Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

Thơ 1-2-3, nếu không muốn nghiện xin đừng thử

Thơ 1-2-3, nếu không
muốn nghiện xin đừng thử!

Tôi thường nói đùa, “tôi bị nghiện” thể thơ 1- 2- 3 do Văn học Sài Gòn phát động thể nghiệm. Nói “nghiện” là bởi vì đây là thể thơ mới có sức cuốn hút lạ kỳ khiến bây giờ, cứ mỗi lần đặt bút là y như rằng tôi lại viết 1-2-3.
Một bài thơ gồm 6 câu, chia làm ba khổ thơ. Khổ 1 gồm 1 câu tối đa 11 từ, cũng là câu đề bài; khổ 2 gồm 2 câu, tối đa mỗi câu là 12 từ; khổ 3 gồm 3 câu, tối đa 13 từ. Cảm xúc thường đi từ ngoại cảnh đến chiều sâu nội tâm. Giữa câu thứ 1 và câu thứ 6 còn có tính hô-ứng hỗ tương cho nhau.
Thơ 1-2-3 có cấu trúc ngắn gọn, luật thơ chặt chẽ nhưng khơi được sự sáng tạo và giúp người viết trải chiều sâu tâm hồn qua từng con chữ. Như nhà văn Cao Chiến từng nhận xét trong một bài viết của mình: “Điểm đầu tiên có lẽ Thơ 1-2-3 không nhiều chữ. Cuộc sống hiện đại không cho người ta quá nhiều thời gian đẻ chữ theo lối tràng giang đại hải, để có một tứ thơ hay người viết buộc phải chắt chiu lựa chọn từng chữ, hình ảnh, sao cho chữ ít mà biểu đạt được nhiều nhất. Tư duy thơ theo lối đi từ ngoại cảnh dẫn vào nội tâm tác động đến cách nghĩ, lối nghĩ của không ít người trong tư duy sáng tạo nói riêng và tư duy nói chung. Trí não được kích hoạt đã tạo cho người viết sự hứng thú”.
Lần đầu tiên nhìn thấy thể thơ mới đã khơi dậy trong tôi sự tò mò, muốn khám phá và thử sức. Tôi thử viết bài thơ 1-2-3 đầu tiên, thú thực cũng tương đối vất vả. Trước đây thơ tôi viết tự do cảm xúc, tự do ngôn từ; bài thơ có thể dài ngắn, nhịp thơ có thể linh hoạt mà thể hiện tư tưởng cảm xúc muốn gửi gắm. Với 1-2-3, cái khó đầu tiên là sự hạn định ở số lượng từ câu cho mỗi dòng, mỗi khổ. Cảm xúc trải ra rồi gọt lại thật cô, thật đọng, thật nén. Và rất vui khi chùm thơ thứ nhất, rồi thứ hai, thứ ba,… của tôi lần lượt được chọn đăng trên Văn học Sài Gòn. Điều đó như tạo thêm cho tôi nguồn năng lượng sáng tạo.
Thơ 1-2-3 của Võ Hoàng Phương mang hơi thở riêng của vùng núi rừng miền tây xứ Nghệ, nơi có suối reo gió hát, có hạt thóc vàng óng, có bụng sông đầy cá tôm: Nơi em ở lưng đồi lá hát suối reo/ Bình minh chim khướu hót vang ngàn/ Uốn lượn sông mênh mông đồi núi kiễng trăng non/ Cha quăng chài, mẹ tinh mơ cõng mặt trời lên núi/ Chín bậc cầu thang chờ bước chân quen/ Chiều cõng hoàng hôn ngô lúa vàng bông theo về,… Là Đất đã thấm hơi mưa, gió đã thơm mùi nắng/ Thóc chảy tràn vàng óng/ Bụng sông đầy cá tôm.
Dòng cảm xúc da diết, sâu lắng, mang hơi thở tươi rói đời sống và tình cảm của thiên nhiên, con người vùng cao Nghệ An cứ như mạch nguồn tuôn chảy: Chùng chình sương vắt núi, xôn xang xanh đỏ váy xoè/ Cô gái Mông xuống chợ, tiếng khèn vương vít đôi chân/ Chàng trai Mông lên ngựa, con tim thấp thỏm chợ tình. Hay một thoáng hồ Thung Mây thơ mộng rất riêng: Sáng tháng Năm hơi sương còn tất bật!/ Núi đỏng đảnh phấn son nghiêng nghiêng bóng Thung Mây/ Ri rích chim kêu, ong rẽ đường bay,….
Thơ 1- 2- 3 Võ Hoàng Phương là những rung động dậy thì sơn nữ, Con tim dậy thì em rộn ràng rung lồng ngực, là tình yêu lứa đôi, là tình nghĩa vợ chồng: Mình cùng tra hạt bắp, mình cùng tỉa lúa nương/ Nghe tim mình khao khát, sao em nỡ thả bùa mê?
Đến với thơ 1- 2- 3 của Võ Hoàng Phương, người đọc còn tìm thấy những trải nghiệm nghiêm túc từ cuộc đời của người phụ nữ từng trải: Niềm tin của con chim ở nơi đôi cánh/ Đôi tay chai sạn tháng ngày, người ta bảo chỉ cần hi vọng/ Hong muộn phiền, nứt nẻ dậy hương thơm/ Người đàn bà tổn thương tim rỉ máu/…
Không chỉ Võ Hoàng Phương mê thơ 1-2- 3, các bạn viết trên quê hương xứ Nghệ cũng “bị nghiện” thể thơ này như thầy giáo Đặng Văn Thắng ở Nghĩa Đàn, Trần Thị Hồng Anh quê Quỳ Hợp cũng có những chùm thơ trải nghiệm được đăng tải. Nếu như Đặng Văn Thắng đã khéo léo vận dụng cái hay cái đẹp của Tiếng Việt (thanh điệu, từ láy, thành ngữ) đưa vào tác phẩm của mình: Lấp la lấp ló/ Chích chòe, chào mào, chiền chiện chíu cha chíu chít./ Nhấp nhổm chão chàng, chão chuộc ồm ộp, kèng kẹc… thì Trần Thị Hồng Anh với những trải lòng bên mẹ: Thăm nhà mình tìm chút an yên/ Bát nước vối mẹ hái thơm lừng mùa hạ…
Và những người lạ, những bạn viết ở đâu đâu tôi chưa hề biết họ, nhưng chúng tôi đã gặp nhau, đã thấu tâm can qua những dòng thơ của họ: Mẹ giấu nụ cười sau làn mi ngấn lệ/ Tờ giấy khai sinh không còn trống hững hờ (Lê Văn Ri từ Quảng Nam); Sao sống không sum vầy chết lại thành kính thịnh soạn dâng mâm? (Vũ Tuyết Nhung – Thanh Hoá); Ai đã cố bức tử  Jean Valjean chỉ vì mẩu bánh mì?/ Con người chẳng có quyền gì để buộc tội lẫn nhau/ Hãy tự định tội chính mình vì tâm hồn không trong sạch! (Trương Mỹ Ngọc – TPHCM); Tôi nghe tiếng thì thầm khi về vườn nội/ Hoang mang cỏ cây, đỏ mắt… nắng chiều/ Thương tích lịm vào, sắc tím một loài hoa (Võ Văn Trường – Quảng Nam); Lời mẹ rì rầm con nghe những âm vui/ Chợt nhận ra bài thơ tình yêu bền bỉ không lời/ Mười sáu lần sinh nhật cha, mẹ âm thầm thắp chữ (Hà Phi Phượng – Thái Bình); Xấp vé số dày gói trong bọc ni lông màu mưa/ Ngã theo người đàn bà vào vũng nước bên nắp cống ứ rác/ Chiếc ô tô lao nhanh qua, nước tạt sũng phận người (Đoàn Thị Diễm Thuyên – TPHCM);…
Hạnh phúc của tôi nói riêng và có lẽ cũng là niềm vui của bao người cầm bút là tác phẩm của mình được người đọc đón nhận. Văn học Sài Gòn đã chắp thêm cho tôi đôi cánh dài hơn để thơ Võ Hoàng Phương có thể đến với bạn đọc yêu thơ nhiều hơn. Với giải thưởng dành cho 5 tác giả được trao tặng trong tháng thứ nhất, tháng 5 năm 2020, chính là nguồn động lực quý giá để tôi tiếp tục trải nghiệm trên con đường sáng tạo văn chương của mình.
Có thể nói, đến bây giờ, bước sang tháng thứ hai kể từ khi mở ra cuộc vận động sáng tác thơ 1-2-3, tôi đã hoàn toàn tự tin với thể thơ mới này. Thơ 1-2-3 vô tình hình thành một nét mới trong phong cách thơ Võ Hoàng Phương, nó thân thuộc đến nỗi, một người bạn văn chương xứ gió lào quê tôi mỗi khi gặp gỡ gọi tôi bằng biệt danh trìu mến: “1-2-3” hay “Người đàn bà làm thơ 1-2-3”. Và tôi cảm thấy đó là niềm vui riêng mình. Tôi từng đùa với các bạn văn chương: “Thơ 1-2-3, nếu không muốn nghiện xin đừng thử!”
Được biết, thơ 1-2-3 được nung nấu và khai mở bởi nhà thơ Phan Hoàng từ chuyến thăm nước Nga mùa thu 2018 cùng với một số văn nghệ sĩ của TPHCM. Không những là một sân chơi văn hoá và trí tuệ đầy quyến rũ cho người cầm bút mà thơ mới 1-2-3 còn là nơi để kết nối những cung bậc cảm xúc con người trong và ngoài nước. Tôi hình dung về thể thơ mới này đang như một phong trào mạnh  mẽ và lan rộng. Thơ 1-2-3 tương lai sẽ góp phần làm nên diện mạo mới, hình thành một lối tư duy mới, sáng tạo, kết nối và hội nhập cho văn đàn Việt Nam thế kỷ XXI.
26/6/2000
Võ Hoàng Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/

Rượu của Nguyễn Cao Kỳ - Sao rượu bỗng dưng thành đắng đót

Rượu của Nguyễn Cao Kỳ - Sao rượu
bỗng dưng thành đắng đót

Trong tập thơ Nheo mắt nhìn thế giới (NXB Văn học 2008) của Bằng Việt, có một bài thơ được nhiều người quan tâm. Đó là bài Rượu của Nguyễn Cao Kỳ.
Toàn văn bài thơ như sau:
Vị Thiếu tướng Công an cầm chai rượu ra bàn
– “Ông Nguyễn Cao Kỳ mới về gửi tặng”
Mọi người đang vui gật gù bảo “Uống”
Nhưng có một người bảo “Không”.
Vì sao không? Rượu cứ ngon là rượu!
Whisky Mỹ hay Vodka Nga, giờ có mặc cảm gì.
Chiến tranh lạnh qua rồi, ba mươi năm sau chống Mỹ.
Đây là chén rượu thăm quê của tướng Nguyễn Cao Kỳ!
Nhưng vẫn có một người không chịu uống!
Vì sao không? Chẳng cố chấp quá ư?
Cậu là lính phòng không, chúng tớ đều cựu chiến binh cả chứ !
Cũng bom đạn, cũng Trường Sơn, cũng vào sinh ra tử,
Sống đến hôm nay, đâu phải để hận thù!
Có phải tự đáy lòng không vượt qua mặc cảm?
Không vượt qua nỗi buồn của cuộc chiến tranh xưa?
Không vượt qua chính mình , không vượt qua quá khứ.
Vết thương cũ còn đau khi gió chuyển sang mùa …
Đám đông ồn ào của chúng tôi cứ uống
Anh bạn chỉ ngồi im, cũng chẳng nói thêm gì…
Và bữa rượu, bỗng dưng thành đắng đót
Chẳng phải tại vì ai, kể cả Nguyễn Cao Kỳ!
2007
Tính đến nay, bài thơ ra đời đã 10 năm. Câu chuyện đặt ra trong bài thơ, cũng đã ngoài 40 năm. Người trong cuộc được nhắc tới, ông Nguyễn Cao Kỳ (1930 – 2011), nguyên Phó Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ, đã ra người thiên cổ, về với cát bụi. Nói thêm, con người này, sinh thời, kể từ năm 2004, đã nhiều lần về Việt Nam và là một biểu tượng của tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc. Khi về nước lần thứ hai, ông Kỳ nói: “Rồi chim lại bay về tổ”.
Bài thơ bắt đầu bằng chai rượu của vị tướng phía bên kia tặng cho vị tướng phía bên này. Chỉ vậy thôi nhưng cũng đã thấy một tấm lòng. Chai rượu không chỉ chai rượu, đó là cầu nối, là niềm tin trao gửi cho nhau. Bài thơ có hơi hướm nghị luận, mượn rượu để nói những vấn đề ngoài rượu. Ngôn ngữ và hình ảnh có tính đa nghĩa, kể cả việc lặp lại đến 3 lần tên riêng Nguyễn Cao Kỳ.
Mở đầu:
Vị Thiếu tướng Công an cầm chai rượu ra bàn
– “Ông Nguyễn Cao Kỳ mới về gửi tặng”
Mọi người đang vui gật gù bảo “Uống”
Nhưng có một người bảo “Không”.
“Uống” hay “không” không còn là việc của các cá nhân ngồi trong tiệc rượu. Chung quanh mâm rượu là thế hệ đã cầm súng ở nhiều chiến trường, hôm nay, đang gác lại quá khứ, vượt lên chính mình, hướng tới tương lai. Nhưng, không dễ. Lúc này, chai rượu đã rẽ ra hướng khác. Vậy là, “chén rượu thăm quê của tướng Nguyễn Cao Kỳ” đã nhuốm mùi vị đắng cay của lịch sử. Hóa ra, sau chai rượu, ẩn hiện bao vấn đề thời sự. Giá, nếu bấy giờ không nói chủ nhân chai rượn, thì rượu chỉ là rượu, một hợp chất hữu cơ, một loại đồ uống có chứa cồn, đơn giản vậy thôi ! Sẽ không có “uống” hay “không”:
Vì sao không? Rượu cứ ngon là rượu!
Whisky Mỹ hay Vodka Nga, giờ có mặc cảm gì.
Chiến tranh lạnh qua rồi, ba mươi năm sau chống Mỹ.
Đây là chén rượu thăm quê của tướng Nguyễn Cao Kỳ!
Quan sát kỹ kết cấu bài thơ, sẽ thấy ý tứ của tác giả. Giữa bài thơ, Bằng Việt có một khổ thơ chỉ có một dòng. Dòng thơ đó như chia bài thơ làm hai phần, chia những người ngồi trong mâm rượu thành hai phái, chia thời gian thành hai mốc: hiện tại và quá khứ. Một dòng, lại mang nhiều ý nghĩa:
Nhưng vẫn có một người không chịu uống!
“Một người” thành một đại diện. “Một người” nhưng là một xu hướng. Tình thế của bàn rượu không còn là bàn rượu, mà là bàn tròn thế sự. Nơi ấy, có con người, có chiến tranh, có bom đạn Trường Sơn, có vào sinh ra tử, có hôm qua và hôm nay:
Vì sao không ? Chẳng cố chấp quá ư ?
Cậu là lính phòng không, chúng tớ đều cựu chiến binh cả chứ!
Cũng bom đạn, cũng Trường Sơn, cũng vào sinh ra tử,
Sống đến hôm nay, đâu phải để hận thù!
Qua khổ thơ này cho thấy, những người trong bàn rượu, xuất thân từ các binh chủng, các chiến trường, còn sống và luận bàn được mất trong cuộc chiến đã qua. Giọng điệu nhà thơ, người trong cuộc, như chùng xuống, tâm tình, thuyết phục, gần gũi: “Cậu” – “Tớ”, “Cũng”, với  nhiều dấu hỏi (?), dấu than (!) của câu cảm.
Hai khổ thơ tiếp là những dòng tự vấn, nhiều câu hỏi tu từ vang lên. Có đến bốn lần nhà thơ nhấn mạnh về “không vượt qua được” của mỗi con người liên quan đến những vấn đề hậu chiến (Không vượt qua được mặc cảm / Không vượt qua nỗi buồn / Không vượt qua chính mình / Không vượt qua quá khứ). Lần thứ hai, tác giả không ngần ngại đặt ra về “mặc cảm”, về “nỗi buồn chiến tranh”, về trì kéo của lịch sử và cả nỗi đau có thật của thân thể khi trời đất chuyển sang mùa. Tất cả những cái đó, không đâu xa, có ngay trong đời sống chúng ta:
Có phải tự đáy lòng không vượt qua mặc cảm?
Không vượt qua nỗi buồn của cuộc chiến tranh xưa?
Không vượt qua chính mình, không vượt qua quá khứ
Vết thương cũ còn đau khi gió chuyển sang mùa…
Những dòng thơ cuối, đỉnh điểm của dằng co giữa ồn ào và im lặng, giữa “chúng tôi” và “anh bạn ngồi im”, vị đắng còn nguyên như buổi đầu bữa rượu và thái độ “chỉ ngồi im, cũng chẳng nói thêm gì”: Đám đông ồn ào của chúng tôi cứ uống/ Anh bạn chỉ ngồi im, cũng chẳng nói thêm gì…/ Và bữa rượu, bỗng dưng thành đắng đót/ Chẳng phải tại vì ai, kể cả Nguyễn Cao Kỳ!        
Hòa bình đã đến. Cuộc chiến đi qua nhiều thập niên rồi! Nhưng, vẫn còn đó những âm vang trận mạc, những gai góc lịch sử, không thể sớm chiều dứt bỏ: Vết thương cũ còn đau khi gió chuyển sang mùa…. Vết thương cũ hiểu theo nhiều chiều, trách cứ ai được, kể cả Nguyễn Cao Kỳ. Phải hết sức thông cảm!
Vấn đề còn lại, như tên một truyện ngắn của Tạ Duy Anh, “bước qua lời nguyền”. Vâng. Phải dũng cảm “vượt qua chính mình”, dẫu chẳng dễ chút nào! Phía trước là tương lai, là câu trả lời cho mai sau, cho nên, sẽ chẳng có gì thay đổi, nếu: “không vượt qua quá khứ”.  Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết: “Phải mất hơn 20 năm dân tộc mới đi qua được chiếc cầu Hiền Lương dài 194 mét“.
Vấn đề mà Bằng Việt đặt ra trong bài thơ Rượu của Nguyễn Cao Kỳ cách đây 10 năm. 10 năm sau, theo thời gian, với những chuyển đổi về nhận thức, những thúc bách của lịch sử, vào các ngày từ 20 đến 24-10-2017, tại Hà Nội, cuộc gặp mặt lần thứ nhất “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc” do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Tham dự cuộc gặp mặt này, có hơn 100 nhà văn tiêu biểu ở trong nước và các nhà văn Việt Nam sống tại 12 nước trên thế giới.
Bài thơ Rượu của Nguyễn Cao Kỳ của Bằng Việt viết theo khuynh hướng chính luận. Vấn đề là, chén rượu có tiếp tục đắng đót hay ngọt ngào lại tùy thuộc vào thời gian, tình yêu, thiện chí và niềm tin của mỗi một con người.
27/6/2000
Huỳnh Văn Hoa
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thi pháp Haiku hiện đại - Thể thơ thế giới

Thi pháp Haiku hiện đại
Thể thơ thế giới

Chủ đề của haiku hiện đại có thể đa dạng, không cứ về thiên nhiên, mà về toàn thể tạo hóa. Ở Nhật, mặc dù nhiều nhà thơ tiếp cận theo hướng truyền thống bốn mùa, số khác vẫn nỗ lực kế thừa tinh thần cách tân của Shiki, đi tìm những chủ đề mới khác với đề tài thiên nhiên. Vào thập niên 1930, một số thi sỹ dẫu theo thể cố định đã phát động phong trào “Tân Hưng Haiku” nói ở trên với mục đích thể hiện bất cứ đề tài nào họ muốn trong haiku. Phong trào này đã trở thành một đợt sóng mạnh mẽ…
Một điểm nhìn mới về Haiku hiện đại
Haiku, ở một mức độ nào đó, tiếp nhận các đặc tính truyền thống của thơ “haikai” thời Edo (1603–1868) và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc Cách tân Haiku của Masaoka Shiki (1867–1902) vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, haiku hiện đại như là một thể thơ đương đại thì chỉ tính từ thế kỷ 20 đến thế kỷ 21, và có những đặc thù hiện đại của riêng nó. Ở đây, haiku hiện đại sẽ được xem xét trong so sánh với haiku truyền thống.
Cuộc Cách tân Haiku dưới ánh sáng thời nay
Khác biệt lớn nhất giữa haiku đầu thế kỷ 21 và haiku thời trước nằm ở chỗ, ngày nay haiku không còn là thể thơ riêng của nước Nhật. Haiku trong thế kỷ này đã trở thành một thể thơ thế giới, được thưởng thức ở hàng chục quốc gia: tức là, haiku được đọc và sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ. Từ giữa thế kỷ 20, nhiều loại hình nghệ thuật đã được toàn cầu hóa và tiến trình đó càng được đẩy nhanh với mạng internet. Theo cùng cách ấy, haiku cũng trở nên quốc tế hóa. Dẫu vậy, do thể luật của haiku mang đậm tính Nhật nên một số nhà thơ haiku Nhật theo khuynh hướng bảo thủ cảm thấy những vần thơ của Basho và các thi hào khác khi dịch sang một ngôn ngữ khác thì không còn giống với nguyên tác. Thế nhưng, họ hãy nhớ rằng chính nước Nhật cũng đã tiếp nhận nhiều loại hình văn chương, được dịch sang tiếng Nhật, từ Ấn Độ và Trung Quốc thời xưa, và từ châu Âu những năm gần đây hơn.
Lại cần nói thêm rằng, kỷ nguyên hiện đại của chúng ta không phải thời điểm gặp gỡ đầu tiên giữa haiku và thế giới. Haiku đã được giới thiệu tới châu Âu gần như cùng lúc với thời gian của cuộc Cách tân Haiku do Shiki chủ xướng. Shiki là người khởi dựng cho thể thơ haiku ngày nay. Trong thập niên 1880, ông đã cải cách haikai, thể thơ liên ca hợp tác truyền thống và là tiền thân của haiku, thành thể thơ một dòng hiện đại chỉ do một người soạn tác, và gọi nó là haiku. Shiki cải cách haiku như vậy là bởi ông cho rằng thơ haikai cũ đã trở nên sáo mòn. Tuy nhiên, nếu chỉ thuần túy vì lý do đó, ông có lẽ chỉ cần tái thiết lại haikai về đề tài, chất liệu và kỹ thuật. Nhưng sự cách tân không dừng lại ở đó; ông đã thực hiện một cuộc đại phẫu thay đổi ngay chính hình thức thơ. Dường như lý do thực sự cho việc cách tân về thể thơ nằm ở chỗ thời đại của Shiki chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc hiện đại hóa theo phương Tây. Chứng kiến xã hội Nhật đang trong đà hiện đại hóa/Tây hóa, có thể ông cảm thấy rằng nếu haikai cứ tiếp tục lối cũ thì sẽ chẳng ai còn hứng thú với nó nữa. Kết quả từ công cuộc cách tân ấy của Shiki, haiku đã nở rộ trên đất Nhật và ngày nay lan tỏa khắp toàn cầu.
Sau khi haiku được giới thiệu ra châu Âu, cho đến giữa thế kỷ 20, chỉ một số ít nhà thơ ở các nước phương Tây, có thể kể đến Ezra Pound (1885–1972), quan tâm tới thể thơ này. Phải đến nửa sau thế kỷ 20, haiku mới bắt đầu mê hoặc nhiều thi sỹ hơn nữa trên thế giới. Giờ đây, haiku đã phổ biến trên toàn cầu, và dễ thấy rằng haiku như một thể “thơ thế giới” sẽ tác động trở lại haiku Nhật gốc trong tương lai, vì mọi thứ đều trở nên toàn cầu hóa ở kỷ nguyên này. Sau tất cả, tình huống toàn cầu hóa của haiku ngày nay gần như đồng cấu với tình huống của thời Shiki; cả hai đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố từ bên ngoài nước Nhật. Tuy nhiên, do quá trình phát triển của haiku ôm vào nó nhiều nhân tố nội, ngoại khác nhau, không nên coi sự tiến hóa đó chỉ mang tính thụ động. Ngoài cuộc cách tân của Shiki, trong thời gian chiến tranh, haiku còn chịu tác động do cuộc đàn áp “Phong trào Shinko-Haiku (Tân hưng Haiku)” phản chiến từ phía cảnh sát, và sau Thế chiến, chịu thêm búa rìu từ bài “Luận về Haiku như một Nghệ thuật thứ cấp” của nhà nghiên cứu và phê bình văn học Kuwabara Takeo. Đây là những áp lực đến từ bên ngoài thế giới haiku, nhưng haiku đã vượt qua những phép thử đó và phát triển càng mạnh mẽ hơn.
Tính ngắn gọn
Đặc điểm của haiku là ngắn gọn. Nó là thể thơ ngắn nhất ở Nhật. Tính ngắn gọn này thường được xem có nguồn gốc từ xa xưa, nhưng trên thực tế, vào thế kỷ 17 – thời của Basho, thể haiku còn chưa tồn tại; “Haikai-no-renga” (bài hài liên ca), tiền thân của haiku, thì dài hơn rất nhiều. Haiku mà chúng ta biết, như đã nói ở trên, xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, khoảng hơn 100 năm trước, có nghĩa rằng nó ra đời như một thể thơ hiện đại. Đây là lý do vì sao haiku thường có vẻ rất hiện đại. Basho thực chất không phải một nhà thơ haiku mà là một bậc thầy haikai, ông coi trọng “hokku” (phát cú – cú 17 âm đầu của một bài haikai) cũng như người soạn ra nó, và Basho đã nâng hokku lên tầm nghệ thuật.
Trong lịch sử thơ ca cổ điển thế giới, từ Homer đến thời Trung Cổ, rồi thời kỳ đầu hiện đại, châu Âu có truyền thống sáng tác các sử thi dài, ở đó, nhà thơ nỗ lực miêu tả trạng huống của sự vật một cách kỹ lưỡng sao cho người đọc hiểu được rõ ràng. Haiku ngược lại, nằm ở thái cực kia của bức phổ. Nguyên do haiku quá đỗi ngắn có thể là vì dưới thời chính quyền Kyoto và sau đó là Mạc Phủ Edo ở Nhật, quyền lực chính trị và cùng với đó các kiểu văn hóa được hợp nhất ở kinh đô. Hệ quả là, thị dân đủ học vấn để thưởng thức haikai có thể gợi lên một hình ảnh tương đồng từ quý ngữ trong một bài thơ. Những hình ảnh này được đặt cùng nhau vào “saijiki” (Tuế Thời Ký – từ điển các từ chỉ mùa).
Trong lịch sử văn chương thế giới, thơ ca có xu hướng thay đổi từ dài thành ngắn: từ sử thi đến thơ trữ tình và gần đây là haiku. Trong thời đại của chúng ta, nhờ vào các lực hợp nhất của việc toàn cầu hóa và mạng internet, thi sỹ trên khắp thế giới có thể có chung những ý tưởng tương đồng từ một sự vật, và do đó, haiku có thể là thứ thơ ca thế giới cho nhiều kiểu người khác nhau.
Ở bất cứ ngôn ngữ nào, haiku đều rất ngắn, ít diễn tả, đối lập với truyền thống thơ ca phương Tây. Bản chất ít diễn tả của nó dẫn đến việc quan hệ giữa các từ trong một bài haiku trở nên kém rõ ràng. Người đọc phải lấp vào những khoảng trống ấy bằng trí tưởng tượng của họ. Như thế, với haiku hiện đại, việc đọc là tối quan trọng: người đọc phải tham gia vào mỗi bài haiku mà hoàn thiện nó. Nghịch lý của sự thiếu miêu tả có lẽ là một đặc điểm hấp dẫn giúp cho haiku lan tỏa rộng rãi trên thế giới.
Thể thơ
Thể chính yếu của haiku trong tiếng Nhật là 5-7-5-on (âm). Như vậy, haiku Nhật là loại thơ có thể thức cố định với nhịp điệu từ bên ngoài. Tuy nhiên, haiku trong các ngôn ngữ khác chủ yếu là thơ tự do ba dòng. Cho dù một số nhà thơ bên ngoài nước Nhật thử làm với kiểu 17 âm tiết, nhưng đó chỉ là thiểu số. Và nữa, có những người thử làm với kiểu thơ một dòng theo dạng haiku Nhật gốc, hay số khác thử với thể hai dòng hoặc hơn ba dòng, tất cả những kiểu như thế chỉ là ngoại lệ. Ta có thể nói rằng, về haiku bên ngoài nước Nhật, kiểu thơ nguyên gốc 17-on với ngoại nhịp đã chuyển hóa thành thể thơ ba dòng với nội nhịp. Thể thơ ba dòng này rất dễ nhận biết và dường như là một nhân tố khác cho việc truyền bá rộng rãi của haiku trên thế giới.
I found my/ cat – one/ Silent star [1]
Tôi tìm thấy
con mèo của mình
tĩnh lặng một vì sao
Jack Kerouac
Khi xem xét định nghĩa thế nào là haiku ở các phần lãnh thổ khác của thế giới ngoài nước Nhật, chúng ta phải thừa nhận một điều rằng nó không phụ thuộc vào kiểu thức cố định 17-on. Trên thực tế, kiểu thức của haiku thế giới khác về căn bản so với haiku Nhật gốc. Thế thì đâu là điểm chung của haiku giữa Nhật và thế giới? Có một gợi ý cho vấn đề này khi ta nhìn vào lịch sử haiku Nhật. “Haiku Tự Do” (Jiyuritsu Haiku), khoảng năm 1910, là một phong trào cách tân khác nhằm mục đích giải phóng haiku khỏi niêm luật 17-oncố định và quý ngữ.
片つ方の耳にないしよ話しに来る
Katatsukata no mimi ni naishi yo hanashi ni kuru
To one of my ears, she comes to tell a secret[2]
Nàng đến thì thầm vào một bên tai tôi điều bí mật
Hosai Ozaki
Haiku Tự Do đã thành công và vẫn được đọc rộng rãi trong thế kỷ 21. Điều đó cho thấy haiku không nhất thiết phải có thể cách cố định hay quý ngữ ngay cả trong tiếng Nhật. Từ sự thật lịch sử này, ta có thể rút ra một đặc điểm khác của haiku: thể thơ haiku chứa đựng một thi tính với khả năng đổi mới, thậm chí là xa rời chuẩn mẫu. Mặc dù đa số các nhà thơ haiku Nhật ngày nay vẫn sáng tác với thể cố định, dưới đây là một ví dụ về haiku tự do hiện đại viết bởi một thi sỹ cũng làm cả haiku 17-on.
Watch again/ Jesus’s despair/ made of rocks [3]
Nhìn lại
nỗi thất vọng của Jesus
làm từ đá
Ban’ya Natsuishi
Bài haiku trên trong nguyên tác tiếng Nhật được viết theo thể tự do chứ không theo thể cố định 17-onthông thường. Người đọc dễ nhận thấy ở bản dịch, không có khác biệt rõ ràng giữa haiku Nhật thể cố định với thể tự do. Tuy nhiên, thông qua nhịp điệu và chủ đề của nó, bài thơ được sáng tác hướng ra thế giới – cái thế giới vẫn đang đi tìm một tiêu chuẩn cho haiku.
“Cắt” (kire) là một yếu tố kỹ thuật. Đối với những thể thơ ngắn như haiku, kỹ thuật cắt có thể rất hiệu quả. Tại Mỹ, nó được diễn giải thành “phép đặt cạnh nhau” (juxtaposition). Ở hai bài thơ trên, mấy chỗ “nàng đến…” (ni kuru) và “nhìn lại…” (watch again) không sử dụng các lối cắt truyền thống hay đặt cạnh nhau các hình ảnh. Cho dù vậy, ta vẫn không thể kết luận đơn giản là chúng không có sự cắt. Dường như những thảo luận về kỹ thuật cắt cần có đặc điểm gì trong haiku hiện đại cho đến nay là chưa đủ. Nhưng ít nhất, ta có thể khẳng định đã có những khác biệt với phương thức truyền thống của haiku cổ điển.
Chủ đề
Trong thập niên 1910, Kyoshi Takahama, một trong số những môn đệ của Shiki đã chủ trương haiku nên là thể thơ 5-7-5-on và liên quan tới các mùa. Quan niệm đó hàm ý rằng mỗi tác phẩm haiku đều nên chứa đựng một “từ chỉ mùa”, tức quý ngữ (kigo). Hokku vốn có truyền thống sử dụng quý ngữ để gợi mở bốn mùa, và lời khẳng định của Kyoshi đặt cơ sở trên truyền thống ấy. Với nhiều nhà thơ Nhật, các chủ đề về thời tiết bốn mùa thường rất dễ hiểu và kết nối trực tiếp với đời sống của họ. Vì lẽ đó, quan niệm trên được đồng thuận rộng rãi. Tuy nhiên, bên ngoài nước Nhật lại không có từ điển các từ chỉ mùa như ở Nhật. Các nhà thơ haiku ở những nơi khác trên thế giới muốn theo truyền thống Nhật, thay vì sử dụng các quý ngữ, lại có suy nghĩ hơi khác. Họ xem haiku như một kiểu thơ về thiên nhiên. Cách nhìn này khá thông dụng ở nhiều nước. Đồng thời, tại những nước đó, nhiều nhà thơ cũng không quan tâm tới chủ đề thiên nhiên: họ viết haiku theo cảm năng của bản thân và theo các truyền thống thơ ca ở xứ sở của họ.
Hơn nữa, ngay cả ở Nhật, haiku không nhất thiết phải theo truyền thống; nó mở ra những thử nghiệm mới. Chủ đề của haiku hiện đại có thể đa dạng, không cứ về thiên nhiên, mà về toàn thể tạo hóa. Ở Nhật, mặc dù nhiều nhà thơ tiếp cận theo hướng truyền thống bốn mùa, số khác vẫn nỗ lực kế thừa tinh thần cách tân của Shiki, đi tìm những chủ đề mới khác với đề tài thiên nhiên. Vào thập niên 1930, một số thi sỹ dẫu theo thể cố định đã phát động phong trào “Tân Hưng Haiku” nói ở trên với mục đích thể hiện bất cứ đề tài nào họ muốn trong haiku. Phong trào này đã trở thành một đợt sóng mạnh mẽ.
Insist on the hairpin/ in the rain/ of ash [4]
Nài chiếc cặp tóc
trong làn mưa
tro
Kakio Tomizawa
Bài haiku này, làm nổi bật hình ảnh “chiếc cặp tóc”, thể hiện một phong cách mới. Trong khi nhiều người nghĩ haiku chỉ là một thể thơ truyền thống, những hướng tiếp cận như thế này, tiếp nối tinh thần cách tân của Shiki, có thể được xem là tương đối sớm trong lịch sử haiku.
Đa phần các nhà thơ Nhật đều viết haiku trong một dòng, haiku nhiều dòng là một thử nghiệm mới ở nửa cuối thế kỷ 20.
Holding a lyre
a nameless
god
drifted ashore[5]
Cầm cây đàn lia
một vị thần
không tên
trôi giạt vào bờ
Shigenobu Takayanagi
Nhà thơ xuất chúng này, trong thập niên 1970, chủ yếu viết haiku bốn dòng thay vì ba dòng; dẫu vậy, dường như ông đã dự báo trước cho sự phong nhiêu của haiku ba dòng ngày nay. Bài haiku trên không phải một phác họa về thế giới tự nhiên trước mắt chúng ta, cũng không miêu tả thời khắc hiện tại – như vẫn gọi “haiku thời khắc”. Nó cố gắng theo dấu những ký ức thơ trở ngược về tinh thần sáng tạo của thi sỹ, gợi lên một vùng đất tưởng tượng và con người nơi đó. Lối tiếp cận này, khởi đầu từ cá thể, chuyển qua những nhóm người, và vươn ra toàn thế giới, tỏ ra hiệu quả thay cho những chủ đề mùa. Thi sỹ ở khắp nơi có thể thử sức với kiểu chủ đề này bằng khả năng tưởng tượng của họ.
Đi tìm Tinh thần Haiku
Định nghĩa chính xác về thể thơ haiku trên thế giới gần như là điều không thể. Dẫu chỉ xét trong nước Nhật, ý niệm “thể thơ cố định về bốn mùa” lấy từ bách khoa toàn thư cũng không thể đem áp dụng cho toàn bộ lịch sử haiku Nhật được. Do đó, định nghĩa về haiku hiện đại ở Nhật cũng như trên thế giới nên là “một thể thơ ngắn mang tinh thần haiku truyền thống, bảo tồn những giá trị đậm chất thơ của nó, và đồng thời truy cầu những tinh thần haiku mới”. Bất cứ bài haiku xuất sắc nào cũng biểu lộ ý niệm này. Bởi thế, haiku cốt ở cái tinh thần, không phải ở hình thức: Điểm mấu chốt không nằm ở phong cách mà ở chính cái tinh thần của haiku. Vậy tinh thần haiku là gì? Quả thực, nhận định chính xác điều này cũng thật khó. Tuy nhiên, ta có thể nói rằng đó là một cảm thức mà thể thơ haiku có được từ khởi nguồn của nó, và các thi sỹ haiku có thể cảm nhận một cách vô thức. Sau tất cả, haiku có thể dung hòa cả tinh thần truyền thống lẫn cách tân.
Chú thích:
[1] Jack Kerouac, Book of Haikus (Penguin, 2003), tr. 4.
[2] Hosai Ozaki, “The Sky”, Japanese Poets Collection 30 (Shincho-sha, 1969), tr. 133.
[3] Ban’ya Natsuishi, World Haiku 10 (Shichigatsudo, 2014), tr. 40.
[4] Kakio Tomizawa, “Revelation”, The World of Modern Haiku Vol. 16 (Asahi, 1985), tr. 98. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.
[5] Shigenobu Takayanagi, “Collection of Mountains and Oceans”, Complete Works of Shigenobu Takayanagi Vol. 1 (Rippu Shobo, 1985), tr. 194. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura. dịch thuật haiku Nhật hiện đại haiku thế giới lý luận Toshio Kimura
27/6/2000
Toshio Kimura
Đinh Trần Phương dịch
Nguồn: World Haiku số 13 của WHA, 2017
Theo https://vanhocsaigon.com/

Viết xanh - Khủng hoảng sinh thái và trách nhiệm của văn chương

Viết xanh - Khủng hoảng sinh thái
và trách nhiệm của văn chương

Chính nhờ những đặc trưng, những biểu đạt sinh thái trong văn chương nên tác phẩm sinh thái không chỉ viết về môi trường sinh thái (MTST) mà rộng hơn là vấn đề phát triển hài hòa của con người trong sự thương thỏa với tự nhiên.
Vấn đề sinh thái phải trở thành nỗi khắc khoải sâu sắc
Văn học Việt Nam chưa hình thành chính thức một lực lượng “viết xanh” với tác giả và tác phẩm cụ thể, có tôn chỉ hay khuynh hướng rõ ràng. Kỳ thực, trong hầu hết các tác phẩm văn học, sinh thái vẫn được trưng dụng như là cảnh quan mật thiết cho việc triển khai cốt truyện, sự kiện, tư tưởng. Bối cảnh của tác phẩm dù là tự nhiên hay nhân tạo, dù rừng ruộng hay thị thành, dù phê phán hay quảng bá, ca tụng… đều ít nhiều thể hiện sự quan tâm của nhà văn đến MTST xung quanh. Và nếu như thế, không nhà văn nào có thể tách mình ra khỏi môi trường, cảnh quan được. Điều đó đồng nghĩa với khả năng to lớn của văn chương trong việc biểu đạt các bận tâm sinh thái.
Văn học sinh thái là cách định danh thời nay đối với những tác phẩm văn học ra đời trong bối cảnh MTST ngày càng xấu đi, nội dung của chúng thể hiện trách nhiệm xã hội của người viết đối với vấn nạn này. Như thế, nội hàm của khái niệm văn học sinh thái đặt ra hai đòi hỏi, cũng có thể xem là hai phạm trù căn bản của một tác phẩm văn học sinh thái. Một là, thể hiện được thực tại sinh thái; hai là, có ý thức tôn trọng sinh thái, lấy sinh thái làm trung tâm. Hai phạm trù này phải bao trùm được các vấn đề chủ yếu, có thể xem là đặc trưng của văn học sinh thái. Thứ nhất: Cảnh báo thực tại sinh thái; thứ hai: Phê phán thái độ, hành động hủy hoại MTST; thứ ba: Chấn chỉnh hay làm sáng tỏ các mơ hồ sinh thái trong cộng đồng (từ góc độ văn học, văn hóa); thứ tư: Khơi dậy, thúc đẩy, hiện thực hóa các vấn đề thuộc về nhận thức, đức tin, đạo đức hay hành động của con người.
Căn cứ vào những đặc trưng này, rõ ràng ở Việt Nam, các tác phẩm văn học sinh thái khá hiếm. Mặc dù vậy, ngầm ẩn hoặc ở các mức độ không hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về thể tài, vẫn có khá nhiều tác giả, tác phẩm liên quan mật thiết đến MTST. Theo đó, chúng ta có thể điểm ra ở đây, trên các thể loại: “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi, “Con voi ở công viên Thủ Lệ” của Ngô Văn Phú; “Cẩm cù” của Y Ban; “Thần thánh và bươm bướm” của Đỗ Minh Tuấn; “Kẻ ám sát cánh đồng”, “Châu thổ”, “Có một kẻ rời bỏ thành phố” của Nguyễn Quang Thiều; “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư; “Màu rừng ruộng” của Đỗ Tiến Thụy; “Họ vẫn chưa về” của Nguyễn Thế Hùng; “Mình ơi anh cưới dòng sông nhé”, “Linh điểu” của Nguyễn Văn Học…
Văn chương biểu đạt về thực trạng khủng hoảng MTST nảy sinh khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ cùng nền văn minh công nghiệp. Do vậy, không phải bất kỳ tác phẩm nào liên quan đến môi trường, cảnh quan đều là văn học sinh thái. Trong các “nghiên cứu xanh”, giới khoa học chỉ ra rằng, những tác phẩm phơi bày thực trạng môi trường bị hủy hoại; chất vấn trách nhiệm của con người; xem xét lại tư tưởng con người là trung tâm, dịch chuyển sang quan niệm sinh thái là trung tâm; kêu gọi trở về với thiên nhiên, tụng ca thiên nhiên… được xem là đặc trưng của văn học sinh thái (sáng tác và nghiên cứu). Như thế, tiêu chí để đánh giá một tác phẩm văn học sinh thái có giá trị bao hàm cả hai phương diện: Nghệ thuật văn chương và tinh thần sinh thái.
Có thể nhận thấy hầu như không có tác giả nào lên tiếng tuyên bố về con đường văn chương sinh thái của mình (gần đây nhà văn Nguyễn Văn Học mới có ý thức này một cách rõ nét hơn qua tác phẩm và một số phát biểu trên báo chí). Từ trong tư tưởng, tư duy nghệ thuật của các nhà văn, ý thức sinh thái vẫn chưa phải là thường trực. Họ cảm nhận được sự biến đổi của môi trường, nhận thấy những vấn đề sinh thái hiện diện trong chính đời sống xung quanh (thời tiết, dịch bệnh, cảnh quan biến đổi theo chiều hướng tiêu cực…) nhưng chưa thực sự trở thành nỗi khắc khoải sâu sắc. Chính trạng thái tinh thần đó mới tạo nên những diễn ngôn nghệ thuật về sinh thái có giá trị. Những mạch ngầm của tinh thần sinh thái dần được hé lộ khi các “nghiên cứu xanh”, phê bình sinh thái bắt đầu hiện diện trong đời sống văn học đương đại. Một số nghiên cứu của Trần Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Hoàng Tố Mai; các công trình dịch thuật, giới thiệu lý thuyết phê bình sinh thái của Đỗ Văn Hiểu, Trần Ngọc Hiếu, Đặng Thái Hà, hội thảo quốc tế “Phê bình sinh thái tiếng nói toàn cầu, tiếng nói bản địa” do Viện Văn học tổ chức… đem đến những hiểu biết căn bản hơn về văn học sinh thái và phê bình sinh thái, “nghiên cứu xanh”, “viết xanh” trong bối cảnh khủng hoảng môi trường toàn cầu.
Mặc dù, nhấn mạnh đến khía cạnh sinh thái, bao gồm việc phản ánh, cảnh báo, giải tỏa những mơ hồ sinh thái hoặc mở rộng vấn đề MTST nhân văn, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, văn minh và hoang dã, văn hóa và sinh học… nhưng các thực hành phê bình sinh thái vẫn chưa phản ánh hết các bình diện giá trị của một tác phẩm văn học sinh thái. Điều đó đặt ra thách thức nhưng cũng là cơ hội, tương lai của văn học sinh thái và phê bình sinh thái (bao gồm các biểu đạt sinh thái khác, từ văn chương đến nghệ thuật và kiến tạo thực tại sống…), bởi “viết xanh” trong khủng hoảng môi trường ngày càng trầm trọng có lẽ sẽ trở thành một câu chuyện lớn của văn chương thế giới.
Đề cao chất lượng, thoát khỏi “bẫy đề tài”
“Viết xanh” là khái niệm chỉ những diễn ngôn lấy sinh thái làm trung tâm (cả sáng tạo và nghiên cứu). Tuy nhiên, đứng trước các diễn ngôn về sinh thái, mối hoài nghi về thực tại được tạo dựng trong các diễn ngôn ấy lại nảy sinh. Tự nhiên trong tác phẩm văn học là thực tại được tạo dựng, được tưởng tượng ra hay là tự nhiên như nó vốn có? Sự thực, bất kỳ một diễn ngôn nào cũng là một tạo dựng đã làm cho tự nhiên không còn là chính nó nữa. Viết về tự nhiên là một hư cấu về tự nhiên. Giới khoa học đã tỉnh táo chỉ ra rằng: “Tự nhiên” thuộc về văn hóa. Trong những tạo dựng này, một vấn đề khá quan trọng, quyết định đến giá trị của tác phẩm văn học sinh thái chính là sự hiện diện của những mơ hồ sinh thái như nhà nghiên cứu văn học Mỹ Karen Thornber đã chỉ ra. Khái niệm “mơ hồ sinh thái” trong diễn giải của Karen Thornber là sự mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tại, giữa đức tin và hành động, mơ hồ trong cách con người diễn giải về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Trong một nghiên cứu công phu về văn học sinh thái, Karen Thornber cho rằng: “Điều quan trọng và thực sự cấp thiết là phải phân tích xem văn học, trong ý nghĩa là một dạng thức diễn ngôn đã có sự giải quyết như thế nào trước những nguyên nhân và hậu quả của quá trình phá hủy hệ sinh thái một cách thản nhiên”.
Sự giải quyết của văn học sinh thái không giống cách giải quyết của hệ thống hành chính công hay các hoạt động vì môi trường khác. Như đã nói, văn học sinh thái góp phần giải quyết vấn nạn này bằng sự tác động, chi phối, làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của con người đối với môi trường. Làm sáng rõ những mơ hồ sinh thái cũng là nhiệm vụ quan trọng của văn học sinh thái, tạo nên điểm nhìn về giá trị của dòng văn học này. Rõ ràng, với những tác phẩm như: “Đất rừng phương Nam”, “Cẩm cù”, “Thần thánh và bươm bướm”, “Kẻ ám sát cánh đồng”, “Có một kẻ rời bỏ thành phố”, “Linh điểu”… đã cho thấy giá trị của nó trong việc chất vấn, xem xét hay đề đạt với cộng đồng những ứng xử, hành động thỏa đáng với tự nhiên. Một điểm khá quan trọng ở đây chính là thái độ và nhận thức trong việc dịch chuyển từ cái nhìn lấy con người làm trung tâm sang lấy tự nhiên làm trung tâm.
Tuy nhiên, không phải sự chuyển dịch có tính cực đoan mà xem xét con người như là một thành tố của sinh thái, tìm kiếm sự thương thỏa giữa con người và tự nhiên trong các sáng tạo văn chương. Mặt khác, cũng cần ý thức rằng, đôi khi, một tác phẩm văn chương miêu tả hoàn toàn đời sống của con người cũng có thể là một chỉ dấu cho những suy tư, kiếm tìm về sinh thái. Một tác phẩm hoàn toàn viết về đô thị cũng ngầm ẩn về một thực tại tự nhiên nào đó đã biến mất. Bởi, chính con người đã làm biến đổi sinh thái-không ai ngoài con người và đô thị là một tạo dựng có tính xâm lấn mãnh liệt đến cảnh quan tự nhiên. Từ những đặc trưng của văn học sinh thái, có thể hình dung về chiến lược của dòng văn học này trong việc hướng đến tương lai của môi trường sống (bao gồm cả con người và tự nhiên). Nếu nhìn vào các tác phẩm tạm gọi là có hơi hướng, yếu tố sinh thái trong văn chương Việt Nam đương đại, chúng ta nhận thấy căn bản vẫn là những cảnh báo, phản ánh tình trạng môi trường bị hủy hoại hay những mơ hồ về sinh thái của con người. Khi giới nghiên cứu đặt ra “cái nhìn xanh” vào các diễn ngôn văn chương nghệ thuật, người viết gợi lên khía cạnh hài hòa trong sinh tồn giữa con người với tự nhiên. Trong sự giao tranh giữa con người và tự nhiên, văn học sinh thái nhìn thấy nguy cơ “không phải là sự mất đi cái tự nhiên hoang dã đã phủ hào quang trong tưởng tượng, mà đáng kể hơn nữa chính là sự mất mát sự sống thực sự của con người và cả những yếu tố tự nhiên” (Karen Thornber). Bởi vậy, văn học sinh thái với tinh thần “viết xanh”, “nghiên cứu xanh” đã thâm nhập đến vấn đề tồn tại của sinh thái toàn cầu, trong đó tự nhiên như là cảnh quan chung mà con người là một thành tố trong cấu trúc sinh thái của Trái đất.
Nếu nhìn vào diện mạo của văn học sinh thái thế giới và Việt Nam, có thể dự báo văn học Việt Nam sẽ dần tiếp nhận những vận động để thích ứng, đặc biệt là lên tiếng kịp thời trước các biến đổi nghiêm trọng của môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, trong quá trình sáng tạo văn chương, những vấn đề về tính hình thức, tính nghệ thuật của tác phẩm văn học cũng cần được coi trọng, nâng tầm điêu luyện, tránh “bẫy đề tài” biến tác phẩm trở thành sản phẩm minh họa đơn giản cho vấn đề sinh thái. Hy vọng văn học sinh thái sẽ sớm xác lập vị trí bằng những tác phẩm chất lượng trong văn chương Việt Nam. Sự thực là, từ bản địa tới toàn cầu, trong nguy cơ khủng hoảng môi trường, văn chương nghệ thuật và các biểu đạt lấy tự nhiên làm trung tâm sẽ tìm được tiếng nói chung.
1/7/2000
Nguyễn Thanh Tâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Saint-Exupéry - Vòm trời xanh vô tận

Saint-Exupéry
Vòm trời xanh vô tận

Nhân kỷ niệm 120 năm sinh của Saint-Exupéry (1900-2020), VHSG xin trân trọng giới thiệu lại bài viết của nhà phê bình Huỳnh Như Phương vào dịp kỷ niệm 100 năm sinh của thiên tài văn học Pháp mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị…
Vùng trời nào đó anh đã bay qua
Chỉ còn lại đây những sáng bao la
Người tình rồi quên
Bạn bè rồi xa
Ôi tháng năm
Những dấu chân người cũng bụi mờ.
(Trịnh Công Sơn)
Vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Saint-Exupéry (1900-1944), trên khắp nước Pháp, tên tuổi và sự nghiệp nhà văn lại được nhắc nhở. Người dân Pháp cảm thấy quý hơn tờ giấy bạc 50 quan màu xanh in hình chiếc máy bay Breguet 14 bên cạnh khuôn mặt ngây thơ của chú bé thiên thần và chân dung nghiêm nghị của người khai sinh ra chú. Những con tem và bưu thiếp được tạo hình từ những bức tranh bằng màu nước trong tác phẩm Hoàng tử bé lại được bày bán và thu hút đông đảo người mua.
Lễ hội kỷ niệm chính thức được tổ chức tại Lyon, quê hương Saint- Exupéry, từ ngày 17-6-2000 và kết thúc vào ngày 2-7-2000 với cuộc mít-tinh lớn của ngành hàng không ở Bourg-en-Bresse. Nhân dịp này, phi trường Lyon được đổi tên thành phi trường Lyon – Saint-Exupéry.
Khai phá những đường bay mới
Antoine Marie Roger de Saint-Exupéry sinh ở Lyon ngày 29-6-1900 trong một gia đình quý tộc lâu đời. Mồ côi cha từ năm bốn tuổi, sống với người cô ở Saint-Maurice de Rémens, Antoine là một học sinh chăm chỉ, tỏ ra có năng khiếu văn chương, hội hoạ và cơ khí. Năm 21 tuổi, Antoine lên đường làm nghĩa vụ quân sự, phục vụ trong ngành không quân ở Strasbourg.
Đường đời và nghề nghiệp của ông được vạch ra từ đó. Lúc đầu ông được bổ nhiệm về Rabat, rồi chuyển qua đơn vị máy bay khu trục số 33 ở Le Bourget. Dù bị một tai nạn khá nặng, ông vẫn tiếp tục rèn luyện để hoàn thiện tay nghề phi công của mình. Mãn hạn nghĩa vụ quân sự, năm 1923 ông trở về Paris. Tháng 9-1926, ông gia nhập Công ty Latécoère, chuyên vận chuyển thư tín bằng đường hàng không từ Toulouse tới Dakar.
Năm 1929, Hãng Latécoère muốn khuếch trương hoạt động nên đã cử Saint- Exupéry đi Nam Mỹ để nghiên cứu mở thêm các đường bay mới. Nhưng rồi cuối cùng Latécoère gặp khó khăn đến mức phải tuyên bố phá sản. Sau những tháng ngày vất vả, Saint- Exupéry xin được việc làm tại hãng Air France. Tháng 12-1935, ông thử tìm cách phá kỷ lục đường bay Paris – Saigon mà Japy đã lập trước đó, nhưng giữa đường phải đáp khẩn cấp xuống sa mạc cách Cairo 200 km. Đây là tai nạn máy bay thứ tư mà ông gặp phải. Trong Cõi người ta, ông đã kể lại chuyến du hành này: ông và người thợ máy André Prévot bị lạc phải đi bộ năm ngày trên cát nóng, suýt chết vì đói khát và kiệt sức. Trong tình cảnh đó, ông viết, họ nhìn thấy một “sinh vật” hiện ra với tư cách Con-Người viết hoa, đó là một người Ả Rập du cư đã đến cứu họ.
Khi cuộc nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ, Saint- Exupéry tình nguyện đến Madrid và Carabacel làm phóng sự cho hai tờ báo L’Intransigeant và France-Soir. Trở lại nghề phi công năm 1938, ông thai nghén một dự án nối liền đường bay New York – Terre de Feu (Vùng đất lửa), một quần đảo ở Nam Mỹ, gần Chile và Argentina. Thêm một tai nạn máy bay khiến ông bị thương nặng phải dưỡng bệnh nhiều tháng ở New York. Ít lâu sau ông lại bị động viên trở thành phi công quân sự. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ông phục vụ trong hàng ngũ những người yêu nước đang tìm cách giải phóng nước Pháp khỏi ách chiếm đóng của phát xít Đức.
Trong một chuyến bay trinh sát trên vùng trời Grenoble – Annecy vào ngày 31-7-1944, cất cánh từ sân bay Borge trên đảo Corse lúc 8g30, lẽ ra Thiếu tá Saint-Exupéry phải trở về vào lúc 12g30, nhưng đến quá trưa thì đài rađa ở Corse không còn liên lạc với ông được nữa. Máy bay ông chỉ còn xăng đủ cho một giờ bay. Và ông đã bay vào khoảng không gian vĩnh cửu của mình. Chiếc máy bay Lightning P.38 mà ông điều khiển đã rơi xuống vùng biển Địa Trung Hải chỉ hai tháng trước khi Paris được giải phóng.
Bầu trời và những con người trên mặt đất
Năm 1925, Saint- Exupéry đưa cho nhà văn Jean Prévost truyện ngắn Cuộc vượt ngục của Jacques Bernis, viết về thế giới của những người lính không quân, mà ông vừa sáng tác. Truyện ngắn này ngay sau đó được công bố trên tạp chí La Navire d’Argent với lời nhận xét của Jean Prévost: “Với một người mới khởi đầu nghề văn như Saint-Exupéry, sức mạnh nghệ thuật và chân lý đời sống trong tác phẩm quả đã làm tôi kinh ngạc”.
Trong thời gian công tác ở miền Tây Sahara, Saint-Exupéry viết cuốn sách đầu tiên của đời mình: Chuyến thư miền Nam (Courrier Sud), xuất bản năm 1929. Nhà văn miêu tả đường bay trên sa mạc Sahara: máy bay phải vượt qua 2.000 km, bị thiêu đốt bởi những cơn gió nóng, có khi buộc phải bay xuống sát mặt đất bỏng lửa và có thể bị những tay súng của các bộ lạc bắn trúng. Đối với những người phi công trên tuyến bay này, sống là đối diện với cái chết, là tự mình dấn thân vào một cuộc hành trình để tìm kiếm những khoảng không gian mới xa hơn và cao hơn.
Hai năm sau, cuốn tiểu thuyết Bay đêm (Vol de nuit, 1931) được xuất bản ở Paris với lời đề tựa của André Gide. Là giám đốc cơ quan hàng không thư tín ở Argentina từ năm 1929, Saint-Exupéry đã tái hiện cuộc sống của một đội bay với người chỉ huy tên là Rivière, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Qua ngòi bút của nhà văn, Rivière muốn chứng minh với mọi người rằng máy bay là phương tiện vận tải thư tín nhanh nhất thời đó, với điều kiện các phi công phải thực hiện những chuyến bay đêm, dù điều này lúc bấy giờ cực kỳ nguy hiểm. Rivière huấn luyện cho thuộc cấp của mình không biết sợ cái chết, chấp nhận những rủi ro của nghề nghiệp mà họ đã chọn lựa, và trung thành với sứ mệnh được giao phó. Họ phải hành động để làm rạng danh một điều gì đó còn cao hơn cả mạng sống con người. Đối với họ, thư tín là thiêng liêng, cần phải đến tay người nhận hằng ngày và đúng giờ đã định. Đó là trách nhiệm và cũng là lẽ sống của Rivière và đồng đội. Mặc dù chịu một tổn thất nghiêm trọng là cả một phi hành đoàn đã hy sinh, Rivière vẫn tiếp tục ra lệnh xuất phát để sự nghiệp những chuyến bay đêm không bị gián đoạn một ngày nào.
Tám năm sau khi cuốn Bay đêm được giải thưởng Fémina, Saint-Exupéry đạt đến đỉnh cao danh vọng với việc Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng lớn về tiểu thuyết năm 1939 cho cuốn Terre des hommes. Bạn đọc Việt Nam đã quen thuộc với tác phẩm này qua các bản dịch khác nhau: Giá trị con người (Bùi Xuân Bào và Hồ Sĩ Khuê), Cõi người ta (Bùi Giáng), Quê xứ con người (Nguyễn Thành Long). Cuốn sách này được thể hiện dưới hình thức những thiên ký sự đan kết với những trầm tư mang ý nghĩa triết lý và đạo đức.
Đối với người phi công đi khai phá vùng trời trong những chuyến bay cô đơn, mỗi rặng núi, mỗi thung lũng, mỗi ngôi nhà với ánh đèn đỏ lửa đều là bạn đồng hành. Người phi công tự hào về trách nhiệm vận chuyển thư tín bởi vì trong những thời điểm nhất định, thư tín đã trở thành trung tâm các mối quan hệ của con người.
Theo Saint-Exupéry, máy bay không chỉ là một công cụ sử dụng như nông dân sử dụng cái cày, nó còn là một phương tiện tư duy và phân tích để đi sâu vào thế giới của con người. Thật tuyệt vời là nhờ máy bay mà người ta khám phá kỹ hơn về Trái đất và hiểu được rằng Trái đất là nơi cư trú đích thực của chính mình.
Trong chương cuối của cuốn sách, Saint-Exupéry đã trình bày những nguyên tắc luân lý làm nền tảng cho chủ nghĩa nhân văn của ông. Theo ông, chân lý duy nhất mà tinh thần phải thừa nhận là chân lý mà con người mang trong lòng nó. Chân lý ấy tự khẳng định và thể hiện thông qua hành động của những cá nhân biết liên kết lại vì một khát vọng, một niềm tin, nghĩa là một cái gì cao hơn chính họ : « Chúng tôi liên kết với những người anh em của mình vì một mục đích chung ở ngoài chúng tôi, và nhờ đó chúng tôi mới sống được. Kinh nghiệm dạy cho chúng tôi rằng thương yêu nhau không phải là người này ngồi nhìn người kia mà là cùng nhìn về một hướng”.
Cõi người ta là một tác phẩm mà bút pháp thuộc về một nhà thơ, một áng văn xuôi mang nhiệt hứng tư tưởng và vẻ đẹp cổ điển. “Đó là một trong những tác phẩm tuyệt diệu nhất đã xuất hiện đúng lúc để soi sáng ý nghĩa của thân phận con người trong thế giới hiện đại”, như Viện Hàn lâm Pháp đã đánh giá.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, ngòi bút Saint-Exupéry lại càng có điều kiện tiếp tục ngợi ca những phẩm chất tuyệt vời của người phi công là chủ nghĩa anh hùng và tinh thần đoàn kết. Trong cuốn Phi công thời chiến (Pilote de guerre, 1942), xen lẫn với những đoạn độc thoại nội tâm là những trang văn xuôi tư liệu miêu tả các tình huống gần như tuyệt vọng mà người phi công rơi vào. Theo tác giả kể, năm 1940, trong một mệnh lệnh vội vã và thiếu sáng suốt, cấp chỉ huy đã giao cho ông một nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm. Ông bay bên trên cánh đồng đầy những người dân thảm thương và hoảng loạn đang trốn chạy chiến tranh, bỏ lại đằng sau những làng mạc hoang vắng. Tất cả những chiếc đồng hồ chết máy ở các giáo đường, nhà ga và các căn nhà trống trải như là biểu tượng của một thời gian và không gian ngưng đọng. Trong tình huống khủng khiếp đó, trong tiếng ồn của động cơ, trong cái giá lạnh làm đông cứng cả máy móc lẫn cơ thể con người, người phi công thả mình theo dòng kỷ niệm để tìm lại thời thơ ấu và trốn vào đó mà quên đi giờ phút hiện tại. Chiếc máy bay dường như đứng im, nó trôi theo sự chuyển động của trái đất. Ngay lúc đó, bỗng nhiên xuất hiện những chiếc máy bay khu trục của Đức đuổi theo. Người phi công giật mình quay về với thực tại, chỉ một phút xao lãng hay chậm trễ thôi là anh không còn cơ hội sống sót.
Bốn năm sau khi Saint-Exupéry hy sinh, Thành trì (Citadelle, 1948) – tác phẩm dài hơi nhất của ông – mới được xuất bản. Cuốn di cảo này tập hợp những ghi chép được tìm thấy trong những trang giấy tờ ông để lại, qua đó người đọc có thể tiếp cận những kinh nghiệm mà nhà văn đã tích luỹ được trên đường đời. Có cảm giác tác phẩm còn dang dở này đã được viết như một thứ nhật ký riêng tư nhằm tổng kết đời mình, trong đó tác giả bộc lộ những ý tưởng liên quan đến những vấn đề đạo đức thường xuyên ám ảnh ông: mối quan hệ của con người với tha nhân, với xã hội, với chính mình và với Thượng đế.
Cùng với Albert Camus và Michel Tournier, Saint-Exupéry là một trong ba tác gia hiện đại được đọc nhiều nhất trong nhà trường phổ thông Pháp hiện nay. Các nhà nghiên cứu văn học Pháp đều nhất trí thừa nhận Saint-Exupéry là một trong những gương mặt đẹp nhất mà nước Pháp có được từ đầu thế kỷ XX đến nay. Và nói theo A. Maurois, ông “đã truyền tất cả tình yêu và lòng kính trọng của mình đến cho con người”.
Tình yêu như một ân sủng
Trong năm kỷ niệm này, bên cạnh những tác phẩm và Sổ tay (Carnets) của Saint-Exupéry được tái bản với số lượng lớn, nhiều cuốn sách liên quan đến cuộc đời ông cũng được cho ra mắt. Đáng chú ý nhất là việc Nhà xuất bản Plon vừa ấn hành cuốn Hồi ký hoa hồng (Mémoires de la rose) của Consuelo de Saint-Exupéry, vợ của nhà văn.
Trong tiểu sử của Saint- Exupéry, người ta chỉ biết rằng năm 1931 ông kết hôn với một người đàn bà goá chồng tên Consuelo Suncin và người này đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc đời ông, góp phần xây dựng nên sự nghiệp văn chương của ông. Từ khi nhà văn mất tích, Consuelo giữ kín tất cả bí mật về mối quan hệ tình cảm của hai người cho đến khi bà từ trần vào năm 1979.
Mới đây, nhà văn Alain Vircondelet, người từng viết một cuốn tiểu sử của Saint-Exupéry, quyết định thực hiện một album ảnh và tài liệu về nhà văn. Ông đã kiên trì thuyết phục những người thừa kế của Consuelo để được phép mở ra những cái rương sắt mà bà mang đi khỏi New York sau khi chồng mất. Dưới một đáy rương, bên cạnh những tấm thẻ bay, chiếc áo gilet bảo hiểm của Saint- Exupéry và hàng trăm tấm ảnh là một cuốn tập 400 trang đánh máy trên giấy pelure. Đó là cuốn Hồi ký hoa hồng do chính Consuelo viết bằng tiếng Pháp[i].
Consuelo sinh ở San Salvador, nơi vùng đất nằm dưới chân một ngọn núi lửa, thời trẻ là một người có tính khí ngông cuồng và sôi sục đam mê. Trước khi gặp Saint-Exupéry, bà đã có hai đời chồng. Bà làm quen với ông trong dịp sang Argentina dự hội thảo tưởng niệm người chồng mới mất – một nhà văn, nhà báo và nhà ngoại giao người Guatemala, người đã để lại cho bà một tài sản lớn. Ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên ở phi trường, Saint-Exupéry đã mời bà lên buồng lái máy bay của mình để ngắm những đám mây và mặt trời đang lặn. Khi máy bay cất cánh, ông nắm lấy bàn tay Consuelo và bảo: “Em ôm hôn tôi đi nhé!”. Ông còn nói thêm: “Nếu em không hôn tôi thì tôi sẽ đâm máy bay xuống biển và chúng ta sẽ tan xác”. Consuelo run lên vì giận dữ: “Chồng tôi vừa mất, cái lối tỏ tình đó không ăn thua gì với tôi đâu!”. Lúc đó bỗng nhiên Antoine bật khóc: “Chẳng qua vì em thấy tôi xấu xí quá chứ gì!”, đoạn ông đưa tay tắt máy. Consuelo hoảng hốt, đã để mặc cho ông hôn (!). Tất cả hành khách ở phía sau không hề biết rằng chiếc máy bay đã chấn động vì một tình yêu sét đánh (!!!).
Mấy ngày sau Consuelo nhận được một lá thư dài 40 trang của chàng phi công si tình. Lòng bà rung động. Bà biết rằng từ đây cuộc đời mình đã thuộc về ông. Đôi tình nhân sống trong một căn nhà nhỏ ở ngoại thành Buenos-Aires. Consuelo nhốt Saint-Exupéry trong một căn phòng để ông viết cho xong cuốn Bay đêm. Chính bà đã đặt tên cho cuốn sách này. Bà ra một quy định: ông chỉ được phép vào phòng ngủ nếu mỗi ngày viết được ít nhất từ 5-6 trang bản thảo. Ông chấp nhận trò chơi này. Ông yêu bà như điên cuồng. Nhưng đó là một cuộc tình đầy sóng gió.
Ngày 23-4-1931, Antoine và Consuelo tổ chức đám cưới. Cô dâu mặc đồ đen. Sau ngày cưới, đôi vợ chồng trẻ lại chơi trò cút bắt trong tình yêu. Họ giận hờn nhau, lừa dối nhau, ly thân để rồi lại làm lành và say đắm nhau hơn. Một lần vào năm 1938, quá buồn chán vì Antoine vắng nhà luôn, Consuelo quyết định xuống tàu ở Le Havre để về Guatemala. Giữa biển khơi, bà nhận được điện tín: “Máy bay bị nạn ở Guatemala. Saint-Exupéry đang hấp hối”. Bà tức tốc đến bệnh viện và không thể nhận ra chồng nữa: ông bị 32 vết thương làm gãy xương và khuôn mặt bị biến dạng. Bà chăm sóc ông ngày đêm, bón cho ông ăn như một đứa bé. Khi vừa bình phục, ông lại từ giã bà để sang dưỡng bệnh ở New York. Từ nơi đó ông viết thư cầu xin bà trở về Paris sum họp. Nhưng lúc này Consuelo đã quá mệt mỏi, bà không còn chịu đựng nổi những ngày dài lo âu và thắc thỏm vì chờ đợi Antoine. Bà chuyển đến sống trong một khu nhà của các nghệ sĩ ở Oppède để dồn tâm sức cho hội hoạ và điêu khắc, những bộ môn nghệ thuật mà bà yêu thích. Về sau này, những kỷ niệm trong tình yêu của Saint-Exupéry đã gợi cảm hứng cho bà sáng tác những bức tranh và bức tượng đẹp về ông.
Năm 1943, Antoine khẩn khoản yêu cầu Consuelo đến New York gặp ông để làm thủ tục ly dị. Rồi chính Antoine lại cầu xin bà tha thứ. Lần tái hợp này, hai người sống thật hạnh phúc trong một ngôi nhà ở vùng nông thôn North Port gần New York. Ở đó họ cho ra đời đứa con duy nhất của mình: Hoàng tử bé. Chú bé sau này sẽ đặt chân trên khắp trái đất, kể cả những nơi mà người cha lãng du của chú chưa đến được. Chú cũng đã đến Việt Nam theo nhịp cầu của những Bùi Giáng, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Thành Long. Saint-Exupéry đã sáng tạo hình tượng chú bé hoàng tử với một nghệ thuật tuyệt diệu. Ông đưa cho Consuelo xem những trang bản thảo kèm theo những bức tranh minh hoạ độc đáo bằng màu nước. Chính bà là nguồn cảm hứng cho ông xây dựng hình tượng đoá hoa hồng trong tác phẩm. Bạn đọc hẳn còn nhớ khi hoàng tử bé hiểu vì sao con cáo cầu xin được thuần hoá thì đồng thời chú cũng nhận ra mình đã được thuần hoá bởi đoá hồng kia. Cuốn sách của Consuelo được đặt tên Hồi ký hoa hồng là vì thế.
Họ chia tay nhau ngày 20-4-1943. Những xấp thư từ vừa mới phát hiện sau bao năm bị giấu kín trong các rương sắt của Consuelo xác nhận rằng hai người vẫn thường xuyên liên lạc với nhau. Một vài ngày trước khi mất tích, Antoine còn viết cho vợ: “Consuelo, anh không thể sống mà thiếu những lá thư của em. Anh cần những lá thư đó như cần bánh mì mỗi ngày”. Lá thư này Consuelo chỉ nhận được hai tuần sau khi Antoine hy sinh.
Cũng như mọi lần xuất phát, trong chuyến bay định mệnh ông đã đeo trước ngực mình – như một lá bùa hộ mệnh – tấm ảnh chụp Consuelo đang say ngủ. Mặt sau tấm ảnh có dòng chữ của Consuelo: “Đừng bỏ em và hãy giữ mình. Sớm về với em”. Ở cổ tay ông đeo chiếc vòng bạc mà giám đốc một nhà xuất bản ở Mỹ đã tặng ông nhân dịp phát hành cuốn Hoàng tử bé, trên có khắc tên Consuelo. 54 năm sau ngày ông mất tích, vào ngày 7-9-1998, một ngư dân ở vùng biển Marseille đã vớt được chiếc vòng bạc ấy trong một mẻ lưới của mình [ii].
(Tổng thuật từ các báo Paris Match ngày 20-4-2000,
Le Figaro Magazine ngày 21-4-2000 và những sách viết về Saint-Exupéry).
Chú thích:
[i] Sau khi Hồi ký hoa hồng được phát hành trong tháng 6-2000, trên hai tờ báo La Liberté (Thụy Sĩ) và Le Figaro (Pháp) đã có ý kiến cho rằng người chấp bút viết hồi ký này là nhà văn Thụy Sĩ Denis de Rougemont, một người bạn của Saint-Exupéry, về sau trở thành tình nhân của Consuelo khi Saint-Exupéry đã mất tích. Tuy nhiên nhà xuất bản Plon và những người thừa kế của Consuelo vẫn khẳng định rằng chính Consuelo đã viết nên hồi ký này, còn Denis de Rougemont chỉ là người góp ý, giúp đỡ sửa chữa văn bản mà thôi. Đến nay cuốn hồi ký đã bán được hơn 80.000 bản và nhiều nhà xuất bản nước ngoài đang chuẩn bị in những bản dịch bằng các thứ tiếng khác nhau (Chú thích tháng 6-2000).
[ii] Mãi đến năm 2008, một cựu phi công người Đức tên Horst Rippert mới thú nhận chính mình đã bắn hạ Saint-Exupéry trên vùng trời Địa Trung Hải. Điều oái oăm là hồi còn trẻ, Rippert từng rất ngưỡng mộ những tác phẩm của Saint-Exupéry và chính những tác phẩm đó đã góp phần đưa ông ta đến với nghề phi công (Chú thích bổ sung tháng 3-2008).
1/6/2000
Huỳnh Như Phương
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bức tranh Thơ 1-2-3 mới mẻ và đầy cảm xúc

Bức tranh Thơ 1-2-3
mới mẻ và đầy cảm xúc

Bản ngã của nhà thơ luôn là sự khám phá, tìm tòi. Và chắc chắn rằng sự tìm tòi không chỉ là vấn đề ngôn ngữ thể hiện mà còn ở cách thức mới trong thể hiện. Một trái tim phải luôn nằm trong ngực áo. Ở đây người viết bài này muốn nói đến một thể thức thơ mới do nhà thơ Phan Hoàng lĩnh ấn tiên phong sau nhiều năm trăn trở khám phá. Duyên ngộ ở đây là đã bắt gặp được đông đảo những tâm hồn yêu thơ khắp trong lẫn ngoài nước đồng cảm, chia sẻ, thể nghiệm.
Thơ là thể loại “ý tại ngôn ngoại”. Việc kiệm lời, kiệm chữ là một yêu cầu tối quan trọng đối với nhà thơ. “Thơ cốt ở ý, ý cốt sâu sa thì thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì phải nói ra bằng lời thì mới là thơ có giá trị. Ý hết mà lời dừng là cái lời hết mực song lời dừng mà ý chưa hết thì lại càng hay tuyệt” (Hải Thượng Lãn Ông). Bởi vậy, theo tôi việc thể thức thơ 1-2-3 gói gọn trong 6 câu và những quy định, chứ không phải là niêm luật khá giản đơn mà người khởi xướng đề ra là rất phù hợp với xu hướng thơ hiện đại cũng như triết lý thơ cổ nhân để lại. Mỗi chữ trong thơ đều là sự vang vọng từ tâm hồn thi nhân.
Cụ thể, “mỗi bài thơ gồm 3 đoạn, 6 câu. Đoạn 1 chỉ 1 câu gồm tối đa 11 chữ, đồng thời cũng là tên bài thơ nhằm tránh sự dễ dãi trùng lắp tên bài thơ của người đi trước dẫn tới đạo văn. Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 chữ. Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 chữ. Nghĩa là, Thơ 1-2-3 tương ứng tối đa 11-12-13 chữ trên mỗi câu của mỗi đoạn, với nội dung đi từ hướng ngoại dần vào hướng nội”.
Diễn đàn thơ 1-2-3 trên trang Văn Học Sài Gòn còn khá mới mẻ, song bạn đọc vào đây có thể đã nhìn ra một khoảng trời riêng đầy nắng gió, tiếng cây lá rào rạt của một vùng bách thảo, kỳ hương.
Tham gia cộng tác thơ 1-2-3, thật sự tôi bất ngờ về câu chuyện cảm động và cũng khá lạ, khi đọc những dòng tâm sự của nhà giáo Trần Quang Vinh có bút danh Trần Vinh là cha đẻ của nhà thơ quá cố Hoa Níp – Trần Quang Minh Giảng. Và rồi Trần Vinh trở thành chiếc cầu nối ghi lại những dòng thơ như là của con trai để tham gia thơ 1-2-3. Anh đã đặt ra câu hỏi và trả lời. “Vì sao Thơ 1-2-3 lại được đông đảo người yêu thơ hướng ứng? Theo tôi thì có nhiều lí do nhưng trước hết đây là sự hấp dẫn trước một lối đi chung mới mở giữa thơ truyền thống với thơ đương đại được nén trong giới hạn 1-2-3 để tạo ra sức bật, mở cảm xúc không giới hạn…” Tin chắc sẽ nhiều người đồng tình với suy nghĩ này.
Với bản thân tôi đến với thơ 1-2-3 cũng chợt nhận ra điều thú vị, cứ như một thử thách chính mình. Phải làm thế nào sử dụng lượng từ trong giới hạn nhưng phải chuyển tải được những suy ngẫm, tình cảm bản thân muốn thể hiện, gửi gắm. Tôi tìm đọc những bài thơ 1-2-3 của người mở đường là nhà thơ Phan Hoàng. Những bài thơ 1-2-3 anh viết từ nước Nga xa xôi. Những câu chữ thật sự cô đọng nhưng sao anh dùng lại ấn tượng vậy. Chỉ một lần đọc nhưng những câu thơ lại cứ vang vang trong đầu.“Hải âu độc thoại gì bên vịnh Phần Lan?/ Đâu đây tiếng chạm vodka lần đầu Puskin – Gogol hội ngộ…/ Đêm đêm Pushkin vẫn nắm tay Natalia đi về Arbat phố cổ / tình yêu mãnh liệt thi sĩ thời nào cũng ngờ nghệch bão giông” và nhiều câu khác nữa.
Với bài “Dostoevsky chẳng quan tâm tượng mình đứng hay ngồi”, nhà thơ Phan Hoàng đã lợp viên ngói cuối cùng của ngôi nhà ấy là “trĩu nặng ưu tư trang văn sáng soi chín cõi vô thường”. Trong giá rét nơi đây anh vẫn cảm được “Trái tim thơ Olga Berggolts tỏa ấm nghĩa trang”. Bởi vì “không ai bị lãng quên, không điều gì bị quên lãng”. Bởi vì “mỗi số phận chứa một phần lịch sử”…
Thật vui mới đây tôi đã đọc được một bài viết của nhà văn Cao Chiến nhan đề “Thơ 1-2-3 & sự cộng hưởng” mới hiểu thêm, khởi nguồn thể thơ mới, cứ tạm gọi là thơ 1-2-3, do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng anh đã phải “nung nấu trong một thời gian đủ dài cho đến chuyến xuất ngoại thăm nước Nga, cùng với một số văn nghệ sỹ trong Liên hiệp các Hội VHNT TPHCM, mùa thu 2018 thì bùng nổ. Phải chăng hồn vía nước Nga với những tên tuổi vĩ đại Pushkin, Lev Tolstoy, Gogol, Lermontov, Olga Berggolts, Dostoevsky, Paustovsky, Sergei Yesenin… đã chắp cánh cho ước mơ Thơ 1-2-3 của Phan Hoàng thành hiện thực.”
Xin được giới thiệu lại hai bài thơ tôi rất thích của nhà thơ Phan Hoàng đăng trên Báo Văn Nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam để bạn đọc cùng thưởng lãm.
Dưới ánh trăng Sergei Yesenin bỗng hiện về
Lãng tử trên lưng ngựa lướt qua cánh đồng lúa mì
lững thững rừng phong lá rơi vàng bước chân ngôn ngữ
Với thi nhân khổ đau và cái chết không có điều gì mới
sợ đôi mắt người đẹp buồn hơn, mẹ già khuya sớm cút côi
dưới ánh trăng linh cảm tài hoa bão tuyết xoáy lòng tôi
Giữa bình minh mưa rực sáng bông hồng vàng
Bông hồng Paustovsky nở từ cuộc sống cô đơn sáng tạo
cái đẹp và sự tự do kết tinh từng hạt bụi vàng
Tiếc thương Pasternak và những ngôi sao chói rạng bốn phương
Paustovsky thảng thốt trước bóng tối uy quyền lãng quên báu vật
ánh sáng bông hồng vàng hướng tôi về Tâm hồn Nga – Tarusa.
Tôi đã học làm thơ 1-2-3 và tham gia trang Văn Học Sài Gòn. Ở đó tôi đã bắt gặp nhiều tâm hồn đồng cảm, trân quý nhiều cảm xúc của các bạn thơ được chuyển tải qua một hình thức thơ rất mới mẻ này. Một Đặng Tường Vy, người con gái xinh đẹp đang ở cách nước Việt rất xa nhưng lại rất gần bởi trong mình đang chảy dòng máu của loài chim di trú. Tổ quốc vẫn là người mẹ hiền thiết tha nhất. “Lưu vong đất, biệt tăm nhà, khát sợi nắng thềm Noisy Champs/ Ánh mắt con thơ khóa chặt ngôn ngữ tình đất vuông tròn…”. Với Trần Thị Hồng Anh là “lúng liếng nụ cười ngày hò hẹn… khi một thoáng em về bay bổng giấc mơ khuya”. Với Phan Phương Loan, chị đã thấy“đôi mắt Juliet thăm thẳm mặt hồ loang loáng bóng Romeo…/ Viên thuốc đắng trắng toang miền ngọt ngào kỉ niệm”. Một Trần Nguyệt Ánh không chỉ say giấc mơ miền cổ tích mà còn “Em độc hành hun hút phía không anh”, khi “Mũi tên thấm ngọt đau thương tình mình chết yểu.” Một Đặng Văn Thắng “Là muối mặn, lắng từ muôn nghìn ngọn sóng/ Là gừng cay, chắt từ đất chát bạc màu”. Một Đoàn Thị Diễm Thuyên khi em bắt đầu biết sợ nỗi cô đơn. Một Bình Địa Mộc độc, lạ, liên hoàn với những cú đúp đèn flash “ảnh thơ” và những cú ghi hình thơ ngoạn mục. “Trên mái bằng bê tông ánh trăng nằm sóng soài/ Ngọn đèn đường nhón gót. Ánh sáng quét nguồn gốc xuất xứ/ Bầy phù dung đưa tang. Băng qua lớp sương mù trắng toát/ Bước chân khuya khụy xuống đường trần…”
Có thể nói những tác giải tham gia thơ 1-2-3 trên trang Văn Học Sài Gòn đều có những câu thơ, bài thơ rất hay, được dồn nén, có sức gợi đến vô cùng tận những mạch nguồn, tình cảm người đọc không thể dẫn hết trong một bài cảm nhận của bản thân.
Tôi tin nếu không có hình thức thể nghiệm mới này, chưa chắc mỗi một tác giả tham gia vào khoảng trời thơ 1-2-3 bật ra những lời thơ hay vậy. Một con đường mới mở, một con đường có thể chở nắng mưa thì tin chắn nó sẽ dự phần vào những vui buồn số phận. Lại nhớ“Những câu văn cha viết chẳng thành thơ/ Chỉ chất chứa trong cha rằng nhớ mẹ” của Vũ Thanh Thủy. Một Lê Đỗ Lan Anh khi một bài thơ cô đơn, khi nàng biến thành hòn đá, khi mặt trời đi qua nỗi đau, khi giọt nước mắt bạc đầu… và tôi nghĩ đó cũng là khi thơ 1-2-3 bắt đầu lên tiếng.
Sau tặng thưởng thơ 1-2-3 tháng 5.2020, liên tiếp mới đây tôi đã đọc gần tất cả các bài thơ 1-2-3 đăng trên Văn Học Sài Gòn, đó là những cái tên: Đỗ Thu Hằng với“Đặt mật khẩu cho quá khứ”, Nguyễn Đinh Văn Hiếu với“Mình xa lạ ta trong mắt kính cuộc đời”, Đoàn Thị Diễm Thuyên với“Chân đứng thẳng và bình yên con cứ bước”, Nguyễn Lan Hương với“Thương giọt mồ hôi tỏa ngát vị đời”, Phan Phương Loan với “Ánh mắt xa xăm ta thương mình cùng đêm trắng biếc”, Lê Tuyết Lan với“Có những lần nghe hơi thở đi hoang”, Hoàng Hải Phương với“Hồn quê hương kẻ đi hoang”, Phạm Tuyết Hạnh với “Mặn chát giọt đời rơi chảy vào trong”, Vũ Tuyết Nhung với“Em thường nghĩ nhiều về những đứa trẻ được sinh ra”, Nguyễn Doãn Việt với“Tiếng chuông xa dần để lại phía sau thành phố đầy hoa”, Trần Nguyệt Ánh với“Chẳng muốn gồng mình trói buộc những ưu tư”, Nguyễn Hồng Linh với“Tiếng chim đỗ quyên hận ly biệt não nề”, Võ Hoàng Phương với“Nụ cười không một chút ưu phiền”, Lưu Minh Hải với“Hồn cong như chiếc lá hứng trăng khuya”, Lê Đỗ Lan Anh với“Thi sĩ chôn ký tự trước khi chôn chính mình”, Đặng Văn Thắng với “Vận dụng cái hay cái đẹp của Tiếng Việt”, Trương Mỹ Ngọc với“Khi tất cả đều rực sáng và lập tức chìm trong bóng tối”, Trần Huy Minh Phương với“Những giọt nước ngân lên trời thành hoa”, Hồ Xuân Đà với“Tội tình gì em hát lý chim quyên”, Lê Tuyết Lan với“Yêu thương lăn lốc rơi xuống từng đôi mắt trẻ thơ”, Hà Nguyên với“Khóa cửa phòng xếp lại nỗ đau”, Hồ Ngọc Bình với “Cây già hết nước mắt thân non ứa nhựa”, Trần Ngọc Sương với “Đừng nặng chữ vì ai mà hãy sống vì mình”, Nguyễn Đình Phê với “Ký ức ngược dòng gió bụi trôi xuôi”, Hà Phi Phượng với “Ngày của mẹ thật dài, đếm chẳng hết nhớ mong”, Phạm Thị Kim Khánh với “Một tình yêu tuyệt mệnh sinh loài thơm”, Nguyễn Hồng Thắm với “Tình vẫn dạt dào ngấm sâu từng vi mạch”, Lê Văn Ri với “Cánh cửa đợi chờ khuyết mảnh trăng khuya”,…
Một đồng cảm với nhà văn Cao Chiến vì sao thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng khai sáng trong bài viết “Thơ 1-2-3-sự cộng hưởng” lý giải thêm một lý do vì sao thể thơ mới này thu hút đông đảo bạn thơ cả nước tham gia. Đó còn là việc chọn đăng thơ trên VHSG rất trọng thị. Rõ là, ngoài việc trình bày đẹp, có ảnh minh họa, ảnh chân dung tác giả thì nhà thơ Phan Hoàng với “con mắt xanh” thẩm định thơ của mình đã nắm bắt thần thái, hay nói cách khác cái hồn, cái hay, cái mới của từng chùm thơ các tác giả được chọn đăng để có những lời phi lộ, dẫn dắt bạn đọc cảm thơ rất có duyên. Cũng lại rất cô đọng, hàm súc.
Nói đến đây, người viết bài này lại nhớ đến một ý mà nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cho là tiếc với tuyển sách thơ “Biển bắt đầu từ sóng” do nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh chủ biên, NXB Đà Nẵng ấn hành, vừa ra mắt đầu tháng 5.2020. Đây là thơ của 108 tác giả từng được giới thiệu trên Báo Đà Nẵng và Công an TP Đà Nẵng cuối tuần trong vòng khoảng 2 năm gần đây. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh đã không đưa phần mà mình từng giới thiệu thơ của từng tác giả vào sách. Một cách dẫn dắt thơ để bạn đọc cảm nhận mà theo nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên là rất cần, rất hay… thậm chí hay hơn cả cái ý nghĩ của mỗi tác giả được chọn đăng.
Với suy nghĩ về một tuyển thơ 1-2-3 ở thì tương lai, thiết nghĩ sẽ không thể thiếu phần dẫn dắt trước mỗi chùm thơ 1-2-3 đã đăng trên Văn Học Sài Gòn.
Để kết thúc bài viết, nói như một nhà thơ mà tôi tâm đắc,”thơ là một bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm, nhưng vẻ đẹp thực sự của nó đôi khi lại giấu vào trong sâu thẳm mơ hồ”. Và một điều đến thời điểm này có thể khẳng định thể thức thơ mới 1-2-3 đã cho những tâm hồn thi nhân những cảm xúc mới mẻ. Mong rằng ngày càng có nhiều hơn những tâm hồn thơ trong cả nước đồng cảm, sẻ chia cùng thể thức thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng trên VHSG bằng cái tôi bản ngã của chính mình.
Tam Kỳ - Quảng Nam, 2/6/2020
Võ Văn Trường
Nguồn: Báo đất Việt
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...