thơ Hồ Thế Hà,
An trú miền đọc, Nxb Hội nhà văn, 2018.
8/5/2024
Mai Thị Liên Giang
Theo https://vanvn.vn/
"Thiếu niên và chim diệc" từ góc nhìn sinh thái
"Thiếu niên và chim diệc"
từ góc nhìn sinh thái
“Thiếu niên và chim diệc” là bộ phim hoạt hình chính kịch
mới nhất của hãng phim hoạt hình Ghibli chính thức ra mắt ở Việt Nam vào ngày
15.12.2023. Tác phẩm lấy bối cảnh nước Nhật trong những năm cuối thế chiến thứ
hai, với nhân vật chính là thiếu niên Mahito mất mẹ trong cuộc oanh tạc Tokyo,
sau đó cha cậu đã đi bước nữa và dời nhà về vùng quê.
Tại đây, những chuyện kì bí về một con diệc xanh biết nói, một
tòa tháp cổ quái và sự kiện người mẹ kế mất tích đã cuốn Mahito bước vào hành
trình phiêu lưu huyền ảo. Bộ phim mới nhất của đạo diễn Hayao Miyazaki như cuốn
nhật kí hoạt họa màu nước để lại cho đời sau, không chỉ là một tác phẩm bán tự
truyện của ông, mà còn là câu chuyện về chiến tranh và sinh thái được xưởng làm
phim Ghibli luôn theo đuổi suốt bốn mươi năm qua.
Nút thắt mộng ảo về chiến tranh và sinh thái
Phim mở đầu bằng sự náo loạn dần xâm chiếm Tokyo bởi một trận
hỏa hoạn. Bệnh viện nơi mẹ Mahito làm việc đã bốc cháy. Những năm 1943, trong
lòng Nhật Bản là những trận mưa bom cháy rải xuống từ máy bay. Chắc hẳn nhiều
người sẽ cảm thấy kinh hoàng với hình ảnh như có một mặt trời rơi xuống đất Nhật,
tạo ra đám mây hình nấm và cuốn đi hàng ngàn người thành hư vô trong cuộc nổ
bom nguyên tử. Nhưng ít ai biết rằng, tổn thất nhân mạng nhiều nhất trên đất Nhật
không phải là hai quả bom ấy, mà nó đến từ chính những đợt rải bom cháy ngay
trên thủ đô Tokyo.
Khi bom cháy leng keng rơi trên mái ngói, lửa đã bùng khắp
nơi. Những ngôi nhà gỗ cổ điển trở thành hỏa ngục, đến tan thương cũng hóa tro
tàn dưới biển lửa. Người người hóa thành than, người người quấn băng trắng nằm
cạnh nhau, trút hơi thở cuối cùng. Những hình ảnh khốc liệt về trận ong tạc
Tokyo trong phim Mộ đom đóm của nhà Ghibli có thể bóp nghẹn tim khán giả. Nhưng
với Thiếu niên và chim diệc, đạo diễn Hayao Miyazaki đã thu vén những đau
thương ấy dưới góc nhìn khác. Người xem hòa vào sự hối hả của Mahito chạy tuột
qua dòng người hoảng loạn, ngọn lửa đã bao trùm thành phố nhưng không phải ngọn
lửa đốt cháy thịt da người, mà là ngọn lửa bao trùm lấy tâm hồn và bóp nghẹt
toàn bộ nhận thức của cậu. Thế giới trong mắt một thiếu niên, và cả người xem,
bỗng chốc méo mó rũ rượi. Nếu Một góc nhỏ của nhân gian là sự nhạt màu đầy tức
tưởi, Mộ đom đóm tàn khốc ghê rợn, thì Thiếu niên và chim diệc là bức tranh lan
nhòa đẹp đến đớn đau.
Chiến tranh bao trùm nước Nhật, những người trẻ tuổi ở vùng
quê lũ lượt nhập ngũ như một sứ mệnh vinh quang giữa tiếng kèn trống. Người đi
đường, thậm chí mẹ kế và Mahito trên xích lô cũng phải dừng lại, bước xuống và
cúi đầu kính cẩn. Những người già và phụ nữ bồng con trong đoàn tiễn quân ấy
còn đông đúc hơn cả số thanh niên nhập ngũ. Họ lọt thỏm giữa cảnh rộng làng quê
làm vinh quang của mạng sống trong cảnh phim này trở nên nhỏ bé hơn bao giờ hết.
Đến cả ngôi đền thiên mà hậu duệ chủ đền chỉ có thể bước vào cửa chính một lần
duy nhất khi mới đến, thì chiến tranh cũng đã mặc nhiên tràn vào đấy, chiếm cứ
khắp nơi dưới hình hài những thiết bị máy bay đang chờ lắp ráp.
Cuộc chiến của họ có thật sự vinh quang? Ngoài đời thực, một
thế hệ người trẻ Nhật Bản sau thế chiến thất vọng cùng cực vì cuộc chiến ấy. Họ
nhận ra mình không phải phe chính nghĩa, nhận ra sự ảo tưởng của những phương
hướng sai lầm, và họ đã được gì từ cuộc chiến đó ngoài sự mất mát vô nghĩa. Một
thế hệ hiện sinh luôn chất vấn về giá trị thực sự của đời mình vì thế mà sinh
ra, lan rộng qua nhiều thế hệ người Nhật.
Thiếu niên Mahito, người đã mất mẹ trong thời chiến và là con
trai của một chủ sản xuất máy bay, có ghét chiến tranh không?
Bên bờ biển trong tòa tháp mộng ảo, Mahito bước ra ngắm biển
đêm, hàng ngàn warawara chập chững thổi phồng cơ thể để bay bổng lên trời cao.
Những Wara nhảy múa bay lên, nối nhau thành đám mây lấp lánh giữa màn đêm thơ mộng.
Chúng sẽ bay lên mặt đất hóa kiếp thành những sinh linh mới trong thế gian.
Nhưng nhịp sinh – diệt của tự nhiên là luôn song hành. Những con cá khổng lồ
nuôi sống Wara, và Wara lớn, bay lên trời cũng là lúc mắt xích tiếp theo xuất
hiện. Đó là loài bồ nông ăn Wara bay thành đàn lớn. Với một người trần thế như
Mahito, Wara dễ thương kia cũng có cùng một hành trình trở về mặt đất như cậu.
Trong vòng luân hồi, nó là quá khứ của cậu; ở mặt hiện thực, dường như cậu và
nó là đồng hương. Thế nên trong mắt Mahito, Wara có thể là loài người, là đồng
bào.
Bồ nông thì khác, chúng xa lạ, tà ác và chúng săn mồi. Dưới dạng
hữu sinh, chúng ăn thịt những sinh linh cậu cho đó là đồng loại; thì dưới dạng
vô sinh, chúng chẳng khác gì những thứ đã rải xuống quê hương cậu vô số bom
cháy, chúng là hiện thân của những chiếc máy bay ở thế giới tòa tháp. Đúng lúc
Mahito cầu cứu, cô gái Himi xuất hiện trên mặt biển, quỳ trên thuyền và chấp
tay cầu khấn. Từ tay cô bắn những đợt pháo hoa rực rỡ. Pháo hoa thiêu đốt bồ
nông, nhưng cũng thiêu đốt Wara. Trước khung cảnh ấy, Mahito vừa tức giận vừa
khẩn cầu Himi: “Dừng lại”. Kiriko nói rằng nếu không có Himi thì các Wara sẽ bị
ăn sạch và chúng không bao giờ lên thượng giới được nữa. Bồ nông đã bay đi, và
một số Wara vẫn tiếp tục hành trình.
Khi một con bồ nông ngã xuống và hấp hối, câu chuyện của nó
khiến Mahito choàng tỉnh, rằng bồ nông để sống cần phải ăn wara, đó là điều nó
không thể lựa chọn. Liệu sinh ra với bản năng hủy diệt có phải là sai lầm của
nó chăng? Tạo hóa làm ra cuộc chiến sinh tồn vì có những sinh vật phải lớn lên
trong đói khát. Chúng chỉ có thể sống bằng cách săn mồi, và chỉ có săn mồi mới
tạo nên ý nghĩa trong vòng tuần hoàn của sự sống. Chim bồ nông không gì khác
hơn là mắc xích kiểm soát và ổn định tự nhiên. Vậy còn chiến tranh thì sao? Máy
bay gây ra chết chóc không phải lỗi của máy bay, mà là lỗi của chính con người,
như một lần nữa nhấn mạnh thông diệp trong một phim Ghibli khác là The Wind
rises. Bồ nông hay chiến tranh sinh ra để kiểm soát nhân loại, khi con người
không thể tự kiểm soát bản thân mình. Chiến tranh chỉ biến mất khi con người học
được cách sống hòa bình với nhau.
Nút thắt chiến tranh trong lòng Mahito chợt mở, cậu đã hiểu rằng
cuộc chiến nào cũng gây ra mất mát cho chính những thứ cậu muốn bảo vệ. Mahito
cuối cùng biết rằng cậu không hề thích chiến tranh. Nhưng khi Bồ nông chết,
Mahito đã chôn cất con chim như đã tha thứ, chấp nhận và tôn trọng đối với sự tồn
tại của bồ nông, của chiến tranh, và của mất mát.
Đế chế chim vẹt và thuyết ngoại sinh
Đế chế chim vẹt trong phim hiện ra đầy chật chội trong hệ thống
hành lang méo mó, những mê cung tường thành thiếu ánh sáng, và vây hãm trong
gam màu trầm đục của những tầng nhà san sát nhau. Người xem dễ dàng nhận thấy đế
chế vẹt là một sự phản chiếu đầy âm u của cuộc sống. Trong những căn nhà chồng
chất trong vô số những hoạt động thường ngày giặt giũ, nấu ăn, thậm chí là xem
phim. Đế chế này còn có cả một hệ thống quân phiệt hoàn chỉnh. Chúng muốn tòa
tháp được ổn định, chúng muốn quyền lực, chúng muốn thịt. Khi tháp chủ già yếu
cần tìm người kế vị mang huyết thống đồng tộc, con vẹt đế vương đã trực tiếp ra
mặt để đòi hỏi quyền kiểm soát. Nhưng ngay lập tức, một chi tiết đắt giá vô
cùng hài hước đã vạch trần toàn bộ bản chất của đế chế này.
Khi những con vẹt lính tô lớn, ì ạch bước lên đỉnh tháp,
chúng hoàn toàn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của khu vườn trước mặt. Vẻ đẹp của ánh
sáng, của cây cối tự nhiên đã quá xa lạ và kì diệu. Kì lạ hơn, những con vẹt
bình thường bay vòng quanh vẹt lính. Và sự châm biếm đến mức tột độ khi hai con
vẹt lính hỏi nhau đây có phải vườn địa đàng không khi nhận ra tổ tiên của mình
tự do đến thế. Những con vẹt lính tưởng chừng ưu tú, siêu việt, đầy văn hóa,
ngôn ngữ, quyền lực, lại chẳng còn khả năng bay như loài vẹt thủy tổ, chẳng còn
biết tự do bên ngoài những chiếc lồng bằng tường thành vách đất.
Liệu đế chế vẹt kia có phải là hình ảnh phản ánh của đế quốc
Nhật trong Thế chiến thứ hai? Và liệu nó có thể mở rộng thành thế giới loài người
chúng ta hay không? Trước tình trạng thiên nhiên dần suy kiệt, vẻ đẹp của tự
nhiên cũng dần thoái hóa, những con vẹt trong đế chế vẹt kia có khác gì con người?
Liệu con người đã hoặc sẽ nhìn thấy vẻ đẹp của tự nhiên, nơi mà thủy tổ con người
đã từng sinh ra và tưởng rằng đó là thiên đường? Đây có lẽ là những bài học là
tự mỗi người xem phải tự trả lời lấy.
Đối lập với sự tự vấn của vẹt lính, trong mắt vẹt đế vương
không có khu vườn mà chỉ mục tiêu duy nhất: phát triển đế chế vẹt. Tháp chủ là
người bảo vệ sự tồn tại của tòa tháp, một khi tòa tháp còn tồn tại thì đế chế vẹt
cũng tồn tại.
Tòa tháp chỉ là chiếc vỏ dung chứa thế giới kì dị với các quy
luật vận hành được quyết định bởi cách sắp xếp mười ba khối hộp của người tháp
chủ. Liệu đây có phải là một trò xếp hình vô nghĩa chẳng? Thật ra, tự nhiên vốn
là trật tự cân bằng mỏng manh có thời hạn, nó được thiết lập liên tục và không
bao giờ hoàn hảo hay đứng yên. Thế nên mười ba khối hộp phải thăng bằng khi xếp
chồng lên nhau kia chính là một ẩn dụ không thể gần gũi hơn với quy luật của tạo
hóa. Mỗi lần xếp chồng mười ba khối hộp thăng bằng, tòa tháp sẽ có thêm ba ngày
tồn tại, và tất cả những điều kì dị sẽ tiếp tục phát sinh.
Tháp chủ muốn Mahito tiếp nối mình trở thành tháp chủ kế nhiệm,
vì Mahito không có ác niệm trong lòng. Nhưng cậu từ chối tiếp nhận tháp chủ bởi
vì cậu nhận thức rõ rằng, sự vô ác niệm trong lòng cậu không phải bẩm sinh đã
có. Một Mahito tự dùng đá đập vào đầu để lấy sự quan tâm của cha, để gián tiếp
trả đũa các bạn đã đánh mình. Một Mahito dùng kiếm gỗ chém chim diệc phá bĩnh sự
bình yên của ngôi nhà. Một Mahito trộm thuốc lá, học cách mài dao, và dùng dao
tạo nên cây cung bắn chim diệc. Chắc chắn Mahito nhận thức rõ hơn ai hết, bản
thân mình trước đây đã nhiều ác ý đến mức nào. Một Mahito không còn ác ý chỉ được
sinh ra khi hiểu được nhịp sinh diệt của tạo hóa, được thể hiện qua hành động
chôn cất con bồ nông sau vườn. Vậy nên cậu từ chối tháp chủ bằng cách chỉ lên dấu
vết của ác ý: vết sẹo trên đầu do chính cậu gây ra.
Vẹt đế vương là sinh vật ngập tràn ác ý, và cũng chưa bao giờ
nhận chấp nhận hay thấu hiểu nhịp sinh diệt của tự nhiên. Nó chỉ muốn quyền lực
và sự tồn tại vĩnh hằng của tòa tháp hay đế chế vẹt. Khi nhận ra thế giới tòa
tháp chỉ được tiếp diễn bằng những khối hộp xếp thăng bằng, nó tức giận và
giành lấy quyền khống chế bằng cách tự mình sắp đặt nên một chồng khối hộp
thăng bằng. Mười ba chiếc khối hộp lung lay và đổ sụp, nó vẫn không chịu khuất
phục dung bạo lực phá hủy chiếc bàn đá để dựng lên những khối hộp đó. Cuối
cùng, tòa tháp sụp đổ, thế giới kì dị bên trong tòa tháp hoàn toàn biến mất. Mọi
người phải tháo chạy khỏi tòa tháp, kể cả loài vẹt.
Mahito trở về với người mẹ kế, để Himi – hay chính là mẹ ruột
trong khi còn trẻ của Mahito quay về đúng thời đại của mình, lớn lên, sinh ra cậu
và chết đi dưới bom cháy của chiến tranh như một lời khuyên cuối cùng về sự chấp
nhận, sống cho hiện tại, không phải tương lai, không phải điều vĩ đại, và cùng
đừng vì quá khứ. Thiếu niên và chim diệc rất có thể là bộ phim cuối cùng của
Hayao Miyazaki, người sáng lập vĩ đại của Studio Ghibli. Nhưng những góc nhìn của
ông về chiến tranh, sinh thái, hay rộng hơn là góc nhìn thế giới trong những
tác phẩm của Ghibli sẽ không bao giờ ngừng lại.
̣̣̣̣̣̣5/5/2024
Mạc Yên
Nguồn: Tạp chí Nhật Lệ
Theo https://vanvn.vn/
Thoát ly - Quê hương là… nhà dưỡng lão
Thoát ly - Quê hương
là… nhà dưỡng lão
Đất nước thiên về làm nông. Một số sản phẩm nông nghiệp
đứng hàng đầu thế giới về khối lượng xuất khẩu. Làm nông thì đất nước có thể bảo
đảm an ninh lương thực, khó xảy ra nạn đói, nhưng chẳng bao giờ giàu. Làm nông
mãi có thể là cái nghèo truyền đời.
Nghĩ đến thế là có tâm lý thoát ly. Vượt thoát và rời bỏ.
Thoát ra khỏi đồng ruộng con trâu cái cày. Dùi mài kinh sử lều chõng đi thi. Đỗ
đạt thì cái được không chỉ là học vấn mà còn lên làm quan làm thầy. Người sáng
dạ lên chỗ kinh kỳ đô thị làm thuê làm mướn. Người đi lính có cơm ăn nhà nước,
có năng lực thì thành tướng sĩ hoặc ông cai đội.
Vậy là người giỏi người tài người có năng lực thì đi hết. Bỏ
lại ruộng vườn cho cánh đàn bà và trẻ nhỏ, cho người già, và cho một đám người…
bị coi là thiếu năng lực hoặc không may mắn.
Vấn đề là không chỉ bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, mà cả quê
hương cũng giao phó hết cho những người không có cơ hội thoát ly. Đám người này
lên làm lý trưởng cai tổng, đứng ra quản lý quê hương của người đã thoát ly. Kiến
thức có hạn, có khi chức tước không được phân bổ theo năng lực mà do bỏ tiền ra
mua, lại thêm bản tính bần tiện tham tàn, cánh hào lý này ra sức đục khoét
nhũng nhiễu người dân. Hiểu biết chỉ mấy hột, tầm nhìn không quá lũy tre rặng dừa
của làng, khi phải tổ chức quản lý việc công, họ loay hoay chắp vá, lợn lành chữa
thành lợn què, cần bơm nước vào thì họ tát nước ra khỏi ao. Khi cần nâng tầm ảnh
hưởng cho làng xóm, khuếch trương lòng tự hào quê hương thì họ nhầm tưởng tiếu
lâm giai thoại chính là lịch sử.
Thiên hạ bịa chuyện chế giễu thì họ lại vơ vào cho mình, tưởng
đó là niềm vinh dự. Thiên hạ giễu cợt họ không có nhà vệ sinh, phải ngồi trên cầu
ao rung rinh mặt nước, thế là họ vơ sự tích cái cầu vào cho làng mình để khuếch
trương du lịch. Thiên hạ cười cợt tính nghèo hèn bần tiện tinh ranh của họ, thế
là họ vơ vào sự tích cá gỗ, coi như đấy là niềm tự hào. Thiên hạ chế giễu chuyện
lừa gạt làm bánh chưng đất, họ nhận luôn kỹ nghệ ẩm thực từ đất là của quê
mình, ảo tưởng có thể tiếp thị bằng cách đó…
Cũng chính đám hào lý cai tổng tri huyện trọc phú bày đặt mãi
mà thành những tín ngưỡng dân gian kỳ quặc. Làng thì thờ cướp thờ điếm thờ thần
bói toán, làng thì thờ hòn đất hòn đá hồn cây đa ma cây gạo cú cáo cây đề. Rồi
những tập tục lôm côm thô tục bày vẽ ra như một kiểu xả lũ cho thói đời dồn nén
ẩn ức.
***
Người đã thoát ly, lâu lâu mỗi lần về nhìn lại quê hương chỉ
còn biết chép miệng bất mãn bất bình. Còn biết trách ai nữa. Tinh hoa bỏ làng
quê mà đi hết rồi, để mặc quê hương cho một đám hào lý tự tung tự tác, bày đặt
ra những chính sách sai lầm, chỉ giỏi đục khoét nhiễu nhương và nhào nặn quê
hương theo kiểu của họ.
Đấy là chuyện xưa, nhưng chuyện nay chẳng phải đã phai nhạt,
có phần còn tô đậm và biến hóa đa dạng hơn.
Đất không sinh nở, chỉ có người sinh sôi. Nhà có mảnh vườn
cái ao và mấy người con. Con cái lớn dần lên, phải dựng vợ gả chồng, phải lấp
ao đi, chia nhỏ vườn ra, cho mỗi đứa một mảnh dựng lấy cái nhà riêng. Vườn mất
ao lấp, cây cối đã chặt trụi, đường làng đã bê tông hóa. Nhà quê bây giờ nhà có
số phố có tên, chẳng khác gì thành phố. Người xa quê lâu ngày trở về thở dài, về
quê để ngắm vườn ruộng ao đầm thì chỉ còn biết luyến tiếc hoài niệm. Quê hương
vận động theo xu thế đô thị hóa, nhưng vận động theo kiểu cóp nhặt, có khi là
mô phỏng một mô hình không phù hợp, thậm chí là sai lầm.
Thế nên bảo họ ở lại mà xây dựng quê hương thì… không! Người
tài chỉ có thể thành đạt và chỉ có cơ hội đổi đời khi đi khỏi quê hương mình.
Quê hương vẫn chỉ làm nông bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Đấy là chưa kể
môi trường làm việc. Người tài có thiện chí mà quay về thì cánh hào lý chức sắc
bất tài cũng chẳng để yên cho anh làm. Họ sẽ phe nhóm kéo bè kéo cánh, mưu hèn
kế bẩn để cho anh vào bẫy hoặc vô hiệu hóa anh.
Vậy là càng tô đậm tâm lý thoát ly. Đến mức hoài bão và tham
vọng lớn nhất của những thế hệ thanh niên là nỗ lực học hành, tìm lấy một học bổng
nước ngoài. Du học xong, được ở lại làm việc là mục tiêu cao nhất. Nếu không được
thì quay về cũng phải là làm việc cho công ty nước ngoài, ăn lương nước ngoài.
Chỉ người không may mắn mới phải chọn vài ba phương án xếp sau đó.
Đến anh nông dân thoát ly ra thành phố đi làm công nhân thì
cũng có khi đặt mục tiêu một ngày nào đó được xuất biên, được đi lao động ở nước
ngoài.
Chưa rõ hồi sau thế nào, cứ đi khỏi quê hương mình đã được
coi là một chuyển đổi may mắn.
Khi quê hương tạo ra được công ăn việc làm xứng đáng cho người
bản địa ngay trên chính xứ sở của họ, thì người ta không phải xa quê, và tâm lý
thoát ly cũng dần phai nhạt.
Người đi thoát ly tất nhiên được coi là thành đạt hơn người
không có cơ hội. Một đời công tác xa quê, khi còn trẻ khỏe bao nhiêu tinh hoa
phát tiết cống hiến ở chốn đô thị. Đến tuổi hưu trí, sức khỏe héo mòn năng lực
sa sút, chỉ muốn an nhàn điền viên, thì lại tìm về để thương nhớ đồng quê. Ai
cũng thế, chỉ khi không còn làm được gì nữa mới tìm về rưng rưng với kỷ niệm
quê hương. Quê hương, theo một định nghĩa mới, là cái nhà dưỡng lão. Quê hương
thành nhà dưỡng lão của các chức sắc, các bậc trí thức, các văn nghệ sĩ, khi
tài sức đã cạn kiệt. Toàn những tinh hoa một đời tung hoành ngang dọc khi quay
về chỉ là để an dưỡng.
Các bậc hào lý vốn bị chê trách chẳng dại gì tận dụng các vị
dưỡng lão này làm cố vấn. Ốm tha già thải. Không để cho nhúng mũi vào việc của
họ. Rồi lặp lại cái vòng tuần hoàn, quê hương cứ bày bừa lộn xộn cứ không mở
mang được, cứ không sao trở thành niềm tự hào cho những người con của quê
hương.
Bài toán mở mang phát triển quê hương vẫn đang chờ người giải
là các nhà quản lý. Có tiếp tục thuần nông để duy trì an ninh lương thực, để
coi là thu nhập chính, hay là chuyển đổi ngành nghề? Tiếp tục thuần nông nhưng
hiện đại hóa nông nghiệp, toàn diện hay một phần? Chuyển đổi thành khu công
nghiệp lớn hay chỉ là gia công lấy cần cù bù khả năng? Chuyển đổi thành những
trung tâm dịch vụ tài chính hoành tráng thì có đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu của
thực tế hay không?
Hay là quản lý vĩ mô vẫn tiếp tục chỉ ở tầm của các vị hào lý
chánh tổng tri huyện. Rồi cứ loay hoay truyền đời trong cái nhỏ nhoi bế tắc của
mình.
Người thoát ly nào đầy ưu tư, chắc cũng có lúc mơ thấy quê
hương trở thành một trung tâm tài chính, thành trung tâm công nông nghiệp,
thành điểm đến du lịch, và hơn nữa. Quê hương mở mang khởi sắc, môi trường làm
việc thiện chí, tạo ra được công ăn việc làm xứng đáng cho người bản địa ngay
trên chính xứ sở của họ. Khi ấy thì người ta không phải xa quê, và tâm lý thoát
ly cũng dần phai nhạt.
Khi ấy có thoát ly chăng chỉ là du lịch du ngoạn, đi ra bên
ngoài để học hỏi, để nhìn ngắm thế giới, mở rộng tầm nhìn và hưởng thụ thành quả
lao động của mình.
10/5/2024
Hồ Anh Thái
Theo https://vanvn.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chuyện kể bên hồ XXXXXX
Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...
-
Đến với thơ của Bùi Hoàng Linh Tác giả Bùi Hoàng Linh đến với nghiệp văn chương khi còn đang học phổ thông tại Trường Quốc Học Huế. Thơ Bù...





.gif)
