Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

Thơ 1-2-3, thể thơ độc đáo của nghệ thuật ngôn từ đương đại

Thơ 1-2-3, thể thơ độc đáo
của nghệ thuật ngôn từ đương đại

Bảo Bình là nhà giáo, nhà thơ, nhà nghiên cứu giảng dạy ở Trường Cao đẳng cộng đồng Hậu Giang, gần đây thường xuất hiện trên văn đàn với những bài lý luận phê bình viết kỹ lưỡng, khoa học và giàu cảm xúc. Tại cuộc Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ phối hợp Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức ngày 6.11.2024, vì công việc đi xa không tham dự được Bảo Bình đã gửi đến tham luận “Thơ 1-2-3, thể thơ độc đáo của nghệ thuật ngôn từ đương đại”, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
“Cuộc sống là một cánh đồng rộng lớn để thơ có thể sinh sôi và phát triển” – Pushkin
Thơ là gì? Ở đây, chúng ta không luận bàn sâu, bởi sự luận bàn sẽ chẳng có điểm dừng. Từ xưa đến nay, tiến trình phát triển của văn học là không cùng trong sự sáng tạo và nỗ lực đi tìm cái mới. Ở mỗi giai đoạn, văn học sẽ có tiếng nói và vẻ đẹp của riêng mình; dù vị thế và giá trị thì không hề thay đổi, từ chất liệu sử dụng đến hình thức biểu đạt, đó luôn là loại hình nghệ thuật đỉnh cao, minh chứng cho sự giàu đẹp của ngôn từ và sự cao thâm trong tư duy của người cầm bút. Đúng vậy, văn học luôn là hơi thở của thời đại và đời sống con người. Và thơ cũng vậy, luôn là sản phẩm trữ tình trí tuệ, dạt dào xúc cảm cùng giá trị thẩm mĩ và sự chiêm cảm linh diệu đã có từ ngàn xưa.
Dưới ánh trăng Sergei Yesenin bỗng hiện về
Lãng tử trên lưng ngựa lướt qua cánh đồng lúa mì
lững thững rừng phong lá rơi vàng bước chân ngôn ngữ
Với thi nhân khổ đau và cái chết không có điều gì mới
sợ đôi mắt người đẹp buồn hơn, mẹ già khuya sớm cút côi
dưới ánh trăng linh cảm tài hoa bão tuyết xoáy lòng tôi
(Phan Hoàng)
Hẳn, bạn biết tôi sắp nói về thể thơ nào rồi? Một thể thơ mới đã lan toả và đang chinh phục các nhà thơ bằng sự ra đời của nhiều tác phẩm trong thời gian ngắn, cũng như sức ảnh hưởng của nó đến với bạn đọc. Đúng vậy, tôi đang muốn nói về thơ 1-2-3, thể thơ độc đáo của nghệ thuật ngôn từ đương đại. Thể thơ được khai sinh bởi nhà thơ, nhà báo Phan Hoàng – Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Giám đốc – Chủ biên Vanvn. “Tôi là người thích xê dịch, khám phá trong đời sống lẫn trang viết. Tôi ít chịu đứng yên và rất sợ lặp lại cái cũ” là lời của tác giả. Để rồi ta thấy anh luôn không ngừng nỗ lực khám phá, tìm tòi cái mới nhằm chinh phục thi ca trong ý thức phản tỉnh của chính mình, anh trăn trở với cả tiếng trở mình của thơ.
Đọc thơ 1-2-3, ta sẽ nhận thấy đây là một dạng thơ phóng khoáng trong sự mực thước, nửa phần bay lượn tự do, nửa phần còn lại là vẫn phải bay trong khung trời cho phép. Kiểu vừa có luật, tức là tính bắt buộc, rằng toàn bài thơ chỉ có 6 câu chia thành 3 khổ; và câu đầu tiên cũng đồng thời là tựa đề, rằng số chữ ở mỗi khổ là sự tương đồng dễ nhớ; khổ một, một dòng không quá 11 chữ; khổ hai, hai dòng không quá 12 chữ mỗi dòng; khổ ba, ba dòng không quá 13 chữ mỗi dòng. Và cũng vừa rất tự do, tức không yêu cầu phải theo bất cứ âm vần hay bằng trắc gì, chỉ cần đó là một chỉnh thể thơ. Một chỉnh thể thơ đa nghĩa, đa thanh được tạo thành trong sự cô đặc và tinh lọc. Để từ đó, như ẩn hiện trong từng con chữ được đặt đứng ở những vị trí phù hợp, hài hòa là những tầng nghĩa được dẫn dắt, gợi mở đến với những chiều kích khác.
Người nghệ sĩ đơn độc tay cầm bình rượu
Tìm một người thấu hiểu cùng nhau
Người thì quá xa, người thì sao quá ngại
Người nghệ sĩ điêu tàn trong sợ hãi tan hoang
Nếu viết tiếp hoặc sẽ là dừng lại
Hoặc sẽ là chết hoặc cứ thế khờ dại, viết đây!
(Hồ Xuân Đà)
Và để bài thơ 1-2-3 trở nên một tổng thể uyển chuyển, hài hoà, đảm bảo tính ước lệ hoặc tượng trưng cần có, bạn sẽ nhận thấy ở câu 1 và câu 6 là một mắc xích vô hình, bện chặt. Đó không chỉ là sự hô ứng, mà còn là sự liên kết tứ đầy tính logic và ám gợi. Câu mở và câu kết của bài thơ như ổ khoá và chiếc chìa của nhau vậy, sẽ dừng lại nơi tâm hồn hoặc tư duy người đọc một tình cảm, một vấn đề nào đấy cần được quan tâm, chia sẻ và khai mở.
Được mất mấy khi chữ nghĩa vấy người
Chẳng ai xui làm nghề phu chữ
Buôn bán nhọc nhằn tim óc lên cơn
Cân đong nước mắt nụ cười thiên hạ dại khôn
Được đồng chắc – ánh hạnh phúc thẳng nét bút ngay
Thiệt đồng lép – nuốt cay đắng chát chua vào trong – vênh ngọn bút
(Nguyễn Đinh Văn Hiếu)
Mềm mại mà vững vàng, mênh mang cảm xúc mà cũng rất chiều sâu “Được mất mấy khi chữ nghĩa vấy người” là câu đầu tiên, cũng là tiêu đề, và câu 6, cũng là câu cuối “Thiệt đồng lép – nuốt cay đắng chát chua vào trong – vênh ngọn bút” đã bật lên quan niệm, cái nhìn của tác giả về nghề cầm bút.
Đã là thơ, thì dù là thể loại nào, lục bát, tứ tuyệt hay tự do, dù là thơ cũ hay thơ mới, cũng đều là tinh tuý của ngôn từ, là tinh hoa của cảm xúc với sức tả, sức gợi mãnh liệt làm rung động lòng người, đánh thức những tiềm thức, ấn tượng còn ẩn kín, ngủ mê và làm nên những trường liên tưởng mới. Nhà thơ, từ cổ chí kim đều là những tâm hồn tinh nhạy với sự giao cảm vô biên cùng vạn vật và sức cảm thụ tỏ tường, sắc sảo. Họ không dễ dàng dung nạp những thứ không phù hợp, và thơ 1-2-3 đã được chào đón trong sự hân hoan, phấn khích, điều đó chứng tỏ đây là thứ mà những nhà thơ đương đại đang cần.
“Về thơ, người xưa hoặc ví như giò chả, như gấm thêu. Giò chả là vị ngon nhất trên đời, gấm thêu là sắc đẹp nhất trên đời, hễ ai có miệng có mắt đều biết quý trọng, không dám khinh thường. Nhưng với thơ, thì lại là sắc ở ngoài mọi sắc, mắt thường không thể nhìn được, là vị ở ngoài mọi vị, miệng thường không thể nếm được” – Hoàng Đức Lương. Và vì thế, nếu có yêu thích và muốn thử sức với thể loại này, tôi thiết nghĩ các tác giả cần phải nghiền ngẫm và thẩm thấu sâu hơn về những yêu cầu cơ bản và thiết yếu mà thể thơ 1-2-3 đã đặt ra. Để tác phẩm khi ra mắt độc giả, phải đảm bảo được giá trị cần có của nó, cả về lớp áo bên ngoài lẫn những ẩn tàng sâu kín bên trong; cũng nhằm khẳng định vị thế, vẻ đẹp và giá trị riêng biệt cần có của thể thơ đặc biệt này.
Tôi thắp lên ngọn nến
Đêm giông bão mịt mùng ánh trăng dập nát
ánh sáng ngọn nến bập bùng xua bớt tối tăm
Tôi tan dần theo ngọn nến chơi vơi
bấc cạn rồi ngọn lửa lung linh vụt tắt
đáy đĩa còn trơ lại mình tôi 
(Nguyễn Hữu Thông)
Thoạt nghe, ta cứ tưởng đây là loại thơ dễ làm, nhưng thực ra nó không hề đơn giản như ta nghĩ. Ví như thơ lục bát vậy, tuy dễ làm nhưng khó hay. Để đảm bảo rằng “sắc ở ngoài mọi sắc, vị ở ngoài mọi vị” vốn có của thơ, tôi thiết nghĩ chúng ta cần hết sức nghiêm túc trong “cuộc chơi” này. Đã là thơ thì phải thật là thơ, dù yêu cầu của thể thơ 1-2-3 nghe qua tưởng chừng đơn giản nhưng thực chất trong cái giản đơn ấy lại chính là sự không dễ dàng, nó đòi hỏi sự cẩn mật và điêu luyện cần có của người thơ. Làm sao để vừa dung dị lại vừa tinh tế, vừa bình dân lại vừa bác học, đại chúng nhưng phải riêng biệt, đó chính là cái chất đầy sang trọng và độc đáo mà thơ 1-2-3 đã mặc định khi “chào sân” đầy ấn tượng thời gian qua.
Bốn thế kỷ bị lãng quên tạo nên điều kỳ bí
Đá quấn quýt cây. Rêu phong trầm mặc
ngôi đền Ta Prohm mê hoặc rừng già
Cây không chạm đất mà trổ xanh từ đá
những loài chim mang mầm sống trả ơn đời
sự kỳ vĩ thiêng liêng lẩn giữa thần Phật đất trời.
(Vũ Trần Anh Thư)
Với tôi, khoa học ngôn từ đương đại đang đối mặt với rất nhiều những thách thức trong cuộc hội nhập toàn cầu cũng như trong cuộc cách mạng công nghệ bùng nổ hiện nay. Và thơ 1-2-3 là một cứu cánh, vừa góp phần làm phong phú thêm cho đời sống thơ ca đất nước, vừa như một barie đầy ngạo nghễ, thanh chắn giữ gìn văn hoá dân tộc trong việc nhân bản và tinh luyện thêm cho Tiếng Việt ở vùng đất mới, một vùng đất tôi tin là màu mỡ.
Khải huyền những mơ ước cao xanh đã rơi về đất
Bất chợt miền trăng lạnh mong manh trông đợi yên bình
khe khẽ triền đêm muộn, thinh lặng rồi còn ám mây đen
Con dốc níu ngược vai, dò dẫm bước người ranh sáng tối
băng qua cơn lũ dữ – xác bão còn trôi bảng lảng chân trời
sau những chia ly cô độc là tận cùng nước mắt, người ơi.
(Tạ Hùng Việt)
Nhà bác học Lê Quý Đôn từng nói: “Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có cảnh núi non kì lạ của thiên hạ thì không thể làm thơ được”, phải chăng ông muốn nói về tầm quan trọng của hiểu biết, trải nghiệm và một tâm hồn đẹp, một trái tim rộng mở cùng với tài năng cần có ở người thơ?
Thật vậy, Maiacovski – nhà thơ người Nga đã khẳng định “Làm thơ là cân một phần nghìn milligram quặng chữ” tức là nói về độ dồn nén, tính súc tích cần có của thơ. Còn với Sóng Hồng – nhà thơ, nhà chính trị kiệt xuất của dân tộc – đã từng nhận định rằng “Thơ là viên kim cương lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời”, điều đó chứng tỏ sự quý báu, sức quyến rũ cùng những lung linh, huyền diệu mà thơ mang đến cho thế giới loài người.
Hải âu độc thoại điều gì bên vịnh Phần Lan
Saint Petersburg hạ ấm chuyển thu lạnh mây mưa đá
ánh vàng cung điện trầm tư sông Neva in bóng vĩ nhân
Đâu đây tiếng chạm ly vodka lần đầu Pushkin – Gogol hội ngộ
và tiếng bước chân “ăn bám” đắng cay Brodsky từ giã nước Nga
theo cánh hải âu tôi bay trong nỗi buồn kỳ ảo thi ca!
(Phan Hoàng)
Trái tim người thơ tài hoa luôn thổn thức là vậy. Họ không chỉ muốn mang đến cho đời sự phô diễn diễm tuyệt, mà còn khát khao sự rực hiện của thơ; để từ đó, không chỉ khai mở những khả tính tiềm ẩn của chính mình, mà còn mang đến cho nhân loại những chân trời mới.
Có thể thấy, thơ chính là kí hiệu của kí hiệu, là nội cảm của nội cảm; là sự căng kéo nội tâm, dồn nén xúc cảm để bật thành triết lý, tâm tư trong sự phá vỡ những ràng buộc chính thống từ văn phạm đến sự vật, hiện tượng… bằng cách của riêng mình. Và cứ thế, thơ chảy từ tim sẽ chạm đến tim, sẽ khiến cho bất cứ ai chạm vào nó cũng đều chao đảo, rung rinh, thậm chí là nghẹn ngào, ám ảnh. Đó, mới thực là thơ. Và thơ 1-2-3 đã và đang tiếp nối truyền thống này một cách tuyệt diệu trong sự cách tân đầy bản lĩnh. Mỗi bài 1-2-3 là một chỉnh thể thẩm mĩ, vừa như một ngụ ngôn cô đặc, vừa như một triết lý sâu sắc, lại vừa như một đường truyền thanh âm nơi tâm hồn thi sĩ, cảm thức lan tỏa diệu kỳ.
Con đường sáng tạo là vô tận, cũng là con đường không dễ chinh phục. Để có một hơi thở mới và sâu, nó đòi hỏi ở người nghệ sĩ sự lao động nghiêm cẩn, hết mình. Thể thơ 1-2-3, một sáng tạo độc đáo, tinh tường và thuyết phục giữa thời đại thơ phải chịu nhiều sự nhiễu loạn đã cho thấy tư duy nhạy bén, sắc sảo và trí tuệ của nhà thơ, nhà báo Phan Hoàng, người đã khai phóng, mở đường cho thể thơ này – một thể thơ độc đáo của nghệ thuật ngôn từ đương đại, đang không ngừng bén rễ sâu và rộng khắp thi đàn.
12/11/2024
Bảo Bình
Theo https://vanhocsaigon.com/

Vỉa trầm trong lục bát của Phạm Trường Thi

Vỉa trầm trong lục bát của
Phạm Trường Thi

Nhà thơ Phạm Trường Thi sinh ngày 22.12.1947, quê quán xã Điền Xá, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, từng là Phó Chủ tịch Hội VHNT Nam Định, Tổng biên tập Tạp chí Văn Nhân, tác giả nhiều tập thơ, truyện ngắn, kịch. Vì lâm bệnh nặng, ông đã qua đời lúc 6h45 sáng ngày 11.11.2024 ở quê nhà Nam Định. Tưởng nhớ nhà thơ Phạm Trường Thi, xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Lê Hà Ngân về ông.
Một sớm xuân tôi cùng bạn du xuân qua xứ Nam Điền gặp đào phai bung lụa, mai trắng phô sắc tuyết, tùng La Hán uốn thế đẹp như tiên cảnh bạn tôi lại nhắc tới ông thi nhân của xứ Nam Điền. Nhớ nụ cười hóm hỉnh và nhớ bài thơ thuở sinh viên chúng tôi đã chép trong sổ tay ngày ấy. Những câu thơ nằm lòng đó sau này tôi mới biết là của ông – nhà thơ Phạm Trường Thi.
“Khi uống rượu
Khi uống rượu
Người vợ nhắc đừng nên
Còn người tình
Xin mời anh chén nữa
Này hãy nhớ khi say rồi ai mở cửa
Để anh về cái chỗ của anh”
Câu thơ hóm hỉnh hồn nhiên thấp thoáng nụ cười  minh triết ăm ắp yêu thương như nhắc nhớ trách nhiệm ân tình từ chén rượu. Tôi chợt nhận ra ông là người sống kĩ trong cuộc đời và trong cả văn chương.
Phạm Trường Thi đã khoác trên mình hai màu áo lính bộ đội và công an đi qua khói lửa  chiến tranh. Cuộc sống quân ngũ cùng những trải nghiệm đời thường  tạo cho ông những xúc cảm của một tâm hồn ấm áp đôn hậu. Từ chiến trường chống Mỹ ông trở về hòa vào cuộc sống vất vả đời thường,  bươn trải trong nhiều hoàn cảnh sống và trải qua nhiều công việc và cương vị công tác như làm ở đài phát  thanh truyền hình tinh và từng là Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Nam Định, Tổng biên tập Tạp chí Văn Nhân. Bên những ấm lạnh cuộc đời thăng trầm của phận số, Phạm Trường Thi vẫn tìm cho mình một cứu cánh. Đó là tình yêu văn chương là sự thủy chung bền bỉ với thơ. Thơ là suối nguồn cảm xúc là mạch nguồn yêu thương là nhịp cầu thông linh cho tâm hồn Phạm Trường Thi cất cánh. Suối mạch ấy với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau.
Thời gian là phút giây tương thông giữa con người với con người, con người với thiên nhiên. Thời gian là bóng ảnh huyền ảo  nhạc điệu huyền diệu trên con đường đi tìm đạo sống “trong trẻo, nhịp nhàng, sáng sủa” thông qua lối thơ giàu nhạc tính và sự sáng tạo hình ảnh dựa trên sự tương thông của tất cả các giác quan, nhất là sự linh cảm. Vì vậy thơ là cái rung động siêu việt, trong trẻo, nhịp nhàng của bản nhạc Vô Cùng. Rung động có lan trên cánh Nhạc mới thực hiện Thơ. Và hồn thơ có lưu thông trên khí Nhạc mới bắt kịp Đạo, cái đệ nhất nguyên lý, cái lẽ phải cuối cùng. Nhịp cảm xúc trong thơ Phạm Trường Thi là bước chân của thiên nhiên đằm sâu cảm xúc, cồn cào mê say, se sắt đam mê, òa vỡ và cuộn chảy trong nhịp điệu của bốn mùa:  Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Nói tới Phạm Trường Thi người ta không thể nào quên được câu thơ ám ảnh tài hoa gieo vào lòng người những suy tưởng đau đáu:
“Giời đày ta
Đất đày ta
Và tình em nữa
Là ba thứ đày”.
Câu thơ ngắn mà tính hàm ngôn sâu lắng. Thơ Phạm Trường Thi kiệm lời nhưng ẩn chứa những mạch nguồn thông tuệ.mà chan chứa tình yêu. Bóng hình em ăm ắp trong ngôn từ. Ta lắng nghe mùa xuân ùa về trong thơ ông thật trẻ trung sánh đầy mật ngọt.
Mùa xuân trong thơ ông được cảm nhận bằng vị giác gợi thèm trong lòng người đọc. Đó là sự sáng tạo về ngôn ngữ và cách nhìn trong thơ Phạm Trường Thi. Con người hòa vào tổng thể của vũ trụ để rung lên những nhịp điệu mỹ cảm xúc giác làm cho hình tượng thơ, không gian thơ đầy sức gợi. Mùa xuân đâu chỉ  quánh ngọt, mà vẫn gieo vào thơ ông một nốt trầm trong cái mênh mang của cây lá thổn thức nỗi cô đơn. Nào ta cùng giải mã những cung bậc cảm xúc của thương nhớ góng chờ
“Rét còn se dẫu nắng hồng
Hoa đào quyện ngọn gió đông mỉm cười
Người đi đã bấy năm rồi
Bến xưa vẫn dáng mình ngồi thương nhau
Đò ngang giờ đã có cầu
Dòng sông thì vẫn nông sâu hai mùa
Khế vườn qua mấy độ chua
Chín rồi lại rụng người chưa thấy về”
Nắng vẫn hồng, đào bung lụa mỉm cười cùng gió đông, nhưng bến đò xưa  vắng bóng người. Con sông quê bên lở bên bồi mà người xa biền biệt. Khế vườn xưa mấy độ chua chờ người về hái quả mà vẫn vắng xa. Thao thiết trống vắng cô đơn như cái rét len vào nỗi nhớ, thẳm sâu trong  thơ Phạm Trường Thi. Cái hữu hình rõ nét trong lòng ông lênh đênh giọt buồn, nỗi cô đơn thẳm sâu vào tâm trạng. Phải chăng nỗi cô đơn ngấm vào tim ông, chảy thành điệu hồn lẻ loi. Những câu lục bát, như một nốt trầm của thương nhớ da diết tạo nên khúc nhạc lòng se sắt trong thơ Phạm Trường Thi. Xuân về lại nhớ người xa  lênh đênh chảy trong thơ Phạm Trường Thi một nốt nhạc buồn.Rabindranath Tagore đã từng nói, thi sỹ là người tình của thiên nhiên. Những giọt xuân  buồn trong thơ Phạm Trường Thi đã cho thi phẩm này ngân vào lòng bạn đọc một dư ba rất lạ, nỗi buồn thi vị để lòng ta lắng lại trước dòng chảy bộn bề của cuộc sống. Ta hãy lắng nghe sự giao cảm của ông với hoa quỳnh. Tôi cứ cảm giác như giấc quỳnh tương đầy mộng chất ngất cung yêu. Ông nói với hoa viết cho hoa mà như với người tình của mình nơi đào nguyên thiên thai:
“Trắng  trinh một đóa hoa tươi
Làn hương tinh khiết nói lời sâu sa
Bồi hồi tôi đứng bên hoa
Hoa là người ấy tôi là cành dao”
Tôi có cảm giác ông nói với quỳnh mà như nói với những gì yêu thương nhất của ông. Cái khoảnh khắc hoa như thấm vào hồn người chơi vơi sương khói liêu trai  ma mị. Khoảng khắc thoát tục của sự dâng hiến trắng trong của quỳnh nương làm tâm hồn nhà thơ run rẩy:
“Ở với nhau một đêm thôi
Đến khi trời rạng thế rồi chia tay
Hình còn đáy bóng còn đây
Mà hương sắc gió bay phương nào”
Một phát hiện độc đáo trong thơ Phạm Trường Thi  quỳnh nở rồi tàn nhưng hồn trinh vẫn tỏa hương hòa vào tiếng sóng lòng thấm vào hồn thi nhân chắp đôi cánh bay lên. Tứ thơ không chỉ còn trong bản thể trữ tình mà  hóa thân vào vũ trụ, trời xanh mây trắng tạo thành những khắc thiêng giao hòa trong trời đất. Cái đẹp đã thăng hoa.
Thơ lục bát là thể thơ không khó viết nhưng để viết hay thành những câu lục bát lắng sâu vào hồn người quả là một điều không đơn giản
Nếu bạn là một người sành thơ lục bát hoặc quá nghiền thể loại này, bạn có dám viết cái “gan ruột” của mình ra một cách thản nhiên, nhiều khi tỉnh bơ như không đau mà đau như chính tác giả. Những câu thơ thật như đếm  mà lại ảo không cùng. Thứ  huyền linh cái bùa ngải của ái tình chính là lòng chân thật của tình yêu
“Định bỏ bùa giữ chân anh
Vô tình rơi mất nên đành bó tay
Thì mình đến với nhau đây
Lá bùa là trái tim này giữ anh”
Thơ lục bát rất dễ viết và cũng rất dễ viết sến. Nhưng với Phạm Trường Thi thì không. Tôi có cảm giác ông thật có duyên với thể loại này, khi đem những tâm ý của lòng mình gửi vào vườn thơ ấy. Khu vườn vốn nhiều ong bướm mật ngọt nhưng cũng ẩn giấu những sâu xa trong những hạt mầm giản dị thiêng liêng. Như những câu thơ này là một lục bát hay:
“Anh phải lòng chỉ em thôi
Còn em – em phải lòng người vu vơ”
Ý thơ thật lạ mà quen vô cùng. Chỉ khác nhau là có người đọc ra được nó, có người thì không. Tác giả lấy cái buồn trong tình yêu để làm niềm vui trong chính tình yêu ấy. Có tình yêu nào mà không buồn. Buồn như một thứ quyền năng một thứ trang sức để tạo nên yêu và sức mạnh của tình yêu. Bất kể một tình yêu nào mà không có chút buồn thì tôi chắc chắn đó không phải tình yêu. Và tình yêu ấy đã thành cái vui ngọt ngào cho em giữ những tháng năm phía sau cuộc đời. Cái trách cứ giận hờn đã làm cho nỗi buồn trong thơ Phạm Trường Thi lên ngôi.
Thơ lục bát Phạm Trường Thi không giàu những ngôn từ sắc bén  bởi vì nó quá dung dị, cũng không làm duyên câu chữ (vì tình yêu thật lòng thì chẳng cần cầu kỳ) nhưng nó lại giầu nhạc điệu, giàu sự lên bổng xuống trầm, nó tràn đầy xúc cảm tràn đầy vương mang của một trái tim đa cảm ngay cả chính trong nhân tình thế thái. Thôi thì kiếp đời và kiếp tình chúng ta không có được nhau trong hiện hữu thì hãy có nhau trong vô tình. Đó cũng chính là một thông điệp ngân lên trong lục bát của Phạm Trường Thi.
Phong cách sáng tác của Phạm Trường Thi  đa dạng và phong phú. Những câu thơ của ông được viết với tinh thần chân thành, tự nhiên, mộc mạc, đầy tình cảm. Ông thường sử dụng những hình ảnh mộc mạc, dân dã, giản dị nhưng sâu sắc và đầy ẩn ý để tả lại những cảm xúc, tình cảm đan xen giữa con người và thiên nhiên, giữa quê hương và đất nước.
Thơ của Phạm Trường Thi thường ám ảnh  lưu lại trong lòng người đọc bởi sự chân thực, Phạm Trường Thi  luôn trăn trở với nghề thơ và luôn khát khao tìm kiếm những giá trị mới trong sáng tác của mình. Với ông, thơ là một hành trình tìm kiếm chân lý và nghệ thuật thể hiện sự thấu cảm quê hương, sự lắng đọng trong từng khoảnh khắc và  sự chiêm nghiệm thấm nhuần vào mỗi câu từ.ầy cảm xúc, sự đan xen giữa yếu tố xã hội
Lục bát Phạm Trường Thi với nhiều thể tài khác nhau nhưng cung bậc cảm xúc trong thơ ông thật gần gụi giản dị mà lắng sâu làm bâng khuâng trái tim bạn đọc. Người xưa nói rằng: “Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc”, nên tôi cứ thẩm thỉ nghĩ rằng giá như Phạm Trường Thi dụng công về ngôn ngữ và sắc màu hội họa nhiều hơn một chút thì tập thơ sẽ tròn trịa và xinh xắn hơn. Đọc thơ lục bát của Phạm Trường Thi cứ lặng yên mà ngẫm nghĩ như uống chén trà trong sương lạnh mới thực sự cảm nhận được vỉa trầm trong miền thơ lục bát của ông!.
13/11/2024
Lê Hà Ngân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Với chín chắn

Với chín chắn

Nguyễn Chí Hoan là nhà thơ, nhà lý luận phê bình, dịch giả hiện là Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa X. Quan tâm đến thơ 1-2-3, Nguyễn Chí Hoan đã có những bài nghiên cứu khoa học sâu sắc theo một phong cách riêng. Nhân dịp Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ phối hợp Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức, xin trân trọng giới thiệu bài viết của ông về tập thơ 1-2-3 “Ban mai thơm mắt nắng” của nhà thơ Vũ Trần Anh Thư ở Hà Nội.
Mở đầu tập thơ bằng chuỗi hình ảnh “xanh” – đều là truyền đạt những ấn tượng tươi mát đa dạng, trải khắp, cùng sức sống phì nhiêu; kết lại, ngay trước một hứa hẹn về trái tim “niềm yêu” luôn luôn, hay phải nói hằng xuyên, tỉnh thức và canh thức, là hình ảnh choán chân trời của một bãi biển lúc bình minh chưa thấy bóng người, với nổi bật “Lớp lớp vân cát tinh khôi” – cái nhìn ấy, với điểm nhấn rõ rệt vào hai chữ “tinh khôi”, hé lộ nguồn cảm hứng chủ yếu cho 123 bài thơ tựa hồ những khoảnh khắc trải ra của tâm hồn tác giả; như thế, cho thấy thơ 1-2-3 này của Vũ Trần Anh Thư da diết hướng tới miền của những khoảnh khắc ngây thơ vẫn hàm ẩn xuyên qua tuổi trưởng thành, mà có lẽ ai cũng đều từng nếm trải, đều muốn tái ngộ, khi này khi khác. Chẳng phải sự ngây thơ đã và vẫn luôn là một chân trời hay sao.
Trải nghiệm đặc thù đó có ở khắp nơi trong thơ này; mà có lẽ giống như cách nó sẽ có ở khắp nơi mà cái nhìn da diết này đặt đến. Chẳng hạn, chọn xem ngẫu nhiên một bài trong phần 5 của tập thơ:
Im lặng tháng Tư
Này những chồi non trên phiến đá
Nói gì mà run rẩy rêu phong
Nàng nghe mùa thì thầm dưới tàng cây cổ thụ
Vạt nắng chiều ôm gương mặt dịu dàng bừng lên vô thức
Ươm nõn nà một tháng Tư trong
Tháng Tư, là nơi mùa xuân đã đang chuyển giao vào hạ, và cái cảm thức – cái nhìn về giao chuyển này, theo một cách điệu đàng ý tứ rất đàn bà, trông thấy những “run rẩy” buồn buồn biểu lộ trên ánh của “những chồi non”. Nhưng những “thì thầm” vẫn chuyển tới cái “dịu dàng” đặc định của một bản năng – “vô thức” – và dường như nó xóa cái nỗi buồn buồn kia bằng cảm giác “nõn nà”.
Hẳn nên thấy nhà thơ đã lựa chọn một tương phản rõ chủ ý để mở đầu: “chồi non” với “rêu phong”. Tương phản tạo hình này khá đơn thuần, do nó không được đặt vào một đường phát triển tự thân nào; có vẻ chúng chỉ đối nhau vậy thôi. Tuy nhiên, khi đi tiếp vào ba câu thơ của khổ “.3”, nếu nhận rằng “Nói gì” sẽ có đối ứng với “mùa thì thầm”, cũng như “rêu phong” tìm được đối ứng kết nối ở “cổ thụ”, sẽ thấy rằng hình ảnh của “chồi non” có đối ứng của nó ở hai chữ “vô thức”; bởi “nõn nà” ở văn cảnh đây chỉ là một sự lặp-biến thể của “chồi non”, về mặt diễn tả hay biểu hiện; còn “gương mặt dịu dàng” thì hoàn toàn gợi một sự xác định về phía chủ thể trữ tình – cái người quan sát và cảm nhận ấy. Vậy nên cái bất ngờ, có lẽ không hề nhỏ, mà nhà thơ này dành cho người đọc, là ý so sánh-ví von gợi rõ rệt “những chồi non” ấy là của cái-dịu-dàng thuộc bản năng của “nàng” – nhân vật trữ tình mà nảy nở; từ đó sang cái ngây thơ quý giá kia chỉ cần một bước.
Đấy có thể gọi là cái ẩn ý, một trong các khía cạnh của cái ẩn ý lấp lánh, đằng sau những mô tả những vẻ “xanh” và “non” khá đa dạng xuyên suốt tất cả những bài thơ này; mà “xanh”-“non”-“tinh khôi” dệt nên riêng một xứ sở vừa rất trừu tượng vừa rất cụ thể của riêng “nàng”, với đầy những địa danh cụ thể hẳn hoi “Trên dải đất chữ S thân thương”; mà tác giả hay “nàng”, với đầy “hồn nhiên” chín chắn mạnh bạo gọi xứ ấy như một “vương quốc” của “thanh tân” – trong bài “Cho nỗi buồn anh vỗ cánh thiên di”:
Em đậu xuống khu vườn anh
Hồn nhiên nhành xuân không vết tuổi
Ngụ cư anh vương quốc thanh tân
Hai chữ “thanh tân” này cũng còn được gặp lại trong một số bài khác trong tập, ở vào các văn cảnh khác nhau. Đó là một diện mạo nữa của cái ngây thơ mà, dĩ nhiên, đã vào độ chín, vẫn đầy những “non tơ”, song hành và hiện ra cùng với “nàng” khắp những nơi nào “nàng” đặt chân, những mùa và tiết “nàng” trải nghiệm ( – “Thắp mùa đông bằng run rẩy xuân thì” – ), chẳng hạn, ở “Đường cong thơ mộng trên sông Reuss”; và vân vân.
Lối tuyên xưng “dịu dàng” về một “vương quốc thanh tân”, cũng được gọi tên là “miền trinh khiết”, hay tương tự, như thế, cho ta thấy được một phương diện khác, khá hiếm gặp hay ít dễ dàng nhìn nhận của tâm thế gọi được là ngây thơ ở đây: phương diện của một lòng tin phó thác hoàn toàn, tức là ánh lên vẻ đẹp có tính tôn giáo:
Tinh khôi dịu dàng đắm đuối
Tháng Tư tận cùng dâng hiến
Sao còn dụm dành những tháng tàn hoa
Và:
Những cánh sen quên mình đang thắm
Tự nguyện buông tận nhụy vàng
Lặng lẽ dâng đời phút cuối nồng nàn hương sắc
Dường như hầu hết hay phần lớn đều nghĩ rằng tình yêu thì nói chung đều đi với “dâng hiến” một cách “Tự nguyện” – chuyện tự nhiên ấy mà (!); đồng thời lại cũng chẳng ít nghĩ – hay chọn cách lý giải và hiểu – rằng tình yêu sẽ nặng tư cách một món quà-hôn nhân, một quà tặng có đi có lại, cân bằng linh động, dựa căn bản trên lý lẽ của sinh tồn kiếp người; hay là cả hai cách nghĩ đó song tồn như hai mặt của một tờ giấy. Vậy nhưng vẫn có và luôn luôn còn cách nghĩ về tình yêu như một lối tạo nghĩa cho đời sống; và trên hướng này, sự ngây thơ hay tâm thế ngây thơ mới trở nên chân trời hay lựa chọn, bởi tính thuần khiết đó sẽ, và chỉ có nó sẽ, tạo nghĩa trọn vẹn cho tình yêu. Phương diện này của nó tiếp cận với tình tự tôn giáo. Lòng tin tuyệt đối thì trông không khác sự ngây thơ, bởi nó phó thác hoàn toàn, đi theo với tin tưởng hoàn toàn, không lay chuyển.
Trong hai đoạn ( – đều là khổ thứ “.3” ở dạng thức thơ 1-2-3, mà theo quy ước là khổ thơ dành cho bước sang suy tư-nội hướng – ) thơ trích trên đây, ta thấy “dâng hiến” đi liền với “tận cùng”, “Tự nguyện” đi liền với “buông”, và trong một tổ hợp cùng với những “quên mình”, “đắm đuối”, “dâng đời”, đều là những hình ảnh ngôn từ đượm một tâm tình tín ngưỡng. Và, chẳng nên quên, tâm tình này, ở đây, thông qua các hình ảnh loài hoa, lại cũng đượm một sức sống, trật tự của sự sống hoàn toàn tự nhiên: trong khi nâng ý niệm tình yêu lên mức cận-tôn giáo như thế, chẳng hề xa rời cái nền đất mẹ của nó – cái dịu dàng, hay cái bản năng.
Bởi thế mới có thể nói tới một cái ngây thơ-chín chắn, đủ chín như từng hứa hẹn về “Một ban mai xanh suốt đời nhau” ( – tên một bài trong tập thơ này, đồng thời cũng là câu/đoạn thứ nhất của bài thơ đó – cái quy ước thật thú vị ở thơ 1-2-3 mà nhiều người làm thơ gần đây hứng thú khai thác một cách đa dạng – ). Và ở đây, lời hứa hẹn đó xuyên suốt tập thơ, trong những kỷ niệm “xanh” đằm thắm về đất cội rễ của “nàng” vùng quê ổi Bo nức tiếng mà “Tiếng mưa dội về tiềm thức xa xôi”, trong những tháng ngày đại dịch căng thẳng chưa từng có nhưng ôm chặt cảm nhận “xanh” bởi “Có thể nào cách ly cảm xúc”, và hiển nhiên trong “Lỡ một ngày vì yêu ngộp thở” nơi cảm thức “xanh” đó sóng bước với “suốt đời nhau” do bởi “Bước em đi hoa lá khởi mùa” và với mỗi chiều tà lại “Đợi hoàng hôn thắp lửa” và, bởi, hình ảnh của điều “dịu dàng” cốt lõi: “Thiếu phụ hong mùa đáy mắt nắng lên”.
Với cảm thức rộng trải và không đứt đoạn như thế về tình yêu, thơ tình này của Vũ Trần Anh Thư nhìn thấy hay cảm thấy cái trật tự đầy nhựa sống ấy của cảm nhận yêu ở khắp các mùa các tiết quanh năm, ở hầu như khắp những nơi mà cái nhìn thơ này có dịp viếng thăm hay lưu luyến ghi nhận. Hẳn phải có một sức chín chắn đặc biệt của sự ngây thơ mới đủ niềm tin nhìn lên trời đêm như thể “Để lặn vào trùng điệp mắt yêu” và đủ cái sức bật “tinh khôi” không ngần ngại của tinh thần yêu thương:
Dự định ủ trong tim bỗng dưng chợt thốt
Trái yêu thương chín đỏ đầu cành
Người đừng bận lòng chiếc giỏ đã kịp đan?
Với chín chắn đàn bà, ngây thơ là một nguồn sức mạnh.
14/8/2024
Nguyễn Chí Hoan
Nguồn: Văn Nghệ TPHCM 11.2024
Theo https://vanhocsaigon.com/

Lời yêu trong gió

Lời yêu trong gió

“Nadia, anh yêu em!” Đó là lời yêu của nhân vật tôi trong truyện ngắn Một chuyện đùa nho nhỏ của Anton Chekhov khi nhân vật tôi cùng Nadia trượt tuyết lần đầu.
Truyện kể về một kỷ niệm đẹp giữa nhân vật tôi với Nadia. Vào một buổi trưa mùa đông, nhân vật tôi mời Nadia đi trượt tuyết. Nhưng Nadia rất sợ. Cả khoảng không gian từ đôi giày cao su của nàng đến chân quả đồi phủ đầy băng thật ghê sợ, tưởng như là một vực sâu vô tận. Sau ba lần nhân vật tôi thuyết phục, Nadia đã đồng ý cùng tôi trượt tuyết. Điều kỳ lạ, khi họ lao xuống dốc, chiếc xe vun vút như một viên đạn, gió như muốn giật phăng đầu ra khỏi vai, tôi thì thào nói “Nadia, anh yêu em!”. Nadia không biết liệu câu nói ấy có phải từ nhân vật tôi hay từ gió, nàng tiếp tục cùng nhân vật tôi trượt tuyết lần hai, lần ba và những lần sau đó.
Mỗi lần xe lao xuống dốc nhanh nhất, tiếng gió gào rít ghê gớm nhất, nhân vật tôi lại thì thào “Nadia, anh yêu em!”. Chẳng bao lâu, nàng quen với những lời nói ấy, sống không thể thiếu những lời nói ấy. Gió hay là tôi thổ lộ những lời yêu đương ấy nàng cũng không biết. Nadia quyết định trượt tuyết một mình vào một buổi trưa xem có còn nghe thấy những lời nói ngọt ngào đó không. Khi bước ra khỏi xe một cách mệt mỏi, gần như kiệt sức, Nadia cũng không biết chính mình có nghe được những lời nói đó không? Những ngày xuân tới, không còn tuyết, Nadia cũng không còn nơi nào để nghe những lời ngọt ngào ấy. Khoảng hai ngày trước khi đi Peterburg, nhân vật tôi đến bên hàng rào, nhìn qua khe hở và chờ khi có ngọn gió xuân đến, nhân vật tôi lại thì thào: Nadia, anh yêu em! Chuyện đã qua lâu, Nadia cũng đã có chồng, cô ấy không còn nghe thấy câu nói ấy, nhưng điều đó đã trở thành ký ức hạnh phúc, xúc động và đẹp nhất trong cuộc đời của cô.
Lời yêu trong gió “Nadia, anh yêu em!” thật ngọt ngào, quyến rũ. Chẳng thế mà sau lần đầu tiên, xe trượt tuyết xuống chân đồi, Na-đi-a mặt tái nhợt vì sợ hãi, thở không ra hơi và nguyền rằng: “Có các vàng tôi cũng không trượt nữa đâu… Các vàng tôi cũng chịu! Chỉ thiếu chút nữa thì tôi chết”. Nhưng dần dần hết sợ, nàng lại rủ rê: “Này anh, chúng ta cùng nhau… lao dốc lần nữa đi”. Và khi chiếc xe lao xuống vực thẳm khủng khiếp, vào đúng lúc chiếc xe lao nhanh nhất, tiếng gió gào rít ghê gớm nhất, nàng lại nghe thấy “Nadia, anh yêu em!”. Khi chiếc xe dừng lại, nàng nhìn quanh quả đồi dò xét có phải nhân vật tôi đã nói tiếng ấy hay là lời trong gió gào thét nàng nghe thấy! Toàn thân nàng đều toát lên một vẻ hồ nghi, nàng không trả lời được những câu hỏi, nét mặt nàng rầu rĩ muốn khóc. Nàng từ chối về nhà và bộc bạch: “Không, tôi thích trượt thế này!” và thăm dò: “Hay chúng ta cùng trượt lần nữa đi ?”.
Nàng “thích” trượt thế nhưng ngồi lên xe, gương mặt nàng vẫn tái nhợt, hơi thở ngắt quãng vì sợ hãi. Lần thứ ba cùng nhân vật tôi trượt dốc, nàng nhìn vào khuôn mặt nhân vật tôi. Xe xuống lưng chừng đồi, nhân vật tôi lại nói: “Nadia, anh yêu em!” đầy bí ẩn. Nàng cố dằn lòng “Không gió không thể nói những lời ấy, mà mình cũng không muốn nghe gió nói những lời ấy!”. Nàng hẹn hò: “Nếu hôm nay, anh có đi trượt tuyết đến rủ tôi cùng đi nhé”. Để rồi ngày nào Nadia cũng cùng nhân vật tôi trượt tuyết, quen nghe những lời yêu “Nadia, anh yêu em!” mỗi lần xe từ trên đồi xuống dốc.
Điều gì đã khiến một thiếu nữ sợ hãi trượt tuyết, run rẩy khi ngồi trên xe, hơi thở ngắt quãng tưởng sắp chết vẫn muốn trượt dốc lần sau, lần sau và những lần sau nữa nếu không phải là hương vị ngọt ngào của lời yêu? Vì lời yêu ngọt ngào đầy bí ẩn trong gió mà Nadia đã chiến thắng nỗi sợ hãi của chính mình để đi tìm sự thật. Lời yêu cho Nadia dũng khí hẹn hò, dũng khí bước lên xe trượt tuyết cùng nhân vật tôi. Và hơn thế, lời yêu ngọt ngào say đắm ấy tiếp thêm cho Nadia sức mạnh để làm nên điều phi thường: trượt tuyết một mình!
Trượt tuyết một mình đáng sợ biết bao, gương mặt Nadia tái nhợt, trắng như tuyết, toàn thân run rẩy, nhưng nàng vẫn xăm xăm đi, cô muốn biết khi không còn nhân vật tôi bên cạnh, cô có nghe được những lời ngọt ngào ấy không? Tất nhiên, nỗi sợ hãi khi xe lao xuống đồi khiến nàng không nghe, không phân biệt được lời của gió hay của nhân vật tôi, nhưng bước chân xăm xăm và quyết định trượt tuyết một mình của cô khiến người đọc thêm trân trọng. Hóa ra món quà của tình yêu không phải là vàng hay kim cương mà là sự ngọt ngào chân thật của tình yêu!
Sang xuân, không còn trượt tuyết nữa nhưng làn gió xuân xuân gợi cho nàng tiếng gió rít trên đồi tuyết và bốn tiếng: “Nadia, anh yêu em”. Nàng đưa tay về phía trước như cầu xin gió đem đến cho nàng lời yêu đương lần nữa. Kỳ diệu thay, chờ khi ngọn gió tới, nhân vật tôi lại thì thào: “Nadia, anh yêu em!”. Lời yêu trong gió làm gương mặt nàng rạng rỡ, xinh đẹp và hạnh phúc! Để rồi sau này khi đã có gia đình, có con, nhưng những kỷ niệm trượt tuyết đã trở thành ký ức đẹp, hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Nadia!
Rõ ràng, lời yêu trong gió không thể đo lường được mà chỉ có thể cảm nhận được bằng trái tim khao khát yêu, được yêu chân thành của Nadia. Và dù chỉ là “Một chuyện đùa nho nhỏ” nhưng Chekhov đã để lại cái dư vị ngọt ngào của tình yêu.
16/11/2024
Chu Thị Hảo
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thơ mới hay hay thơ cũ hay

Thơ mới hay hay thơ cũ hay?

Nhà thơ Bình Địa Mộc tên khai sinh Đỗ Thanh Toàn, quê quán ở Tam Kỳ, Quảng Nam hiện sống và sáng tác tại Củ Chi, TP Hồ Chí Minh. Ông là một trong những người dấn thân hết mình với thi ca, ngay cả trong những lúc khốn khó lênh đênh mưu sinh. Nhân dịp Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ phối hợp Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức ngày 6.11.2024, nhà thơ Bình Địa Mộc đã viết tiểu luận đầy tâm huyết này, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
Giải thưởng Nobel Văn học năm 1907 vinh danh nhà thơ người Anh Rudyard Kipling với bài thơ “Đông và Tây”. Nội dung phản ảnh sự va chạm tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Đông – Tây thuộc biên giới Tây Bắc Ấn Độ. Bài thơ gồm 30 câu. Trong đó 4 câu mở đầu và kết thúc giống nhau nhằm tái khẳng định chủ đề tư tưởng của tác giả.
“Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ
Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử
Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi
Khi hai người đàn ông lực lưỡng từ đường biên mặt đối mặt không thôi.
“Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ
Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử
Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi
Khi hai người đàn ông lực lưỡng từ đường biên mặt đối mặt không thôi.”
[Trích trong bài thơ “Đông và Tây” của tác giả Rudyard Kipling]
Tuy nhiên hiện nay câu hỏi hai miền Đông – Tây hội nhập đến mức nào và gặp gỡ tiếp xúc đến đâu như ý tưởng bài thơ vẫn còn bỏ ngỏ. Song một làn gió mới, một niềm cảm xúc mới về thơ bắt nguồn trào dâng ngay sau đó trên khắp các thi đàn thế giới. Nó đã ít nhiều minh chứng tiến trình vận hành văn hóa xã hội. Thơ mới hiện diện trong đời sống tinh thần bấy giờ không phải một sớm một chiều, càng không phải đột biến mà cả chặng đường dài tiếp thu, thống hợp, thay đổi, thích nghi, lột xác giữa cái cũ và cái. Giữa vùng miền, tôn giáo, sắc tộc vốn dĩ đóng đinh trên bức tường sáng tác mỗi quốc gia.
Ở nước ta mãi đến năm 1932 mới xuất hiện bài “Tình già” của Phan Khôi gây nhiều tranh cãi trong giới thi nhân. Bởi sự giao thoa giữa tác giả – tác phẩm – bạn đọc không chung đường, không thống nhất ý kiến khiến độc giả hoang mang, lo lắng. Khiến các nhà thơ hoài nghi cái mới, họ liên tục giằng co giữa thơ mới – thơ cũ. Thơ mới tạo cảm giác thích thú về sự trẻ trung, hấp dẫn. Góc độ nào đó nó đã kích thích trí tò mò muốn khám phá, trãi nghiệm ngay tức khắc của người cầm bút lẫn công chúng thưởng thức. Trong bối cảnh các dòng thơ cũ như Đường luật, tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, song thất lục bát ngày càng già nua tuổi tác đã vô tình thu hẹp biên độ sáng tạo do thành trì niêm luật, vần vận, câu cú quá ư chặt chẽ từ ngàn xưa không dễ gì phá vỡ.
“Hai mươi bốn năm xưa,
một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
hai cái đầu xanh kề nhau than thở”
[Trích trong bài “Tình già” của tác giả Phan Khôi]
Tám mươi sáu năm sau (1932 – 2018) kể từ ngày bài thơ “Tình già” của Phan Khôi chào đời, thi đàn Việt Nam may mắn xuất hiện một thể loại thơ hoàn toàn mới, có tên gọi bằng số khá ấn tượng: Thơ 1-2-3, với sức cộng hưởng, lan tỏa mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Được biết sau chuyến tham quan nước Nga vĩ đại vào mùa thu 2018, trên đường quá giang đất nước Qatar bên vịnh Ba Tư nơi giao thoa văn hóa Đông – Tây, nhà báo – nhà thơ Phan Hoàng (khi đó là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM, hiện nay là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Giám đốc – Chủ biên trang vanvn.vn, và Chủ biên trang vanhocsaigon.com) đã nảy sinh ý tưởng sáng tạo dòng thơ khá độc đáo này.
Tính đến nay, theo thống kê của Tiến sĩ Nguyễn Minh Ca – Trường Đại học Tây Đô ở Cần Thơ, thể thơ 1-2-3 đã có gần 1000 người sáng tác, đang thu hút nhiều cây viết chuyên nghiệp và nghiệp dư. Đặc biệt, đã có hàng chục tập thơ 1-2-3 của các tác giả trên 3 miền Nam – Trung – Bắc xuất bản, chưa tính những bài thơ 1-2-3 in chung với các thể loại thơ khác trong các tập thơ của nhiều tác giả.
Thơ 1-2-3 cũng đã được dịch ra gần 20 thứ tiếng và đăng tải trên các tạp chí văn học nước ngoài, được đề cập tới trong nhiều cuộc hội thảo văn học quốc tế tổ chức trong lẫn ngoài nước. Chẳng hạn, tại cuộc Liên hoan Thơ quốc tế Thượng Hải – Trung Quốc lần thứ VIII vào tháng 12.2023, với sự tham dự của nhiều nhà thơ đại diện cho nhiều quốc gia, trong đó có nhà thơ Mỹ gốc Nigeria đoạt giải Nobel Văn học năm 1987 là Wole Soyinka. Nhà thơ Phan Hoàng đại diện duy nhất của Việt Nam trực tiếp bay sang Thượng Hải tham dự, trình bày tham luận về trí tuệ nhân tạo AI và thơ 1-2-3 đã được bạn thơ các nước hoan nghênh nồng nhiệt.
Vừa qua, ngày 6.11.2024, Hội Nhà văn thành phố Cần Thơ phối hợp với Trường Đại học Cần Thơ tổ chức buổi Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” diễn ra hết sức sôi động. Được biết đây là buổi hội thảo chính thức đầu tiên, bàn về thể thơ mới 1-2-3 thuần Việt đang trở thành trào lưu sáng tác thịnh hành trong đời sống thơ ca mấy năm qua. Về tham dự buổi tọa đàm có nhà thơ Phan Hoàng và nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình đến từ mọi miền đất nước cùng đông đảo sinh viên và người yêu thơ.
Công thức sáng tác thơ 1-2-3 bình dân, dễ hiểu, dễ làm như sau. Mỗi bài thơ gồm 3 đoạn, 6 câu. Đoạn 1 chỉ có 1 câu tối đa 11 chữ, đồng thời nó cũng là tên thi phẩm nhằm tránh sự dễ dãi, trùng lắp tiêu đề các bài thơ khác dẫn đến nghi án đạo thơ. Đoạn 2 có 2 câu, mỗi câu tối đa 12 chữ. Đoạn 3 có 3 câu, mỗi câu tối đa 13 chữ. Nghĩa là thơ 1-2-3 tương ứng với 11-12-13 chữ trên mỗi câu, trên mỗi đoạn thơ với nội dung từ hướng ngoại đến hướng nội theo quy tắc ý tại ngôn ngoại.
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết Phan Hoàng nung nấu ý tưởng sáng tạo thơ mới trong một thời gian khá dài nhưng chưa có cơ hội thể hiện. Sau chuyến tham quan nước Nga như đã trình bày ở trên, đứa con tinh thần khỏe mạnh của anh mới thực sự chào đời với hình hài vóc dáng bảnh bao, lịch lãm.
“Dưới ánh trăng Sergei Yesenin bỗng hiện về
 
Lãng tử trên lưng ngựa lướt qua cánh đồng lúa mì
lững thững rừng phong lá rơi vàng bước chân ngôn ngữ
Với thi nhân khổ đau và cái chết không có điều gì mới
sợ đôi mắt người đẹp buồn hơn, mẹ già khuya sớm cút côi
dưới ánh trăng linh cảm tài hoa bão tuyết xoáy lòng tôi”
Và với một thi sĩ khác trong tâm thức Phan Hoàng:
“Trái tim thơ Olga Berggolts toả ấm nghĩa trang
Không ai bị lãng quên, không điều gì bị quên lãng
câu thơ sống mãi những người ngã xuống vì Leningrad năm xưa
Tên thành phố đổi thay nhưng tình yêu không bao giờ thay đổi
và chẳng vĩnh cửu nào bằng trái tim nồng nàn Olga Berggolts
xin nghiêng mình trước áng thơ máu xương nâng cánh tâm hồn”.
Phải chăng số phận của Sergei Yesenin và Olga Berggolts cùng nhiều nhà văn, nhà thơ nước Nga vĩ đại đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho những bài thơ 1-2-3 Phan Hoàng hình thành? Phải chăng sau một kỳ ngủ đông dằng dặc những 86 năm nàng thơ Việt Nam mới thức dậy, bừng tỉnh vươn vai bước ra cánh đồng chữ nghĩa đầy ắp hoa thơm cỏ lạ? Mà ở đó vai trò chủ đạo, thủ lĩnh tinh thần Phan Hoàng đã thắp nắng, khơi bấc, bật dậy ngoài bút thi nhân vốn sáo mòn, lễ nghi, niêm luật chặt cứng như nêm trong cách cảm, cách nhận, cách thể hiện quen thuộc qua các dòng thơ truyền thống xưa nay.
Thông qua một số tư liệu khai thác và viện dẫn đầu bài viết, Thơ mới thường tiên phong trong một số lĩnh vực như cấu trúc, ngôn ngữ, hình ảnh. Đặc biệt nó còn có nhiệm vụ kết nối vùng miền, xóa nhòa ranh giới văn hóa, tập tục sáng tác, văn phong của từng tác giả. Thực tế chứng minh trong suốt thời gian qua thơ 1-2-3 hiện diện khắp các trang viết cá nhân trên nền tảng mạng xã hội, được đăng tải trên một số báo giấy, báo điện tử trong và ngoài nước. Cũng như các thể loại thơ khác, thơ 1-2-3 chuyển đến bạn đọc một thông điệp yêu thương, bác ái trong một không gian sáng tác tương đối ổn định về hình thức thể hiện. Theo đó tạo động lực cho người làm thơ, ban đầu hãy còn nhút nhát dần dần trở nên dạn dĩ, quen tay.
Thơ 1-2-3 có cái hay là nó khống chế số lượng 6 câu trong một bài, không ít hơn hoặc nhiều hơn. Đồng thời tác giả có thể sáng tác cả chùm từ 1 bài đến [n] bài với nhiều chủ đề khác nhau trong chùm thơ đó. Số lượng chữ ít hơn hoặc bằng mức quy định 11-12-13 chữ mỗi câu. Là điểm dừng chân nghỉ ngơi để tạo cảm xúc, nạp năng lượng cho người viết giữa bối cảnh thơ văn hiện nay khá đa dạng, phong phú nhất là thể thơ tự do hiện đại, hậu hiện đại, cách tân không hạn chế số câu, số chữ khiến người viết dễ rơi vào đầm lầy ngôn ngữ.
Tám mươi sáu năm tương đương tuổi thọ người Nhật Bản 84.4, người Australia 84.5, người Thụy Sĩ 84, người Hàn Quốc 83.7 năm mới xuất hiện một dòng thơ lạ mang dãy số tự nhiên 1-2-3 quả thật rất đáng kinh ngạc. Có ý kiến cho rằng thơ đấy đang thử nghiệm có khi được khi không, khi đúng khi sai. Thơ đấy của Phan Hoàng liên can gì đến mình. Thơ đấy gò bó, khuôn khổ khó lòng bứt phá, tung tẩy. Còn nhiều ý kiến trái chiều khác nữa song đa phần đều ủng hộ, khích lệ tinh thần, kể cả hỗ trợ kinh phí để trước đây trang Văn Học Sài Gòn trao tặng thưởng hàng tháng và sau này Diễn đàn Thơ 1-2-3 trên Facebook tặng mỗi quý [3 tháng] cho những chùm thơ xuất sắc, những tác giả trẻ tiềm năng.
Cái mới có thể hay hoặc dở, có thể đúng hoặc sai song nó hợp lý và tồn tại như thế nào xin phép nhường lời cho vị thần thời gian thẩm định. Tuy nhiên trong hoàn cảnh đất nước đang vươn mình tiến vào kỷ nguyên mới, hy vọng thể thơ 1-2-3 sẽ đồng hành cũng bạn đọc. Bởi số lượng chữ của nó khá khiêm tốn, đâu đó mỗi bài làm đúng, làm đủ sẽ cho ra 74 chữ/bài. Một chùm 6 bài sẽ bằng 444 chữ/chùm là con số đẹp nhất. Tương đương đề thi môn Ngữ văn 400 chữ, viết về một hiện tượng xã hội mà gần đây được ngành giáo dục triển khai đại trà ở các kỳ thi bậc học phổ thông. Đồng thời với số lượng chữ khắt khe này sẽ giúp cho người viết chắt chiu, chọn lọc ý tứ nhiều hơn thay vì dàn trải, manh mún. Hơn nữa thơ 1-2-3 phù hợp với mọi độ tuổi, giai tầng xã hội. Nó vừa không khó, vừa không dễ tạo sân chơi bình đẵng thông thoáng, phù hợp với mọi thành phần nên càng ngày sức hút của nó càng mạnh, càng lan tỏa khắp nơi âu cũng là điều dễ hiểu. Hiện tượng lạ cũng là một yếu tố đáng quan tâm. Bởi bản thân cái lạ tự phát ra từ tường riêng biệt không lẫn vào đâu được. Sự lạ lẫm, tinh khôi; sự nguyên sơ, nguyên bản của 1-2-3 như cô gái mới biết yêu lần đầu, nhắm mắt đón nhận nụ hôn nồng nàn của bạn trai trong một đêm trăng huyễn hoặc rất chi lãng mạn.
Thử phân tích một vài bài 1-2-3 gần đây của tác giả Phan Thảo Hạnh để xem tính phổ quát của nó như thế nào.
“Nghe tiếng chuông chùa ở nơi xa
Chờ hết mùa thu anh mới về nhà
Cây xoan rụng lá cây đào đơm nụ nở hoa
Anh chờ giông bão đi qua con chim bay về trú ngụ
Chờ nghe chuông chiều nhắc nhủ
Anh lặng lẽ về trong tiếng mẹ ru”
Trong không gian mùa thu tĩnh mịch, văng vẳng tiếng chuông chùa, cô gái chờ đợi người yêu về nhà. Một hình thức mô tả quen thuộc thường thấy trong kho tàng văn chương Việt Nam. Song qua cách cảm, cách nhận, cách nhả chữ của 1-2-3 bạn đọc bắt gặp một cơn giông thoáng qua, một đàn chim bay về tìm nơi trú ngụ khá logic. Và tiếng chuông chiều nhắc nhở anh hãy quay về trong tiếng mẹ ru. Dường như cô gái đã bất lực bởi giông bão cuộc đời cuốn anh mất hút vào dòng chảy mưu sinh chăng? Cô đã kêu mẹ mình ra làm nhân chứng, kêu mẹ đứng ra gọi anh về chăng? Hay ngược lại anh từ miền viễn xứ xa xôi lặng lẽ quay về thăm mẹ sau khi nghe tiếng chuông chùa liêu trai ngân lên nhắc nhớ. Trong triết học cái gì tăng về lượng thì sẽ giảm về chất và ngược lại, cho nên dòng thơ 1-2-3 luôn luôn đạt chất lượng bởi nó quá ít chữ, quá kiệm lời.
“Sao phải sống bằng cuộc đời người khác
Con ong sống đời ong đam mê hút tìm mật
mối sống đời mối chăm chỉ đắp lâu dài
Nhiều con người sống bằng cuộc đời người khác
bỏ bản thể, tâm hồn,… cầu cạnh lợi danh
đánh đổi mình mà không giá trị như loài ong loài mối”
[Thơ 1-2-3 Lưu Minh Hải]
Còn đây là một bài khác với tứ thơ khá quen thuộc trong bầu trời thi ca Việt Nam. Đó là “con ong làm mật yêu hoa / con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời / con người muốn sống, con ơi / phải yêu đồng chí, yêu người anh em”. Tuy nhiên ở đây tác giả đã chuyển sang một hệ triết lý giáo dục, vận hành theo đời sống thực tế vốn sôi động, năng nổ. Một câu hỏi được tác giả đặt ra. Đó là tại sao chúng ta phải sống bằng cuộc đời người khác trong khi chúng ta cũng có đủ năng lực, trình độ để làm chủ bản thân mình? Hay là chúng ta đang mơ một giấc mơ cao quá, đành liều mình đánh đổi bản thân bằng một thứ danh hảo chẳng hạn. Tác giả khuyên nên chăng chỉ làm con ong một đời chăm chỉ hút mật, hãy làm đàn mối trọn kiếp cần cù xây tổ dưới bụi tre làng bất khuất. Tại sao giá trị sống của ta không bằng loài côn trùng nỉ noi ai oán nhỉ!
– Vì vật chất kim tiền ư?
– Vì nhu cầu đua đòi ăn chơi hưởng thụ ư?
Thông điệp bản ngã khá rõ ràng, mạch lạc, nhân văn chuyển đến bạn đọc thông qua thể thơ 1-2-3 mộc mạc. Thiết nghĩ ngay lúc này đây chỉ có 1-2-3 mới đủ sự khiêm nhường nhân ái đồng hành cùng bạn đọc, trong bối cảnh các dòng thơ truyền thống đang bất lực ngồi nhìn chiếc lá rơi, mà chạnh lòng nhớ thương dĩ vãng thoáng qua trên trang giấy mùa thu ố vàng, quăn góc.
Sài Gòn, 17/11/2024
Bình Địa Mộc
Theo https://vanhocsaigon.com/

Hôn nhân lý tưởng trong tiểu thuyết

Hôn nhân lý tưởng trong tiểu thuyết

“Trăm năm tính cuộc vuông tròn”, hôn nhân từ xưa đến nay luôn là nỗi bận tâm của mỗi người, mọi thế hệ. Thế nào là đối tác lý tưởng trăm năm, không ít tiểu thuyết gia bỏ thời gian, công sức phân tích, xây dựng hình tượng hoàn hảo. Lạ là, dù trải nhiều năm, nhiều thay đổi, quan niệm tình yêu giữa nam nhà văn và nữ tác giả vẫn rất nhiều bất đồng.
Lý trí hay bản năng
“Anh nói những lời tôi chưa từng tưởng tượng, chưa một lần dám nghĩ bằng giọng điệu ngọt ngào và đáng tin đậm chất Ý”. Đó là điều Elena Greco, nữ nhân vật chính trong tiểu thuyết Người ủng hộ Hoàn mỹ (My Brilliant Friend) của Adelle Waldman (Ý) nghĩ về Nino, chàng trai trẻ yêu cô say đắm. Nino là thanh mai trúc mã với Lila, bạn thân của Elena. Anh được đánh giá có “năng lực khiến mọi thứ trở nên hấp dẫn”, nhanh chóng gây ấn tượng với Elena bằng tài năng cảm nhận văn chương hoàn mỹ của mình. Khi thảo luận về các vấn đề như nạn đói, Nino “không lớn tiếng mà bằng một giọng điệu buồn buồn, luôn trích dẫn chính xác các sự kiện”. Anh khuyến khích Elena, người ôm tham vọng trở thành một tác giả lớn, nên dốc sức thể hiện bản thân.
Bốn tập tiểu thuyết Người ủng hộ Hoàn mỹ trải dài hơn 60 năm, tập trung vào mối quan hệ giữa Nino và Elena, sự ủng hộ của Nino với công việc của Elena. Trở thành bà mẹ đơn thân của hai đứa trẻ trong những năm đầu tuổi 30, Elena gần như từ bỏ viết lách. Nino dùng mọi lời lẽ để thuyết phục cô tiếp tục sáng tác. Anh hào phóng khen ngợi, “Em có khả năng kể chuyện mà anh ghen tị nhất”. Tin Nino, Elena trở lại nghề văn. Nhưng, sau một thời gian, cô bắt đầu phát hiện những khía cạnh không hoàn hảo từ chàng thanh niên cô yêu thương, tín phục. “Anh có vẻ không thoải mái lắm trong việc công nhận người khác có tiềm năng và thường bỏ đi ngang cuộc trò chuyện, thậm chí, thi thoảng, tỏ ra khinh thị những ai chưa giỏi”. Tình yêu của cô vơi dần. Ngay cả lời ngợi khen của anh cũng không còn khiến cô cảm động. “Tôi tóm tắt cốt truyện và các nhân vật phác thảo của mình đưa cho anh xem. Anh thốt lên ‘Tuyệt vời, em thật quá thông minh’, nhưng lời nói đó không còn trọng lượng. Tôi không tin anh”.
Thông minh, chính trực, cao thượng và vô cùng nhạy cảm trong việc quan sát, đánh giá từ lâu đã là những đặc tính của nhân vật nữ trong tiểu thuyết tình yêu của các nữ nhà văn. Họ luôn tìm hiểu, phân tích mọi khía cạnh, góc khuất trong tâm trí người yêu bằng “phương pháp, nhãn quan tinh tế, sâu sắc”. Bạn đời lý tưởng với Jane Austen, Charlotte Brontë, George Eliot (3 nữ tác giả Anh) luôn là một người khôn ngoan, đủ kiến thức và sự sáng trí để ngang hàng với nữ nhân vật chính, những người không chỉ mơ ước một tình yêu lãng mạn mà còn muốn được bình đẳng về trí tuệ và đạo đức.
Trái lại, các nam nhà văn không đặt nặng mối liên hệ giữa tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau. Họ ít bận tâm về trí tuệ của phụ nữ. Thay vào đó, các tác giả chú trọng nhấn mạnh sức hấp dẫn bản năng và cảm xúc. Từ Tolstoy (Nga) đến Saul Bellow (Mỹ), Philip Roth (Mỹ), Karl Ove Knausgaard (Na Uy), tình yêu đều là thứ gì đó bí ẩn, phi lý, không thể giải thích. Nó gắn liền với định mệnh hơn là mong muốn tìm một đối tác trí tuệ ngang hàng. Trông đợi một đức ông chồng bình đẳng, tin tình yêu lý tưởng là sự kết hợp giữa tâm và trí gần như chỉ tồn tại trong tác phẩm của các nhà văn nữ.
Tolstoy – tiểu thuyết gia mở đường
Anna Karenina (Anna Karenina) là tác phẩm được xem như sự đột phá của mối quan hệ lãng mạn. Bằng cuộc tình vụng trộm đầy mê đắm giữa Anna và Vronsky, cuộc hôn nhân Levin và Kitty, Tolstoy thách thức dòng tiểu thuyết chính thống đương thời. Hơn một thế kỷ sau, lối mô tả nhạy cảm và sắc sảo của đại văn hào Nga về mối quan hệ giữa vợ chồng Levin – Kitty vẫn là một trong những cách diễn đạt tuyệt vời nhất.
Khi câu chuyện bắt đầu, Levin điên đảo trong tình yêu với Kitty và suy sụp hoàn toàn khi bị nàng từ chối lần cầu hôn thứ nhất. Nhưng lấy được nhau, cuộc sống không hạnh phúc như Levin mơ tưởng. Anh muốn có thêm thời gian để làm việc, đọc sách và suy nghĩ còn Kitty sáp vào anh mọi lúc mọi nơi, luôn ghen tuông phi lý. Levin thất vọng. Tại sao nàng cứ chấp trách những thứ nhỏ nhặt? Sao nàng phải quan tâm quá nhiều những điều tầm thường như áo quần hay vệ sinh cá nhân? Tolstoy miêu tả nỗi thất vọng của cả hai bằng sự đồng cảm tuyệt vời nhất.
Levin yêu Kitty bởi vẻ ngây thơ và xinh đẹp của nàng. “Tất cả các thành viên của gia đình này (gia đình Kitty), đặc biệt là phụ nữ, đều như được bọc trong tấm màn ngây thơ bí ẩn”, Tolstoy viết. Levin từng yêu chị gái Kitty nhưng cô ấy lại kết hôn với người khác trong khi Levin vẫn ngây ngô chưa nghĩ gì về hôn nhân. Đến tuổi 30, anh bỗng chốc nhận ra Kitty đã lớn và xinh đẹp vô ngần. Tình yêu bùng cháy, mạnh mẽ hơn bất cứ cảm giác nào trước đó. Biểu hiện trẻ thơ trên gương mặt Kitty, dáng người mỏng mảnh, nụ cười dễ thương dẫn anh vào thế giới đầy mê hoặc, nơi tâm trí anh dịu lại và tràn đầy sự êm ái ngọt ngào. Levin thấy ở Kitty sự mềm mại, nét bình thản và đôi mắt chân thật. Anh tìm được những gì mà người ta gọi là “nữ tính truyền thống”, “người vợ hoàn hảo”. Vừa sáng suốt lại vừa cảm thông, Levin tin Kitty là lựa chọn tuyệt vời nhất cho cuộc sống hòa hợp vợ chồng. Vì thế, khi đối mặt với những điều ngoài tưởng tượng, những ghen tuông phi lý, những nhu cầu tầm thường của nàng, anh thất vọng. Và, cái khiến hôn nhân của Levin – Kitty không hoàn hảo, theo nhãn quan của Tolstoy, là khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ. Bằng lối diễn đạt thuyết phục và nhạy cảm, Tolstoy ám chỉ mối quan hệ giữa Levin – Kitty là một kiểu rất đặc biệt của hôn nhân. Levin không tìm kiếm một đối tác trí tuệ mà muốn một người vợ trẻ đáng yêu, đầy lòng vị tha, nhân hậu.
Tolstoy sống và viết rất lâu trước khi có cuộc cách mạng nữ quyền hiện đại. Tuy nhiên, các tác phẩm của ông vẫn nuôi dưỡng các ý tưởng cho các tác giả khác. Hôn nhân trong tiểu thuyết của Tolstoy giúp họ xác định mục tiêu rõ ràng. Ví dụ, tiểu thuyết của Austen thường có những đoạn viết về nỗi phiền hà mà người đàn ông khôn ngoan phải chịu đựng trước đối tác là một phụ nữ hẹp lượng. Nhân vật Bennet trong Kiêu hãnh và Định kiến (Pride and Prejudice) của bà là minh chứng điển hình.
Yêu cầu của nữ tác giả
Ở Hành khúc nửa đêm (Middlemarch), George Eliot phân tích chi tiết hơn về chủ đề này. Nhà khoa học trẻ đầy tham vọng Tertius Lydgate không ghét phụ nữ thông minh nhưng, theo bản năng, anh cảm thấy phụ nữ khoe trí tuệ hơn người là điều không nên. Với nữ nhân vật chính, Dorothea, anh thừa nhận cô hấp dẫn nhưng không thích vì cô quá nghiêm túc. Anh tỏ ra ấn tượng với Rosamond Vincy, cô gái vừa quyến rũ vừa ngoan hiền. “Cái thông minh nên có ở một phụ nữ chỉ là sự tao nhã, tinh tế, ngoan ngoãn”, anh nhận định. Mọi thứ khác đều không cần thiết.
Trong thời gian Lydgate và Rosamond tìm hiểu nhau, anh nói nhiều về khát vọng khoa học của mình. Dù Rosamond không phản ứng nhiệt tình cho lắm, Lydgate vẫn thấy “được lắng nghe bởi một người sẽ mang lại cho mình sự ngọt ngào là điều cực kỳ thú vị”. Không may cho Lydgate, giống như Levin, anh sớm vấp bài học mệt mỏi trong cuộc sống. Rosamond quan tâm nhiều đến những thứ anh cho là nhỏ nhặt, tầm thường. Cô cũng không hiểu cho tham vọng khoa học của anh như anh ngây thơ tin tưởng. Nếu biết cái gì khiến Rosamond chú ý anh và cố kiên nhẫn nghe anh nói về những thí nghiệm cô hoàn toàn mù tịt, chắc Lydgate không sống nổi. Là một thiếu nữ quý tộc kiêu kỳ, thứ duy nhất Rosamond quan tâm là vị thế của mình trong xã hội thượng lưu. Cái danh nhà khoa học của Lydgate đáp ứng được điều này. Hạnh phúc của họ mong manh, càng mong manh hơn so với hạnh phúc của Levin – Kitty vì Lydgate là không giàu như Levin. Levin đủ tài chính thỏa mãn mọi ham muốn vật chất của Kitty, còn Lydgate ngày càng hao mòn, cuối cùng kiệt quệ. Anh phải gác lại khát vọng khoa học vì những nhu cầu sinh hoạt đời thường.
Trong khi Tolstoy thiên vị quan điểm về tình yêu của Levin, Eliot quan tâm suy nghĩ của Lydgate. Giống như Austen, Eliot thích sự lãng mạn dựa trên các giá trị chung và sự tôn trọng lẫn nhau, không cân đong sự khác biệt về giới. Cuộc hôn nhân của Dorothea với chính trị gia trẻ tuổi, sáng giá Will Ladislaw là ví dụ điển hình. Charlotte Brontë còn thể hiện rõ ràng hơn. “Cô dâu của tôi ở đây vì sự bình đẳng với tôi”, Rochester nói với Jane Eyre trong Jane Eyre (Jane Eyre). Sự tự tin, mạnh mẽ và tâm hồn rộng mở của Rochester bù đắp mọi thiếu hụt trong ông, khiến Jane bất chấp mọi thứ để chung sống với người đàn ông đã bị tàn phế này.
Hiểu biết lẫn nhau là điều các nữ nhà văn luôn khao khát. Bằng nhiều cách, Austen làm nổi bật mối tình lãng mạn của nhân vật chính trước “nỗi thất vọng trần tục và sự hiểu lầm của đời sống thường ngày”. Marianne Dashwood trong Lý trí và Cảm xúc (Sense and Sensibility) chứng minh cho điều ấy. Cô thẳng thắn nói ghét cay ghét đắng cách cợt nhả tầm thường, lời lẽ sáo rỗng của anh chàng đẹp mã Sir John. Trong bữa tiệc, nơi hầu hết mọi người đều giống như Sir John, Marianne cố tìm kiếm đối tượng tinh tế, thông minh, người có thể trò chuyện một cách lý thú.
Cả Eliot, Austen và Brontë đều tỏ ra chống đối hình mẫu phụ nữ truyền thống. Nhân vật nữ trí tuệ của họ thường bị từ chối, chế nhạo nhưng cuối cùng tìm được hạnh phúc như ý. Các cuộc hôn nhân trong tác phẩm của họ có thể không đại diện cho lý tưởng trăm năm hạnh phúc nhưng chúng cho ta thấy sức mạnh và sự cần thiết của mối quan hệ bình đẳng.
Mong muốn của nam nhà văn
Sự khôn ngoan, thú vị, đồng cảm là những gì các nhà văn nữ hướng đến. Nó hoàn toàn khác với mong muốn được viết bởi các nhà văn nam, tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ, ví dụ Samuel Richardson (Anh), Thomas Hardy (Anh), Jonathan Franzen (Mỹ), Norman Rush (Mỹ),… Song, với hầu hết các nam nhà văn, cả những tác giả cố hướng sự chú tâm ra khỏi khuôn mặt, cơ thể nữ nhân vật để nhấn mạnh vẻ đẹp nội tâm của cô, điều này hết sức mong manh.
Trong Herzog (Herzog), Saul Bellow viết: “Ramona không cao nhưng có một cơ thể đầy đặn, đôi mông tròn trịa, cặp vú săn chắc. Cô không chắc cằm của mình đáng yêu nhưng tự tin cần cổ rất đẹp. Vì thế, cô thường ngẩng cao đầu… Đôi mắt cô màu nâu, lanh lợi và thông minh, gợi cảm và thận trọng. Cô biết rõ mình có những gì. Mùi hương ấm áp, cánh tay phủ lông măng, nửa thân trên hoàn mỹ và hàm răng trắng tuyệt vời”. Philip Roth cũng vậy. Ông và Bellow là hai nhà văn miêu tả sinh động nhất sức hấp dẫn của những phụ nữ bình thường. Khác với Tolstoy, họ không nhấn mạnh sự ngây thơ, thiếu kinh nghiệm tình dục của nhân vật nữ. Thay vào đó, họ tập trung vào sự hớ hênh vô tình. Chúng ta biết nhiều về đồ lót bằng ren màu đen của nhân vật và bữa ăn tối cô dày công chuẩn bị hơn là việc cô có thật sự thông minh hay không.
Cũng trong Herzog, vẻ gợi cảm đậm chất nhục dục của Ramona tương phản với Madeleine, người vợ trẻ đã phản bội Herzog (nhân vật chính), lén lút qua lại với bằng hữu thân nhất của anh. Madeleine không chỉ đẹp mà còn rực rỡ, rạng ngời. Sự sáng chói của cô giống như Anna Karenina, vừa tuyệt vời, mê đắm lại vừa có gì đó tàn ác. Cô không có kỷ luật hay những đức tính tốt đẹp của một học giả trí thức mà chỉ đầy dối trá, phù phiếm. Dù Madeleine là một phụ nữ trí tuệ, Herzog chưa bao giờ đặt cô ngang hàng với mình. Cái thông minh của Madeleine chỉ đơn giản để nâng cao giá trị, vẻ đẹp của cô, cao đến mức xa vời, trở thành nhân vật không thể bàn đến chuyện tình dục.
Ở Tín đồ của Dục vọng (The Professor of Desire), Roth cũng xây dựng hai loại hình nhân vật nữ tương tự. Nam nhân vật chính là David Kepesh bị giằng xé giữa Birgitta, người anh say đắm, có mối quan hệ nồng nhiệt trong suốt tuổi thanh niên, và Claire, một giáo viên ngay thẳng, chính trực, đoan trang.
Karl Ove Knausgaard đưa ra một trường hợp khác qua loạt 6 cuốn tự truyện, Cuộc đấu tranh của tôi (My Struggle). Khi vợ sinh con gái, Karl Ove nghỉ việc một năm để chăm sóc vợ và con. Anh nấu ăn, làm việc nhà và nghĩ đây là chuyện thường tình. Anh thậm chí bế con gái đến lớp Mẹ và Bé, nơi chỉ mỗi anh là nam nhân trong phòng. Nhưng nói điều này không nhằm thể hiện Knausgaard là con đẻ của tân thế giới bình đẳng giới. Bản thân Knausgaard là một phản đề với chủ nghĩa bình đẳng. Cái ông kể lại là sự oán hận và bất hạnh trong cuộc sống gia đình.
Loạt tự truyện của Karl Ove Knausgaard được công bố gần như cùng thời điểm với Người ủng hộ Hoàn mỹ của Ferrante. Cả hai đều đậm chất thực tế, rất hiện đại, tâm lý, thể hiện mọi khía cạnh nghiêm trọng của cuộc sống đơn thân. Họ là những nhà văn thành công, mô tả hết sức thành thật cảm xúc của nhân vật chính về danh tiếng và địa vị. Cả hai đều chú ý đến công việc gia đình và chăm sóc trẻ con nhưng Knausgaard viết về tình yêu đằm thắm, ít tục tĩu hơn Roth, Bellow hay Ferrante.
Trong lần đầu gặp đối tác hôn nhân của mình, Linda, Knausgaard miêu tả cô như sau: “Khi cô hăng hái nói, môi cô cong lên làm hở hàm răng trên… Cô có một đôi môi thật xinh đẹp. Đôi mắt cô màu xám xanh và sáng lấp lánh… Cô đứng dựa lưng vào tường. Tôi chưa nói được bất cứ điều gì với cô vì có rất nhiều người xung quanh nhưng cô thấy tôi và hình như có điều gì muốn nói với tôi”. Sức hút bí ẩn này khiến ta nhớ phản ứng của Levin trước nụ cười của Kitty, cái đưa anh trở lại thời thơ ấu. Bức tường mà Linda dựa là tường một hội thảo văn học uy tín. Điều này bật tín hiệu rằng cô là phụ nữ hợp với Karl Ove. Knausgaard có thể tập trung vào cảm xúc cô gợi lên trong nhân vật chính. “Tôi nhức nhối với mong muốn cho cô ấy biết rằng khi tôi đang đọc, mỗi từ đều đến từ cô ấy, là cô ấy. Tôi chưa bao giờ cảm thấy điều này trước đây”.
Khi họ trở thành vợ chồng, nhiều người dự đoán tương lai của Karl Ove sẽ giống tương lai của Levin. Linda không rời anh nửa bước, ghen cả với chuyện Karl Ove dành nhiều thời gian cho công việc và, để xoa dịu cô, Karl Ove phải phỉnh nịnh hết lời. Chuyện này ngày càng phiền phức hơn khi họ có con.
Phiên bản tình yêu của Knausgaard không giống như Tolstoy, Roth hay Bellow. Bản chất tự nhiên, nguyên cớ của tình yêu được đánh giá theo tiêu chuẩn khác và rất bất ổn. Chưa hết, trong số các biến thể vô tận, ý tưởng lãng mạn dường như nghiêng về một trong hai thái cực: Tình yêu là thứ gì đó bí ẩn, không lời giải đáp hoặc duy nhất một người có khả năng hiểu được nội tâm một người.
Có nhiều lý do để giải thích tại sao phụ nữ khao khát mối quan hệ vợ chồng bình đẳng còn đàn ông thì không. Trong khi Herzog là một học giả nổi tiếng, đầy bạn bè giàu có và thành công, Jane Eyre chỉ là một gia sư bình thường, thấp kém, cô đơn. Cô không được ai để mắt đến cho tới khi Rochester phát hiện thế giới nội tâm độc đáo của cô và mở cho cô lối thoát bấy lâu cô khao khát. Trong suốt nhiều thế kỷ, nam giới được ưu tiên, công nhận. Trái lại, phụ nữ phải phụ thuộc vào đàn ông, nhờ kết hôn để có cơ hội thể hiện tài năng và đồng hành với bạn văn chương.
Phân biệt giới tính cũng là một phần của lý do. Nam giới có lẽ không mong đợi một phụ nữ ngang bằng về tri thức. Dù sao tình yêu vẫn nảy nở, sinh trưởng, bất chấp việc nó bắt đầu từ đâu, có phù hợp với mong muốn của thời đại hay không. Thú vị hơn là, trên cả những ưu điểm hay nhược điểm của mỗi quan niệm tình ái, ngay cả khi trải qua rất nhiều thay đổi trong hai thế kỷ qua, hôn nhân lý tưởng của phụ nữ và đàn ông vẫn khác, cho đến nay cũng còn nhiều bằng chứng bộc lộ sự bất đồng.
Tác giả Adelle Waldman: Tiểu thuyết gia, nhà báo Mỹ thường xuyên xuất hiện trên các tạp chí có tiếng như Slate, The New Republic, Vogue.com, và The New York Observer; được biết đến nhiều nhất qua tác phẩm ăn khách Chuyện tình của Nathaniel P. (The Love Affairs of Nathaniel P.) xuất bản năm 2013.
18/11/2024
Adelle Waldman
Thái Lương dịch
Nguồn: Newyorker.com/ Văn Nghệ
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đi tìm hương sắc "Hoa rong…"

Đi tìm hương sắc "Hoa rong…"

Nhà thơ Trần Nhã My xuất thân nhà giáo, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hiện là Chi hội trưởng Chi hội Văn học và Văn nghệ dân gian Hội VHNT tỉnh Tây Ninh, đã xuất bản 5 tập thơ, trong đó có tập thơ 1-2-3 “Hoa rong mùa bấc” do NXB Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2023. Nhân dịp Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ và Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức, xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Nhất Nguyên về tập thơ “Hoa rong mùa bấc” của Trần Nhã My.
Thơ, một từ huyền bí theo chiều dài lịch sử, luôn được xếp lên hàng tinh hoa chữ nghĩa. Nói không quá, loài người luôn ngưỡng mộ các nhà thơ qua mọi thời đại. Thơ, ảo ảnh khó nắm bắt nhưng cũng rất thật; thứ “công phu” mà người không duyên nợ không thể luyện thành, kệ cho anh có bác cổ thông kim hoặc bằng cấp đầy mình. Người Thơ có khả năng đặc biệt cùng con chữ; uyển chuyển, sống động trong cách chọn từ để làm nên một tự nhiên như tép mạ được cấy lên mặt ruộng màu mỡ phù sa trong khi ta – kẻ “vô duyên” với thơ – cũng với tình ấy, cảnh ấy mà từ ngữ được chọn cứ như hạt giống tốt đem gieo xuống cánh đồng sỏi đá! Vậy nên tôi tôn trọng các nhà thơ, trân quý các tác phẩm thơ đích thực thơ…
“Hoa rong mùa bấc” của Trần Nhã My là một tác phẩm thơ như vậy.
Nói đến Trần Nhã My chắc chắn người yêu thơ đất Tây Ninh không lạ. Thế nhưng cái lạ của “Hoa rong…” chính bởi nó được trình làng bằng một thể thơ rất mới: thơ 1-2-3!
Anh đã tặng em một giấc mơ
Giấc mơ có dấu chân người thơ trên phố Nguyễn Du
em nhìn kỹ những dấu chân đã cũ
Phía xa kia là Huy Cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ…
phía này đây mình cùng bước dưới lấp lánh muôn trùng con chữ
bất ngờ ký tự rơi khiến em giật mình tiếc mãi giấc mơ.
Kỷ niệm một lần ra Bắc, dạo trên Con Đường Thơ và… mơ. Chuyện chỉ có bấy nhiêu. Thế nhưng ẩn dụ, ví von, tâm trạng trùng trùng lớp lớp bật lên trên nền chuyện thì lại rất riêng. Thực hóa thành mơ. Hơn thế, chất Trần Nhã My không lẫn vào đâu với cách sử dụng vần lặp, thanh lặp hoặc cách nhìn, cách cảm đặc thù. 1-2-3; một nỗ lực kết hợp giữa truyền thống và hiện đại; một kiểu “tứ tuyệt thời @” mà luật chơi không khó nhưng viết cho hay rất khó. Thế nhưng, quyến rũ; bởi tương thích cùng nhịp sống xô bồ trong một thời đại mà yêu cầu phát triển đang lôi tất tật mọi thứ vào vòng quay với tốc độ chóng mặt, kể cả thơ ca!
Làm sao để xử lý vấn đề nhanh gọn, nói được nhiều nhất trong khoảng thời gian và câu chữ ít nhất. Giản đơn hóa, “xuống đường” hóa đến triệt để mọi trừu tượng, rối rắm có thể. Vậy nên Người Thơ không cần nhiều thời gian để thai nghén và hoàn tất một bài thơ 1-2-3. Chỉ chiếc điện thoại cầm tay, một chớp lóe ý tưởng; sau đó mọi thứ còn lại đều có thể thu xếp chóng vánh. Chẳng trách 1-2-3 mới ra đời đã “rủ rê” nhiều nhà thơ hào hứng thử sức. Trần Nhã My là một trong số đó, và dường như chị thử sức không tệ!
Anh đi ngang lối cũ
Nhớ dùm em ngắm kỹ
hoa Hoàng Đầu Ấn nở chưa
Em sẽ về bên đó
đứng giữa cánh đồng dang tay đón gió
mắt nhăm nghiền nghe kí ức lao xao…
Cũng là cái đẹp mang phong cách Trần Nhã My phổ qua lăng kính 1-2-3; song đây là cái đẹp cực giản đơn, không “đánh đố” triết luận mà tràn cảm xúc, đẫm chất thơ. Trần Nhã My chuyên thơ mới, đã có cho riêng mình 4 tập thơ với nhiều giải thưởng xứng đáng. Một tài năng thơ thiên bẩm, có khả năng vượt qua những ràng buộc mang tính “chế tài” của thể loại mà vẫn giữ được bước chân thơriêng cùng kiểu tư duy thơ nhiều khi rất lạ. Lạ về ý tưởng. Đôi khi lạ cả về cảm xúc. Vậy nên chị có thuận lợi nhất định khi tiếp cận cùng 1-2-3; thể thơ giúp chị dễ dàng phát huy những sở trường tích lũy được của mình trong cuộc hành trình lâu dài gắn bó cùng thơ. Trong tay Trần Nhã My, 1-2-3 có thể biến thành chuyện kể. Câu chuyện ngụ ngôn được viết lại từ những kỷ niệm ấu thơ còn hằn trong ký ức:
Tóc mẹ dài đen mượt
Ngày các con lên năm lên mười
buổi nông nhàn mẹ ngồi hiên hong tóc
Đám con mấy lượt tranh nhau bứt
làm cần câu – câu những con cút đùn trên cát
tóc con nay thưa dần – rụng về phía mẹ ngày xanh
Chỉ một câu kết, như cây đũa thần, gõ một phát – lập tức biến những gì trước đó tưởng chừng không thơ hóa thành… thơ!
Thế nhưng, đừng tưởng tư duy thơ của Trần Nhã My chỉ quẩn quanh trong “giường chiếu hẹp” cùng những cảm xúc, kí ức thân quen trong nhà ngoài sân. Đôi khi, nó đột ngột được đẩy thẳng lên tầm thân phận nhân sinh; thứ thân phận đầy bất trắc, mong manh dẫu cho khát vọng dẫy đầy. Câu chuyện thiên tài văn chương Dostoyevsky với hồi kí “Địa Ngục Trần Gian” kể chuyện đêm trước lúc hành hình Dostoyevsky đã ước: nếu trên một vực thẳm có tảng đá nhô ra chỉ đủ chỗ đặt hai bàn chân, buộc tôi sống suốt đời trong cảnh ấy tôi cũng chấp nhận…. Và Trần Nhã My, kẻ sinh sau thiên tài gần hai trăm năm đã kịp khắc họa cái hình tượng đó vào thơ; một khắc họa ám ảnh đến mức… rợn người:
Một giấc mơ về trong chớp mắt
Thấy mình tạo ra một tác phẩm điêu khắc
tạc tượng Dostoyevsky là tượng đứng
Đôi bàn chân vừa đủ trên mỏm đá nhô ra vực thẳm
gió qua địa ngục, gió thốc vào trần gian
cuốn người đi mải trong giấc mơ cuộc đời…
Tôi không muốn có sự so sánh nào ở đây, nhưng dường như có sự tương giao, đồng cảm phi thời gian, phi cả không gian giữa những người làm nghệ thuật – cho dù cách xa nhau hàng vạn dặm, cho dù khác chủng tộc, khác quốc gia, cho dù sống cách nhau hàng vài thế kỉ!
Nói vậy, nhưng – cảm thức về những phạm trù “vĩ mô” trong thơ Trần Nhã My không nhiều. Đậm đặc vẫn là những cảm thức xoay quanh cuộc người bình dị với nguồn năng lượng tình yêu gần như bất tận: yêu người, yêu đời, yêu quê hương; cái quê hương Tây Ninh chôn nhau cắt rốn mà Người Thơ nhìn đâu dường cũng thấy đẹp, thấy thơ:
Tháng giêng Tây ninh có phiên chợ lạ
Về đây ta lại gặp tuổi thơ mình
chợ tiên bán hàng đồng giá mỗi món một chiếc lá
Hàng khác nhau nhưng tiền chỉ một
như tấm lòng kẻ bán người mua
mua yêu thương, lãi cũng là yêu thương…
Ngày mới tiếp cận thơ Trần Nhã My, tôi ấn tượng nhất với mảng thơ tình của chị. Tình yêu, vấn đề muôn thuở của nhân sinh, đề tài không bao giờ cạn cho Thơ, hẳn rồi. Thế nhưng cảm thức về tình yêu của Trần Nhã My lạ lắm; lúc mênh mang sâu lắng ngọt ngào, lúc lại lồng ghép cùng những cảm thức về thân phận, mong manh những tiên cảm bất toàn về cái kết của những cuộc yêu. Mặc khải tự trời hay trải nghiệm chính bản thân hãy đi mà hỏi Người Thơ; chỉ biết bước qua sân chơi 1-2-3, dường như nguồn mạch yêu đương của Người vẫn chưa có dấu hiệu vơi đi; vẫn tung tẩy, phập phồng nhiều phen đủ sức “đốn tim” người đọc:
Con chuồn ớt lang thang
Có phải anh phiêu dạt trong giấc mơ em
chấp chới đậu bay ngập ngừng hư thực
Giọng trầm ấm anh đọc câu thơ có con chuồn ớt
uốn đuôi vòng nửa trái tim
Vít những ký tự yêu thương lên bầu trời tháng ba chật gió…
Hay:
Tự bao giờ anh hoá thành phù thuỷ
Em bé nhỏ bị nuốt chửng trong vòng tay hung bạo
cánh tay khoẻ tung em lên trời bất cứ khi nào
Cho em hái những vì sao
kết thành chùm 1-2-3 gói hành trang mai sau
chừng thôi yêu thì anh cũng chẳng có phép màu…
Còn nhiều, nhiều nữa. Nhưng thôi, hãy để độc giả yêu thơ tự mình lang thang làm cuộc hành trình chiêm nghiệm. Xếp tập thơ, dư vị con chữ dường như vẫn còn đọng lại đâu đó – ngọt ngào lẫn mằn mặn trên môi. Vậy đã quá đủ, quá đầy cho Thơ, cho Người Thơ…
18/11/2024
Nhất Nguyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...