Thứ Hai, 30 tháng 6, 2025

Chân dung dĩ vãng

Chân dung dĩ vãng

Cả tuổi trinh nữ của nàng đầy ắp những ước mơ, như nắng cuối xuân sắp chuyển sang hè, hừng hực, bức bối, luôn muốn được thả hồn bay bổng giữa mênh mang trời đất, thì gia thế nhà nàng, sự đài các của nàng lại bó chặt nàng lại.
Khó khăn lắm nàng mới quyết định đến gặp hắn. Có thể sẽ là một kết cục còn bi thảm hơn, bởi vì đã gần ba mươi năm rồi còn gì. Hắn đã đoạn tuyệt với nàng để đi theo một cô gái Nga có mái tóc vàng óng, đôi mắt xanh thăm thẳm và hai bầu má tròn, với làn da trắng mịn nuột nà như trong những bức tranh vẽ về các cô gái đồng trinh thời Phục Hưng.
Nàng đã từng yêu hắn. Yêu đến cuồng dại. Yêu đến mông muội. Nàng đã từng cáo ốm cả một tuần bỏ học lễ để đi về một xóm chài ven biển quê hương hắn. Đã bỏ ngoài tai thất cả những lời ong tiếng ve về mối tình giữa nàng và hắn, chênh vênh như quả trứng đặt ở ngã ba cái chạc cây nơi đầy gió và cát bụi. Rồi chính nàng đã căm ghét hắn. Nàng căm ghét kẻ phụ tình. Kẻ đã biến cô gái trong trắng như nàng, đài các con quan như nàng trở thành một người đàn bà ở độ tuổi mười chín rồi bỏ rơi nàng.
Cả tuổi trinh nữ của nàng đầy ắp những ước mơ, như nắng cuối xuân sắp chuyển sang hè, hừng hực, bức bối, luôn muốn được thả hồn bay bổng giữa mênh mang trời đất, thì gia thế nhà nàng, sự đài các của nàng lại bó chặt nàng lại. Bó chặt đến nỗi nàng luôn phải tỏ vẻ ra đoan trang trong một khuôn phép đạo đức đến cứng nhắc. Nàng từng lạnh lùng với những người bạn khác giới suốt tuổi ấu thơ. Những người khác giới cùng học ngưỡng mộ nàng, luôn coi nàng như một nàng tiên tài giỏi, đẹp đẽ của một thiên hà khác giáng trần, chỉ để chúng ngưỡng mộ, thầm khao khát được một lần cầm lấy cái cổ tay tròn trịa, trắng ngần và chắc chắn là mát lạnh như thạch của nàng, mà không một kẻ nào dám buông lời bông lơn tán tỉnh nàng. Nàng từng thèm khát có được những lời nói ngọt ngào của lũ con trai dành cho nàng…Chính vì vậy, như một con chim bị tù hãm lâu ngày trong một chiếc lồng son, dù chỉ gặp hắn một lần trên chuyến tàu Hải Phòng đi Hà Nội, nàng đã bị đôi mắt có thứ ánh sáng sắc mạnh như lưỡi dao cau, nóng bỏng như một ngọn lửa thần mà nàng đã đọc đâu đó trong các câu chuyện cổ tích, làm nàng run rẩy như bị bắt mất hồn vía. Tiếng sét ái tình đã làm con tim nàng loạn nhịp. Khi hắn đã đến ngồi ngay cạnh nàng, một cảm giác lâng lâng của cô gái mới lớn, sống với những mối tình sâu nặng trong những cuốn tiểu thuyết dày cộp nhiều hơn là sống với con người nơi thực tại, đã đánh thức cả hệ thống cảm giác, tri giác của nàng. “Em là người Hà Nội à?”. “Sao anh biết?”- Nàng run rẩy.  “Nhìn là anh biết”.  “Biết thế nào?”- Nàng e lệ… Hắn đã nói với nàng bằng những lời mộc mạc nhất. Trong những lời nói của hắn không tránh được những từ đệm, những tiếng lóng mà bọn con trai Hải Phòng thường nói. Nàng cảm thấy thích thú vì cuộc làm quen trên chuyến tàu sáng hôm đó…
Hắn học cùng trường với nàng nhưng hơn nàng ba tuổi. Đi bộ đội về thì hắn vào đại học. Nàng học khoa đào tạo trong nước, còn hắn học tiếng để chuẩn bị du học. Nàng đã bị hắn chinh phục ngay từ lần đầu gặp mặt. Rồi mỗi buổi sánh vai đi bên hắn, nàng cảm thấy kiêu hãnh vì có một chàng trai đa tài đã yêu thương mình. Đấy là cái lần nàng ngồi bên hắn. Sà vào vòng tay ôm xiết của hắn. Hắn vục mặt vào mái tóc đen, dầy óng mượt và hà hít cái hương thơm của suối tóc nàng. Nàng chìm vào những cảm giác mơn man, hạnh phúc. Mắt nàng nhìn về phía xa tít tắp, nơi những đợt sóng dào dạt, dào dạt xô về phía bờ cát nàng đang thả hồn vào cõi yêu đến cuồng say. Bàn tay thô ráp của hắn lần mò, bật từng chiếc khuy áo trên ngực nàng. Nàng bất giác cảm thấy nhói đau. Đau thấu trong tận tâm can. Cái đau lan dần lên khắp cơ thể, rồi sau cái đau thót ngực ấy là một cảm giác từ sâu thẳm như nôn nao, như chờ đợi, như dướn lên thèm khát những cảm giác nhói đau đang đánh thức những tri giác nhục dục trong nàng. “Đau anh…! Đ…a..u a..nh…!”. Nàng quay lại, ôm ghì và vít cổ hắn xuống. Những cơn mưa hôn xối xả tràn trên mắt, trên mặt, trên môi nàng. Hắn ấp mặt vào ngực nàng. Hơi nóng cuồng si của hắn chuyền sang nàng. Toàn thân nàng nóng ran lên. Nàng chìm vào cõi vô vi. Hai mắt nàng không còn nhìn thấy gì nữa. Tiếng sóng biển ì ầm xô bờ ngay cách nơi hắn và nàng đang quấn quýt bên nhau chỉ vài chục bước chân mà nghe như xa vời vợi. Lúc thì thầm, lúc dồn dập như một bản nhạc không lời mà thi thoảng nảng vẫn bất chợt nghe văng vẳng trong đêm. Bàn tay hắn sờ soạng, xoa xoa, lúc nhẹ nhàng mơn trớn, lúc dữ dội như một con thú muốn ăn tươi nuốt sống nàng. Đêm không trăng, không sao. Chỉ có ánh sáng mờ ảo từ đầu những con sóng xô bờ hắt lên thân thể trắng ngần của nàng. Mong manh nhưng huyền ảo. Hắn vùng vẫy cái bản năng của một con đực khi đã đưa con cái vào một cảm giác vô vi phó thác cho duyên phận. Đó là giờ phút thiêng liêng nhất với cuộc đời nàng. Một cảm giác đau đớn, buốt nhói mà mỗi người phụ nữ chỉ cảm thấy có một lần trong đời. Nàng cố giãy giụa để thoát thân, thì kỳ lạ, giữa nàng và hắn lại cứ xoắn xuýt vào nhau như không thể tách rời. Nàng lịm đi trong đau đớn mà tràn ngập si mê. Bên tai nàng vẫn là những âm thanh trầm bổng của một bản nhạc không lời. Sóng biển dập dờn vỗ ngay vào thân xác nàng. Nàng cảm thấy hơi ấm nồng của biển cả ngay trên bãi cát mình nằm. Một con sóng ào lên dữ dội, rồi bất ngờ ập xuống đổ lên thân xác hắn và nàng những những cột nước trắng mờ tung tóe trong ánh đêm của biển. Hắn vùng dậy, vơ vội đống quần áo lềnh bềnh trên mặt nước rồi bế thốc nàng lên chạy vội vào bờ tránh xa những con sóng triều lên lúc hiền từ lúc dữ dội gầm gừ. Nàng đã ngồi bên hắn trên bờ biển quê hắn, thút thít khóc vừa vì sợ hãi, vừa vì dư vị đau nhói của một thứ hạnh phúc kỳ lạ. Hạnh phúc được làm đàn bà.
Cũng từ đấy, nàng luôn lo sợ mất hắn. Nỗi lo sợ làm nàng càng cuồng si và lao vào ngọn lửa của tình ái một cách man dại, bạo liệt như không có hồi kết.
Cái đêm cuối cùng nàng ở bên hắn để sáng sớm hôm sau hắn sẽ lên máy bay đi du học. Nàng đã khóc thật nhiều. Mỗi một cuộc tình làm nàng đến bã bời thân xác vì mệt mỏi, lại làm trong nàng bừng lên cái cảm giác khát đến cháy bỏng nơi thẳm sâu cơ thể nàng. “Mình sẽ mất anh tôi…” Nàng đã nghĩ như thế trong suốt ba năm học tập trong nước, và mỗi tuần vẫn nhận đều đặn những cánh thư của hắn gửi về cho nàng. Ba năm xa hắn là ba năm trăn trở vì bất an mất một mối tình đầu…
Nàng nhìn lại phía sau mình. Phố xá vắng lặng. Nàng hồi hộp. Trống ngực đập thình thình như tiếng trống ngày hội quê hắn mà đã có lần nàng về dự cùng hắn. Nàng lấy hết sức mạnh, đưa bàn tay run rẩy bấm nút chuông cửa nhà. Tiếng chuông kính cong kêu vọng vào lòng nàng. Nàng hồi hộp nín thở như vừa lén ăn trộm một thứ gì đó của chủ nhà. Có tiếng bước chân lại gần và cánh cửa được mở. Một chàng trai mũi tẹt, tóc vàng hoe hỏi nàng bằng một câu tiếng Nga; “Bà hỏi ai?”. “Thì ra là một cậu con lai”. “Cậu cho hỏi, ông Hạnh có nhà không?”. Chàng thanh niên chừng mười tám đôi mươi nhìn nàng mỉm cười như đã quen nàng từ lâu lắm, mở rộng cửa mời nàng vào rồi chạy lên gác. Một ngôi nhà hai tầng. Tầng một căn nhà là một phòng chừng ba mươi mét vuông và một phòng vệ sinh. Đồ đạc chẳng có gì. Góc phòng là một bộ giát giường đôi trải một chiếc chiếu hoa đã cũ, xộc xệch. Trên chiếu, bên cạnh đống chăn màn vò ve ố mầu bụi bẩn lâu ngày không giặt là mấy cái xoong nhôm Liên Xô đã hoen màu khói. Xung quanh tường bày la liệt những bức chân dung sơn dầu. Người đàn ông tóc đã điểm bạc, mặc chiếc áo may ô đã cũ ngả màu cháo lòng nghiêm cẩn đặt cây cọ vẽ lên cái bảng màu để ngay bên giá vẽ, rồi quay lại phía nàng. “Anh chào em… Em đến từ lúc nào?”. “Em mới đến”. “Cuộc sống của anh ra sao?”. Người đàn ông im lặng, ngượng ngùng quay vào góc phòng lấy hai cái ghế gấp chân sắt đã tróc hết lớp sơn tĩnh điện gỉ hoen, vừa đi vừa phủi bụi trên những chiếc mặt ghế bọc giả da mầu huyết dụ. “Thông cảm nhé. Bất tiện quá. Anh chỉ có hai bố con. Nhà không có đàn bà. Lôi thôi lắm. Luộm thuộm lắm”. Nàng ngồi xuống đối diện với hắn. Hắn khác xưa nhiều quá. Rồi nàng thầm trách mình. Chính nàng có còn như xưa nữa đâu. Gần ba chục năm rồi còn gì. Một khoảnh khắc im lặng. Nàng đưa mắt nhìn những bức chân dung đặt ngay ngắn dưới chân tường. Những bức chân dung vẽ những người thiếu nữ treo trên tường. “Em đi xem tranh anh vẽ đi”. “Vâng “. Hắn đứng dậy, giới thiệu những bức chân dung của những người nổi tiếng. Bức này của cô ca sĩ NM đang ăn khách nhất, bức kia của một ông mới được thăng quan tiến chức. Người ta đồn rằng, các bức chân dung anh vẽ đều rất có khước, rất phong thủy. Ai muốn làm ăn phát tài, phát lộc, muốn có những bước ngoặt trong cuộc đời thì cứ đến chỗ anh vẽ chân dung. Anh tương đối đắt khách. Nhưng làm đến đâu ăn hết đến đấy, chẳng có của để dành.
Sau khi bỏ rơi em ở Moscow, anh cưới một cô gái Nga hơn anh một tuổi. Sống với nhau mãi mới có một thằng con trai, là cái thằng ra mở cửa mời em vào đấy. Cuộc sống vợ chồng nhiều bất hòa lắm. Mình là người châu Á, sống trong quần thể toàn người bản xứ, nhiều cái bất tiện. Sự khác biệt về văn hóa, về phong tục tập quán, sự không thích ứng được với những bất đồng ấy nảy sinh nhiều rạn nứt. Những cuộc ái ân, những thỏa mãn của nhục dục đến một lúc nào đó bão hòa, không thể hàn gắn được những rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Thế rồi chia tay nhau. Rồi lại thương nhớ. Cô ấy đã nhiều lần vượt cả ngàn cây số để tìm lại gặp anh, cố tìm cơ hội để có thể cố gắng hàn gắn và níu kéo lấy tình yêu, nhưng vô vọng. Anh rủ cô ấy về Việt Nam. Cô ấy theo anh về Hải Phòng sống với gia đình anh được sáu tháng thì không chịu nổi. Cô ấy không việc làm. Sống đơn độc giữa những người thân của anh. Anh phải đưa hai mẹ con cô ấy quay lại nước Nga của cô ấy. Được hai tháng thì cô ấy gặp một chàng Ivan lực lưỡng. Khi anh vừa đẩy cửa bước vào căn hộ của mình thì thấy tận mắt cô ấy đang mây mưa với người ấy. Anh chua xót ngồi bên phòng ngoài chờ cho họ kết thúc chuyện ân ái rồi vào từ biệt cô ấy. Anh trở về nước chỉ mang theo những thứ này. Những giá vẽ, và những hộp màu, và những hộp cọ vẽ. Khi tình yêu đã chết thật rồi thì bọn anh chia tay nhau đơn giản như thế đấy. Họa sĩ nghèo, chưa có tiếng làm sao nuôi nổi một người vợ Tây và một đứa con lai…”. Nàng thấy vai hắn rung lên. Cổ hắn tắc nghẹn lại, muốn nói nhiều nữa với nàng mà không sao nói nổi. Nàng ôm lấy hắn. Khẽ kiễng hai bàn chân lên, hôn nhẹ vào đôi mắt hắn. Nước mắt người đàn ông đầu tiên của đời nàng thấm vào cổ họng nàng mặn chát. “Anh ôm em chặt vào. Khi em bị bỏ rơi, em đã đau đớn đến muốn gieo mình xuống dòng sông Moscow để kết liễu cuộc đời mình. Nhưng mỗi lúc em sắp nhún chân lao xuống dòng nước thì lại có những con tàu thủy chạy qua kéo những tiếng còi tàu kêu “tu tu tu tu”. Đôi mắt ướt đa tình nhưng dịu hiền của anh lại hiện ra trước mắt em. Em chạy ùa về ký túc xá sinh viên, rồi thiếp đi trong đau đớn đến khôn cùng. Một đêm, không hiểu sao em không chốt cửa. Chắc vẫn giống ngày còn yêu anh, đêm đêm em cũng không chốt cửa để đợi anh trốn sang khu ký túc xá bên này với em. Rồi một bàn tay lạnh ngắt bịt lấy miệng em. Có tiếng thì thầm vào tai em: “Nga ơi, Thanh đây. Có nhớ anh Hạnh không? Cho Thanh thay anh Hạnh nhé!”. Em không đủ khả năng tự vệ. Cũng có thể em đã buông xuôi, không còn muốn tự vệ nữa. Em cứ để mặc cho thằng Thanh nó vày vò, nó cọ sát, nhấm nháp và liếm láp trên da thịt mình. Em ghê rợn. Nhưng rồi thân xác vẫn là thân xác. Đến một thời khắc nào đó những va chạm, những kích thích về thân xác cũng đánh thúc được dục vọng con người. Điều đó trái hoàn toàn với những lý thuyết về tình yêu mà em đã đọc trong sách vở. Hóa ra tình yêu và tình dục là hai thứ khác nhau hoàn toàn. Em đã lao vào những cuộc tình vụng trộm với Thanh một cách điên dại. Em làm thế để cố quên anh đi. Nhưng thứ tình dục mà em đang đắm đuối ấy đã cướp đi của em điều quý giá nhất của người đàn bà đó là thiên chức làm mẹ sau cái lần em phải đi phá thai. Em nhớ mãi cái lần đầu tiên khi em báo với Thanh là em đã có thai. Chúng em sắp có con. Em tưởng rằng Thanh sẽ rất vui, sẽ ôm em vào lòng an ủi, động viên để em cảm nhận được đầy đủ về niềm hạnh phúc sắp được làm mẹ. Nhưng khuôn mặt Thanh lạnh như đá. Không một biểu cảm. Rồi Thanh đưa em đến bệnh viện. Sau khi kiểm tra sức khỏe cho em và cái thai trong bụng em, người bác sĩ già giọng buồn buồn khuyên em và Thanh nên suy nghĩ lại vì cái thai đã lớn. Em nhìn vào mắt Thanh. Thanh nhìn đi chỗ khác. Em cầm một viên thuốc bác sĩ vừa cấp, đặt lên miệng mình. Em không đủ dũng cảm để bỏ viên thuốc vào miệng mà nuốt. Em cầm và nhìn viên thuốc, lại nhìn Thanh. “Uống đi còn gì nữa”- Thanh lạnh lùng nói với em như vậy. Rồi như có ma làm, em bỏ viên thuốc vào miệng, uống một hớp nước, đẩy viên thuốc vào bụng thật nhanh. Người ta lôi đứa bé ra khỏi thân thể em. Em cảm giác đau đớn cả về thể xác lẫn tâm hồn. Một sức mạnh vô hình là em bật dậy, em đã nhìn thấy đôi mắt đứa con em. Đôi mắt một hài nhị bị cha mẹ nó cướp mất mạng sống, đẩy nó vào một cõi âm lạnh thấu và xa lắc. Không tình người. Em đã mắc một tội ác lớn nhất là không dám sinh ra những đứa con của mình. Điều đau đớn nhất mà em đã phải chứng kiến là khi về nước, Thanh đã vụng trộm đi lại với đứa em út của em khiến nó có thai. Nó đang là sinh viên năm thứ nhất, còn quá non dại. Giữa lúc nó không biết bấu víu vào đâu thì Thanh bỏ vào miền Mam công tác, không một lời từ biệt. Nó đã đến một phòng khám sản phụ khoa tư nhân để phá thai, không may nhiễm trùng máu rồi chết…”- Nàng thì thào như tiếng gió. Có thể hắn không nghe thấy, và cũng có thể hắn đã nghe thấy và khinh bỉ nàng, lại một lần nữa hắn ném nàng ra khỏi cuộc đời hắn. Nhưng nàng không sợ. Nàng muốn nói hết những dơ duốc trong con người nàng. Nàng còn gì nữa đâu để mà mất. Nàng cũng chẳng có ai trên cõi đời này có thể nghe về những điều dơ duốc ấy của nàng.  “Anh về nước mười năm nay rồi. Đi tìm em. Một hôm ngồi vẽ ngay Hồ Thiền Quang, anh đã nhìn thấy em lên một chiếc xe sang đỗ ngay trước một nhà hàng bên phố Nguyễn Du với một người đàn ông có vóc người to lớn. Chắc là chồng em. Anh đã định gọi nhưng lại sợ em không nhận ra. Bỏ mất, hay nói đúng hơn là tự mình giết chết tình yêu của mình mà anh đã dành cho em, đã cướp đoạt sự trong trắng của em, đi dọc hết nửa cuộc đời, nếm trải những ngọt ngào và cay đắng, anh mới nhận ra rằng, mất em mới thực sự là mất hết tình yêu…”. Nàng đặt lên đôi môi khô ráp nứt nẻ của hắn một cái hôn. Hắn buông lỏng tay ra chỉ cho nàng xem bức chân dung hắn vẽ cách đây mười năm khi mới về nước. Một cô gái Hà Nội đoan trang, xinh đẹp. Hai bím tóc đuôi sam dầy đen óng ả trước ngực áo. Đôi mắt ướt đa tình ánh lên một nụ cười rạng rỡ. Những nét vẽ trau chuốt, cẩn trọng nhưng đầy cảm hứng của một họa sĩ tài hoa đã làm tôn thêm lên vẻ đẹp thánh thiện trời đã ban cho nàng. Nàng ngắm nghía bức chân dung của mình, bức chân dung mà hắn đặt tên la ‘Bức chân dung dĩ vãng” với một sự xúc động kỳ lạ. Một gã đàn ông đã đang tâm vứt bỏ nàng giữa nơi đất khách quê người, một thân một mình, không nơi nương tựa, tàn nhẫn thế, làm sao lại có thể giữ được cảm xúc, làm sao còn giữ được hình ảnh về nàng mà lại cầm cọ vẽ được một bức chân dung về nàng đẹp đẽ, trau chuốt đến nỗi ngay chính nàng cũng phải nghèn nghẹn ghen tỵ với hình ảnh mình trong bức chân dung ấy. “Em xem đi! Anh đã vẽ trong tưởng tượng bức chân dung này đấy. Được không em?” Nàng ngước nhìn bức chân dung thật lâu. Thân thể nàng nóng ran lên. Trong nàng như phát ra một nguồn năng lượng mới. Một nguồn năng lượng được hun đúc, được ủ kín trong lòng nàng gần ba chục năm nay. Thì con gái của nàng như vậy đấy. Toàn thân nàng run lên vì xúc động. “Chỉ có anh mới nhớ được em như thế. Ngay bản thân em, em cũng không thể nhớ lại hình ảnh tuổi thơ của mình như thế nào”. Anh làm sao quên được. Bây giờ em đã có gia đình…”. “Không. Em đã chia tay anh ấy lâu rồi. Anh ấy là lái xe con cho một ông sếp ở một tập đoàn xuất khẩu hàng hóa nào đó. Em đến với anh ấy là một sự tình cờ. Em đi nhờ xe anh ấy từ Bái Đính về Hà Nội. Chỉ có hai người. Anh ấy đã bỏ vợ. Rồi chúng em qua lại với nhau. Trước khi gặp anh ấy em sống độc thân, không bờ vai đàn ông nương tựa. Nghĩ sẽ sống cùng anh ấy đến hết đời cho có ông có bà. Nhưng điều đơn giản ấy cũng chẳng thành”. Nàng lại run lên vì khóc. Nước mắt nàng ứa đầy hai hốc mắt. Cái sự làm quen rồi dẫn đến cái chậc lưỡi gật đầu sống chung với người đàn ông đầu tiên nàng có giấy hôn thú ấy lại là một nỗi đau khác. Nỗi đau giày vò nàng mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc. Gã làm cái nghề phục vụ quan trên cả đời. Vì thế miếng nào ăn ngon, nơi nào có những sơn hào hải vị, nơi nào có những thú vui thâu đêm hắn đều biết. Nàng làm ở một cửa hàng miễn thuế trên sân bay quốc tế, thường có những chai rượu đắt tiền mà ít người bình dân nào dám mơ tưởng sở hữu để bày trên giá tủ rượu phòng khách cho đẹp chỉ để khoe với khách chứ đừng nói tới việc nhấp môi vào để thưởng thức. Vậy mà cứ mỗi lần nàng mang một chai rượu lạ về là gã nốc. Nốc đến say thì thôi. Rượu vào thì lời ra. Tất cả những gì gã nghe thấy được từ thủ trưởng, hắn đều mang về răn dạy nàng. Những câu chuyện hắn kể bao giờ cũng sặc mùi của một đẳng cấp tinh hoa, cao quý. Hắn coi nàng như một cái máy in tiền để hắn thỏa mãn những thú sinh hoạt đẳng cấp ấy. Đêm đêm, khi bản năng của con đực thức dậy trong gã, gã vày vò, chà sát lên thân thể nàng, biến nàng thành một thứ nô lệ tình dục hiện đại của gã. Nàng đã nhiều lần định chạy thoát khỏi hắn, nhưng rồi lại cắn răng cam chịu. Cho đến cái lần gã cưới vợ cho con trai, tiền bạc nàng không tiếc, cần bao nhiêu nàng đều đưa cho gã chi tiêu. Hôm cưới, theo luật lệ, vì không phải mẹ đẻ của con trai gã, nên gã nhất quyết không cho nàng đến dự lễ thành hôn. Nàng phải nằm vò võ ở nhà một mình. Gã không nhớ gì đến nàng. Căn nhà của hai vợ chồng gã xây dựng trước lúc ly hôn, thì gã để cả cho vợ cũ và hai con gã ở. Vừa cưới xong được một tháng gã ép nàng phải cho hai vợ chồng con trai gã ở cùng. Nàng không nghe. Vì đây là căn nhà do nàng làm nên từ trước khi sống chung với gã. Nàng không con cái, còn sống mà cho nốt cái nhà này sau này già yếu nương tựa vào đâu. Rồi gã xúc phạm nàng, coi nàng như một con đàn bà chỉ để giải khuây cho gã. Hai người đã chia tay nhau ba năm nay rồi…
Nàng như muốn trút hết tất cả những đau đớn đã dằn vặt, giày vò nàng mấy chục năm nay cho hắn nghe. Nước mắt nàng giàn giụa trên khuôn mặt đã nhiều những nếp nhăn, nhưng vẫn còn đọng lại những nét đẹp kỳ bí, kiêu xa đầy hãnh diện của một thời con gái được sinh ra và lớn lên trong một gia đình quyền quý ở Hà thành. Qua làn nước mắt giàn giụa, nàng nhận ra trên đời này không có ai yêu nàng bằng hắn. Yêu đến cháy bỏng, yêu xuyên qua thời gian khắc nghiệt đến tận cùng. Chỉ có điều nàng và hắn, không một ai có thể trả lời được câu hỏi, yêu nhau thế sau lại mất nhau, lại lạc mất nhau hơn một phần tư thế kỷ, để đến bây giờ đầu hai thứ tóc mới lại tìm được nhau. Nàng bất chợt nhận ra thứ cảm giác rờn rợn khiến nàng sợ hãi. Bằng ấy những đổ vỡ, bằng ấy những thất bại, bằng ấy những dơ duốc bôi chát lên cuộc đời, liệu nàng có còn đủ tự tin để ở bên hắn nữa hay không?
Hắn hạ bức “Chân dung dĩ vãng” xuống đặt lên tay nàng một cách trân trọng; “Nếu không phiền, ngày mai anh sẽ sang treo bức chân dung này ở ngay phòng khách của em”. “Vâng”. Nàng thì thầm nước mắt vẫn ứa ra. Hắn đưa tay lên gạt những dòng nước mặt tràn trên khuôn mặt nàng rồi ôm ghì lấy nàng. “Anh không thể thiếu em trên đời này. Em không chỉ là dĩ vãng, em còn là hiện tại và tương lai của cuộc đời anh”. Nàng ôm chặt lấy hắn, úp mặt vào ngực hắn, hít hít cái mùi chua nồng khen khét mồ hôi đàn ông của hắn. Rồi bất chợt, nàng đẩy bức chân dung vào tay hắn, rồi nức nở khóc. Nàng vừa khóc, vừa xô cửa, chạy như ma đuổi về căn nhà của mình. Nàng gục xuống. Đôi vai gầy của nàng rung lên. Bên tai nàng là hỗn độn những âm thanh. Âm thanh từ dĩ vãng vọng về. Tiếng sóng biển của một đêm triều cường ì ầm dội vào lòng nàng.
13/2/2023
Đào Quốc Vịnh
Theo https://vanvn.vn/

Đường vòng

Đường vòng

Nó đĩnh đạc bước tới trước cái mặt đắc thắng của bà Doan, rồi thình lình giơ tay tát cái đốp luôn vào cái mặt vừa hết méo xệch của thằng Lâm. Rồi trong lúc cả mẹ lẫn con bà Doan vẫn chưa kịp khép miệng bàng hoàng nó đã cúi xuống vòng tay đàng hoàng, xin lỗi vì đánh bạn Lâm.
“Con trời đánh, đồ không cha, không mẹ, mất dạyyyyyy…”.
Tiếng tru tréo của bà Doan hàng xóm lúc về chiều càng làm cho cái xóm nhỏ thêm phần chộn rộn. Bà ngoại lập cập chạy ra tìm nó, mà nó vẫn đứng trơ nguyên ra đó, như không hiểu chuyện gì xảy ra cho đến khi bà kéo nó vào lòng như muốn che khỏi con mắt của vòng vây hàng xóm đông đúc. Thằng Lâm vẫn dệu cái miệng méo xệch chảy dài của mình ra những tiếng như heo ụt ịt.
Bà Doan cố kéo nó ra mà xỉa xói. Mãi cơn tam bành lục tặc của bà ta mới xẹp xuống để nghe tiếng xin lỗi lập cập của bà nó. Tôi không cần lời xin lỗi của bà, là cái con trời đánh kia kìa, nó phải xin lỗi thằng Lâm, bà Doan hầm hầm gạt tay bà nó ra hếch mặt về phía nó như ra hiệu. Nó trợn mắt lên nói con không đánh thằng Lâm, do thằng kia đuổi con nên mới bị ngã. Bà Doan lại nhảy đổng lên trận nữa, bà con hàng xóm thì phẩy tay bảo thôi toàn chuyện của lũ con nít, nhưng bà ta vẫn cứ nằng nặc bắt nó xin lỗi bằng được thằng con vàng con bạc nhà bà. Bà ngoại nó run run, bắt nó vòng tay xin lỗi, nó chỉ quay sang hỏi ngoại một câu, sao cháu phải xin lỗi nó, cháu đâu có đánh nó? Bà Doan lại gào lên, đồ mất dạy, mày không làm gì con bà sao nó lại khóc như thế này? Nó cứng đanh đứng sang một bên hỏi lại, nếu cháu đánh nó thì cháu phải xin lỗi đúng không? Bà Doan rít lên chằng chằng, chứ còn gì nữa. Nó đĩnh đạc bước tới trước cái mặt đắc thắng của bà Doan, rồi thình lình giơ tay tát cái đốp luôn vào cái mặt vừa hết méo xệch của thằng Lâm. Rồi trong lúc cả mẹ lẫn con bà Doan vẫn chưa kịp khép miệng bàng hoàng nó đã cúi xuống vòng tay đàng hoàng, xin lỗi vì đánh bạn Lâm.
Nó nổi tiếng nhất xóm, không chỉ vì cái tính ngang bướng, không chỉ vì mồ côi cả cha lẫn mẹ, mà còn vì nó xinh đẹp và học giỏi nhất cái xóm nhỏ này.
Mười bảy tuổi, nó nghỉ học, ngoại không thể lo cho nó học lên nữa. Ngoại quá già và yếu rồi, đôi mắt nhập nhòe của ngoại rỉ ra được hai giọt nước ngầu đục khi thấy nó nâng niu cất vào rương bộ áo dài cũ và tất cả sách vở. Cô chủ nhiệm tiếc vì nó là lớp trưởng, học giỏi lại hát hay, nên cố công huy động đóng góp từ nhà trường mang đến cho nó được năm trăm ngàn, động viên nó đi học lại. Nhưng nó cương quyết lắc đầu, chỉ có nó biết ngoại yếu lắm rồi, nó muốn làm gì đó cho ngoại. Nhưng mười bảy tuổi, nó chỉ mới chớm trổ da, trổ dáng, sức vóc thì không có thì làm sao có thể giúp ngoại được.
Mười bảy tuổi lẻ ba tháng, nó im lặng bước về nhà chồng. Trớ trêu thay, đó chính là Lâm, người mà nó cho một tát tai khi còn nhỏ. Nó kín miệng, nên chả ai hay nó vui hay buồn khi lấy chồng. Lâm, cái mặt vẫn béo nhưng bớt phệ, nụ cười hơi méo, mắt nhìn chằm chằm vào nó không giấu nổi vui sướng. Còn bà Doan gương mặt dù vẫn sưng sỉa, vẫn gắng nở nụ cười với bà con lối xóm. Bên nhà nó không có ai, vì ngoại nó đã nằm liệt giường bên nhà, không ai thấy được nó có nhỏ ra giọt nước mắt nào trong căn nhà ấy hay không.
Mười bảy tuổi lẻ bốn tháng, nó mất đi người thân cuối cùng. Đôi vai nó mỏng manh rung lên trong tiếng nấc mà tuyệt nhiên không thấy nước mắt rơi. Đám tang của ngoại nó cũng đơn sơ, thinh lặng như nó lúc này. Tất cả đều im lặng, nhìn nó cúi đầu bên nấm đất còn dậy mùi nồng nồng mà chờ đợi. Đến khi Lâm chịu không nổi, đưa cánh tay ra xốc nó về mới thấy nó đã rũ rượi từ lúc nào. Nó thẫn thờ, ốm o mất mấy tháng, người cứ xanh lét rồi gầy rộc đi trong tiếng nói réo rắt của bà Doan nay đã thành mẹ chồng nó. Nhưng đôi mắt nó lấy lại thần sắc, lại quắc lên như hồi nào khi nghe bà Doan bàn chồng nó bán miếng đất của ngoại nó để lại, lấy vốn làm ăn. Cái tát ngày xưa của nó bằng bàn tay nhỏ không đủ in hằn năm dấu ngón tay lên má của Lâm. Còn cái tát giờ chồng nó dành cho nó có vị mặn của máu, có vị rin rít của đầu lưỡi kèm theo tiếng chửi thề của mẹ chồng, có cái quặn mình chao đảo của nó. Không thấy tiếng bênh vực của ai. Nó thành người dưng với tất cả rồi.
Mười bảy tuổi lẻ tám tháng, sau những hòa giải không thành, nó về lại ngôi nhà xiêu vẹo cũ. Đã biết mồ côi tủi phận như thế nào, mà nó vẫn không khoan nhượng ánh nhìn cho dịu lại. Cái ánh nhìn của nó chỉ hơi chùng lại khi thấy có bóng bạn bè đi qua ngõ, tíu tít bàn về mùa thi, nó nhận ra bà nó đã mong gì ở nó. Để gác lại tất cả, nó tất tả đi tìm những mối việc không tên, đã quen khi về nhà chồng. Cô giáo chủ nhiệm thương tình xin cho nó chân bảo vệ trường để nó kiếm thêm đồng ra, đồng vào. Nó lăn vào làm tất cả, nhưng không quên mở rương hòm ra, xem lại bộ áo dài cũ, rồi lại dúi sâu hơn vào góc để lôi ra tập vở. Nó xin học và thi bổ túc cùng đợt thi của bạn bè chính khóa với sự giúp đỡ hết lòng của thầy cô. Ánh nhìn của nó lại tràn trề khi nhận được kết quả đậu tốt nghiệp như các bạn. Nhưng vì nó không kịp đăng kí đợt thi đại học như các bạn, nó ngậm ngùi nộp hồ sơ đi học trung cấp dược trên phố. Nhà cửa nó nhờ bác Ba và cô giáo chủ nhiệm trông coi mặc cho bà Doan và Lâm vẫn lằng nhằng qua gây sự.
Mười tám tuổi lẻ ba tháng, nó phải gác chuyện học hành thêm một lần nữa, im lặng nhìn đứa trẻ đang nằm trong lồng kính, con nó, yếu ớt và lặng lẽ như mẹ. Chả biết nên khóc hay nên cười khi nó không hiểu đã mang trong mình cái mầm sống nhỏ nhoi oặt ẹo ấy. Có cái gì đó đã nối nó với mầm sống ấy. Mối nối mỏng manh nhưng khiến nó nhận ra không còn cô đơn nữa. Nhưng mối nối đó đang mỏng manh như khói. Nó phải níu lại cho mình, níu lại cho mình mối nối này thôi, nếu không nó sẽ không biết bám vào đâu để đứng lên nữa.
Cắm cúi mà làm, cắm cúi mà sống, nó không kịp xem bao nhiêu thời gian đã trôi qua, chả kịp biết thằng cu Bim đã biết bi bô tiếng “mẹ” bao giờ, chỉ khi nghe cu Bim bập bõm thêm tiếng “ba, ba” nó mới quặn lòng lên khôn xiết. Nó mồ côi cả cha lẫn mẹ, nó còn ngoại bên mình, cu Bim có mẹ, có cha mà sao giờ cũng như khuyết đi chút đỉnh như nó rồi. Nó thẫn thờ, ôm con vào lòng mà trào nước mắt, bây giờ đã có thể thảnh thơi mà nếm thử nước mắt có mùi vị gì, mằn mặn, nhẹ nhàng mà sao xót thế, có mấy dịp nó rơi nước mắt đâu. Chỉ thấy nước mắt ngoại, ngày nó nghỉ học nhận lễ nhà Lâm, thấy nước mắt ngoại ngày nó diện áo cưới đưa Lâm đến chào, thấy nước mắt Lâm ngầu lên ngày nó kiên quyết đưa cái đơn li dị. Và cái níu tay đến chùng lòng, rớt nước mắt ngày nó thay đồ lên tòa thẳng thớm rứt khỏi Lâm.
Nước mắt ngoại, ngầu đục, lạnh như sương, thương cho đứa cháu mồ côi tủi phận, còn nước mắt Lâm thì vì lẽ gì hả Lâm? Bên nhau chỉ mấy tháng chứ có nhiều nhặn gì đâu mà chia nước mắt sang cho nó?
Nó nhớ nguyên vẹn cảm giác lạnh rát bàn tay khi chạm vào ngoại. Nó đã lay, đã gọi, đã lạc bẵng mất cả bản thân khi thấy ngoại nằm đó lặng yên. Tô cháo nóng hổi trên tay nó tung tóe, văng bỏng cả vệt đùi mà nó không hề cảm thấy, chỉ thấy cái lạnh xuyên suốt, chạy dọc người, lan tỏa và đóng băng lấy nó. Nó nhớ tối đó đã xin Lâm về bên ngủ với ngoại, nhưng Lâm không cho, Lâm lấy quyền làm chồng của mình mà không cho, để mặc nó rã rời với nỗi lo về ngoại đang nằm đau một mình bên nhà. Nó lấy chồng gần để làm gì cơ chứ, chỉ là để được gần ngoại, được chăm cho ngoại những lúc ốm đau, vậy mà khi ngoại cần nó ở bên nó lại không thể. Nó hận Lâm, hận cái bản năng của Lâm đã làm nó mất ngoại, nên cái tát tai của Lâm chỉ là cái cớ để nó rũ bỏ. Nó mặc Lâm ân hận, mặc Lâm từ bỏ cả sĩ diện quỳ trước nó mà van xin. Nó vẫn vậy, không thể đổi chút lòng mình cho ai, trừ ngoại và giờ là thằng Bim.
Rồi nhìn con, nó nhận thấy suy nghĩ và tấm lòng của ngoại ngày trước ở ngay trong mình. Nó tưởng tượng con mình bị chửi là “đồ không cha” như mình hồi bé. Nó thấy mọi thứ quay lại rất nhanh khiến đôi chân không còn làm chủ được mà khuỵu hẳn xuống… Nó khẽ xoa đầu cu Bim mà nhận ra nỗi đau trong nó cũng đã ám lên con từ lúc nào…
“Mẹ, con tìm được bà, bà ngã rồi!”, tiếng cu Bim gọi khiến nó thoát khỏi những miên man khi ngồi bên mộ ngoại. Sao lại có bà ở đây? Nó không khỏi nghi ngại, bởi đã về làng trong yên lặng, lúc đầu chỉ định ghé mộ ngoại cho cu Bim biết hình ảnh cố; nhưng rồi nó đã ghé nhà cô chủ nhiệm để lấy chìa khóa về nhà ngoại. Cô đi vắng, đứa con gái nhỏ của cô đưa dùm nên nó cũng chả có thời gian để hỏi chuyện nhà. Mộ của ngoại đã được sửa sang lại cẩn thận và không có vết cỏ, dường như có người vẫn thường lui tới sửa sang và chăm sóc mộ cho ngoại, không biết có phải là bác Ba hàng xóm không, hay là ai nữa?
Bà Doan, mẹ chồng nó đang bước về phía nó cùng với cu Bim khiến nó ngỡ ngàng. Mới có ít năm mà sao nhìn bà như già thêm chục tuổi, mái tóc bạc trắng như xác xơ hơn trong trời chiều, đôi mắt kèm nhèm như mắt ngoại hướng về phía nó mà như không nhận ra nó. Nó giật mình thốt lên tiếng “mẹ” rồi câm lặng. Dường như mẹ chồng đã không nhận ra nó, bà cười một cách ngu ngơ và hiền lành như đứa trẻ ở bên cu Bim. Nó dắt tay cu Bim bước về phía nhà ngoại, nỗi nghi ngại cứ lớn dần trong nó, nó còn mong ngóng ai, còn đợi chờ hay phấp phỏng điều gì nữa mà bước chân như ríu lại khi nghe tiếng líu lo vui vẻ của cu Bim. Đây là lần đầu tiên nó dẫn cu Bim về, nó im lặng giấu tuyệt đối cu Bim với quá khứ, vì nó sợ quá khứ sẽ cướp mất cu Bim khỏi nó, nhưng điều gì lại xui khiến nó dắt cu Bim về vào những ngày giáp Tết như thế này.
Xóm nhỏ vẫn không thay đổi mấy, có thêm vài căn nhà tách riêng ra trên mảnh vườn rộng của gia đình. Có lẽ xóm đã có thêm nhiều gia đình mới. Nhà của ngoại ở phía cuối con đường đất, cạnh khúc quanh sang nhà Lâm.
Lâm yên lặng nhìn nó, bộ đồ của Lâm nhàu nhĩ, đầy bụi đất. Lâm vừa bổ nhào đi tìm mẹ, bà Doan – từ ngày nó bỏ đi, mọi thứ thay đổi đến thế này sao? Lâm không còn mập mạp nữa, đôi mắt trũng sâu đến kì lạ, mọi kỉ niệm đã đóng thành vệt trong mắt Lâm sâu đậm đến nỗi không cần nói gì cũng lộ ra. Những kìm nén trong Lâm trở nên mềm hẳn đi khi chạm ánh nhìn vào nó, lặng im. Nó khẽ tựa vào cột và cũng chỉ biết nhìn vào Lâm không lảng tránh. Tiếng ú ớ đứt đoạn của bà Doan và tiếng cười nắc nẻ của Bim trong nhà đã lay động sự im lặng của cả hai. Lâm cúi mặt xuống nói khẽ “Anh đi tìm mẹ” rồi lầm lũi bước vào nhà. Cu Bim vẫn vui vẻ cười phía trong với bà cụ vừa gặp, chợt nhìn lên khi thấy bà níu tay chú người quen của mẹ mà ú ớ. Lâm đưa mắt nhìn cu Bim rồi bần thần quay lại nhìn nó, nó vội lảng tránh ánh mắt của Lâm rồi đi vội về phía bàn thờ ngoại. Nó không biết giải thích, nó không muốn giải thích, nhưng nó đang lâm vào tình huống cần được giải thích, ánh mắt của Lâm đã nói lên điều đó. Nó chầm chậm thắp một nén nhang lên bàn thờ ngoại, nghe tiếng Lâm hỏi cu Bim phía sau “con mấy tuổi rồi” mà thấy thót tim, mà quay lại trừng mắt nhìn Lâm, anh muốn làm gì? Nhưng Lâm không hề hướng mắt về phía nó mà chỉ nhìn thẳng vào cu Bim đợi câu trả lời của cu Bim. Nó thốt nhiên chạy ào về phía cu Bim ôm chầm lại như che chở, nó nghĩ Lâm sẽ lại giành mất cu Bim của nó, đó là điều không thể.
Khi nó đưa mắt nhìn lên, Lâm đã nắm tay bà Doan bước ra cửa, dáng đi của Lâm cũng nặng nề như của nó, trĩu xuống miền lo mà không san sẻ cùng ai làm nó nao lòng đến thắt lại. Bất chợt tiếng Lâm vọng tới mà không cần quay đầu lại, anh không nghĩ là em lại ác với anh thế, anh có lỗi nhưng đâu đến mức này. Nó chợt thấy tắc nghẹn trong cổ họng, nước mắt bỗng dưng dâng đầy lên mắt, rung lên những xúc cảm của ngày về không mong muốn, của ngày về nhận ra mình vẫn chỉ là yếu đuối và tự cao đến khổ sở. Nó vẫn cần ai đó che chở, vẫn cần ai đó gánh với nó những mối lo toan vụn vặt nó tự đè lên trên vai của mình. Đôi mắt nhòe đi của ngoại không phải chỉ vì mong muốn nó như thế này ư? Nó khóc ngon lành và oan uổng trong tay của cu Bim, tiếng nấc của nó khiến cu Bim hoảng sợ, phải lay gọi “mẹ, ai làm mẹ đau, sao mẹ lại khóc?”.
Lúc ngẩng lên, đã thấy Lâm ngồi bên nó tự lúc nào, nó gục vào vai Lâm trong nức nở. Sao mà phải đi cả quãng đường dài như thế này để nhận ra nó và Lâm đã trưởng thành.
Yên lặng lắm trong nhau, đôi tay Lâm quàng cả vào nụ cười rạng rỡ của cu Bim khi nó chợt nhắc “gọi ba đi con”.
14/2/2023
Lê Thị Kim Sơn
Theo https://vanvn.vn/

Những truyện siêu ngắn của Nhật Bản

Những truyện siêu ngắn
của Nhật Bản

Người ta tin rằng thời kỳ được công nhận rộng rãi và phát triển mạnh mẽ của thể loại truyện siêu ngắn trong văn học Nhật Bản rơi vào những năm 70 – 80 của thế kỷ 20. Các truyện giới thiệu ở đây được viết bởi Ekuni Kaori, Hirano Keiichiro và Kawakami Hiromi – những tác giả được công nhận là người sáng tạo ra văn xuôi “phẩm chất cao”. Và mặc dù các tác phẩm thuộc các thể loại chính đã mang lại danh tiếng lớn nhất cho các nhà văn này, nhưng trong danh mục sáng tác nổi tiếng của họ cũng vẫn cần phải kể tới những truyện ngắn “đặc biệt ít chữ”, theo tinh thần “kể cái này,cái kia một chút thôi”. Tuy nhiên,những sáng tác ngắn đó được tiếp thụ như những hình ảnh khác thường, đặc biệt của riêng thể loại này.
Trong các truyện siêu ngắn ấy vẫn chứa đựng một ý tưởng độc đáo, một cốt truyện hoàn chỉnh, và một số khúc ngoặt hoặc điểm nhấn bất ngờ mang đến cho một câu chuyện tính hấp dẫn đặc biệt,thậm chí ngay cả một ý nghĩa mới mẻ. Các truyện ngắn này cũng đáp ứng các yêu cầu về hình thức (tại các cuộc thi văn học cho các tác phẩm thuộc thể loại này, với độ dài tối đa được giới hạn ở bốn, đôi khi tám nghìn ký tự). Chỉ trong vài đoạn hội thoại ngắn, các nhà văn đã chuyển tải được cái bản ngã, sự hài hước nhẹ nhàng, kịch tính và tất cả điều đó không cần tới một sự bùng phá dữ dội, một sự can thiệp của các thế lực bên ngoài hoặc của các đấng siêu nhiên…
DỪNG LẠI!
Truyện ngắn của HIRANO KEIICHIRO
Sau khi rời khỏi phòng tắm, Yoshio đi lang thang một lúc qua các phòng – từ phòng ngủ đến phòng khách, từ phòng khách đến phòng thay đồ, bối rối xem xét mọi ngóc ngách của căn hộ mà anh có thể nhớ được. Khi nhìn vào phòng khách lần thứ ba, Satoko không nén được liền cất tiếng hỏi:
–  Có chuyện gì đã xảy ra thế?
Anh chồng ngẩng mặt lên, ư hừm và ngay lập tức nhìn đi chỗ khác, buông một câu ngắn gọn: “Không …”, và lại bắt đầu lo lắng nhìn xung quanh.
– Điện thoại di động à? Chị vợ hỏi đột ngột.
“Cái gì? .. À !” Yoshio cau có trả lời.
– Em giữ hộ anh mà !
Nói mấy lời đó, người vợ đặt điện thoại di động của chồng lên bàn. Điều đó khiến anh chồng như ngạc nhiên một lần nữa. Và anh chồng, gần như một cách máy móc hỏi vợ:
– Mà tại sao em giữ điện thoại của anh nhỉ?
– Anh biết không, em chợt nghĩ, tại sao em và anh không đổi điện thoại cho nhau trong ba ngày tới nhỉ?
– Satoko nói một cách khô khan rồi đặt điện thoại của mình bên cạnh điện thoại của chồng. Yoshio đã ngạc nhiên lần thứ ba.
– Mà để làm gì?- Quá đơn giản! Có một chuyện gì đó tương tự vừa chiếu trên Tivi gần đây. Họ nói rằng đó là một cách để xây dựng lòng tin giữa vợ chồng. Các chị bạn của em thì bảo nên thường xuyên kiểm tra điện thoại của chồng, nhưng em không thích làm như thế! Yoshio trở nên lạnh lùng, những điều khủng khiếp như vậy đã được nói ra bởi vợ của anh sao. “Mình không biết đây là loại chương trình truyền hình nào, nhưng việc chia sẻ những điều “thông thái” như vậy với khán giả là không cần thiết chút nào… Hoặc có thể chính bà vợ mình đã nghĩ ra điều này? Cũng đáng ngờ chứ!. Nhưng tại sao cô ta đột ngột nói ra hôm nay? Cô ấy đã phát hiện ra mọi chuyện rồi sao? Nhưng bằng cách nào? Khi nào? Trong mọi trường hợp, phải bác đi hết… ”
– Không có gì sẽ xảy ra đâu – cô vợ tự xét đoán:- cũng có thể đó là những cú phôn định kỳ gọi cho anh ấy từ nơi làm việc. Anh chồng cố gắng hết sức để tạo cho mình một vẻ bình tĩnh, thậm chí còn mỉm cười với vợ. Satoko cũng mỉm cười đáp lại. “Nhưng dịp lễ bắt đầu từ ngày mai, cả ba ngày nghỉ, phải không? Bản thân mình không muốn can thiệp vào công việc của anh ấy nên mình đặc biệt chờ đợi một cơ hội. Tất nhiên, nếu cơ quan anh ấy bất ngờ gọi điện tới, mình sẽ báo ngay cho chồng. Vì vậy, sẽ chả có bất kỳ vấn đề gì cả…
– Đúng, em biết đấy…- Hình như có chuyện gì không ổn? Vào lúc đó, Yoshio nhận ra thoáng lóe sáng hơi lạ trong mắt vợ.- Không! Không có gì! Không sao cả! Chỉ là…
– Anh đừng quá lo. Em sẽ không để mắt vào danh sách các địa chỉ anh thường liên hệ đâu. Em sẽ chỉ nhận tin nhắn và trả lời cuộc gọi, thế thôi!” Có nghĩa là “chỉ nhận tin và thế thôi”à? Chà em yêu! Em có thể lắm, nhưng đừng nghĩ tới điều gì tồi tệ hơn nhé!..”. Và tưởng tượng tới cái kết cục đáng buồn nhất có thể xảy ra, Yoshio cảm thấy mặt đất như sụp đổ dưới chân mình. Sẽ làm gì đây? Có thể giả vờ tức giận: chả lẽ anh không xứng đáng với sự tin cậy của em sao?. Ngay sau đó, chiếc điện thoại di động của Yoshio vẫn nằm trên bàn bỗng đổ chuông. Nghe thấy giai điệu cuộc gọi được thiết lập đặc biệt, anh chồng mặt bỗng trắng bệch như tờ giấy. Satoko, không nói lời nào, đưa tay với lấy điện thoại với vẻ mặt ngơ ngác như cũ. Nhưng anh chồng, không thể chịu đựng được nữa, đã hét lên:
– Dừng lại! Không được trả lời! – Sao thế? – Đã bảo không là không! Cặp vợ chồng trao nhau những cái nhìn dài đầy biểu cảm. Một chuỗi ngày nghỉ lễ kéo dài bắt đầu…
VA ĐẬP
Truyện ngắn của KAWAKAMI HIROMI
Sakiko ngáp lần thứ năm trong vài phút vừa qua. Sau lưng cô là Etsushi. Theo nhẩm tính của anh, đó mới chỉ là lần ngáp thứ ba.
Chú mèo tên Mi đi giữa dòng người chen vai thích cánh. Đầu tiên, nó quẩn quanh dưới chân Sakiko, sau đó nó nhảy lên nấp vào ngực Etsushi.
– Này, Mi- Sakiko gọi. Nhưng Mi không rời bỏ Etsushi. Người đàn ông vuốt ve lưng nó. Con mèo rên lên sung sướng.
Sakiko nói:
– Hãy lắng nghe tiếng mèo kêu, từ con mèo này tới các chú mèo khác.
– Hôm nay chỉ nghe tiếng mèo thôi, phải không?- Etsushi tán thưởng. Và ngay lập tức cả hai – cả Sakiko và Etsushi – cùng ngáp: sáu – bốn.
Cái ấm đun nước đặt trên cái bếp nhỏ, cất tiếng kêu vừa đủ nghe. Nếu từ độ cao nhìn vào tấm thảm điện tử che chở cho Sakiko, Etsushi và Mi, bao phủ toàn căn phòng, thì các hình người trên tấm thảm kẻ ô vuông đó nom giống như những chiếc chìa khóa vẽ khéo léo: cái thứ nhất ngửa lên,cái thứ hai úp xuống xuống (chìa khóa ngửa lên là Etsushi và Mi, chiếc chìa úp xuống là Sakiko).
– Hình như em đang thiu ngủ – Sakiko nói khẽ. Etsushi không trả lời. Từ phía anh vang tới tiếng động nhẹ.
Nhổm lên khỏi tấm thảm, con mèo Mi cong người, phóng chạy theo kiểu mèo- duỗi thẳng chân sau, rồi sải dài chân trước, buông khỏi Etsushi, phóng về phía bếp. Bước xuống tấm thảm ấm áp lát ván sàn, con mèo kêu lên meo meo. Tiếng ngáy của Etsushi giảm dần, thay vào đó là tiếng thở sâu như đếm được của người đã bước vào giấc ngủ. Xa hơn một chút, hơi thở của Sakiko đều đều, nhẹ hơn và yên tĩnh hơn. Đồng hồ Westminster điểm bốn giờ bốn phút, Mi nhảy từ chiếc tủ kê sát tường sang tủ lạnh. Cái ấm đun nước kêu lên một lần nữa rồi tắt lặng. Đang là nửa sau của một ngày chủ nhật nhiều mây. Khoảng ba mươi phút sau, Sakiko là người đầu tiên mở mắt. Nằm bất động thêm chút nữa, cô đưa mắt chăm chú ngắm nhìn gương mặt Etsushi.
– Chà, lông mi dài thật!- Sakio lẩm bẩm.Etsushi khẽ động đậy. Sau đó anh hít một hơi thở dài trong giấc ngủ…
– Dậy đi anh!- Sakiko gọi. Hai bờ mi Etsushi khẽ rung rung, nhưng mắt vẫn nhắm.
– Nào, dậy thôi. Anh có biết mấy giờ rồi không?
– Sakiko tiếp tục. Etsushi lầu bàu trong miệng, quay lưng về phía Sakiko. Đưa tay ôm lấy đầu, Etsushi tiếp tục ngáy. “Thế nghĩa là ra sao hở…!” nói mấy tiếng đó Sakiko đứng lên… Ngồi trên tủ lạnh Miu quan sát hai người: nheo nheo cặp mắt mèo, Mi nhìn họ, mắt càng mở to hơn. Sakiko rùng mình vì lạnh. Mở to mắt, rồi Sakiko nheo mắt lại, và mở ra một lần nữa. Giống như Mi. Và ngay lập tức, không chậm trễ hơn nữa, Sakiko đi ra hành lang và lấy từ một chiếc tủ nhỏ đứng ở đó chiếc áo khoác. Chậm rãi luồn tay vào tay áo, cô quấn quanh cổ chiếc khăn màu nâu của Etsushi để lại trên hộp giày. Cố gắng không gây ra tiếng động nào, Sakiko mở cửa trước, xỏ chân vào giày thể thao rồi đi ra ngoài. Khi cánh cửa nhẹ nhàng đóng lại, Sakiko ngồi xổm xuống, mang giày thể thao vào đúng cách và buộc dây giày.Nghe thấy tiếng Mi kêu “meo, meo”, cô ngẩng đầu lên.
– Ôi, Mi, mày cũng ra đây à?- Sakiko ngạc nhiên và mỉm cười. Nhưng gần như ngay lập tức cô thở dài, khóe môi lại rũ xuống.
– Chị đi mua con dấu đây, em có đi cùng chị không? Sakiko nói với con mèo, và sải bước về phía trước. Tuy bước đi của Sakiko ngắn nhưng cô bước khá nhanh: bước đi của Etsushi dài hơn, anh ấy luôn hăm hở lao về phía trước. Vì vậy dáng đi của Sakiko đã hoàn toàn thay đổi, trở nên sống động hơn rất nhiều.
– Hóa ra chị với cậu chủ của Mi cũng đã sống bên nhau 5 năm rồi – Sakiko nói nhỏ và bước nhanh hơn. Chỉ một lúc sau, chú mèo đã cố gắng theo kịp và chạy cạnh Sakiko, nhưng cuối cùng, khéo léo quay đầu lại, con mèo đã chạy theo hướng ngược lại. Gió rít bên tai Sakiko.
– Em đã về rồi – Sakiko nói khi mở cửa trước. Không khí ấm áp ngay lập tức tràn ngập lồng ngực cô. Có mùi thức ăn phảng phất trong nhà, như thể ai đó đang hầm bắp cải. Chắc hẳn đó là lời tạm biệt với món hầm của ngày hôm qua.
– Mừng em đã về – Etsushi nói.- Anh dậy chưa?
– Rồi.Cái áo khoác của Etsushi đã được cài hết cúc. Và mái tóc ngắn – cho đến gần đây, trong khi ngủ, chúng trông như bết dính vào nhau và bóng mượt – bây giờ được cắt bằng kiểu húi cua đẹp đẽ.
– Đến giờ rồi à? Sakiko hỏi.
– Vẫn còn hai mươi phút nữa – Etsushi trả lời, nhìn quanh căn hộ – Con Mi đâu rồi? Giải thích rằng con mèo đã đi dạo, Sakiko lấy trong túi ra chiếc túi giấy có logo của một cửa hàng cung cấp đồ dùng văn phòng. Cô bắt đầu gỡ mép được dán bằng băng dính và nhưng không thể được, cô đã xé gói hàng. Etsushi im lặng theo dõi nhất cử nhất động của cô.
– Đừng nhìn! Sakiko yêu cầu. Và, ngạc nhiên, cô nhìn lên: chính cô cũng không ngờ lời nói của mình vang lên lảnh lót đến như vậy.
– Bỏ qua đi!- Etsushi xin lỗi. Không đáp lại, Sakiko quay đi.
– Đừng khóc- Etsushi nói, và nhíu mày, đến lượt anh ngạc nhiên trước giọng điệu căng thẳng của chính mình.Lầm bầm rằng mình không rơi nước mắt, Sakiko cầm lấy con dấu trên tay phải và nói: “Đúng vậy, càng nhiều càng tốt! Hãy tin chắc ngay bây giờ. Tờ giấy này sẽ đi đâu vậy?… ” và bước thẳng đến bàn ăn. Sakiko hoàn toàn biết rõ rằng các tờ giấy đã ở đó từ tối hôm trước, nhưng vẫn càu nhàu, tự hỏi chúng có thể ở đâu.
– Mượn miếng thấm mực- Sakiko nói, quay sang Etsushi. Cằm của cô ấy hơi hếch lên. Chính cái miệng hơi cong như lúc này và bờ cằm cao vút của cô mà Etsushi đã từng nói: “Hình ảnh đẹp nhất của Sakiko”.
Bây giờ, nhìn Etsushi đang cúi xuống tìm miếng thấm mực, trong vài giây cô bỗng nhớ tới lời khen của anh.Nhưng Sakiko vội lắc đầu. Sau khi họ phải trải qua cùng một con đường một hoặc hai lần, tiếp một lần nữa, một lần nữa trải qua những trận chiến khốc liệt và sự thù hằn lẫn nhau được giải quyết bằng những khoảng tạm im lặng, giống như sự trống rỗng về tinh thần, Sakiko bỗng nhiên nhớ nhiều hơn cuộc sống thanh bình trước đây: Etsushi trêu đùa cô ra sao; với ngữ điệu nào họ từng gọi nhau bằng tên.Lầm bầm trong miệng hai tiếng “Cảm ơn”, Sakiko ấn con dấu vừa mua vào miếng thấm mực do Etsushi đưa cho, rồi ngay lập tức ấn mạnh con dấu lên một tờ giấy mỏng khổ lớn, mặt trên của tờ giấy có dòng chữ bằng mực xanh: “Đơn xin ly hôn”. Sakiko vội ký tên mình bằng bút bi và đưa tờ giấy cho Etsushi. Anh cầm lấy, kiểm tra cẩn thận. Còn Sakiko thì nghĩ rằng ở văn phòng, có lẽ Etsushi đã đọc kỹ tất cả các giấy tờ cần thiết. Đọc xong, Etsushi cẩn thận gấp tờ đơn lại, cho vào một phong bì màu trắng và bỏ vào túi áo ngực.
– Còn quên gì nữa không? – Sakiko hỏi. Đồ đạc của Etsushi đã được chuyển đi trước bữa trưa bằng dịch vụ vận chuyển. Căn hộ bây giờ trống không.
– Em quyết định chọn căn hộ mới rồi à?
– Etsushi như hỏi bằng một chính câu trả lời. Sakiko lắc đầu miễn cưỡng: muốn tìm một căn hộ có thể giữ lại con mèo, nhưng không tìm ra.
– Nghe này, anh có chắc là không thể đưa Mi đi cùng được không?- Sakiko nói cộc lốc.
– Cô ấy dị ứng với mèo- Etsushi đáp và đưa mắt lướt nhanh về phía Sakiko. Ngoài ra hoàn toàn không có phản ứng gì khác.
– Nhưng chính anh đã đòi mang Mi theo.
– Đúng thế!- Etsushi nói với giọng ấm áp- Đúng thế thật…
Etsushi nói đã đến lúc phải đi. Và nói thêm rằng các cột liệt kê dành cho các nhân chứng, theo các quy định, sẽ được điền bởi những đồng nghiệp của anh ta. Sakiko gật đầu lơ đãng. Xách chiếc túi du lịch lớn, Etsushi đứng dậy. Sakiko, cũng lập tức đứng lên như thể ai đó kéo cô theo.Sakiko đưa tiễn Etsushi ra hành lang. Etsushi nghĩ ngợi giây lát rồi bước đi. Cánh cửa gần như đóng lại khi một tiếng meo meo vang lên. Sakiko nhìn xuống dưới chân. Mi đứng ở ngưỡng cửa, vươn cổ, ngước nhìn bà chủ.-Con về lúc nào thế?- Sakiko hỏi và ôm Mi vào lòng. Con mèo xoay người, muốn trườn ra. Nhưng Sakiko không buông tha Mi, ôm chặt Mi vào lòng.
– Ông chủ bỏ đi rồi! – Sakiko nói, hai tay vẫn cầm hai bàn chân của con mèo. Mi tiếp tục vẫy vùng. Sakiko thở dài một lần nữa. “Ông chủ bỏ đi rồi”. Sau đó Sakiko buông con mèo xuống sàn. Con mèo quay lưng về phía bà chủ với vẻ mặt giận dỗi. Và cong chiếc đuôi lên như một dấu hỏi. Một lúc sau khi Sakiko vào bếp, Mi đang ngồi trên tủ lạnh với vẻ mặt không hài lòng: hai bàn chân trước của nó chụm vào nhau như đang cầu nguyện,ngực và đầu hướng về phía trước, sống lưng như vươn thẳng ra – hệt bức tượng của một nhân sư, và không có gì hơn thế. Sakiko cầm con dấu đang nằm trên bàn: một hình trụ nhỏ, dài không quá ngón tay út, màu be. Cô xoắn con dấu giữa các ngón tay như một trò chơi. Mi không ngừng theo dõi bàn tay của bà chủ.
– Đừng nhìn!- Sakiko nói.
“Meo meo”- Mi trả lời. Nắm chặt con dấu trong tay, Sakiko nâng khuỷu tay lên và đứng ở vị trí của một vận động viên bóng ném chuẩn bị tung quả bóng đi. Cô ước lượng khoảng cách đến sọt rác và rút tay lại về phía sau xa hơn nữa.Sau đó cô dùng lực ném mạnh con dấu: vẽ một vòng cung nhẹ nhàng, con dấu bay đi theo hướng đã định. Sakiko nhắm mắt lại. Một thoáng sau, cô nghe thấy tiếng gỗ va vào nhau: cạch..cạch..Con dấu đập vào thành và đã rơi xuống đáy sọt rác..
– Va đập rồi! Sakiko thì thầm, mắt vẫn nhắm nghiền. Từ phía tủ lạnh, như để đáp lại, phát ra một tiếng meo meo.
ĐÊM, VỢ VÀ NHỮNG ĐỒ GIA DỤNG
Truyện ngắn của EKUNI KAORI
Vợ tôi nói rằng cô ấy muốn bỏ tôi. Vậy hai đứa phải thương lượng gì đây?
Tối muộn, đã mười một giờ. Tôi bị vắt kiệt như một quả chanh. Lấy nhau được 5 năm rồi, không con cái.
Cô vợ tiếp tục. Có thể, cô ta nói mà giả vờ như không biết đang có chuyện gì xẩy ra giữa chúng tôi.Nhưng dù có nhắm mắt trước những gì cần giải quyết thì những vấn đề ấy cũng không thể tự giải quyết được.
Bởi vì tôi không trả lời, im lặng nhìn vào màn hình nên vợ tôi đã tắt tivi. Tôi không mảy may biết rằng tôi đã nhắm mắt và mọi chuyện cứ xẩy ra mà không có sự tham gia của chúng tôi. Nói chung, mọi thứ vẫn như mọi khi.
Vợ tôi đứng ngay cạnh, chắn ngang con đường tôi có thể tháo lui, liếc nhìn tôi không hài lòng. Tôi nhận ra rằng lớp sơn móng chân của cô ấy đã bong mất một nửa.
– Em cần sơn lại móng chân đấy!
– Tôi đề nghị. Sơn đã hết, và không thể sơn được. Có lẽ đó là lý do tại sao cô ấy nổi giận?Giọng tôi có vẻ hy vọng xen lẫn cảm giác nhẹ nhõm. Cô vợ lắc đầu.
– Chà, vậy thì những hình vuông bằng bông này của anh – mỗi khi tôi đề nghị thay chúng bằng khăn ăn, anh lại trả lời rằng điều này là hoàn toàn không thể – có nghĩa là chúng đã hết. Người vợ thở dài: không, cô ấy trả lời, tôi không nói về điều đó bây giờ. Và nước tẩy sơn móng tay, và miếng lót – mọi thứ đều ở đó! Và móng tay của tôi trông như thế này bởi vì tôi luôn bận rộn và tôi không có thời gian chăm sóc bản thân.Thời gian? Mọi thứ, trên cả hai bả vai.Tôi yêu vợ và cố gắng là người bảo vệ, làm chỗ dựa cho cô ấy. Nhưng bạn biết làm sao nếu bạn cần một thứ gì đó mà bạn không mua được trong cửa hàng tiện lợi? “Nghe này, anh nghĩ anh và em cần phải chia tay nhau. Nhưng chắc chắn chúng ta sẽ vẫn là bạn tốt của nhau! Tôi khá chán ngấy vì điều đó. Có vẻ như sẽ không thể ngả lưng yên ổn trong đêm nay.
– Còn bao nhiêu túi rác? Mà có còn nữa không?Tôi quyết định thể hiện hết mình với tư cách là một người chủ gia đình và một người chồng chu đáo. Điểm đáng chú ý nhất ở vợ tôi là cô ấy rất sẵn lòng trả lời các câu hỏi. Không quan trọng là cô ấy đang tức giận hay đang rơi nước mắt, nếu một câu hỏi được đặt ra, người phụ nữ này dứt khoát sẽ trả lời liền.
– Còn nước tẩy? Sữa? Pepsi ăn kiêng? – Tôi đã liệt kê những thứ mà cô ấy thường cần.- Túi chứa rác thì còn nhiều.Sữa rửa mặt thì chỉ còn một lọ – lọ mà tôi đang dùng bây giờ đây. Sữa và Pepsi thì còn. Nhưng tất cả những thứ đó  không mảy may liên quan gì đến những gì mà tôi muốn bàn bạc với anh! Hãy lắng nghe những điều tôi đang nói! Nhưng tôi không nghe. Tôi đã xỏ giày bước ra hành lang. Bỏ lại sau giọng la hét của vợ – những câu “chờ” và “nghe” không dứt của cô ấy – tôi bước ra phố và đi đến cửa hàng tiện lợi. Ánh điện hắt ra từ cửa sổ của các tòa nhà dân cư. Loại sữa rửa mặt yêu thích của vợ được bán trong bao bì màu hồng. Xung quanh có rất nhiều chai màu hồng. Tôi đã lấy năm lọ. Tôi cũng mua Pepsi ăn kiêng và sữa. Và túi đựng rác và nước tẩy móng tay. Và bông gòn hình vuông này. Tôi cũng mua luôn cả chổi quyét nhà.
Cuối cùng việc mang xách hóa ra cũng không dễ chút nào. Vì vậy, tôi thậm chí lại lo lắng nếu các gói hàng sẽ vỡ ra, rơi vãi ở đâu đó trên đường về nhà.Vợ tôi gặp tôi ở cửa với vẻ mặt vô cùng buồn bã:
– Tha lôi ở đâu ra nhiều như vậy? Số lượng hóa ra có ý nghĩa..Cô ta thở dài khi sắp xếp lại các gói hàng và đặt từng món một lên bàn. Sau cùng, cô ta lại cất tiếng- nói mà không cần ai nghe- Tôi đã nói với anh rồi,ở nhà còn Pepsi. Còn sữa. Và cả túi đựng rác nữa…Rồi đột nhiên cô ta nở một nụ cười:“Chà, tại sao chồng của tôi lại ra thế này hả? Anh không nghe thấy tôi nói gì cả sao? Và trên tay cô ấy là lọ nước tẩy sơn móng tay.Bà vợ của tôi đã cầm lên tay lọ nước ấy…
16/2/2023
Tô Hoàng dịch
Theo https://vanvn.vn/

Những sai lầm được tha thứ

Những sai lầm được tha thứ

Khi người đàn bà mất hút trong màn đêm, tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Ngày hôm sau, theo lời hẹn đã nhắn cho ông Viên, tôi lên Facebook cả ngày đến mấy lần để tiếp tục câu chuyện nghiêm túc và bàn về trách nhiệm, không đùa giỡn như ngày trước. Nhưng trang Facebook của ông ấy đã tắt đèn hoàn toàn. Tất cả chìm vào khoảng trống hư vô mênh mông…
– Chiều nay có bận việc gì không, tôi có chuyện muốn nói – Viên, tên của một nick trên mạng tình cờ gặp, rồi kết bạn đã nhiều năm, chưa gặp mặt ngoài đời bao giờ, qua vài lần tương tác thấy hợp, nên hay nói chuyện đủ thứ trên trời dưới đất, tránh nhàm chán, muốn cuộc sống phong phú thú vị hơn. Hôm nay Viên đang muốn nói chuyện gì khác mà có vẻ nghiêm túc, ràng trước mới nói sau nhỉ? Tôi đang nghĩ ngợi, loay hoay sắp xếp mọi thứ để kết thúc công việc của một ngày cuối tuần. Không gian ở miền núi, trung du thường đến tối nhanh hơn ở thành phố và đồng bằng.
– Chuyện gì quan trọng không anh ơi, vẫn chuyện lẩu hàng ngày của chúng ta, nhỉ?
Tôi nói, rồi cười, những câu chuyện không đầu, không cuối thường ngày, nhắn hỏi lại qua loa cho có không khí, chẳng có gì quan trọng, trêu đùa vui là chính. Tôi nghĩ vậy, gọi nick name này bằng “anh” theo thói quen khi thấy chữ “nam” ở phần giới thiệu giới tính, thực tế không biết người bạn này bao nhiêu tuổi, nghề nghiệp gì, phần kê khai để trống, chắc đã ẩn, giấu kín. Hai người giao ước ngầm không bao giờ gọi nhau qua video Zalo hay Messenger. Khuôn hình ảnh đại diện chỉ thấy duy nhất bông hoa tím đang nở rực rỡ, địa chỉ cũng không có, hình như đang ở một nơi nào đó xa lắm trên trái đất đầy bí ẩn. Tôi cảm nhận vậy, và cũng chỉ đoán lờ mờ như thế, dừng hiểu biết thông tin về nhau ở mức độ đó. Trong các bài viết Viên đưa lên Facebook ít khi có hình ảnh chân dung về chủ tài khoản, nếu có, chỉ hình đám đông lao xao minh họa cho khỏi trôi bài. Qua nói chuyện, nhắn tin có lúc gọi tôi bằng “O”, có lúc bằng “Em”. Tôi tự hiểu đối tác sinh ra tại miền Trung qua cách xưng hô, nơi đó mưa gió lũ lụt, hạn hán và đói nghèo quanh năm. Trao đổi hàng ngày Viên thường hỏi: Quê nhà có gì mới không em? “Cửa bể chiều hôm” có nhiều thuyền về tấp nập cá đầy khoang? Cá thửng, cá thèn, cá thu có tràn trề rổ rá theo các bà các chị tỏa về mọi nơi không? Lúa, ngô, khoai, lạc có được mùa hơn mọi năm? Có lúc tôi trả lời, lúc không, đôi khi nghe rồi ngủng ngoẳng cái đầu: Sao anh không về quê hương mà cứ hỏi… vu vơ, thông tin bây giờ đầy trên mạng, báo chí cũng nhiều mà? Viên cười chảy nước mắt bằng hình ảnh động Zalo rồi nhắn tin: Thông tin có nhiều, nhưng trực tiếp biết từ nhắn tin của người quê hương, độ chính xác không báo chí nào bằng.
Tiếng nói, nụ cười, ánh mắt, lối sống chân thành dân dã, mộc mạc ấm áp đã làm nên chính danh quê hương đó O à?
Biết thế thôi, ít khi tôi hỏi kỹ về cội nguồn của bạn qua online. Quan hệ trên mạng vốn ảo mà. Hôm nay biết vậy, ngày mai biến mất, “sắc sắc không không” tìm hiểu nhau kỹ càng khác chi tìm chim, rắc rối thêm cuộc sống. Chúng tôi vốn chuyện trò theo thói quen, kiểu cảm hứng, được chăng hay chớ, chuyện bà rằn về cuộc sống muôn nơi: Nông thôn vừa có lũ lụt, thiệt hại vô cùng cả người và của; đô thị giá cả các mặt hàng đồng loạt tăng; chuyện về dịch Covid đã bão hòa; người nổi tiếng cặp bồ bị bắt tại khách sạn; kẻ có chức quyền xâm hại trẻ con ngay trong cầu thang; vụ anh em, mẹ con trong một gia đình phóng xăng đốt do tranh chấp đất đai; các vụ tham ô, tham nhũng, công tác từ thiện giúp đỡ nạn nhân do hỏa hoạn, mưa bão… vv được nhắc nhở hàng ngày. Tuyệt đối không bao giờ hỏi chuyện riêng tư của nhau.
– Hôm nay là một câu chuyện nghiêm túc đây à nha, quan trọng là O có bận không thôi, hay lại đang chuẩn bị tất bật ra chợ mua cá trích nấu canh lá lằng thôi nhỉ?
Một câu nhắn, kèm theo hình ảnh động đang cười phô bộ răng trắng, bất chợt, tôi cũng cười theo. Mà, sao người này biết trước tôi đi chợ mua những gì theo sở thích được nhỉ? Viên đang muốn nói chuyện gì? Hình như gã biết nhiều về bạn Facebook là tôi đã nhiều? Tôi nhìn đồng hồ mới hơn bốn giờ chiều, mùa đông đang đến sầm sập, bao việc đang chờ đợi cần phải làm ngay để chuẩn bị vào đêm.
“Ngái ngôi chi mà anh nỏ về” – Lời tiếng hát theo giọng quê tôi được cài vào điện thoại thay chuông bỗng vang lên (Xa xôi chi mà anh không về). Chữ “Mẹ” hiện lên ở phần danh bạ. A lô, chuyện chi đó mẹ? Hôm nay về nhà sớm nha, ăn cơm để còn tham gia cuộc họp xóm bình bầu gia đình nghèo nhận hỗ trợ. Xóm trưởng đã gọi. Chuyện này thì tôi đã rõ. Tháng trước, mưa bão qua rồi, nhưng lũ lụt lại tràn về do tích nước ở các nhà thủy điện, không chịu nổi, phải xả. Tức nước vỡ bờ, ào ạt đổ về như vũ bão, nhiều nơi không lường, tính trước, trôi cả nhà cửa, đến tội. “Lá lành đùm lá rách”, “Chị ngã em nâng”, dân giúp dân lúc khó khăn chứ ai vào đó nữa. Cơ khổ. Cuộc họp xóm tối nay không thể vắng được. Họp để bàn cách giúp người hoạn nạn vất vả nhọc nhằn để vươn lên, không giúp người ta thì lúc vận đen đến mình, ai giúp?
Tíc tắc, tíc tắc tiếng chuông tin nhắn từ điện thoại, Viên hỏi O về nhà chưa? Nơi tôi đang ngồi gần mười hai giờ rồi O ạ? Thôi chết, tưởng Viên đã tắt máy rồi, hóa ra đang chờ mình trả lời. Tôi nhắn lại, có chuyện chi đó anh ơi? À, O có biết Mộc không? Một người bạn thân với tôi từ thuở ấu thơ, nó mất rồi. Mất trôi trong lũ lụt vừa qua, tôi muốn nhờ O một chuyện. Mộc nào? Tôi nghĩ mãi. Tên người thì nhiều, anh Viên cho biết thêm thông tin nữa đi. Tin nhắn ở điện thoại lại hiện lên dòng chữ: Mộc, một cựu chiến binh bị lũ cuốn trôi do cứu người trên địa bàn đang cư trú đó.
Trời, Mộc là một người tôi quen biết trong xã hội, đã từng gặp giao lưu vài lần do tình cờ không thân thiết. Ông ta là cựu chiến binh, sống với vợ và hình như có hai đứa con trai rất đẹp, bảnh bao, ngoan hiền. Đôi mắt ông Mộc rất buồn như có điều gì đó đang day dứt trong lòng nhưng chưa nói ra, dù rằng bản thân năng nổ hoạt bát với công việc chung, sẵn sàng hy sinh vì tập thể. Và đen đủi, ông đã qua đời hôm lũ ống tràn về cuốn theo tài sản, bao người trở tay không kịp. Ông Mộc nhanh tay lao theo dòng lũ cứu người đang bị đuối nước chơi vơi. Ông cứu được đồng loại, nhưng lũ đã lấy ông thế mạng. Đau xót quá. Tiếng kêu khóc ai oán suốt mấy ngày mưa bão vì mất nhà, mất cửa, mất cả người thân. Báo chí và trang mạng đưa tin khắp nơi. Có lẽ vì thế nên Viên biết tỏ tường về Mộc chăng? Có điều, giờ tôi mới biết Viên quan tâm tới Mộc và dân quê tôi. Nhưng Viên biết để làm gì? Có điều gì liên quan tới một con người qua đời chăng? Viên muốn nhờ là điều gì mà có vẻ như đang… khuất tất? Tôi tò mò nhắn hỏi Viên đã gặp Mộc ngoài đời chưa? Đã kết bạn Facebook chưa? Chưa O ạ, Mộc không lập Facebook, tôi chỉ biết vợ ông ấy và những đứa con đang ở với mẹ. Thôi chết, càng hỏi, tôi càng thấy rắc rối về các mối quan hệ của họ như mớ bòng bong vô định.
“Ngái ngôi chi mà anh nỏ về…”. Lời hát ngọt ngào mộc mạc chân quê từ điện thoại lại vang lên lần nữa. Tính mẹ hay lo, việc gì chưa làm được là bà cứ đi vào đi ra, ăn không ngon, ngủ không yên, cho dù chỉ là việc nhỏ nhất. Mẹ báo tin về nộp tiền điện, tivi, wifi đã quá hạn gần tuần rồi, nhân viên đang chờ. Chiều tối còn có cuộc họp, con quên rồi à? Hôm nay quan trọng, bắt đầu vào cuộc sớm đó con ơi. Tiền tivi, điện, nước mới nộp chưa lâu, sao hôm nay lại đến thu nữa, không biết có nhầm lẫn không nhỉ? Mà có lẽ từ giờ nộp các loại tiền bằng cách chuyển tài khoản khỏe hơn, đỡ nghe điện thoại lích kích suốt ngày gọi, mất thời gian nghe quá. Thế này thì phải dừng câu chuyện với Viên ở đây thôi nhỉ, có gì lưu bút, nhắn tin, ai lên Facebook tương tác sẽ nhận thấy. Ngày mai câu chuyện sẽ tiếp tục, đi đâu mà vội. Tôi nghĩ vậy, nhắn tin vội vàng cho Viên, tắt Laptop, gập sổ làm việc, rồi khóa cửa. Kết thúc của một ngày làm việc.
Cuộc họp xóm dân cư gần như đông đủ, không khí ảm đạm, buồn bã, hậu quả lũ lụt vẫn còn trước mắt mọi người. Nhà cửa đổ tan hoang, tài sản trôi, vật nuôi chết đã chôn, giải quyết xong, nhưng thứ mùi khăn khẳn khó chịu sau mùa mưa bão còn lưu. Đau lòng hơn, ông Mộc, cựu chiến binh, qua đời ngay trên mảnh đất sinh sống do cứu người bị đuối nước thành công, nhưng chính ông lại không qua khỏi. Giờ, phải xử lý những vấn đề còn tồn đọng. Nhiều tiếng nói lao xao. Hỗ trợ cho nạn nhân bị thiệt hại do thiên tai bằng quần áo, vật dụng, tiền bạc, làm lại nhà cửa đã trở thành thói quen, có cần bàn thêm những vấn đề gì nữa mà ầm ĩ vậy? Có người lên tiếng nói ủng hộ nộp tiền ngay và luôn, năm trăm ngàn nhé. Người khác nói, tôi cũng vậy. Người nữa hô lên, tôi một triệu, nhớ ghi tên vào sổ không lại phải tiếp các vị đi vận động lần nữa. Có tiếng cười nhôn nhao, tiếng người cự lại tóe ra trong cuộc họp. Hầu hết, đa số đóng góp bằng tiền, quần áo cũ quyên góp sau, coi là nghĩa vụ với cộng đồng.
Người làm công tác Mặt trận ghi tên vào sổ, thu tiền không kịp. Đến chín giờ tối, cuộc họp kết thúc, ai về nhà nấy, thì con người biết làm gì về cách đối phó với thiên tai, dịch dã bằng cách đóng góp của ít lòng người, lá lành đùm lá rách.
Tôi là người về cuối cùng của cuộc họp, không phải, đang còn một người đàn bà nữa đang loay hoay chưa về hay họ vừa tới mà tôi không để ý? Hình như lần đầu tiên tôi gặp bà trong không gian phòng họp này. Đó là một người đàn bà, cho đúng hơn là gương mặt một bà già hiện ra. Bà đẩy mũ liền áo ấm đang che đầu về phía sau, hiện ra mái tóc trắng toát, da mặt cũng trắng, vì ăn trầu nên môi bà đỏ chót, đôi mắt đen nổi rõ sâu hun hút đầy khó hiểu sâu thẳm. Bà già tự nhiên ngồi vào ghế, hỏi thì thào, tôi ngồi ở đây được không cô? Vâng, bà cứ ngồi tự nhiên. Cô có biết ông Viên không nhỉ? Viên nào? Có phải người bạn trên không gian mạng chiều nay vừa nói chuyện với tôi? Đúng vậy cô, chính người đàn ông đó đã nói với tôi nên gặp cô, một con người có hiểu biết sẻ chia với con người. Ôi, hóa ra trên cõi đời này vẫn có người để ý đến tôi? Và ông Viên với người đàn bà này có mối quan hệ từ lâu, mà tôi không hề biết? Cả hai người này đã hiểu về tôi? Ôi, cuộc sống của màn hình phẳng, không thể giấu kín được gì khi con người đã muốn tìm hiểu về nhau? Đúng, đúng như vậy, tôi có biết ông Viên. Tôi luống cuống thừa nhận thông tin với người đàn bà vừa xuất hiện. Không gian của trời khuya, lành lạnh, chuyện trò với người chưa thân thiết, chưa hiểu biết về nhau nên có cái gì đó gờn gợn, mông lung thiếu tự tin.
Bà già chợt nhếch môi nhè nhẹ: Cô chưa biết lý do vì sao tôi lại xuất hiện ở đây phải không? Tôi là vợ ông Mộc, về danh nghĩa như vậy. Vì sao tôi biết cô? Do ông Viên mách mối dẫn đường thôi. Chuyện hơi dài dòng chút, tôi không phải thành viên của cuộc họp hôm nay. Tôi tìm đến địa chỉ này chờ cô mãi, chờ cuộc họp tan có chuyện muốn nói với cô.
Trời đã hơi khuya, tôi nhìn đồng hồ. Từ điện thoại lại vang lên tiếng hát: “Ngái ngôi chi mà anh nỏ về” âm thanh nhắc nhở giục giã. Giọng mẹ ngái ngủ khuya rồi, họp đã tan, làm chi mà chưa về nghỉ à con? Tôi trả lời mẹ tý nữa con về. Người đàn bà gặp bất ngờ trong đêm nói hay cô về nghỉ đi, kẻo mẹ trông, mai tôi lại đến. Không sao, bà cứ nói đi, có chuyện gì vậy?
Người đàn bà kể, tôi biết ông Viên từ thời thanh niên cô ạ. Ngày ấy chúng tôi có tình cảm với nhau, cùng làng cùng xóm gặp gỡ thường xuyên, hứa hẹn nhiều. Hai gia đình đã tác thành đôi lứa, ủng hộ cặp đôi nên vợ nên chồng. Đám cưới đơn giản nhưng vui và ấm cúng theo ý nguyện. Nhưng rồi chiến tranh bùng nổ khốc liệt lan khắp đất nước. Thanh niên nam nữ theo tiếng gọi của Tổ quốc lên đường ra chiến trường. Anh Viên đang độ tuổi sung sức đầy khí thế hào hứng ra đi với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Trong chiến tranh, người lính đi biền biệt, vợ trẻ vò võ chờ trông, thiếu thốn đủ điều, nhất là tình cảm khó nói nên lời. Nhiều người vợ trẻ trở thành vọng phu héo hon đợi chờ. Nhưng có những người không cam lòng trở thành tượng đá, mà tự mình “xoay xở” cho nhu cầu của con người. Đời người chỉ sống có một lần, đúng sai không tránh khỏi. Có những sai lầm được tha thứ, nhưng có người thì không…?
Người đàn bà tóc trắng, nhìn trước, sau, như thể có người đang nghe trộm câu chuyện, dù rằng trong đêm khuya, vắng lặng không một bóng người. Bà già nói rất nhỏ, nhỏ đến mức ghé vào tận tai tôi mới nghe được. Người lính hy sinh nhiều vì chiến thắng, vì hoà bình của đất nước, nhưng trong tình yêu thì ai cũng ích kỷ cả thôi. Ích kỷ, nhưng thiêng liêng cô có hiểu không? Tình yêu đồng hành với thần tượng, khi người ta đã chọn thì đương nhiên họ tự cho mình là quyền sở hữu. Tôi nói vậy không biết cô có cùng quan điểm không? Tôi lặng người hiểu điều người đàn bà muốn nói, nỗi buồn của người đàn bà vắng chồng trong chiến tranh khổ sở như thế nào. Bà già kể, tôi có hai đứa con trai, nhưng không phải là con của chồng tôi, tức là không phải con của ông Viên.
– Thế con ai?
– Con của ông Mộc cô à?
– Trời đất ơi, thế bà có nói cho ông Viên biết sự thật không?
– Có cô ạ. Sau chiến tranh ông ấy trở về ở với tôi một thời gian, lúc đó tôi có một đứa con với ông Mộc rồi, thêm đứa con với chồng nhưng không nuôi được vì dị dạng. Cha nó đã bị nhiễm chất độc da cam. Ông Viên lặng lẽ bỏ nhà đi đến một nơi xa lắm không cho biết địa chỉ cụ thể rõ ràng. Thời gian gần đây ông ấy liên lạc với tôi khi biết ông Mộc đã qua đời. Ngày ông Viên bỏ nhà ra đi, cha đẻ của con tôi quay lại cùng chung sống và chúng tôi có thêm đứa con nữa trong bối cảnh như thế, trớ trêu lắm cô ạ. Bù đắp lại, tôi có hai đứa con giỏi và ngoan, thương xót cho hai người đàn ông hạnh phúc không được trọn vẹn. Chiến tranh đã đi xa, tưởng rằng cuộc sống đã bình yên, nhưng số phận đen đủi, mất mát vẫn chưa buông thả tôi, thiên nhiên khắc nghiệt, lũ lụt đã lấy mất người cha của các con. Ông Mộc cũng đau đớn và dằn vặt lắm khi sống với tôi, nhưng giờ thì đã về trời khi làm việc thiện. Cầu mong ông thanh thản.
Tôi lặng người khi nghe câu chuyện của người đàn bà tóc trắng trong đêm. Chiến tranh tàn phá con người thật khủng khiếp. Tuổi trẻ làm sao hiểu nổi sự mất mát về vật chất và tinh thần cả đất nước phải gánh chịu. Số người mất đi không còn hiện diện ở cõi đời được tính bằng con số. Nhưng số người từ chiến trường trở về đầy thương tích, mất một phần thân thể, mất tình cảm, chia rẽ đôi lứa và tan nát gia đình, thì khó bù đắp thiệt thòi được. Còn người đàn bà này, biết lúc nào nguôi ngoai khi nói về chiến tranh? Bà kể chuyện buồn nhói tận tim gan, nhưng không khóc, tiếng nói đều đều điềm đạm như thể đã quen với nỗi đau của cuộc đời.
Tôi hỏi một câu hết sức vu vơ, bà kể tôi nghe thì giúp được gì? Bà nói ít ra trên cõi đời này cũng phải có một người biết chuyện của tôi, chia sẻ. Và ông Viên đã cho tôi địa chỉ của cô, chia sẻ, tin tưởng. Dù sao tôi cũng cảm ơn cô đã chịu khó nghe chuyện này. Tôi phải về, chào cô. Bà già nói rồi vội vàng ra đi bất ngờ như lúc bà đến, tôi đứng nhìn theo, giống như người bị đơ, chân không bước được, có sức mạnh nào đó níu tôi đứng nguyên tại chỗ, chỉ trân trối nhìn theo, không kịp hỏi tên bà là gì? Địa chỉ nhà ở đâu? Đến lúc ý thức được bản thân cần phải làm gì thì không thấy người đàn bà tóc trắng ở đâu.
Câu chuyện trên đây trở lại trong trí nhớ, tôi chép lại những gì xảy ra đến từng chi tiết hôm đó. Khi người đàn bà mất hút trong màn đêm, tôi trằn trọc mãi không ngủ được. Ngày hôm sau, theo lời hẹn đã nhắn cho ông Viên, tôi lên Facebook cả ngày đến mấy lần để tiếp tục câu chuyện nghiêm túc và bàn về trách nhiệm, không đùa giỡn như ngày trước. Nhưng trang Facebook của ông ấy đã tắt đèn hoàn toàn. Tất cả chìm vào khoảng trống hư vô mênh mông. Cuộc sống của ông Viên sau đó ra sao tôi cũng không biết nữa, cũng không biết hỏi ai? Thấy mình bất lực trước màn hình, tôi trân trối nhìn mãi mỗi dòng chữ ông Viên nhắn lại: “O đã gặp vợ của ông Mộc rồi phải không? Nhờ O giúp đỡ chia sẻ tâm tư nỗi lòng mà họ đang chịu đựng. Ai cũng khổ, tất cả tại chiến tranh gây ra. Tạm biệt O”.
18/2/2023
Đàm Quỳnh Ngọc
Theo https://vanvn.vn/

Khúc hát Marseilles

Khúc hát Marseilles

Thời đại Bạc đã mang lại cho văn học Nga nhiều tên tuổi sáng giá. Một trong những người sáng lập chủ nghĩa biểu hiện Nga, Leonid Andreev, với phong cách đặc biệt của mình, đã chiếm một vị trí xứng đáng trong thiên hà tài năng vào đầu thế kỷ 19 và 20.
Leonid Andreev sinh ngày 21 tháng 8 năm 1871 tại Oryol trong gia đình một nhân viên trắc địa. Khi ông còn trẻ, sự say mê các nhà triết học người Đức A. Schopenhauer và E. Hartmann đã xác định các phẩm chất của bản chất hay thay đổi của Andreev, hướng đến những thái cực cảm xúc: sự bất hòa và bi quan của thế giới quan, mối quan tâm đôi khi bệnh hoàn đối với ý tưởng về cái chết và cái khủng khiếp trong cuộc sống.
Sau khi tốt nghiệp khoa Luật của Đại học Moskva năm 1897, ông đã làm trợ lý cho một luật sư vài năm, đồng thời ông đăng các báo cáo của tòa án và các tiểu phẩm v.v. trên tờ báo Courier.
Ông coi việc xuất bản truyện ngắn “Bargamot và Garaska” (1898) là khởi đầu cho hoạt động văn học của mình. S M. Gorky, người sau này là bạn thân của Andreev, đã giúp ông gia nhập hiệp hội các nhà văn hiện thực Sreda.
Ông nổi tiếng với công chúng và giới phê bình sau khi xuất bản tập “Truyện ngắn” năm 1901. Bằng cách đặt các nhân vật vào tình huống trải nghiệm trực tiếp và đau đớn về các vấn đề vĩnh cửu. Andreev đi tìm kiếm các phương tiện biểu đạt mới giúp tăng cường tác động đến người đọc.
Những tin tức xúc động về Chiến tranh Nga – Nhật là động lực cho việc tạo ra câu chuyện “Tiếng cười đỏ” (1905). Ở đây, sự điên rồ của những gì đang xảy ra được truyền tải bằng những phương tiện mạnh mẽ cực đoan (một hình tượng phi lý về tiếng cười màu đỏ; một mô tả về Trái đất đã phát điên, trông giống như một cái đầu bị lột da và não đỏ như cháo máu, v.v. .).
Tâm trạng bi quan ngày càng tăng của Andreev có thể cảm nhận được trong vở kịch “Savva” (1906) và câtruyện vừa “Judas Iscariot và những người khác” (1907), trong đó các sự kiện phúc âm được suy tưởng lại. Hình ảnh một người đàn ông – hạt cát trong vũ trụ vô tận, cam chịu sự cô đơn từ khi sinh ra, song tuy nhiênlà kẻ nổi loạn, hết lần này đến lần khác thách thức số phận, đã trở thành trung tâm trong các vở kịch của Andreev (“Tới các vì sao”, 1906; “Cuộc đời một con người”, 1907; “Sa hoàng – Đói”, 1908).
Một đặc điểm trong tác phẩm của Leonid Andreev theo quan điểm của các nhà phê bình văn học là không thể quy các tác phẩm của nhà văn theo một hướng nhất định trong văn học. Các biện pháp nghệ thuật mà nhà văn sử dụng quá khác biệt, phong cách quá khác thường.
Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, ông chuyển sang làm báo, viết các bài báo chống Đức, kêu gọi chiến đấu cho đến kết thúc thắng lợi. Ông nhiệt tình hưởng ứng Cách mạng tháng Hai, nhưng ông có thái độ tiêu cực với các sự kiện tháng 10 năm 1917. Nhà văn đột ngột qua đời vì suy tim vào tháng Chín năm 1919 tại làng Neivala, Phần Lan.
Tất cả chúng tôi đều ở trong buồng bệnh khi anh ấy đang hấp hối. Ý thức trở lại với anh ấy trước lúc chết, anh nằm im lìm, thật nhỏ bé, yếu ớt, còn chúng tôi, các đồng chí của anh ấy, đứng lặng lẽ.
Đó là một thứ quá ư tầm thường: ấy là linh hồn của một con thỏ rừng và sự kiên nhẫn trơ trẽn của một con gia súc cày kéo. Khi số phận thật giễu cợt và ác ý ném anh ấy vào hàng ngũ lao tù đen tối của chúng tôi, tất cả bọn chúng tôi cất tiếng cười như những kẻ điên dại: chính nhiều khi ở đời cũng xảy ra những lỗi lầm nực cười như thế, ngớ ngẩn như  thế. Và anh ấy – chính anh ấy, tất nhiên, đã khóc. Tôi chưa bao giờ gặp một người nào trong đời có nhiều nước mắt như vậy, ấy nước mắt sẵn lòng tuôn chảy dào dạt – nào từ mắt, nào từ mũi, nào từ miệng. Giống hệt một miếng bọt biển thấm đẫm nước và được nắm tay vắt  mạnh. Nhưng tôi đã từng thấy những người đàn ông khóc  ròng trong hàng ngũ bọn chúng tôi, nhưng nước mắt của họ là lửa, thứ nước mắt- lửa  ấy khiến  những con thú hoang phải chạy trốn. Vì những giọt nước mắt dũng cảm này mà  khuôn mặt trở nên già xọm đi, còn đôi mắt trở nên trẻ trung hơn: nước mắt ấy giống như dòng dung nham trào ra từ lòng sâu cháy đỏ của trái đất, bằng lửa nóng chúng khắc trên mặt đất bao dấu vết không thể xóa nhòa và chôn vùi dưới chúng vẹn nguyên những thành phố đầy rặt ham muốn tầm thường và lo lắng nhỏ nhặt. Thế nhưng khi con người này khóc thì chỉ thấy mặt anh ấy đỏ lựng và cái mũi nhỏ xíu xổ nước ướt đẫm khăn tay.
Có lẽ sau đó anh ấy phải đem phơi chiếc khăn tay ấy cho khô trên dây, nếu không thì anh ấy phải lấy ở đâu ra ngần ấy khăn tay cơ chứ?
Và suốt những ngày bị đày ải, anh ấy lê lết đến gặp các chỉ huy, đến tất cả các ông sếp mọi cấp cho dù họ là ai và là thế nào theo như anh ấy tưởng tượng, cúi đầu, khóc lóc, thề thốt mình vô tội, cầu xin sự thương hại cho tuổi trẻ bồng bột của anh ấy, hứa hẹn cả đời sẽ không mở miệng, ngoại trừ lên tiếng cho những lời thỉnh cầu và tán dương, ca ngợi. Và những người ấy cười nhạo anh ấy, rồi cũng giống như bọn chúng tôi, lũ họ gọi anh ấy là “Chú heo bé con bất hạnh”, thế là họ lớn tiếng:
– Này cậu kia, chú heo bé con!
Và thế là anh ấy ngoan ngoãn chạy ra chỗ bọn người kia gọi: anh ấy nghĩ rằng cứ mỗi khi như thế thì thể nào cũng được nghe tin tức về việc sẽ trở về quê hương, nhưng họ chỉ nói đùa thôi. Cũng như bọn chúng tôi, họ biết là anh ấy chẳng có tội gì, nhưng bằng những đớn đau, khổ sở anh ấy phải chịu mà họ định  khiến những chú heo con khác sợ hãi, – như thể họ chưa đủ độ nhát ấy!
Nỗi kinh hoàng trước cảnh cô đơn đã thúc đẩy anh ấy bước đến cả với bọn chúng tôi, nhưng mọi cái bản mặt của chúng tôi sao mà khắc nghiệt và lỳ lợm như đóng đinh thế, cho nên anh ấy đành vô vọng không tài nào tìm được cách nào để tiếp xúc, gần gũi được. Vì quá bối rối mà anh ấy gọi bọn chúng tôi các đồng chí và các bạn thân mến, nhưng chúng tôi lắc đầu và nói:
– Này, hãy liệu hồn! Bọn chúng sẽ nghe thấy anh nói gì đấy.   Nhưng thế mà anh ấy dám cả gan bước lại chỗ cánh cửa, cái anh chàng heo bé con kia. Chà, chẳng lẽ thế này mà vẫn có thể giữ được nghiêm túc, đạo mạo làm sao!
Thế là chúng tôi cười với thứ giọng đã mất thói quen cười từ lâu, còn anh ấy cảm nhận được khuyến khích và được an ủi bèn ngồi xuống gần hơn và vừa kể vừa khóc về những cuốn sách thân thuộc phải để lại trên bàn, về bà mẹ mình và các anh trai của anh ấy, những người mà giờ đây anh ấy không biết họ còn sống hay đã chết vì sợ hãi và đau buồn.
Lúc anh ấy nói vẫn chưa xong thì chúng tôi đã xua đuổi anh ấy ra ngoài.
Khi cuộc tuyệt thực bắt đầu, một nỗi kinh hoàng choán ngợp lấy anh ấy, – cái nỗi kinh hoàng hài hước không thể diễn tả được.
Bởi lẽ anh ấy lúc nào cũng thèm ăn, chú heo con tội nghiệp, mà anh ấy lại rất sợ những người đồng đội thân yêu của mình và cũng rất sợ các ông sếp: anh ấy lang thang giữa chúng tôi trong tâm trạng bối rối và thường lấy khăn tay lau trán mà trên đó cứ lấm thấm thứ gì đó – nước mắt hoặc mồ hôi. Và ngập ngừng hỏi tôi:
– Anh sẽ nhịn đói có lâu không?
– Lâu đấy, tôi nghiêm nghị đáp.
– Anh có định bí mật ăn gì không?
– Có, các bà mẹ sẽ gửi bánh nướng cho chúng tôi, –  tôi trả lời thuận theo câu hỏi với vẻ nghiêm túc.
Anh ấy nhìn tôi với vẻ hoài nghi, lắc đầu và thở dài bỏ đi. Nhưng ngày hôm sau anh ấy đến, người tái xanh vì sợ hãi, anh ấy cất tiếng tuyên bố giống như một con vẹt:
– Thưa các đồng chí! Tôi cũng sẽ tuyệt thực cùng với các đồng chí.
Vang lên câu trả lời đồng thanh của mọi người:
– Cứ tuyệt thực một mình đi.
Và thế là anh ấy tuyệt thực! Chúng tôi đã không tin, như bạn không tin, chúng tôi nghĩ, thể nào anh ấy cũng sẽ bí mật ăn cái gì đó, và cả đám cai ngục cũng nghĩ như thế.
Đến đoạn cuối cuộc tuyệt thực, anh đổ bệnh sốt phát ban, chúng tôi chỉ nhún vai:
“Chú heo nhỏ tội nghiệp!” Và một người trong chúng tôi, người vốn chẳng bao giờ cười cợt, chê mắng anh ấy, nói vẻ bực bội:
– Anh ta là đồng đội của chúng ta. Chúng ta hãy đến chỗ anh ta đi.
Anh ấy mê sảng, và lúc này nom anh ấy thật đáng thương, giống như cả cuộc đời anh ấy vậy, đấy là cơn mê sảng chẳng chút mạch lạc gì. Anh ấy nói mê lẫn về những cuốn sách nhỏ yêu thích của mình, về mẹ và các anh trai của anh ấy; anh ấy đã ăn bánh nướng và thề rằng mình không có tội, và xin được tha thứ. Và anh ấy gọi quê hương, anh ấy gọi nước Pháp thân thương, – Ôi, thật đáng giận con tim yếu đuối của con người! Anh ấy đã vò xé tâm hồn bằng tiếng gọi: “Nước Pháp thân yêu ơi!”.
Tất cả chúng tôi đều ở trong buồng bệnh khi anh ấy đang hấp hối. Ý thức trở lại với anh ấy trước lúc chết, anh nằm im lìm, thật nhỏ bé, yếu ớt, còn chúng tôi, các đồng chí của anh ấy, đứng lặng lẽ. Rồi bọn chúng tôi, tất cả, đều nghe anh ấy nói:
– Khi tôi chết, hãy hát bài Marseillaise cho tôi.
– Cậu nói gì vậy! – chúng tôi đều thốt lên, người run lên vì sung sướng và cơn cuồng nộ sôi sục.
Thế rồi anh ấy nhắc lại:
– Khi tôi chết, hãy hát bài Marseillaise cho tôi nhé.
Và lần đầu tiên giọng nói của anh ấy khô khốc, còn chúng tôi – chúng tôi đã khóc, tất cả, từng người một đều khóc, và những giọt nước mắt của chúng tôi cháy bỏng giống như ngọn lửa khiến đàn thú hoang chạy trốn.
Anh ấy tắt thở và chúng tôi đã hát bài Marseillaise dành cho anh ấy. Với giọng ca trẻ khỏe chúng tôi đã hát vang bài ca vĩ đại về tự do, rồi đại dương hùng tráng hòa tiếng vọng với chúng tôi và mang theo nỗi phẫn nộ lợt lạt và niềm hy vọng đỏ máu trên những triền sóng bạc đầu tới nước Pháp thân yêu. Và anh ấy mãi mãi trở thành ngọn cờ của chúng tôi – ấy một thứ quá ư tầm thường với cơ thể của một con thỏ rừng và của một con gia súc cầy kéo, nhưng có tâm hồn vĩ đại của con người. Hãy quỳ trước người anh hùng, hỡi các đồng chí và những người bạn!
Chúng tôi đã hát. Chĩa về phía chúng tôi là những khẩu súng, khóa  nòng của chúng kêu lách cách đầy giận dữ, những thanh lưỡi lê như ngòi độc nhọn sắc đang chọc thẳng đầy đe dọa về phía trái tim chúng tôi – nhưng tiếng hát sang sảng vang vọng càng to hơn, càng vui vẻ hơn; cỗ quan tài đen khẽ đung đưa trên những bàn tay dịu dàng của những người chiến sĩ.
Chúng tôi đã hát khúc ca Marseillaise!.
19/2/2023
Leonid Andreev
Nguyễn Văn Chiến dịch
Theo https://vanvn.vn/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...