Thứ Hai, 1 tháng 6, 2026

Sự trở lại của Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn

Sự trở lại của Sao
Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn có bút danh Sao Trên Rừng, còn có biệt hiệu Sơn Núi đã từ trần ở nhà riêng trên đồi thông Phương Bối, Bảo Lộc, Lâm Đồng vào ngày 11.6 hưởng thọ 83 tuổi. Mới đây, khi ông bệnh nặng, người thân và Thư viện Huệ Quang ở TP.HCM đã tổ chức in tập thơ Chút lời mênh mông do NXB Đà Nẵng ấn hành. Tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, VHSG xin trân trọng giới thiệu lại bài viết của tác giả Thích Không Hạnh như nén tâm hương tưởng nhớ một bậc tài hoa truân chuyên…
Tập thơ Chút lời mênh mông này là công sức góp nhặt trân quý của nhà thư pháp Hồ Công Khanh và những người con của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, đặc biệt là anh Nguyễn Đức Yên, tập hợp những bài thơ chưa từng được in trong các tập thơ của tác giả. Đây là lần trở lại chính thức đầu tiên của Nguyễn Đức Sơn sau gần 50 năm tuyệt tích. Lần hội ngộ này, không phải là luồng sáng nhuần nhụy mà là những ngôi sao, những mảng màu chắp vá do tính chất tập hợp dàn trải ở nhiều nơi và nhiều khung thời gian sáng tác. Nhưng ánh dư quang phát ra từ một thiên thể ánh sáng cũng đủ làm hài lòng những người tò mò và cũng thể hiện được phẩm chất của  tinh thể ánh sáng, nơi mà nó phát xuất.
Người ta đa phần có ý ngần ngại khi đọc thơ Nguyễn Đức Sơn vì thấy sự dâm tục quá nhiều, riêng tôi cũng thấy ngần ngại, nhưng không phải vì sự dâm tục trong thơ ông, mà ngần ngại vì mình không đủ thanh khiết để đọc. Mặc dù là một tu sĩ, tôi thấy mình cần phải thanh lọc tâm hồn mình thêm nữa để có thể bước vào thế giới thi ca của ông.
Đọc thơ Nguyễn Đức Sơn thấy tập nào cũng tục tĩu. Nguyễn Đức Sơn đã manh nha về tục, về nhục dục từ những  tập thơ đầu tiên – Bọt nước (Mặt Đất – 1965):
“Ôi tấm thân và da thịt đàn bà
Tôi rất thèm và muốn biết qua”
(Cảm thương)
Đến Đêm nguyệt động (An Tiêm – 1967) thì sự tục tĩu đã lan tràn, tuy có phần còn e ấp dưới lớp hình ảnh đẹp:
“Năm mười bảy có lần anh ngó thấy
Em ở truồng ngoe ngoảy cuối vườn trăng”
(Nhất nguyên)
“Ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người
Em chưa đái mà hồn anh đã ướt”
(Vũng nước thánh)
Đến Tịnh khẩu (An Tiêm – 1973) thì tục tĩu không còn chút e ấp nữa, nó đã trở thành chủ đề thường trực của thơ ông:
“Củi
Để chẻ
Gái
Để xẻ”
(Tục ngữ)
Nhưng đọc những vần thơ tục của Nguyễn Đức Sơn chỉ thấy tục, không thấy cái gì khác thì đó là điều bất hạnh đối với người đọc!
Nguyễn Đức Sơn có những vần thơ rất hay và đẹp, thuộc vào hàng những bài thơ bất hủ đương thời:
“Mẹ chết từ thu lá rụng vàng
Con về đất cũ vấn khăn tang
Mẹ ơi con điếng người bên mộ
Trằn trọc đêm dài con khóc than
Hai cõi bao giờ được gặp nhau
Tóc xanh dù trắng đến bạc đầu
Làm sao quên được sao quên được
Mẹ ở đâu rồi trên bể dâu”
(Mây trắng – Bọt nước)
“về đây với tiếng trăng ngàn
phiêu diêu hồn nhập giấc vàng đó em
trăm năm bóng lửng qua thềm
nhớ nhung gì buổi chiều êm biến rồi”
(Ngàn sau – Lời ru)
“đây lứa cỏ của mùa trăng thứ nhất
đưa anh vào trong cõi mộng xa xăm
giọt tinh huyết ngàn năm sau chưa mất
rừng đông phương mờ mịt dấu em nằm”
(Băng tuyết – Đêm nguyệt động)
Tôi muốn nhắc đến một nhà thơ đương thời với ông và cùng với ông được xếp trong nhóm Tứ trụ thi ca của miền Nam trước 1975 – Bùi Giáng. Bùi Giáng có đến mấy chục tập thơ và có đến hàng trăm bài thơ hay “tuyệt trần”:
“Hỏi tên rằng biển xanh dâu
Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa”
(Tặng Mã Giám Sinh)
“Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian này mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu”
(Phụng hiến)
Thế rồi, Bùi Giáng bắt đầu đùa giỡn, đùa đến mức ngỡ như điên:
“Tôi sẽ ra đi bỏ lại đời
Mỹ Tho, Mỹ Thọ, Sóc Trăng ơi
Mỹ thỏ muôn đời là sóc trắng
Gái mặc quần ra đứng ngó trời”
(Tôi sẽ)
“Ông điên từ bữa hôm qua
Đến hôm nay nữa gọi là ba hôm”
(Ông điên)
Những người đương thời có lúc đã đưa Bùi Giáng vào Chợ Quán – nhà thương điên tại Sài Gòn, những nhà phê bình về sau thì tranh cãi về việc ông có bị điên hay không, những người có cảm tình với ông thì nói ông sống “túy lúy tột cùng” trong cái mạch sống của mình, nhưng cả bản thân họ cũng còn nghi ngờ vì họ đôi khi – “dường như ổng điên thật”.
Cảnh ngộ và con đường thơ của Nguyễn Đức Sơn cũng không khác, Bùi Giáng đi đến chỗ bỡn cợt hồn nhiên như nhiên, Nguyễn Đức Sơn đi đến chỗ tục tĩu vô tư vô lự. Rõ ràng cả hai đều có khuynh hướng đi từ cái đẹp, cái trang nhã đến cái tầm thường, phàm tục. Người đọc không khỏi tiếc thương khi khuynh hướng ấy đã cướp đi những bài thơ hay mà đáng lẽ ra họ phải được thừa hưởng với tầm vóc của hai ông. Nhưng đó là sự lựa chọn của tác giả. Không phải ngẫu nhiên mà hai ông lại mang cả tài năng thiên bẩm của mình đi vào con đường “tăm tối” khác lạ với phần còn lại của thi giới đương thời.
Một nội dung đặc sắc không kém phần dung tục trong thơ Nguyễn Đức Sơn chính là cảnh vật tự nhiên, thiên nhiên. Thiên nhiên hóa thân thành đại gia đình của ông, từ các con: Thạch, Thảo, Thủy, Vân, Yên, Lão, Không, Phương Bối, Tiểu Khê tới bút hiệu ông Sơn Núi, Sao Trên Rừng – (Sương trên rào?); và như một dự báo tên của vợ chồng ông Nguyễn Đức Sơn – Nguyễn Thị Phượng cũng đã “an bài” theo tự nhiên. Nếu chỉ gọi tên không người ta sẽ tưởng đang miêu tả một vùng thiên nhiên.
Từ những tập thơ đầu, thiên nhiên đã tràn ngập trong thơ ông và với tình yêu lớn dành cho, ông đã thấy nhiều vẻ đẹp rất lạ của thiên nhiên:
“Nắng tà đã ngập lũng sầu
Bước nhanh tôi sợ ngày thâu ánh vàng
Giao mùa sớm lạnh thôn trang
Run run còn ngợ mấy hàng cây xanh”
(Cuối thu – Lời ru)
Với những người bình thường, khi trẻ hoặc khi tâm hồn thăng hoa họ mới tiếp xúc được với thiên nhiên, càng lớn tuổi người ta càng bộn bề đua chen với thế sự và đánh mất dần cảm thức đối với tự nhiên. Với Nguyễn Đức Sơn càng về già thiên nhiên trong thơ ông càng sống động, lung linh. Ông không còn mô tả thiên nhiên như những tập thơ đầu nữa, khi ông viết về thiên nhiên, ông dường như đã trở thành một thành phần của thiên nhiên được phản ánh trong những câu thơ ấy, như hòa quyện vào thiên nhiên. Tác giả xuất hiện trong hầu hết các sinh thể tự nhiên được phản ánh. Đó cũng là một điều khác lạ của Nguyễn Đức Sơn so sánh với phần đông nhà thơ còn lại khi viết về tự nhiên:
“những hàng cây mới lên xanh
sáo vương khi nắng đã thanh giữa mùa
chiều êm hơn cả gió lùa
tôi ra cuối bãi tôi đùa với trăng
tay choàng lên với môi hằn
tôi mơn gió lả tôi măn vú đồi
có hương có nhạc trên trời
tóc tôi se gió mắt ngời ánh sao
có con chim rủ tôi vào
ở trong giấc mộng tôi trao ái tình
ngày trong xanh nắng trong thanh
tôi ôm cỏ dại ấp tình thiên thu”
(Trên rừng khuya – Lời ru)
Tình yêu của ông đối với thiên nhiên quá lớn. Chính tình yêu ấy là động lực đã phát minh ra những câu thơ rất hay và lạ, điều mà không thể được nhào ra từ sự suy tư:
“Mù sương âm vọng tiếng huyền
Có con dơi lạ bay trên cõi đời”
(Mang mang – Lời ru)
Ông viết rất nhiều về trăng, nhưng nắng cũng được ông làm cho lung linh lên ngay trong cái khung cảnh nó được gọi tên. Nó như một sự phát hiện mới: nắng ray vàng, nắng lạnh, nắng lửng, nắng rụi, nắng thuở xưa…
“trăm năm bóng lửng qua thềm
Nhớ nhung gì buổi chiều êm biến rồi”
(Ngàn sau –  Lời ru)
Nhưng không chỉ có trăng và nắng, mọi hiện tượng thiên nhiên đều ngời lên khi thơ ông khẽ chạm vào. Sức sống với thiên nhiên trong thơ ông sâu, dài và mạnh, kéo từ tập này qua tập khác, từ lúc mới làm thơ đến khi không thể viết thành thơ được nữa.
Đọc thơ Nguyễn Đức Sơn dâm tục nhiều thật, thiên nhiên bàng bạc thật, nhưng chỉ thấy dâm tục và thiên nhiên xem ra chỉ thấy được sắc màu, thấy được hiện tượng bên ngoài chứ chưa thấy được gì, thấy được phần ngọn mà không thấy phần gốc, thấy được phần nổi mà không thấy được phần chìm. Có một thứ sâu kín và bàng bạc còn hơn cả nội dung dâm tục và tư nhiên trong thơ Nguyễn Đức Sơn, đó chính là ý thức siêu thoát. Ý thức siêu thoát ấy bắt nguồn từ cảm thức vô thường trước vũ trụ bao la.
Bất cứ nhà thơ nào có một cảm thức sâu sắc về vũ trụ nhân sinh đều có ý thức siêu thoát tiềm ẩn. Trần Tử Ngang cô độc giữa đất trời, Nguyễn Du buồn thê thảm trong “cõi ta bà” hay Huy Cận mang “chiếc linh hồn nhỏ” để ôm sầu “mang mang thiên cổ”. Cảm thức này trong Nguyễn Đức Sơn cũng lại xuất hiện, về bản chất cũng không khác mấy. Chưa từng thấy có một nhà thơ tầm vóc nào mà lại không có cái cảm thức này,  một nhà tu hành chân chánh nào mà lại không có cái hụt hẫng trước không thời gian vô tận và mênh mông của tạo hóa.
“Không biết từ đâu ta đến đây
Mang mang trời thẳm đất xanh dày
Lớn lên mang nghiệp làm thi sĩ
Sống điêu linh rồi chết đọa đày”
(Hoài niệm)
“Tôi dòm đời khi tuổi sắp hai mươi
Nhìn trước nhìn sau thấy rõ ràng
Những người đi trước sầu đeo nặng
Những người đi sau sầu không tan””
(Bọt nước – Bọt nước)
“Mai sau này chỗ tôi nằm
Sao rơi lạnh lẽo âm thầm biển ru”
(Một mình nằm thở đủ kiểu trên bờ biển – Lời ru)
“Chiêm bao lớp lớp chập chờn
Về đâu cỏ mộ xanh dờn chân mây”
(Nửa đêm thức dậy hỏi con – Chút lời mệnh mông)
Ý thức siêu thoát của nhà thơ tiềm ẩn trong mọi câu thơ, mọi chủ đề. Có những chủ đề dường như đi ngược lại việc siêu thoát, nhưng chính nơi ấy vẫn chất ngất ý thức vượt thoát:
“Luận về không hay có
Đâu bằng nhìn cái mồng của em
Sắp ló”
(Cái mồng sắp ló – Tịnh khẩu)
Đừng vội thấy “cái mồng” mà cho là nó tục, dĩ nhiên là nó tục, nhưng không phải tục bình thường. Nếu không có sự quan tâm thì anh đâu cần mượn cái việc “Luận về không hay có” để làm đối tượng tương chiếu cho vế còn lại. Nếu lật ngược vấn đề, có thể thấy vấn đề trăn trở, quan tâm về không hay có, về chân lý của ông còn lớn hơn cả vấn đề dâm tục. Ông thể hiện ra như tận cùng đáy phàm tục nhưng chất liệu siêu thoát không giấu đi hết được và đó là điều làm cho tôi cảm thấy cần phải thanh lọc tâm hồn để tiếp xúc với thơ ông. Chúng ta đôi khi nói về chuyện tu hành mà tâm đầy danh lợi, người ta nói về các thứ dâm vọng mà tâm hồn tràn ngập ý hướng tu hành.
Người không có cảm thức về vô thường trước vũ trụ sẽ không có nhu cầu về sự vượt thoát. Với một nhà thơ mà cảm thức vô thường luôn thường trực, thì ý thức vượt thoát đã trở thành thể của thi ca. Đọc thơ Nguyễn Đức Sơn nếu chỉ thấy tục mà không thấy sự vượt thoát ẩn sau, nếu chỉ thấy thiên nhiên mà không thấy vẻ đẹp của đối tượng ẩn sau xem như chưa chạm được vào thể của thơ ông. Chẳng phải Nguyễn Đức Sơn từng phát biểu: “Đố ai không bảo tôi tục tĩu, dâm dục, bởi vì quả thật tôi có tục tĩu, dâm dục! Đó mới là chỗ chết, là cửa tử cho bao nhiêu bài thơ tức thở kia vì trót đụng tới CÀN KHÔN TỊCH MỊCH. Ông còn có cả một bài thơ nói về cái tục trong thơ của mình:
“Rất nên nói thơ tôi dở nhất thế giới
Nhưng tuyệt đối chẳng thể nói thơ tôi tục tĩu
Mặc dù thơ tôi quả vô cùng tục tĩu
Đứa nào nói thơ tôi tục tĩu
Đéo mẹ nó ăn mồng què máu giặt đồ dơ
Còn mong chi cảm được chút nào thơ
Dù rằng tôi cũng ăn mồng què máu giặt đồ dơ”
(Cửa tử – Tịnh khẩu)
Tác giả phát biểu như vậy là khá chính xác về tính chất thơ của ông (nói như vậy, vì đôi khi có tác giả cũng không nói đúng thơ mình – vì khi bình phẩm thơ thì nhà thơ cũng trở thành nhà phê bình thôi).
Thơ ông ngập tràn ý thức siêu thoát. Trong cái mạch sâu thẳm bất tận ấy, tục tĩu, dâm tục chỉ là đối tượng phù hợp nhất làm lằn ranh giữa hai bờ chân tục. Người có ngọn lửa về tham cầu lạc thú bao nhiêu người ấy sẽ lại là kẻ tìm cầu siêu thoát bấy nhiêu, không có động lực của dục lạc cũng sẽ không có động lực đi tìm cái “tịch diệt vi lạc”. Chính vì vậy, tôi thấy ông thanh khiết và cứu cánh ngay trong những vần thơ dâm tục và chính ông cũng nhận ra điều ấy. Tôi không có ý hướng đến ông như một nhà tu đạo, vì ông không cần cái đó, đường hướng ông đã khác:
“Mai kia có vợ con rồi
Cha không bắt buộc con ngồi con tu
Ba ngàn thế giới mịt mù
Kiếm đâu của cải nào bù gió trăng”
(Gió trăng – Chút lời mênh mông)
Mõ chuông kinh kệ là phương tiện thì tại sao gió trăng không thể là phương tiện? Để lấy gió trăng làm phương tiện thay thế chuông mõ có khi những kẻ tu hành cần phải mất – ba chục kiếp – mới mong làm được.
Có nhiều người thường xuyên giảng kinh thuyết pháp, xưng tụng chân lý nhưng ta chẳng thấy họ có chút tu hành nào, ngược lại, có kẻ suốt ngày lông ngông như Bùi Giáng, dung tục như Nguyễn Đức Sơn, mà ý thức siêu thoát của họ tràn ngập trong mọi ngõ ngách của tư duy và đời sống.
“Mai kia cắp sách đến trường
Con nên học hỏi bình thường như ai
Trời sinh con dẫu có tài
Cũng không kéo được mộng dài thêm đâu
Một điều phải hiểu cho sâu
Trăm năm hai chữ vô cầu mà thôi”
(Bài học đầu – Chút lời mênh mông)
Nguyễn Đức Sơn đã xây dựng nên một gia đình lạ lẫm vào thời kỳ trăm hoa đua nở ở miền Nam nước ta những năm trước 1975 và càng khó hiểu hơn với một xã hội như xã hội chúng ta hôm nay. Giáo dục gia đình của Nguyễn Đức Sơn không thành công theo chiều hướng khoa bảng thường tình nhưng thành công rực rỡ theo hướng “vô cầu”. Trong chuỗi dài sinh tử mang mang này, chúng ta chưa biết đường hướng nào là đúng hơn đường hướng nào?
Tục tĩu hay thiên nhiên đậm đặc trong thơ ông xét cho cùng chỉ là cái đối tượng để ông thể hiện cái “lửa và tịch mịch” tràn ngập trong hồn ông. Nếu chỉ là thiên nhiên, người ta dễ dàng sẽ bị những đối tượng thiên nhiên đẹp chi phối. Thiên nhiên bên ngoài chỉ là cái gợi để thiên nhiên trong hồn ông hiện hình, để nhựa sống lửa và tịch mịch của ông chảy vào, tan biến và hòa quyện vào. Nhờ ánh sáng lóe lên từ trực cảm khác thường, ông phát hiện vẻ đẹp ngay trong những thứ người ta cho là dơ nhất, thúi nhất.
“Cầu tiêu em ỉa quên chưa dội
Bãi cứt nhìn qua hiện đóa hồng”
Nguyễn Đức Sơn không cố gắng đưa kinh điển vào thi ca hay mượn thi ca để chuyển tải kinh điển. Với ông, chân lý phải được sinh ra một cách tự nhiên. Cái đó nó thường trực nơi ông lắm chứ không hề sáo rỗng. Càng đọc thơ ông ta càng thấy hay, thấy sâu và dường như không lột tả hết được, nếu có khẽ chạm vào thì đã là một cuộc hạnh ngộ rồi.
“Cứt” hay “nước đái” hay bất kỳ thứ gì đi chăng nữa thì cũng chỉ là một đối tượng không hơn không kém khi ý niệm phân biệt chưa kịp định danh cho nó, trong khoảng thời gian chưa được định danh ấy, nó là một đối tượng tròn đầy nhất, giống như “nó đang là”. Chính ngay chỗ ấy vẻ đẹp của đối tượng ngời lên trong trực cảm phi thường của nhà thơ. Có thể nhờ trực cảm phi thường ấy, trực cảm có thể kéo dài đối tượng chưa kịp định danh ấy, ông trở nên một nhà thơ khác biệt và là một tu sĩ vô danh tròn đầy.
Thơ của ông không phải là phương tiện thể nghiệm tư tưởng, mặc dù thơ ông có tư tưởng, nhưng tư tưởng và thơ là hai mặt sóng đôi tồn tại. Tư tưởng – thơ – đời sống của ông đã trở thành một.
“Trưa đứng một mình đợi ai lên
Đất trời đâu có dưới và trên
Đồi cao ổi sót rụng một trái
Dòi ăn một bên ta một bên”
(Cuối thu ở Phương Bối – Chút lời mênh mông)
Tư tưởng ấy đã là một trải nghiệm, một chứng nghiệm không còn là một thể nghiệm nữa.
“Con ngồi giỡn với bàn chân
Lật qua lật lại cũng ngần ấy thôi
Trời sinh đã có lâu rồi
Ngo ngoe trong bụng từ hồi hoài thai
Trăm năm lẩn quẩn hình hài
Cái tâm hư vọng ngả dài huyệt sâu”
(Huyệt sâu – Chút lời mênh mông)
“Khuya dậy hỏi đàn con nheo nhóc
Ở đâu mà lóc thóc tới đây”
(Nửa đêm thức dậy hỏi con – Chút lời mênh mông)
Người cha đứng trước đàn con mà chẳng khác một thiền sư trước đối tượng thiền quán!
Dâm tục và thiên nhiên là hai đối tượng nội dung rộng lớn bao phủ thơ Nguyễn Đức Sơn, nhưng mãi đến khi thơ ông hướng vào cái phàm tục, cái sinh hoạt bình thường thì khi ấy phẩm chất siêu thoát của thơ ông mới được thể hiện một cách đầy đủ. Cái đẹp mà ta phát hiện trong những hình tượng đẹp, cái đẹp ấy rất hạn hẹp, cái đẹp ấy sẽ giới hạn hình ảnh xấu không mang một vẻ đẹp. Cái đẹp được phát hiện trong mọi ngõ ngách, mọi đối tượng của đời sống kể cả cái phàm tục, cái xấu; cái đẹp đó mới là cái đẹp thực sự, cái đẹp trường cửu. Cái đẹp ấy vượt lên trên mọi ý niệm phân biệt của nhận thức vốn hẹp hòi.
Trong trường ca Mộng du trên đỉnh mùa xuân, điệp khúc: “Chúng tôi hằng tự tử để hằng hằng sống, chúng tôi tự tử để không chết”. Đó có thể xem là một tuyên ngôn về tư tưởng của Nguyễn Đức Sơn. Điều đó có vẻ như lạ nhưng thực ra rất hợp lý. Chúng ta sống nhưng không bao giờ tiếp xúc với sự sống, đó là chết. Cái gì làm cho chúng ta chết, chính là phiền não, ý niệm phân biệt, tri kiến làm rào cản, ngăn không cho ta có thể tiếp xúc trực tiếp đối tượng (nhận chân đối tượng như chính nó). Chúng ta cần phải luôn tự tử, tư tưởng của ta cần phải luôn được cởi bỏ, buông xả. Nếu không như vậy không bao giờ ta có thể sáng tạo ra cái được gọi là mới. Chúng ta tưởng sáng tạo ra cái mới, thực ra chúng ta đang nối tiếp chuỗi nhân quả của tri kiến đi trước, cái trước đẻ ra cái sau theo một cách thức có thể dự đoán được. Nguyễn Đức Sơn và Bùi Giáng theo tôi là số ít nhà thơ đã đi qua lằn ranh ấy, những nhà thơ “luôn luôn tự tử”. Chính phẩm chất ấy làm cho thơ của Bùi Giáng và Nguyễn Đức Sơn có tính đột biến, ngẫu hứng rất cao và dìu dắt khung trời nghệ thuật đi qua những đường mòn nhàm chán, những kĩ thuật sáng tác khuôn sáo. Bài thơ Nhắn mở đầu tập Tịnh Khẩu, và sau được chính tác giả lặp lại trong lời bạt có thể xem là một ví dụ điển hình:
“Đời sau có người thương ta
Từ lâu xuống lỗ làm ma mất rồi
Đường xa thôi miễn bồi hồi
Mả hoang nhảy đại lên ngồi đi cha”
Câu thơ cuối kì lạ ấy chứa đựng cả chân trời nghệ thuật và kĩ thuật thượng thừa đặc trưng của tác giả.
Cho nên, nếu đi vào tinh thể thi ca của những tác giả kiểu như Bùi Giáng hay Nguyễn Đức Sơn mà dùng tư duy phân tích hay kĩ thuật phê bình thuần túy, chúng ta sẽ chỉ thấy những đặc điểm của thi ca họ mà không thể chạm vào cái gọi là tinh thể của thi ca. Một nhà thơ bình thường thôi thì sáng tác của họ đã chứa đựng cả ý thức và vô thức, một nhà thơ kiểu như Nguyễn Đức Sơn, nó còn chứa đựng thêm cái “siêu thức” nữa. Siêu thức ở đây có thể hiểu là cảm thức trực cảm về đối tượng, nó đi ra khỏi sự hiểu biết của ngôn ngữ, nếu dùng ngôn ngữ để mổ xẻ phân tích thì chỉ thấy được cái vẻ ngoài, không thấy được cái bên trong. Do vậy, phân tích ở một góc cạnh nào đó là xâm phạm sự hiểu biết bằng hiểu biết. Chúng ta bắt buộc phải dùng ngôn ngữ để phân tích, cũng như nhà thơ phải dùng ngôn từ để chuyển tải thơ, nhưng những cái được dùng phải luôn luôn trong chiều hướng xả bỏ nó để không cản trở sự tiếp xúc vào tinh thể của thi ca vốn uyên nguyên như nguồn suối. Kĩ thuật làm thơ của Nguyễn Đức Sơn thượng thừa đến mức nó hòa quyện tan chảy vào thơ không còn dấu vết nữa. Nhưng cá nhân ông cũng không chú trọng điều đó lắm, vì ông biết được một kĩ thuật toàn diện hơn, đó là kĩ thuật để cho thơ tự lóe lên: “Đừng tưởng làm một bài thơ quá ngắn như vậy dễ đâu. Có thể có đứa nào khác cũng sắp được 3 chữ nguyên con đúng y như vậy, nhưng đó rành rành là đồ giả mà bất cứ ai có con mắt thơ phải nhận ra ngay tức khắc (Hột/Thì le). Đứa nào bắt chước đi đường tắt là tự vận. Bởi, dù nó bay ra trong đầu tôi không đầy một sát na, bài thơ ba chữ gồm duy nhất một danh từ và một động từ kia phải được hoàn thành ít ra từ trong ba chục kiếp rồi, nghĩa là tính đổ đồng mười kiếp làm được một chữ, chỉ một chữ mà thôi, dù thi sỹ là cái thằng phải ngộ trong nhấp nháy, phải làm (tôi nhấn mạnh chữ làm, đứa nào cãi, cãi chơi!)  toàn bộ thơ ca hàng chục ngàn bài của đời mình trong nhấp nháy.” Nguyễn Đức Sơn biết thế mạnh đó của mình, ông cảm nhận được bản thân mình hơn người khác, sự khác biệt này là tự nhiên với ông nhưng người ngoài nhìn vào hời hợt sẽ thấy như một sự lập dị.
Tôi thích thơ của Nguyễn Đức Sơn hơn là văn của ông. Văn của Nguyễn Đức Sơn như người thiếu nữ giỏi giang, quá hiểu biết, quá sâu sắc và cá tính nhưng nàng hay phát biểu về nàng làm cho tôi đôi lúc mệt mỏi và cảm nhận nàng theo chiều hướng nàng mong muốn. Trái lại thơ của Nguyễn Đức Sơn là một nàng thiếu nữ xinh đẹp, kỳ bí dị thường và đặc biệt nàng rất ít nói. Tôi thích nhất ở nàng đức tính ấy, vì khi đối diện với nàng, chúng tôi chỉ cần nhìn nhau thế là dâng hiến trọn niềm tin yêu và vẻ đẹp uyên nguyên tròn đầy. Tôi không bao giờ muốn nàng phát biểu, vì khi nàng phát biểu sẽ đánh mất sự uyên nguyên ấy và khiến tôi hiểu khập khiễng về nàng, tôi muốn giữ sự uyên nguyên ấy giữa tôi và nàng và nàng đã thật sự làm tôi rất hài lòng.
Tính chất thơ của Nguyễn Đức Sơn có thể xem là nàng thiếu nữ kỳ bí ít nói kia. Tác giả có kĩ thuật làm thơ thuộc vào hạng thượng thừa nhưng chẳng bao giờ bám vào đó, thậm chí có khuynh hướng xả bỏ những kĩ thuật (mặc dù rất nắm kĩ thuật) để tạo điều kiện cho những kĩ thuật khác của trực cảm, của vô thức tham gia vào sự sáng tạo. Nghệ thuật làm thơ của ông có mà như không, nhưng mà lại có. Cho nên khi bình luận về thơ Nguyễn Đức Sơn mà sử dụng nhiều quá những kĩ thuật phê bình, những kỹ năng viết lách, vô hình trung lại là điều cản trở để tiếp cận tinh thể thi ca ông. Người bình thơ chỉ có thể tiếp cận được những nội dung của thi ca ông, những sắc màu kì lạ của một hồn thơ họ cho là kì bí chứ không thể nào chạm vào được thể tính của thơ ông nếu họ vẫn giữ lối phê bình sáo mòn truyền thống, với một góc nhìn hạn hẹp về không gian và thời gian.
Trên nền tảng của nghệ thuật tưởng chừng không giống ai nhưng lại rất phù hợp với quy luật tự nhiên ấy đã nảy nở những vần thơ vượt xa thời đại của ông và của thời đại chúng ta. Tôi cho rằng, cùng với Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền (và có thể một vài tác giả khác nữa mà tôi chưa tiếp cận được), thơ Nguyễn Đức Sơn đã nâng tầm thơ ca Việt Nam vào những năm trước 1975 và đã tiếp cận được những nguồn mạch của thơ ca thế giới về cả tư tưởng và nghệ thuật như Tagore, Walt Whiman, Nguyễn Du hay thơ Haiku… Đây là những nhà thơ, những dòng thơ đã khẽ chạm vào đạo, một thứ đạo vừa do ánh sáng trí huệ của đạo Phật soi đường vừa do ánh sáng trực cảm thiên bẩm của chính họ mang lại. Hai thứ ánh sáng ấy có khi đồng hiện rồi chạm vào nhau, có khi cùng soi cho nhau để sáng hơn. Tôi nghĩ rằng, các nhà thơ bây giờ vẫn chưa vượt qua được các nhà thơ trên về phương diện tư tưởng và nghệ thuật thi ca. Đất nước chúng ta không công nhận, không xiển dương dòng thơ của Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền… là đã làm cho thơ ca Việt Nam chậm lại hơn nửa thế kỷ, và có thể còn chậm hơn nữa nếu nhận thức không rõ và không chịu thay đổi nhận thức.
Tập thơ Chút lời mênh mông này là công sức góp nhặt trân quý của nhà thư pháp Hồ Công Khanh và những người con của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, đặc biệt là anh Nguyễn Đức Yên, tập hợp những bài thơ chưa từng được in trong các tập thơ của tác giả. Đây là lần trở lại chính thức đầu tiên của Nguyễn Đức Sơn sau gần 50 năm tuyệt tích. Lần hội ngộ này, không phải là luồng sáng nhuần nhụy mà là những ngôi sao, những mảng màu chắp vá do tính chất tập hợp dàn trải ở nhiều nơi và nhiều khung thời gian sáng tác. Nhưng ánh dư quang phát ra từ một thiên thể ánh sáng cũng đủ làm hài lòng những người tò mò và cũng thể hiện được phẩm chất của  tinh thể ánh sáng, nơi mà nó phát xuất.
12/6/2019
Không Hạnh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Từ "Lời ru vầng trăng" đến "Bóng đời"

Từ "Lời ru vầng
trăng" đến "Bóng đời"

Một buổi sáng mùa xuân ấm áp, tĩnh lặng, tôi cầm trên tay và đọc “Lời ru vầng trăng”, tập thơ của tác giả Nguyễn Đăng Tấn, Nhà xuất bản Lao Động, năm 2000. Những câu chữ, hình ảnh thơ cứ âm thầm cuốn tôi vào mạch cảm xúc  rất riêng, tràn đầy khiến tôi muốn chia sẻ niềm xúc động từ câu chữ, nơi chỉ có những tâm hồn tha thiết yêu thương cuộc đời.
Đọng lại trong tôi là hình ảnh vầng trăng sáng ngời xuyên suốt tập thơ. Trăng trong thơ anh, là biểu tượng của quê hương đất nước, là biểu tượng của tình yêu trong ngần thiết tha, đầy hoài niệm:
“Đất nghèo như đảo chơi vơi
Cồn cồn cát trắng, ngời ngời trăng rơi
Thương sao những giọt mồ hôi
Chưa rơi đã phải khô rồi, trắng phau…”
(Tiếng ru)
Một tình yêu quê hương thật giản dị mà sâu sắc, có nỗi xót xa, có cả những niềm vui:
“Ngày mùa quê tôi
Những buổi tuốt lúa vui như hội
Sân đình chật tiếng nói
Trăng nghiêng xuống cười…”
(Ngày mùa quê tôi)
Những năm tháng tuổi trẻ của một người lính cầm súng bảo vệ đất nước, lòng anh vẫn luôn đau đáu hướng về nơi thân yêu nhất , nơi có lời ru của mẹ , lời ru dịu dàng như vầng trăng sáng mãi trong kí ức:
“Bỗng nghe từ phía lưng đồi
Một lời ru vút ngời ngời trăng lên”
(Lời ru vầng trăng)
Trăng thương trào trong lời ru của mẹ, trăng cũng trong veo tình yêu Tổ quốc:
“Trăng Tổ quốc anh rất trong
Em nhớ Viêng Chăn ngày trở lại
Trời sao quê anh sáng mãi
Soi vào mắt em…
(Bài thơ tiễn bạn).
Suốt dọc dài cuộc đời, anh đã đi đã gặp bao vùng đất, bao con người, để rồi nỗi nhớ lại hoá thân vào một vầng trăng nơi ngõ nhỏ, phải chăng, nơi ấy có bóng hình người con gái anh yêu:
“Anh chưa có cuộc đời nơi ngõ nhỏ em ơi
Vầng trăng rơi trên những tầu lá chuối
Cơn mưa chiều như trẻ thơ đuổi nhau rất vội
Rắc âm thanh lên mỗi mái nhà…”
(Ngõ nhỏ)
“Ô cửa nhà bên dập dìu hương sữa
Một vầng trăng tròn trặn, trinh nguyên…”
(Có một vầng trăng).
Cứ như thế, mạch thơ anh nhẹ nhàng sâu lắng như dòng nước suối thấm mát nuôi nấng cảm xúc độc giả. Thơ anh giản dị lạ lùng và dịu dàng lạ lùng. Từng dòng thơ cứ thủ thỉ với những người thân yêu:
“Ôm con vào lòng
Ôi vầng trăng của bố
Đời lính xa nhà gian khổ
Thời gian gần được tính bởi phút giây…”
(Có một vầng ấm).
Lãng mạn, nội tâm, minh triết ăm ắp trong thơ, tôi nhớ mãi những câu:
“Từ trong lòng đất thẳm sâu
Nghe mạch sống cuộn lên mầu lá xanh
Rưng rưng dòng nhựa đầu cành
Rồi ngày mai sẽ nở nhành hoa tươi…”
(Lời ru vầng trăng).
Tập thơ xuất bản đã lâu, nhưng luôn mới mẻ, ý nghĩa với người anh yêu quý và yêu quý anh. Tôi tin rằng hình ảnh vầng trăng còn tiếp tục lặng lẽ sáng trong mạch nguồn trái tim anh.
Nếu như “Lời ru vầng trăng” là tiếng lòng của một người lính với giọng thơ thấm đẫm cảm xúc trong ngần, thì ở tập thơ “Bóng đời” mới xuất bản của anh mang đầy trải nghiệm của cuộc đời. Tập thơ ” Bóng đời” dày dặn từ số lượng đến chất lượng, cảm xúc. Tập thơ được chia làm hai mảng khá rõ nét: Những viên sỏi nhỏ và Dải yếm.
“Những viên sỏi nhỏ” gồm 34 bài thơ mang đầy cảm hứng về Tổ quốc, những suy tưởng sâu sắc về con người và dân tộc. Nhưng ở khuôn khổ bài viết này, tôi muốn nói đến “Dải yếm” mảng thơ tình mềm mại của một tâm hồn sâu lắng, một trái tim không tuổi, trẻ mãi.
Là một người từng trải, anh rất hiểu:
“Những lời yêu vừa đó đã quay quắt bay xa
Thân tình lắm lại trở thành kẻ thù trong gang tấc
Là hàng xóm tối lửa tắt đèn nằm gai nếm mật
Bỗng bất ngờ dao sắc kề bên…”
(Xúc xắc mùa thu)
Cả cuộc đời chìm nổi, nếm trải mọi điều trong cõi nhân gian, tưởng như có thể làm cho anh chai sạn mọi xúc cảm. Nhưng không:
“Đã đi qua những ngày nắng lửa
Đã đi qua những mùa lạnh giá băng
Để lòng trắng nở thành mây trắng
Màu trắng lung linh trong sáng vĩnh hằng…”
(Bài thơ trắng)
Trái tim người thi sĩ vẫn rung động, rung động trước cảnh sắc, trước niềm yêu xưa cũ:
“Tháng Ba như một con thuyền
Thương yêu nối giữa hai triền yêu thương
Dùng dằng nhớ dùng dằng vương
Rét hơi hơi rét ủ hương đất trời…”
(Dùng dằng tháng Ba).
Bằng trải nghiệm, anh viết:
“Hãy mở tiếp những trang đẹp nhất
Những yêu thương, khao khát đợi chờ
Hãy bùng lên những đợt sóng xô bờ
Vỗ mãi mãi vào bến bờ xanh thắm.
Ta bên nhau với niềm tin sâu lắng
Mỗi ngày thêm hạt hạt phù sa…”
(Lật mở)
Lời thơ anh da diết, có lúc bùng lên theo con sóng cảm xúc thăng hoa. Có lẽ, trong một quãng đời anh đã tìm thấy một bất ngờ:
“Tháng Mười như một nong tơ
Em là hạt nắng bất ngờ hiện ra…
Tháng Mười để anh có em
Để cho bờ bãi xanh thêm đất trời
Mặc cho bèo dạt mây trôi
Để bàn tay ấm nói lời bàn tay…”
(Khúc hát tháng mười).
Trái tim minh triết, trái tim cũng phóng khoáng, đa tình lắm cơ, anh gọi:
“Yếm đào là yếm đào ơi
Phập phồng lá thắm bồi hồi nụ hoa…”
(Dải yếm)
Tình yêu trong thơ anh tha thiết , bâng khuâng như ánh mắt mênh mang, lãng tử. Nhớ một kỉ niệm hay những kí ức yêu thương cứ vương vấn mãi không nguôi, chập chờn, xa gần. Một địa danh cũng đi vào nỗi nhớ thương bồng bềnh:
“Ngẩn ngơ trước núi và em
Bên miền linh khí bên miền thần tiên
Trập trùng mây trắng bay nghiêng
Trập trùng cõi mộng quá miền hư vô…”
(Chiều Ba Vì)
Đọc những câu thơ trong “Bóng đời” , tôi lại nhớ một nhà thơ từng viết:
“Nhà thơ không có tuổi
Tuổi nhà thơ trong thơ
Đọc Kiều không ai hỏi
Tuổi Nguyễn Du bao giờ”.
Thế đó, từ “Lời ru vầng trăng” đến Dải yếm của “Bóng đời” vẫn là một tâm hồn chan chứa tình yêu, yêu người, yêu đời.
14/6/2020
Đỗ Thu Hằng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nguyễn Hồng Linh và Tóc rơi phiến ngọc

Nguyễn Hồng Linh
và Tóc rơi phiến ngọc

Vẫn là cảm xúc tình yêu mang yếu tố chủ đạo qua từng bài thơ, mà cũng không chỉ riêng cho tình yêu đôi lứa, ở Nguyễn Hồng Linh nét thơ nhạy bén, say đắm đã làm nên bước đà vững chãi trong hành trình sáng tạo của mình…
Tóc rơi phiến ngọc cùng với tác giả Nguyễn Hồng Linh là nỗi nhớ quê hương ngàn xa vời vợi quyện vào tình yêu say đắm ngất ngây, rưng rức buồn thương để rồi cô quạnh trong những hy vọng chờ mong vượt qua thời gian và không gian là cả đại dương mênh mông… Tình yêu và tình quê hương đã chiếm trọn tâm hồn người phụ nữ ly hương này rồi:
Tha phương đất lạ nhớ quê…
Trái tim lưu luyến mong về cố hương.
(Cố hương)
Đâu phải ngẫu nhiên khi bài thơ “Cố hương” đã mở đầu cho cả tập thơ nhớ quê, yêu người của tác giả Nguyễn Hồng Linh. Có lẽ nỗi nhớ đã vò nhàu, đã uốn nếp, đã trồi sụt đứt gãy trong tâm trí chị nhiều lắm rồi có phải…? để cho cánh buồn cánh nhớ cứ luân phiên nhau thường trực trong cung bậc thời gian cùng người – thơ mà hóa giải biết bao nhiêu muộn phiền.
Giấu mình trong vỏ sò…
tôi ở đây và nỗi ám ảnh thì ở bên kia bờ đại hải. Làm sao bình lặng trong cô độc? dù đã cuộn mình trong con ốc,
(Sóng bạc đầu)
Vậy đó, đã co mình lại, giấu mình đi nhưng nỗi nhớ quê vẫn ám ảnh khôn nguôi. Bởi trong mỗi chúng ta, quê hương đã là muôn thuở rồi. Để đến khi mức độ nhớ làm cho ta cũng trăn trở cùng chị: Sóng bạc đầu!/ Nhớ cũng bạc đầu! (Sóng bạc đầu).
Biết bao thương yêu, nồng ấm, nhớ nhung nhưng tình yêu nguyên vẹn trong thơ chị cứ mơ hồ cứ ảo ảnh để rồi chỉ còn lại là sự âm thầm day dứt:
Trời đổ giọt châu
Đêm thâu úa nhàu
Tình như chiếc lá phai màu
Tiêu tương tình khúc lệ sầu chứa chan
(Mong manh)
Nỗi nhớ quê, nhớ người trong thơ Nguyễn Hồng Linh cứ bảng lảng trong sương mờ rồi lại hiện hình cô quạnh:
Mai về tìm lại dòng sông trắng
Dấu vết rêu phong khói sương bay.
(Sài Gòn có gì)
Dòng sông trắng của Hồng Linh là dòng sông quê hương mà chị luôn nhớ về nhức nhối, khắc khoải, đau đáu khôn nguôi. Đó đã từng là dòng sông quê mát lành, dòng sông đời trong mộng và nay đã trở thành dòng sông trắng mỏi mong trở về…
Thơ Nguyễn Hồng Linh gợi ta nhớ đến hai câu thơ của nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ “Tiếng hát con tàu”:
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn!
Một khi nơi đã từng ở lại chính là quê hương Tổ quốc mình thì nỗi nhớ càng tăng lên gấp bội phần. Nỗi nhớ sẽ là tâm hồn, là máu thịt, là cốt tủy tận sâu thẳm đáy lòng. Bởi nên nỗi nhớ quê hương trong thơ Nguyễn Hồng Linh như một phần tất yếu trong cuộc sống của chị vậy đó.
Tuyết rơi rơi!
con chim đơn côi
Tiếng hót lạc loài
Giữa bầu trời
Tuyết trắng mênh mông
(Đi về đâu)
Tuyết rơi nơi viễn xứ, lòng tương tư chạnh nhớ quê nhà. Xứ mình xưa nay đâu có tuyết, nên phận chim đơn côi với tiếng hót lạc loài nơi xứ tuyết là hình ảnh điển hình và sâu đậm nhất cho nỗi nhớ quê hương có trong đó đủ các cung bậc bồn chồn, mong mỏi, thương yêu và dường như bất lực…?
Canh dài thổn thức trông
Gờn gợn ngọn đông phong
Viễn xứ chưa tròn mộng
Quỳnh đơm một đóa sầu
 (Chờ… Quỳnh hoa nở)
Đủ biết nỗi nhớ đó đích thực là nỗi nhớ trường kỳ, nỗi nhớ… không ngủ; và còn rất nhiều cảnh ngộ của nỗi nhớ tương tự như thế đã làm nên một Nguyễn Hồng Linh đa hình nỗi nhớ.
Không chỉ nhớ quê hương, thơ Nguyễn Hồng Linh còn là tình yêu đầy giông tố nhưng cũng rất ngọt ngào đắm say:
Con chim sáo nhỏ nhớ anh
Nụ cười đi vắng – cành xanh giọng sầu
(Cành xanh giọng sầu)
Như là khởi đầu báo hiệu cho một tình yêu không hề thuận buồm xuôi gió chăng? cành xanh giọng sầu đang gióng lên tiếng chuông ái tình thấp thỏm chờ mong.
Một chút yêu… thật lạ!
Ướp mật say lòng người
(Một chút thôi!)
Tình yêu cho dù ở lứa tuổi nào cũng đều có những bước đi rụt rè riêng, dù là yêu lần đầu hay yêu lần sau. Nếu là lứa tuổi 5X, 6X hay đầu 7X trở về trước thì điều đó càng rõ rệt hơn. Bởi nên chỉ một chút yêu thôi đã đủ để ướp mật say rồi cũng thật dễ hiểu. Đó chính là khởi đầu cho một tình yêu… chưa biết mai này sẽ về đâu?
Sự so sánh trong thơ Nguyễn Hồng Linh không mới nhưng đủ làm người đọc bồn chồn theo. Thơ chị đủ sức lôi cuốn người đọc song hành là vậy.
Cát ơi! Đừng chôn vùi tình nhé
Hạt cát tình người… giọt bay xa
(Phan Thiết ơi! Người có đợi chờ?)
Vẫn là cảm xúc tình yêu mang yếu tố chủ đạo qua từng bài thơ, mà cũng không chỉ riêng cho tình yêu đôi lứa, ở Nguyễn Hồng Linh nét thơ nhạy bén, say đắm đã làm nên bước đà vững chãi trong hành trình sáng tạo của mình. Sự ví von trong thơ chị luôn thật đáng yêu.
Tháng mười một… lá rơi vàng trước ngõ
Sắc thu buồn ráng đỏ khóc thời gian
Gió heo may thổn thức gọi mùa sang
… Em vẫn biết tình yêu là men đắng
Vẫn nhớ anh quay quắt giữa thu phai
(Hương yêu vàng mùa cũ)
Cách tiết chế nỗi buồn của Hồng Linh được thể hiện qua sự ý thức của bản thân ở mỗi lời thơ, vì ít nhiều trong chị cũng mong muốn cái miên man ấy không lấn lướt đi phần cảm xúc trữ tình mà chất thơ nặng lòng giãi bày.
Cảm xúc yêu thương cứ quyện chặt vào giọng thơ đằm thắm ngọt ngào của chị. Ngập tràn trong thơ là sự đắm say của lời tình thủ thỉ:
Có phải anh tình muộn đời em? Bao năm qua em vẫn chờ anh đến. Chờ bình minh lên hoàng hôn lịm tắt. Chờ tuổi xế chiều tình ái lên ngôi.
(Tình chiều)
Về những nỗi buồn trong thơ Hồng Linh cũng thật dễ hiểu bởi buồn như một biểu hiện tất yếu của thơ ca, đặc biệt là thơ nữ mà khi liên quan đến cảm xúc đặc biệt này dễ rơi vào nước mắt, nhưng yêu như Nguyễn Hồng Linh thì quả là đặc biệt:
Bây giờ…. người còn nhớ em không?
Yêu anh một chút mưa thành sông
(Bây giờ…. người còn nhớ?)
Đúng là lòng trời cũng như lòng người một khi người ta đã yêu, yêu say đắm, yêu ngất ngây hay là yêu bão giông đơn phương thì cũng chất chứa mầm khổ đau…
Yêu chi mà dạ bồn chồn
Hận chi đời đã xói mòn tuổi xanh
(Đá)
Yêu đến mức hận đời hay cũng là hận thời gian đã xói mòn tuổi xanh thì đủ biết tình yêu dữ dội như thế nào, cung bậc cảm xúc bay bổng, dâng tràn, khao khát đến độ thơ và người đều không thể hình dung… Nguyễn Hồng Linh quả là đã thật “quá lời” nhưng cũng thật “khéo lời” trong ngôn ngữ thơ của mình.
Gửi vào anh đầy dịu dàng sâu lắng. Gửi vào anh nỗi nhớ quay quắt, đảo điên. Gửi vào anh thăng hoa và hạnh phúc. Tan vào nhau đẫm cả hai tâm hồn.
… Tình yêu em tràn đầy những cung bậc. Gửi vào anh những cung bậc hoàng hôn. Gửi vào anh những khát nhớ nồng nàn. Gửi tình muộn giấu vào đêm huyền hoặc.
(Cung bậc hoàng hôn)
Dù yêu đến bao nhiêu cung bậc thì lời thú nhận “cung bậc hoàng hôn” đã là cách tiếp cận an nhiên nhất trong tình yêu của Hồng Linh. Tình yêu trường cửu hay tan vỡ và ta ứng xử với tình yêu như thế nào cũng bởi cách nhìn nhận và tiếp cận sự việc mà thôi. Đó cũng là sự diệu kỳ của thơ, và Nguyễn Hồng Linh đã góp phần vào mạch yêu ấy…
Em khát khao nụ tình cháy khát. Em khoả thân đốt cháy trái tim anh. Trên da thịt vẫn còn ửng hồng nụ hôn cuồng dại.
(Bước xuống đời nhau)
Tình yêu cuồng dại đã xuất hiện trong thơ Nguyễn Hồng Linh, mỗi khi người phụ nữ đã thốt lên như vậy nghĩa là tình yêu đã cháy bỏng tận cùng của dâng hiến của khát khao. Nhưng vẫn thấp thoáng ẩn hiện trong đó sự dịu dàng của người phụ nữ Á Đông thật đáng yêu. Đôi lúc ta bỗng tự hỏi có cần phải nói ra là em khỏa thân không? Nhưng thật lòng mà nói thì sự bỏng rát của tình yêu đã chẳng thể đặng đừng. Còn đây nữa:
Đêm trắng… Những vuốt ve nóng bỏng.
Như ngựa hoang đã tháo dây cương
Ta tìm nhau… tìm nhau, một lần không đủ
Anh vẫn đưa tay tìm… cho tình ái lên ngôi.
(Giấc xuân nồng)
Thực ra trong tình yêu không bao giờ là đủ, tạo hóa đã ban cho loài người sự tuyệt vời vô song của tình yêu, nhưng đi cùng cũng là muôn vàn đắng cay, thổn thức. Tình yêu là sự duy trì phát triển của nhân loại nhưng tình yêu cũng là đề tài muôn đời của thi ca, hội họa, âm nhạc và hầu hết các loại hình nghệ thuật mà loài người đã tạo ra. Thơ Nguyễn Hồng Linh cũng không ngoại lệ.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Hồng Linh vẫn là lời thơ muôn thuở, dung dị nhưng sang trọng, đài các và lịch duyệt:
Anh có nghe mùa xuân
Gieo hạt mầm thương nhớ
Nụ tầm xuân bỡ ngỡ
Gió giao mùa mênh mang
(Lời thì thầm mùa xuân)
Khi mùa xuân gieo hạt mầm thương nhớ để cho gió giao mùa giúp ta cảm nhận đầy đủ sự tinh tế đài các trong từng tiếng xuân… rõ ràng tuy hình ảnh không hề mới nhưng ta vẫn thấy sự tươi mới của hồn thơ.
Em hong tình trong góc
Đêm tối sợ tình đau
(Chơi vơi)
Sự dung dị đã đủ làm cho người đọc khắc khoải liên tưởng về cuộc đời, về nhưng gì ta đã trải qua, thể hiện sự gợi mở trong thơ Nguyễn Hồng Linh thật đáng trân trọng. Hay như hình ảnh:
Em đi tim ta ngỡ ngàng
Phím trầm loang mãi cung tơ
(Hoa bong bóng vỡ gọi mưa)
Là nỗi buồn thực sự sang trọng không dễ gì cảm nhận được trong đời.
Bước đi, ngoảnh lại đã một đời
Trăm năm vội vã người xa khuất
(Ngoảnh lại đã một đời)
Đó là sự cảm thán về cuộc đời, những nỗi niềm chưa chắc đã được giải tỏa cùng ai, phải là tri âm mới thấu hiểu, phải là tri kỷ mới ngang vóc dáng, bởi nên có khi trăm năm không gặp một người. Cuộc đời vô định thế đó nên lời cảm thán như một tiếng thầm thì rất sang trọng, rung ngân…
Dòng tóc em bay lạc mây mù
Em bước xuống đời khúc mộng du
(Hoa tím tương tư)
Như một tình yêu có thể không có hồi kết nhưng ẩn chứa lòng vị tha, thương cảm bao la trong cuộc đời này. Sự nhân hậu và vị tha đã làm cho cuộc sống thêm đẹp lên nhiều.
Đó cũng là nỗi niềm thi ca của Nguyễn Hồng Linh:
Em như chim đông
Ngủ muộn đợi mong
Mỏi mòn trông
Khúc tình tha thiết
Da diết, nồng nàn
Đêm thở than
(Khúc tình ngâu)
Thở than mà cứ như không vậy, thì ra nỗi buồn đã khuất lấp trong muôn vàn lời yêu nên sự chờ đợi trong tình yêu đúng là một điều gì đó rất đẹp, rất sống động nữa.
Em ngồi hong tóc mây hồng
Dưới giàn thiên lý trổ bông hoa vàng
(Tóc rơi phiến ngọc)
Chắc chắn đây là những câu thơ dung dị mà đài các rồi. Tóc mây hồng và hoa vàng trên giàn thiên lý gợi ta nhớ về một miền xa xăm, và hình như là trong miền cổ tích vậy? Nguyễn Hồng Linh thật đã biết đi riêng con đường của mình.
Em hoá đá ngu ngơ. Trước bóng tối im lìm
(Cuộc tình lạc lối)
Để rồi thơ chị đã hóa đá ngu ngơ trong tình yêu và cuộc đời nhưng hồn yêu thì cứ mãnh liệt từ tuổi trẻ đến tuổi về chiều:
Anh cho em mượn… bờ môi anh. Bờ môi nồng ấm, đầy đam mê, cháy bỏng, khát khao. Để đêm dài em khỏi khắc khoải, nhớ mong…
(Anh cho em mượn)
Thậm chí đến mức muốn giấu bớt đi tình yêu:
Vỏ sò ơi!
Sao không đem giấu
Cuộc tình đầy cháy bỏng giữa ngàn khơi
(lời tự tình trên biển).
Xin cám ơn tác giả Nguyễn Hồng Linh với những vần thơ khao khát mê cuồng trong tình yêu cùng với nỗi nhớ quê hương day dứt khôn nguôi! Sự dung dị trong thơ chị đã không làm khuất lấp đi những vần thơ sang trọng và lịch lãm để mọi người cùng thưởng thức trong những cung bậc mê say.
TP.HCM, 14/10/2019
Hoàng Đỗ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bước gió truyền kỳ - Bước chân mở cõi

Bước gió truyền kỳ
Bước chân mở cõi

Nhà thơ Phan Hoàng khởi đầu viết trường ca “Bước gió truyền kỳ” từ mười lăm năm trước, anh trích một số đoạn tham dự cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội 2003 – 2004 và đoạt giải thưởng. Từ bấy đến nay anh tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung đến đầu năm 2016 mới xuất bản, đủ thấy anh rất cẩn trọng trong lao động thơ.
Cảm hứng mở cõi giữ biên cương xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Phàm là con dân đất Việt dù chính kiến khác nhau nhưng mỗi lần nhắc đến công cuộc mở cõi giữ biên cương thì cảm hứng ấy luôn cháy bỏng và thiêng liêng; trường ca của Phan Hoàng nhập vào tâm thế ấy, đó là lợi thế đầu tiên. Trên tấm lưng cong của dải đất hình chữ S, mỗi dốc đèo, mỗi bờ vịnh, mỏm đá, ngọn cỏ, gốc cây… đều ghi dấu máu xương mở cõi; chia ly và đoàn tụ; tang thương và lẫm liệt… Phan Hoàng được sinh ra trên vùng đất như thế, vùng đất có tên là Tuy Hòa, Phú Yên. Mới nhắc đến mấy chữ ấy lòng đã thấy rưng rưng bởi đó là khát vọng cháy bỏng của bao thế hệ tiền nhân. Nhìn lại quá khứ chưa xa, vùng đất này đã mấy khi được Hòa bình mà có “Phú” có “Yên”? Trông vào đâu anh cũng thấy âm vang quá khứ hiện về:
lồng lộng Đá Bia
oai linh tinh hoa trời đất
hào hiệp sông Ba
thiêng liêng dòng sữa sinh thành.
Những địa danh rất ấn tượng, đó là hiện hữu hiện tại, nhưng nhiều nhất là những hình nhân lạ lùng:
Đêm đêm bỗng nghe rừng xanh thành cổ
bước ai trong gió lặng trôi bềnh bồng…
người lên đầu non, người xuôi cuối bể
xác hoá mây bay, hồn về đất mẹ…
Hình ảnh hư ảo “bước ai trong gió lặng trôi bềnh bồng” thì đúng là vong hồn, oan hồn của nhiều thế kỷ hiện về. Nhưng không ma quái mà rất đẹp: “xác hoa mây bay, hồn về đất mẹ”, đó là sự trân trọng và lời cầu siêu của tác giả đối với những linh hồn ấy, bằng lòng quả cảm và xương máu, họ mở cõi để có được non sông gấm vóc như ngày nay.
Trên đất nước ta có lẽ không nơi nào có nhiều gió bão như tấm lưng cong của dải đất miền Trung, “Ơi cái gió Tuy Hòa/ Gió chuyên cần và phóng túng” (Trần Mai Ninh), Phan Hoàng đặt ra những câu hỏi với sinh thể gió:
Bay đường nào con người bớt khổ đau?
Bay đường nào con người bớt nghèo đói?
Bay đường nào con người bớt phản trắc?
Bay đường nào con người tin được nhau?
Những “câu hỏi lớn không lời đáp” từ nghìn xưa và cho đến nay vẫn rất thời đại và thời sự. Hai câu trên, “bớt khổ đau” và “nghèo đói” là mục tiêu gần và cụ thể nhưng “bớt phản trắc” và “tin được nhau” mới thực là khó. Cho dù cuộc sống hết khổ đau và nghèo đói thật sự thì có ai dám chắc là đã hết phản trắc hay chưa và con người đã tin được nhau hay chưa? Trong trường ca này, điểm xuyết đó đây, Phan Hoàng vẫn nêu ra những vấn đề bức xúc về nhân tình thế thái để ta cùng suy ngẫm. Và câu trả lời:
Bay đến vùng trời thi ca âm nhạc đang cứu rỗi những nòng súng
Rất bất ngờ với ý nghĩa nhân văn. Trường ca với chủ đề mở cõi giữ biên cương nhưng rất hiếm thấy cảnh trận mạc voi gầm ngựa hý, chiêng trống thúc quân, đầu rơi máu chảy mà từng câu thơ đều thể hiện: vừa hào sảng sử thi vừa chia sẻ nỗi niềm.
Gió hóa thân các chàng trai vạm vỡ lưu dân
gánh trên vai ánh mắt kỳ vọng của người già
giấu kín trong tim mùi hương vợ trẻ tiếng khóc con thơ
Tả chân dung những người đi chinh chiến, tác giả không tả hành trang của họ gồm súng hỏa mai hay gươm giáo khiên mộc mà là tình thương nỗi nhớ. Chính hành trang vô hình này mới là cái gốc của ý chí kiên cường mạnh hơn nhiều lần súng gươm.
Hào sảng sử thi và chia sẻ nỗi niềm, hai yếu tố này đan xen nhau suốt chiều dài của trường ca. Từng đọc nhiều bản trường ca chung đề tài này, tôi thấy phần lớn tác giả hay say mê tập trung vào yếu tố thứ nhất. Ở “Bước gió truyền kỳ”, Phan Hoàng có ý thức làm khác đi. Đây là nét mới của trường ca, độc giả dễ dàng tiếp nhận và ghi nhận sự đóng góp của anh.
Gió vẫn miệt mài cõng hương qua núi đồi một thời trận mạc
gió nói gì với những chiếc bóng lang thang chưa yên nghỉ mộ phần?
Trường ca không dẫn dắt theo lộ trình mở cõi mà từng bước hiển hiện thấp thoáng trong ý tứ câu thơ:
giàn hỏa em mông muội đồng nội Cửu Long
hỏa thiêu từng tế bào ta ngựa hoang đại ngàn Trường Sơn.
Là ta biết dấu chân mở cõi tới đâu, thời gian địa điểm nào rồi và cuộc hội ngộ giữa người dân bản địa và người viễn xứ mới đến sinh động và tình cảm làm sao.
Thịt da nhiệt đới
Hừng hực ngực lửa
Hừng hực đùi hương.
Âu đó cũng là cái duyên tiền định để hình thành cộng đồng dân cư trên hình hài chữ S. Và trên vùng đất hoang sơ ấy bắt đầu hình thành những dấu ấn văn hóa:
tạc nên tượng đài nhân hậu và quả cảm
tạc nên tượng đài phồn thực và hào phóng
Nhưng cuộc sống đâu đã yên định mà còn biết bao công cuộc bình định khác:
Cảm thương cô bé lọ lem
Bơi trong gió chướng giặc đêm cướp ngày
Gợi cảm thương mà hiển hiện nỗi gian truân của lịch sử, mới đọc qua tưởng dễ nhưng có lẽ tác giả phải chọn lựa và lao động nghệ thuật không hề đơn giản. Rõ hơn về việc giữ vững biên cương:
Biên giới bất thường chuyển núi động rừng
Bao linh hồn trẻ hóa gió hiên ngang
Là hiện tại nhưng vẫn không thiếu hình bóng quá khứ, linh hồn những người lính trẻ vẫn hiện về trên phòng tuyến giữ nước. Viết như thế là tinh tế. Và anh còn tinh tế hơn khi nhắc đến điều tế nhị trong quan hệ xóm giềng:
Canh giữ giấc ngủ bình yên đất mẹ
Cảnh giác cái ác mang mặt nạ hữu nghị viển vông
Vừa cụ thể vừa khái quát, lời ít mà nói được nhiều. Ở chỗ này tôi muốn nói thêm đặc điểm nữa của thơ Phan Hoàng, ấy là anh hay sử dụng bút pháp điểm xuyết chấm phá:
Núi thức mùi hương dặm xưa trinh nữ
Núi dậy hơi men chiến tướng khóc quân.
Đến chi tiết cảm động của người lính chiến:
Vội vội vàng vàng tiếng thở đêm tân hôn
Và những người ở hậu phương:
Bao bà mẹ tim ngừng đập vẫn mở mắt đợi con
Bao người vợ úp mặt chờ chồng lửa lòng đông cứng.
Nghệ thuật điểm xuyết chấm phá trong hội họa thường chỉ gợi mà ít tả thực, thơ cũng vậy, nó tạo những khoảng trống để người thưởng ngoạn liên tưởng và như thế không gian thời gian nghệ thuật mở rộng mênh mang. Nói thiếu mà nói được nhiều hơn là nói đủ. Nhưng khi cần thiết, Phan Hoàng lại rất cụ thể, có thể nói trong trường hợp sau đây thì ít ai cụ thể được như anh:
Chống chọi mười bốn cuộc ngoại xâm
Chắc là anh phải mở Lịch sử Việt Nam lật từng trang và thống kê chi tiết, chính xác mới có con số cụ thể ấy. Ôi trên Trái Đất này chắc không có nơi nào chịu nhiều cuộc ngoại xâm như nước ta. Một cách làm nghệ thuật tâm huyết và trách nhiệm. Ở chương cuối: “Những cơn vượt thoát sinh tồn vĩ đại”, mở đầu:
Đất nước bước đi bằng mọi con đường
Dân tộc lớn lên từ bao thảm kịch
Là một đúc kết sắc bén và cảm động thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của người viết rất chân thành và tâm huyết.
“Bước gió truyền kỳ”, trường ca gồm 3 chương chính và 2 chương phụ: mở đầu và vĩ thanh, độ dài vừa phải nhưng mỗi ý tưởng, câu chữ hình ảnh, hình tượng… đều được anh nghiền ngẫm thấu đáo, lao động nghệ thuật công phu.
Lại nhớ tập thơ của Phan Hoàng xuất bản 5 năm trước có tên “Chất vấn thói quen” (được tặng thưởng Hội Nhà Văn VN và giải thưởng Hội Nhà Văn TP. HCM), càng thấy rõ sự nhất quán trong quan điểm nghệ thuật của anh: dứt bỏ thói quen cũ, đổi mới thi pháp thơ. Chỉ trừ thơ lục bát, còn anh bỏ hết vần và phá vỡ tất cả các khuôn khổ của lối thơ cũ. Là trường ca ôm trùm vấn đề rộng lớn nhưng anh không sa đà vào kể và tả mà coi trọng nghĩ và cảm; mỗi phần hay toàn cục, anh không kết thúc đóng mà kết thúc mở. Đó là những yếu tố chủ yếu của thi pháp mới. Phan Hoàng bắt nhịp với sự chuyển đổi ấy một cách thanh thoát và hiệu quả.
Trường ca thường có nhân vật, nhưng “Bước gió truyền kỳ”, Phan Hoàng không mượn một, hai nhân vật lịch sử cụ thể nào mà anh lấy sinh thể gió, vừa hiện hữu vừa mơ hồ; vừa hiu hiu vừa bão táp; vừa quá khứ vừa hiện tại làm “nhân vật” chính là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ.
15/6/2020
Nguyễn Vũ Tiềm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thân phận con người trong thơ Nguyễn Vỹ

Thân phận con người trong
thơ Nguyễn Vỹ

Góp mặt vào làng thơ Tiền chiến từ năm 1934 – thời điểm thơ Mới phát triển mạnh mẽ nhất, không ồn ào, chạy theo tâm lý đám đông lấy chuyện ái tình lãng mạn làm chủ đề chính cho thơ, Nguyễn Vỹ đã lặng lẽ theo tiếng gọi thao thiết của con tim viết những vần thơ gửi gắm tâm sự uất ức, dồn nén, bi phẫn của ông trước cuộc sống đầy phi lý và những kiếp người bị đày đọa trong bể khổ khôn cùng…
1. Tự bao đời, phẩm tính cao cả nhất làm nên hệ giá trị của một nền văn học không có gì khác đó là sự quan tâm đến thân phận con người với tất cả những vui buồn, được mất, hạnh phúc, khổ đau, vinh quang,  cay đắng trong kiếp nhân sinh đầy biến đổi và bất an này. Vì vậy, trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển thượng), Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng khi nghiên cứu về thơ Nguyễn Vỹ đã chia sẻ: “Nguyễn Vỹ góp mặt vào làng thơ tiền chiến từ năm 1934, thời kỳ thơ Mới đang hồi phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn này, phần đông thi sĩ thường đem khung cảnh lãng mạn, chuyện tình ái vào thi ca… Nhưng với Nguyễn Vỹ, có thể nói nhà thơ không lấy tình yêu làm đối tượng, vì thế thơ ông có một đường nét độc đáo riêng biệt”(1). Nhận định trên đã xác quyết một sự lựa chọn riêng của đời thơ Nguyễn Vỹ, một sự lựa chọn vừa như định mệnh, vừa như hệ quả của cuộc sống với nhiều phong ba bão táp suốt đời cầm bút của thi nhân. Vậy “đường nét độc đáo riêng biệt” đó của thơ Nguyễn Vỹ là gì và được thể hiện ra sao? Đó là câu hỏi đặt ra cần một sự luận giải thấu đáo để làm sáng tỏ các giá trị nhân văn trong thơ Nguyễn Vỹ, ghi nhận những đóng góp của ông cho thi ca nói riêng và văn học nước nhà nói chung. Điều này rất cần thiết đối với một con người mà số phận đã đặt để ông trong rất nhiều khúc quanh của cuộc sống, với nhiều biến cố xã hội mà một nhà thơ, nhà báo luôn quan tâm đến thân phận con người như ông phải chọn lựa.
2. Thơ Nguyễn Vỹ, vì thế, theo chúng tôi là thơ mang nặng nỗi đau về phận số con người và điều này có thể thấy trong nhiều bài thơ như: Sương rơi, Hoàng hôn, Tiếng chuông chùa, Hai con chó, Hai người điên, Trăng, chó, tù…, Gửi Trương Tửu, Một mình, Tiếng súng đêm xuân, Giấc mơ bom nguyên tử, Chim hấp hối, Đêm sầu về, Cũng thế thôi, Sài Gòn đêm khuya, Đêm trinh, Hoa lệ, Hài nhi lai Mẽo vứt trôi sông… 
Qua những bài thơ này, người đọc ở mọi thời đều nhận thấy, ẩn sau câu chữ là tiếng thở dài chua chát, mỉa mai, là nỗi dồn nén uất ức, nỗi xót xa, đau đắng và khát vọng muốn phá vỡ những rào cản đang bủa vây để hướng đến tự do, giải thoát nỗi thống khổ của kiếp người trong xã hội mà sự phi lý, bất công, hoành hành đến ngột ngạt… Đây là những giá trị cốt lõi, là một hằng số văn hóa trong thơ Nguyễn Vỹ, bởi nó đã chạm đến tư tưởng nhân văn của thi ca dân tộc và nhân loại. Và để thể hiện những điều này, bằng tài năng của mình, Nguyễn Vỹ đã tạo nên những diễn ngôn thi ca đầy tính ẩn dụ qua hình tượng độc đáo mà Bàng Bá Lân đã nhận xét khá xác đáng:  “Nguyễn Vỹ là nhà thơ Việt Nam có cảm tình với chó nhiều nhất, và lần nào anh đưa con vật đó vào trong thơ cũng đều xúc cảm được người đọc”(2). Đúng như vậy, trong tâm thức của người Việt, chó là vật nuôi gần gũi, gắn bó, trung thành với con người. Nhưng chó cũng là giống loài chịu nhiều khổ cực nên trong dân gian mới có câu nói ví von: “khổ như chó!”. Trong các bài thơ Hai con chó, Trăng, chó, tù…, Gửi Trương Tửu đều xuất hiện hình ảnh con chó. Vậy dùng hình ảnh “chó” trong thơ phải chăng là một dụng ý nghệ thuật để Nguyễn Vỹ muốn gửi gắm những suy tư về thân phận con người nổi chìm trong cõi nhân sinh, trong đó có chính thân phận mình?
Sống trong thời nước nhà tao loạn bởi ngoại xâm, do bất bình với hiện thực đương thời, Nguyễn Vỹ viết hai tác phẩm Cái hoạ Nhật Bản và Kẻ thù là Nhật Bản, sau đó ông bị quân đội Nhật ở Hà Nội bắt giam chiều 30 Tết nhốt trong hầm kín của Sở Hiến binh Nhật, Kampetai. Nguyễn Vỹ cùng bị giam với bốn người Việt khác. Bài thơ Hai con chó làm trong phòng ngục tử hình, thấp và chật, như cái chuồng chó đúng đêm giao thừa Nhâm Ngọ, 1942. Cả bài thơ tái hiện tình cảnh khốn cùng của cảnh tù đày. Điều đặc biệt là vần “o” được gieo khắp bài thơ tạo cảm giác về một không gian bức bối, ngột ngạt:  Chuồng ngục tối om, kìa bốn xó / Bốn thằng bơ bơ như bốn chó/ Chẳng được nói năng, chẳng được cười/ Hai chân chồm hỗm ngồi co ró/ Lưng rít mồ hôi, không dám cọ / Ngứa ngáy tay chân không rậy rọ/ Rệp bò lên cổ, leo lên đầu/ Muỗi bay khiêu vũ, kêu ó ó.
Ngoài kia là “Hà Nội đón mừng xuân Nhâm Ngọ/ Pháo nổ tưng bừng, đèn sáng tỏ”, còn trong này là những người tù chịu cực hình tra tấn liên tiếp của lính Nhật tàn bạo, hắn vừa uống rượu “như uống máu tươi trong cái sọ” vừa dùng roi da “quất lên bốn đầu sỏ”, “sả ba roi lên đỉnh đầu” những tù nhân. Hình ảnh những tù nhân hiện lên dưới ngòi bút đặc tả của Nguyễn Vỹ thật thảm hại, họ như đang bị nhốt trong tầng sâu địa ngục với ma quỷ chứ không phải ở cõi người. Nguyễn Vỹ khắc họa chân dung những người tù dưới cơn mưa roi da của tên lính Nhật bằng nhiều động từ và tính từ gợi hình, gợi cảm: rụt vai, mặt mếu mó/ nhăn nhó/ tay run cầm cập, răng gỏ mỏ/ sốt rét lên cơn, không dám nằm/ cúi đầu lạy lạy như xin xỏ/ da mặt xanh lè, mắt tho lỏ/ giờ như cái xác con  ma xó/ thằng tôi chờ chết, ngồi co ró
Tính chất bi hài của bài thơ khiến người đọc có thể cười rơi nước mắt chính là sự xuất hiện bất ngờ của con chó Nhật ngoài song sắt. Song con chó cũng bị khủng bố, tên lính Nhật “đạp giày lên lưng”, chó Nhật ẳng ẳng chạy gần đó…/ rồi tôi nhìn nó, nó nhìn tôi/ thông cảm cùng nhau hai đứa chó!
Hai đứa chó – Thật là cay đắng, chua chát, phũ phàng! Kiếp người và kiếp chó có gì khác nhau đâu? Thậm chí con chó còn được tự do ngoài song sắt, còn con người chỉ ngồi “co ró” đợi chết mà thôi! Khi bạo tàn ngự trị khắp nơi thì cả người và chó đều bị tước đoạt quyền sống và quyền tự do, dân chủ. Câu kết của bài thơ neo lại trong lòng người một dư âm nhức nhối, ngậm ngùi: Ôi tôi ôi, tôi ôi là tôi! Ôi chó ôi, chó ôi là chó.
Và cũng tiếp nối dòng cảm xúc trên, trong bài thơ “Trăng, chó, tù…”, Nguyễn Vỹ đã so sánh ba hoàn cảnh và khát thèm sự tự do của trăng và của chó – một nỗi khát thèm đến nhức nhối tâm can, tái tê tim óc đặt trong hoàn cảnh bi đát tưởng chừng tuyệt vọng mà đến hôm nay đọc thơ Nguyễn Vỹ chúng ta không thể không rưng rưng, xúc động và cảm thông:
Bỗng dưng đôi mắt lệ hoen mờ/ tôi gục xuống sàn tre, nằm thổn thức/ trăng với chó tự do ngoài sân ngục/ tôi bị giam sau bốn bức tường cao/ Ôi! Tự Do mi quý biết nhường bao!
Hơn ai hết, Nguyễn Vỹ-người tù-thi sĩ thấm thía và thấu hiểu giá trị quý giá của hai tiếng Tự do đối với con người: Có tự do là có cả thần tiên/ không có nó, trần gian là ngục thẳm. Vậy mà, thân phận con người bị giam cầm, tù ngục, bị đối xử tàn nhẫn còn không bằng con vật- đó là nỗi đau đớn, tức tưởi, buồn tủi đè nặng tâm tư, chiếm trọn tâm hồn khiến thi nhân đã khóc rất nhiều, khóc thâu đêm: Tù Trà – Khê say mê trong giấc đắm/ Trên giường tù ai lệ đẫm thâu đêm!
Nguyễn Vỹ đã trải lòng mình một cách thành thực, hồn nhiên, tế nhị…và có lẽ chính vì vậy mà những ví von có tính đối lập của ông giữa hình ảnh con người mất tự do trong nhà ngục với con chó tự do ngoài sân ngục trở nên thuyết phục, bởi người đọc không thấy sự khiên cưỡng, gượng ép. Hình ảnh thơ gợi cho người đọc những suy tư sâu sắc về kiếp người khốn cùng trong một đất nước đang sống trong kiếp nô lệ, lầm than.
Tồn tại với thân phận “ đầu thai nhầm thế kỷ” (từ dùng của Vũ Hoàng Chương), Nguyễn Vỹ phải chứng kiến bao cảnh đời bi thảm, bất công xảy ra trên chính quê hương. Ông bất bình với thời thế và muốn làm cái gì đó để phản kháng cho nguôi nỗi uất ức trong lòng. Nhưng khát vọng của Nguyễn Vỹ bị trả giá bằng những năm tháng tù đày, cùng cực,  điều này giúp chúng ta hiểu hơn vì sao trong thơ Nguyễn Vỹ nhiều khi ta bắt gặp những tiếng thở dài ảo não như muốn nối dài sang tận thế kỷ sau: “Ôi! Buồn lắm! Lòng ta buồn da diết!”…
“Con người Nguyễn Vỹ là con người đã sống, đã nếm mùi tân khổ, gian lao của kiếp “nhân sinh”… Kiếp “nhân sinh” ấy lại ở vào cảnh giao thời của hai thế hệ, trong một tình trạng bi đát nhất của lịch sử nước nhà, nên Nguyễn Vỹ đã trở thành con người rắn rỏi, yếm thế… để đi đến tâm trạng căm hờn, biếm nhạo, khắt khe, chua chát… gần như điên dại”(3).  Dùng ngòi bút của mình như một phương tiện dấn thân để rồi chấp nhận tù tội và những thăng trầm trong cuộc sống của một thân phận lưu đày, cho nên nỗi khắc khoải phận người trong thơ Nguyễn Vỹ được thể hiện da diết, thành thực nhất lại chính là trong những vần thơ ông viết về nghiệp cầm bút.
Không giống như Tản Đà chủ trương lối sống hưởng lạc, yếm thế “chơi là lãi” để trốn tránh cuộc đời. Nguyễn Vĩ dẫu có “chán mớ đời” trong cái xã hội “mục, nát, thối” lúc đương thời thì ông vẫn tha thiết với nghiệp văn chương. Song, càng tha thiết với nghiệp văn chương ông càng đau buồn, chua xót bởi nhận thức rõ thân phận nghèo hèn, sự tồn tại vô nghĩa của những kẻ cầm bút mang nhiều khát vọng. Lần đầu tiên trong lịch sử thi ca văn học dân tộc, có một thi sĩ đã dũng cảm nhìn thẳng vào bi kịch của thân phận người cầm bút và cay đắng, xót xa đến tột cùng: “Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ nhà văn An-nam khổ như chó/ mỗi lần cầm bút viết văn chương/ nhìn đàn chó đói gặm trơ xương/ rồi nhìn chúng mình hì hục viết/ suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết/ mà thương cho tôi, thương cho anh/đã rụng bao nhiêu mái tóc xanh” (Gửi Trương Tửu).
Hình ảnh so sánh của những câu thơ viết từ năm 1937 của thế kỷ trước, diễn tả thực trạng bi đát, tủi cực, khốn cùng của nhà văn An-Nam nhưng đến hôm nay bất cứ ai, đặc biệt là những người làm nghề cầm bút đọc lại vẫn thấy nhói đau sâu thẳm trái tim mình…Hoài Thanh dù khắt khe với Nguyễn Vỹ đến mức khó hiểu nhưng vẫn phải thừa nhận: “Lời thơ thống thiết, uất ức, để giãi bày nỗi bi phẫn cho cả một hạng người. Một hạng người nếu có tội với xã hội thì cũng có chút công, một hạng người đã đau khổ nhiều lắm, hạng sống bằng nghề văn. Hãy cho họ không có gì xuất chúng đi thì ít nhất họ cũng đã nuôi những giấc mộng to lớn khác thường. Nhưng đời không chiều họ; đụng vào sự thực, những giấc mộng của họ đều tan tành và lần lượt họ bỏ thây ở dọc đường hay trong một căn phòng bố thí”(4).
Không phải ngẫu nhiên “khi Tản Đà say rượu trách Nguyễn Vỹ: “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?”. Nguyễn Vỹ đáp lại, cũng trong lúc say: “Tôi có ví như thế thì chó xấu hổ chứ chúng ta xấu hổ nỗi gì?” (5). Câu trả lời của Nguyễn Vỹ đã chứng tỏ cách ví von trong  thơ ông tiềm ẩn những thông điệp thâm thúy, sâu sắc mà bất cứ thời nào ngẫm nghĩ, suy tư về thân phận của nhà văn nói riêng và nghệ sĩ – những người cầm bút nói chung chúng ta vẫn thấy nhiều ý nghĩa. Lối chơi chữ hai mặt theo cách riêng của Nguyễn Vỹ khiến câu thơ vừa mang tính triết luận vừa như sự đúc kết một hiện tượng đời sống thấm thía nhiều ngậm ngùi, đắng đót, xót xa…!
Nguyễn Tấn Long đã khẳng định văn tài và nhân cách của Nguyễn Vỹ khi ông xác quyết : “Nguyễn Vỹ có cái nhìn thường xuyên vào thực trạng xã hội, theo dõi những màu sắc biến đổi của nhịp sống dân tộc đã chịu nhiều thảm họa, hòa lẫn vào đấy tình yêu thương đồng loại, tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là tiếng nói chân thành phát xuất tự con người còn nghĩ đến quê hương” (6). Quả đúng như vậy! Đọc thơ Nguyễn Vỹ, có thể nhận thấy bức tranh hiện thực được tái hiện đa dạng, nhiều sắc màu đậm nhạt khác nhau. Trung tâm của bức tranh là thân phận bèo bọt, chìm nổi của con người trong cơn binh lửa được Nguyễn Vỹ tái hiện một cách chân thực nhất khiến chúng ta giật mình xa xót: Kế tiếp nhau ngã gục những bóng người/ lẫn tiếng súng, tiếng kêu gào: “giết giết!”/ Ai say máu, chém đâm nhau ác liệt? Ai rên la thảm thiết khóc kêu vang?…Trời đất hỡi lại bao nhiêu xác chết…Ai thân yêu, nhắn nhủ lúc chia lìa/ Đang quằn quại rỉ rên bên vũng máu!…Một lớp trẻ chôn vùi ngoài chiến trận/ đã đem xương đem máu đắp xây mồ/ Một lớp sau còn sống sót bơ vơ/ Khóc cũng dở mà cười càng thêm dở (Tiếng súng đêm xuân). Và đây là cảnh tượng hoang tàn trong bài thơ “Giấc mơ bom nguyên tử”: Rớt chìm trong đáy bề khơi/ muôn muôn triệu xác nổi trôi dật dờ/ Hình như cả loài người chết cả/ Khắp bao la đầy mả mồ hoang…  
Với tất cả sự tủi hờn của dân tộc chìm đắm trong thảm họa chiến tranh. Nguyễn Vỹ đã đổ lệ cho những phận người mong manh còn “đầu xanh tuổi trẻ”. Trong mạch ngầm của những câu chữ diễn tả tang tóc, đau thương là tinh thần phản đối chiến tranh và khát vọng về một ngày hòa bình “ để cho muôn muôn đời dân tộc/ hết đói rét lầm than tang tóc” (Gửi Trương Tửu).
Chiến tranh và cái chết tàn nhẫn không từ bất cứ một ai, lứa tuổi nào. Nguyễn Vỹ đã tố cáo tội ác kinh hoàng “do chiến tranh đó mới là thủ phạm” gây nên: Một hài nhi lai Mẽo vứt sơ sanh/ bị vứt bỏ, trôi bập bềnh trên sông rạch/ tội xác bé máu me chưa sạch/một đùm nhau chưa cắt, dính tùm lum!   Hài nhi là con lai, con hoang,  kết quả của lối sống ô hợp bừa bãi của những người lính Mỹ khi đến Việt Nam đã bị vứt bỏ không thương tiếc – một hiện tượng đau lòng nhưng không phải ai cũng quan tâm trong bối cảnh xã hội nhiều nhiễu nhương mạnh ai nấy sống lúc đương thời. Kiếp lưu đày và số phận bất hạnh của những hài nhi “quốc tế đủ các sắc, các màu” ngay từ lúc chào đời đã tác động không nhỏ đến tâm tư, tình cảm của tác giả, khiến lòng ông như tan nát: Mượn đất Việt để chôn nhau cắt rún/ chúng đang sống hàng bà làng, hổ lốn/ vì chiến tranh, cha của chúng, là tên/ Và chiến tranh là thủ phạm, cho nên… (Hài nhi lai Mẽo vứt trôi sông).
Có thể khẳng định Nguyễn Vỹ là một trong không nhiều những nhà thơ Việt Nam khắc họa hiện thực chiến tranh ấn tượng nhất: chiến tranh gắn liền cùng những cái chết bi thảm, thương tâm, và cái chết cũng như một sự mặc định đối với thân phận con người nếu xảy ra chiến tranh ở bất cứ nơi đâu và ở bất cứ thời đại nào. Có lẽ đây là thông điệp nhân văn mà đương thời ít thi sĩ đề cập đến…
Chiến tranh là chết chóc đau thương…song, không dừng lại ở đó, hệ lụy chiến tranh mà con người phải gánh chịu là khôn lường, nó tàn phá văn hóa,  và làm băng hoại những gì thuộc về giá trị nhân văn. Con người không còn được đối xử như là con người nữa, họ phải sống cuộc đời vất vưởng như con vật thậm chí không được bằng con vật.  Nguyễn Vỹ “mang một trái tim/ đìu hiu tan tác/ nặng sầu vết thương” (Chim hấp hối) để chia sẻ cùng những mảnh đời bất hạnh hơn mình. Đó là cảnh Sài Gòn đêm khuya với những con người “không cửa nhà, không một chiếc giường rơm…những đàn bà, con trẻ, kẻ già nua/ rách tàn tạ, áo quần gần không có/ nằm đầu đường dãi nắng với dầm mưa…những hành khất xác xơ, đầu ủ rũ/ngày ngồi xin góc chợ khách đi qua/ bạn biết tối họ nằm đâu để ngủ?Bên bìa thành, trong những bãi tha ma!…Tôi đã thấy một người cha đói rách/Ôm con ngồi trong xó tối hoang vu…” (Sài Gòn đêm khuya).
Lẽ ra trong mắt người trẻ tuổi, lãng mạn như thi nhân thuở ấy xuân phải là “xuân thanh trinh bát ngát đẹp vô ngần” nhưng với tâm hồn nhạy cảm và “mang trong tim một khối nặng tình thương ” Nguyễn Vỹ lại chỉ nhìn thấy trong khung cảnh mùa xuân những cảnh đời éo le, ngang trái, bao lần thi nhân đã nhỏ lệ xót thương: “Những thiếu nữ đêm xuân nằm trằn trọc/buồn cô đơn, tủi phận, khóc hờn duyên/ những chàng trai thất nghiệp, túi không tiền/ đi thất thểu chiều xuân trên vỉa phố…/ những đoàn người trí thức, dáng dịu hiền/ gương mặt sáng, đôi mắt ngời rực rỡ/ phải lam lũ làm quanh năm khổ sở/ không đủ nuôi cha, mẹ, vợ, con, em/ những công nhân quần áo rách cũ mèm/ mấy ngày Tết đâu có nem với gỏi?/ Ở túp lá bị mưa dầm nắng dọi/ ăn, cà, dưa, nhiều bữa đói không cơm/ kẻ đi xin, như những xác không hồn/ nằm hấp hối đêm giao thừa góc phố” (Hoa lệ). Trước mắt nhà thơ hiện thực cuộc sống không thể thêu dệt bằng ảo mộng, đó là hiện thực phũ phàng khiến trong suy tư của tác giả chỉ ngập tràn nỗi “xuân đau khổ”, “xuân nghẹn ngào trong cổ, ứ trong tim…/ xuân âm thầm của vô số sinh linh/ xuân đìu hiu của muôn vạn gia đình/ xuân tang tóc của những nàng quả phụ/ xuân lạnh lẽo trên những mồ vô chủ…”
Đói nghèo, tàn tạ, mông muội… những kiếp người vật vờ, sờ soạng như bóng ma trong bóng đêm dày đặc, mịt mù – ấn tượng đó chúng ta gặp không ít trong thơ Nguyễn Vỹ. Thi nhân đã lưu lại cho hậu thế một bức tranh chân thực về đời sống đương thời mà chính ông là chứng nhân lịch sử. Nguyễn Vỹ đã chủ ý tô đậm gam màu u tối trên bức tranh – đó cũng chính là gam màu mang đến cho người đọc mọi thời nhiều ưu tư về thời thế và thân phận con người  đã, đang và sẽ sống kiếp đọa đày giữa cõi trần gian đầy bất trắc. Và những điều này không thể không làm ta suy nghĩ truy tìm câu trả lời đặt ra cho nhân loại mà sinh thời chính Nguyễn Vỹ đã luôn trăn trở: Phải làm sao cho hết người đói lạnh/ phải làm sao cho hết kẻ bần hàn/ và làm sao những tâm hồn hiu quạnh/ được niềm vui trong an ủi hân hoan…” (Sài Gòn đêm khuya).
3. Góp mặt vào làng thơ Tiền chiến từ năm 1934 – thời điểm thơ Mới phát triển mạnh mẽ nhất, không ồn ào, chạy theo tâm lý đám đông lấy chuyện ái tình lãng mạn làm chủ đề chính cho thơ, Nguyễn Vỹ đã lặng lẽ theo tiếng gọi thao thiết của con tim viết những vần thơ gửi gắm tâm sự uất ức, dồn nén, bi phẫn của ông trước cuộc sống đầy phi lý và những kiếp người bị đày đọa trong bể khổ khôn cùng. Sinh thời, Nguyễn Vỹ cùng thơ ông đã tạo sự hấp dẫn và quan tâm đối với người tiếp nhận của nhiều thế hệ qua mọi thời đại. Cho dù Hoài Thanh đã từng chê thơ Nguyễn Vỹ là mắc “tật lòe đời”, Thế Phong đã từng khẳng định “sự nghiệp của Nguyễn Vỹ chỉ được một câu thơ trong bài gửi cho Trương Tửu khiến cho người đời còn nhắc đến tên ông: Thi sĩ Việt Nam khổ như chó”(7)thì cho đến hôm nay theo thời gian, hồn thơ Nguyễn Vỹ đã và đang tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn của nó, bởi một lẽ giản dị: tự thân nội hàm thơ Nguyễn Vỹ đã mang tư tưởng vượt thời đại ông sống, chạm đến những vấn đề mang giá trị trường cửu của thi ca nhân loại, hàm ẩn những giá trị nhân văn tiến bộ sâu sắc mà độ lùi thời gian càng lớn nó càng phát lộ hào quang – đó là vấn đề thân phận con người!
Nguyễn Vỹ đã sống và viết như một thi sĩ dám dấn thân để chia sẻ với nhân quần những đau khổ về phận người với những trang viết đầy ắp nỗi niềm trăn trở. Ông sống như một kẻ “cô phương” (chữ dùng của Nguyễn Vỹ) suốt những năm tháng ngắn ngủi của cuộc đời mà nhiều khi không có nổi “chốn nương thân”. Song, ông đã can trường chấp nhận, đối diện, đương đầu với những trầm luân đau khổ của cuộc đời và như một định mênh mà số phận đặt để. Và chính cuộc đời nghệ sĩ “ba nổi bảy chìm” của Nguyễn Vỹ trong cõi nhân sinh cũng là một bài thơ thống thiết, ẩn chứa nhiều thông điệp đầy tính nhân văn gửi đến các thế hệ mai sau. Bài viết này, vì thế, xin được coi như một nén tâm hương tưởng nhớ, tri ân Nguyễn Vỹ – người con tài hoa của quê hương Quảng Ngãi về những gì ông đã làm cho thơ và cho đất nước trong phận số của một Con Người đúng nghĩa… Xin được ngược dòng thời gian, chia sẻ cùng thi nhân nỗi cô đơn của trái tim nghệ sĩ luôn đau đáu niềm đau về thân phận con người với những mảnh đời bé nhỏ, mong manh, như thi nhân từng bộc bạch: Một trời, một biển bao la/ một mây, một gió, một ta, một mình/ trần ai một kiếp lênh đênh/ trăm thương, nghìn nhớ, một mình, một ta…
Chú thích:
(1),(3),(6),(7). Nguyễn Tấn Long-Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển  thượng), tr.438,449,446,460.
(2). Nhiều tác giả, Văn thi sĩ hiện đại, Nxb. Xây dựng, Sài Gòn, 1962, tr.153
(4),(5). Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2003(tái bản), tr. 107,108.
16/6/2020
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...