Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026
Sự trở lại của Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn
Sự trở lại của Sao
Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn có bút danh Sao Trên Rừng, còn có biệt hiệu Sơn Núi đã từ trần ở nhà riêng trên đồi thông Phương Bối, Bảo Lộc, Lâm Đồng vào ngày 11.6 hưởng thọ 83 tuổi. Mới đây, khi ông bệnh nặng, người thân và Thư viện Huệ Quang ở TP.HCM đã tổ chức in tập thơ Chút lời mênh mông do NXB Đà Nẵng ấn hành. Tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, VHSG xin trân trọng giới thiệu lại bài viết của tác giả Thích Không Hạnh như nén tâm hương tưởng nhớ một bậc tài hoa truân chuyên…
Từ "Lời ru vầng trăng" đến "Bóng đời"
Từ "Lời ru vầng
trăng" đến "Bóng đời"
Một buổi sáng mùa xuân ấm áp, tĩnh lặng, tôi cầm trên
tay và đọc “Lời ru vầng trăng”, tập thơ của tác giả Nguyễn Đăng Tấn, Nhà xuất bản
Lao Động, năm 2000. Những câu chữ, hình ảnh thơ cứ âm thầm cuốn tôi vào mạch cảm
xúc rất riêng, tràn đầy khiến tôi muốn chia sẻ niềm xúc động từ câu chữ,
nơi chỉ có những tâm hồn tha thiết yêu thương cuộc đời.
Đọng lại trong tôi là hình ảnh vầng trăng sáng ngời xuyên suốt
tập thơ. Trăng trong thơ anh, là biểu tượng của quê hương đất nước, là biểu tượng
của tình yêu trong ngần thiết tha, đầy hoài niệm:
“Đất nghèo như đảo chơi vơi
Cồn cồn cát trắng, ngời ngời trăng rơi
Thương sao những giọt mồ hôi
Chưa rơi đã phải khô rồi, trắng phau…”
(Tiếng ru)
Một tình yêu quê hương thật giản dị mà sâu sắc, có nỗi xót
xa, có cả những niềm vui:
“Ngày mùa quê tôi
Những buổi tuốt lúa vui như hội
Sân đình chật tiếng nói
Trăng nghiêng xuống cười…”
(Ngày mùa quê tôi)
Những năm tháng tuổi trẻ của một người lính cầm súng bảo vệ đất
nước, lòng anh vẫn luôn đau đáu hướng về nơi thân yêu nhất , nơi có lời ru của
mẹ , lời ru dịu dàng như vầng trăng sáng mãi trong kí ức:
“Bỗng nghe từ phía lưng đồi
Một lời ru vút ngời ngời trăng lên”
(Lời ru vầng trăng)
Trăng thương trào trong lời ru của mẹ, trăng cũng trong veo
tình yêu Tổ quốc:
“Trăng Tổ quốc anh rất trong
Em nhớ Viêng Chăn ngày trở lại
Trời sao quê anh sáng mãi
Soi vào mắt em…
(Bài thơ tiễn bạn).
Suốt dọc dài cuộc đời, anh đã đi đã gặp bao vùng đất, bao con
người, để rồi nỗi nhớ lại hoá thân vào một vầng trăng nơi ngõ nhỏ, phải chăng,
nơi ấy có bóng hình người con gái anh yêu:
“Anh chưa có cuộc đời nơi ngõ nhỏ em ơi
Vầng trăng rơi trên những tầu lá chuối
Cơn mưa chiều như trẻ thơ đuổi nhau rất vội
Rắc âm thanh lên mỗi mái nhà…”
(Ngõ nhỏ)
“Ô cửa nhà bên dập dìu hương sữa
Một vầng trăng tròn trặn, trinh nguyên…”
(Có một vầng trăng).
Cứ như thế, mạch thơ anh nhẹ nhàng sâu lắng như dòng nước suối
thấm mát nuôi nấng cảm xúc độc giả. Thơ anh giản dị lạ lùng và dịu dàng lạ
lùng. Từng dòng thơ cứ thủ thỉ với những người thân yêu:
“Ôm con vào lòng
Ôi vầng trăng của bố
Đời lính xa nhà gian khổ
Thời gian gần được tính bởi phút giây…”
(Có một vầng ấm).
Lãng mạn, nội tâm, minh triết ăm ắp trong thơ, tôi nhớ mãi những
câu:
“Từ trong lòng đất thẳm sâu
Nghe mạch sống cuộn lên mầu lá xanh
Rưng rưng dòng nhựa đầu cành
Rồi ngày mai sẽ nở nhành hoa tươi…”
(Lời ru vầng trăng).
Tập thơ xuất bản đã lâu, nhưng luôn mới mẻ, ý nghĩa với người
anh yêu quý và yêu quý anh. Tôi tin rằng hình ảnh vầng trăng còn tiếp tục lặng
lẽ sáng trong mạch nguồn trái tim anh.
Nếu như “Lời ru vầng trăng” là tiếng lòng của một người lính
với giọng thơ thấm đẫm cảm xúc trong ngần, thì ở tập thơ “Bóng đời” mới xuất bản
của anh mang đầy trải nghiệm của cuộc đời. Tập thơ ” Bóng đời” dày dặn từ số lượng
đến chất lượng, cảm xúc. Tập thơ được chia làm hai mảng khá rõ nét: Những
viên sỏi nhỏ và Dải yếm.
“Những viên sỏi nhỏ” gồm 34 bài thơ mang đầy cảm hứng về Tổ
quốc, những suy tưởng sâu sắc về con người và dân tộc. Nhưng ở khuôn khổ bài viết
này, tôi muốn nói đến “Dải yếm” mảng thơ tình mềm mại của một tâm hồn sâu lắng,
một trái tim không tuổi, trẻ mãi.
Là một người từng trải, anh rất hiểu:
“Những lời yêu vừa đó đã quay quắt bay xa
Thân tình lắm lại trở thành kẻ thù trong gang tấc
Là hàng xóm tối lửa tắt đèn nằm gai nếm mật
Bỗng bất ngờ dao sắc kề bên…”
(Xúc xắc mùa thu)
Cả cuộc đời chìm nổi, nếm trải mọi điều trong cõi nhân gian,
tưởng như có thể làm cho anh chai sạn mọi xúc cảm. Nhưng không:
“Đã đi qua những ngày nắng lửa
Đã đi qua những mùa lạnh giá băng
Để lòng trắng nở thành mây trắng
Màu trắng lung linh trong sáng vĩnh hằng…”
(Bài thơ trắng)
Trái tim người thi sĩ vẫn rung động, rung động trước cảnh sắc,
trước niềm yêu xưa cũ:
“Tháng Ba như một con thuyền
Thương yêu nối giữa hai triền yêu thương
Dùng dằng nhớ dùng dằng vương
Rét hơi hơi rét ủ hương đất trời…”
(Dùng dằng tháng Ba).
Bằng trải nghiệm, anh viết:
“Hãy mở tiếp những trang đẹp nhất
Những yêu thương, khao khát đợi chờ
Hãy bùng lên những đợt sóng xô bờ
Vỗ mãi mãi vào bến bờ xanh thắm.
Ta bên nhau với niềm tin sâu lắng
Mỗi ngày thêm hạt hạt phù sa…”
(Lật mở)
Lời thơ anh da diết, có lúc bùng lên theo con sóng cảm xúc
thăng hoa. Có lẽ, trong một quãng đời anh đã tìm thấy một bất ngờ:
“Tháng Mười như một nong tơ
Em là hạt nắng bất ngờ hiện ra…
Tháng Mười để anh có em
Để cho bờ bãi xanh thêm đất trời
Mặc cho bèo dạt mây trôi
Để bàn tay ấm nói lời bàn tay…”
(Khúc hát tháng mười).
Trái tim minh triết, trái tim cũng phóng khoáng, đa tình lắm
cơ, anh gọi:
“Yếm đào là yếm đào ơi
Phập phồng lá thắm bồi hồi nụ hoa…”
(Dải yếm)
Tình yêu trong thơ anh tha thiết , bâng khuâng như ánh mắt
mênh mang, lãng tử. Nhớ một kỉ niệm hay những kí ức yêu thương cứ vương vấn mãi
không nguôi, chập chờn, xa gần. Một địa danh cũng đi vào nỗi nhớ thương bồng bềnh:
“Ngẩn ngơ trước núi và em
Bên miền linh khí bên miền thần tiên
Trập trùng mây trắng bay nghiêng
Trập trùng cõi mộng quá miền hư vô…”
(Chiều Ba Vì)
Đọc những câu thơ trong “Bóng đời” , tôi lại nhớ một nhà thơ
từng viết:
“Nhà thơ không có tuổi
Tuổi nhà thơ trong thơ
Đọc Kiều không ai hỏi
Tuổi Nguyễn Du bao giờ”.
Thế đó, từ “Lời ru vầng trăng” đến Dải yếm của
“Bóng đời” vẫn là một tâm hồn chan chứa tình yêu, yêu người, yêu đời.
14/6/2020
Đỗ Thu Hằng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nguyễn Hồng Linh và Tóc rơi phiến ngọc
Nguyễn Hồng Linh
và Tóc rơi phiến ngọc
Vẫn là cảm xúc tình yêu mang yếu tố chủ đạo qua từng
bài thơ, mà cũng không chỉ riêng cho tình yêu đôi lứa, ở Nguyễn Hồng Linh nét
thơ nhạy bén, say đắm đã làm nên bước đà vững chãi trong hành trình sáng tạo của
mình…
Tóc rơi phiến ngọc cùng với tác giả Nguyễn Hồng Linh là
nỗi nhớ quê hương ngàn xa vời vợi quyện vào tình yêu say đắm ngất ngây, rưng rức
buồn thương để rồi cô quạnh trong những hy vọng chờ mong vượt qua thời gian và
không gian là cả đại dương mênh mông… Tình yêu và tình quê hương đã chiếm trọn
tâm hồn người phụ nữ ly hương này rồi:
Tha phương đất lạ nhớ quê…
Trái tim lưu luyến mong về cố hương.
(Cố hương)
Đâu phải ngẫu nhiên khi bài thơ “Cố hương” đã mở đầu cho cả tập
thơ nhớ quê, yêu người của tác giả Nguyễn Hồng Linh. Có lẽ nỗi nhớ đã vò nhàu,
đã uốn nếp, đã trồi sụt đứt gãy trong tâm trí chị nhiều lắm rồi có phải…? để
cho cánh buồn cánh nhớ cứ luân phiên nhau thường trực trong cung bậc thời gian
cùng người – thơ mà hóa giải biết bao nhiêu muộn phiền.
Giấu mình trong vỏ sò…
tôi ở đây và nỗi ám ảnh thì ở bên kia bờ đại hải. Làm
sao bình lặng trong cô độc? dù đã cuộn mình trong con ốc,
(Sóng bạc đầu)
Vậy đó, đã co mình lại, giấu mình đi nhưng nỗi nhớ quê vẫn ám
ảnh khôn nguôi. Bởi trong mỗi chúng ta, quê hương đã là muôn thuở rồi. Để đến
khi mức độ nhớ làm cho ta cũng trăn trở cùng chị: Sóng bạc đầu!/ Nhớ cũng
bạc đầu! (Sóng bạc đầu).
Biết bao thương yêu, nồng ấm, nhớ nhung nhưng tình yêu nguyên
vẹn trong thơ chị cứ mơ hồ cứ ảo ảnh để rồi chỉ còn lại là sự âm thầm day dứt:
Trời đổ giọt châu
Đêm thâu úa nhàu
Tình như chiếc lá phai màu
Tiêu tương tình khúc lệ sầu chứa chan
(Mong manh)
Nỗi nhớ quê, nhớ người trong thơ Nguyễn Hồng Linh cứ bảng lảng
trong sương mờ rồi lại hiện hình cô quạnh:
Mai về tìm lại dòng sông trắng
Dấu vết rêu phong khói sương bay.
(Sài Gòn có gì)
Dòng sông trắng của Hồng Linh là dòng sông quê hương mà chị
luôn nhớ về nhức nhối, khắc khoải, đau đáu khôn nguôi. Đó đã từng là dòng sông
quê mát lành, dòng sông đời trong mộng và nay đã trở thành dòng sông trắng mỏi
mong trở về…
Thơ Nguyễn Hồng Linh gợi ta nhớ đến hai câu thơ của nhà thơ
Chế Lan Viên trong bài thơ “Tiếng hát con tàu”:
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn!
Một khi nơi đã từng ở lại chính là quê hương Tổ quốc mình thì
nỗi nhớ càng tăng lên gấp bội phần. Nỗi nhớ sẽ là tâm hồn, là máu thịt, là cốt
tủy tận sâu thẳm đáy lòng. Bởi nên nỗi nhớ quê hương trong thơ Nguyễn Hồng Linh
như một phần tất yếu trong cuộc sống của chị vậy đó.
Tuyết rơi rơi!
con chim đơn côi
Tiếng hót lạc loài
Giữa bầu trời
Tuyết trắng mênh mông
(Đi về đâu)
Tuyết rơi nơi viễn xứ, lòng tương tư chạnh nhớ quê nhà. Xứ
mình xưa nay đâu có tuyết, nên phận chim đơn côi với tiếng hót lạc loài nơi xứ
tuyết là hình ảnh điển hình và sâu đậm nhất cho nỗi nhớ quê hương có trong đó đủ
các cung bậc bồn chồn, mong mỏi, thương yêu và dường như bất lực…?
Canh dài thổn thức trông
Gờn gợn ngọn đông phong
Viễn xứ chưa tròn mộng
Quỳnh đơm một đóa sầu
(Chờ… Quỳnh hoa nở)
Đủ biết nỗi nhớ đó đích thực là nỗi nhớ trường kỳ, nỗi nhớ…
không ngủ; và còn rất nhiều cảnh ngộ của nỗi nhớ tương tự như thế đã làm nên một
Nguyễn Hồng Linh đa hình nỗi nhớ.
Không chỉ nhớ quê hương, thơ Nguyễn Hồng Linh còn là tình yêu
đầy giông tố nhưng cũng rất ngọt ngào đắm say:
Con chim sáo nhỏ nhớ anh
Nụ cười đi vắng – cành xanh giọng sầu
(Cành xanh giọng sầu)
Như là khởi đầu báo hiệu cho một tình yêu không hề thuận buồm
xuôi gió chăng? cành xanh giọng sầu đang gióng lên tiếng chuông ái
tình thấp thỏm chờ mong.
Một chút yêu… thật lạ!
Ướp mật say lòng người
(Một chút thôi!)
Tình yêu cho dù ở lứa tuổi nào cũng đều có những bước đi rụt
rè riêng, dù là yêu lần đầu hay yêu lần sau. Nếu là lứa tuổi 5X, 6X hay đầu 7X
trở về trước thì điều đó càng rõ rệt hơn. Bởi nên chỉ một chút yêu thôi đã đủ để
ướp mật say rồi cũng thật dễ hiểu. Đó chính là khởi đầu cho một tình yêu… chưa
biết mai này sẽ về đâu?
Sự so sánh trong thơ Nguyễn Hồng Linh không mới nhưng đủ làm
người đọc bồn chồn theo. Thơ chị đủ sức lôi cuốn người đọc song hành là vậy.
Cát ơi! Đừng chôn vùi tình nhé
Hạt cát tình người… giọt bay xa
(Phan Thiết ơi! Người có đợi chờ?)
Vẫn là cảm xúc tình yêu mang yếu tố chủ đạo qua từng bài thơ,
mà cũng không chỉ riêng cho tình yêu đôi lứa, ở Nguyễn Hồng Linh nét thơ nhạy
bén, say đắm đã làm nên bước đà vững chãi trong hành trình sáng tạo của mình. Sự
ví von trong thơ chị luôn thật đáng yêu.
Tháng mười một… lá rơi vàng trước ngõ
Sắc thu buồn ráng đỏ khóc thời gian
Gió heo may thổn thức gọi mùa sang
… Em vẫn biết tình yêu là men đắng
Vẫn nhớ anh quay quắt giữa thu phai
(Hương yêu vàng mùa cũ)
Cách tiết chế nỗi buồn của Hồng Linh được thể hiện qua sự ý
thức của bản thân ở mỗi lời thơ, vì ít nhiều trong chị cũng mong muốn cái miên
man ấy không lấn lướt đi phần cảm xúc trữ tình mà chất thơ nặng lòng giãi bày.
Cảm xúc yêu thương cứ quyện chặt vào giọng thơ đằm thắm ngọt
ngào của chị. Ngập tràn trong thơ là sự đắm say của lời tình thủ thỉ:
Có phải anh tình muộn đời em? Bao năm qua em vẫn chờ anh đến.
Chờ bình minh lên hoàng hôn lịm tắt. Chờ tuổi xế chiều tình ái lên ngôi.
(Tình chiều)
Về những nỗi buồn trong thơ Hồng Linh cũng thật dễ hiểu bởi
buồn như một biểu hiện tất yếu của thơ ca, đặc biệt là thơ nữ mà khi liên quan
đến cảm xúc đặc biệt này dễ rơi vào nước mắt, nhưng yêu như Nguyễn Hồng Linh
thì quả là đặc biệt:
Bây giờ…. người còn nhớ em không?
Yêu anh một chút mưa thành sông
(Bây giờ…. người còn nhớ?)
Đúng là lòng trời cũng như lòng người một khi người ta đã
yêu, yêu say đắm, yêu ngất ngây hay là yêu bão giông đơn phương thì cũng chất
chứa mầm khổ đau…
Yêu chi mà dạ bồn chồn
Hận chi đời đã xói mòn tuổi xanh
(Đá)
Yêu đến mức hận đời hay cũng là hận thời gian đã xói mòn tuổi
xanh thì đủ biết tình yêu dữ dội như thế nào, cung bậc cảm xúc bay bổng, dâng
tràn, khao khát đến độ thơ và người đều không thể hình dung… Nguyễn Hồng Linh
quả là đã thật “quá lời” nhưng cũng thật “khéo lời” trong ngôn ngữ thơ của
mình.
Gửi vào anh đầy dịu dàng sâu lắng. Gửi vào anh nỗi nhớ quay
quắt, đảo điên. Gửi vào anh thăng hoa và hạnh phúc. Tan vào nhau đẫm cả hai tâm
hồn.
… Tình yêu em tràn đầy những cung bậc. Gửi vào anh những cung
bậc hoàng hôn. Gửi vào anh những khát nhớ nồng nàn. Gửi tình muộn giấu vào đêm
huyền hoặc.
(Cung bậc hoàng hôn)
Dù yêu đến bao nhiêu cung bậc thì lời thú nhận “cung bậc
hoàng hôn” đã là cách tiếp cận an nhiên nhất trong tình yêu của Hồng Linh. Tình
yêu trường cửu hay tan vỡ và ta ứng xử với tình yêu như thế nào cũng bởi cách
nhìn nhận và tiếp cận sự việc mà thôi. Đó cũng là sự diệu kỳ của thơ, và Nguyễn
Hồng Linh đã góp phần vào mạch yêu ấy…
Em khát khao nụ tình cháy khát. Em khoả thân đốt cháy trái
tim anh. Trên da thịt vẫn còn ửng hồng nụ hôn cuồng dại.
(Bước xuống đời nhau)
Tình yêu cuồng dại đã xuất hiện trong thơ Nguyễn Hồng Linh, mỗi
khi người phụ nữ đã thốt lên như vậy nghĩa là tình yêu đã cháy bỏng tận cùng của
dâng hiến của khát khao. Nhưng vẫn thấp thoáng ẩn hiện trong đó sự dịu dàng của
người phụ nữ Á Đông thật đáng yêu. Đôi lúc ta bỗng tự hỏi có cần phải nói ra là
em khỏa thân không? Nhưng thật lòng mà nói thì sự bỏng rát của tình yêu đã chẳng
thể đặng đừng. Còn đây nữa:
Đêm trắng… Những vuốt ve nóng bỏng.
Như ngựa hoang đã tháo dây cương
Ta tìm nhau… tìm nhau, một lần không đủ
Anh vẫn đưa tay tìm… cho tình ái lên ngôi.
(Giấc xuân nồng)
Thực ra trong tình yêu không bao giờ là đủ, tạo hóa đã ban
cho loài người sự tuyệt vời vô song của tình yêu, nhưng đi cùng cũng là muôn
vàn đắng cay, thổn thức. Tình yêu là sự duy trì phát triển của nhân loại nhưng
tình yêu cũng là đề tài muôn đời của thi ca, hội họa, âm nhạc và hầu hết các loại
hình nghệ thuật mà loài người đã tạo ra. Thơ Nguyễn Hồng Linh cũng không ngoại
lệ.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Hồng Linh vẫn là lời thơ muôn thuở, dung
dị nhưng sang trọng, đài các và lịch duyệt:
Anh có nghe mùa xuân
Gieo hạt mầm thương nhớ
Nụ tầm xuân bỡ ngỡ
Gió giao mùa mênh mang
(Lời thì thầm mùa xuân)
Khi mùa xuân gieo hạt mầm thương nhớ để cho gió giao mùa giúp
ta cảm nhận đầy đủ sự tinh tế đài các trong từng tiếng xuân… rõ ràng tuy hình ảnh
không hề mới nhưng ta vẫn thấy sự tươi mới của hồn thơ.
Em hong tình trong góc
Đêm tối sợ tình đau
(Chơi vơi)
Sự dung dị đã đủ làm cho người đọc khắc khoải liên tưởng về
cuộc đời, về nhưng gì ta đã trải qua, thể hiện sự gợi mở trong thơ Nguyễn Hồng
Linh thật đáng trân trọng. Hay như hình ảnh:
Em đi tim ta ngỡ ngàng
Phím trầm loang mãi cung tơ
(Hoa bong bóng vỡ gọi mưa)
Là nỗi buồn thực sự sang trọng không dễ gì cảm nhận được
trong đời.
Bước đi, ngoảnh lại đã một đời
Trăm năm vội vã người xa khuất
(Ngoảnh lại đã một đời)
Đó là sự cảm thán về cuộc đời, những nỗi niềm chưa chắc đã được
giải tỏa cùng ai, phải là tri âm mới thấu hiểu, phải là tri kỷ mới ngang vóc
dáng, bởi nên có khi trăm năm không gặp một người. Cuộc đời vô định thế đó nên
lời cảm thán như một tiếng thầm thì rất sang trọng, rung ngân…
Dòng tóc em bay lạc mây mù
Em bước xuống đời khúc mộng du
(Hoa tím tương tư)
Như một tình yêu có thể không có hồi kết nhưng ẩn chứa lòng vị
tha, thương cảm bao la trong cuộc đời này. Sự nhân hậu và vị tha đã làm cho cuộc
sống thêm đẹp lên nhiều.
Đó cũng là nỗi niềm thi ca của Nguyễn Hồng Linh:
Em như chim đông
Ngủ muộn đợi mong
Mỏi mòn trông
Khúc tình tha thiết
Da diết, nồng nàn
Đêm thở than
(Khúc tình ngâu)
Thở than mà cứ như không vậy, thì ra nỗi buồn đã khuất lấp
trong muôn vàn lời yêu nên sự chờ đợi trong tình yêu đúng là một điều gì đó rất
đẹp, rất sống động nữa.
Em ngồi hong tóc mây hồng
Dưới giàn thiên lý trổ bông hoa vàng
(Tóc rơi phiến ngọc)
Chắc chắn đây là những câu thơ dung dị mà đài các rồi. Tóc
mây hồng và hoa vàng trên giàn thiên lý gợi ta nhớ về một miền xa xăm, và hình
như là trong miền cổ tích vậy? Nguyễn Hồng Linh thật đã biết đi riêng con đường
của mình.
Em hoá đá ngu ngơ. Trước bóng tối im lìm
(Cuộc tình lạc lối)
Để rồi thơ chị đã hóa đá ngu ngơ trong tình yêu và cuộc đời
nhưng hồn yêu thì cứ mãnh liệt từ tuổi trẻ đến tuổi về chiều:
Anh cho em mượn… bờ môi anh. Bờ môi nồng ấm, đầy đam mê, cháy
bỏng, khát khao. Để đêm dài em khỏi khắc khoải, nhớ mong…
(Anh cho em mượn)
Thậm chí đến mức muốn giấu bớt đi tình yêu:
Vỏ sò ơi!
Sao không đem giấu
Cuộc tình đầy cháy bỏng giữa ngàn khơi
(lời tự tình trên biển).
Xin cám ơn tác giả Nguyễn Hồng Linh với những vần thơ khao
khát mê cuồng trong tình yêu cùng với nỗi nhớ quê hương day dứt khôn nguôi! Sự
dung dị trong thơ chị đã không làm khuất lấp đi những vần thơ sang trọng và lịch
lãm để mọi người cùng thưởng thức trong những cung bậc mê say.
TP.HCM, 14/10/2019
Hoàng Đỗ
Theo https://vanhocsaigon.com/
Bước gió truyền kỳ - Bước chân mở cõi
Bước gió truyền kỳ
Bước chân mở cõi
Nhà thơ Phan Hoàng khởi đầu viết trường ca “Bước
gió truyền kỳ” từ mười lăm năm trước, anh trích một số đoạn tham dự cuộc
thi thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội 2003 – 2004 và đoạt giải thưởng.
Từ bấy đến nay anh tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung đến đầu năm 2016 mới xuất bản, đủ
thấy anh rất cẩn trọng trong lao động thơ.
Cảm hứng mở cõi giữ biên cương xuyên suốt từ đầu đến cuối tác
phẩm. Phàm là con dân đất Việt dù chính kiến khác nhau nhưng mỗi lần nhắc đến
công cuộc mở cõi giữ biên cương thì cảm hứng ấy luôn cháy bỏng và thiêng liêng;
trường ca của Phan Hoàng nhập vào tâm thế ấy, đó là lợi thế đầu tiên. Trên tấm
lưng cong của dải đất hình chữ S, mỗi dốc đèo, mỗi bờ vịnh, mỏm đá, ngọn cỏ, gốc
cây… đều ghi dấu máu xương mở cõi; chia ly và đoàn tụ; tang thương và lẫm liệt…
Phan Hoàng được sinh ra trên vùng đất như thế, vùng đất có tên là Tuy Hòa, Phú
Yên. Mới nhắc đến mấy chữ ấy lòng đã thấy rưng rưng bởi đó là khát vọng cháy bỏng
của bao thế hệ tiền nhân. Nhìn lại quá khứ chưa xa, vùng đất này đã mấy khi được Hòa
bình mà có “Phú” có “Yên”? Trông vào đâu anh cũng thấy âm
vang quá khứ hiện về:
lồng lộng Đá Bia
oai linh tinh hoa trời đất
hào hiệp sông Ba
thiêng liêng dòng sữa sinh thành.
Những địa danh rất ấn tượng, đó là hiện hữu hiện tại, nhưng
nhiều nhất là những hình nhân lạ lùng:
Đêm đêm bỗng nghe rừng xanh thành cổ
bước ai trong gió lặng trôi bềnh bồng…
người lên đầu non, người xuôi cuối bể
xác hoá mây bay, hồn về đất mẹ…
Hình ảnh hư ảo “bước ai trong gió lặng trôi bềnh bồng” thì
đúng là vong hồn, oan hồn của nhiều thế kỷ hiện về. Nhưng không ma quái mà rất
đẹp: “xác hoa mây bay, hồn về đất mẹ”, đó là sự trân trọng và lời cầu
siêu của tác giả đối với những linh hồn ấy, bằng lòng quả cảm và xương máu, họ
mở cõi để có được non sông gấm vóc như ngày nay.
Trên đất nước ta có lẽ không nơi nào có nhiều gió bão như tấm
lưng cong của dải đất miền Trung, “Ơi cái gió Tuy Hòa/ Gió chuyên cần và phóng
túng” (Trần Mai Ninh), Phan Hoàng đặt ra những câu hỏi với sinh thể gió:
Bay đường nào con người bớt khổ đau?
Bay đường nào con người bớt nghèo đói?
Bay đường nào con người bớt phản trắc?
Bay đường nào con người tin được nhau?
Những “câu hỏi lớn không lời đáp” từ nghìn xưa và cho đến nay
vẫn rất thời đại và thời sự. Hai câu trên, “bớt khổ đau” và “nghèo
đói” là mục tiêu gần và cụ thể nhưng “bớt phản trắc” và “tin
được nhau” mới thực là khó. Cho dù cuộc sống hết khổ đau và nghèo đói thật
sự thì có ai dám chắc là đã hết phản trắc hay chưa và con người đã tin được
nhau hay chưa? Trong trường ca này, điểm xuyết đó đây, Phan Hoàng vẫn nêu ra những
vấn đề bức xúc về nhân tình thế thái để ta cùng suy ngẫm. Và câu trả lời:
Bay đến vùng trời thi ca âm nhạc đang cứu rỗi những nòng súng
Rất bất ngờ với ý nghĩa nhân văn. Trường ca với chủ đề mở cõi
giữ biên cương nhưng rất hiếm thấy cảnh trận mạc voi gầm ngựa hý, chiêng trống
thúc quân, đầu rơi máu chảy mà từng câu thơ đều thể hiện: vừa hào sảng sử
thi vừa chia sẻ nỗi niềm.
Gió hóa thân các chàng trai vạm vỡ lưu dân
gánh trên vai ánh mắt kỳ vọng của người già
giấu kín trong tim mùi hương vợ trẻ tiếng khóc con thơ
Tả chân dung những người đi chinh chiến, tác giả không tả
hành trang của họ gồm súng hỏa mai hay gươm giáo khiên mộc mà là tình thương nỗi
nhớ. Chính hành trang vô hình này mới là cái gốc của ý chí kiên cường mạnh hơn
nhiều lần súng gươm.
Hào sảng sử thi và chia sẻ nỗi niềm, hai yếu tố này
đan xen nhau suốt chiều dài của trường ca. Từng đọc nhiều bản trường ca chung đề
tài này, tôi thấy phần lớn tác giả hay say mê tập trung vào yếu tố thứ nhất. Ở
“Bước gió truyền kỳ”, Phan Hoàng có ý thức làm khác đi. Đây là nét mới của trường
ca, độc giả dễ dàng tiếp nhận và ghi nhận sự đóng góp của anh.
Gió vẫn miệt mài cõng hương qua núi đồi một thời trận mạc
gió nói gì với những chiếc bóng lang thang chưa yên nghỉ mộ
phần?
Trường ca không dẫn dắt theo lộ trình mở cõi mà từng bước hiển
hiện thấp thoáng trong ý tứ câu thơ:
giàn hỏa em mông muội đồng nội Cửu Long
hỏa thiêu từng tế bào ta ngựa hoang đại ngàn Trường Sơn.
Là ta biết dấu chân mở cõi tới đâu, thời gian địa điểm nào rồi
và cuộc hội ngộ giữa người dân bản địa và người viễn xứ mới đến sinh động và
tình cảm làm sao.
Thịt da nhiệt đới
Hừng hực ngực lửa
Hừng hực đùi hương.
Âu đó cũng là cái duyên tiền định để hình thành cộng đồng dân
cư trên hình hài chữ S. Và trên vùng đất hoang sơ ấy bắt đầu hình thành những dấu
ấn văn hóa:
tạc nên tượng đài nhân hậu và quả cảm
tạc nên tượng đài phồn thực và hào phóng
Nhưng cuộc sống đâu đã yên định mà còn biết bao công cuộc
bình định khác:
Cảm thương cô bé lọ lem
Bơi trong gió chướng giặc đêm cướp ngày
Gợi cảm thương mà hiển hiện nỗi gian truân của lịch sử, mới đọc
qua tưởng dễ nhưng có lẽ tác giả phải chọn lựa và lao động nghệ thuật không hề
đơn giản. Rõ hơn về việc giữ vững biên cương:
Biên giới bất thường chuyển núi động rừng
Bao linh hồn trẻ hóa gió hiên ngang
Là hiện tại nhưng vẫn không thiếu hình bóng quá khứ, linh hồn
những người lính trẻ vẫn hiện về trên phòng tuyến giữ nước. Viết như thế là
tinh tế. Và anh còn tinh tế hơn khi nhắc đến điều tế nhị trong quan hệ xóm giềng:
Canh giữ giấc ngủ bình yên đất mẹ
Cảnh giác cái ác mang mặt nạ hữu nghị viển vông
Vừa cụ thể vừa khái quát, lời ít mà nói được nhiều. Ở chỗ này
tôi muốn nói thêm đặc điểm nữa của thơ Phan Hoàng, ấy là anh hay sử dụng bút
pháp điểm xuyết chấm phá:
Núi thức mùi hương dặm xưa trinh nữ
Núi dậy hơi men chiến tướng khóc quân.
Đến chi tiết cảm động của người lính chiến:
Vội vội vàng vàng tiếng thở đêm tân hôn
Và những người ở hậu phương:
Bao bà mẹ tim ngừng đập vẫn mở mắt đợi con
Bao người vợ úp mặt chờ chồng lửa lòng đông cứng.
Nghệ thuật điểm xuyết chấm phá trong hội họa thường chỉ gợi
mà ít tả thực, thơ cũng vậy, nó tạo những khoảng trống để người thưởng ngoạn
liên tưởng và như thế không gian thời gian nghệ thuật mở rộng mênh mang. Nói
thiếu mà nói được nhiều hơn là nói đủ. Nhưng khi cần thiết, Phan Hoàng lại rất
cụ thể, có thể nói trong trường hợp sau đây thì ít ai cụ thể được như anh:
Chống chọi mười bốn cuộc ngoại xâm
Chắc là anh phải mở Lịch sử Việt Nam lật từng trang và thống
kê chi tiết, chính xác mới có con số cụ thể ấy. Ôi trên Trái Đất này chắc không
có nơi nào chịu nhiều cuộc ngoại xâm như nước ta. Một cách làm nghệ thuật tâm
huyết và trách nhiệm. Ở chương cuối: “Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại”, mở
đầu:
Đất nước bước đi bằng mọi con đường
Dân tộc lớn lên từ bao thảm kịch
Là một đúc kết sắc bén và cảm động thể hiện cảm xúc và suy
nghĩ của người viết rất chân thành và tâm huyết.
“Bước gió truyền kỳ”, trường ca gồm 3 chương chính và 2
chương phụ: mở đầu và vĩ thanh, độ dài vừa phải nhưng mỗi ý tưởng,
câu chữ hình ảnh, hình tượng… đều được anh nghiền ngẫm thấu đáo, lao động nghệ
thuật công phu.
Lại nhớ tập thơ của Phan Hoàng xuất bản 5 năm trước có
tên “Chất vấn thói quen” (được tặng thưởng Hội Nhà Văn VN và giải thưởng
Hội Nhà Văn TP. HCM), càng thấy rõ sự nhất quán trong quan điểm nghệ thuật của
anh: dứt bỏ thói quen cũ, đổi mới thi pháp thơ. Chỉ trừ thơ lục bát, còn anh bỏ
hết vần và phá vỡ tất cả các khuôn khổ của lối thơ cũ. Là trường ca ôm trùm vấn
đề rộng lớn nhưng anh không sa đà vào kể và tả mà coi trọng nghĩ
và cảm; mỗi phần hay toàn cục, anh không kết thúc đóng mà kết
thúc mở. Đó là những yếu tố chủ yếu của thi pháp mới. Phan Hoàng bắt nhịp
với sự chuyển đổi ấy một cách thanh thoát và hiệu quả.
Trường ca thường có nhân vật, nhưng “Bước gió truyền kỳ”, Phan
Hoàng không mượn một, hai nhân vật lịch sử cụ thể nào mà anh lấy sinh thể gió,
vừa hiện hữu vừa mơ hồ; vừa hiu hiu vừa bão táp; vừa quá khứ vừa hiện tại làm
“nhân vật” chính là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ.
15/6/2020
Nguyễn Vũ Tiềm
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thân phận con người trong thơ Nguyễn Vỹ
Thân phận con người trong
thơ Nguyễn Vỹ
Góp mặt vào làng thơ Tiền chiến từ năm 1934 – thời
điểm thơ Mới phát triển mạnh mẽ nhất, không ồn ào, chạy theo tâm lý đám đông lấy
chuyện ái tình lãng mạn làm chủ đề chính cho thơ, Nguyễn Vỹ đã lặng lẽ theo tiếng
gọi thao thiết của con tim viết những vần thơ gửi gắm tâm sự uất ức, dồn nén,
bi phẫn của ông trước cuộc sống đầy phi lý và những kiếp người bị đày đọa trong
bể khổ khôn cùng…
1. Tự bao đời, phẩm tính cao cả nhất làm nên hệ giá trị của một
nền văn học không có gì khác đó là sự quan tâm đến thân phận con người với tất
cả những vui buồn, được mất, hạnh phúc, khổ đau, vinh quang, cay đắng
trong kiếp nhân sinh đầy biến đổi và bất an này. Vì vậy, trong Việt Nam
thi nhân tiền chiến (quyển thượng), Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng khi
nghiên cứu về thơ Nguyễn Vỹ đã chia sẻ: “Nguyễn Vỹ góp mặt vào làng thơ tiền
chiến từ năm 1934, thời kỳ thơ Mới đang hồi phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn
này, phần đông thi sĩ thường đem khung cảnh lãng mạn, chuyện tình ái vào thi
ca… Nhưng với Nguyễn Vỹ, có thể nói nhà thơ không lấy tình yêu làm đối tượng,
vì thế thơ ông có một đường nét độc đáo riêng biệt”(1). Nhận định trên đã xác
quyết một sự lựa chọn riêng của đời thơ Nguyễn Vỹ, một sự lựa chọn vừa như định
mệnh, vừa như hệ quả của cuộc sống với nhiều phong ba bão táp suốt đời cầm bút
của thi nhân. Vậy “đường nét độc đáo riêng biệt” đó của thơ Nguyễn Vỹ là gì và
được thể hiện ra sao? Đó là câu hỏi đặt ra cần một sự luận giải thấu đáo để làm
sáng tỏ các giá trị nhân văn trong thơ Nguyễn Vỹ, ghi nhận những đóng góp của
ông cho thi ca nói riêng và văn học nước nhà nói chung. Điều này rất cần thiết
đối với một con người mà số phận đã đặt để ông trong rất nhiều khúc quanh của
cuộc sống, với nhiều biến cố xã hội mà một nhà thơ, nhà báo luôn quan tâm đến
thân phận con người như ông phải chọn lựa.
2. Thơ Nguyễn Vỹ, vì thế, theo chúng tôi là thơ mang nặng nỗi
đau về phận số con người và điều này có thể thấy trong nhiều bài thơ như: Sương
rơi, Hoàng hôn, Tiếng chuông chùa, Hai con chó, Hai người điên, Trăng, chó,
tù…, Gửi Trương Tửu, Một mình, Tiếng súng đêm xuân, Giấc mơ bom nguyên tử, Chim
hấp hối, Đêm sầu về, Cũng thế thôi, Sài Gòn đêm khuya, Đêm trinh, Hoa lệ, Hài
nhi lai Mẽo vứt trôi sông…
Qua những bài thơ này, người đọc ở mọi thời đều nhận thấy, ẩn
sau câu chữ là tiếng thở dài chua chát, mỉa mai, là nỗi dồn nén uất ức, nỗi xót
xa, đau đắng và khát vọng muốn phá vỡ những rào cản đang bủa vây để hướng đến tự
do, giải thoát nỗi thống khổ của kiếp người trong xã hội mà sự phi lý, bất
công, hoành hành đến ngột ngạt… Đây là những giá trị cốt lõi, là một hằng
số văn hóa trong thơ Nguyễn Vỹ, bởi nó đã chạm đến tư tưởng nhân văn của
thi ca dân tộc và nhân loại. Và để thể hiện những điều này, bằng tài năng của
mình, Nguyễn Vỹ đã tạo nên những diễn ngôn thi ca đầy tính ẩn dụ qua hình tượng
độc đáo mà Bàng Bá Lân đã nhận xét khá xác đáng: “Nguyễn Vỹ là nhà thơ Việt
Nam có cảm tình với chó nhiều nhất, và lần nào anh đưa con vật đó vào trong thơ
cũng đều xúc cảm được người đọc”(2). Đúng như vậy, trong tâm thức của người Việt,
chó là vật nuôi gần gũi, gắn bó, trung thành với con người. Nhưng chó cũng là
giống loài chịu nhiều khổ cực nên trong dân gian mới có câu nói ví von: “khổ
như chó!”. Trong các bài thơ Hai con chó, Trăng, chó, tù…, Gửi Trương
Tửu đều xuất hiện hình ảnh con chó. Vậy dùng hình ảnh “chó” trong thơ phải
chăng là một dụng ý nghệ thuật để Nguyễn Vỹ muốn gửi gắm những suy tư về thân
phận con người nổi chìm trong cõi nhân sinh, trong đó có chính thân phận mình?
Sống trong thời nước nhà tao loạn bởi ngoại xâm, do bất bình
với hiện thực đương thời, Nguyễn Vỹ viết hai tác phẩm Cái hoạ Nhật Bản và Kẻ
thù là Nhật Bản, sau đó ông bị quân đội Nhật ở Hà Nội bắt giam chiều 30 Tết
nhốt trong hầm kín của Sở Hiến binh Nhật, Kampetai. Nguyễn Vỹ cùng bị giam với
bốn người Việt khác. Bài thơ Hai con chó làm trong phòng ngục tử
hình, thấp và chật, như cái chuồng chó đúng đêm giao thừa Nhâm Ngọ, 1942. Cả
bài thơ tái hiện tình cảnh khốn cùng của cảnh tù đày. Điều đặc biệt là vần “o”
được gieo khắp bài thơ tạo cảm giác về một không gian bức bối, ngột ngạt:
Chuồng ngục tối om, kìa bốn xó / Bốn thằng bơ bơ như bốn chó/ Chẳng được
nói năng, chẳng được cười/ Hai chân chồm hỗm ngồi co ró/ Lưng rít mồ hôi, không
dám cọ / Ngứa ngáy tay chân không rậy rọ/ Rệp bò lên cổ, leo lên đầu/ Muỗi bay
khiêu vũ, kêu ó ó.
Ngoài kia là “Hà Nội đón mừng xuân Nhâm Ngọ/ Pháo nổ tưng bừng,
đèn sáng tỏ”, còn trong này là những người tù chịu cực hình tra tấn liên tiếp của
lính Nhật tàn bạo, hắn vừa uống rượu “như uống máu tươi trong cái sọ” vừa dùng
roi da “quất lên bốn đầu sỏ”, “sả ba roi lên đỉnh đầu” những tù nhân. Hình ảnh
những tù nhân hiện lên dưới ngòi bút đặc tả của Nguyễn Vỹ thật thảm hại, họ như
đang bị nhốt trong tầng sâu địa ngục với ma quỷ chứ không phải ở cõi người.
Nguyễn Vỹ khắc họa chân dung những người tù dưới cơn mưa roi da của tên lính Nhật
bằng nhiều động từ và tính từ gợi hình, gợi cảm: rụt vai, mặt mếu mó/ nhăn
nhó/ tay run cầm cập, răng gỏ mỏ/ sốt rét lên cơn, không dám nằm/ cúi đầu lạy lạy
như xin xỏ/ da mặt xanh lè, mắt tho lỏ/ giờ như cái xác con ma xó/ thằng
tôi chờ chết, ngồi co ró
Tính chất bi hài của bài thơ khiến người đọc có thể cười rơi
nước mắt chính là sự xuất hiện bất ngờ của con chó Nhật ngoài song sắt. Song
con chó cũng bị khủng bố, tên lính Nhật “đạp giày lên lưng”, chó Nhật ẳng ẳng
chạy gần đó…/ rồi tôi nhìn nó, nó nhìn tôi/ thông cảm cùng nhau hai đứa chó!
Hai đứa chó – Thật là cay đắng, chua chát, phũ phàng! Kiếp
người và kiếp chó có gì khác nhau đâu? Thậm chí con chó còn được tự do ngoài
song sắt, còn con người chỉ ngồi “co ró” đợi chết mà thôi! Khi bạo tàn ngự trị
khắp nơi thì cả người và chó đều bị tước đoạt quyền sống và quyền tự do, dân chủ.
Câu kết của bài thơ neo lại trong lòng người một dư âm nhức nhối, ngậm ngùi: Ôi
tôi ôi, tôi ôi là tôi! Ôi chó ôi, chó ôi là chó.
Và cũng tiếp nối dòng cảm xúc trên, trong bài thơ “Trăng,
chó, tù…”, Nguyễn Vỹ đã so sánh ba hoàn cảnh và khát thèm sự tự do của trăng và
của chó – một nỗi khát thèm đến nhức nhối tâm can, tái tê tim óc đặt trong hoàn
cảnh bi đát tưởng chừng tuyệt vọng mà đến hôm nay đọc thơ Nguyễn Vỹ chúng ta
không thể không rưng rưng, xúc động và cảm thông:
Bỗng dưng đôi mắt lệ hoen mờ/ tôi gục xuống sàn tre, nằm thổn
thức/ trăng với chó tự do ngoài sân ngục/ tôi bị giam sau bốn bức tường cao/
Ôi! Tự Do mi quý biết nhường bao!
Hơn ai hết, Nguyễn Vỹ-người tù-thi sĩ thấm thía và thấu hiểu
giá trị quý giá của hai tiếng Tự do đối với con người: Có tự do là có cả
thần tiên/ không có nó, trần gian là ngục thẳm. Vậy mà, thân phận con người bị
giam cầm, tù ngục, bị đối xử tàn nhẫn còn không bằng con vật- đó là nỗi đau đớn,
tức tưởi, buồn tủi đè nặng tâm tư, chiếm trọn tâm hồn khiến thi nhân đã khóc rất
nhiều, khóc thâu đêm: Tù Trà – Khê say mê trong giấc đắm/ Trên giường tù
ai lệ đẫm thâu đêm!
Nguyễn Vỹ đã trải lòng mình một cách thành thực, hồn nhiên, tế
nhị…và có lẽ chính vì vậy mà những ví von có tính đối lập của ông giữa hình ảnh
con người mất tự do trong nhà ngục với con chó tự do ngoài sân ngục trở nên
thuyết phục, bởi người đọc không thấy sự khiên cưỡng, gượng ép. Hình ảnh thơ gợi
cho người đọc những suy tư sâu sắc về kiếp người khốn cùng trong một đất nước
đang sống trong kiếp nô lệ, lầm than.
Tồn tại với thân phận “ đầu thai nhầm thế kỷ” (từ dùng của Vũ
Hoàng Chương), Nguyễn Vỹ phải chứng kiến bao cảnh đời bi thảm, bất công xảy ra
trên chính quê hương. Ông bất bình với thời thế và muốn làm cái gì đó để phản
kháng cho nguôi nỗi uất ức trong lòng. Nhưng khát vọng của Nguyễn Vỹ bị trả giá
bằng những năm tháng tù đày, cùng cực, điều này giúp chúng ta hiểu hơn vì
sao trong thơ Nguyễn Vỹ nhiều khi ta bắt gặp những tiếng thở dài ảo não như muốn
nối dài sang tận thế kỷ sau: “Ôi! Buồn lắm! Lòng ta buồn da diết!”…
“Con người Nguyễn Vỹ là con người đã sống, đã nếm mùi tân khổ,
gian lao của kiếp “nhân sinh”… Kiếp “nhân sinh” ấy lại ở vào cảnh giao thời của
hai thế hệ, trong một tình trạng bi đát nhất của lịch sử nước nhà, nên Nguyễn Vỹ
đã trở thành con người rắn rỏi, yếm thế… để đi đến tâm trạng căm hờn, biếm nhạo,
khắt khe, chua chát… gần như điên dại”(3). Dùng ngòi bút của mình như một
phương tiện dấn thân để rồi chấp nhận tù tội và những thăng trầm trong cuộc sống
của một thân phận lưu đày, cho nên nỗi khắc khoải phận người trong thơ
Nguyễn Vỹ được thể hiện da diết, thành thực nhất lại chính là trong những vần
thơ ông viết về nghiệp cầm bút.
Không giống như Tản Đà chủ trương lối sống hưởng lạc, yếm thế
“chơi là lãi” để trốn tránh cuộc đời. Nguyễn Vĩ dẫu có “chán mớ đời” trong cái
xã hội “mục, nát, thối” lúc đương thời thì ông vẫn tha thiết với nghiệp văn
chương. Song, càng tha thiết với nghiệp văn chương ông càng đau buồn, chua xót
bởi nhận thức rõ thân phận nghèo hèn, sự tồn tại vô nghĩa của những kẻ cầm bút
mang nhiều khát vọng. Lần đầu tiên trong lịch sử thi ca văn học dân tộc, có một
thi sĩ đã dũng cảm nhìn thẳng vào bi kịch của thân phận người cầm bút và cay đắng,
xót xa đến tột cùng: “Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ nhà văn An-nam khổ như
chó/ mỗi lần cầm bút viết văn chương/ nhìn đàn chó đói gặm trơ xương/ rồi nhìn
chúng mình hì hục viết/ suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết/ mà thương cho tôi,
thương cho anh/đã rụng bao nhiêu mái tóc xanh” (Gửi Trương Tửu).
Hình ảnh so sánh của những câu thơ viết từ năm 1937 của thế kỷ
trước, diễn tả thực trạng bi đát, tủi cực, khốn cùng của nhà văn An-Nam nhưng đến
hôm nay bất cứ ai, đặc biệt là những người làm nghề cầm bút đọc lại vẫn thấy
nhói đau sâu thẳm trái tim mình…Hoài Thanh dù khắt khe với Nguyễn Vỹ đến mức
khó hiểu nhưng vẫn phải thừa nhận: “Lời thơ thống thiết, uất ức, để giãi bày nỗi
bi phẫn cho cả một hạng người. Một hạng người nếu có tội với xã hội thì cũng có
chút công, một hạng người đã đau khổ nhiều lắm, hạng sống bằng nghề văn. Hãy
cho họ không có gì xuất chúng đi thì ít nhất họ cũng đã nuôi những giấc mộng to
lớn khác thường. Nhưng đời không chiều họ; đụng vào sự thực, những giấc mộng của
họ đều tan tành và lần lượt họ bỏ thây ở dọc đường hay trong một căn phòng bố
thí”(4).
Không phải ngẫu nhiên “khi Tản Đà say rượu trách Nguyễn Vỹ:
“Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?”. Nguyễn Vỹ
đáp lại, cũng trong lúc say: “Tôi có ví như thế thì chó xấu hổ chứ chúng ta xấu
hổ nỗi gì?” (5). Câu trả lời của Nguyễn Vỹ đã chứng tỏ cách ví von trong
thơ ông tiềm ẩn những thông điệp thâm thúy, sâu sắc mà bất cứ thời nào ngẫm
nghĩ, suy tư về thân phận của nhà văn nói riêng và nghệ sĩ – những người cầm
bút nói chung chúng ta vẫn thấy nhiều ý nghĩa. Lối chơi chữ hai mặt theo cách
riêng của Nguyễn Vỹ khiến câu thơ vừa mang tính triết luận vừa như sự đúc kết
một hiện tượng đời sống thấm thía nhiều ngậm ngùi, đắng đót, xót xa…!
Nguyễn Tấn Long đã khẳng định văn tài và nhân cách của Nguyễn
Vỹ khi ông xác quyết : “Nguyễn Vỹ có cái nhìn thường xuyên vào thực trạng xã hội,
theo dõi những màu sắc biến đổi của nhịp sống dân tộc đã chịu nhiều thảm họa,
hòa lẫn vào đấy tình yêu thương đồng loại, tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là tiếng nói
chân thành phát xuất tự con người còn nghĩ đến quê hương” (6). Quả đúng
như vậy! Đọc thơ Nguyễn Vỹ, có thể nhận thấy bức tranh hiện thực được tái hiện
đa dạng, nhiều sắc màu đậm nhạt khác nhau. Trung tâm của bức tranh là thân
phận bèo bọt, chìm nổi của con người trong cơn binh lửa được Nguyễn Vỹ
tái hiện một cách chân thực nhất khiến chúng ta giật mình xa xót: Kế tiếp
nhau ngã gục những bóng người/ lẫn tiếng súng, tiếng kêu gào: “giết giết!”/ Ai
say máu, chém đâm nhau ác liệt? Ai rên la thảm thiết khóc kêu vang?…Trời đất hỡi
lại bao nhiêu xác chết…Ai thân yêu, nhắn nhủ lúc chia lìa/ Đang quằn quại rỉ
rên bên vũng máu!…Một lớp trẻ chôn vùi ngoài chiến trận/ đã đem xương đem máu đắp
xây mồ/ Một lớp sau còn sống sót bơ vơ/ Khóc cũng dở mà cười càng thêm dở (Tiếng
súng đêm xuân). Và đây là cảnh tượng hoang tàn trong bài thơ “Giấc mơ bom
nguyên tử”: Rớt chìm trong đáy bề khơi/ muôn muôn triệu xác nổi trôi dật dờ/
Hình như cả loài người chết cả/ Khắp bao la đầy mả mồ hoang…
Với tất cả sự tủi hờn của dân tộc chìm đắm trong thảm họa chiến
tranh. Nguyễn Vỹ đã đổ lệ cho những phận người mong manh còn “đầu xanh tuổi trẻ”.
Trong mạch ngầm của những câu chữ diễn tả tang tóc, đau thương là tinh thần phản
đối chiến tranh và khát vọng về một ngày hòa bình “ để cho muôn muôn
đời dân tộc/ hết đói rét lầm than tang tóc” (Gửi Trương Tửu).
Chiến tranh và cái chết tàn nhẫn không từ bất cứ một ai, lứa
tuổi nào. Nguyễn Vỹ đã tố cáo tội ác kinh hoàng “do chiến tranh đó mới là thủ
phạm” gây nên: Một hài nhi lai Mẽo vứt sơ sanh/ bị vứt bỏ, trôi bập bềnh
trên sông rạch/ tội xác bé máu me chưa sạch/một đùm nhau chưa cắt, dính tùm lum!
Hài nhi là con lai, con hoang, kết quả của lối sống ô hợp bừa
bãi của những người lính Mỹ khi đến Việt Nam đã bị vứt bỏ không thương tiếc – một
hiện tượng đau lòng nhưng không phải ai cũng quan tâm trong bối cảnh xã hội nhiều
nhiễu nhương mạnh ai nấy sống lúc đương thời. Kiếp lưu đày và số phận bất hạnh
của những hài nhi “quốc tế đủ các sắc, các màu” ngay từ lúc chào đời đã tác động
không nhỏ đến tâm tư, tình cảm của tác giả, khiến lòng ông như tan nát: Mượn
đất Việt để chôn nhau cắt rún/ chúng đang sống hàng bà làng, hổ lốn/ vì chiến
tranh, cha của chúng, là tên/ Và chiến tranh là thủ phạm, cho nên… (Hài
nhi lai Mẽo vứt trôi sông).
Có thể khẳng định Nguyễn Vỹ là một trong không nhiều những
nhà thơ Việt Nam khắc họa hiện thực chiến tranh ấn tượng nhất: chiến tranh gắn
liền cùng những cái chết bi thảm, thương tâm, và cái chết cũng như một
sự mặc định đối với thân phận con người nếu xảy ra chiến tranh ở bất cứ nơi đâu
và ở bất cứ thời đại nào. Có lẽ đây là thông điệp nhân văn mà đương thời ít thi
sĩ đề cập đến…
Chiến tranh là chết chóc đau thương…song, không dừng lại ở
đó, hệ lụy chiến tranh mà con người phải gánh chịu là khôn lường, nó tàn phá
văn hóa, và làm băng hoại những gì thuộc về giá trị nhân văn. Con người
không còn được đối xử như là con người nữa, họ phải sống cuộc đời vất vưởng như
con vật thậm chí không được bằng con vật. Nguyễn Vỹ “mang một trái tim/
đìu hiu tan tác/ nặng sầu vết thương” (Chim hấp hối) để chia sẻ cùng những mảnh
đời bất hạnh hơn mình. Đó là cảnh Sài Gòn đêm khuya với những con người “không
cửa nhà, không một chiếc giường rơm…những đàn bà, con trẻ, kẻ già nua/ rách tàn
tạ, áo quần gần không có/ nằm đầu đường dãi nắng với dầm mưa…những hành khất
xác xơ, đầu ủ rũ/ngày ngồi xin góc chợ khách đi qua/ bạn biết tối họ nằm đâu để
ngủ?Bên bìa thành, trong những bãi tha ma!…Tôi đã thấy một người cha đói
rách/Ôm con ngồi trong xó tối hoang vu…” (Sài Gòn đêm khuya).
Lẽ ra trong mắt người trẻ tuổi, lãng mạn như thi nhân thuở ấy
xuân phải là “xuân thanh trinh bát ngát đẹp vô ngần” nhưng với tâm hồn nhạy cảm
và “mang trong tim một khối nặng tình thương ” Nguyễn Vỹ lại chỉ nhìn thấy
trong khung cảnh mùa xuân những cảnh đời éo le, ngang trái, bao lần thi nhân đã
nhỏ lệ xót thương: “Những thiếu nữ đêm xuân nằm trằn trọc/buồn cô đơn, tủi phận,
khóc hờn duyên/ những chàng trai thất nghiệp, túi không tiền/ đi thất thểu chiều
xuân trên vỉa phố…/ những đoàn người trí thức, dáng dịu hiền/ gương mặt sáng,
đôi mắt ngời rực rỡ/ phải lam lũ làm quanh năm khổ sở/ không đủ nuôi cha, mẹ, vợ,
con, em/ những công nhân quần áo rách cũ mèm/ mấy ngày Tết đâu có nem với gỏi?/
Ở túp lá bị mưa dầm nắng dọi/ ăn, cà, dưa, nhiều bữa đói không cơm/ kẻ đi xin,
như những xác không hồn/ nằm hấp hối đêm giao thừa góc phố” (Hoa lệ). Trước mắt
nhà thơ hiện thực cuộc sống không thể thêu dệt bằng ảo mộng, đó là hiện thực
phũ phàng khiến trong suy tư của tác giả chỉ ngập tràn nỗi “xuân đau khổ”, “xuân
nghẹn ngào trong cổ, ứ trong tim…/ xuân âm thầm của vô số sinh linh/ xuân đìu
hiu của muôn vạn gia đình/ xuân tang tóc của những nàng quả phụ/ xuân lạnh lẽo
trên những mồ vô chủ…”
Đói nghèo, tàn tạ, mông muội… những kiếp người vật vờ, sờ soạng
như bóng ma trong bóng đêm dày đặc, mịt mù – ấn tượng đó chúng ta gặp không ít
trong thơ Nguyễn Vỹ. Thi nhân đã lưu lại cho hậu thế một bức tranh chân thực về
đời sống đương thời mà chính ông là chứng nhân lịch sử. Nguyễn Vỹ đã chủ ý tô đậm
gam màu u tối trên bức tranh – đó cũng chính là gam màu mang đến cho người đọc
mọi thời nhiều ưu tư về thời thế và thân phận con người đã, đang và sẽ sống
kiếp đọa đày giữa cõi trần gian đầy bất trắc. Và những điều này không thể không
làm ta suy nghĩ truy tìm câu trả lời đặt ra cho nhân loại mà sinh thời chính
Nguyễn Vỹ đã luôn trăn trở: Phải làm sao cho hết người đói lạnh/ phải làm
sao cho hết kẻ bần hàn/ và làm sao những tâm hồn hiu quạnh/ được niềm vui trong
an ủi hân hoan…” (Sài Gòn đêm khuya).
3. Góp mặt vào làng thơ Tiền chiến từ năm 1934 – thời điểm
thơ Mới phát triển mạnh mẽ nhất, không ồn ào, chạy theo tâm lý đám đông lấy
chuyện ái tình lãng mạn làm chủ đề chính cho thơ, Nguyễn Vỹ đã lặng lẽ theo tiếng
gọi thao thiết của con tim viết những vần thơ gửi gắm tâm sự uất ức, dồn
nén, bi phẫn của ông trước cuộc sống đầy phi lý và những kiếp người bị đày đọa
trong bể khổ khôn cùng. Sinh thời, Nguyễn Vỹ cùng thơ ông đã tạo sự hấp dẫn và
quan tâm đối với người tiếp nhận của nhiều thế hệ qua mọi thời đại. Cho dù Hoài
Thanh đã từng chê thơ Nguyễn Vỹ là mắc “tật lòe đời”, Thế Phong đã từng khẳng định
“sự nghiệp của Nguyễn Vỹ chỉ được một câu thơ trong bài gửi cho Trương Tửu khiến
cho người đời còn nhắc đến tên ông: Thi sĩ Việt Nam khổ như chó”(7)thì cho
đến hôm nay theo thời gian, hồn thơ Nguyễn Vỹ đã và đang tiếp tục khẳng định
giá trị trường tồn của nó, bởi một lẽ giản dị: tự thân nội hàm thơ Nguyễn
Vỹ đã mang tư tưởng vượt thời đại ông sống, chạm đến những vấn đề mang giá trị
trường cửu của thi ca nhân loại, hàm ẩn những giá trị nhân văn tiến bộ sâu sắc
mà độ lùi thời gian càng lớn nó càng phát lộ hào quang – đó là vấn đề thân phận
con người!
Nguyễn Vỹ đã sống và viết như một thi sĩ dám dấn thân để chia
sẻ với nhân quần những đau khổ về phận người với những trang viết đầy ắp nỗi niềm
trăn trở. Ông sống như một kẻ “cô phương” (chữ dùng của Nguyễn Vỹ) suốt những
năm tháng ngắn ngủi của cuộc đời mà nhiều khi không có nổi “chốn nương thân”.
Song, ông đã can trường chấp nhận, đối diện, đương đầu với những trầm luân đau
khổ của cuộc đời và như một định mênh mà số phận đặt để. Và chính cuộc đời nghệ
sĩ “ba nổi bảy chìm” của Nguyễn Vỹ trong cõi nhân sinh cũng là một bài thơ thống
thiết, ẩn chứa nhiều thông điệp đầy tính nhân văn gửi đến các thế hệ mai sau.
Bài viết này, vì thế, xin được coi như một nén tâm hương tưởng nhớ, tri ân Nguyễn
Vỹ – người con tài hoa của quê hương Quảng Ngãi về những gì ông đã làm cho thơ
và cho đất nước trong phận số của một Con Người đúng nghĩa… Xin được ngược dòng
thời gian, chia sẻ cùng thi nhân nỗi cô đơn của trái tim nghệ sĩ luôn đau đáu
niềm đau về thân phận con người với những mảnh đời bé nhỏ, mong manh, như thi
nhân từng bộc bạch: Một trời, một biển bao la/ một mây, một gió, một ta, một
mình/ trần ai một kiếp lênh đênh/ trăm thương, nghìn nhớ, một mình, một ta…
Chú thích:
(1),(3),(6),(7). Nguyễn Tấn Long-Nguyễn Hữu Trọng, Việt
Nam thi nhân tiền chiến (Quyển thượng), tr.438,449,446,460.
(2). Nhiều tác giả, Văn thi sĩ hiện đại, Nxb.
Xây dựng, Sài Gòn, 1962, tr.153
(4),(5). Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt
Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2003(tái bản), tr. 107,108.
16/6/2020
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chuyện kể bên hồ XXXXXX
Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...
-
Đến với thơ của Bùi Hoàng Linh Tác giả Bùi Hoàng Linh đến với nghiệp văn chương khi còn đang học phổ thông tại Trường Quốc Học Huế. Thơ Bù...
.gif)



