Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2025

"Đám đông bạo ngược" trên mạng xã hội

"Đám đông bạo ngược"
trên mạng xã hội

Như chúng ta đã và đang thấy, mạng xã hội, với các nền tảng chủ yếu như Facebook, Instagram, TikTok hay YouTube, vừa là sự bổ sung cần thiết, vừa là một thách thức đối với các loại hình báo chí truyền thông giờ đã trở thành “truyền thống cũ”: báo giấy, báo ảnh, báo điện tử, phát thanh, truyền hình.
Với mạng xã hội, bất kỳ một cá nhân nào cũng có quyền cất lên tiếng nói, ngay lập tức, thể hiện quan điểm, suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc của riêng mình về mọi vấn đề, mọi sự kiện xảy ra trong đời sống, và thể hiện một cách chủ động chứ không bị phụ thuộc vào các loại hình báo chí truyền thông như trước. Họ có thể đăng bài (status), đăng ảnh, đăng video clip của mình trên trang cá nhân của mình, hoặc chia sẻ (share) bài, ảnh, video clip của những người khác từ các trang cá nhân khác. Và cũng thường thấy nữa, là việc họ thể hiện quan điểm, suy nghĩ của mình bằng cách viết bình luận (comment), tương tác trực tiếp, nhiều khi là ngay lập tức, với các status trên những trang cá nhân khác. Một sự dân chủ hóa gần như tuyệt đối của việc các cá nhân ngôn luận trên mạng xã hội.
Dân chủ, nhưng có thực sự tự do hay không? Trong rất nhiều trường hợp, câu trả lời là “không”. Ở đây, thật kỳ lạ, có vẻ như chúng ta đang thấy lặp lại sự lên ngôi của cái mà nhà tâm lý học nổi tiếng người Pháp Gustave Le Bon (1841 – 1931) đã nghiên cứu rất lâu dài, rồi phơi trần nó bằng việc xuất bản công trình “Tâm lý học đám đông” vào năm 1895 (Nguyễn Xuân Khánh dịch, NXB Tri Thức, 2006). “Những đám đông và tâm hồn của chúng”, ấy chính là điều mà Gustave Le Bon nói với chúng ta.
Ông nói điều đó, từ việc quan sát một thực tế lịch sử xã hội mà phương tiện truyền thông mới chỉ phổ biến ở hình thức báo giấy và điện tín, sự can dự của các cá nhân vào truyền thông cộng đồng còn rất hẹp. Thế nhưng những mô tả và phân tích về đám đông của Le Bon ở quãng thời gian gần 130 năm trước dường như đã tiên báo cho những biểu hiện của đám đông bây giờ, vào thời này, khi mà mạng xã hội đã trở nên một kênh truyền thông chủ yếu của đời sống đương đại, khi “lên mạng” đã trở thành một phần nối dài và không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của các cá nhân.
Le Bon viết về quy luật tâm lý làm thành sự thống nhất tinh thần của đám đông: “Trong một vài hoàn cảnh đã cho, và chỉ trong những hoàn cảnh này thôi, một quần tụ những con người sẽ có những tính cách mới rất khác những tính cách của những cá nhân hợp thành quần tụ ấy. Cá tính có ý thức biến mất, những tình cảm và tư tưởng của tất cả các đơn vị đều hướng về cùng một hướng. Nó hình thành một tâm hồn tập thể, tuy chỉ nhất thời, nhưng có những tính cách rất rõ” (Sđd, tr40).
Ông mô tả: “Hàng ngàn cá nhân tách riêng, ở một thời điểm nào đó, có thể chịu ảnh hưởng của một vài cảm xúc mãnh liệt, ví dụ một biến cố quốc gia to lớn, cũng có tính cách một đám đông tâm lý. Lúc ấy chỉ cần một ngẫu nhiên nào đó tập hợp họ lại thì những hành động của họ lập tức mang tính cách đặc biệt của hành vi đám đông” (Sđd, tr41).
Cần chú ý rằng Le Bon là học giả thường đặt những nghiên cứu của mình về tâm lý đám đông trên các “vật liệu” có tầm vóc, quy mô lớn, đó là các quốc gia dân tộc, các cuộc chiến tranh, các cuộc cách mạng, chí ít là các cuộc bạo động hay xung đột xã hội gay gắt. Chỉ ở những “vật liệu” này ông mới phát hiện ra sức mạnh của đám đông cùng những đặc điểm tình cảm và đạo đức của nó: tính bốc đồng, tính dễ thay đổi, tính dễ bị kích động, tính nhẹ dạ và dễ bị gợi ý, sự phóng đại và giản đơn trong tình cảm, lòng bất khoan dung, tính chuyên chế và sự bảo thủ v.v… Xét cho cùng thì những đặc điểm này chính là cái làm thành sức mạnh kia.
Dĩ nhiên Le Bon, ở thời điểm công bố “Tâm lý học đám đông”, không cách nào lại có thể tưởng tượng được rằng sau đây hơn 120 năm, trong một hiện thực đời sống vô cùng đặc dị được gọi là “mạng xã hội”, thì những đám đông ấy vẫn tồn tại, vẫn sinh sôi nảy nở, vẫn thể hiện sức mạnh và những đặc điểm tâm lý của mình.
Ngày nay, khi một hiện tượng nào đó trong đời sống được chuyển vị vào mạng xã hội và trở thành một chủ đề khiến nhiều người sử dụng, chủ yếu là các facebookers quan tâm, thì người ta thường chứng kiến những “cơn lên đồng tập thể của các cư dân mạng”. Chủ đề ấy, như đã nói ở trên, có thể là “một biến cố quốc gia to lớn” nào đó, nhưng đa phần thì nó chỉ là những sự vụ “lặt vặt” xảy ra trong khung khổ của đời thường: bạo lực gia đình và học đường; sự xuống cấp đạo đức trong mối quan hệ giữa thầy cô giáo và học trò; lỗ thủng trong cơ chế vận hành của ngành y tế và giáo dục; nạn quấy nhiễu, thậm chí cưỡng ép tình dục nơi công sở; sự gia tăng hành vi tự tử ở lứa tuổi vị thành niên; những tác động tiêu cực của văn hóa, nghệ thuật phẩm đến lối sống của giới trẻ; những khuất tất trong việc các văn nghệ sĩ kêu gọi đóng góp từ thiện v.v và v.v…
Trong những trường hợp này, nói chung, “cơn lên đồng tập thể của các cư dân mạng” đã trình hiện một đám đông phẫn nộ, một đám đông bị chính tình cảm phẫn nộ của mình, như một làn sương mù, che mờ sự tỉnh táo, bình tĩnh, năng lực quan sát, phân tích, đánh giá sự việc một cách điềm tĩnh, theo những chỉ dẫn của lý trí lành mạnh. Chỉ cần một status hay một hình ảnh được đăng lên, một bài báo hay một video clip được chia sẻ, kèm theo vài bình luận có định hướng theo một cách tiêu cực, thậm chí ác ý, là đã đủ khiến cho vấn đề từ một mồi lửa nhỏ biến thành cả một đại hỏa hoạn.
Đám đông trên mạng, do được “gợi ý” và theo cơ chế “lây nhiễm” – những chữ của Le Bon – thường làm lan tỏa cực nhanh các thông tin gây sốc mà không cần phải đắn đo, suy xét, kiểm chứng, bởi vì họ đã sẵn có niềm tin rằng những thông tin ấy là sự thực, thậm chí là chân lý. Niềm tin ấy dẫn đến tính bảo thủ, sự chuyên chế và lòng bất khoan dung, như là những đặc điểm của đám đông trên mạng xã hội bây giờ, chẳng khác là bao so với những đám đông mà Le Bon đã nhận thấy từ gần 130 năm trước, qua các cuộc cách mạng đẫm máu mà ông từng nghiên cứu. Quá dễ dàng để chúng ta có thể chứng kiến một hiện tượng phổ biến trên mạng xã hội: Khi một ai đó bị đám đông coi là thủ phạm, là tội đồ, thì người ấy sẽ vĩnh viễn là thủ phạm, là tội đồ, bất chấp những chứng cứ và lý lẽ có thể đưa đến kết luận trái ngược. Đám đông trên mạng không đủ bình tĩnh để tranh luận một cách thích đáng, và nói chung thì họ cũng không ưa tranh luận: trong cao trào của cuộc ”đấu tố” được dẫn dắt bởi “cá tính có ý thức biến mất”, như Le Bon từng nhận định, nếu có ý kiến trái chiều xuất hiện, thì dù nó hợp lý và đúng đắn đến mấy, nó cũng bị đám đông gạt ra, thậm chí bị nhấn chìm xuống bằng cả một thác lũ những bình luận chế giễu, công kích, vu cáo, thóa mạ.
Sự việc không có gì đáng để bàn thêm, đám đông trên mạng xã hội vẫn cứ là đám đông trên mạng xã hội với tất cả sức mạnh bản năng mù mờ và bạo ngược của nó, chẳng có gì xảy ra cả, nếu mạng xã hội chỉ là một “thế giới ảo” như nhiều người vẫn tưởng. Không hề như thế. Mạng xã hội chính là một phần của thế giới thực, nó gắn với thế giới thực một cách hữu cơ và tác động vào đời sống bằng những hệ quả trực tiếp, sống động nhất.
Trong những sự vụ “lặt vặt” đời thường như đã nói ở trên, nếu định hướng ban đầu là tích cực và hợp lý trên cơ sở của những dữ liệu khả tín, có thể kiểm chứng được, thì “cơn lên đồng tập thể của các cư dân mạng” lại mang ý nghĩa là nhân tố tốt cho cuộc đấu tranh để thanh lọc xã hội, đấu tranh vì lẽ phải ở đời. Nhưng nếu ngược lại, đám đông trên mạng xã hội sẽ đích thực là đao phủ của những sự việc và con người đang nằm vùng sáng/ tối, tốt/ xấu, có tội/ vô tội còn chưa được phân định.
Đã có nhiều “án oan” xảy ra khi đám đông trên mạng xã hội thực hành quyền lực của nó, hậu quả thì không chỉ thanh danh hay đời sống riêng tư của một vài cá nhân bị tổn hại, mà đó còn là sự bình yên của những gia đình, uy tín của những cơ quan hay tổ chức liên đới. Trên thực tế, pháp luật không mấy có hiệu năng trong việc điều chỉnh những xung động trong tâm hồn và trí tuệ của đám đông trên mạng xã hội. Đại đa phần phải phó mặc vào sự thận trọng và sáng suốt của mỗi “cư dân mạng”, vào trách nhiệm với chính kiến của mỗi cá nhân khi đăng bài, chia sẻ hay bình luận về những con người và sự việc còn chưa đủ chứng lý để phân định một cách thuyết phục. Hay nói cách khác, đành phải trông chờ sức mạnh văn hóa để cưỡng chống bị hút vào đám đông của mỗi cá nhân sử dụng mạng xã hội mà thôi.
25/7/2022
Hoài Nam
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đọc lại "Một chiều ngược gió" của Bùi Sim Sim

Đọc lại "Một chiều ngược gió"
của Bùi Sim Sim

Nếu ví bài thơ “Một chiều ngược gió” như một cô gái thì không hẳn là có nhan sắc lộng lẫy, càng không đến mức “chim sa, cá lặn”. Nhưng không hiểu sao, mới chỉ tiếp xúc một lần, chưa giao tiếp nhiều, càng không thể tâm sự điều gì mà tôi có cảm giác đã rất thân quen, rất ấn tượng, khiến tôi nhớ mãi, luôn mong gặp lại.
 Em ngược đường, ngược nắng để yêu anh
Ngược phố tan tầm, ngược chiều gió thổi
Ngược lòng mình tìm về nông nổi
Lãng du đi vô định cánh chim trời
 
Em ngược thời gian, em ngược không gian
Ngược đời thường bon chen tìm về mê đắm
Ngược trái tim tự bao giờ chai lặng
Anh đánh thức nỗi buồn, anh gợi khát khao xanh
 
Mang bao điều em muốn nói cùng anh
Chợt sững lại trước cây mùa trút lá
Trái đất sẽ thế nào nếu màu xanh không còn nữa
Và sẽ thế nào nếu trong anh – không em?!
Em trở về im lặng của đêm
Chẳng còn nữa người đông và bụi đỏ
Phố bỗng buồn tênh, bờ vai hút gió
Riêng chiều nay – em biết, một mình em…
Từ khi lớn lên, có tình yêu với thơ, tôi từng có dịp đọc hàng ngàn bài thơ tình. Trên giá sách nhà tôi cũng có nhiều tập thơ, trong đó một tỉ lệ đáng kể là thơ tình. Cũng không ít bài hay. Nhưng thú thực là thường thì tôi chỉ đọc một lần, không có nhu cầu đọc lại. Không phải là sợ mất thời gian mà như là gặp một cô gái, nhiều cô cũng xinh đẹp nhưng chỉ nên gặp một lần. Gặp lại, tiếp xúc thêm, không cẩn thận sẽ phá hủy đi cái ấn tượng ít nhiều tốt đẹp ở lần gặp đầu tiên.
Bài thơ “Một chiều ngược gió” của nữ tác giả Bùi Sim Sim không nằm trong trường hợp trên. Nếu ví bài thơ này như một cô gái thì không hẳn là có nhan sắc lộng lẫy, càng không đến mức “chim sa, cá lặn”. Nhưng không hiểu sao, mới chỉ tiếp xúc một lần, chưa giao tiếp nhiều, càng không thể tâm sự điều gì mà tôi có cảm giác đã rất thân quen, rất ấn tượng, khiến tôi nhớ mãi, luôn mong gặp lại. Và gặp nhiều thì không chán, mỗi lần gặp, lại khám phá thêm ở cô nhiều điều bí mật, kỳ thú, như là vô tận. Mặc dù cô không nói nhiều. Như bài thơ chỉ có 4 khổ, cả thảy 16 câu. Thơ bây giờ như vậy cũng là ngắn.
Tác giả biểu hiện một thực trạng của nhiều kẻ đang yêu: Yêu hết mình, bất chấp, vượt lên mọi vất vả, khó khăn nhất để có được người yêu, tình yêu. Nhưng hạnh phúc cứ như một thứ gì xa xỉ, hư ảo, cứ xa lắc xa lơ ở tận đâu đâu mà ta không thể với tới. Ta cứ sống trong ảo vọng, hoang tưởng và tự huyễn hoặc rồi rốt cục chỉ là con số không. Tất cả đã tuột khỏi sự khát khao của ta.
Rõ ràng ta đang theo đuổi một tình yêu thánh thiện, vô tư, sáng trong, đích thực từ trái tim chứ đâu có nhuốm bụi của đời thường thực dụng. Nếu thực dụng thì không ai có thể lao vào, bất chấp quá nhiều khó khăn, trở ngại như con thiêu thân lao vào đèn để mà yêu lấy được. Rất nhiều từ “ngược” trong bài sao mà phiêu lưu đến tội nghiêp! Nhưng không phải cái tội nghiệp của kẻ yếu kém, thất bại mà của người có tâm thế tự tin, vâng, rất tự tin.
Có những cái “ngược” rất cụ thể, ai cũng có thể hình dung như “ngược đường”, “ngược nắng”, “ngược gió”, “ngược phố giờ tan tầm”… để “tìm anh”. Nói như vậy đã là rất hình tượng rồi – không phải ai cũng – nói được như thế. Nhưng “ngược lòng mình để tìm về nông nổi” thì thực sự hay và “Lãng du đi vô định cánh chim trời” thì rõ là một sự xuất thần. Đây chính là cái “đốm sáng Bêse” vậy. (Bêse – nhà thơ nổi tiếng người Đức – đã tìm ra một quy luật rất thú vị trong sáng tạo nghệ thuật. Ông cho rằng, những câu thơ, áng văn, nốt nhạc “thần” không dễ đến với người sáng tác bất cứ lúc nào dẫu có tài năng đến mấy, mà chỉ lóe lên ở phút xuất thần nào đó. Đó chính là “đốm sáng Bêse”).
Em hết mình, em liều mình chấp nhận “ngược” bao thứ oái oăm, gian truân giữa “đời thường bon chen” để đến với anh, để được mê đắm. Cũng thật bõ công, không chút uổng phí bởi nếu đến với anh, em sẽ được “đánh thức nỗi buồn”, được “gợi khát khao xanh”. Hóa ra nếu không có anh, em trở nên vô cảm đến mức ngay cả nỗi buồn của em cũng ngủ lỳ trong quên lãng. Ở chiều ngược lại, cô gái đầy tự tin để đặt ra câu hỏi: “Sẽ thế nào nếu trong anh không em?” (giống như trái đất không còn màu xanh). Câu hỏi đã đồng thời là câu trả lời, khẳng định. Nhưng rồi, sự thực vẫn là sự thưc. Em vẫn phải trở về với đêm, với một mình em… Tội nghiệp và thương quá!
Ở trên, tôi đã nói đến cái “đốm sáng Bêse”. Đốm sáng này trong bài còn xuất hiện một lần nữa. Đó chính là câu áp chót “Phố bỗng buồn tênh, bờ vai hút gió”. Phố bỗng buồn tênh thì nghe đâu đó cũng đã nhiều. “Tênh” gợi cảm giác trống vắng, chông chênh, tẻ lạnh nên nhiều người đã dùng.
Nhưng “bờ vai hút gió” thì tôi chưa nghe ở đâu mà mới chỉ là “bờ sông hút gió” hoặc “triền đê hút gió”. Hai tiếng “hút gió” quen thuộc thì rõ rồi, cũng dễ hình dung. Nhưng “bờ vai hút gió” là sao? Cái “bờ vai” kia có dài, rộng, có khoảng không gian trống nào đâu mà “hút gió”? Hóa ra mọi khi, lúc còn có anh, chúng ta đi bên nhau, ngồi bên nhau, em gục vào vai anh thì gió không thể lùa qua vai. Cảm giác ấm ấp, đủ đầy không thể gây cho em sự ớn lạnh như gió hút.
Nay “phố buồn tênh”, không có anh ở bên nữa thì hụt hẫng biết chừng nào. Nhưng cái lạnh lẽo, cô đơn ở đây sao mà đẹp, mà nên thơ! Chỉ hơi tiếc câu áp chót hay là thế mà câu kết lại có phần “thật thà”. Thơ cần nhiều hư ảo để cho người thưởng thức thả sức tưởng tượng, hình dung. Người càng giàu trí tưởng tượng sẽ càng thẩm thấu được nhiều vẻ đẹp của bài thơ. Thực ra, không cần nói rõ là “Riêng chiều nay – em biết, một mình em” người đọc cũng hiểu em đang ở trạng thái như thế nào rồi. Vậy nên tôi xin phép nữ thi sĩ để mạo muội thay câu cuối cùng của bài thơ rất hay này như sau:
Và đêm nay, em lại trở về em
Như vậy sẽ là :
Phố bỗng buồn tênh, bờ vai hút gió
Và đêm nay, em lại trở về em
Một chi tiết nữa: Bài thơ nói đến người con gái phải “ngược” rất nhiều để “tìm anh”: Ngược đường, ngược nắng, ngược gió, ngược phố giờ tan tầm, ngược lòng mình… Vậy tại sao tên bài chỉ là “Một chiều ngược gió”? Tôi mạn phép tác giả đặt lại “tít” bài thơ: “Chiều ngược”. Vâng. Chỉ hai chữ “Chiều ngược” như vậy là hàm chứa được mọi sự rắc rối, gian khó trong cái công cuộc đi “tìm anh” rồi. Mà lại ngắn gọn hơn. Như vậy, sẽ phải “hy sinh” một chút. Đó là: Tên của tác giả nghe thơ hơn, hay hơn. Nhưng không bao quát được cả bài bằng “Chiều ngược”. Nếu tên như của tác giả thì chỉ nên khai thác “ngược gió” thôi và khoét vào cái tứ này – cũng lắm thứ để nói.
Cũng xin thưa với độc giả, tôi có phổ bài thơ này thành bài hát mang “tít” như trên: “Chiều ngược”. Các bạn có thể nghe trên Youtube hoặc Website “Bài ca đi cùng năm tháng” do 3 ca sĩ cùng thể hiện: Thúy Đạt, Kim Khánh và Vô Thanh.
31/7/2022
Nguyễn Đình San
Theo https://vanhocsaigon.com/

Sự trường cửu của giá trị - Căn tính dân tộc trên hành trình hiện đại: Trường hợp Esenin và Nguyễn Bính

Sự trường cửu của giá trị - Căn tính
dân tộc trên hành trình hiện đại:
Trường hợp Esenin và Nguyễn Bính

Sergei Esenin không chỉ là một con người, mà là chiếc đàn organ do thiên nhiên tạo nên đặc biệt dành cho thơ – M. Gorki
Trước sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn là nhà thơ  của tình quê, chân  quê, hồn quê – Tô Hoài
1. Trở về văn hóa dân tộc từ điểm nhìn trữ tình hiện đại: Ứng xử nghệ thuật của Esenin và Nguyễn Bính trong buổi giao thời
Kể từ khi thơ Sergei Esenin được dịch năm 1962 đến nay, hành trình tiếp nhận thơ Esenin tại Việt Nam đã trải qua sáu thập kỷ với bốn hình thức chính:1/ dịch thuât; 2/ nghiên cứu của các nhà nghiên cứu văn học; 3/ giảng dạy trong nhà trường; 4/ là đề tài sáng tác của các nhà thơ (như trường hợp Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo…)1. Trong tham luận tại Hội thảo Quốc tế nhân dịp 120 năm ngày sinh Esenin tại Moskva, Ryazan và Konstantinova từ 23 đến 26 tháng 9 năm 2015, nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh cho biết: đến thời điểm ấy, đã có hơn hai trăm bài thơ của Esenin được dịch sang tiếng Việt, Esenin có mặt trong 22 tuyển dịch thơ nước ngoài, có 8 tập thơ mang tên Esenin được in riêng.
Như một liên tưởng tự nhiên, nhắc đến Esenin, độc giả Việt nhớ đến Nguyễn Bính và ngược lại. Sự liên tưởng ấy gắn với ba tương đồng cơ bản: một, cả hai thi sĩ đều có nguồn gốc nông dân và chủ yếu tự học; hai, đều là những nhà thơ sống và viết trong giai đoạn giao thời văn học; ba, viết hay về nông thôn và vẻ đẹp linh hồn làng mạc. Trong khi nhiều cây bút chịu ảnh hưởng sâu đậm của các trào lưu nghệ thuật tiền phong hiện đại, Esenin và Nguyễn Bính lại hướng về vẻ đẹp làng quê. Trước, như một “theo dòng” và sau, như một “ngược dòng”. Nhưng ngược dòng trở về khác với lẫn, lặp ca dao hoặc bị cớm/ lẫn trong thơ ca truyền thống. Về bản chất đây là một truy tìm văn hóa, một cân bằng sinh thái, một hướng cách tân từ nhãn quan nghệ thuật hiện đại. Bởi thế, trong thơ Esenin và Nguyễn Bính, yếu tố truyền thống và hiện đại luôn đan cài, cùng có mặt trong một chỉnh thể độc đáo.
Đương thời, đã có người chê Esenin là cũ và coi Nguyễn Bính là kẻ ít học, quê mùa. Nhưng trong khi nhiều thời thượng nghệ thuật nhanh chóng bị lãng quên thì Nguyễn Bính và Esenin vẫn tồn tại, đầy quyến rũ. Nguyễn Bính là gương mặt sáng giá của Thơ mới 1932- 1945. Sau nhiều năm bị lãng quên, đến Đổi mới (1986), thơ Nguyễn Bính tái xuất và được người đọc yêu thích. Tuyển tập Nguyễn Bính (Nxb Văn học, H.1986) được in với số lượng lớn và tiêu thụ nhanh chóng vượt ngoài tưởng tượng của nhà xuất bản. Về mức độ phổ cập, nhiều người coi Nguyễn Bính chỉ đứng sau Nguyễn Du. Thế Phong từng ghi nhận: Có thể nói sau Nguyễn Du, Nguyễn Bính là người được mọi người học thuộc thơ nhiều nhất2. Thơ họ có khả năng lay thức con người ngay trong kỷ nguyên hiện đại và hậu hiện đại. Con đường trở về kia, ngẫm ra là một ứng xử nghệ thuật đầy bản lĩnh, ở đó, có cả sự mách bảo của vô thức sáng tạo. Trong ứng xử này, ít nhất có hai vấn đề cần lưu ý: thứ nhất, như một phương thức khước từ thực tại để hướng về những vẻ “đẹp xưa” – hình ảnh bình an của “vườn địa đàng” đang bị tước đoạt bởi quá trình đô thị hóa; thứ hai, gắn với quê hương xứ sở chính là sự kết nối giữa cái tôi cá nhân cô đơn trong thực tại với chiều sâu tâm thức cộng đồng. Tất cả đều thể hiện những trăn trở về thân phận con người và sự biến đổi các giá trị văn hóa trong buổi giao thời. Xem ra, tầm vóc của của Esenin và Nguyễn Bính rộng lớn hơn nhiều so với mặc định rằng họ “nhà thơ nông thôn”. Nói khác đi, coi Esenin và Nguyễn Bính là nhà thơ nông thôn là đúng, nhưng chưa đủ. Sống và viết trong bước chuyển giao thời, cả Esenin và Nguyễn Bính vừa chịu/ bị quy định bởi diễn ngôn thời đại, vừa là kẻ tham gia kiến tạo diễn ngôn thời đại ấy.
Văn học Nga, sau “thế kỷ vàng” với những tài năng kiệt xuất như A. Pushkin, L. N. Tolstoi, F. Dostoievsky… đã được tiếp nối bởi “thế kỷ bạc” kéo dài từ thập niên cuối của thế kỷ XIX đến hai thập niên đầu của thế kỷ XX. Danh xưng “thế kỷ bạc” do triết gia N. Berziaev đề xuất chưa hẳn đã được các nhà nghiên cứu thống nhất về nội hàm, nhưng về cơ bản, tên gọi này nhằm biểu đạt một thời đại có những kết tinh văn hóa nghệ thuật không hề thua kém “thế kỷ vàng” trước đó. Về triết gọc là Soloviev, Berdiaev, Bungacov… Về âm nhạc và nghệ thuật là Rakhmaninov, Skriabin, Staislavski,… Về hội họa là Levitan, Larionov, Kandinski… Về văn học là Blok, Maiacovski, Esenin, Gorky…
Điều đáng nói là toàn bộ “thế kỷ bạc” trong văn học Nga nằm trọn trong buổi giao thời. Vì thế, nghiên cứu nghệ thuật giai đoạn này phải đặt nó trong những chuyển động mang tính giao thời, có kế thừa, tiếp nhận và tiếp biến văn hóa. Nhìn một cách tổng thể, đây là giai đoạn văn học Nga sải những bước chân mạnh mẽ để tiến vào quỹ đạo nghệ thuật hiện đại thế giới. Trước đó, về mặt lịch sử, những nỗ lực phi thường của Pie Đại đế (1672 – 1725) đã mở toang cánh cửa để nước Nga hội nhập Tây Âu, chuyển dần sang tư bản chủ nghĩa. Chính ông đã biến Sankt – Petersburg thành “Venezia của phương Bắc” và là kinh đô của nước Nga (1712). Đến cuối thế kỷ XIX, tiến trình hiện đại hóa đã đưa nước Nga nhập sâu hơn vào thế giới và trở thành đế quốc hùng mạnh. Một nước Nga nông dân với những cánh rừng bạch dương bạt ngàn đã bắt đầu làm quen với văn minh kỹ trị. Về mặt văn học và văn hóa, “thế kỷ vàng” với những tài năng kiệt xuất đã đưa văn học và văn hóa Nga phát triển đến độ rực rõ. Như vậy, từ phương diện nội sinh, “thế kỷ bạc” đã được thừa hưởng những giá trị văn hóa to lớn của “thế kỷ vàng” và văn học truyền thống. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nga bị chấn động bởi hàng loạt các sự kiện lịch sử liên quan đến vị thế đế quốc Nga trên bản đồ chính trị hiện đại. Cuộc chiến Nga – Nhật xảy ra năm 1905 và sự thất bại của người Nga đã khiến chế độ Sa hoàng Nicolai II thêm một lần nữa phải đối mặt với khủng hoảng và sự phản ứng của dân chúng. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất với hàng chục triệu người chết cũng để lại những chấn thương to lớn không chỉ đối với các quốc gia châu Âu mà còn đối với nước Nga mặc dù trước khi thế chiến kết thúc, Nga xin rút khỏi liên minh. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi cũng là sự kiện chính trị to lớn làm đảo lộn đời sống chính trị của nước Nga. Năm năm sau, vào 1922, Liên bang Xô viết được thành lập trong sự chào đón và hy vọng của nhiều người, trong đó có S. Esenin.
Những biến động trên đây trong giai đoạn chuyển giao hai thế kỷ đã tác động đến toàn bộ đời sống văn hóa xã hội Nga, trong đó, có bốn điểm nổi bật: thứ nhất, quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa ngày càng nhanh chóng đã làm thay đổi căn bản cấu trúc hình thái xã hội, hình thành lối sống, tâm lý thị hiếu mới khác với văn hóa Nga cổ truyền; thứ hai, ở cấp độ hình thái tư tưởng, đây là thời kỳ nẩy sinh sự tương tranh giữa nhiều trường phái tư tưởng và các loại hình diễn ngôn nghệ thuật trong thời đại hội nhập quốc tế mà trước hết là phương Tây; thứ ba, trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, với tư cách là một “chỉnh thể phức tạp”, văn học “thế kỷ bạc” vừa tiếp nối truyền thống ưu tú của thế kỷ vàng, vừa trực tiếp cọ xát/ tiếp nhận/ ảnh hưởng những trào lưu triết mỹ hiện đại của Âu Mỹ; thứ tư, xuất hiện dự cảm về một “bước ngoặt vĩ đại” cũng như ý thức về vị thế, vai trò của văn hóa Nga trên bản đồ văn hóa thế giới Tính chất bước ngoặt và linh cảm về sự thay đổi này đã được V. A. Keldysh nói đến qua việc dẫn giải ý kiến của L. Tolstoi, A. A. Blok,  A. M. Gorky3. Đây cũng là bốn nhân tố quan trọng kết thành khung tri thức quy định diễn ngôn văn hóa và văn học “thế kỷ bạc” mà bất cứ cây bút nổi tiếng nào cũng chịu ảnh xạ ở những mức độ khác nhau.
Bước chân ra đi từ một gia đình mộ đạo ở làng Konstaninovo thuộc tỉnh Ryazan, đến Moskva vào năm 1912 với bản thảo tập thơ Những suy tưởng đớn đau, Esnin chính thức bước vào môi trường đô thị. Đây là những bước dịch chuyển mang tính phiêu lưu, nhưng là sự phiêu lưu cần thiết để Esenin trở thành một trong những thi sĩ tài năng nhất của “thế kỷ bạc”. Bởi cũng như Nguyễn Bính, những khúc hát hay nhất của Esenin chỉ có thể xuất hiện khi ông đã rời khỏi “quê” để bước ra “tỉnh”. Từ tỉnh/ đô thị ngoái nhìn về quê/ nông thôn, những tiếng hót đầy day dứt của con đỗ quyên mới thực sự sâu sắc và ám ảnh. Dĩ nhiên, đó là những ám ảnh kết hợp cả hữu thức và vô thức. Ở chiều sâu vô thức nghệ thuật, có thể nhận thấy hơi hướm của những khúc hát dân ca vẫn còn dư đọng, âm hưởng của thánh thi và truyền thuyết tôn giáo cũng như những trò nghịch ngợm thơ dại vẫn còn bám riết lấy kẻ du đãng dịu dàng là Esenin, cũng như khung trời cổ tích gắn với làng Thiện Vịnh đồng quê chiêm trũng đầy ắp hoa cam, hoa bưởi và tiếng trống hội làng vẫn ẩn náu trong tiềm thức Nguyễn Bính sau khi ông lìa bỏ quê hương để “gian díu với kinh thành”. Đó cũng là nguồn cơn tạo nên những phức cảm nghệ thuật đầy mâu thuẫn của hai thiên tài “lỡ vận” là Nguyễn Bính và Esenin.
Để thích ứng với môi trường văn hóa đô thị, Esenin buộc phải tìm cách bổ khuyết cho vốn văn hóa có phần “tự nhiên” của một chàng trai trẻ có gốc gác nông dân. Esnin tham gia nhóm thơ nhạc của Surikov, theo học Đại học Nhân dân mang tên A.L. Shanyavsky và say mê những tác phẩm kinh điển của văn học Nga. Ông thấy mình gần gũi với nghệ thuật của Gogol, Necrasov, Koltsov… Tuy nhiên, bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của Esnin thực sự diễn ra từ khi ông chuyển đến Petersburg năm 1915. Tại đây ông được sống trong mạch chảy đầy sôi động của văn hóa đương đại, được gặp gỡ và làm quen với các nhà thơ nổi tiếng như A. Blok, S. Gorodetsky… Chính Blok đã truyền cho ông những năng lượng sáng tạo mới, và môi trường văn hóa đương đại trở thành phép thử với Esenin, vừa “hút”, vừa “đẩy”. Ở phía lực hút, nó cho phép Esenin tiếp cận những tư tưởng nghệ thuật hiện đại; ở phía lực đẩy, nó khiến Esenin phải tự lắng nghe bản thân mình để lựa chọn con đường sáng tạo thích hợp nhất. Con đường ấy chính là trở về với giá trị văn hóa truyền thống. Dĩ nhiên, sự trở về ấy không còn nguyên bản mà đã mang theo những phẩm tính hiện đại.
Chính tại kinh thành Petersburg vào năm 1916, ông ra mắt tập thơ Radunitsa (Lễ cầu hồn) và được đánh giá cao. Esenin trở thành thi sĩ nổi tiếng toàn Nga. Sự kiện này được Esenin nói đến trong thơ: Sáng mai mẹ đánh thức con dậy sớm/ Mẹ châm đèn sáng phòng khách nhà ta/ Người ta bảo, con một ngày sắp đến/  Thành nhà thơ nổi tiếng của nước Nga4. Đúng ra, trong những ngày đầu, ánh sáng của văn hóa đô thị đã làm Esenin choáng ngợp. Ông say mê Blok và nhanh chóng trở thành một trong những người sáng lập trường phái thơ hình tượng (1919). Đây là trường phái đề cao trực cảm nghệ thuật, tôn sùng hình tượng, chủ trương biểu đạt sự hỗn độn của thế giới qua những câu thơ tự do. Nhưng có lẽ vì những ràng buộc đầy rắc rối của trường phái này mà về sau Esenin đã ly khai khỏi nó như một tất yếu. Sau này, Esenin “phủ nhận mọi trường phái” vì “nhà thơ không thể khư khư một trường phái nào đó”, và “chỉ có nghệ sĩ tự do mới  có thể mang lại những ngôn từ tự do” (Tự thuật, 20/6/1924).
Nguyên do nằm ở chỗ, năng lượng sáng tạo cơ bản trong thơ Esenin gắn liền với cội rễ văn hóa truyền thống và những ám ảnh ấu thời. Tất nhiên, nếu chỉ dừng lại ở truyền thống, sẽ không thể có một Esenin tầm vóc như chúng ta vẫn thấy. Điều mấu chốt là năng lượng ấy phải được gắn kết sâu xa với mạch nguồn văn hóa thời đại và được xử lý một cách cực kỳ tinh tế trong cái nhìn nghệ thuật đầy cá tính của Esenin. Tại đó, sinh thể thơ Esenin có sự bện kết của ba nguồn mạch chính: 1/nỗi nhớ đồng quê, 2/cảm thức tôn giáo và 3/ niềm khắc khoải của đứa con hư muốn trở về trong sự bao dung của mẹ, thì thầm với mẹ về sự trinh bạch của tâm hồn sau bao vấp ngã đường đời. Hướng về căn rễ văn hóa Nga, yêu thiên nhiên và Tổ quốc Nga bằng tình yêu sâu sắc qua những vần thơ giản dị, đầy họa và đầy nhạc là lựa chọn nghệ thuật chính xác của Esenin trong một thời đại xuất hiện nhiều trường phái nghệ thuật tân kỳ. Tính hiện đại trong thơ Esenin bắt nguồn từ sự kết hợp nhuần nhuyễn ấy. Yêu thích phiêu lưu nhưng thủy chung với “nỗi buồn đồng ruộng”, Esenin nhận thấy rất rõ sự vướng víu của các loại trường phái nghệ thuật đầy rẫy lúc bấy giờ: “Nghệ thuật đối với tôi không phải là sự cầu kỳ của những đường thêu ren, mà là thứ ngôn ngữ cần thiết nhất giúp tôi thể hiện mình” (Tự thuật). Với Esenin, ngôn ngữ phù hợp nhất chính là thứ ngôn ngữ bảo đảm tính tự do trong sáng tạo nghệ thuật. Đó là lý do ông hướng đến Pushkin, trân quý Block vì cũng giống như hai thiên tài nghệ thuật này, mạch chảy cao nhất trong trữ tình của Esenin là tình yêu Tổ quốc, là sự say mê vẻ đẹp Nga: Ôi, nếu như thiên thần lên tiếng gọi/ Bỏ nước Nga lên sống ở thiên đường/ Tôi sẽ đáp: Thiên đường xin để đấy/ Cho tôi xin ở cùng tổ quốc yêu thương (Ôi, nước Nga… 1914).
Cách mạng tháng Mười thắng lợi, Esenin nhiệt thành chào đón và thực tế ông đã có nhiều thi phẩm chào mừng thời đại mới. Nhưng những cứng nhắc của chính quyền Xô viết trong giai đoạn đầu, sự nghiệt ngã của đất nước sau chiến tranh… đã không hóa giải được những bi kịch tinh thần của Esenin. Dẫu vậy, những bài thơ hay nhất của Esenin giai đoạn này vẫn là những bài thơ viết về nước Nga với vẻ đẹp thuần khiết, đượm buồn.
Còn Nguyễn Bính? Những bài thơ “chân quê” hay nhất của ông cũng được viết khi con chim đã “lìa đàn” để trú ngụ trong không gian văn hóa đô thị. Cái nhìn của Nguyễn Bính thực chất là sự “ngoái về” với rất nhiều rạn vỡ bên trong. Giống Esnin, Nguyễn Bính “trở về” như một chối bỏ thực tại, cái thực tại mà về lý trí, họ biết là hấp dẫn hơn thôn quê, nhưng về phương diện tinh thần, đô thị không thể có sự thanh sạch, trinh khiết để cứu rỗi linh hồn và an ủi vỗ về những nỗi đau tha hương của họ. Sự bình yên chỉ có thể tìm thấy trong văn hóa đồng quê. Tại đó, nhà thơ nhận ra bản lai diện mục của mình một cách rõ nhất.
Thời đại Nguyễn Bính sống và viết là thời đại giao lưu văn hóa Đông – Tây. Giai đoạn giao thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam không có được tầm vóc như “thế kỷ bạc” ở Nga nhưng sự tương tranh cũ / mới về quan niệm, tư duy và thi pháp nghệ thuật diễn ra hết sức gay gắt. Sự ra đời của Thơ mới là sự kết hợp của yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh, trong đó, “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”5. Đó là thời đại chứng kiến sự bùng nổ của cái tôi cá nhân (individu), và chính sự giải phóng triệt để cá tính sáng tạo cá nhân đã giúp cho các nhà Thơ mới có điều kiện tự do bày tỏ “khát vọng thành thực” của họ. Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa các khuynh hướng mặc dù ranh giới giữa chúng là không quá rõ ràng. Theo Hoài Thanh, Thơ mới có ba khuynh hướng nổi bật: khuynh hướng ảnh hưởng thơ Pháp; khuynh hướng trở về phương Đông và làm sống lại hồn vía thơ Đường; khuynh hướng “có tính cách Việt Nam rõ rệt”. Nguyễn Bính thuộc khuynh hướng thứ ba, khuynh hướng thuần Việt. Sự độc đáo của Nguyễn Bính, theo nhà phê bình, nằm trong chất giọng “quê mùa”.  Tuy nhiên, là nhà thơ của thời đại giao thời, “đường về chân quê”6 của Nguyễn Bính giống như cô gái trong thơ ông, đã cài thêm chiếc “cúc bấm” hiện đại sau nếp khăn nhung quần lĩnh cổ truyền. Nói khác đi, cả Nguyễn Bính và Esenin đều hoài nhớ về vẻ đẹp văn hóa truyền thống bằng cái nhìn của trữ tình hiện đại. Trở về nhưng không phải để giữ nguyên trật tự xã hội cổ truyền mà để lưu lại và sống với những giá trị văn hóa bản địa như một ký ức đẹp đẽ thấm đầy nhân tính. Đó là đường về nguyên lý Mẹ trong cả văn hóa phương Đông lẫn phương Tây. Từ điểm nhìn phê bình sinh thái hiện đại, đây phải được coi là ưu thế của khuynh hướng này, khi nó thể hiện sự gắn kết giữa con người với tự nhiên, giữa hiện đại với truyền thống, giã từ ảo tưởng của con người về sức mạnh vật chất và sự hài hòa về sinh thái tinh thần bên trong.
Trong giao lưu văn hóa Đông – Tây đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam thực hiện một chuyển dịch quan trọng: vượt khỏi phạm vi khu vực để tiến vào thế giới7. Tiến trình này chỉ có thể thực hiện thông qua hiện đại hóa văn học và Nguyễn Bính, dù hướng về chân quê thì cái nhìn nghệ thuật của ông vẫn được xác lập trên cơ sở của cái tôi cá nhân. Chỉ có điều, ông không ngả theo khuynh hướng phương Tây khi học vấn và vốn sống không chuẩn bị cho hướng đi này. Ông cũng không ngả về trầm tích văn hóa Á Đông qua ảnh xạ Trung Hoa và thơ Đường bởi vốn Hán học của Nguyễn Bính chủ yếu là tự học. Căn rễ văn hóa của ông gần gũi hơn với văn hóa dân gian, với tiếng nói của lớp người bình dân. Dễ hiểu vì sao Nguyễn Bính yêu chuộng lục bát, và trong sâu thẳm, ông chỉ thờ phục Nguyễn Du, đỉnh cao văn học dân tộc và thiên tài vô song về lục bát. Là nhà thơ trữ tình hiện đại, Nguyễn Bính đã phổ những cung bậc buồn lỡ của ông vào tình và cảnh, tạo nên một thế giới cổ tích đầy hoài niệm. Cố tích ấy không kết thúc có hậu mà thường là nước mắt, bi kịch. Ở đây, dấu ấn thi học lãng mạn trong thơ Nguyễn Bính thể hiện qua những ước vọng không thành, những mối tình oan trái, những bước chân phiêu dạt lỡ làng…
Vậy là, trong giai đoạn giao thời, cả Esenin và Nguyễn Bính đã biết lựa chọn ứng xử nghệ thuật hợp lý, có khả năng phô diễn tốt nhất tri nhận của họ về lịch sử, con người, thời thế, thể hiện một cách đầy đủ nhất chiều sâu cảm xúc của họ. Đó là mong ước tìm lại chốn an toàn trong một thế giới bất toàn. Cho dù, cuối cùng, không một an toàn nào có thể bao chứa được con người hiện đại. Nhưng so với Nguyễn Bính, Esenin sống và viết trong một môi trường phức tạp hơn, lựa chọn của ông, vì thế cũng quyết liệt hơn. Quyết liệt ngay trong cái chết ở độ tuổi ba mươi. Biết hóa thân vào cây cỏ quê hương, nhập mình vào lịch sử văn văn hóa dân tộc, đó là yếu tố sâu xa nhất tạo nên sự trường cửu của thơ Esenin và Nguyễn Bính.
2. Đồng quê – nơi hóa giải muộn phiền…
Cả Esenin và Nguyễn Bính đều mang trong mình lá “tử vi” tha hương, phiêu bạt. Một mặt, đó là bản mệnh cá nhân trong hành trình tìm cơ hội khẳng định tài năng và những nguồn cảm hứng mới, mặt khác, bước chân phiêu bạt của họ cũng là hình ảnh của con người thời hiện đại lìa bỏ quê hương để bước tới thị thành. Đô thị, với sức hấp dẫn của tiện nghi, nhịp sống hiện đại và xã hội tiêu dùng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông. Nhưng đô thị cũng là nơi cô lập con người, đẩy họ chìm sâu trong thế giới cô đơn. Sự tương phản văn hóa này đã được Ch. Badelaire nói đến từ lâu trong tập Hoa ác nổi tiếng của ông. Nguyễn Bính và Esenin đến với đô thị bằng vốn liếng văn hóa truyền thống và căn cước nông dân, tất sẽ nảy sinh sự va chạm văn hóa. Trong sự đụng độ văn hóa này, sau những hướng tâm ban đầu là quá trình ly tâm. Người sống giữa lòng phố thị mà tâm tưởng nhớ về cố hương. Mâu thuẫn này khiến nỗi cô đơn ngày càng đậm đặc. Bước chân phiêu bạt càng xa thì tâm hồn càng hoang lạnh, mặc cảm lìa đàn và cảm giác tha hương ngày càng đắng chát. Thiếu tương thích về căn cốt văn hóa đã khiến họ tìm về đồng quê như một hóa giải muộn phiền. Điều đó lý giải vì sao vẻ đẹp đồng quê trong thơ Nguyễn Bính và Esenin đều hiu hắt nỗi buồn.
Thực ra so với Nguyễn Bính, bước chân lưu lạc của Esenin xa rộng hơn nhiều. Ông tới Ba Tư, theo Duncan sang Mỹ… Nhưng càng đi xa càng khắc khoải ngày về. Có tương quan để so sánh, Esenin càng thấy rõ hơn sự gắn bó giữa mình và quê hương. Trong Gửi Pushkin (1924), một lần nữa ông khẳng định mình là ca sĩ của thảo nguyên:
Nhưng, dẫu tử thần rượt theo không thể thoát
 Tôi sẽ còn hát mãi giữa mênh mông
Để những bài ca về thảo nguyên bát ngát
Sẽ còn vang ngân lảnh lót tiếng đồng
Quê hương trong cảm nhận của Esenin là những gì bình dị nhất: những con chó nhỏ, cánh đồng đã gặt, ao hồ, ánh trăng đêm… Nhưng có hai hình tượng ám ảnh hơn cả với tâm hồn nhạy cảm của Esenin là bạch dương và người mẹ. Nếu với người Việt, cây đa, bến nước, sân đình gắn liền với văn hóa và hình ảnh quê hương thì với người Nga, bạch dương và thảo nguyên là hiện thân của Tổ quốc, của thiên nhiên Nga tuyệt đẹp. Esenin không chỉ miêu tả vẻ đẹp nông thôn Nga ở trình độ bậc thầy mà ông trò chuyện với những khóm cây, vầng trăng, khu rừng như thể cả hai lắng nghe nhau trong những giao hòa bí mật. Bởi thế, nhà thơ không dừng lại ở vẻ ngoài mà nhập sâu vào hồn cảnh. Hãy nghe ông trò chuyện với bạch dương:
Hãy kể ta nghe những bí mật đời mình
Những ý nghĩ giấu trong từng thớ gỗ
Ta yêu tiếng xạc xào buồn bã
Của ngươi vào mỗi độ thu sang
(15 tháng 8 năm 1918)
Trong bài thơ gửi em gái Sura, Esenin tạo ra sự nhòe nhập giữa người và cảnh, coi bạch dương và người em yêu quý của mình là một. Đủ biết, với Esenin, bạch dương, cây cỏ cũng là con người, còn hồn người luôn gắn chặt với linh hồn đất đai, tạo vật: Vì sa mù và sương mai lấp lánh / Suốt đời anh yêu thân trắng bạch dương/ Với mái tóc bạch dương như vàng nạm/ Với áo choàng vải mộc thiết tha hương/ Bởi vì thế tim anh mềm lại/ Sau bài ca và sau cốc rượu vang/ Anh tưởng em là cây bạch dương ấy/ Đứng bên nhà dưới cửa sổ thân thương (1925).
Như vậy, nếu bạch dương và sự mênh mông của những cánh đồng là biểu tượng gắn kết Esenin với Tổ quốc thì người mẹ và tình thân là nơi nhà thơ tìm thấy sự bình an, che chở, cứu rỗi. Hình ảnh người mẹ trong thơ Esenin mang vẻ đẹp của Đức Mẹ lòng lành. Trong rất nhiều bài thơ, Esenin tự coi mình là kẻ du đãng, gây gổ, rượu chè… Có thể đây là một hình thức “mặt nạ” về thi pháp nghệ thuật như có nhà nghiên cứu phân tích8. Nhưng mặt khác, đặt trong dải phổ văn hóa nhân loại, motif đứa con “hư” và người mẹ cũng là motif ta thường bắt gặp trong thơ ca nhiều dân tộc. Mãi mãi, Esenin chỉ muốn mẹ nhìn thấy mình trong sự trinh bạch ấu thời. Có lẽ cảm thức tôn giáo đã khiến Esenin nhìn về tình mẫu tử như những vẻ đẹp thánh thiện và cao khiết nhất. Vậy là, nếu văn hóa và thiên nhiên Nga cấp cho nhà thơ căn cốt tinh thần thì mẹ là người chở che và chữa lành những vết thương lòng mà Esenin đã gặp. Đây cũng chính là những nhân tố cơ bản giúp Esenin vượt qua những chấn thương tinh thần. Nó vô cùng bình dị nhưng lại ẩn chứa sức mạnh tâm linh trong cái nhìn nghệ thuật Esenin.
Cũng như Esenin, ngày mới lên “tỉnh”, thơ Nguyễn Bính hãy còn trong trẻo, những vết xước đầu đời chưa đến mức “oan nghiệt”. Bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính đăng báo có tên Cô hái mơ (1936) đúng là một nỗi buồn mơ, tình mơ của một thi sĩ lãng mạn… Trong phong trào Thơ mới Việt Nam 1932 – 1945, có hẳn một nhánh thơ đồng quê. Những cây bút xuất sắc của nhánh thơ này như Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ… là những họa công tả cảnh. Nguyễn Bính đi xa hơn, chạm vào hồn cảnh. Những nét vẽ của Nguyễn Bính dù thưa thoáng nhưng cực kỳ tinh tế, đọng lại bao nỗi bâng khuâng:
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng
Lúa thì con gái mượt như nhung
Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng
Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng
(Xuân về)
Giống Esenin, Nguyễn Bính có Thư gửi thầy mẹ với những câu thơ đầy day dứt. Trong tâm trạng của “người con hư”, thi sĩ mong mỏi: Xin thầy mẹ cứ yên tâm/ Đừng thương đừng nhớ một vài năm con về/ Thầy ơi, đừng chặt vườn chè/ Mẹ ơi, đừng bán cây lê con trồng…
Nếu như hình tượng thiên nhiên ám ảnh trong thơ Esenin là cánh đồng và bạch dương thì trong thơ Nguyễn Bính, vườn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó là hình ảnh “cố viên tâm” gợi nhắc cánh buồm phiêu dạt nhớ về cố hương trong văn minh nông nghiệp phương Đông. Vườn là một thực thể được bao bọc bởi làng, đơn vị quan trọng của văn hóa Việt. Vườn cũng là không gian mang tính gia đình, gần gũi. Kể từ sau 1939 – 1940, con đường “Hành phương Nam” đẩy Nguyễn Bính xa hơn với cuống nhau văn hóa xứ Bắc, cái tôi lỡ nhịp, lỡ dở, lỡ vận trong thơ ông trở nên não nề và kết thành nỗi khắc khoải ngày về.
Giới nghiên cứu văn học miền Nam 1954- 1975 cũng nhận thấy điều đó, chẳng hạn Tạ Tỵ: “Bính là một thiên tài, nhưng là một thiên tài lỡ dở, vì tổng kết cuộc sống từ bản thân tới nghệ thuật, ở trong mỗi dữ kiện người ta như cảm thấy Định Mệnh đã an bài cho Bính sự trừng phạt hơn sự ân thưởng”9; Đào Trường Phúc: “Nỗi cô đơn, tình hoài hương, tâm trạng lưu đày cùng một lúc phả vào thơ Nguyễn Bính giai đoạn sau này của ông một hơi thở chua chát thê lương và đốt nóng lên ngọn lửa khao khát của một ngày về”10. Trong chuỗi ngày tha hương của Nguyễn Bính, khác với thơ Esenin hình ảnh thầy mẹ xuất hiện trực tiếp không nhiều, thay vào đó là hình ảnh chị Trúc. Chị là tình thân, cũng là kẻ vào vai cha mẹ để Nguyễn Bính chuyện trò. Vây là ở Nguyễn Bính, ông cũng luôn cần những điểm tựa tinh thần ruột thịt để hóa giải muộn phiền. Điểm tựa ấy tìm thấy rõ nhất qua hình ảnh khu vườn và những tâm tình với tình thân (mẹ cha, chị Trúc). Rõ ràng, những sợi dây kín nhiệm nhất trong tâm thức cộng đồng và vẻ đẹp tinh khôi của văn hóa cội nguồn chính là biểu hiện tinh tế của mối tình đất nước quê hương trong thơ Nguyễn Bính và Esenin. Nhà văn Tô Hoài nhớ lại: “Khi nào anh cũng là người của các xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lý, của mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả sương nắng. Bởi đấy là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính. Quê hương là tất cả, mà cũng là nơi in đậm đấu vết đời mình”11.
Cũng phải nói thêm rằng, cả Esenin và Nguyễn Bính đều là những kiện tướng thơ tình. Ngoài đời, cả hai đều gặp những mối tình sâu sắc nhưng ngắn ngủi. Trong thơ, những cuộc tình đẹp ấy gắn liền với những éo le trắc trở của chính nhà thơ. Nếu thơ tình Esenin là những rung cảm mạnh mẽ của một người được phụ nữ mê say và bản thân ông cũng là người dễ rung động thì tình trong thơ Nguyễn Bính thường gắn với nhiều rạn vỡ, những nỗi buồn xót. Tình trong thơ Nguyễn Bính thường là tình lỡ. Nguyễn Bính thường hóa thân vào những mối tình quê nghẹn ngào. Ông là bậc thầy trong lối nói thác lời.
Đa dạng và phong phú, nhưng xét đến cùng cảm hứng và tình yêu lớn nhất trong thơ Esenin và Nguyễn Bính vẫn là tình quê hương đất nước. Esenin viết: “Thơ tôi sống bởi một tình yêu lớn, tình yêu tổ quốc. Tổ quốc là cảm xúc chủ đạo của thơ tôi”12. Thơ họ chạm tới rung cảm sâu xa của nhiều người, nhiều thời bởi sống trên thế gian này, ai mà chẳng cần đến một quê hương!
3. Sự độc đáo về thi pháp nghệ thuật
Điểm chung giữa Esenin và Nguyễn Bính là những cảm nhận vô cùng tinh tế nằm sẵn đâu đó trong tâm hồn họ. Gắn bó sâu sắc với văn hóa dân tộc nhưng thơ họ không phải là bài ca cổ vũ cho các giá trị truyền thống, cũng không phải là những khúc hát vị lai mà là sự dung hòa giữa cũ và mới, giữa truyền thống và hiện đại trên cơ sở năng lực thấu thị cá nhân. Thi giới của họ được dệt nên bởi những chi tiết bình dị nhưng quyến rũ, giàu sức gợi. Ngôn ngữ của Esenin và Nguyễn Bính là thứ ngôn ngữ giản dị đến mức như là hơi thở của tự nhiên, như những thì thầm và vang vọng của nội giới.
Sự thuần khiết trong tình yêu đất đai, Tổ quốc được Esenin thổ lộ qua những câu thơ vô cùng chân thực: Vì thơ con có một dòng sữa chảy/ Dòng sữa của đàn bò của mẹ của nhà ta. Cũng như thế, Nguyễn Bính hơn một lần tự nhận: Tôi là thi sĩ của thương yêu. Đa cảm và phóng túng, bản năng nhưng quyết liệt, hướng về cái mới nhưng biết gắn cánh diều thơ vào cội rễ văn hóa dân tộc, cả Esenin và Nguyễn Bính đều tạo nên nhiều thi phẩm bất tử cùng thời gian.
Về thi pháp miêu tả thiên nhiên, nhiều người nhận thấy thơ Esenin là những “bức tranh thuốc nước” thiên tài, ở đó có sự hài hòa giữa màu sắc và bố cục 13: Mái tóc xanh tươi/ Bộ ngực trinh trắng/ Cây dương tơ non/ Trong hồ soi bóng (Cây dương tơ non, 15.8.1918); Tuyết rơi, quay lấp loáng/ Trải tấm nệm trắng phau/ Trong mây, trời chợp mắt/ Bóng tuyết ánh rực màu (Mùa đông 1911 – 1912)… Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, trữ tình phong cảnh và những bài ca thiên nhiên đâu phải là đặc quyền của Esenin hay Nguyễn Bính. Đã từng có hẳn một dòng thơ đồng quê trong “thế kỷ bạc” và trong Thơ mới Việt Nam. Nhưng đi xa hơn các thi sĩ đồng quê cùng thời, cái làm nên chiều sâu và vẻ đẹp thơ Esenin và Nguyễn Bính chính là sự giao hòa hơi thở của thi sĩ và thiên nhiên, là khả năng nhập vào hồn của cảnh. Bởi thế trong thi giới Esenin, màu sắc cỏ cây như đang chuyển động, làng quê và văn hóa Nga như thì thầm với nhà thơ về số phận và tâm tư của chúng. Dường như luôn có mối kết giao bí ẩn giữa tâm hồn nhạy cảm của Esenin và thiên nhiên Nga buồn bã qua cái nghiêng tai kỳ diệu của ông. Sự bí ẩn ấy nằm sâu trong cơ chế thiết tạo thi ảnh và nhịp điệu của cây đàn organ mang tên Esenin. Nó là nhân tố giúp cho thơ Esenin, từ những khúc hát trong treo đầu đời những đến dằn vặt đau đớn cuối đời trở thành “kinh thánh của tâm hồn Nga” (Lời kêu gọi của Viện Duma Nga nhân dịp Kỷ niệm 100 năm sinh Esenin).
So với Esenin, màu sắc trong thơ Nguyễn Bính không phong phú bằng, mặc dù không hiếm lúc Nguyễn Bính xuất lộ những nét trổ thần tình: Đã thấy xuân về với gió đông/ Với trên màu má gái chưa chồng/ Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm/ Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong (Xuân về); Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy (Mưa xuân)… Thiên nhiên và văn hóa làng quê trong thơ Nguyễn Bính chủ yếu được dệt từ khung trời hoài niệm, ở đó, cái thực tại khổ nghèo gần như mất dấu, chỉ còn lại vẻ đẹp của những giấc mơ: giấc mơ quan trạng, mơ về những đám hội trai gái tìm gặp nhau, về những dậu mồng tơi xanh mướt nhà nàng ở cạnh nhà tôi… Những giấc mơ bảng lảng sương khói tương tư. Gần đấy nhưng như thể đã rất xa. Xa như chuyện của thời nào…
Thừa nhận mình đã từng say mê Lermontov giai đoạn đầu và sau đó là Pushkin, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Blok nhưng thực ra Esenin không bó mình vào bất cứ trào lưu nghệ thuật cụ thể nào. Ông mở riêng cho mình một cõi, giản dị và thuần khiết, cháy bỏng đến tận cùng đau đớn. Bởi thế, song hành trong thi giới Esenin là các đối cực: vui sướng và khổ đau, tôn giáo và thế tục, sống và chết, hy vọng và tuyệt vọng… Cả hai nhân tố, vẻ đẹp muôn đời của đồng quê/ văn hóa Nga và sự chuyển động của lịch sử buổi giao thời đều vọng vào thi giới Esenin. Tất thảy, đều chân thực đến mức tuyệt đối.
Hướng về làng quê bằng khối tình lỡ và cái tôi đa sầu đa cảm, nét độc đáo nhất của Nguyễn Bính là những trắc trở đời mình được ông kể lại bằng giọng điệu nhà quê. Lấy cái lỡ dở của đời mình để phổ vào cái lỡ bước, lỡ nhịp của người, Nguyễn Bính đã chạm đến một tâm lý phổ quát của nhiều thời: “Cũng là thôi, cũng là đành/ Sang sông lỡ bước riêng mình chị đâu?”. Lỡ bước sang ngang, vì thế, không chỉ là một câu chuyện cụ thể, một cá biệt đời sống mà là một phổ quát về sự chia ly. Trong đời, ai chẳng có một mối tình lỡ nhịp, một ước mơ đứt gãy, và trong những phút oái oăm ấy người ta soi thấy mình trong Lỡ bước sang ngang. Nó cũng không chỉ là chuyện đàn bà, mà rộng hơn, là chuyện của nhân sinh.
Thơ Nguyễn Bính có sự kết hợp giữa tình và sự, mỗi bài thơ như một câu chuyện, trong sự có tình, trong tình có sự. Đánh giá về Nguyễn Bính, ngay từ rất sớm Hoài Thanh đã nhận ra hai phẩm tính tạo nên giá trị thơ Nguyễn Bính là chất giọng “quê mùa” và “hồn xưa của đất nước”14. Tô Hoài cũng nhận thấy nét độc đáo này trong thi pháp thơ Nguyễn Bính: “Nguyễn Bính chẳng khác một người tài kể chuyện, cứ nhẩn nha nói về mọi thứ quen thuộc quanh mình mà khiến ta phải chú ý”15. Thụy Khuê muốn đính chính cách hiểu của Hoài Thanh về hai chữ “quê mùa” khi đưa ra nhận xét: “Thơ Nguyễn Bính bình dân nhưng không quê mùa” và khẳng định Nguyễn Bính nói thơ chứ không làm thơ. Bà cũng nhận thấy trong thơ Nguyễn Bính có sự kết hợp của thể ngâm và thể thoại để đi đến một khái quát: “thơ Nguyễn Bính là tự truyện kết hợp với tiểu thuyết”16.
Thực ra thì thơ nào cũng là “tự thuật tâm trạng” của chủ thể trữ tình, là câu chuyện bí mật của cá nhân họ. Đọc thơ, vì thế, như là nghe/ đọc trộm chuyện của người khác. Sử dụng lối nói thác lời, Nguyễn Bính biến chuyện của mình thành chuyện của một liền anh liền chị nào đó. Chính việc nhập hồn vào những tự sự bình dân kết hợp lối kể nhẩn nha đã trở thành “nhịp mạnh” trong cấu trúc thi pháp thơ Nguyễn Bính. Sức mạnh cảm hóa và khả năng chinh phục số đông của thơ Nguyễn Bính nằm ngay trong cách xử lý thông minh này. Những câu chuyện ấy của Nguyễn Bính “lây lan” đến người đọc qua đường ý thức và cả chiều vô thức17. Thực ra, trong thơ Esenin yếu tố tự sự xuất hiện khá nhiều, nhưng chủ yếu được trình bày trong nguồn cảm xúc trực tiếp của chủ thể trữ tình, còn Nguyễn Bính lại chủ yếu sử dụng cách nói thác lời theo lối trữ tình nhập vai. Vậy nên, đọc thơ ông, chuyện của người mà như chuyện của mình, chuyện của mình lại như là chuyện của người. Ở đó, “điệu nói” và “điệu ngâm” được kết hợp hài hòa, trong đó, điệu nói giữ vai trò hạt nhân của cấu trúc.
Với một cấu trúc trữ tình mang màu sắc kể chuyện như thế, ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính rất gần với lời nói thường ngày của dân gian. Dĩ nhiên, là một thi sĩ Thơ mới, tính điệu nói trong thơ Nguyễn Bính có phần ưu trội hơn so với điệu ngâm vốn là một đặc điểm nổi bật của thi pháp thơ trung đại. Đó là thứ ngôn ngữ giản dị, bình dân nhưng đòi hỏi người viết phải thực sự tài năng: Gái lớn ai không phải lấy chồng/ Can gì mà khóc nín đi không? Nín đi, mặc áo ra chào họ/ Rõ quý con tôi, các chị trông (Lòng mẹ); Em nghe họ nói mong manh/ Hình như họ biết chúng mình với nhau… (Chờ nhau)… Còn ngôn ngữ thơ Esenin, trong cảm nhận của các nhà Esenin học là thứ ngôn ngữ giản dị và gợi cảm, tràn đầy nhạc tính. Thừa hưởng những thành tựu nghệ thuật của Puskin, Lermontov… và những giai điệu dân ca, Esenin đã tạo ra thứ ngôn ngữ tinh chất, đủ sức biểu đạt những cảm nhận vô cùng tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm, đa đoan..
Trong nhãn quan ngôn ngữ nghệ thuật của cả Esenin và Nguyễn Bính, điều quan trọng nhất là sự giản dị của ngôn từ. Sức mạnh của ngôn từ nằm ở chỗ đó phải là thứ ngôn ngữ cho phép nhà thơ bộc lộ tối đa trí tưởng tượng phong phú và năng lực thấu thị cá nhân. Bởi thế, tầm vóc của nhà thơ không nằm ở chỗ làm dáng ngôn từ một cách bề ngoài mà trong tay họ, ngôn ngữ phải hàm chứa một tri nhận sâu sắc về thế giới, có khả năng sinh tạo tư tưởng. Với một quan niệm nghệ thuật như thế, cả Esenin và Nguyễn Bính đã tạo ra thứ ngôn ngữ gần gũi nhưng vô cùng trong sáng. Đó là thứ ngôn ngữ được sản sinh từ tinh chất của tâm hồn.
4. Vĩ thanh…
Những năm 1920 -1925 được coi là quãng thời gian tài năng nghệ thuật Esenin bộc lộ đầy đủ và trọn vẹn nhất. Đó cũng là thời gian ông đã đi qua thời trong trẻo và bắt đầu hứng chịu những chấn động lớn của thời đại. Esenin đã chào đón nước Nga mới một cách nhiệt thành. Nhưng khác với nhà vị lai Maiacovxki, ông nhìn thời cuộc và cuộc sống mới bằng cái nhìn của nông dân. Đây là thời mà Maiacovxki như cánh buồm no gió, còn Esenin chạy trốn thực tại bằng những cơn say. Đúng ra, ông đã cố thử sức mình trong những khúc hát tráng ca. Nhưng thực tại mới và sự không tương thích về văn hóa đã khiến Esenin từ hy vọng chuyển dần sang thất vọng, chán chường. Dù đã nỗ lực thay đổi nhân sinh quan, nhưng Esenin mãi mãi là mục đồng trên thảo nguyên. Tâm hồn ông thuộc về những cánh rừng bạch dương bạt ngàn, những ngôi  nhà gỗ, những khói sương tôn giáo gieo vào thiên nhiên và cuộc sống Nga với nỗi buồn thinh lặng và sâu thẳm. Tại đó, nước Nga thấy mình trong tâm hồn trong trẻo của Esenin và Esenin thấy mình mãi thuộc về nước Nga thuần khiết. Dự cảm “trong thế gian này anh chỉ là kẻ ghé qua” cuối cùng cũng được khép lại bằng khúc giã biệt: Trên đời này chết phải đâu là mới/ Những dĩ nhiên, sống chẳng mới gì hơn (Giã biệt nhé, bạn ơi, giã biệt). M. Gorky đã có lý khi nói về cái chết của Esenin từ góc nhìn ứng xử văn hóa: “Như một cậu nông dân tình cờ bị lạc trong môi trường phố xá. Cậu đi loanh quanh mãi trên các phố, không sao thoát ra ngoài để trở về cảnh đồng ruộng quen thuộc của cậu. Và cuối cùng, cảm thấy thành phố không chịu buông tha mình, cầu đã quỳ xuống đọc kinh cầu nguyện và đứng trên cầu nhảy xuống sông Vixoa, hy vọng dòng sông sẽ đưa mình trở về đồng ruộng. Người ta đã vớt được cậu bé lên, nhưng cậu đã chết vì những vết thương của mình…”. Bi kịch Esenin là bi kịch của thời đại và cũng chính là bi kịch của bản thân ông.
Còn Nguyễn Bính, sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông đã tích cực “nhập cuộc” với những bài thơ giàu tính sử thi, trong đó có những thi phẩm hết sức nổi tiếng sau khi được phổ nhạc18. Song những bài thơ hay nhất của Nguyễn Bính thời kỳ này vẫn là những khúc “tương tư” như Đêm sao sáng, Gửi người vợ miền Nam… Rồi Nguyễn Bính làm Trăm hoa, nhưng Trăm hoa chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Nguyễn Bính trở về quê Nam Định, vẫn mang cảm giác tha hương ngay giữa cố hương. Thực ra, tinh hoa của Nguyễn Bính đã tỏa sáng từ thời hoa niên, còn sau Cách mạng, thơ ông trở nên nhạt màu trong khi văn hóa chưa được bồi đắp thêm để thích ứng với thời đại mới19. Thực tại lúc bấy giờ khó có thể cho phép những bước chân lang bạt và những khúc tình lỡ của Nguyễn Bính một chốn nương thân. “Năm mới, tháng Giêng, mồng Một Tết”, Nguyễn Bính đã ra đi khi ông chưa kịp bước vào “tuổi tri thiên mệnh”. Nhưng cũng như Esenin, trong tư cách nhà thơ, ông đã để lại cho mai hậu và dân tộc mình “nguyên vẹn một mùa xuân”.
Chú thích:
1. Thơ Esenin mà chúng tôi sử dụng trong bài viết này chủ yếu căn cứ vào bản dịch của dịch giả Thúy Toàn.
2. Xem Thế Phong: Lược sử văn nghệ Việt Nam: nhà văn tiền chiến 1930- 1945, Nxb Vàng Son, Sài Gòn, 1974, tr 258.
3. Xem: V.A. Keldysh: Văn học Nga thế kỷ bạc như một chỉnh thể phức tạp (Đào Tuấn Ảnh dịch), tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11/ 2007, tr153-154.
4. Trong Tự thuật, Esenin cho rằng tập thơ Lễ cầu hồn  in năm 1915 nhưng lại được ghi là năm 1916.
5. Hoài Thanh- Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam,Nxb Văn học,H.1988, tr17.
6. Tên một tiểu luận trong Con mắt thơ của Đỗ Lai Thúy, Nxb Lao động, H.1992.
7. Xem Nguyễn Đăng Điệp: Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình & hiện tượng, Nxb Văn học, H.2014.
8. Xem Đào Tuấn Ảnh: Esenin và kỷ nguyên thế kỷ bạc trong văn hóa Nga, Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm, số 13, tháng 9-10/2015, tr 163-170.
9. Tạ Tỵ: Mười khuôn mặt văn nghệ,Sài Gòn, 1970,tr134.
10. Đào Trường Phúc: Nguyễn Bính qua những mùa xuân tha hương, Tạp chí Văn, số 189, ra ngày 1/11/1971,tr 50.
11. Tô Hoài: Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bính, Nxb Văn học, H.1986, tr20.
12. E.I.Naumov: Sergei Esenin – Cuộc sống và sáng tạo nghệ thuật, Moskva- Leningrat,165,p.216; Dẫn theo Nguyễn Đức Tuấn: S.A.Esenin – Người thơ, trong Sergei Esenin tiến trình thơ ca Nga (Lê Từ Hiển chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, H.2015, tr 224.
13. Nguyễn Trọng Tạo: Esenin- nhà thơ của thiên nhiên và tình người, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 6/2006
14. Hoài Thanh – Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, Sđd, tr334.
15. Tô Hoài: Lời giới thiệu, Sđd, tr 20
16. Thụy Khuê: Nguyễn Bính. Nguồn: http://thuykhuefree.fr/.
17. Thuật ngữ của Vugotsky, Xin xem: Tâm lý học nghệ thuật, Hoài Lam, Hoài Ly dịch, Nxb Khoa học xã hội, H.1981.
18. Đó là trường hợp bài thơ Cửu Long giang được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc với nhan đề Tiểu đoàn 307 trong thời gian Nguyễn Bính hoạt động văn nghệ ở miền Nam thời kháng chiến chống Pháp.
19. Đây cũng là nhận xét của Tô Hoài về bạn mình trong Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Bính (1986).
1/8/2022
Nguyễn Đăng Điệp
Theo https://vanhocsaigon.com/

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

Mùa xuân phía
trước miên trường phía sau

Với 60 đầu sách và 14 tập thơ, lúc sinh thời Bùi Giáng (1926-1998) trong xiêm áo thảm thương của người hành khất bước vào thi ca mà làm nên chuyện phụng hiến cho đời. Không phải một lần tự nhận trước là thi sĩ sau là đười ươi và ngạo mạn gọi Nguyễn Du là con ngỗng trời. Hơn thế nữa, người đời đã không tiếc lời ban tặng nhiều danh hiệu cho ông. Một trong những thi sĩ kỳ dị nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Bùi Giáng nguồn Xuân.
Người thi sĩ chối bỏ thi ca. Hồn thơ bị vây khốn. Bùi Giáng cuộc hòa giải vô tận. Người lữ khách cuồng điên và khôn cùng kỷ niệm. Hiện tượng Bùi Giáng. Trường phái Bùi Giáng. Bùi Giáng rong chơi phố thị. Nhà thơ của ngày tháng ngao du. Một nhà thơ độc đáo. Phóng túng hình hài ngang tàng tính cách. Thiên tài hủy diệt v.v… Tưởng như còn chưa dứt. Nhưng có lẽ, người ta tốn nhiều giấy mực hơn cả khi bảo rằng ông là một nhà thơ điên. Người điên và thơ điên như chính lời ông nhận. Chữ điên chưa ai đếm rõ xuất hiện bao nhiêu lần trong thơ ông. Đặc biệt giai đoạn từ 1969-1970 trở đi. Vừa điên dại vừa thê lương. Vừa vui trời đất vừa buồn nắng mưa. Điên với Bùi Giáng là sự tĩnh tâm giản đơn và thường nhật của đời người. Nắng trưa, nắng xế đầy trời, bóng cây râm mát cho đời ta điên. Bùi Giáng điên thật sự khi nhắn gửi Cô Kim Cương ơi! bằng lời tỏ tình tội nghiệp rằng khi thi sĩ chết đi, nếu không rỏ được giọt lệ thì cũng rỏ một giọt… nước tiểu lên chính mộ cho ông để ngậm cười nơi chín suối vẫn còn thấy thơm lây? Nhưng điên không phải cái làm nên thi sỹ Bùi Giáng mà hơn nữa cũng không phải là điều gì mới mẻ trong thơ. Trước Bùi Giáng đến hơn ba chục năm, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên đã điên một cách cao ngạo và sang trọng rồi. Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Chế Lan Viên thêm: Làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là người. Nó là người điên. Hàn Mặc Tử có cả một tập Thơ điên. Còn gọi là Đau thương. Nhưng chưa bao giờ hai người ấy điên thật như Bùi Giáng cả. Hàn Mặc Tử viết 2 bài thơ Anh điên, Em điên nhưng rất tỉnh khi kể rõ ngọn ngành chuyện đường tơ đã đứt mà không đứt được. Tập Thơ điên lại có những bài thơ trong sáng nhất của Tử. Mùa xuân chín. Đây thôn Vĩ Dạ… Chế Lan Viên chỉ để một lần Trăng điên mà thôi và thốt ra một câu thật tỉnh: Mảnh trăng cũng điên rồi em ạ.
Bởi thế cái để lại cho đời của Bùi Giáng không phải người điên, thơ điên mà ở chỗ sự xuất hiện của ông vào năm 1962 ở Sài Gòn, khi tập thơ đầu tiên của ông – tập Mưa nguồn được xuất bản như là sự tiếp nối đầy sức sống của chủ nghĩa lãng mạn trong phong trào thơ Mới 1930-1945, làm nên một phong cách thơ trữ tình, lãng mạn với nhiều vần thơ hay và tạo nên căn cốt thơ Bùi Giáng. Sự tiếp nối ấy là minh chứng cho sức sống của thi ca Việt Nam như là một dòng chảy liên tục của thơ, bất chấp những ghềnh thác đổi thay của xã hội và lịch sử mỗi thân phận con người. Nét chủ đạo của phong cách Bùi Giáng ở phương diện này là cảm thức giao hòa giữa thời gian, thiên nhiên và tình người trong những vần thơ đẹp nhất, trữ tình, lãng mạn và tinh tế giữa tiếng reo vang của trần gian chiều bên lá lung lay vàng cửa khép.
Đó là bức chân dung người con gái ở trên rừng giữa một buổi trưa đầy gió ngẫu nhiên của lúc sang mùa tao ngộ.
Em ở trong rừng một buổi trưa
Ngẫu nhiên tao ngộ gió sang mùa
Hai bờ lãnh địa đau lòng gọi
Sầu suốt giang san vọng tiếng thừa.
Đó chỉ là tà áo xanh thôi mà ẩn chứa cuộc bể dâu trời đất còn chưa nguôi giấc mộng buổi ban đầu.
Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh.
Đó là dòng sông thời gian đi về bến đợi ngu ngơ mây khói chung niềm cảm hứng bơ vơ với phận con người.
Mây đứng lại chân trời phủ khói
Dòng sông đi bến đợi ngu ngơ
Trời chiều đẹp tâm tình em không nói
Đất với trời chung nghĩa bơ vơ.
Đó là buổi trưa tìm về nơi sách cũ. Cuốn cổ lục vốn không còn thơm nữa ở bên đèn đêm trước để nay sáng sớm hay chiều buông liễu rủ mà chẳng hề biết lạ hay quen, như thấp thoáng một bóng người ở đó.
Về cổ lục cũ rồi câu chuyện cũ
Và cảo thơm không mới nữa bên đèn
Và sương sớm hay chiếu buông liễu rủ
Biết thế nào mà nói lạ hay quen.
Đó là một Bùi Giáng chẳng bao giờ điên khi cảm thức đầy nhân hậu và đau đáu về một trần gian thi sĩ đang chung sống mà có lần ông gọi to lên: Trần gian hỡi tôi đã về đây sống, tôi đã tìm đâu ý nghĩa của trần gian. Cũng có lúc tuyệt vọng phải rời xa nó: Tôi bỏ trần gian năm tháng lạ, khóc rất nhiều em ạ, em ơi. Nhưng cao hơn tất cả, điệp khúc trần gian được nhắc đi nhắc lại như sự hài hòa giữa thiên nhiên, thời gian và thân phận con người.
Nước ở trần gian thương nhớ gió
Nằm sông buồn ngủ nhớ không lời
Tiếng nhỏ ngậm ngùi nhà em rộng
Đi bốn phương trời chỉ gặp mây.
Dù biết chắc ngày sẽ hết nhà thơ không ở lại và sẽ đi mà chưa biết đi đâu, vẫn tiếc thương trần gian mãi mãi vì ở nơi đây người sống đủ vui buồn. Cái cuối cùng còn lại Bùi Giáng muốn mách bảo con người trong sự xoay vần của thiên nhiên và thời gian chỉ còn hai điều quan yếu nhất. Đó là mùa xuân chan hòa cả quá khứ, hiện tại và tương lai.
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau.
Bùi Giáng thường hình dung chiều dài vô tận của mùa xuân lúc thì nước chảy mãi bởi vì xuân trở lại khi thì dòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại. Mùa xuân ấy rộng dài đến mức siêu hình Ngàn xuân rộng vô ngần trong bóng nguyệt. Không hiểu vài thế kỷ sau người em gái nhìn trăng có còn thấy nguyên màu xuân ấy hay không, làm cho mùa xuân hữu hình mà lại vô hình trong vòng tay đẹp thơ dại của cành xuân. Mùa xuân ấy được làm nên bởi tình thương và lòng vị tha của con người với con người giữa bao nhiêu thử thách.
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng, giữa lời hẹn hoa
… Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.
Không thi sĩ nào đau đáu chữ trần gian như Bùi Giáng. Nhưng Bùi Giáng lại lánh xa thế sự. Thơ ông nhập cuộc lúc Việt Nam đang ngập chìm khói lửa chiến tranh. Vậy mà trong Bùi Giáng – Đười ươi chân kinh – NXB Hội Nhà văn in 2011 với 245 bài thơ, 88 câu lục bát lẻ và nhiều tiểu luận, chỉ một lần Bùi Giáng dùng từ chiến tranh và một lần bôm (bom). Khuynh hướng chung của không ít nhà thơ miền Nam thời kỳ 1954-1975 nghiêng về bày tỏ thân phận con người. Khác với khuynh hướng sử thi gắn Thơ với cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc và phẩm chất anh hùng của người Việt Nam trong thi ca miền Bắc. Giờ đây, thi ca Việt Nam như là một chỉnh thể thống nhất đã hợp lưu hai dòng chảy ấy để tiếp tục câu chuyện sử thi hùng tráng của đất nước với khát vọng và niềm trắc ẩn của thân phận con người, làm nên diện mạo mới của thi ca hiện đại trước thách thức và cơ hội của thời cuộc trên nền tảng của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân văn.
Nhân vật thường gặp trong thi ca lãng mạn Bùi Giáng là người mà ông gọi ngắn gọn là gái – nghe lúc đầu thấy không quen tai và trang trọng gì nhưng thật ra là những điều từ gan ruột của ông.
Hồng nhan không lệ mà hai mắt sầu
Chở lang thang nối chân cầu
Rẽ chia ngàn nước tại màu gái tơ.
Đôi khi là những tên gọi mơ hồ. Dòng thiên thu rộng là em bây giờ. Lại có lúc mang đậm màu lụy tục Trời ơi có nhớ hẻm nhà hồng nhan. Có lúc lại trọng vọng quá đáng gái Quảng Nam đội lên trên ông trời. Không có ai như Bùi Giáng công khai mê mẩn với những thiên hương quốc sắc Nam Phương Hoàng hậu, Marilyn Monroe, Bricitte… và dành 7 bài thơ gọi cô Phùng Khánh là mẫu thân. Họ ngang hàng với những người bình dân khác mà ông gọi là Nàng ve chai, Nàng tiên lao động, Em mọi… Ít ai kỳ dị như Bùi Giáng khi nói chuyện tình cảm với nửa bên kia của loài người. Ở đây, lẫn trong bao nhiêu câu thơ ngu ngơ, quê mùa, dân dã… bỗng sáng lên vần thơ đẹp rỡ ràng. Bùi Giáng gửi phận làm thi sĩ với thôn nữ Vĩnh Trinh.
Làm thơ như ngỗng lạc bầy
Bay cô đơn gió một ngày cuối thu.
Trong bài thơ dài Trang phượng vĩ, Bùi Giáng mô tả người con gái Việt ở miền lục tỉnh u sầu hay đang ngủ giấc buồn hải ngoại. Buổi xuân xanh hớt hải về thăm cho mùa thu mộng triền miên bởi vẻ đẹp chải chuốt như tóc người của thời gian.
Em có thấy thời gian đi óng ả
Suốt càn khôn châu thổ nguyệt sương đồng.
Nhiều lúc theo bóng mây chiều như không thể tìm thấy ai là người tri kỷ ở thế giới siêu thực này.
Buông xuôi nửa tiếng thở dài
Những ai hình nhạt những ai bóng nhòa.
Trong lúc nhiều thi sĩ miền Nam 1954-1975 mà điển hình là Thanh Tâm Tuyền đi tìm một hướng mới hiện đại cho thơ dưới sự dẫn đường của chủ nghĩa hiện sinh; Cũng có nhà văn coi thơ Bùi Giáng hiện sinh trong đoạn trường và định mệnh. Thân phận dâu bể của con người, nỗi hoài nghi về số kiếp, ta từ đâu lại? ta là ai? Những trầm luân, biến đổi làm sao đo, đếm, đặt tên được? Đến bản thân ta, ta còn không biết nữa là…nếu hiện sinh của J.Sartre bác bỏ định mệnh thì ở Bùi Giáng định mệnh và hiện sinh giao hưởng với nhau (1). Nhưng cần lưu ý một điều tưởng như mâu thuẫn là Bùi Giáng sống cuộc đời hiện sinh hơn ai hết với sự tự hủy diệt và hành xác ghê gớm thì trong thơ dường như lại chọn cho mình một hướng đi ngược lại. Tưởng Bùi Giáng chìm đắm vào chủ nghĩa hiện sinh lúc viết bài thơ Hư vô và Vĩnh viễn, thì tiếng gọi của chủ nghĩa lãng mạn đã kéo ông trở về. Bờ bến cũng ngậm ngùi sông nước dạo, Đêm tàn canh khắc vợi nguyệt sương ngàn. Ông là một học giả biên dịch những công trình tư tưởng, triết học Đông Tây và không lạ gì với triết học hiện sinh. Bùi Giáng bày tỏ: Có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào hoặc một cơn gió thu. Ông đề cao quan niệm về thơ cốt ở tự nhiên, hồn nhiên. Các ngươi hãy gột rửa bớt thói học đòi bác học đi. Các ngươi hãy mù lòa đi và các ngươi sẽ không còn tội lỗi. Và lấy Xuân Diệu làm ví dụ: Y trẻ dại, y lăng nhăng. Y nói tới nỗi đời rồi y xóa đa đoan dâu biển. Y hồn nhiên rũ áo nắm lấy cung cầm đánh lên tiếng hát giữa mùa xuân (2) Bùi Giáng chọn con đường bình dân, lãng mạn và mơ hồ một cách hồn nhiên, đặc biệt sử dụng triệt để thể thơ lục bát truyền thống được ông coi là hoằng viễn kỳ ảo nhất bốn biển năm châu làm phương thức biểu đạt đầy ngẫu hứng cho thi ca. Tuy nhiên, Bùi Giáng đôi khi dễ dàng quá khiến không ít câu thơ sơ lược, giản đơn, thậm chí đôi khi buông tuồng dễ dãi. Lại có lúc khó hiểu nữa. Thủ thuật ngôn ngữ nói lái khiến người ta thấy ổng muốn làm em của nữ sỹ Hồ Xuân Hương. Tuy vậy do lặp đi lặp lại lối nói lái này, đặc biệt liên quan đến bộ phận sinh đẻ của loài người khiến phong nhụy thơ đôi phần nhàm chán. Có bài nhằm vào cái đó tới 5, 7 lần làm cho không còn ý vị thơ như Hoàng hậu, Đố nọ kia v.v..
Bởi là một thi sĩ, đoản văn và nghị luận của Bùi Giáng phong lưu, tinh tế mà giàu chất thơ. Có lẽ nhành cây của Bùi Giáng hay hơn là cụm hoa của Phạm Duy trong khi hai người cùng dịch câu sau đây của Apollinair: Ta đã hái nhành cây thạch thảo, em nhớ cho mùa thu đã chết rồi. Nhà thơ Huy Tường không phải là một trường hợp đặc biệt nhưng Bùi Giáng chọn được tứ thơ của ông ấy liên quan đến sư nữ trong chùa mà tôi thấy một số nhà thơ trẻ đương đại đã vận dụng để làm sống lại một chút mơ màng nơi cửa Phật.
Giọng chuông rơi thấm cỏ vàng
Nghe kìa sư nữ vừa choàng áo tu
Tôi nằm ấp lá đêm thu
Mai sau nở trái sa mù pháp không.
Từ cảm thụ tinh tế đó, ít ai trong hội làm thơ thế kỷ 20 lại tự hào về thi ca Việt Nam và nhiệt thành cổ vũ như Bùi Giáng. Nguyên Sa được cho là có một sức quyến rũ khác hẳn mọi lối thơ xưa nay. Thơ Thơ của Xuân Diệu dường như toàn thể tuổi xuân bỗng sống dậy kêu gào. Câu thơ của Hồ Dzếnh như thể mang toàn khối Như lai trong mấy trăm bộ kinh Phật. Áo nâu phai nhạt màu cây cỏ, lá rụng hoa rơi đất nước chàm. Mê hồn ca của Đinh Hùng là nguồn thơ lạ nhất trong Thi nhân Việt Nam. Thiên tài Hoài Thanh viết Thi nhân Việt Nam có những lời bất hủ. Thơ Hàn Mặc Tử là tiếng thét đầy máu, tiếng than tràn ngập hư vô. Huy Cận là cõi huyền bí nhất của tinh thể phương Đông v.v. Đôi khi Bùi Giáng có quá lời cũng đáng để cho ta suy nghĩ về vị thế của văn học Việt Nam trong nền văn học thế giới. Bùi Giáng viết: Thơ Xuân Diệu thường có chất bát ngát hồn nhiên. Tây phương Đông phương cổ kim không có một nguồn thơ nào sánh kịp. Có người nói nước Nga sẽ không còn nguyên nghĩa nữa nếu thiếu nền văn học Nga. Người Việt Nam có thể nói được điều đó chưa và khi nào nói được? Bùi Giáng dù có lúc quá lời, nhưng đó là điều cần thiết và là ước vọng của người cầm bút.
Trong thiên tiểu luận Ngày thật điên Bùi Giáng đã làm khó và giao trách nhiệm cho hậu thế bằng những lời cay đắng sau đây Tôi xin vĩnh viễn gào thét thật to rằng tôi xin im lặng mãi mãi. Người nào đọc thơ tôi, nảy sinh cái ý gì, người đó hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái ý nảy ra trong đầu họ hoặc nảy ra trong tứ chi họ .v.v. Tôi là thằng chăn trâu, tôi ăn nói theo ngôn ngữ chăn trâu. Kẻ nào muốn nhảy vào cuộc đối thoại với tôi, kẻ đó phải học tập làm chăn trâu trước đã. Đúng là Bùi Giáng đã im lặng mãi mãi kể từ năm 1998 khi với khăn áo lòe xòe của một kẻ hành khất không cửa không nhà để rời khỏi thế giới này. Những điều tôi viết ra trong bài này có thể từ đầu tôi và có thể từ tứ chi nữa; bởi vì có những dòng thơ đầy cát bụi của ông tôi như sờ thấy được. Và bởi vì tôi trân trọng một người đã dám làm thi sĩ để ca ngợi vẻ đẹp của con người giữa khi ông rách rưới, rét mướt và hành khất trên những nẻo đường ồn ào phố thị ở Sài Gòn hay ở những lối đi đầy nắng gió miền lục tỉnh. Không hiểu tôi đã đáp ứng đủ yêu cầu của ông hay chưa theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng rằng tôi đã là trẻ chăn trâu nghèo túng và thơ dại ở xứ Đoài suốt buổi thiếu thời gian khổ. Xin chịu trách nhiệm trước ông. Tiếng thơ Bùi Giáng là tiếng hát nghẹn ngào mà tha thiết lẫn trong tiếng cười bối rối mà mê hoặc của mùa xuân không tuổi, của Chào Xuân Nguyên từ thuở Mưa nguồn. Cả đời người thi sỹ ấy đi góp nhặt phôi pha để dựng mùa bến nước giao hòa Màu con mắt bên màu xuân siêu đổ. Quá trình đó là hiện sinh quá khứ hiện tại và tương lai của xứ sở này như ông từng mong ước: Mùa xuân phía trước miên trường phía sau.
Chú thích:
(1). Bùi Giáng trong cõi người ta – NXB Lao Động – 2008, Tr.496, 497, 498
(2). Bùi Giáng – Đười ươi chân kinh – NXB Hội Nhà văn – 2012, Tr.346, 347
2/8/2022
Khuất Bình Nguyên
Nguồn: Văn Nghệ số 25+26/2022
Theo https://vanhocsaigon.com/

Buông bỏ

Buông bỏ

Tặng hay không tặng. Tặng cho ai thì đúng đối tượng. Câu hỏi muôn đời của người viết sách. Câu hỏi khó trả lời của nhà văn. Câu hỏi đúng theo kiểu to be or not to be, tồn tại hay không tồn tại. Theo quan niệm của bác Tô Hoài, sách mình cần thì hãy mua lấy một cuốn, rồi mang đến đưa cho đồng nghiệp ký, như vậy lịch sự hơn. Chắc chắn lịch sự hơn cái người cứ gặp nhà văn là đòi tặng sách, không tặng thì thôi, không mua.
Có lần Yên Ba cho tôi xem một cuốn sách anh mới tìm được trong hiệu sách cũ. Anh là người sưu tầm sách cũ, là bạn của những hiệu sách cũ, khi ta cần mua sách gì không còn ở hiệu sách thì anh có thể tìm giúp trong những hiệu sách cũ anh hay lui tới. Nhưng cuốn sách này không phải là sách cũ thông thường. Trong ấy vẫn còn dòng chữ tác giả ghi tặng “chú LC”, một nhà báo đã về hưu. Rồi vài năm sau, nhà báo Mạnh Cường lang thang trên mạng, lôi xuống ảnh chụp trang sách có chữ ký tặng của tác giả cho “chị ĐT”, một nhà báo ở Sài Gòn. Người chụp cái trang ấy từ một cuốn sách cũ viết thêm vài dòng bình luận trên mạng: chỉ một việc đơn giản và có văn hóa mà cũng không làm được: trước khi thải bỏ cuốn sách, hãy xé cái trang có dòng ghi tặng đi.
Yên Ba chỉ vì hay lui tới các hiệu sách cũ mà còn mua được những cuốn có chữ ký của những Nguyễn Tuân, Ma Văn Kháng… hoặc của các đấng bậc này tặng cho những đấng bậc khác.
Nghĩ lại thì thấy cũng bình thường. Sản phẩm không cần đến nữa thì bỏ. Và người bình luận trên mạng kia cũng có lý: thải bỏ là chuyện bình thường, chỉ cần hủy cái trang có lời ghi tặng kia đi. Tủi cho người tặng, chán cho người được tặng, bơ vơ cho cuốn sách.
Tôi muốn kể lại lần nữa chuyện nhà thơ George Evans. Anh ở San Francisco miền tây nước Mỹ, đi cùng chúng tôi một chuyến sang chơi miền đông. Trong một buổi dạ tiệc ở Boston, chúng tôi được một nhà thơ tặng tập thơ mới của bà. Tan tiệc, cả bọn kéo nhau đi bộ về qua mấy dãy phố, đến một góc đường, George ném toẹt tập thơ vào thùng rác. Tôi sững người ớ lên một tiếng. George cười phá lên: Trước sau gì nó chẳng vào đấy. Một lúc sau anh bảo trong khi mọi người trò chuyện, anh đã kịp lướt qua tập thơ, một thứ thơ sặc mùi kinh viện của một bà giáo sư tập tọng làm thơ.
Ngay cả người mê sách, ngay cả con mọt sách bookworm thì lâu lâu cũng phải dọn dẹp lại giá sách của mình một lần. Có cuốn sách mấy năm trước còn cần thì mấy năm sau đã không cần đến nữa. Không cần thì giữ lại làm gì cho chật nhà. Bỏ. Nó sẽ vào quang gánh của bà đồng nát đi qua trước cửa. Bà đồng nát có thể gánh nó đến một hiệu sách cũ nào đó. Bà đồng nát cũng có thể bán nó cho một bà hàng xôi hàng bánh. Người viết văn hầu như ai cũng có lần mua một gói xôi ngô xôi xéo hoặc miếng cơm nắm cái bánh bao, bọc bằng lá chuối có lót trang sách của ai đó, thậm chí là trang báo có cái ảnh của chính mình loang lổ vết mỡ.
Ở Âu – Mỹ có một tập quán khá tiện lợi. Một số mặt hàng mua về, không dùng đến, một cái áo chẳng hạn, sau mấy tháng ta có thể mang trả lại cửa hàng, nếu còn nguyên cái nhãn mác thương mại. Sách cũng vậy, mua về, sau một thời gian nếu vẫn còn mới, có thể đem trả lại hiệu sách. Không sử dụng thì có quyền trả, đơn giản vậy thôi, thậm chí sách đã trót đọc rồi, nhưng thấy không cần nữa thì trả vẫn được. Nếu sách không còn mới để trả cho hiệu sách thì có thể đưa nó đến hiệu sách cũ, bán theo giá thỏa thuận. Trong khu vực trường đại học luôn có những hiệu sách cũ, người ta dùng một khái niệm là used book, sách đã qua sử dụng. Sách đã dùng này thường rất rẻ, nhiều cuốn trông vẫn như mới ấn hành. Những con mọt sách như tôi thường là bộ mặt quen thuộc ở những hiệu sách đã qua sử dụng như thế. Người ta bỏ đi thì mình rước về. Người không cần thì bỏ. Người cần thì tìm mua. Ở giữa họ có một kẻ trung gian là cái hiệu sách cũ. Rất tự nhiên thôi.
Rồi chính tôi cũng phải làm cái việc buông bỏ. Khi còn ở nhà cũ đã dành một phòng riêng khoảng mười hai mét vuông cho sách. Giá sách chạy hết ba bức tường, giá sách kê ở giữa nhà, chỉ trừ lối đi giữa những giá sách theo kiểu thư viện. Không đủ chỗ cho hàng nghìn cuốn sách. Đấy là sách đã bị mất nhiều sau mấy lần chuyển nhà. Vài ba năm lại phải ngồi lọc ra. Lại phát hiện ra những cuốn bấy lâu mình không đọc lại và sẽ không đọc lại. Bỏ. Không quẳng cho bà đồng nát mà cho người nhà mang đến cơ quan, bỏ vào thư viện của cơ quan. Mình không cần nhưng có người cần.
Tôi cứ muốn phản biện trước việc có những người đã bỏ sách đi mà không xé cái trang có chữ ký tác giả. Nhà họ chật, không có chỗ chứa sách, một ngày nào đó vợ con họ phải xử lý đống sách không dùng đến. Vợ con chỉ biết quẳng sách ra cho đồng nát mà chẳng có ý nghĩ phải kiểm tra những trang sách bên trong, cũng chẳng có khái niệm xé hay không xé cái trang có chữ ký thì khác nhau ở chỗ nào. Thế là cuốn sách đã bị bỏ đi mà người được tặng cũng không hề biết. Họ mang lỗi mà các công dân mạng bình luận là lỗi văn hóa.
Tôi cũng không dám chắc một mai khi mình không còn ở trên đời, những cuốn sách mình được bạn bè đồng nghiệp ghi tặng sẽ không phải vào gánh đồng nát hoặc ra vỉa hè. Tôi cũng không dám chắc những người thải sách sẽ biết xử lý cái trang có tên tôi được ghi tặng. Phải nói thật là nghĩ đến như vậy thì tôi cũng không còn nhiều cảm hứng khi cầm cuốn sách bạn bè tặng. Nhiều khi không chờ họ tặng mà tiện qua hiệu sách, tôi mua đọc, đọc xong thì tùy theo, sách có hay thì mới giữ lại, còn thì đem cho thư viện. Không lưu giữ. Một cuộc đời không cần gì nhiều, kể cả tiền bạc, tài sản, đất đai. Đất thì khi sống có người sở hữu vài ba miếng đất vài ba cái nhà, rốt cuộc chỉ cần vài mét khối nếu như mai táng, thậm chí chỉ một cái lọ tro nếu như hỏa táng. Sách cũng vậy, một đời có thể đọc thiên kinh vạn quyển, nhưng đích thực cần cho mình cũng chẳng nhiều. Bàn tay ta nắm được bao nhiêu chiếc lá, thì chỉ bấy nhiêu là đủ cho mình. Đến thời có sách điện tử và chiếc máy đọc sách, cả vạn cuốn sách có thể lưu lại trong máy tính gọn nhẹ, không lo ẩm mốc mối mọt, tôi lại càng quyết tâm không ham hố giữ sách như trước. Càng thêm tuổi tác, lại càng quyết tâm phải buông bỏ. Buông bỏ nhiều thứ. Đến những gì quý nhất là cha mẹ con cái gia đình mà sẽ có lúc phải chia tay phải rời bỏ, cứ lần lượt mà mất dần, chẳng níu giữ lại được. Nữa là tài sản, sao lại nghĩ cách phải khư khư giữ lấy, tìm mọi cách để có bằng được, rồi tìm cách níu giữ. Không phải là bỏ, mà buông bỏ. Không phải là xả, mà buông xả. Nghĩ được như vậy thì trước bất cứ cái gì đội nón ra đi, lòng ta vẫn thản nhiên trầm tĩnh.
Nghĩ được đến đấy thì tôi cũng biết kiềm chế cái tính tặng sách của mình. Ngày trước nhà văn ưa hài hước Vũ Bão (1931-2006), bạn vong niên của tôi, vẫn nói một câu: viết báo thì được tiền, viết văn thì mất tiền. Ý của ông là viết báo được nhuận bút, nhuận bút cao, nếu in ở tờ báo phát hành số lượng lớn, mà hiếm khi tác giả phải mua tờ báo tặng bạn bè. Còn viết văn thì sách in ra số lượng thấp hơn in báo nhiều lần, nhuận bút vì thế cũng ít, nhưng sách thì phải tặng. Có khi phải mua đến vài ba trăm bản để tặng, phải bù tiền chứ nhuận bút chẳng đủ.
Ấy thế, người phải tặng sách lại nhiều. Bạn đồng nghiệp đã đành. Bạn ở những ngành nghề khác, phải tặng như một cử chỉ được vui thì phải chia vui. Rồi còn những thành phần phải hiếu hỉ: hàng xóm láng giềng, thầy cô giáo của con của cháu, bác sĩ chữa bệnh cho cả nhà, có khi lại còn thêm những ông sếp. Không dám chắc thành phần hiếu hỉ có đọc hay không, nhưng tặng sách lúc ấy là một cử chỉ thiện chí, tỏ ý hàm ơn hoặc đơn giản là tôi không quên anh. Ai dám chắc trong thành phần hiếu hỉ ấy không có những cuốn sách ngày mai còn nguyên mùi giấy mới mực mới và chữ ký tác giả không ra gánh đồng nát.
Tặng hay không tặng. Tặng cho ai thì đúng đối tượng. Câu hỏi muôn đời của người viết sách. Câu hỏi khó trả lời của nhà văn. Câu hỏi đúng theo kiểu to be or not to be, tồn tại hay không tồn tại. Theo quan niệm của bác Tô Hoài, sách mình cần thì hãy mua lấy một cuốn, rồi mang đến đưa cho đồng nghiệp ký, như vậy lịch sự hơn. Chắc chắn lịch sự hơn cái người cứ gặp nhà văn là đòi tặng sách, không tặng thì thôi, không mua. Dạo trước, lâu lâu gặp nhà văn Tô Hoài, tôi vẫn thường mang theo mấy cuốn sách của bác để bác ký vào. Nhưng rồi vẫn thường trực cái ý nghĩ: cháu không bao giờ bỏ sách của bác, nhưng cháu không dám chắc là cuốn sách bác ký lưu niệm sẽ không bao giờ bị ra hiệu sách cũ.
Đấy là tính vô thường của đời sống. Một khi ngay cả cái thân xác ta, ta đã dặn dò đem hỏa táng mà con cháu cứ đem chôn, thì làm sao ta quyết định được số phận những gì ta để lại đằng sau.
Vậy đã trở lại cái chân lý giản dị muôn đời, là buông bỏ, không từ bỏ mà là buông bỏ. Cái gì không cần thiết, hãy buông. Cái gì cần thiết mà đến một lúc nào đó cũng chẳng giữ được nguyên lành, hãy ý thức được quy luật và hãy buông.  Người mà ta yêu mến, một ngày nào đó cũng ra đi, ta chẳng giữ được, hãy biết trước như vậy mà thanh thản, không níu giữ khóc lóc.
Mà thôi, ngay cả cái trang sách có ghi tên mình kia, tự tay mình không xé bỏ thì một ngày nào đó nó nghênh ngang phơi lộ trước mắt ai đó, cũng chẳng có gì phải băn khoăn ngại ngùng nữa. Thản nhiên đi và hỉ xả đi.
5/8/2022
Hồ Anh Thái
Nguồn: Rút từ tập tiểu luận Tự mình cách biệt, NXB Trẻ 2015
Theo https://vanhocsaigon.com/

Lối cỏ mù sương

Lối cỏ mù sương Chương 1 Tưởng niệm chị Bùi Thị Thu. Tặng cháu P.T.Hương (ĐHNK.1970) và đôi bạn Phụng – Hùng TIẾNG SUỴT SUỴT BẤ...