Thứ Năm, 1 tháng 1, 2026

Lê Phương Liên an nhiên "Quá giang lục bát"

Lê Phương Liên an nhiên
"Quá giang lục bát"

Có thể ví von một cách hình tượng rằng, tập thơ Quá giang lục bát của thi sĩ Lê Phương Liên là chiếc bình cổ với chất liệu lục bát truyền thống chứa đựng thi ngôn chưng cất từ cảm xúc, quán niệm của một hồn thơ mẫn cảm, thanh sạch, tâm thế an nhiên.
Tôi thực sự tâm đắc khi nhà thơ nương hồn lục bát thắp sáng ý thơ để từ đó chuyển tải đến muôn người trong thi tập này. Đây là một quyết định rất khó khăn và đáng trân trọng bởi trong giai đoạn hiện nay, thể thơ tự do đang là xu hướng thời thượng trên văn đàn. Bên cạnh đó, lục bát lại là một thể thơ dễ viết và khó hay, thậm chí có thể gây cảm giác nhàm chán. Thi sĩ Lê Phương Liên đã tự tin lội ngược dòng chảy, ngoạn mục vượt qua “vũ môn” để trình làng một tác phẩm thơ lục bát đầy ấn tượng.
Đi sâu vào nội dung, hầu như mỗi câu thơ trong Quá giang lục bát (QGLB)  đều hàm chứa hơi thở của ca dao, hình bóng quê nhà, ăm ắp chất liệu cuộc sống thực tại đan xen hoài niệm đẹp, tạo nên một miền cảm thức mênh mang trữ tình hội tụ màu sắc tâm linh, thiền thị và triết lý nhân sinh. Tất cả hòa quyện vào nhau tạo ra một thi phẩm vừa mang hơi thở cổ điển lại được chiếu rọi ánh sáng tân kỳ, hồn cốt dân gian và phong cách hiện đại quyện hòa thoang thoảng thơm từng trang sách.
Lần giở thi tập, ngẫm ngợi, thưởng lãm từng bài, tôi có cảm giác rằng Lê Phương Liên ngày lại ngày thong dong chao chân bên cầu ao, đãi thời gian tìm thi tứ, gạn lọc chữ nghĩa để cuối cùng hạt thơ trên sàng trắng ngần, lấp lánh.
Bút pháp diễn ngôn nhuần nhị với cấu trúc câu đặc sắc, đặc biệt là vị trí của từ ngữ trong câu được tác giả sử dụng rất mới, câu thơ hiện đại lại thấm đẫm hương vị truyền thống, hiến tặng bạn đọc một phong vị thơ mang tính dân tộc – thời đại.
Không gian hoài niệm trong thơ Lê Phương Liên mang nét đẹp dung dị, cô đọng và chan chứa cảm xúc bồi hồi mỗi khi nàng thơ nhớ – về thời quá vãng. Nét đẹp đó có khi hiển lộ, có khi lại  ẩn mình qua thủ thuật ẩn dụ tinh tế, sáng tạo, truyền cảm hứng giọng điệu thơ cách tân trong chiếc nôi lục bát truyền thống. Đặc trưng nhất là nhà thơ sử dụng biện pháp lặp từ tự nhiên, không đẽo gọt mà tạo được dáng hình như điêu khắc, không tô điểm mà in đậm sắc màu như hội họa. Luận bàn không bằng tai nghe, ta hãy lắng lòng cùng thi sĩ với những cặp lục bát tôn vinh đức hy sinh cao đẹp của ông, bà, cha mẹ mà tôi xin phép trích dẫn dưới đây. Những câu thơ như bức phù điêu chế tác từ những tấm gương soi đạo đức lấp lánh sự hy sinh thầm lặng:
Gánh cong, cong cả muộn phiền
Áo nâu, nâu cả nỗi niềm tóc tơ
(Con về vin ngọn trầu cong)
Với tầm nhìn và sự quan sát tinh tế, tâm hồn mẫn cảm cộng với kiến văn rộng giúp Lê Phương Liên nắm bắt mối tương quan giũa các sự vật, giữa văn hóa dân gian, kiến trúc, tôn giáo khiến không gian trữ tình hiện ra như một bức tranh vẹn nguyên. Còn gì gắn kết hơn lời ru mộc mạc,“thật thà” từ ca dao song hành với hình ảnh con chim tu hú, dưới hàng hiên căn nhà cổ“nơi bà têm miếng trầu thơm”, xa xa bên chiều vọng lại “Câu kinh đậu cánh mẫu đơn cổng chùa”. Bức tranh thơ ấy khắc họa tinh tế cái hồn cốt văn hóa Việt mà nhà thi – họa chỉ chấm phá bằng 4 câu lục bát:
Lời ru ở phía thật thà
Nơi đôi tu hú xây nhà ổ rơm
Nơi bà tiêm miếng trầu thơm
Câu kinh đậu cánh mẫu đơn cổng chùa
(Ru trước thềm ngâu)
Những câu thơ bộc bạch, tự sự về thời con gái xa xăm trong QGLB đẹp đến nao lòng. Điều đáng nói là thi sĩ Lê Phương Liên không hề lạm dụng những mỹ từ ca ngợi cái tuổi tròn trăng, không nhắc đến cái tình cảm nuối tiếc thuở má hồng môi son thì con gái. Ở đây, thi sĩ sử dụng những ẩn dụ độc đáo khiến cho hình ảnh người thiếu nữ thuở nào hiện ra  e ấp, thập thò nấp sau cánh cửa khép hờ bên trong nề nếp gia phong:
Tóc còn thương trộm hương cau
Vầng trăng mười sáu liếc sau sân rằm
(Nắng chiều)
Hai câu lục bát dưới đây thể hiện khả năng diễn đạt “ý tại ngôn ngoại”, thầm kín mô tả sự trong trắng ngây thơ của cô gái mười lăm, nghe như ca dao, nghe như một khúc Kiều của Nguyễn Du văng vẳng đâu đây:
Mây non chưa biết thở dài
Cỏ ngây ngô biếc, gió đài các say
(Cải ngồng còn trinh)
Rồi đến khi thực sự trưởng thành, khi tâm hồn thiếu nữ bắt đầu rung động, trái tim thiếu nữ bắt đầu thổn thức, nhớ nhớ thương thương một bóng hình nào đó. Thơ Lê Phương Liên viết cho giai đoạn vẫn không buông lơi những rung cảm lứa đôi cháy thành ngọn lửa nồng nàn. Thi sĩ chừng mực sưởi ấm tâm hồn bằng bếp than âm ỉ. Phải chăng Lê Phương Liên làm thơ sau khung cửa gia phong kín cổng cao tường, nàng thơ nắm bắt cảm xúc nội tại ở khuê phòng để rồi qua song cửa sổ hòa nhập với thế giới bên ngoài:
Tháng năm thơm cọng gió hiền
Thuyền ai thả yếm lạc miền sông xanh
Trăng còn thổn thức sang canh
Cho em tìm nụ dành dành trổ đêm
(Tháng năm em)
Khi tuổi đời dần chín, giọng thơ lục bát Lê Phương Liên ngày càng đầy đặn, lắng sâu trong tâm thế khép nép, từ tốn giải bày nội cảm. Đó là lúc tác giả ngồi lại chiêm nghiệm tháng ngày đã qua, mơ về dĩ vãng, tiêng tiếc mộng lành ngày xuân, lưu giữ và phác họa giấc mơ Xuân với thi ngôn thanh cao gây cảm giác xao xuyến trong tâm hồn tôi. Tôi thương cảm và mến mộ quá câu thơ “Giấc xuân. Xuân cả cành đào muộn em”:
Đêm mòn vãn hội rào thưa
Em ngồi mơ giấc ngày xưa má đào
Giấc mềm. Mềm cả chiêm bao
Giấc xuân. Xuân cả cành đào muộn em
(Xuân muộn)
Một thi phẩm trữ tình không thể vắng bóng tình yêu. “Anh” trong thi tập QGLB xuất hiện với tần suất khá cao trong số những bài thơ tự tình lứa đôi. Thi sĩ Lê Phương Liên không vương bận cóp nhặt lời lẽ ngôn tình, không khắc họa những kỷ niệm yêu đương nồng nàn say đắm dù tình yêu ấy hiến tặng cho nàng thơ một mái ấm hạnh phúc. Tình yêu được nhà thơ “ý tứ” thể hiện bằng những lay động đậm sâu trong tâm cảm như một người con gái Huế sau bức bình phong. Hình ảnh “chàng” luôn được “nàng” giữ kín, dè dặt, ân cần, như sợ vầng mây ấm bồng bềnh ấy trôi đi:
Bồng bềnh nghiêng giọt cười anh
Lạc trôi trong giấc mơ lành lặn em
(Lạc trôi)
“Chàng” còn được thi nhân ẩn dụ như một cơn mưa tắm mát vườn mộng, mẩy hạt yêu thương quyện chặt đời “nàng”, dấu yêu “nhốt một má đào” trong tim, để từ yêu thương chở che đó nàng xinh tươi như mùa xuân lộc biếc, nàng phơi phới như hoa thắm đầu cành của riêng ai:
Cơn mưa nhốt một má đào
bao nhiêu hương sắc ủ vào tầm xuân
(Là anh)
Thời gian và không gian trong thơ Lê Phương Liên biến chuyển kì ảo theo sự vận động tâm lý của thi sĩ. Trung thành với bút pháp không sử dụng ngôn từ đặc tả cảnh vật, thay vào đó là cái nhìn từ bên trong, càng đọc ta thấy càng say với những câu thơ đầy sáng tạo, giọng thơ rất riêng, cách sắp đặt từ ngữ mới lạ:
Xuân già tiễn bướm vu quy
Cúc vàng rừng rực lễ nghi chào mùa
Ta ngồi ghen với cơn mưa
Lật nghiêng nỗi nhớ mà chưa sũng chiều
(Mùa đi)
Ngoài nội dung và thi ngôn biểu đạt, giá trị của tác phẩm còn thể hiện ở nhân sinh quan, tư tưởng của tác giả gởi gắm trong từng ý thơ. Theo tôi, cái tên “Quá giang lục bát” gợi lên hình ảnh con thuyền Bát Nhã là điểm tựa tâm linh mà thi sĩ muốn nương vào đó để “sang sông”, giữ thanh sạnh cho tâm hồn, quán niệm tư tưởng “sắc bất thị không, không bất thị sắc” của Phật giáo:
Một mình tôi với mênh mông
Ngỡ là tất cả ngỡ không có gì
(Sắc – Không)
Nhân gian là cõi tạm, thế gian là thị phi, là ảo vọng. Trong giây phút hoàng hôn dần lịm tắt, thi sĩ gọi hồn cho nắng hãy “tro bụi” một ngày với “những điều viễn vông” sắp trôi qua của kiếp người. Một thái độ buông bỏ nhẹ tênh bao nhiêu vướng bận đời thường:
Cháy lên thôi chút nắng chiều
Để tro bụi cả những điều viễn vông
(Đông về cởi áo cho cây)
Theo tôi, bài thơ chủ đề Quá giang lục bát là nơi gởi gắm, đúc kết tư tưởng, nhân sinh quan, tiêu chí sáng tác trọn vẹn nhất của thi sĩ Lê Phương Liên.
Dòng xanh giữ mạch vô thường
Hoàn nguyên giữa một sắc hường tịnh không
Mượn câu lục bát sang sông
(Quá giang lục bát)
Khép lại một tập thơ với ngôn ngữ đẹp, chứa đựng bao nhiêu thi cảm bát ngát, lòng tôi cứ ngập ngừng luyến tiếc. Viết xong mà tôi lại có cảm giác như mình chưa viết được gì.
Bà Rịa, 6/3/2024
Nguyên Bình
Theo https://vanvn.vn/

Mệnh đế vương - "Mệnh trời" hay "Lòng người"

Mệnh đế vương
"Mệnh trời" hay "Lòng người"?

Tôi đã không nghĩ tác giả quyển sách “Mệnh đế vương” thuộc loại tiểu thuyết lịch sử có sự đồ sộ về kiến thức, giọng văn mạnh mẽ lại là một nhà văn nữ – Trương Thị Thanh Hiền. Tác giả sống và làm việc ở An Giang, quyển sách “Mệnh đế vương” đã nhận Giải nhì Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ V (2016-2019) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. 
Quyển sách dày tận bốn trăm trang, tôi xem đó là thử thách cho những ai mong muốn đọc và tìm hiểu. Tác phẩm kể về những cuộc nội chiến của triều đình lịch sử Việt Nam, cụ thể là triều đại Lý – Trần, đó là một bước ngoặt rất lớn khi Việt Nam lần đầu có Nữ hoàng đế đầu tiên – Lý Chiêu Hoàng. Đánh dấu cho buổi hoàng hôn hào nhoáng dần lịm tắt của nhà Lý gầy dựng và buổi bình minh rực rỡ của nhà Trần. Tưởng chừng đó chỉ là một chuyện xưa tích cũ, không mấy rõ ràng nhưng dưới góc nhìn và ngòi bút của mình, Trương Thị Thanh Hiền miêu tả thật sự sống động tính cách lẫn nội tâm từng nhân vật mà nổi bật là Lý Chiêu Hoàng, Trần Cảnh, Trần Thủ Độ… những nhân vật có thật trong lịch sử.
Ta biết đến Lý Chiêu Hoàng là một Nữ Đế đầu tiên của phong kiến Việt Nam, chỉ dừng có thế nhưng nhà văn đã thâm nhập, tạo ra một vị vua có những nội tâm đầy xáo trộn, luôn suy nghĩ đến việc giành lại ngôi báu cho nhà Lý và đánh bật các âm mưu dòng họ Trần. Những cuộc giao tranh khốc liệt diễn ra, mà Thái sư Trần Thủ Độ cho rằng là tạo phản. Nội chiến âm ĩ, tranh giành quyền lực khiến nàng mang sự u buồn, có khi giận dữ, nàng nói với chồng mình là Trần Cảnh (bấy giờ đã làm vua):
“Bệ hạ biết nỗi lòng thiếp như thế nào? Bệ hạ có bao giờ hỏi thiếp hay nằm mơ thấy gì không? Nếu bệ hạ vẫn hay mơ về những điều đẹp, thì thiếp thấy những giấc mơ kinh hoàng. Bệ hạ có những hình ảnh đẹp về cha mình còn thiếp mỗi khi nhắm mắt lại chỉ thấy vị thiên tướng lúc thì hùng hổ lúc thì yếu ớt bị người ta treo cổ. Bệ hạ nghĩ về mẹ với những tình cảm thiết tha, với tuổi thơ hiền hòa được mẹ ôm ấp, còn thiếp, mẹ chỉ đến với thiếp khi nào cần ở thiếp thứ gì đó mà thiếp có, như ngai vàng chẳng hạn…”
Nàng bỗng thấy sự chua chát cho số phận mình là nữ nhi, là dấu gạch nối cho buổi giao thời binh biến. Ngoài ra Lý Chiêu Hoàng được khắc họa là một người vợ hiền bên cạnh Trần Cảnh, yêu chồng nhưng muốn giành lại ngôi vị vốn có chính là sự khắt họa tài tình của nhà văn. Dường như mọi ưu phiền mệt mỏi biến tan đi khi có Thiện hoàng – Trần Cảnh bên cạnh, đó là sự chở che duy nhất còn sót lại khi dòng tộc họ Lý bị lưu vong gần hết, hoặc bị giáng chức thấp bé để không nắm giữ binh quyền.
Riêng về Trần Cảnh, vốn xuất thân trong làng chài nhưng nhờ mưu trí Thái sư Trần Thủ Độ mà ngồi trên ngôi báu, dù bao việc triều chính nhưng chàng vẫn chung thủy với vợ thậm chí hết mực yêu thương. Mệnh đế vương, lúc này như ám chỉ chính chàng là Thiên tử, thế nhưng trái tim nóng hổi của một chàng trai còn trong huyết quản, khi nghe tin dòng họ Lý có người bắt đầy nổi lên, tạo phản, e sợ vấn đề bất trắc chàng đã đặt mọi tâm trí vào một người duy nhất – Lý Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng:
“Lý Phật Kim. Ta và nàng nên thẳng thắn với nhau. Mong rằng sau này hai ta không còn hố sâu ngăn cách nữa. Nàng là Chiêu Thánh Hoàng hậu, là vợ ta của Thiện hoàng Trần Cảnh này. Nàng không có tội với họ Lý. Nàng không có trách nhiệm gì với chiếc ngai vàng. Nó còn hay mất là do mệnh trời. Mà nếu không phải vì mệnh trời thì cũng do ở lòng người. Tà thà để hậu thế chê cười đã cướp ngôi nhà Lý còn hơn là để nàng chịu tội làm mất ngôi. Vì vậy, nàng hãy yên tâm sống. Nàng hãy vui hưởng những gì nàng có, hạnh phúc làm mẹ, hạnh phúc làm vợ… Đêm nay, quân triều đình tấn công Quắc Hương vì công chúa Chu Vũ âm mưu chống lại triều đình, đưa một người họ Lý nào đó trở lại ngôi. Ta không biết người ấy. Nàng càng không biết người ấy. Nàng chỉ cần nhớ một điều, đêm nay nàng ở cùng ta suốt đêm làm lễ Vu Lan. Và đã từ lâu không gặp Chu Vũ công chúa. Đúng như vậy không, Lý Phật Kim?” 
Đậm đà tình phu thê là những gì nhà văn muốn truyền tải, hiện ra trong mắt người đọc là hai con người đang đau khổ vì đấu tranh, giành giật quyền lực, họ khao khát thành người bình thường, muốn tự do trong tình yêu và thời đại.
Quyển sách mang cho người đọc cảm xúc cảm thông cho nhân vật, sự trải dài trong không gian và thời gian, ngoài ra các tuyến nhân vật phụ như: Trần Ngọc Mai, Phạm Đức Việt, Nguyễn Nộn, Lý Huệ Tông… với số lượng nhân vật đồ sộ ấy được nhà văn sắp xếp hợp lý làm tô điểm cốt truyện thêm tỏ rõ. Quyển sách thật sự đáng đọc cho những ai đam mê văn – sử, như một phần tìm hiểu về một giai đoạn đã qua mặt khác là cùng cảm thương, cùng chia sẻ cho từng nhân vật, số phận đương thời. 
7/5/2024
Huỳnh Chí Thiện
Theo https://vanvn.vn/

Cái đẹp hủy diệt của Mishima Yukio

Cái đẹp hủy diệt của Mishima Yukio

Một ngày của năm 1950, cả nước Nhật bàng hoàng vì sự kiện một chú tiểu phóng hỏa đốt cháy tòa Kim Các Tự – di sản hơn 500 tuổi ở Kyoto. Sáu năm sau, Mishima Yukio đã thu thập tài liệu liên quan đến vụ việc, và viết nên tiểu thuyết “Kim Các Tự”.
Ông lý giải hành động đốt chùa là hành động của kẻ yêu cái đẹp – một tình yêu cực đoan đến mức hủy diệt. Kim Các Tự trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất của Mishima Yukio – nhà văn đương đại Nhật Bản, từng hai lần được đề cử Nobel Văn chương. Tác phẩm cũng từng được trao giải Văn học Yomiuri năm 1956.
Kim Các Tự – tòa kiến trúc ba tầng với “hai tầng trên dát vàng rực rỡ, nằm trong khuôn viên chùa Lộc Uyển” xuất hiện ngay từ dòng đầu tiên của cuốn sách. Ấn tượng ấy ở lại trong xuyên suốt ký ức của Mizoguchi – cậu bé được sinh ra và lớn lên ở phía đông bắc Maizuru (Nhật Bản). Đó là khi cậu nghe cha kể về vẻ đẹp diễm lệ của Kim Các Tự, trong hình dung của cậu như là một vẻ đẹp tuyệt đỉnh, bất biến.
Cho đến một ngày, cậu chính thức trở thành tiểu tăng của Kim Các Tự, được tận mắt nhìn ngắm báu vật trong tâm tưởng, nhưng vẻ đẹp trong đời thực của tòa Kim Các chừng như đã khiến cậu thất vọng. Một tiểu tăng với tinh thần bất định, luôn tự ti vì tật nói lắp và luôn cảm thấy cô độc với những ý nghĩ của chính mình. Cái đẹp mà cậu nuôi dưỡng, cảm nhận về Kim Các Tự không thể giãi bày, chia sẻ cùng ai. Thực tế trước mắt và những gì phải trải qua trở thành ẩn ức khiến cậu nghĩ rằng, mình phải đốt cháy Kim Các Tự. Vẻ đẹp ấy chỉ nên tồn tại trong tâm tưởng, trong hình dung về cái đẹp vĩnh cữu.
Nhà văn Mishima Yukio dựng lại tòa Kim Các Tự đã bị đốt cháy bằng vẻ đẹp duy mỹ của ngôn từ. Ông miêu tả từng chi tiết kiến trúc, tái hiện trước người đọc hình ảnh di sản đã mất của Kyoto đầy vẻ diễm lệ, lấp lánh vô song. “Khói cuồn cuộn và lửa đang bốc lên trời. Hằng hà sa số tàn lửa bay chen giữa cây cối, và bầu trời phía Kim Các như được rải vàng kim” – khoảnh khắc Kim Các Tự hóa thành tàn tro và chú tiểu Mizoguchi ngồi trên đồi cao nhìn ngắm như một khoái cảm của hủy diệt và tồn tại.
Cái đẹp trường cửu chính là cái đẹp đã bị hủy diệt – là một tư tưởng có phần cực đoan. Đây cũng là điểm gây tranh luận về tác phẩm của Mishima Yukio và cũng là triết lý làm nên giá trị trong tác phẩm của ông. Kim Các Tự là câu chuyện về cái đẹp, đồng thời cũng là câu chuyện về ẩn ức tâm lý của con người. Bối cảnh truyện diễn ra vào thời điểm cuộc chiến Thái Bình Dương nổ ra, Nhật Bản bị tấn công bởi không quân Mỹ… Ngôi chùa đã không bị bom đạn tàn phá, mà là do con người. Cái đẹp kiến tạo hay hủy diệt, đều do con người.
Một câu chuyện chứa đựng triết lý về thiền học, triết học, Phật học. Và toàn bộ tiến trình của đời sống đều là vẻ đẹp duy mỹ trong trang viết của Mishima Yukio. Cách ông miêu tả một cái chết, một đám tang, một nỗi thất vọng… cũng mang một vẻ đẹp kỳ vĩ, lạ thường. Cái kết cho cuộc đời nhà văn cũng lạ thường như những trang văn của ông.
Nhà văn Mishima Yukio từng viết các tác phẩm Khát vọng yêu đương (năm 1950), Tiếng triều dâng (năm 1954, giải thưởng Văn học Shinchosha, đã xuất bản tại Việt Nam)… Sau khi hoàn thành bản thảo Năm tướng suy của người trời (tập thứ 4 trong tác phẩm trường thiên Biển phì nhiêu, 1970), nhà văn đã tự sát…
7/5/2024
Cầm Thi
Nguồn: Báo Phụ Nữ
Theo https://vanvn.vn/

Người kể chuyện "Mệnh đế vương" và vai trò người đọc trong nghệ thuật tự sự

Người kể chuyện "Mệnh đế vương"
và vai trò người đọc trong
nghệ thuật tự sự

Tân lịch sử là dòng văn học phát triển khá rầm rộ, với nhiều thành tựu rực rỡ. Thế hệ hậu sinh muốn nương theo lịch sử để đi tìm những bí ẩn, những khuất lấp chưa được vén màn. Trương Thị Thanh Hiền với “Mệnh đế vương” đã phục dựng lại một thời kỳ lịch sử hơn 40 năm từ cuối triều đại Lý Hạo Sảm đến hết đời Trần Cảnh. Song, điều đáng nói không phải là ở chiều dài thời gian, hay chiều rộng không gian mà ở độ sâu của những tấn bi kịch tâm lý của các nhân vật, trung tâm là số phận làm vua của Thiện Hoàng – Trần Cảnh.
Đến với mỗi tác phẩm văn học, chúng ta không thể không đặt những câu hỏi: ai là người kể, kể về vấn đề gì, và kể như thế nào. Có lẽ đấy cũng là nỗi trăn trở của mỗi nhà văn khi cầm bút, làm thế nào để thực hiện ý đồ của mình một cách hoàn hảo nhất. Vì vậy, lý thuyết tự sự học kinh điển, với nhiều tên tuổi như R. Barthes, G. Genette, T. Todorov, P. Ricoeur, Claude Bremond…, đã dồn Người kể chuyện (Narrateur, NKC) vào trung tâm cấu trúc văn bản, nó không chấp nhận bất kỳ hệ lụy nào từ phía tác giả.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về NKC. R. Barthes cho rằng: NKC là nhân vật giấy, nó mang chức năng môi giới giữa thế giới nghệ thuật được miêu tả với độc giả tiếp nhận[1]. T. Todorov thì cho rằng: NKC không chỉ mang chức năng kể mà còn định giá và đánh giá[1]. Nhưng điều cần đặt ra ở đây là dựa trên cơ sở nào để nhận diện NKC. G. Genette đã dựa trên mối quan hệ giữa người thuật truyện và câu chuyện mà anh ta kể, để nhận diện NKC. Và ông đã chia NKC ra làm 3 kiểu: NKC dị sự, NKC đồng sự và NKC tự thống chế.
Trên cơ sở lý thuyết tự sự học ấy, chúng ta nhận thấy NKC trong Mệnh đế vương là NKC dị sự toàn năng. Đây là kiểu tự sự giấu mặt. NKC đứng sau nhân vật để bài trí, tổ chức, sắp xếp câu chuyện. Anh ta đứng ngoài nhưng lại lộng quyền phán xét. Với cách kể này, tác giả Mệnh đế vương có cơ hội phản ánh mọi vấn đề, mọi sự kiện của lịch sử, chính trị, văn hóa, tôn giáo… Ở đó, NKC có một năng lực vô song của nhà biên sử, nhà y học, nhà biên soạn và khảo cứu Folklore và đặc biệt là nhà phân tích tâm lý.
Tái hiện một thời kỳ lịch sử đầy bạo loạn, binh đao khói lửa không gì trực tiếp cho bằng miêu tả việc chuẩn bị vũ khí. NKC đã chọn được điểm khởi sự đắc địa. Bởi ở đó, NKC không chỉ có cơ hội để thêu dệt nên những truyền thuyết, huyền thoại về nghề rèn, mở rộng không – thời gian tác phẩm mà còn trực tiếp tạo dựng mối quan hệ quen biết giữa các nhân vật xoay quanh lò rèn của lão Kiền. Cũng từ cách kể đó, NKC đánh giá phán xét thời cuộc, trách cứ con Trời gây ra cảnh loạn ly, máu chảy, đói kém trăm bề: có trách thì trách ông trời… còn muốn trách gần hơn nữa thì trách con của trời[2]. Để từ đó NKC đi vào tâm điểm câu chuyện.
Tâm điểm câu chuyện là câu chuyện làm vua của Lý Hạo Sảm, Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh. Xoay quanh là bi kịch của biết bao nhân vật khác từ Thái sư Trần Thủ Độ, Thái sư phu nhân Trần Thị Dung, Công chúa Chu Vũ, Thuận Thiên… đến cả những cung nữ như Dương Diên, Dương Nghi; gia nô Phạm Đức Việt, Phạm Gia Tú; và cả Lưu nhân, Lưu Hòa, Nguyễn Phước Hậu… Đọc Mệnh đế vương chúng tôi nhận thấy, hầu hết nhân vật trong tác phẩm đều có bi kịch và những bi kịch ấy gần như mang chung một tên là bi kịch của thân phận mà cụ thể là bất đắc dĩ sinh ra mang trong mình sứ mệnh đế vương.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh vì vương quyền các thế lực sẵn sàng dẫm đạp lên nhau, lên đạo lý và lương tri, nhưng liệu ai đã dặt ra câu hỏi và trả lời rốt ráo như Trương Thị Thanh Hiền, rằng những người sinh ra trong vương quyền có hạnh phúc trong thân phận đế vương? Bằng cách kể lại cuộc đời của các đấng bậc đế vương, NKC đã chỉ cho ta câu trả lời chân thực mà sinh động nhất bởi nó đã chạm được vào những mê lộ bi kịch trong sự rối rắm của những thân phận và tính cách.
Ngay như hoàng tử Lý Hạo Sảm đâu có muốn ngồi trên chiếc ngai vàng được xây bằng vô số thây người chết đói, chiếc ngai vàng nhuốm lênh láng máu của anh em chú bác mình, ông chỉ muốn sống yên vui bên nàng Ngừ, sẵn sàng đánh đổi ngôi báu vì nàng. Rốt cuộc ngai vàng thì ông không giữ được vì quanh mình không người thân cận phò tá, bản thân lại là kẻ mềm yếu từ bi, cận thần nổi loạn khắp nơi… mà tình yêu của nàng Ngừ ông cũng không bao giờ có được, ông chỉ lãnh nhận về cho mình người đàn bà Trần Thị Dung, cùng với tham vọng đoạt vị soán ngôi vô bờ của dòng họ Trần.
Hay nàng Ngừ mang trong mình bi kịch cũng chỉ vì vận vào lời sấm của thầy địa lý: Phấn son chiếu về. Hoa sen nở trước mặt. Ngày sau nhờ sắc đẹp đàn bà mà lấy được thiên hạ[2], mà Trần Thị Dung phải vâng mệnh làm vợ ông vua yếu đuối, ẻo lả Lý Hạo Sảm, bà mang tội giết chồng (Lý Hạo Sảm) rồi lại lấy kẻ giết chồng (Trần Thủ Độ), bà lại đoạt vương quyền và cả hạnh phúc của đứa con gái tội nghiệp Lý Chiêu Thánh… Nhưng bà được gì cho bản thân ngoài đau khổ mà chính NKC đã khẳng định bằng một câu hỏi xót xa số phận nào đã buộc bà hy sinh nhiều như vậy?[2].
Cuộc đời của Lý Chiêu Thánh cũng không một phút được hạnh phúc. Tuổi thơ thiếu vắng tình cảm mẹ cha, bởi mới 7 tuổi đầu nàng đã phải mang trên mình gánh nặng vương quyền. Được hưởng chút vuốt ve của mẹ thì phải đánh đổi bằng chiếc ngai vàng mà đến khi lớn lên nàng luôn mang trong mình mặc cảm là kẻ phá tan cơ nghiệp của ông cha, dòng họ, xé tan những trang sử vàng hiển hách của dòng họ Lý oai hùng. Bao giờ nàng cũng sống trong đau khổ và căm thù những người ruột thịt nhất, đặc biệt là mẹ mình – người đàn bà mang họ Trần. Nỗi đau như vồ vập cuốn xé nàng:
Nhường ngôi đã vậy lại nhường chồng
Nông nỗi chàng ôi có thấu lòng
Vẫy nước đùa nhau thành sóng cả
Dâng triều lên cuốn thiếp giữa dòng.
Nhưng có khác gì Chiêu Thánh, Thiện Hoàng cũng sống trong nỗi đọa đày khốn cùng của thân phận đế vương. Làm vua dưới quyền của Quốc Thượng phụ Trần Thủ Độ, đến khát vọng hạnh phúc giản dị vợ chồng như một người dân thường cũng không thể được bởi người là vua. Chàng yêu thương Phật Kim hơn cả bản thân mình, không chỉ vì nàng đã trao cả giang sơn cho chàng mà sâu xa là chàng hiểu được những bi kịch đớn đau của người từng là vua, là vợ mình. Tột cùng bi kịch của hai người là mưu lược tráo phượng đổi hoàng của Thái sư Trần Thủ Độ, để Đông cung có chủ thì Thiện Hoàng phải dẹp hết tình riêng mà vì đại cuộc. Phế truất hoàng hậu Chiêu Thánh, lập Thuận Thiên làm hoàng hậu. Đó không chỉ là bi kịch chia uyên rẽ thúy của riêng Thuận Hoàng – Chiêu Thánh, mà còn là bi kịch của Trần Liễu – Thuận Thiên, của người mẹ bất đắc dĩ phải vô tình với hạnh phúc của hai đứa con… Đó cũng là đầu mối để nhân vật bộc lộ tính cách rõ ràng nhất, cũng từ đó, số phận của mỗi nhân vật rẽ về mỗi hướng khác nhau: Thiện Hoàng thoát tục không xong, vẫn phải kiên trì mang trên lưng cây thập giá của đời mình – số phận làm vua, còn Chiêu Thánh lui về bóng tối, về lãnh cung u uẩn như chính tâm sự của đời nàng.
Nếu Nguyễn Xuân Khánh trong tiểu thuyết Hồ Quí Ly muốn chia sẻ những khó khăn to lớn của một nhà cách tân vĩ đại thì ở Mệnh đế vương Trương Thị Thanh Hiền đi sâu phân tích những bi kịch tâm lý sâu sắc – bi kịch của người mang số phận làm vua, cho đến khi xuất thế nhập thiền Văn Hoàng còn phải ngậm ngùi: Số phận của ta là số phận của một đế vương, phải gắn liền với số phận của trăm họ, cho nên bây giờ đã là người tự do, ta vẫn không nỡ bỏ ra đi, vẫn quanh quẩn quanh Đại Việt này cho đến chết, để khi nhắm mắt xuôi tay vẫn tự hào rằng mình đã làm tròn bổn phận đế vương[2]. Vì vậy, nhân vật lịch sử trong tác phẩm hiện lên không phải để được tôn vinh hay nhằm giải thiêng mà NKC đã khôi phục lại diện mạo của ý thức hệ tư tưởng Nho giáo thời bấy giờ và con người là nạn nhân của ý thức hệ ấy, con người không vượt qua vòng cương tỏa của nó, kể cả Thiên tử.
Mệnh đế vương còn ngồn ngột biết bao huyền thoại, truyền thuyết về mỗi vùng đất, con người và sự ra đời hay suy vong của mỗi triều đại. Đó là truyền thuyết về làng Cổ Pháp quê hương Thái Tổ Lý Công Uẩn và sự ra đời đầy mộng triệu của vị vua lịch sử huyền thoại này. Hay sự suy thoái của Lý Hạo Sảm ứng với câu thơ Mặt trời gác núi thế là hết (chữ Sảm gồm chữ Nhật ở trên chữ Sơn)… NKC tài hoa đã lồng vào giữa những biến cố tang thương ấy là những truyền thuyết hư ảo, những yêu thương và hận thù song câu chuyện vẫn chặt chẽ thống nhất đến bất ngờ.
Nhưng, cũng khởi đi từ NKC, bạn đọc đặt ra câu hỏi NKC là ai mà có khả năng siêu phàm, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa tri nhân sự như vậy? Tác giả nên chăng xác định vai cho NKC để câu chuyện thêm phần thuyết phục, ngược lại, bạn đọc có quyền hoài nghi, liệu NKC ở đây là kẻ nói dối có ý thức.!
Thêm nữa, đọc xong dòng cuối của tác phẩm là người đọc như thấu triệt được nội dung mà tác phẩm muốn chuyển tải. Chính lối viết quá ư đầy đủ, phân tích kĩ lưỡng của ngòi bút Trương Thị Thanh Hiền đã đẩy người đọc vào cảnh an nhàn, thanh nhã trong thụ động. Bởi NKC như Chúa toàn năng nắm trong tay mình toàn bộ chân lý vĩ đại của loài người, và độc giả như những con chiên chịu sự dắt dẫn ấy. Độc giả hiện đại không an phận thụ động lãnh nhận mà phải là người đồng sáng tạo, họ tích cực kiếm tìm chân lý nhưng cội nguồn ý nghĩa ở văn bản đã được bóc tách cụ thể nên cuộc tìm kiếm đó trở nên vô ích bởi đi đâu họ cũng gặp điều mà NKC đã kể, và nghĩa là gặp lại chính mình.
Vấn đề chúng tôi đặt ra có thể còn mang màu sắc chủ quan cảm tính. Song, không hiểu sao khi đọc xong Mệnh đế vương tôi có cùng cảm giác như khi đọc Mật mã Da vanci, vụ án đã khép lại, lịch sử đã khép lại, nó không thôi thúc tôi mở sách ra lần thứ hai. Điều đó hoàn toàn khác với cảm xúc khi tôi cầm trên tay cuốn Tên của đóa hồng, cũng là tác phẩm trinh thám, vụ án đã trở nên minh bạch, thủ phạm đã bị trừng phạt bằng cái chết thảm khốc, nhưng tác phẩm vẫn cứ ám ảnh, réo gọi người đọc truy tìm những đường dẫn đến chân lý. Có lẽ, Umberto Eco đã dấn thân Đi tìm sự thật biết cười[3], khi cho rằng: Có lẽ sứ mệnh của kẻ yêu nhân loại là biết làm cho con người cười vào chân lý, làm chân lý cười lên, vì chân lý duy nhất là việc học để giải phóng chúng ta ra khỏi sự đam mê chân lý một cách mù quáng [4].
Tài liệu tham khảo:
[1] Trần Huyền Sâm (biên soạn và giới thiệu, 2010), Những vấn đề lý luận văn học phương Tây hiện đại, NXB Văn học, tr. 262.
[2] Trương Thị Thanh Hiền (2011), Mệnh đế vương, NXB Hội Nhà văn, tr.7, 112, 314, 614.
[3] Tên sách của Umberto Eco (2004), Đi tìm sự thật biết cười, Nxb Hội nhà văn, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây.
[4] Umberto Eco (Đặng Thu Hương dịch, 1989), Tên của đóa hồng, NXB Trẻ TP HCM. 
7/5/2024
Nguyễn Thị Tuyết
Theo https://vanvn.vn/

Hình, tình và ý trong thi luận của Hồ Thế Hà

Hình, tình và ý trong
thi luận của Hồ Thế Hà

Ngoài Phê bình Ấn tượng, Hồ Thế Hà còn vận dụng linh hoạt các phương pháp phê bình khác phù hợp với phong cách mỗi nhà thơ. Chẳng hạn, từ góc nhìn Kí hiệu học, ông đã phân tích sâu sắc về ý nghĩa của thế giới biểu tượng trong thơ Hàn Mặc Tử từ đạo nguồn đến nghệ thuật. Hay từ Lý thuyết cổ mẫu và Phân tâm học, Hồ Thế Hà đã diễn giải rõ thơ Nguyễn Quang Thiều nhìn từ mẫu gốc và những mảnh vỡ tiềm thức trong thơ Nguyễn Hoa. Thiên tính nữ trong thi giới thơ Xuân Quỳnh…
1. Hình trong cấu trúc thi luận và những luận giải khoa học
Những năm trước trước đây, khi đọc các tập thơ của Hồ Thế Hà [4], tôi đã nghĩ rằng thơ anh giúp người đọc “hiểu hơn về tâm sự, quan niệm sống của anh từ lĩnh vực nghiên cứu khoa học đến lao động nghệ thuật, từ quan niệm về đời sống tâm linh đến quan hệ ứng xử và giao tiếp của con người trong xã hội. Đằng sau các biểu tượng quen thuộc là tinh thần mới của tác giả giúp người đọc mở rộng trường nhận thức, khám phá những giá trị văn hoá truyền thống còn chìm khuất trong lòng đời sống cộng đồng xã hội. Hồ Thế Hà như thế đã làm chủ năng lượng tinh thần của ngôn ngữ tiếng Việt” [3, tr.24].
Năm 2018, tiếp tục đọc tập tiểu luận phê bình Thơ Việt Nam hiện đại, thi luận và chân dung, Nxb Hội Nhà văn 2018, tôi càng thấy rõ hơn “kiểu Hình” riêng của Hồ Thế Hà trong hành trình nghiên cứu khoa học và sáng tạo nghệ thuật đầy đam mê của anh. Tập tiểu luận Thơ Việt Nam hiện đại, thi luận và chân dung ra đời góp phần khẳng định thêm đặc trưng riêng của phong cách nhà phê bình tài hoa này. Nhiều người cho rằng, sự cẩn trọng trong nghiên cứu, sáng tạo đến lối sống nhân ái trong cuộc đời luôn tỏa sáng trên gương mặt Hồ Thế Hà, kể cả khi anh có đột ngột bị những cơn tai biến do tuổi tác hỏi thăm. Hẳn các văn nghệ sỹ, giới nghiên cứu phê bình cả nước không ai không nhắc đến Hồ Thế Hà khi đặt chân đến thành phố Huế với nhiều “giai thoại”, nhiều câu chuyện thú vị về anh. Tôi thiết nghĩ, sống ở đời chỉ cần giúp một vài người vui và có hạnh phúc là cuộc sống mình đã có ý nghĩa. Với Hồ Thế Hà, xét từ đời sống tinh thần, đến khoa học và sáng tạo nghệ thuật, anh đã giúp, đã động viên khích lệ tinh thần, mang lại niềm vui đến không biết bao nhiêu người, bao nhiêu thế hệ yêu văn chương. Tất cả bạn bè, các thế hệ học trò được dịp quen biết anh dù thân, sơ cũng đều dành cho anh một tình cảm yêu mến chân thành, vì nhiều lẽ.
Tôi đã thử đọc, viết một vài lần về cuốn thi luận khoa học công phu này của Hồ Thế Hà từ các góc nhìn khác như phê bình ấn tượng, phân tâm học, thi pháp học…nhưng mãi cũng không thấy được bí mật đã giấu trong “Hình” của cuốn sách này là gì? Chợt nhớ trong các câu chuyện vui liên quan đến anh, nhiều người thường kể đến khả năng chơi trò chơi ngôn ngữ nói lái nhanh nhạy, trò chơi đọc ngược từ nhưng luôn có nghĩa vui của Hồ Thế Hà! Hóa ra, điểm thú vị của “Hình” Thơ Việt Nam hiện đại, thi luận và chân dung là ở chỗ có thể đọc xuôi, có thể đọc ngược, có thể đọc từ giữa lên hoặc xuống, đọc từ trong ra, hoặc từ ngoài vào đều thấy ổn. Ồ! Đó mới là trò chơi thú vị, thân mật của riêng Hồ Thế Hà với những bạn đọc cùng thế hệ và cũng là những bài học về nghiên cứu thơ Việt Nam sâu sắc anh dành cho các bạn đọc trẻ cách xa thế hệ anh hàng chục năm. Nếu thử cách đọc ngược với chuyên luận khoa học này bạn đọc sẽ ấn tượng trước hết với cách anh gọi tên những chân dung các nhà thơ khá thú vị từ các góc nhìn khác nhau.
Trước hết, có thể nói ấn tượng  nhất vẫn là những chân dung nhà thơ được ông phân tích từ góc nhìn của phê bình ấn tượng như Lê Khánh Mai – duyên mệnh thi ca. Những dòng mở đầu cho bài viết về thơ Lê Khánh Mai chính là những tâm sự, những khái quát tri âm của Hồ Thế Hà không chỉ dành riêng cho nhà thơ nữ đáng yêu này mà còn dành cho các bạn thơ, và các bạn đọc thơ: “Có người bảo thơ là người. Nó không chính là người thơ thì cũng là cái bóng của người thơ. Dĩ nhiên là lung linh, biến ảo và kỳ diệu hơn nhiều. Vì thơ được thanh lọc và kết tinh từ những gì hiển minh và vô minh, từ hiện thực và hư ảo, từ có và không, từ nhớ và quên…để trong từng khoảng khắc bừng ngộ, run rẩy của cảm xúc và tâm hồn, thơ hiện lên thành hình hài câu chữ, thành khoảng lặng của những tín hiệu lấp lánh lời giải đáp về những vấn đề muôn thuở của cuộc sống và con người mà thi nhân kịp lưu giữ.”[1, tr. 441].
Cũng từ trực giác thơ thiên phú nhìn vào Bản mệnh thơ Bùi Giáng, anh nhận định “Những nghịch lý trong sáng tạo nghệ thuật của Bùi Giáng đã làm thành tổng hòa của sự hội tụ chứ không phải là sự phân hóa thi pháp thơ… Tìm hiểu bản mệnh thơ Bùi Giáng, theo tôi, phải tính đến sự cộng hưởng thi pháp rất riêng này của ông” [1,tr.265]. Phân tích Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật, Hồ Thế Hà cho rằng: “Sau những câu thơ rướm máu là những giọt nghĩ đứt nối trong đêm không phải chỉ cho mình mà chính là cho những điều hằng cửu của cuộc sống và thi ca. Thế giới màu trong ngôi nhà cỏ của Hoàng Vũ Thuật lung linh mỗi sáng mà ở đó luôn có sự giao động giữa ánh sáng và bóng tối giữa ngày và đêm giữa hiện hữu và hư vô giữa hiện thực và siêu thực giữa thất vọng và hy vọng…Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật vẫn đang vẫy gọi sự đồng vọng của những độc giả đồng sáng tạo” [1, tr. 333]. Cũng từ góc nhìn Thơ Hữu Thỉnh – Tương hợp và đa thanh, Hồ Thế Hà đã phát hiện ra điểm quan trọng “Hữu Thỉnh là nhà thơ có khả năng nắm bắt và cảm nhận đời sống ở dạng uyên nguyên, minh triết của nó và thổi vào đó những kinh nghiệm quan hệ sống của mình một cách bất ngờ và sáng tạo” [1, tr. 288].
Ngoài Phê bình Ấn tượng, Hồ Thế Hà còn vận dụng linh hoạt các phương pháp phê bình khác phù hợp với phong cách mỗi nhà thơ. Chẳng hạn, từ góc nhìn Kí hiệu học, ông đã phân tích sâu sắc về ý nghĩa của thế giới biểu tượng trong thơ Hàn Mặc Tử từ đạo nguồn đến nghệ thuật. Hay từ Lý thuyết cổ mẫu và Phân tâm học, Hồ Thế Hà đã diễn giải rõ thơ Nguyễn Quang Thiều nhìn từ mẫu gốc và những mảnh vỡ tiềm thức trong thơ Nguyễn Hoa. Thiên tính nữ trong thi giới thơ Xuân Quỳnh…
Anh cho rằng thơ Nguyễn Quang Thiều “hoàn toàn mang tâm thức Việt, khung cảnh Việt, tâm hồn Việt, cao hơn là văn hóa Việt, thông qua những hiện thực tâm trạng và hiện thực làng quê Việt mà tượng trưng là làng Chùa quê anh nên thật sự đánh thức tâm hồn những người nhà quê trong mỗi chúng ta như cách nói của Hoài Thanh khi nhận xét về thơ Nguyễn Bính cách đây hơn nửa thế kỷ. Nhưng ở Nguyễn Quang Thiều cao hơn, hiện đại hơn, nghệ thuật hơn nên có sự phân hóa trong người đọc là điều dễ hiểu” [1, tr.367]. Còn “Thơ Nguyễn Hoa không mới về thể thơ và hình thức biểu đạt, nhưng lại có thế mạnh về vốn sống và sự ám ảnh lớn về nhân sinh, kiếp người do anh biết lọc từ hiện thực những sự việc và kinh nghiệm quan hệ giàu tính triết lý, chiêm nghiệm thông qua cách tổ chức tứ thơ, hình ảnh thơ và liên tưởng thơ gần gũi mà bất ngờ” [1, tr. 454].
Từ Phê bình Sinh thái học, Hồ Thế Hà đã lý giải rõ những tiêu điểm thẩm mỹ thơ Trịnh Công Lộc, đó là “sự hòa quyện những cảm hứng lớn về nhân dân, đất nước, dân tộc cùng với cảm hứng thẳm sâu về thiên nhiên, về tình yêu và môi trường sinh thái thông qua cảm thức hiện sinh cá nhân đầy thao thức và trách nhiệm” [1, tr. 454]. Vận dụng kết hợp Phê bình  Hậu hiện hiện đại, Hồ Thế Hà đã phân tích sâu sắc vấn đề Thơ tạo sinh nghĩa Mai Văn Phấn. Theo anh “Mai Văn Phấn là một hiện tượng riêng của nền thơ đương đại Việt Nam – mà là hiện tượng riêng, liên tục lấp lánh và mới lạ” [1, tr. 388]. Ngoài ra, kết hợp giữa Phê bình Thi pháp học và Mỹ học hiện đại, Hồ Thế Hà đã luận giải rõ các các dạng thái cái tôi trữ tình trong thơ Bích Khê, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ từ thời chiến đến thời hậu chiến; Phân tích sâu sắc vấn đề triết mỹ lục bát của Huy Cận trong Lửa thiêng; Chế Lan Viên – người lạ mặt giữa thế giới điêu tàn. Điểm qua bút pháp phê bình của “Hình” Hồ Thế Hà như vậy để thấy việc nhiều người nói anh là nghệ sỹ thơ (vì anh vừa sáng tác, vừa đọc thơ hay, vừa có biệt tài thuộc nhiều thơ hay, lạ, vui) hay là nhà phê bình thơ Việt tài hoa cũng không ngoa!
2. Tình và Ý trong thi luận
Tiếp tục đọc ngược Thi luận, bạn đọc sẽ thấy rõ quá trình lao động nghiêm túc, khoa học của Hồ Thế Hà trong hành trình đi tìm bản chất giá trị của thơ. Ai bảo Hồ Thế Hà là lãng đãng thi sĩ, là nhớ nhớ quên quên, là lang thang hò hẹn bóng hồng giữa các “chiến hữu thơ”, là hẹn hẹn nữa…lần sau nhé… thì nên đọc chậm các bài viết này của anh. Phê bình của Hồ Thế Hà vì vậy có thể nói là kiểu phê bình khoa học khách quan trong cái Tình sâu và Ý hay.
Các nhận định của Hồ Thế Hà về Thơ Việt Nam 1975 -2016, Đặc điểm thơ hiện đại Việt Nam, Thơ lục bát Việt Nam trên hành trình hiện đại, Thơ tranh đấu của học sinh sinh viên xứ Quảng 1954 -1975, Nhóm thơ Bình Định thời kỳ Thơ mới (1930 – 1945), Quan niệm về thơ của Dạ Đài – tiếp biến lý luận văn học phương Tây, Tiềm năng của ngôn ngữ trong sáng tạo và tiếp nhận thi ca, Cái tôi trong thơ trữ tình, về Thơ mới, về Khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín hiệu của cái nhạt trong thi ca đều có những phát hiện mới quan trọng, có khả năng định hướng tốt cho các bạn đọc trẻ nhiều thế hệ sau. Bên cạnh đó, các luận giải của Hồ Thế Hà về thơ hậu hiện đại Việt Nam, giá trị thơ, tính triết lý trong thơ đã cho thấy một quan điểm rõ ràng, một tư thế đối thoại khoa học đầy bản lĩnh của Hổ Thế Hà trước sự biến chuyển thú vị của dòng chảy thơ Việt Nam hiện đại.
Phân tích về Tiềm năng ngôn ngữ trong sáng tạo và tiếp nhận thi ca, Hồ Thế Hà cho rằng: “Ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ là một thứ ngôn ngữ có độ mở cao nhất và đánh thức được nhiều trường cảm xúc nhất, làm cho quá trình đồng sáng tạo giữa tác giả và độc giả càng thêm phong phú. Tính hướng nội mạnh, tính cá thể cao, tính hình tượng giàu sắc thái mỹ cảm luôn là sự phấn đấu không chỉ riêng chủ thể sáng tạo (dĩ nhiên là phải dựa vào tư duy lô-gích) mà còn tùy thuộc vào từng phương thức làm việc, gắn với đặc trưng từng thể loại” [1, tr.32]. Hay nhận diện về  Khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín hiệu của “cái nhạt  trong thi ca, Hồ Thế Hà xác quyết “tôi liên hệ đến đặc trưng thể loại, thông qua cách tổ chức ngôn từ thơ, tham chiếu với cái nhạt, lại thấy giữa chúng có điểm gặp nhau trong sáng tạo của người nghệ sĩ và trong mục đích cuối cùng ở tài năng của người thưởng thức. Và từ đó dễ dàng thấy được cái nhạt chính là phẩm chất, cao hơn, là mỹ học rất cần thiết của thi ca, giúp thi ca trở thành những tín hiệu kỳ diệu, cao sang và minh triết cho con người và cho đời sống nghệ thuật. Tôi hiểu khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín hiệu của cái nhạt trong thi ca chính là với khả năng gặp gỡ, giao nhau đó” [1, tr.32]. Đây là kiểu phê bình đối thoại khách quan mà các nhà triết học thường ứng dụng trong lịch sử.
Ở Hồ Thế Hà, đối thoại là để tìm ra nguyên lý chung, xác lập rõ hơn quy luật của sáng tạo nghệ thuật để từ đó người đọc không chỉ thấy được vai trò quan trọng của quá trình sáng tác thơ mà còn cần chú ý hơn đến quá trình tiếp nhận thẩm mỹ ở người đọc. Người tiếp nhận cùng với quá trình nỗ lực khách quan hóa tầm đón đợi cũng là một vấn đề cần thiết cho cả sáng tác lẫn nghiên cứu, phê bình. Nghĩ về tính triết lý trong thơ, Hồ Thế Hà cho rằng “Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt…Nhưng như thế không phải lúc nào và ở đâu, một tác phẩm thơ cũng trở thành trác tuyệt. Vậy cái gì đã làm nên giá trị và sức sống của một thi phẩm? Đó chính là sự hài hoà thẩm mỹ giữa trí tuệ và cảm xúc; giữa cái ảo và cái chân; giữa hình thức và nội dung”[1, tr. 56]. Tính triết lý trong thơ như vậy theo anh là một phương diện cần có để làm giàu nhận thức, liên tưởng và suy tưởng của con người. Nhận định về “Quan niệm về thơ của Dạ Đài – tiếp biến lý luận văn học phương Tây”, Hồ Thế Hà cho rằng “Quan niệm về thơ của nhóm Dạ Đài thấm đẫm tính chất của chủ nghĩa tượng trưng. Họ muốn dứt bỏ những ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, vì nó đã đi tận mút của con đường cùng” [1, tr. 66]. Hay khi phân tích về Thơ tranh đấu của học sinh, sinh viên xứ Quảng, Hồ Thế Hà có nhận xét “Thơ tranh đấu xứ Quảng không chỉ phản ánh hiện thực, mà cao hơn là bình luận và triết luận về hiện thực. Sự bắt đầu của lòng yêu nước đồng nghĩa với sự bắt đầu của hy vọng và tin yêu cách mạng mà mình có phần trong ấy” [1, tr.82]… Hầu như trước Hồ Thế Hà, chưa ai có những nhận xét đầy đủ như vậy về giá trị của nhóm thơ này.
Làm thơ, đọc thơ, dạy về thơ, yêu thơ đến hết cả phần đời sống thực, Hồ Thế Hà luôn ý thức rõ về giá trị thơ và giới hạn của quá trình thơ ca. Trong quá trình sáng tạo, anh luôn trăn trở với những câu hỏi: “Làm cách nào để hiểu bản chất của giá trị thi ca và quá trình thi ca? Có cần phải xác lập một kí ức và thức nhận văn hoá có tính tập thể, cộng đồng, cộng hưởng làm nền tảng cho quá trình tiếp nhận và định hướng tri thức thi ca cho mọi người không? [1, tr. 118]. Và anh cũng tự lý giải: “Quá trình nhận diện và thẩm định thi ca chính là con đường nỗ lực tích hợp những hiểu biết có tính siêu ngôn ngữ, siêu văn bản, siêu văn hóa… mới mong làm giàu nhận thức, phù hợp với đặc trưng thể loại có tính “đỏng đảnh” nhưng kì diệu và cao sang này. Và cũng cần lưu ý những trường hợp cá thể, cá biệt, ngoại lệ mà tính phi qui luật của nó không có chỗ đứng trong chủng loài. Khi ấy, không có lời biện hộ nào, dù hay ho và ngụy biện tinh vi nhất, lại đủ sức làm xoay chuyển tình thế và có tính thuyết phục được công chúng, kể cả công chúng bình thường nhất” [1, tr. 118]… Đọc tiểu luận này người đọc sẽ hiểu rõ hơn vì sao Hồ Thế Hà dễ gần bạn đọc, dễ được bạn đọc yêu quý không chỉ với những sáng tác của anh mà còn yêu mến phong cách sống trong đời thực và “mơ thơ” của anh. Có thể nói, đọng lại với người đọc trong tiểu luận phê bình vẫn là những kiến giải sâu sắc, đầy tâm huyết của Hồ Thế Hà với câu hỏi lớn của muôn thuở thơ là gì? Thử trả lời cho câu hỏi này, Hồ Thế Hà đã đi từ khái niệm, từ các góc nhìn khác nhau về thơ. Anh nhất trí rằng đây là câu hỏi đầy thách thức và lý thú! Từ việc hệ thống những định nghĩa khá thú vị đến từ các quan điểm khác nhau về thơ, Hồ Thế Hà đã có những nhận xét khách quan các quan niệm nhìn từ chức năng xã hội và lý tưởng của thi ca của Sóng Hồng, Hà Minh Đức, Johnannes Bêchr; chú trọng về duy mỹ và cái đẹp thuần túy của Lamartine, Tố Hữu; đề cao sứ mệnh thi ca, gắn thi ca với sáng tạo của Apollinaire, Nguyễn Tuân; tập trung vào quan điểm duy tâm, thần bí của Hàn Mặc Tử, Baudelaire; đề cao hình thức, gắn với sự xảo thuật ngôn từ của André Gide. Paul Valéri; nhấn mạnh quan niệm nhân sinh của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Vương Duy, Bạch Cư Dị, Ngô Giang Thanh, Hoàng Đình Kiên; nghiêng về ảnh hưởng của Phật, Lão, Nghiêm Vũ lấy đạo Thiền so sánh với thơ, chủ trương thuyết Tài và Phú, Diệu ngộ trong thơ, thơ để ngâm vịnh tính tình… Theo Hồ Thế Hà, từ các góc nhìn này, mỗi người mỗi phong cách nhưng đều gặp  nhau ở quan niệm: thơ phải gắn liền với cái đẹp, cái thật và cái có ích, dẫu có lúc họ có tỏ ra bay bổng và lãng mạn. Mặt khác, bên cạnh ý kiến về thơ của Roman Jakobson, Hồ Thế Hà cũng đã hệ thống lại các quan niệm thơ khác của các nhà thơ trong thời kỳ Thơ mới như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận; quan niệm về thơ của các tác giả sau 1986 như Bùi Chí Vinh, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Mã Giang Lân, Phan Ngọc, Phạm Tiến Duật…Từ các quan niệm về thơ theo các góc nhìn khác nhau như vậy, Hồ Thế Hà đưa ra định nghĩa ngắn gọn: “Thơ là một thông điệp thẩm mỹ nhân văn đặc biệt được tổ chức và tư duy bởi hệ thi pháp của một ngôn ngữ cụ thể để tạo nên chỉnh thể nghệ thuật độc đáo nhằm đem lại cho người đọc những rung cảm bất ngờ” [1, tr. 18]. Định nghĩa thơ là một việc khó! Nhưng đây là lần đầu tiên ở Việt Nam có một định nghĩa thơ khái quát, cần cho nhiều bạn đọc thơ thế hệ sau bởi tính khái quát cao, nhấn mạnh được tính chỉnh thể của thơ, thể hiện rõ quan điểm của tác giả về mối quan hệ giữa tác giả và người đọc. Chỉ rõ mối quan hệ tiếp nhận đồng sáng tạo, góp phần xác lập quan điểm xem thơ như là một cấu trúc ngôn từ mở. Đây chính là đặc trưng của Ý và Tình trong phê bình lí luận của Hồ Thế Hà.
Nói như nhà nghiên cứ Nguyễn Văn Hùng thì “Diễn ngôn nghiên cứu phê bình của Hồ Thế Hà vừa đa dạng do sự tích hợp nhiều tri thức, tư tưởng, vừa độc đáo bởi sự sáng tạo, liên tưởng thú vị. Với ông nghiên cứu khoa học không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật. Ở đó không đơn thuần là những thao tác, phương pháp có tính khách quan, khoa học, mà còn là hành vi đồng sáng tạo, tạo sinh/làm dôi nghĩa cho văn học…Dù có đa dạng đến đâu, nhưng diễn ngôn nghiên cứu phê bình của ông luôn hài hòa, thống nhất giữa tư tưởng- triết luận – thẩm mỹ” [2]. Đúng vậy, trong hành trình trình xác lập bản chất thơ Việt, Hồ Thế Hà đã có sự chuyển động, thay đổi phương pháp nghiên cứu nhưng luôn tập trung nguyên lý cơ bản: Từ truyền thống đến hiện đại, hậu hiện đại, từ thực tiễn văn bản đến khái quát thành quan điểm, khái niệm, và ngược lại từ lý thuyết đến thực hành qua các các văn bản. Quá trình luân chuyển biện chứng về mặt phương pháp, sự dung hợp, đa dạng hóa tầm nhìn theo nguyên tắc hòa trộn tầm đón đợi trong quá trình phức hợp các phương pháp phê bình của Hồ Thế Hà phù hợp với xu thế nghiên cứu văn học liên ngành ở Việt Nam.
Chú thích:
[1]. Hồ Thế Hà, Thi luận và chân dung, Nxb Hội Nhà văn, 2018.
[2]. Nguyễn Văn Hùng, Hồ Thế Hà và hành trình khám phá bản thể thơ ca, giải mã chân dung thi sĩ, Tạp chí Sông Hương 365/07.2019.
[3]. Mai Thị Liên Giang, Biểu tượng thơ Hồ Thế Hà,  An trú miền đọc, Nxb Hội nhà văn, 2018.
8/5/2024
Mai Thị Liên Giang
Theo https://vanvn.vn/

"Thiếu niên và chim diệc" từ góc nhìn sinh thái

"Thiếu niên và chim diệc"
từ góc nhìn sinh thái

“Thiếu niên và chim diệc” là bộ phim hoạt hình chính kịch mới nhất của hãng phim hoạt hình Ghibli chính thức ra mắt ở Việt Nam vào ngày 15.12.2023. Tác phẩm lấy bối cảnh nước Nhật trong những năm cuối thế chiến thứ hai, với nhân vật chính là thiếu niên Mahito mất mẹ trong cuộc oanh tạc Tokyo, sau đó cha cậu đã đi bước nữa và dời nhà về vùng quê.
Tại đây, những chuyện kì bí về một con diệc xanh biết nói, một tòa tháp cổ quái và sự kiện người mẹ kế mất tích đã cuốn Mahito bước vào hành trình phiêu lưu huyền ảo. Bộ phim mới nhất của đạo diễn Hayao Miyazaki như cuốn nhật kí hoạt họa màu nước để lại cho đời sau, không chỉ là một tác phẩm bán tự truyện của ông, mà còn là câu chuyện về chiến tranh và sinh thái được xưởng làm phim Ghibli luôn theo đuổi suốt bốn mươi năm qua.
Nút thắt mộng ảo về chiến tranh và sinh thái
Phim mở đầu bằng sự náo loạn dần xâm chiếm Tokyo bởi một trận hỏa hoạn. Bệnh viện nơi mẹ Mahito làm việc đã bốc cháy. Những năm 1943, trong lòng Nhật Bản là những trận mưa bom cháy rải xuống từ máy bay. Chắc hẳn nhiều người sẽ cảm thấy kinh hoàng với hình ảnh như có một mặt trời rơi xuống đất Nhật, tạo ra đám mây hình nấm và cuốn đi hàng ngàn người thành hư vô trong cuộc nổ bom nguyên tử. Nhưng ít ai biết rằng, tổn thất nhân mạng nhiều nhất trên đất Nhật không phải là hai quả bom ấy, mà nó đến từ chính những đợt rải bom cháy ngay trên thủ đô Tokyo.
Khi bom cháy leng keng rơi trên mái ngói, lửa đã bùng khắp nơi. Những ngôi nhà gỗ cổ điển trở thành hỏa ngục, đến tan thương cũng hóa tro tàn dưới biển lửa. Người người hóa thành than, người người quấn băng trắng nằm cạnh nhau, trút hơi thở cuối cùng. Những hình ảnh khốc liệt về trận ong tạc Tokyo trong phim Mộ đom đóm của nhà Ghibli có thể bóp nghẹn tim khán giả. Nhưng với Thiếu niên và chim diệc, đạo diễn Hayao Miyazaki đã thu vén những đau thương ấy dưới góc nhìn khác. Người xem hòa vào sự hối hả của Mahito chạy tuột qua dòng người hoảng loạn, ngọn lửa đã bao trùm thành phố nhưng không phải ngọn lửa đốt cháy thịt da người, mà là ngọn lửa bao trùm lấy tâm hồn và bóp nghẹt toàn bộ nhận thức của cậu. Thế giới trong mắt một thiếu niên, và cả người xem, bỗng chốc méo mó rũ rượi. Nếu Một góc nhỏ của nhân gian là sự nhạt màu đầy tức tưởi, Mộ đom đóm tàn khốc ghê rợn, thì Thiếu niên và chim diệc là bức tranh lan nhòa đẹp đến đớn đau.
Chiến tranh bao trùm nước Nhật, những người trẻ tuổi ở vùng quê lũ lượt nhập ngũ như một sứ mệnh vinh quang giữa tiếng kèn trống. Người đi đường, thậm chí mẹ kế và Mahito trên xích lô cũng phải dừng lại, bước xuống và cúi đầu kính cẩn. Những người già và phụ nữ bồng con trong đoàn tiễn quân ấy còn đông đúc hơn cả số thanh niên nhập ngũ. Họ lọt thỏm giữa cảnh rộng làng quê làm vinh quang của mạng sống trong cảnh phim này trở nên nhỏ bé hơn bao giờ hết. Đến cả ngôi đền thiên mà hậu duệ chủ đền chỉ có thể bước vào cửa chính một lần duy nhất khi mới đến, thì chiến tranh cũng đã mặc nhiên tràn vào đấy, chiếm cứ khắp nơi dưới hình hài những thiết bị máy bay đang chờ lắp ráp.
Cuộc chiến của họ có thật sự vinh quang? Ngoài đời thực, một thế hệ người trẻ Nhật Bản sau thế chiến thất vọng cùng cực vì cuộc chiến ấy. Họ nhận ra mình không phải phe chính nghĩa, nhận ra sự ảo tưởng của những phương hướng sai lầm, và họ đã được gì từ cuộc chiến đó ngoài sự mất mát vô nghĩa. Một thế hệ hiện sinh luôn chất vấn về giá trị thực sự của đời mình vì thế mà sinh ra, lan rộng qua nhiều thế hệ người Nhật.
Thiếu niên Mahito, người đã mất mẹ trong thời chiến và là con trai của một chủ sản xuất máy bay, có ghét chiến tranh không?
Bên bờ biển trong tòa tháp mộng ảo, Mahito bước ra ngắm biển đêm, hàng ngàn warawara chập chững thổi phồng cơ thể để bay bổng lên trời cao. Những Wara nhảy múa bay lên, nối nhau thành đám mây lấp lánh giữa màn đêm thơ mộng. Chúng sẽ bay lên mặt đất hóa kiếp thành những sinh linh mới trong thế gian. Nhưng nhịp sinh – diệt của tự nhiên là luôn song hành. Những con cá khổng lồ nuôi sống Wara, và Wara lớn, bay lên trời cũng là lúc mắt xích tiếp theo xuất hiện. Đó là loài bồ nông ăn Wara bay thành đàn lớn. Với một người trần thế như Mahito, Wara dễ thương kia cũng có cùng một hành trình trở về mặt đất như cậu. Trong vòng luân hồi, nó là quá khứ của cậu; ở mặt hiện thực, dường như cậu và nó là đồng hương. Thế nên trong mắt Mahito, Wara có thể là loài người, là đồng bào.
Bồ nông thì khác, chúng xa lạ, tà ác và chúng săn mồi. Dưới dạng hữu sinh, chúng ăn thịt những sinh linh cậu cho đó là đồng loại; thì dưới dạng vô sinh, chúng chẳng khác gì những thứ đã rải xuống quê hương cậu vô số bom cháy, chúng là hiện thân của những chiếc máy bay ở thế giới tòa tháp. Đúng lúc Mahito cầu cứu, cô gái Himi xuất hiện trên mặt biển, quỳ trên thuyền và chấp tay cầu khấn. Từ tay cô bắn những đợt pháo hoa rực rỡ. Pháo hoa thiêu đốt bồ nông, nhưng cũng thiêu đốt Wara. Trước khung cảnh ấy, Mahito vừa tức giận vừa khẩn cầu Himi: “Dừng lại”. Kiriko nói rằng nếu không có Himi thì các Wara sẽ bị ăn sạch và chúng không bao giờ lên thượng giới được nữa. Bồ nông đã bay đi, và một số Wara vẫn tiếp tục hành trình.
Khi một con bồ nông ngã xuống và hấp hối, câu chuyện của nó khiến Mahito choàng tỉnh, rằng bồ nông để sống cần phải ăn wara, đó là điều nó không thể lựa chọn. Liệu sinh ra với bản năng hủy diệt có phải là sai lầm của nó chăng? Tạo hóa làm ra cuộc chiến sinh tồn vì có những sinh vật phải lớn lên trong đói khát. Chúng chỉ có thể sống bằng cách săn mồi, và chỉ có săn mồi mới tạo nên ý nghĩa trong vòng tuần hoàn của sự sống. Chim bồ nông không gì khác hơn là mắc xích kiểm soát và ổn định tự nhiên. Vậy còn chiến tranh thì sao? Máy bay gây ra chết chóc không phải lỗi của máy bay, mà là lỗi của chính con người, như một lần nữa nhấn mạnh thông diệp trong một phim Ghibli khác là The Wind rises. Bồ nông hay chiến tranh sinh ra để kiểm soát nhân loại, khi con người không thể tự kiểm soát bản thân mình. Chiến tranh chỉ biến mất khi con người học được cách sống hòa bình với nhau.
Nút thắt chiến tranh trong lòng Mahito chợt mở, cậu đã hiểu rằng cuộc chiến nào cũng gây ra mất mát cho chính những thứ cậu muốn bảo vệ. Mahito cuối cùng biết rằng cậu không hề thích chiến tranh. Nhưng khi Bồ nông chết, Mahito đã chôn cất con chim như đã tha thứ, chấp nhận và tôn trọng đối với sự tồn tại của bồ nông, của chiến tranh, và của mất mát.
Đế chế chim vẹt và thuyết ngoại sinh
Đế chế chim vẹt trong phim hiện ra đầy chật chội trong hệ thống hành lang méo mó, những mê cung tường thành thiếu ánh sáng, và vây hãm trong gam màu trầm đục của những tầng nhà san sát nhau. Người xem dễ dàng nhận thấy đế chế vẹt là một sự phản chiếu đầy âm u của cuộc sống. Trong những căn nhà chồng chất trong vô số những hoạt động thường ngày giặt giũ, nấu ăn, thậm chí là xem phim. Đế chế này còn có cả một hệ thống quân phiệt hoàn chỉnh. Chúng muốn tòa tháp được ổn định, chúng muốn quyền lực, chúng muốn thịt. Khi tháp chủ già yếu cần tìm người kế vị mang huyết thống đồng tộc, con vẹt đế vương đã trực tiếp ra mặt để đòi hỏi quyền kiểm soát. Nhưng ngay lập tức, một chi tiết đắt giá vô cùng hài hước đã vạch trần toàn bộ bản chất của đế chế này.
Khi những con vẹt lính tô lớn, ì ạch bước lên đỉnh tháp, chúng hoàn toàn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của khu vườn trước mặt. Vẻ đẹp của ánh sáng, của cây cối tự nhiên đã quá xa lạ và kì diệu. Kì lạ hơn, những con vẹt bình thường bay vòng quanh vẹt lính. Và sự châm biếm đến mức tột độ khi hai con vẹt lính hỏi nhau đây có phải vườn địa đàng không khi nhận ra tổ tiên của mình tự do đến thế. Những con vẹt lính tưởng chừng ưu tú, siêu việt, đầy văn hóa, ngôn ngữ, quyền lực, lại chẳng còn khả năng bay như loài vẹt thủy tổ, chẳng còn biết tự do bên ngoài những chiếc lồng bằng tường thành vách đất.
Liệu đế chế vẹt kia có phải là hình ảnh phản ánh của đế quốc Nhật trong Thế chiến thứ hai? Và liệu nó có thể mở rộng thành thế giới loài người chúng ta hay không? Trước tình trạng thiên nhiên dần suy kiệt, vẻ đẹp của tự nhiên cũng dần thoái hóa, những con vẹt trong đế chế vẹt kia có khác gì con người? Liệu con người đã hoặc sẽ nhìn thấy vẻ đẹp của tự nhiên, nơi mà thủy tổ con người đã từng sinh ra và tưởng rằng đó là thiên đường? Đây có lẽ là những bài học là tự mỗi người xem phải tự trả lời lấy.
Đối lập với sự tự vấn của vẹt lính, trong mắt vẹt đế vương không có khu vườn mà chỉ mục tiêu duy nhất: phát triển đế chế vẹt. Tháp chủ là người bảo vệ sự tồn tại của tòa tháp, một khi tòa tháp còn tồn tại thì đế chế vẹt cũng tồn tại.
Tòa tháp chỉ là chiếc vỏ dung chứa thế giới kì dị với các quy luật vận hành được quyết định bởi cách sắp xếp mười ba khối hộp của người tháp chủ. Liệu đây có phải là một trò xếp hình vô nghĩa chẳng? Thật ra, tự nhiên vốn là trật tự cân bằng mỏng manh có thời hạn, nó được thiết lập liên tục và không bao giờ hoàn hảo hay đứng yên. Thế nên mười ba khối hộp phải thăng bằng khi xếp chồng lên nhau kia chính là một ẩn dụ không thể gần gũi hơn với quy luật của tạo hóa. Mỗi lần xếp chồng mười ba khối hộp thăng bằng, tòa tháp sẽ có thêm ba ngày tồn tại, và tất cả những điều kì dị sẽ tiếp tục phát sinh.
Tháp chủ muốn Mahito tiếp nối mình trở thành tháp chủ kế nhiệm, vì Mahito không có ác niệm trong lòng. Nhưng cậu từ chối tiếp nhận tháp chủ bởi vì cậu nhận thức rõ rằng, sự vô ác niệm trong lòng cậu không phải bẩm sinh đã có. Một Mahito tự dùng đá đập vào đầu để lấy sự quan tâm của cha, để gián tiếp trả đũa các bạn đã đánh mình. Một Mahito dùng kiếm gỗ chém chim diệc phá bĩnh sự bình yên của ngôi nhà. Một Mahito trộm thuốc lá, học cách mài dao, và dùng dao tạo nên cây cung bắn chim diệc. Chắc chắn Mahito nhận thức rõ hơn ai hết, bản thân mình trước đây đã nhiều ác ý đến mức nào. Một Mahito không còn ác ý chỉ được sinh ra khi hiểu được nhịp sinh diệt của tạo hóa, được thể hiện qua hành động chôn cất con bồ nông sau vườn. Vậy nên cậu từ chối tháp chủ bằng cách chỉ lên dấu vết của ác ý: vết sẹo trên đầu do chính cậu gây ra.
Vẹt đế vương là sinh vật ngập tràn ác ý, và cũng chưa bao giờ nhận chấp nhận hay thấu hiểu nhịp sinh diệt của tự nhiên. Nó chỉ muốn quyền lực và sự tồn tại vĩnh hằng của tòa tháp hay đế chế vẹt. Khi nhận ra thế giới tòa tháp chỉ được tiếp diễn bằng những khối hộp xếp thăng bằng, nó tức giận và giành lấy quyền khống chế bằng cách tự mình sắp đặt nên một chồng khối hộp thăng bằng. Mười ba chiếc khối hộp lung lay và đổ sụp, nó vẫn không chịu khuất phục dung bạo lực phá hủy chiếc bàn đá để dựng lên những khối hộp đó. Cuối cùng, tòa tháp sụp đổ, thế giới kì dị bên trong tòa tháp hoàn toàn biến mất. Mọi người phải tháo chạy khỏi tòa tháp, kể cả loài vẹt.
Mahito trở về với người mẹ kế, để Himi – hay chính là mẹ ruột trong khi còn trẻ của Mahito quay về đúng thời đại của mình, lớn lên, sinh ra cậu và chết đi dưới bom cháy của chiến tranh như một lời khuyên cuối cùng về sự chấp nhận, sống cho hiện tại, không phải tương lai, không phải điều vĩ đại, và cùng đừng vì quá khứ. Thiếu niên và chim diệc rất có thể là bộ phim cuối cùng của Hayao Miyazaki, người sáng lập vĩ đại của Studio Ghibli. Nhưng những góc nhìn của ông về chiến tranh, sinh thái, hay rộng hơn là góc nhìn thế giới trong những tác phẩm của Ghibli sẽ không bao giờ ngừng lại.
̣̣̣̣̣̣5/5/2024
Mạc Yên
Nguồn: Tạp chí Nhật Lệ
Theo https://vanvn.vn/

Thoát ly - Quê hương là… nhà dưỡng lão

Thoát ly - Quê hương
là… nhà dưỡng lão

Đất nước thiên về làm nông. Một số sản phẩm nông nghiệp đứng hàng đầu thế giới về khối lượng xuất khẩu. Làm nông thì đất nước có thể bảo đảm an ninh lương thực, khó xảy ra nạn đói, nhưng chẳng bao giờ giàu. Làm nông mãi có thể là cái nghèo truyền đời.
Nghĩ đến thế là có tâm lý thoát ly. Vượt thoát và rời bỏ. Thoát ra khỏi đồng ruộng con trâu cái cày. Dùi mài kinh sử lều chõng đi thi. Đỗ đạt thì cái được không chỉ là học vấn mà còn lên làm quan làm thầy. Người sáng dạ lên chỗ kinh kỳ đô thị làm thuê làm mướn. Người đi lính có cơm ăn nhà nước, có năng lực thì thành tướng sĩ hoặc ông cai đội.
Vậy là người giỏi người tài người có năng lực thì đi hết. Bỏ lại ruộng vườn cho cánh đàn bà và trẻ nhỏ, cho người già, và cho một đám người… bị coi là thiếu năng lực hoặc không may mắn.
Vấn đề là không chỉ bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, mà cả quê hương cũng giao phó hết cho những người không có cơ hội thoát ly. Đám người này lên làm lý trưởng cai tổng, đứng ra quản lý quê hương của người đã thoát ly. Kiến thức có hạn, có khi chức tước không được phân bổ theo năng lực mà do bỏ tiền ra mua, lại thêm bản tính bần tiện tham tàn, cánh hào lý này ra sức đục khoét nhũng nhiễu người dân. Hiểu biết chỉ mấy hột, tầm nhìn không quá lũy tre rặng dừa của làng, khi phải tổ chức quản lý việc công, họ loay hoay chắp vá, lợn lành chữa thành lợn què, cần bơm nước vào thì họ tát nước ra khỏi ao. Khi cần nâng tầm ảnh hưởng cho làng xóm, khuếch trương lòng tự hào quê hương thì họ nhầm tưởng tiếu lâm giai thoại chính là lịch sử.
Thiên hạ bịa chuyện chế giễu thì họ lại vơ vào cho mình, tưởng đó là niềm vinh dự. Thiên hạ giễu cợt họ không có nhà vệ sinh, phải ngồi trên cầu ao rung rinh mặt nước, thế là họ vơ sự tích cái cầu vào cho làng mình để khuếch trương du lịch. Thiên hạ cười cợt tính nghèo hèn bần tiện tinh ranh của họ, thế là họ vơ vào sự tích cá gỗ, coi như đấy là niềm tự hào. Thiên hạ chế giễu chuyện lừa gạt làm bánh chưng đất, họ nhận luôn kỹ nghệ ẩm thực từ đất là của quê mình, ảo tưởng có thể tiếp thị bằng cách đó…
Cũng chính đám hào lý cai tổng tri huyện trọc phú bày đặt mãi mà thành những tín ngưỡng dân gian kỳ quặc. Làng thì thờ cướp thờ điếm thờ thần bói toán, làng thì thờ hòn đất hòn đá hồn cây đa ma cây gạo cú cáo cây đề. Rồi những tập tục lôm côm thô tục bày vẽ ra như một kiểu xả lũ cho thói đời dồn nén ẩn ức.
***
Người đã thoát ly, lâu lâu mỗi lần về nhìn lại quê hương chỉ còn biết chép miệng bất mãn bất bình. Còn biết trách ai nữa. Tinh hoa bỏ làng quê mà đi hết rồi, để mặc quê hương cho một đám hào lý tự tung tự tác, bày đặt ra những chính sách sai lầm, chỉ giỏi đục khoét nhiễu nhương và nhào nặn quê hương theo kiểu của họ.
Đấy là chuyện xưa, nhưng chuyện nay chẳng phải đã phai nhạt, có phần còn tô đậm và biến hóa đa dạng hơn.
Đất không sinh nở, chỉ có người sinh sôi. Nhà có mảnh vườn cái ao và mấy người con. Con cái lớn dần lên, phải dựng vợ gả chồng, phải lấp ao đi, chia nhỏ vườn ra, cho mỗi đứa một mảnh dựng lấy cái nhà riêng. Vườn mất ao lấp, cây cối đã chặt trụi, đường làng đã bê tông hóa. Nhà quê bây giờ nhà có số phố có tên, chẳng khác gì thành phố. Người xa quê lâu ngày trở về thở dài, về quê để ngắm vườn ruộng ao đầm thì chỉ còn biết luyến tiếc hoài niệm. Quê hương vận động theo xu thế đô thị hóa, nhưng vận động theo kiểu cóp nhặt, có khi là mô phỏng một mô hình không phù hợp, thậm chí là sai lầm.
Thế nên bảo họ ở lại mà xây dựng quê hương thì… không! Người tài chỉ có thể thành đạt và chỉ có cơ hội đổi đời khi đi khỏi quê hương mình. Quê hương vẫn chỉ làm nông bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Đấy là chưa kể môi trường làm việc. Người tài có thiện chí mà quay về thì cánh hào lý chức sắc bất tài cũng chẳng để yên cho anh làm. Họ sẽ phe nhóm kéo bè kéo cánh, mưu hèn kế bẩn để cho anh vào bẫy hoặc vô hiệu hóa anh.
Vậy là càng tô đậm tâm lý thoát ly. Đến mức hoài bão và tham vọng lớn nhất của những thế hệ thanh niên là nỗ lực học hành, tìm lấy một học bổng nước ngoài. Du học xong, được ở lại làm việc là mục tiêu cao nhất. Nếu không được thì quay về cũng phải là làm việc cho công ty nước ngoài, ăn lương nước ngoài. Chỉ người không may mắn mới phải chọn vài ba phương án xếp sau đó.
Đến anh nông dân thoát ly ra thành phố đi làm công nhân thì cũng có khi đặt mục tiêu một ngày nào đó được xuất biên, được đi lao động ở nước ngoài.
Chưa rõ hồi sau thế nào, cứ đi khỏi quê hương mình đã được coi là một chuyển đổi may mắn.
Khi quê hương tạo ra được công ăn việc làm xứng đáng cho người bản địa ngay trên chính xứ sở của họ, thì người ta không phải xa quê, và tâm lý thoát ly cũng dần phai nhạt. 
Người đi thoát ly tất nhiên được coi là thành đạt hơn người không có cơ hội. Một đời công tác xa quê, khi còn trẻ khỏe bao nhiêu tinh hoa phát tiết cống hiến ở chốn đô thị. Đến tuổi hưu trí, sức khỏe héo mòn năng lực sa sút, chỉ muốn an nhàn điền viên, thì lại tìm về để thương nhớ đồng quê. Ai cũng thế, chỉ khi không còn làm được gì nữa mới tìm về rưng rưng với kỷ niệm quê hương. Quê hương, theo một định nghĩa mới, là cái nhà dưỡng lão. Quê hương thành nhà dưỡng lão của các chức sắc, các bậc trí thức, các văn nghệ sĩ, khi tài sức đã cạn kiệt. Toàn những tinh hoa một đời tung hoành ngang dọc khi quay về chỉ là để an dưỡng.
Các bậc hào lý vốn bị chê trách chẳng dại gì tận dụng các vị dưỡng lão này làm cố vấn. Ốm tha già thải. Không để cho nhúng mũi vào việc của họ. Rồi lặp lại cái vòng tuần hoàn, quê hương cứ bày bừa lộn xộn cứ không mở mang được, cứ không sao trở thành niềm tự hào cho những người con của quê hương.
Bài toán mở mang phát triển quê hương vẫn đang chờ người giải là các nhà quản lý. Có tiếp tục thuần nông để duy trì an ninh lương thực, để coi là thu nhập chính, hay là chuyển đổi ngành nghề? Tiếp tục thuần nông nhưng hiện đại hóa nông nghiệp, toàn diện hay một phần? Chuyển đổi thành khu công nghiệp lớn hay chỉ là gia công lấy cần cù bù khả năng? Chuyển đổi thành những trung tâm dịch vụ tài chính hoành tráng thì có đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu của thực tế hay không?
Hay là quản lý vĩ mô vẫn tiếp tục chỉ ở tầm của các vị hào lý chánh tổng tri huyện. Rồi cứ loay hoay truyền đời trong cái nhỏ nhoi bế tắc của mình.
Người thoát ly nào đầy ưu tư, chắc cũng có lúc mơ thấy quê hương trở thành một trung tâm tài chính, thành trung tâm công nông nghiệp, thành điểm đến du lịch, và hơn nữa. Quê hương mở mang khởi sắc, môi trường làm việc thiện chí, tạo ra được công ăn việc làm xứng đáng cho người bản địa ngay trên chính xứ sở của họ. Khi ấy thì người ta không phải xa quê, và tâm lý thoát ly cũng dần phai nhạt.
Khi ấy có thoát ly chăng chỉ là du lịch du ngoạn, đi ra bên ngoài để học hỏi, để nhìn ngắm thế giới, mở rộng tầm nhìn và hưởng thụ thành quả lao động của mình.
10/5/2024
Hồ Anh Thái
Theo https://vanvn.vn/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...