Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025
Nỗi buồn đẹp qua ca khúc "Bài Thánh ca buồn"
Nỗi buồn đẹp qua ca khúc
Bài Thánh ca buồn nhưng không buồn theo lẽ thường, nỗi buồn ấy đẹp và chẳng hề mong manh, rất có thể khi nghe câu này, nhiều người không đồng cảm. Vâng, đó cũng là lẽ bình thường vì tiếp nhận văn học lý giải chuyện cảm nhận tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật còn phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố sở thích. Và, tôi yêu thích Bài Thánh ca buồn, cả lời thơ (ca từ) cùng nhạc điệu.
Nhà báo Trương Vĩnh Anh Duy đắm say cùng âm nhạc
Nhà báo Trương Vĩnh Anh Duy
đắm say cùng âm nhạc
Tuyển tập 90 ca khúc “Lời tri ân đến
từ trái tim” (NXB Phụ nữ Việt Nam) của nhà báo, nhạc sĩ Trương Vĩnh Anh Duy
phát hành nhân kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam và 80 năm Quốc khánh 2/9
là món quà dâng lên ba mẹ, gia đình, quê hương, thầy trò, bè bạn được đông đảo
người yêu thơ, yêu nhạc đón nhận. Tác phẩm được đánh giá là ca từ và giai
điệu đậm chất Nam Bộ.
Trương Vĩnh Anh Duy sinh năm 1978 ở xã Thành Lợi, huyện Bình
Tân, tỉnh Vĩnh Long cũ (nay là xã Tân Quới, tỉnh Vĩnh Long). Anh đã xuất bản
nhiều tập Phóng sự xã hội như “Gái quê về làng” (NXB Công an Nhân dân), “Mười
ba bến nước” (NXB Thanh Niên), “Lối sống đua đòi” (NXB Lao Động), “Ranh giới
Ngày và” NXB Lao Động và Xã hội), “Đại gia “khùng tiền” (NXB Thanh Hóa). Hiện
nay anh phụ trách hai trang tin điện tử tổng hợp “Pháp luật và Cuộc Sống”,
“Công Dân và Pháp luật” ở phía Nam và là phóng viên theo dõi khu vực ĐBSCL của
Tạp chí điện tử “Kỹ thuật Chống hàng giả và Gian lận thương mại” (Viện ACF).
Trương Vĩnh Anh Duy ngoài viết báo là chính, anh còn làm thơ
và sáng tác nhạc. Anh đã viết hàng trăm ca khúc được các nhạc sĩ, ca sĩ yêu
thích. Tập ca khúc “Lời tri ân đến từ trái tim” là món quà anh dâng lên các mẹ,
các chị, thầy cô và bạn hữu cuốn nhạc có 187 trang gồm 3 phần:
Phần I có 63 ca khúc viết về mùa xuân, quê hương, tình yêu,
gia đình, như: Lời tri ân từ trái tim, Cảm ơn người phụ nữ bên tôi, Cảm ơn
Ba Mẹ, Nội, Ngày giỗ nội, Ngoại, Ba Mẹ, Câu ca lục bát tình quê, Khúc ca lục
bát hai quê, Xuân bên gia đình, Tình yêu quê hương, Nhạc khúc mùa xuân, Ngày về,
Sài Gòn – hòn ngọc viễn đông, Loài hoa không tên, Hai đường thẳng song song,
Mưa và nắng, Ngày xưa đó, Về lại chốn cũ, Cánh diều tuổi thơ…
Phần II có 12 ca khúc viết về mái trường và một thời áo trắng:
Hành trang vào đời, Mẹ là người thầy đầu tiên, Thầy, Khúc hát trường Thành Lợi,
Bình minh nơi ước mơ khởi đầu, Áo trắng lưu mãi bên đời, Áo trắng mùa thơ, Vũ
đoàn Hoàng Thông, Khai trí – Ánh sáng tri thức, Viết cho bạn tôi, Tặng bạn
phương xa, Tiếc lá thư.
Phần III có 15 ca khúc phổ thơ của Anh Duy và Trương
Hòa Bình. Phần nhạc do Anh Duy và Hồng Yến viết: Lời Bác đã dạy, Khúc ca một
tờ báo, Bình minh, Vải trứng Hưng Yên, Thăm mộ Hàn Mặc Tử, Sài Gòn tôi yêu, Sài
Gòn mãi tỏa sáng, Thành phố Gò Công tôi yêu, Gò Công Đông ngày mới, Đường đời
hai lối, Điệp khúc Vọng kim lang “Ngày anh về”, Tuổi thơ của em, Nếu mai xa
nhau, Người đến bên đời, Giữ trọn tình yêu thương,…
Tuyển tập có nhiều ca khúc dành cho nghề báo như: Ngòi
bút và con tim, Tôi – người làm báo, Khúc ca một tờ báo, Hội nhà báo Việt Nam tỉnh
Tiền Giang…
Nhà báo Trương Vĩnh Anh Duy tâm sự: Các ca khúc viết từ
cảm xúc sâu nặng với cha mẹ, quê hương như ca khúc “Mẹ là người thầy đầu
tiên” sáng tác vào ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 để tặng mẹ, người đã dắt cả
hai con là Anh Duy và Trường Duy đến trường, đứng lớp dạy cho hai con từ lớp 1
đến lớp 5 trường Tiểu học Thành Lợi A (nay là xã Tân Quới, tỉnh Vĩnh Long). Ca
khúc với những câu mở đầu: “Mẹ dắt tay hai con vào lớp học đầu tiên. Ánh mắt mẹ
sáng như ngọn đèn soi đường. Con học chữ, mẹ dạy cách yêu thương. Cùng chia từng
giấc mơ hồn nhiên thơ dại”.
Các ca khúc của anh đa phần viết theo Gam trưởng, như Rê trưởng,
Đô trưởng nhịp (4/4), hoặc La thứ, nhịp chậm rãi với giai điệu trữ tình mang âm
hưởng dân ca Nam Bộ nên hợp với mọi cỡ giọng các đối tượng, cùng với ca từ giản
dị nhưng giàu chất thơ rất dễ hát dễ thuộc. Nghệ sĩ nhân dân – nhạc sỹ Thế Hiển
cho biết: “Tôi biết phóng viên, nhà báo Trương Vĩnh Anh Duy đã hơn 10 năm. Và
tôi khá bất ngờ khi biết Trương Vĩnh Anh Duy bước vào con đường viết nhạc. Nghe
qua những ca khúc anh viết, hầu hết theo dòng nhạc trữ tình, quê hương với
những sáng tác rất Nam Bộ”.
Nhà báo Giản Thanh Sơn nhận xét: “Những giai điệu do nhà báo
Trương Vĩnh Anh Duy sáng tác mang âm hưởng sâu đậm về miền Tây với sự ấm áp,
chân thành và gần gũi của con người nơi đây. Bởi công việc viết báo đã giúp cho
anh có cái nhìn đa chiều, sắc bén về cuộc sống, là nguồn cảm hứng vô tận cho những
ca khúc”.
Một nhà báo với những bài phóng sự, ký sự sâu sắc tưởng chỉ
có tư duy về luận lý, nhưng khi tâm hồn giao cảm trước vẻ đẹp của tình yêu và
cuộc sống thì cảm xúc thăng hoa thành thơ, thành nhạc qua tư duy hình tượng,
làm nên giai điệu trữ tình dễ đi sâu vào lòng người. Tính triết luận và trữ
tình hòa quện qua mỗi ca khúc tỏa sáng lòng nhân ái, bao dung, làm vơi đi nỗi
nhọc nhằn nắng lửa của con người và cuộc sống, hướng họ tới những chân trời ước
mơ, hy vọng, để họ vươn tới cái đẹp, cái cao cả của Chân, Thiện, Mỹ.
28/9/2025.
Lê Xuân
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Bùi Minh Vũ - Buông neo hồn thơ vào biển đảo
Bùi Minh Vũ - Buông neo
hồn thơ vào biển đảo
Sau 2 tập thơ Lão ngư Kỳ Tân (2014), Biển
và quê hương (2020) Bùi Minh Vũ cho ra mắt tập thơ Buông neo của
(NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 113 bài thơ viết về đề tài biển đảo. Cảm hứng chung
của tập thơ là tình cảm mến yêu, cảm phục, trăn trở và gắn bó tâm hồn với
với biển đảo, với Trường Sa, Hoàng Sa, với những người lính đảo và người dân
bám biển.
Những tập thơ trước, Bùi Minh Vũ viết từ cảm xúc của một công
dân yêu nước hướng về biển đảo với sự ngưỡng vọng. Ở tập thơ này, sau những
chuyến vượt sóng ra Trường Sa, thăm đảo chìm đảo nổi, nhà thơ đã “Buông neo” hồn
thơ vào biển đảo của Tổ quốc. Bài đầu của tập thơ đã thể hiện điều đó: Sóng
ngọt như hoa trái lững lờ thè chiếc lưỡi/Bình minh trườn qua con chữ/ Bài
thơ quyết liệt buông neo/Như cột mốc đứng thẳng (Buông neo).
Đọc tập thơ, thấy hiện lên rất nhiều hình ảnh biển đảo từ Trường
Sa, Hoàng Sa, đến các đảo Sinh Trồn, Lý Sơn, Song Tử Tây, Đá Tây, bãi Thuyền
Chài, Gạc Ma, Sơn ca, đảo chìm, đảo nổi, nước biển, sóng biển, ở nhiều thời điểm
khác nhau: sáng, trưa, chiều, tối, rạng đông, mặt trời, ánh trăng, sao đêm…
Hình ảnh biển đảo hiện lên trong thơ như một bức tranh thật đẹp: “Trời vừa hừng
sáng/Đảo như thân thể mỹ miều/Giữa làng quê ghì chân tôi thăm thẳm” (Trời hừng
sáng), “Đêm dưới đáy Gạc Ma/Vút ve đàn cá nhỏ/Nước biển lóng lánh tia mắt đỏ” (Độc
huyền cầm). Đó là một đêm trăng trên đảo, đẹp, thanh vắng mà không hoang vu: “Trăng
Lý Sơn nở hoa/Thơm trên ngôi mộ gió” (Trăng nhớ). Tác giả có những hình ảnh
thơ lung linh đa nghĩa, gợi nhiều liên tưởng xa xôi, lấp lánh: “Luồng ánh sáng
trong vắt/Nở hoa/Đính trên đảo Sinh Tồn”(Ánh sáng). Đó là khi ta bắt gặp ngọn Hải
đăng như đoá hoa nở trên biển trời Tổ quốc: “Từ hun hút xa mờ chợt loé/Ngọn Hải
đăng Trường Sa bật sáng/Nâng ta lên thiết kế lại dáng hình” (Đoá hoa nở). Trong
tâm tưởng của nhà thơ, biển đảo không dữ dội, náo động mà gần gũi như cuộc sống
bình dị của quê hương: “Người phụ nữ làng chài/Sải tay ra đảo nổi/Há miệng ngậm
mặt trời” (Người phụ nữ làng chài). Nhà thơ thật tinh tế khi cảm nhân và
so sánh hình ảnh chiếc lá bàng vuông với chiếc thuyền mo cau thuở ấu thơ để biểu
hiện biển đảo gần gũi, thân thương: “Toả hương thơm dịu ngần/Những lá bàng
vuông đung đưa biển gió/Như chiếc mo cau mẹ quạt ngày xưa” (Hoa cau trắng). Âm
thanh tiếng chuông chùa hư thực đưa biển đảo gắn với đất liền Tổ quốc, với văn
hoá xứ sở và cuộc sống yên bình của nhân dân: “Thênh thang trên đảo Đá Tây/Tiếng
chuông chùa trườn trên nước” (Trên đảo Đá Tây). Biển là nguồn tài nguyên
vô tận đem đến cho người dân cuộc sống ấm no: “Ngoài khơi ghe chói sáng/ Bầy cá
cơm ăn đèn/ Biển như vòng tay mẹ/Ấm sang đời cháu con” (Âm vang); “Nhìn tấm lưới
đính hoa/Mùa cưới cá dạt dào/Niềm vui từ biển đến” (Đêm biển khơi). Hình ảnh những
chiếc thuyền ngư dân bám biển, bảo vệ chủ quyền và đánh bắt hải sản được gợi
lên thật thi vị: “Những ngón tay đan tiếng cười/Thành bè thuyền/Hình nốt nhạc/là
những chuyến ra khơi” (Kết tinh). Biển đảo quê hương giàu đẹp cũng là nơi kẻ
ngoại bang ngày đêm xâm lấn, quấy phá, cuộc sống lao động của ngư dân chưa được
bình yên: “Chiếc thuyền câu ngoài biển/Nhỏ dần/Nhỏ dần/Rồi mất hút/Giữa làn
sóng xoay mình quanh chiếc thuyền lạ” (Nghĩ). Đó là nỗi trăn trở thường trực của
tác giả, của nhân dân ta đối với chủ quyền biển đảo.
Hoàng Sa, Trường Sa là một phần máu thịt không thể chia rời của
Tổ quốc Việt Nam. Từ thời quốc gia phong kiến độc lập, những dân binh đã theo lệnh
Vua ra biển xa, cắm mốc chủ quyền quốc gia trên đảo: “Người đi Trường Sa cắm mốc/Người
đi Hoàng Sa cắm mốc/Cõi mở rồi/Ở lại” (Mở cõi). Ngày nay, Hải quân nhân
dân Việt Nam tiếp tục ra khơi bám biển, bám đảo, giữ vững biển trời quê hương;
nhân dân cả nước luôn hướng về biển đảo yêu thương. Dù cuộc sống, sinh hoạt và
chiến đấu còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng những người lính đảo vẫn luôn lạc
quan, yêu đời, quyết tâm giữ chắc tay súng, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng: “Nụ
cười thơm trái chín/Gian truân ngạo nghễ xanh/Nụ cười soi sáng đảo/Gió bão bung
nở hoa” (Thức tỉnh). Những người lính đảo và sự hy sinh thầm lặng của họ để giữ
vững biển đảo Tổ quốc đã hoá thân thành những mốc chủ quyền: “Chợt thấy những
chiếc mũ trắng/Một ngôi sao/Hai ngôi sao/Ba ngôi sao/Sắp hàng luồng ánh sáng
chói chang” (Ánh sáng). Những người chiến sĩ nằm lại mãi nơi biển khơi đã hoá
thân vào sóng nước, thành “hương hoa” của sóng, thành những ngôi sao đêm không
bao giờ tắt. Với lòng yêu kính và cảm phục phẩm chất anh hùng của người chiến
sĩ Hải quân, tác giả đã dùng hình tượng thơ để bất tử hoá sự hy sinh của họ: “Những
linh hồn yên ngủ/Trên nấm mồ nước mặn/Hương hoa sóng/Lăn tăn/Chảy dài/Như ngôi
sao không nhắm mắt” (Thắp sáng). Hình ảnh những cây lá bàng vuông như một biểu
tượng của Trường Sa, Hoàng Sa được lặp lại trong nhiều bài thơ thật ám ảnh: “Bên
gốc bàng vuông sừng sững/Ngỡ mình đang sống/Giữa thủ đô” (Vào lúc này), “Những
lá bàng vuông đung đưa biển gió/Như chiếc mo cau mẹ quạt ngày xưa” (Hoa
cau trắng), “Màu gió trăng thủ thỉ/Hương nước xanh thầm thì/Hoa bàng vuông bung
nở” (Trời hừng sáng), “Không xa lắm/Hoa bàng vuông thơm như môi/Những màu
đêm ngọt” (Trăng), “Mẹ ôm biển vào lòng/Nghe hoa bàng vuông nở/Lặng lẽ/Ánh
trăng vàng” (Mẹ chờ), v.v…
Cùng với biển đảo là hình ảnh “cái tôi” trữ tình nhà thơ, thể
hiện tình cảm gắn bó, hoá thân vào biển đảo: “Tôi tô lại chữ Trường Sa/To như rạn
san hô như đảo chìm đảo nổi/Như khoảng trống trên trời/và tôi nhìn/Thấy tôi ở
đó” (Tô chữ). Nhà thơ thấy mình với biển như con sóng, như đàn hải âu: “Nắng
chiều/Lưa thưa ốm/Hải âu bay vội vàng/Sóng như chàng thi sĩ/Ngẩn ngơ chờ/Mùa
sang” (Ru mùa) và sự hoá thân nồng nàn vào biển: “Em tắm biển/Hình như/Nước biển/Có
mùi thơm mái tóc anh” (Tắm biển). Gắn bó với biển đảo qua những chuyến đi, hình
ảnh biển đảo ám ảnh tâm hồn nhà thơ, nhiều khi hiện lên trong mơ tưởng: “Đêm mơ
đặt chân lên bãi Thuyền Chài/Trăng ngọc bích thật thà như đứa bé/Nắm tay tôi”
(Bức vẽ). Ước vọng gắn bó với biển đảo được biểu hiện khá sinh động bằng việc
nhập thân vào hình ảnh sóng, gió: “Đôi khi muốn làm gió/ Cưỡi sóng biển khuya/
Đôi khi muốn làm sóng/ Lờn vờn quanh Hoàng Sa” (Đôi khi). Yêu thương, gắn bó với
biển đảo là biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước, sự gắn bó và trách nhiệm của
người nghệ sĩ với Tổ quốc mình: “Đêm đêm tôi úp mặt vào sóng/Nghe bài ca Tổ quốc
tôi’ (Khúc hát) và một khát vọng thiêng liêng: “Con nhìn lên khung ảnh/Nghe
cha bảo/ Con hãy đeo ba lô/ Và cùng cha ra biển” (Cùng cha)…
Ở tập thơ Buông neo, Bùi Minh Vũ đã chuyển hẳn sang
phương thức biểu hiện của thơ siêu thực hậu hiện đại. Đây là một trong những hướng
đổi mới thơ Việt Nam hiện nay. Người đọc nhận ra hình ảnh siêu thực rất điển
hình trong bài Ghi chép bên đường: “Ký ức trườn qua/Khoanh tròn/Con rắn lục/chạm
vào nắng tím làng tôi”. Nhà thơ chú ý khai thác thế giới cảm thấy trong mơ,
trong tiềm thức, ảo giác, biểu hiện bằng những ẩn dụ siêu thực có sức ám gợi: “Tôi
thấy ngoài Trường Sa/Những ngôi sao chân thật/Những ngôi sao sắp hàng/ Những
ngôi sao đi rầm rập” (Phát sáng). Anh vận dụng triệt để phương thức lạ hoá để
xây dựng hàng loạt những hình ảnh so sánh siêu thực, những liên tưởng dựa trên
những nghịch lý, bất ngờ, đánh mạnh vào óc tưởng tượng của người đọc: “Sóng ngọt
như hoa trái lững lờ thè chiếc lưỡi” (Buông neo), “Sóng như chàng thi sĩ/Ngẩn
ngơ chờ mùa sang” (Ru mùa), “Tiếng sóng vọng vào giấc mơ/tha thiết ngày xa
nhà/vàng như hoa vạn thọ/ lướt thướt đôi mắt Song Tử Tây” (Tiếng sóng),
vv…Hướng về thế giới vô thức, đề cao ngẫu hứng, ghi nhận những ấn tượng mơ hồ,
mong manh lướt qua trong đầu, tác giả tạo ra nhiều liên tưởng thú vị: “Khi đoá
hoa nở dưới nước/Giọt nước trên sóng lăn tăn/Gió con cá vượt/Trăng ngẩn ngơ một
gã si tình” (Đoá hoa nở). Chi tiết, hình ảnh thực của biển đảo ghi nhận bằng
giác quan đã được chuyển hoá thành những hình ảnh giấc mơ, ảo giác, tạo nên sự
liên tưởng phong phú nơi người đọc: “Đêm qua/Tôi thấy những linh hồn trắng/Tựa
vào nhau/Cong như chiến hào” (Những linh hồn trắng), “Ta lặn một hơi dài/Trôi tự
do theo dòng hải lưu cùng bầy cá mặt trời/Sau nửa đêm/Ta và bầy cá bắt tay
nhau/Hướng về Trường Sa thương nhớ” (Điền dã ngoài biển). Những hình ảnh,
sự vật cách xa nhau được đặt cạnh nhau, gợi liên tưởng xa mờ, đa nghĩa: “Tôi
câu mực/Từng con mặt trăng/Giấc mơ thánh thót” (Câu mực), “Dấu vết cánh buồm
đâu đó/Giữa biển khơi/Như vết môi son tháng Giêng/Như bông hồng sinh nhật/Như
tiếng gà khuya xa mờ lấp lánh/Hiển lộ trong chiếc khăn em thêu” (Cánh buồm),
“Sóng mật ong cá rỉa/Cõng giấc mơ Sinh Tồn/Mang theo trái tim mẹ/Gặp gỡ nơi đảo
xa” (Giấc mơ Sinh Tồn). Nhà thơ tạo ra cách trình bày mới mẻ trong
bài Chú thích: “Ta hớn hở/ Bước lên đảo chìm/Đi qua bãi cọc/Hiện lên chữ số/
1/ 2/ 8/ 8”. Con số 1288 được cấu tạo thành 4 dòng thơ theo phương thức lạ hoá.
Thì ra, những mũi đá nhọn dưới đảo chìm ở Trường Sa gợi hình ảnh bãi cọc Cao Quỳ
trên sông Bạch Đằng đã làm tan tành đạo thuỷ quân Nguyên Mông hùng mạnh, năm
1288. Một sự so sánh ngầm thú vị làm nổi bật sức mạnh của biển đảo Việt Nam, của
con người Việt Nam trong sự nghiệp giữ vững chủ quyền Tổ quốc. Tác giả đã đổi mới
trong việc ngắt dòng thơ, không dùng dấu câu, ngắt giọng theo nhịp rung của cảm
xúc, sự mời gọi của tâm tưởng.
Nhìn chung, Buông neo là một thể nghiệm khá thành
công của Bùi Minh Vũ. Với một đề tài quen thuộc có tính thời sự nhưng nhà thơ
đã có cách thể hiện mới mẻ và hấp dẫn. Nhà thơ đã ảo hoá những hình ảnh ghi nhận
từ giác quan, tạo ra hình tượng thơ có độ nhoè về nghĩa, gợi được nhiều liên tưởng
nơi người đọc. Tuy nhiên, tập thơ có những bài, những câu viết dễ dãi, hạn chế
về nhịp điệu; hình tượng và cảm xúc còn nhạt nhoà, thiếu sức thuyết phục. Mặt
khác, lối thể hiện siêu thực “rất kén”người đọc vì ít nhiều gây khó khăn và ức
chế trong việc tiếp nhận, nhất là đối với người đọc đại chúng. Nên chăng, dùng
siêu thực như một thủ pháp nghệ thuật biểu hiện cho phương thức thơ trữ tình hiện
thực thì người đọc dễ đồng cảm hơn, hiệu quả tác động mạnh mẽ hơn.
2/10/2025.
Nguyễn Phương Hà
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Trần Anh Thái - Nhà thơ tiêu biểu cho tiếng nói hiện sinh thân phận con người châu thổ thời đổi mới
Trần Anh Thái - Nhà thơ tiêu biểu
cho tiếng nói hiện sinh
thân phận
con người châu thổ thời đổi mới
Vừa rồi, đất nước ta tổ chức Đại lễ
A80 kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh mồng 2 tháng 9 năm 1945.
Đó là sự kiên trọng đại của tổ quốc ta, dân tộc ta, nhân dân ta. Cũng là dịp biểu
dương sức mạnh của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước năm châu bốn biển.
Dịp ấy, trên mạng cũng truyền lan tìm hiểu thông tin về Nạn
đói tháng Ba năm Ất Dậu 1945, thu hút rất nhiều cộng đồng mạng theo dõi.
Cách đây 30 năm, có một nhà thơ Việt Nam đã viết Trường ca: Đổ bóng xuống mặt trời (1999), nói về sự việc
này. Đó là nhà thơ Trần Anh Thái. Trong Năm bốn nhăm, các nhân vật chỉ là Con
Người Tồn Tại Đấy, chứ không phải là “động vật chính trị” của Arixtot – Hy Lạp,
không phải là humo sapient – động vật tinh khôn của triết học La mã, hay “bản
chất con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội” – C.Mác – Đức. Ở đây,
trường ca chỉ bộc lộ con người nhỏ bé, trong quan hệ huyết thống nhỏ bé, để cuốn
vào một việc kinh hoàng to lớn: sự chết! chết đói!
Bằng thủ pháp hồi cố tự sự, Trần Anh Thái khôi phục hình tượng
chị, cha, mẹ trong bối cảnh sử thi tin cậy. Ông không hồi ức,vì lúc ấy ông chưa
có, chỉ nghe cha, mẹ kể lại, về cái chết của người nhà mình, người làng mình.
Còn sự thật nào chân xác hơn thế.
Những ai đi trên con đường Thái Bình – Tân Đệ, đến Cây số
Sáu, sẽ thấy một nghĩa trang ven đường, Chính là nơi năm Bốn nhăm vùi lấp người
chết đói. Có những bức ảnh của Nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh chụp trực tiếp tại đây.
Những bức ảnh lịch sử khủng khiếp!
Trần Anh Thái đưa ra sự tồn tại bất lực, khi con người bình
thường không thể sống như trước được nữa. Ám ảnh về nghèo đói, nếu những
ai sống hơn 60 năm ở Việt Nam về trước, thì nó kinh hoàng lắm. Cho nên, bài thơ
gửi một tồn tại ảo giác, về thân phận con người. Hỡi loài người, hãy luôn luôn
cảnh giác! – (J.Fuxik).
Tôi không thể để toàn bài, đành trích từng đoạn.
Năm bốn nhăm
I
Chị tôi chết không cơm không áo
Cha ôm vùng đêm tối đi chôn
Bóng đêm đổ đầy phên liếp
Biển rền man dại trời bên
Mẹ như chiếc phao không bến
Trái na già vỡ vỏ giữa cơn giông
Vầng trăng gẫy trên đầu ngọn sóng
Vệt sáng đắng cay mặt cát đổ dài.
…
Lên bảy tuổi anh tôi về quê nội
Dọc đường đi khuỵu xuống gốc xoan
Mặt đất cuốn một vùng gió xoáy
Cỏ hai bờ rạp dấu chân non.
Cha tôi chạy về làng xin nước
Chưa kịp quay ra anh đã chết
Mây thổi xanh xao
Cha ngã vào bầm đêm sương muối.
…
III
Mẹ tôi sinh lần thứ ba bên bờ sông Cái
Ngày sau ra đồng nhặt ngọn rau lang
Những ngọn khoai dần chết
Nhựa hoá thành máu trắng chảy dọc đêm.
Ông nội bán đi thửa ruộng cuối cùng chia cho con cháu
Cha kế thừa chiếc rìu và con dao rựa thuở xưa
Ông mài cuộc đời vào phiến đá xanh kê trên
bậc cửa
Thạch sùng kêu oi óc hiên nhà.
Biển mất mùa hải âu đi mất
Bệnh đậu mùa gõ cửa các căn nhà
Người sống tựa vào người khuất
Tiếng dế cào dệch doạch mặt dất quê.
Ở đâu một cõi đi về
Xua nhọc nhằn gió cát
Mây trời ngăn ngắt
Mắt người nhằng nhịt đường ra.
Bao người đi không về làng nữa
Bao người chôn xác giữa mây ngàn
Rừng bí ẩn thác ghềnh vực xoáy
Vách núi không người hú vọng mê man.
Ngõ làng mòn nắng hoàng hôn
Xác con trẻ chiếu manh bó vội
Mưa dầm bến đợi
Dịch bệnh tràn lấp mặt trời lên.
Làng không sắc không màu
Mẹ chết đi sống lại
Cà chưa thành hoa sương muối chà nẫu ruột
Tiếng thở dài gập giữa hai vai.
Người lên rừng và người xuống bể
Những giấc mơ mất cánh trở về
Hồn lãng đãng sương mù cát bụi
Giữa bầu trời không ánh sáng vì sao.
VI
Tiếng thầm:
Một vì sao rơi qua mái nhà mọt đục
Một mặt trăng vừa khuyết qua rằm
Một tiếng sáo vượt lên cao vút
Gió tan
Lớp bọt biển giữa chân người còn toàn khoảng trống.
Sự lặng im ngăn ngắt từ đâu?
Và một ngày từ đâu đến…?
Tâm sự của cỏ:
– Hãy nằm trên mình tôi và ngủ
– Dịu êm lan toả từ sống lưng
– Trái đất không có gì bí mật.
Tiếng thầm:
– Mùa màng máu chảy
– Đất rách bóng người?
Tâm sự của đất:
– Hãy đưa tay phải lên ngực phải để nghe nhịp đập trái tim bên ngực trái.
Tiếng thầm:
– Người chết đồng làng, giấc mơ mở mắt?
Tâm sự của gốc đa già:
– Cỏ vẫn xanh mướt cánh đồng
– Cái chết không chứa chấp những điều nhỏ nhặt.
Tôi sở dĩ đưa bài Năm bốn nhăm lên đầu, là vì cách đây 30
năm, tư tưởng hiện sinh, nghĩa là bản thể, không duy lý bản chất, vẫn chưa là
nhãn quan được hoan nghênh, nhất là các nhà thơ mới, trẻ tuổi. Cái gì cũng phải
bản chất, bản chất cao hơn hiện tượng. Cái gì cũng phải điển hình. Văn học là
phải điển hình! điển hình! điển hình!…
Tôi không phải trái đúng sai cái gì! Còn nhớ, một nhà phê
bình văn học Nga có viết: Thời gian, thời đại bao giờ cũng đúng khi nó đang tồn
tại, và bao giờ cũng bị coi là sai lầm khi nó đã đi qua.
Trần Anh Thái, ít nhất cũng đóng góp một cách nhìn xử lý lịch
sử khi đặt nó vào phép trừu tượng tận cùng của bản thể sự vật. Qua đó, ông nhìn
những sự, những việc nó không bị chồng chéo nhằng nhịt. Đó là một thái độ
nghiêm túc của nghệ thuật học.
Thực tế những năm 80, 90 thế kỷ 20, ở đồng bằng châu thổ còn
nhiều bất cập, nhiêu khê lắm. Cũng còn đói lắm. Bên cánh đồng vẽ ra những se sắt
phận người. Cho đến giờ, ở Bắc bộ, nông dân lại không tha thiết nhiều với đất.
Họ không muốn “đất với người cùng một dòng suy nghĩ – Đầu đất(!) nữa”. Thời đã
khác rồi, phải liệu mà sống chứ!
Bên cánh đồng
Đã hết chiều
Những tia sáng trên cánh đồng vẫn còn lần lữa
Buốt lạnh chạm vào se thắt sâu xa
Con sông chở hoàng hôn chiều nay không vỗ sóng
Bến đò hoang loang nắng xa buồn
Thửa ruộng nhỏ suốt đời mẹ ta đào xới
Vẫn còn nguyên gốc rạ lấm mặt người
Ta bỏ ồn ào về bên đồng cỏ
Lặng lẽ nghe tiếng gió u trầm
Cho ta ngậm nỗi buồn chôn giấc mơ trong đất
Trước hiên nhà tiếng ếch nghẹn câm.
Phía chân trời cơn mưa vần vũ
Đổ xuống người đang cắt lúa đêm
Đêm úp xuống lưng – người úp vào bóng tối
Mặt đất lem nhem sau tiếng thở dài
Bài Khoảng khắc thuộc bài thơ trữ tình nói đươc rất nhiều về
cái không đọng lại, không định hình, trong quan hệ nam nữ ở nông thôn. “Điều
chúng ta tin còn chưa kịp nói/Giờ đã thành cuốn sách qua trang/Sao sáng chờ
ai/Mà chiều quay bước/Hoa rơi nhoà mắt/Tôi nhặt gói về cánh mỏng ấu thơ”. Tính
bất ổn, qua hình tượng của thơ, đã vượt qua tâm trạng. Đã đến lúc của thái độ rồi.
(Nói thêm “phi nông bất ổn” chính lại nói cái “đại yên” – núi lớn của nông nghiệp).
Hai câu kết “Tôi xin gửi giữa mặt trời rực nắng/Những nhuỵ vàng cay đắng giấu
sau hoa” làm tôi nhớ hai câu thơ “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/Trổ hoa
vàng dọc suối để ong bay” (Phạm Tiến Duật). Cảnh tình khác nhau, chắc cái đắng
cũng hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều “đắng” cả!
Khoảnh khắc
Những ngọn gió đi qua không để dấu dọc đường
Bao mùa chim én xây lâu đài bị vùi tan giữa cánh đồng cỏ dại
Và em nữa
Điều chúng ta tin còn chưa kịp nói
Giờ đã thành cuốn sách qua trang
Sao sáng chờ ai
Mà chiều quay bước
Hoa rơi nhoà mắt
Tôi nhặt gói về cánh mỏng ấu thơ
Con chim qua bão tố trở về
Chân đê cũ vắng tiếng cười khúc khích
Những chiếc lá đổ nghiêng dòng nước
Sợi tóc bay số phận hai chiều
Em trong tôi câu thơ chưa viết
Những câu thơ nối hai vạch vui buồn
Chiều đến thả hoa vàng da diết
Đêm mơ hồ giấc ngủ chẳng lời ru
Hoa quỳnh nở giữa đêm về sáng
Vầng trăng xua đôi chút nghi ngờ
Tôi xin gửi giữa mặt trời rực nắng
Những nhuỵ vàng cay đắng giấu sau hoa.
Thơ Trần Anh Thái buồn lắm. Cái buồn hiện sinh thân phận. Ông
đặt ra tương phản chính phản. Ông đại biểu cho những lạc lõng đang tồn tại. Ông
không giải quyết được nó, như cha ông không giải quyết được sự bất lực tồn tại
năm bốn nhăm. Đọc Giữa trời ta thấy hoang mang.
Giữa trời
Ta lạc vào
Dòng người vội vã
Những nụ hoa rụng đầy hoàng hôn
Gió đi
Không còn tiếng reo trên mặt hồ
phủ khói
Những tia nắng xa dần
Em ở đâu
Ngọn lửa nào sáng lên con đường cũ
Ta tựa vào bóng đêm nơi chân tường vừa đổ
Sương ướt đẫm hàng cây
Con đường trôi qua bóng đêm
Không phải nước của dòng sông
con thuyền không về bến
Tiếng sáo xưa lạc lõng bên đồi.
Ở Những con sóng là bóng, là mơ, là huyễn hoặc, cũng toàn ảo
giác. (Có một bài thơ của Trần Anh Thái có tựa đề này, nhưng ta sẽ nói ở phần
sau). Buồn đã vào đến “thực tế ảo”, nhưng lúc Trần Anh Thái làm bài thơ này,
làm gì đã có Thực tế ảo?
Những con sóng
Chiều nay tôi mang bóng em về nghe biển hát
Gió ru mơ trên cát se buồn
Sóng mê dại xây lâu đài bằng cát
Lớp bọt biển trắng tinh tan vỡ ngày ngày
Giữa đêm trắng vai gầy rũ bóng
Tôi là kẻ lang thang thương tích đầy mình
Về đáy ngày nhặt thời gian lấm đất
Ngày ngã phía bên kia nơi bóng tối dâng tràn
Tôi huyễn hoặc em hoặc là huyễn hoặc mình
Đến cùng hoàng hôn tìm rạng đông bừng sáng
Ai đó nâng tôi vào vòm xa hút
Biển kín bưng trong tiếng sóng u trầm.
Lột tả thân phận rõ nhất là ở bài Tiếng vọng. Đã bắt đầu có
những lời thơ hy vọng. Đó là lời mở đầu của một tồn tại mới. Nhưng ông người
châu thổ, và phương tiện của ông, và hoàn cảnh của ông vẫn còn cũ kỹ lắm, vẫn
còn lỗ chỗ lắm – mà lại từ trời, từ phía ngoài ông. “Đàn sếu kêu sốt ruột cánh
đồng/Bốn gọng vó còng queo in lên trời biếc/Tiếng ếch ran cho đêm bớt vắng/Và
đám mây lặng yên che giấc ngủ của trời”.
Cô đơn và trống rỗng, như bức Chân dung tự hoạ của Van Gogh,
như thầy giáo Thứ trong Sống mòn của Nam Cao, mốc lên. “Chỉ còn ông ngày ngày
ngồi đấy/Chiếc sào tre cũ kỹ phủ rêu”.
Cũng nên nói kỹ chút về tiếng vọng. Người nhà quê tin mỗi người
có một linh hồn. Bình thường nó song hành ẩn mình. Khi sắp mất, nó buồn bã thê
lương hiện ra về đêm bằng âm thanh như tiếng sáo diều. Khi sự sống chấm dứt, nó
rơi xuống đất. Nhiều người quả quyết nghe rõ tiếng nó rơi.
Nhà thơ Trần Lê Văn hơn 40 năm trước có bài thơ Tiếng vọng 8
câu, kết là “Có ai nghe thấy một tiếng vọng/Thì thả con thuyền sang với tôi” để
nói về bằng hữu chi giao. Trần Anh Thái là tiếng vọng của cô độc thân phận, ý
thơ khác hẳn.
Tiếng vọng
I
Người cất vó bè dọc dòng không bến
Gió u mê không cuối không đầu
Cần vó cong suốt mùa nước nổi
Mưa nắng mòn tay, ông cất số phận mình.
Con cóc già vuốt mặt ngồi yên lặng
Cỏ đồng xanh nhàm chán kiếp người
Ngày tháng kéo nỗi buồn thả xuống
Nhịp thời gian biền biệt chảy trôi.
Dòng sông trước lều bao lần đổi nước
Những bọt bèo lặng lẽ ra khơi
Chỉ còn ông ngày ngày ngồi đấy
Chiếc sào tre cũ kỹ phủ rêu.
Sương khói tan nắng đã xế chiều
Chiếc thừng chão hai đầu chậm chạp
Mẻ lưới cất lên nước rơi trắng đất
Những mảnh trời lỗ chỗ vỡ vào sông.
Đàn sếu kêu sốt ruột cánh đồng
Bốn gọng vó còng queo in lên trời biếc
Tiếng ếch ran cho đêm bớt vắng
Và đám mây lặng yên che giấc ngủ của trời.
Tôi nằm trên diệc mạ giữa làng lắng nghe lời thì thầm vọng
trong gió lạ. Không phải khúc hoan ca, đó là tiếng huyên náo ồn ào phát ra từ
phiến đá cổ xưa. Câu chuyện muôn năm rì rầm thời hoang sơ mở đất. Đất ơi! Dòng
máu người đang rần rật chảy, nắng quái mưa tràn không ố bẩn giấc mơ. Mặt trời
ngày ngày đi qua bóng đêm câm lặng. Những rễ cây âm thầm xuyên trong nhọc nhằn
cay đắng. Làng lớn dần. Nắng mới về trộn đầy trên những giàn hoa sớm. Khúc ca
muôn đời trong đất sinh sôi.
Những giọt sương lung linh ngủ yên lành trên ngọn cỏ. Mùa
màng hát ngợi ca về những chủ nhân. Gió trong suốt ru ca sự sinh tồn của đất.
Tiếng chim chơi vơi trôi đi giữa mung lung. Lửa thắp lên trong mắt các vì sao.
Giữa bữa tiệc lớn của đất trời, lửa lớn dần lên. Người làng hát vang bài ca về
bao ngày lam lũ. Âm thanh vút cao vọng và cõi xanh sức mạnh vô biên, bất diệt của
người.
Chiến tranh và tồn tại trên châu thổ. “Tuổi thơ đi biệt
tích/Nhà láng giềng nhang cháy tàn đêm/Ngõ làng nhiều người thắt vòng tang trắng/Gốc
đa già đỏ đất lá non rơi./Đồng không con trai cày ruộng/Mẹ ngày cán cuốc oằn
vai/Thời gian tấy máu mòn tay/Tóc mẹ rụng những mảnh buồn lối ngõ./Làng vài
ngày một tin báo tử/Các anh tôi thành hương khói vu vơ/Đất làng rũ gió/Chim
chào mào lủi thủi bới tàn tro”.
Cảnh này như phim tài liệu những ngày tháng ấy. Tôi khuyên độc giả, nhất là thế
hệ sinh sau năm 1975, cứ kiên nhẫn đọc. Mà thơ hay chứ bộ. (Ví dụ: chỉ có ai ở
quê châu thổ mới biết từ “diệc mạ” – đấy là phương ngữ).Và đây là ý thức công
dân tích cực của nhà thơ: không một chiều, nhiều chiều, đơn diện đa diện phân cực.
Những âm bản, phía khác của chiền tranh cứ việc khai thác. Nhưng làng xã Bắc bộ
trong Chiến tranh của Trần Anh Thái là sự phản ánh trung thực Hậu phương lớn
lúc đó. Không phải lúc nào, nói như Nguyễn Lương Ngọc, “Bao giờ, tôi và anh, và
bạn/ Cũng bắt đầu ngưỡng vọng bằng xúc phạm”. Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh
là một sự trung thực. Và điều đó được đón nhận bằng tin phục tự nó.
Chiến tranh
LỚP HỌC
Người đưa thư báo tin chiến trận
Mẹ đánh rơi nia gạo xuống sàn nhà.
Quả mướp già cha để dành làm giống
Gió ngược hai chiều vặn rớt mặt ao.
Chim chích choè sợ đông đi tránh rét
Đu đủ đầy mùa héo lúc vỏ xanh.
Mèo khoang ngại ra đồng đuổi chuột
Nằm co ro xó bếp ngủ vờ.
Ngày hôm qua bom dội bến đò
Ông lão một mình không con vừa chết.
Dòng sông gục giữa hai bờ ối đỏ
Mặt nước đen cá đớp trăng mờ.
Làng có người đưa con vào thành phố
Ba ngày chưa về quạ rúc sát ngọn tre.
Trước sân đình cây đa già sụp tối
Những đốm tàn lụi cụi dưới đê.
Tôi đến lớp không còn như trước
Tấm bảng đen giữa bục trơ lỳ
Viên phấn mấy lần gẫy trong tay cô giáo
Ngoài sân trường gió thổi vân vi.
Đường làng ngày chật lại
Cây cúc đồng ngây dại nở hoa
Con giun đất giấu đầu trong bụi
Tiếng nấc khuya nghẹn tối không đèn.
Hầm tránh bom chi chít ngõ làng
Lớp học lô xô mũ rơm bện vội.
Cụm tre chiều qua đang xanh biếc lá
Bỗng sáng nay lửa đỏ rơi đầy.
Chúng tôi không còn trêu thằng Man mũi lõ
Chuyện vui đùa con trẻ dửng dưng
Nó cao quá lúc vào hầm hay vấp
Chúng tôi nhường nó xuống trước tiên.
Kẻng báo động suốt ngày bom rít
Mặt đứa nào đứa ấy tái xanh
Đám con gái khóc nhè co ro xó tối
Chúng tôi như bầy gà hoảng sợ bóng đêm.
Báo động xong lớp học khét mùi bom
Chợt nhớ con sáo trong lồng sáng quên chưa thả.
Có gì đó như bầu trời chết gió
Đường chân trời biển rạn vệt chớp tan.
Đất vò trong chảo bỏng
Lớp học mỗi ngày vài đứa gạch tên.
Sợi dây đứt giữa cánh diều ký ức
Gió chướng về quăng quật bờ bên.
Chiếc thuyền trăng đứng khóc
Trận giả bày ít đứa ham chơi.
Góc học tập cây đèn dầu rụi bấc
Cha cắt mo cau che bớt sáng ngoài thềm.
Tiếng cười trôi dạt về đâu
Đàn trâu làng thưa đi quá nửa
Ông canh đồng bỏ quên chiếc roi treo trong góc bếp
Ruộng bắp cầy lật đật bước chân.
Chiều mấy lần bom dội ở Cống Lân
Nhà suốt ngày cơm vùi tro nguội.
Khói bếp giấu vào sương
Bữa ăn che vào đêm xuống vội…
TIẾN ĐƯA
Tràn vào nhà
Anh tôi nhập ngũ
Mẹ ngồi vá áo
Mũi kim bật máu bàn tay.
Khách vào ra vội vã
Đám trai làng tán gẫu gốc sung
Ông hàng xóm nghe đài đọc báo
Giờ oang oang kể chuyện chiến trường.
Mẹ ngồi bóng tối
Con gà hoa mê ngủ gáy đêm
Sương muối đổ xuống ngọn cà ướt sũng
Sáng mai ra trái tím rơi đầy.
Cha mượn xe đưa anh vào đơn vị
Mẹ lặng lẽ gói áo quần anh mặc trước đây
Vải cũ bục qua bao lần vá
Mẹ giở ra gấp mãi lại nhàu.
Nhà bớt dần tiếng nói
Cha hay đi ra biển ít ngủ nhà
Cây trứng gà cha trồng bên giậu mướp
Gió khô về khát nước chết còng queo.
Cún vàng sợ bom đi trốn nơi nào
Những bức tượng tôi nặn bằng đất sét bỗng thừa ra
Hoa dong riềng chị quên không hái
Sâu róm ăn lỗ rỗ mặt chiều.
Mẹ đi nằm sớm
Gió vò võ đường xa
Sóng vỡ bờ ao
Tiếng ếch gào u mê hang tối.
Mưa như là thút dưới vực sâu
Mưa chạy về đâu
Mẹ choàng dậy ngọn đèn kỳ phụt tắt
Sáng tối ngược chiều rát mắt mẹ tôi.
Cha moi trong góc buồng
Những chiếc bao gai lâu không dùng đến
Đóng góp vào chiến tranh
Vườn chè cũng ra sân đình đưa tiễn.
Không có gì thừa
Không có gì là nhỏ
Cót thóc mỗi ngày vơi cạn
Hạt gạo cắt đôi chia nỗi đau buồn.
Những cơn gió mệt nhoài sau bao trận bão
Tóc cha tôi rụng trắng đất vô hình.
ĐỘC THOẠI
Tờ mờ sáng ông canh đồng giọng oang oang chum vỡ:
– Cây đa đầu làng bị sét đánh bẻ đôi
– Con chó già bỗng dưng giẫy lên đành đạch
Rồi lăn ra luênh loáng sân đình.
Ông canh đồng:
Giao thừa năm Dậu giữa đêm bừng sáng
Mối chết đầy sân
Kiến ngược cành cây
Tiếng mèo kêu ngao ngán suốt ngày.
Người làng thiếu con trai đánh trống
Đứng buông tay nhìn gấu ăn trăng
Ông cất vó sáng còn uống rượu
Chiều sau cơn gió trái đã qua đời.
Cha:
Những tiếng người xa xưa rì rầm ngõ xóm
Bà già còng bị cói còng lưng
Dưới đáy biển con sóng ngầm lặng lẽ
Ông nội một mình rẽ nước bỏ đi.
Cha cứ gọi giữa vô cùng vùng vẫy
Sóng chồm về
Nghẹn tiếng nấc khuya.
Người hàng xóm:
Bão dựng trước nhà
Xác người lạ dạt vào bụi dứa
Mây trời mê dại
Cánh đồng vang tiếng chó tru.
Người qua đường:
Mưa mãi đổ nơi đồng ngập úng
Giông cứ tràn lúc biển gầm sôi
Lúa chớm chín đòng đòng non sữa
Cơn lốc bay hoa phấn nát mặt người.
Tôi lên cấp ba ăn bo bo đi học
Củ khoai hà nuốt vội đêm
Trưa tan học đường về mười cây số
Lả cánh cò khuỵu xuống chân đê.
Con cún nằm thườn mình gầm chạn
Thi thoảng hự lên một tiếng ho khan
Con nghé ọ cuồng chân nhai lại
Đồng mất dần những bãi cỏ non.
Cha ngồi vò râu
Tiếng thuốc lào rít đất
Giông bão và chiến tranh hai đầu gập lại
Cha tôi nhìn không chớp phía đáy sông.
*
Tôi quỳ xuống giữa mô đất đồng làng, trận bão năm nào vùi chôn sông nước. Gió
khô khát dưới chân, xác bao sinh linh bé bỏng tan trong cõi vô vi.
Bầu trời phăng phắc nắng. Đâu đây đổ vỡ lao xao, cu cườm vu vơ giữa khoảng âm
âm mờ ảo.
Ngọn lửa trước sân đình đốt lên thiêu cõi âm u. Những bàn tay gân guốc, già cả
nắm giữ đất đai huơ vào thời gian vĩnh cửu.
Nhọc nhằn, tình yêu và cái chết, hoà điệu cùng bài ca dính đầy mồ hôi của đất.
CHUYỆN Ở LÀNG
Tuổi thơ đi biệt tích
Nhà láng giềng nhang cháy tàn đêm
Ngõ làng nhiều người thắt vòng tang trắng
Gốc đa già đỏ đất lá non rơi.
Đồng không con trai cày ruộng
Mẹ ngày cán cuốc oằn vai
Thời gian tấy máu mòn tay
Tóc mẹ rụng những mảnh buồn lối ngõ.
Làng vài ngày một tin báo tử
Các anh tôi thành hương khói vu vơ
Đất làng rũ gió
Chim chào mào lủi thủi bới tàn tro.
Chị tôi tuổi dậy thì mưa nắng
Ngày đi về se thắt mắt mẹ tôi
Gió mát gượng chiều buông xuống
Vạt áo vội lau nước mắt chực trào.
Cây ổi sau nhà trái chưa kịp chín
Sợ một ngày đứt gió quăng sông
Xuân chưa tới hè về rụi lá
Chiếc giường tre khô két mọt lầm.
Làng có anh Pheo cụt chân xuất ngũ
Chim khách bay cuống quýt ngọn tre
Gió trên thềm các ngôi nhà vỗ sóng
Tàn nhang may rủi ban thờ.
Có thêm đàn ông gió đồng bớt trống
Râm bụt trước nhà sáng sáng đỏ hoa
Vại nước ngoài vườn trong veo ánh mắt
Vợ anh nụ cười giấu áo nghiêng vai.
Gái làng qua nhà anh lén nhìn lối ngõ
Và âm thầm xoa ngực đêm đêm
Hương cứ toả gió qua ai biết
Sương muối bay cay đắng đời người.
CHUYỆN CỦA BỐN CÔ GÁI
Vợ anh Pheo:
Bồ kết vườn nhà trĩu trái
Có thể cả làng gội hết mùa đông!
Cô gái thứ hai:
Hãy buông rèm và đóng kín cửa
Đất đồng nóng dần lên.
Trời không gió sao phía nào cũng lạnh
Màu tóc tôi mưa nắng héo mòn.
Cô gái thứ ba:
Tôi sợ mùa hoa
U mê giấc ngủ
Nước lã gội suốt mùa cây cỏ
Để ngày kia mưa trắng tóc chiều.
Cô gái thứ tư:
Lá bàng khép tán
Hoa nắng sắp tàn
Chiếc gối mỏng vô tình vò nát
Chim nhỏ chết vì sa mạc chờ mong.
Đất làng là sinh cơ lạc quan hơi hiếm trong mảng thơ hiện
sinh thân phận của Trần Anh Thái. Phải thế chứ! Phải có sự sinh, có chim hót,
chim bay, hoa nở, dẫu vẫn có tiếng thở dài của đêm chưa đủ che đi giấc ngủ thì
“Hãy gieo vừng bằng hạt giống của làng và đừng vội vàng thu hoạch khi nắng chưa
lên. Tin rằng Bông hoa chết khi chiều sáng ra bật mầm nụ mới. Rất nhiều âm
thanh tan ra và quần tụ. Làng giấu trong trái tim bao la khốc liệt âm thầm”.
Tôi không sợ dài, vẫn để nguyên bài thơ này vì cái thi vị hấp
dẫn của nó.
Đất làng
KHÚC I
Thuở ấy vui buồn đổ lên mình đất
Đất hoá vào máu thịt sinh tôi
Trong đắng cay cạm bẫy
Mây bay lũ lượt đồng làng.
Chim chích choè sáng nào cũng hót
Cửa mở ra cho nắng đi về
Chị tôi bảo bao năm không nhớ
Trước đình làng chó đá gặm sương.
Ngày ấy biển là cánh đồng trước mặt
Hải âu bay trắng nắng mặt trời
Cha dậy trước lúc gà gáy sớm
Cây ổi bao mùa ngậm muối chậm nở hoa.
Có hôm đang trưa hè bất chợt
Mẹ lo giông bão vào nhà
Yên tĩnh thế mà mắt người dại sóng
Cha tôi về gió quái dịu đi.
Biển vừa gần vừa xa
Muốm tìm ngọc thì đào vào đáy cát.
Giữa mịt mù mưa rát
Lại mỗi ngày bình tĩnh nắng lên.
KHÚC II
Người ở biển ầm ào gió sóng
Cánh tay săn bão cuộn xoáy gào
Khi lên thuyền ngẩng nhìn trời biếc
Tóc nhuộm màu bất chợt nắng mưa.
Gió vẫn thổi triệu năm không cũ
Đất mỗi ngày sinh nở buồn vui
Bông hoa chết hoàng hôn nắng úa
Sáng mở đầu làm cuộc tiễn đưa.
Làng từ thuở khởi nguyên tăm tối
Cơn khát trôi trên lửa cháy vô cùng
Chẳng thành tro than
Mà thành chìm nổi
Đến một ngày muối mặn biển đông.
Vực nước nông sâu
Gió không đầu cuối
Chỉ có người làng biết gió ở đâu.
Đêm chưa đủ che đi giấc ngủ
Tiếng thở dài khép mở vòm khuya.
KHÚC III
Cỏ mọc
Không tên
Sóng rền
Đan vào yên lặng.
Sau chớp giật đường chân trời mở nắng
Đất lại xanh nuôi máu của mình.
Chiếc vương miện trên cánh đồng cổ tích
Đã bao phen bỏng rát mặt lư đồng
Chó đá trước sân đình đêm thức
Thương một đời kiếp tượng.
Cha tôi bảo:
– Hãy gieo vừng bằng hạt giống của làng và
đừng vội vàng thu hoạch khi nắng chưa lên.
– Sương muối và rắn rết còn ẩn mình đâu đó.
– Đã bao chàng trai chết khi mặt trời vừa sáng.
– Cứ mở toang cánh cửa nhà mình sẽ không còn
gì đe doạ. Gió biết cách tìm lấy lối ra.
– Đi biển nhớ nhìn vào đầu sóng.
KHÚC IV
Giấc mơ về ủ giữa rằm, lời hát xa xăm vọng từ vườn cũ. Những
sóng lá gom thuyền trăng về bến, đêm đêm đậu giữa hiên nhà đầy nụ cười con trẻ.
Tiếng nước chảy qua miệng gầu róc rách, sáng bình yên trong ánh nhìn bao ngày
giông biển. Bóng cau già ngả xuống mặt ao, đo nông sâu số phận. Bông hoa chết
khi chiều sáng ra bật mầm nụ mới. Rất nhiều âm thanh tan ra và quần tụ. Làng giấu
trong trái tim bao la khốc liệt âm thầm.
Bài Hết chiều tả đến “đáy chiều” – chữ dùng của Trần Anh Thái
thân phận nhỏ bé của người nông dân. “Phía chân trời cơn mưa vần vũ/Đổ xuống
người đang cắt lúa đêm/Đêm úp xuống lưng – người úp vào bóng tối/Tiếng thở dài
trút mặt đất đai”.
Hết chiều
Đã hết chiều
Những tia sáng trên cánh đồng vẫn còn lần lữa
Buốt lạnh chạm vào se thắt
Con sông chở hoàng hôn chiều nay không vỗ sóng
Bến đò in nắng xa buồn
Thửa ruộng nhỏ suốt đời mẹ ta đào xới
Vẫn còn nguyên gốc rạ lấm mặt người
Phía chân trời cơn mưa vần vũ
Đổ xuống người đang cắt lúa đêm
Đêm úp xuống lưng – người úp vào bóng tối
Tiếng thở dài trút mặt đất đai.
Cái đẹp không phải lúc nào cũng được nâng niu. Tôi nghe thấy
tiếng than của Thuý Kiều ẩn trong Hoa xuyến chi. Buồn man mác.
Hoa xuyến chi
Hoa xuyến chi mọc bên đường
Tháng năm gió với bụi vương nát nhàu
Người đi qua
Người về đâu
Để hoa mãi với dãi dầu
Gió sương.
Viết về cha mẹ, thơ nào không cảm động. Bài thơ Trước mồ cha
là thế thái nhân tình, là thân phận người. Cảnh tình ở đây cao xa rộng lớn, như
núi, như biển. Bài thơ là đại biểu của những người con khi cha khuất núi. “Cha
nằm hút cõi xa xăm/Hắt hiu nấm cỏ âm thầm nắng mưa”. Ba mươi năm trước, bối cảnh
được khắc hoạ trong thơ. Bây giờ có lẽ khác rồi. Cũng là hiện diện tồn tại!
Trước mồ cha
Một mình con trước mồ cha
Chiều chưa xuống đã sương sa đầm đầm
Cha nằm hút cõi xa xăm
Hắt hiu nấm cỏ âm thầm nắng mưa
Thoảng như gió tự ngàn xưa
Bao nhiêu buốt lạnh đã lùa vào con
Đời người năm tháng mỏi mòn
Bao vinh nhục cũng chỉ còn hư không.
Cha nằm giữa cõi mênh mông
Hoàng hôn rơi giữa gió sông bời bời
Con đi qua những rộng dài
Trước mồ cha bỗng hóa loài cỏ cây
Trời xa thẳm tận cùng mây
Tháng năm nước mắt vơi đầy trần gian
Còn không bóng núi trăng ngàn
Trên mồ gió với nhang tàn ngẩn ngơ
Cõi đời cát bụi mưa mờ
Qua bao chìm nổi nào ngờ bể dâu
Dòng sông nước chảy từ đâu
Sóng ngàn năm mãi bạc đầu. Người ơi.
Riêng bài Hai người có cách của tượng trưng lãng mạn Pháp đầu
thế kỷ 20. Dù lãng mạn, nhưng nói về số phận người, cũng là một gợi ý mỹ học.
Bài thơ này cũng là ẩn số nhân vật trữ tình – hình tượng.
Hai người
Những số phận không sắc màu trang sức
Biển trùng thăm thẳm về đâu
Ký ức dầm dề biển thức
Hai người sóng lặng đêm
Giấc mơ dịu êm
Ai se sẽ lời ru xa vắng
Sương se se in lặng
Ấu thơ nhàu bụi nhân gian
Hàng dương xanh giấc mơ xanh
Trăng chới với cánh đồng biển biếc
Hai người giữa dòng gió xiết
Nước xanh nức nở hai bờ
Trôi đâu ánh mơ hồ
Sóng tan âm thầm trong cát
Rượu tràn ai rót
Sao trời ngất ngưởng lung linh
Ngày sang mặt trời vỡ sau lưng
Cơn khát cháy chiều hun hút
Hai người sóng hiu hiu
Cuối trời sương khói xiêu xiêu.
Ta đi cùng Trần Anh Thái với hành trình 40 năm thơ của ông gắn
với Thời kỳ Đổi mới. Những sáng tác của ông, chỉ riêng thơ và trường ca, như Độc
thoại trắng (thơ, 1994); Vọng trắng (thơ, 1996); Đổ bóng xuống mặt trời (trường
ca, 1999); Trên đường (trường ca và thơ, 2004); Ngày đang mở
sáng (trường ca 2007); Tự bạch (thơ, 2010); Mỗi loài hoa một mặt trời (hay Bão
không đến từ biển) (trường ca 2015);…đã nói lên sức làm việc đáng nể của ông.
Hiện sinh con người châu thổ trong thơ ông, là hiện sinh của tồn tại bất lực bản
thể hồi cố, là tương quan lưỡng cực chính phản của hiện hữu, là trừu tượng tận
cùng của con người nhỏ bé không điển hình,…
Là cô đơn và trống rỗng, của những người thường. Là chấp nhận.
Là coi mình như là một đồ vật , bên những vô cơ, miễn mình hữu cơ tồn tại.
Có thể nói, thơ Trần Anh Thái là bài học của tồn tại, là tư
tưởng về tồn tại, là tiếng nói của tồn tại!
Ảo giác , trong thơ ông, là hiện hữu thật, của hoạt hình. Cái
thực ở đâu đó. Cũng là một ý tưởng mỹ học. Có một bờ bến nào đấy, có cái đẹp –
trăng chờ, có hiện thực – ngõ nhỏ, có người – bàn tay, và có gió, có sương, có
mây, cây cỏ. Hãy kéo thế giới ảo về thế giới thực. Thật không đơn giản!
Ảo giác
Gió xước mặt người
Hình nhàu sương khói
Bóng đi
Giấc mơ ở lại
Phía kia bờ vọng mờ mây.
Chơ vơ một giải trăng chờ
Âm thầm tìm về ngõ nhỏ
Ảo ảnh giăng giăng ngọn cây
Bóng còn chập chờn sóng cỏ
Gió về gieo trắng bàn tay.
Hà Nội, 5/9/2025.
Bùi Văn Kha
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chuyện kể bên hồ XXXXXX
Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...
-
Đến với thơ của Bùi Hoàng Linh Tác giả Bùi Hoàng Linh đến với nghiệp văn chương khi còn đang học phổ thông tại Trường Quốc Học Huế. Thơ Bù...

.jpg)

