Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Cảm thức đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam từ 1975 đến nay

Cảm thức đức tin trong thơ
Công giáo Việt Nam từ 1975 đến nay

Ngày 27.11.2024, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp cùng Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã tổ chức Hội nghị Lý luận Phê bình Văn học lần thứ V với chủ đề “50 năm Văn học Việt Nam từ 1975: Thành tựu và Xu thế”, quy tụ nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận nhà phê bình uy tín cả nước về tham dự. Xin giới thiệu tham luận của nhà thơ Mai Văn Phấn đến từ Hải Phòng: “Cảm thức đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam từ 1975 đến nay”.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, tôn giáo và văn chương đã thiết lập mối liên kết thiêng liêng, bền vững và sâu sắc, hòa quyện giữa khát vọng hướng thượng và cảm thức nghệ thuật. Mối tương liên này không chỉ xây dựng đức tin và động lực sống mà còn thắp lên trong mỗi con người niềm hy vọng về một tương lai bình an, nơi những giá trị nhân văn và chân lý được tôn vinh. Tôn giáo là cuộc hành trình truy cầu chân lý tuyệt đối, ánh sáng vô biên và nguồn cội của sự sống; trong khi văn chương mở ra những chân trời mới, giúp người đọc khám phá bản thân mình và thế giới xung quanh. Cảm thức tôn giáo trong văn học thể hiện khát vọng lớn lao của nhân loại về niềm tin và chân lý, góp phần hình thành hệ tư tưởng, các giá trị và bản sắc văn hóa bền vững qua thời gian.
Đạo Công giáo bắt đầu hiện diện tại Việt Nam từ khoảng thế kỷ XVI. Theo cuốn “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục” (soạn dưới triều vua Tự Đức từ năm 1856, quyển 33, phần chính biên, tờ 5-6), vào khoảng năm 1533, một giáo sỹ người Tây Ban Nha tên là I-nê-khu (Ignacio theo tiếng Tây Ban Nha) đã đến truyền đạo Giatô tại các làng Ninh Cường, Quần Anh (huyện Nam Chân) và Trà Lũ (huyện Giao Thủy), thuộc tỉnh Nam Định ngày nay. Năm 1533 được xem là năm khởi đầu đánh dấu ánh sáng Tin Mừng đến Việt Nam. Đến năm 1615, giai đoạn truyền giáo mới chính thức được mở ra khi hai tu sĩ Dòng Tên là Francesco Buzomi (người Ý) và Diego Carvalho (người Bồ Đào Nha) đã tới Đà Nẵng, thiết lập địa điểm truyền giáo tại xứ Đàng Trong (miền Trung, dưới thời Chúa Nguyễn). Và tại xứ Đàng Ngoài (miền Bắc, dưới thời Chúa Trịnh), công cuộc loan báo Tin Mừng chính thức và liên tục chỉ bắt đầu từ năm 1627 với hai vị thừa sai là Pedro Marquez (người Bồ Đào Nha) và Alexandre de Rhodes (người Pháp). Sứ vụ truyền giáo của các giáo sỹ phương Tây đã mang lại những ảnh hưởng sâu sắc, mở rộng đức tin Công giáo và đặt nền móng cho việc hình thành, phát triển chữ Quốc ngữ của Việt Nam.
Từ khi có Đạo Công giáo, đức tin Kitô giáo đã tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của một bộ phận người Việt, đặc biệt, góp phần làm phong phú và thay đổi diện mạo văn học Việt Nam. Các tác phẩm văn học Công giáo, từ thơ ca, văn xuôi đến văn học giáo lý, dần hình thành và phát triển, mang theo tinh thần và giáo huấn Kitô giáo. Điều này không chỉ tạo nên một dòng chảy văn học tôn giáo mà còn góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà với các đề tài mới mẻ về đức tin, lòng mến, và niềm hy vọng. Nhân đức tin, tình yêu thương, sự khiêm nhường và lòng bác ái của đạo Công giáo được thể hiện rõ nét trong văn học Công giáo, tạo nên những tác phẩm ca ngợi Thiên Chúa và các giá trị nhân bản. Văn học Công giáo cũng tạo nên những lối viết độc đáo, kết hợp giữa ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ giáo lý, khiến cho những giáo huấn Kitô giáo trở nên gần gũi với người dân Việt Nam. Đồng thời, chữ Quốc ngữ – một công cụ mà các vị thừa sai đã dày công phát triển – không chỉ là phương tiện truyền giáo mà còn trở thành nền tảng văn hóa quan trọng, thúc đẩy văn học phát triển theo hướng mới. Qua đó, đạo Công giáo đã tạo nên một môi trường tinh thần, giúp con người hướng về sự siêu việt, tìm kiếm chân lý và cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày.
Từ thế kỷ XVI đến nay, mối quan hệ giữa tôn giáo và văn chương Việt Nam luôn gắn bó, liên kết chặt chẽ. Văn chương vừa là phương tiện thể hiện đức tin vừa là cầu nối đưa các giá trị Kitô giáo hòa nhập vào đời sống và tâm hồn con người. Qua từng thời kỳ, văn học Công giáo đã phản ánh khát vọng về tình yêu Thiên Chúa, lòng bác ái, và hy vọng vào cuộc sống đời đời, đồng thời mang đến cho nền văn học nước nhà những sắc thái độc đáo, chứa đựng chiều sâu tâm linh và sự hướng thiện. Theo dòng lịch sử, đức tin Công giáo trong văn chương Việt Nam cũng trải qua nhiều thăng trầm. Từ buổi đầu đón nhận Tin Mừng, văn chương Công giáo đã nảy nở trong sự giao thoa với văn hóa truyền thống Việt Nam, tạo nên những tác phẩm hài hòa giữa đức tin và bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, có những thời kỳ đầy biến động, đức tin Công giáo gặp những thử thách, và văn chương Công giáo chịu nhiều áp lực, thậm chí bị gián đoạn. Dẫu vậy, qua mọi cung bậc, văn chương Công giáo vẫn kiên trì và lặng lẽ hòa vào dòng chảy văn học nước nhà, tiếp tục truyền tải tinh thần Kitô giáo qua ngôn ngữ của tình yêu, sự hy sinh, và niềm tin vĩnh cửu vào Thiên Chúa, vào những giá trị tốt đẹp của thế gian.
Với Công giáo Việt Nam, cảm thức đức tin Thiên Chúa và những biến chuyển tinh thần trong văn chương được thể hiện rõ trong diễn trình thơ Công giáo từ năm 1975 đến nay. Cảm thức ấy biểu hiện qua khát vọng cứu rỗi, an bình và hy vọng trước những biến động không ngừng của thời cuộc khi các giá trị xã hội và văn hóa liên tục thay đổi.
Thơ đương đại Việt Nam, qua những biến chuyển trước và sau năm 1975, đã đón nhận Đạo Công giáo không chỉ như một biểu hiện của niềm tin vào Thiên Chúa mà còn như một nguồn mạch nghệ thuật phong phú và sinh động, góp phần định hình sắc thái độc đáo cho thi ca. Những tác phẩm thơ ca đã chuyển tải sâu sắc các câu hỏi về sự tha thứ, tình yêu thương vô điều kiện, và lòng tin tuyệt đối vào Thiên Chúa như một điểm tựa tinh thần thiêng liêng, bền vững trong cuộc sống. Các hình tượng này biểu trưng cho lòng khao khát tìm kiếm chân lý, ánh sáng, và định hướng cho con người trước mọi nghịch cảnh.
“Bỗng nghe một tiếng chuông buông/ Xa xôi tự tháp thánh đường nào đây!/ Vang lên cao vút tầng mây/ Rồi ngân nhè nhẹ như ngây ngất lòng…”
(“Chuông chiều” – Xuân Ly Băng[1])
Bốn câu thơ trên của nhà thơ Xuân Ly Băng khơi dậy những xúc cảm sâu sắc về một không gian tâm linh tràn đầy ân thánh. Tiếng chuông mở ra một không gian vời vợi và thanh tĩnh, dẫn dắt con người tới ánh sáng của Chúa Thánh Thần. Âm thanh ấy đưa ta về với đức tin Thiên Chúa, về với giá trị tinh thần, khuyên nhủ con người dừng lại, suy ngẫm và mở lòng đón nhận những điều tốt đẹp; nó kết nối con người với điều thiêng và cái đẹp, khiến tinh thần con người như được thanh tẩy, tràn ngập tình yêu và niềm tin Thiên Chúa.
Sau năm 1975, xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu rộng, với nhiều biến động trong đời sống đức tin. Thời kỳ hậu chiến đưa đến những thách thức mới trong tư duy và văn hóa, từ đó dẫn đến những hạn chế trong việc khám phá các thi pháp sáng tác mới hay mở rộng những quan niệm thẩm mỹ vốn được định hình trước đó. Trong bối cảnh này, những tác phẩm có nội dung liên quan đến đức tin Thiên Chúa thường được thể hiện qua các biểu tượng, ẩn ý gián tiếp. Khát vọng bình yên và lời cầu nguyện – những biểu trưng của đức tin – thường được diễn đạt qua phép ẩn dụ nhằm biểu đạt những cảm xúc phức rối và đa tầng, như nỗi nhớ, sự trăn trở, và cả nỗi đau do hệ lụy chiến tranh vừa qua.
Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cảm hứng tôn giáo vẫn luôn là nguồn mạch tâm linh, là phương tiện cần thiết để các nhà thơ Công giáo khám phá chiều sâu tâm hồn, phản ánh nỗi đau, sự hoài nghi và niềm hy vọng về một đời sống công bằng, bác ái… Theo tác giả Nguyễn Vy Khanh, tác phẩm văn chương Công giáo Việt Nam bao gồm hai loại: Một là, “Sách đạo”, tức các tác phẩm giáo lý, tu đức và kinh sách về đạo Chúa; hai là, “Văn học đạo”, gồm các tác phẩm văn học và học thuật có nội dung “tải đạo” hoặc chịu ảnh hưởng của Đạo Công giáo. Nói cách khác, “văn học đạo” là một hình thức “hội nhập văn hóa” của đức tin. Trong các tác phẩm thuộc thể loại “văn học đạo” có nhiều bài thơ và lời kinh bổn được chuyển thể thành thơ, thành diễn ca để truyền bá Tin Mừng, đưa Thiên Chúa đến gần hơn với tha nhân.
Theo thiển nghĩ của tôi, các nhà thơ là tín hữu Công giáo người Việt không nhiều; trước năm 1975 có thể xướng tên các nhà thơ, Bàng Bá Lân[2], Hồ Dzếnh[3], Hàn Mặc Tử[4], Quách Thoại[5]…; sau năm 1975 có các nhà thơ như Lê Quốc Hán[6], Xuân Ly Băng, Lê Đình Bảng[7], Đình Chẩn[8], Trần Vạn Giã[9], Mai Văn Phấn… Ngoài ra, trong cuốn sách “Những nhà thơ Công giáo Việt Nam hiện nay”, tác giả Khải Triều[10] đã khảo cứu thơ của một số tác giả Công giáo như Trần Mộng Tú[11], Bùi Đức Dung[12], Dzuy Sơn Tuyền[13], Hàn Lệ Th [14], Ngọc Tự[15], Thanh Chương[16]…
Sau Đổi Mới (1986), các nhà thơ được cởi mở hơn trong cách biểu đạt đức tin Thiên Chúa. Thơ ca giai đoạn này ngày càng phản ánh sâu sắc những trăn trở về vai trò của Thượng Đế, khi các tác giả không chỉ nhìn nhận Ngài qua hệ thống tín lý mà còn qua lăng kính của những trải nghiệm cá nhân. Nhiều nhà thơ, kể cả một số nhà thơ không phải người Công giáo đã sử dụng hình ảnh Thiên Chúa như một biểu tượng của sự cứu rỗi, điểm tựa tinh thần giúp họ đối diện với những thử thách trong cuộc sống. Thiên Chúa không chỉ xuất hiện như Đấng-Tối-Cao mà còn đồng hành, gần gũi con người trong những khoảnh khắc đớn đau, mất phương hướng. Bài thơ “Hạt bụi” dưới đây của nhà thơ Lê Quốc Hán mang đến cái nhìn sâu sắc về tình yêu, đức tin và sự tồn tại, qua đó diễn đạt mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa, tình yêu và ý nghĩa cuộc sống.
“Phải ngày xưa chúng mình hai hạt bụi, ở hai vì tinh tú xa xôi, một ngày kia qua hơi thở Chúa Trời, quằn quại hóa đôi linh hồn bất diệt.
Hai hạt bụi chẳng thể hòa làm một, nên suốt đời vờ vật ở bên nhau, đôi linh hồn sinh bởi một phép màu, nên muôn kiếp muốn tan vào một biển…
… Xin Chúa Trời hãy rộng lòng tha thứ, khi chúng con muốn vươn tới gương Người, dao tình yêu tách hạt bụi làm đôi, thổi vào đó một linh hồn bé bỏng.”
(“Hạt bụi” – Lê Quốc Hán)
Hình ảnh “hạt bụi” vừa ẩn dụ sự nhỏ bé, mong manh của con người trong vũ trụ, vừa biểu tượng cho sự nguyên sơ và mối liên kết sâu sắc với Đấng-Tạo-Hóa. Sự mâu thuẫn trong tình yêu của hai “hạt bụi” – dù “chẳng thể hòa làm một” mà vẫn “vờ vật ở bên nhau” – gợi nỗi khắc khoải, khát vọng gắn bó của hai tâm hồn. Tình yêu ở đây được nhà thơ nâng lên thành cuộc hành trình tâm linh đầy ý nghĩa, một phép màu mà đôi lứa khao khát đạt được. Bài thơ khép lại với lòng biết ơn và ngưỡng vọng, gửi gắm niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa như một phép lạ màu nhiệm. “Hạt bụi” không chỉ ngợi ca tình yêu đôi lứa mà còn xưng tụng đức tin Thiên Chúa và mối liên hệ thiêng liêng giữa con người với Đấng-Tạo-Hóa. Bài thơ khai thác chiều sâu tâm linh, vượt qua những khác biệt và sự mong manh của kiếp người, từ đó gửi gắm niềm tin vào sự vĩnh cửu, vượt qua ràng buộc của thời gian.
Thơ ca Công giáo sau Đổi mới không chỉ thể hiện lòng sùng kính Thiên Chúa mà còn đi sâu khám phá các trăn trở, xung đột nội tâm trong đời sống tâm linh. Các tác phẩm chú trọng đến ý thức trách nhiệm cá nhân trong cộng đồng, qua đó truyền tải những dòng thơ mang đậm màu sắc suy tư và chiêm nghiệm về ý nghĩa sự cứu rỗi. Những biểu tượng như thập giá, thiên đường, địa ngục, thánh đường, tín hữu,… đã trở thành chất liệu phong phú trong sáng tạo văn chương, đặc biệt thơ ca. Các biểu tượng này đóng vai trò như những tấm gương, khung tham chiếu nghệ thuật, giúp thơ ca khai phá chiều sâu tâm lý và những bí ẩn trong thế giới nội tâm.
Trong thơ đương đại Việt Nam, đạo Công giáo vừa là nguồn cảm hứng tâm linh vừa là phương tiện mở rộng chiều kích tâm hồn. Qua những vần thơ nguyện cầu, tụng ca Thiên Chúa, các nhà thơ không chỉ xem tôn giáo là nơi trú ngụ cho niềm tin và tinh thần, mà còn là hành trình tự vấn, nơi họ đối diện với những khắc khoải, yếu đuối và khát vọng. Hình ảnh Thiên Chúa trong thơ trở thành biểu tượng không chỉ của quyền năng mà còn của tình yêu thiêng liêng và lòng trắc ẩn, phản ánh sự hòa quyện giữa sức mạnh thần thánh và cảm thức nhân văn.
“Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện/ Hồn reo vui trong từng chữ từng lời/ Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi/ Trong cây lá vươn sức dài vai rộng”.(“Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện” – Lê Đình Bảng);
“Tôi quỳ lạy Chúa trên cao/ Dẫn dìu tôi kẻo sa vào tối tăm/ Thế mà tôi tưởng xa xăm/ Hóa ra Người ở âm thầm trong tôi” (“Chúa ở trong tôi” – Lê Đình Bảng)
Hai đoạn thơ trên của nhà thơ Lê Đình Bảng đã khắc họa thơ ca như nhịp cầu giữa Đấng-Tối-Cao và con người, là hành trình thiêng liêng nơi tâm hồn nhà thơ kết nối với những điều cao cả. Những hình ảnh đất đai, cây cỏ và nghi thức cầu nguyện đã gợi lên khung cảnh Vườn Địa đàng, nơi không chỉ có vẻ đẹp tinh khôi mà còn tràn đầy lòng nhân từ và an nhiên trong mọi tạo vật; chúng giúp người đọc cảm nhận rõ nét sức mạnh và vẻ đẹp của nhân đức tin khi hòa quyện trong nghệ thuật thơ ca. Từ nghi thức “quỳ lạy Chúa trên cao” đến nhận thức “Người ở âm thầm trong tôi”, tác giả đã miêu tả sự chuyển biến từ một nhận thức bên ngoài về Thượng Đế đến sự giác ngộ sâu sắc bên trong. Nhà thơ nhận ra rằng, Thiên Chúa luôn trong trái tim mỗi người, một sự hiện hữu gần gũi mà không phải ai cũng dễ dàng cảm nhận. Hình ảnh này không chỉ biểu đạt chiều sâu tâm linh, mà còn phản ánh tâm thức con người khi tìm kiếm ánh sáng từ bên trong để vượt qua những thử thách của cuộc sống.
Trong hành trình đến với Chúa, cái tôi trong thơ được dâng hiến trọn vẹn cho đức tin, cho nghệ thuật và sáng tạo. Các nhà thơ Công giáo đã liên kết hài hòa cái tôi thi nhân với cái tôi tín hữu, tìm thấy trong đức tin những phẩm hạnh đẹp đẽ của giá trị văn hóa, tinh thần – không xa lạ, mà hiện hữu trong những điều bình dị của cuộc sống thường nhật. Khổ thơ dưới đây của nhà thơ Trần Vạn Giã bộc lộ niềm tin tôn giáo, tình yêu nơi đời thường và hy vọng vào một tương lai hứa hẹn.
“Tôi tin nơi bến đợi sông chờ/ Nơi tôi sống ngày mai mặt trời vẫn đến/ Tin năm con cá và hai chiếc bánh/ Sáng lên trong lời kinh Thánh/ Ấm lên bên bếp lửa hoàng hôn/ Tôi bắt chước Chúa thổi vào xương sườn vợ tôi
Đất mới/ Trời mới/ Em hãy cùng anh tin còn mùa gặt mới.” -(“Năm chiếc bánh và hai con cá”  – Trần Vạn Giã)
Hình ảnh “năm con cá và hai chiếc bánh” gợi nhắc một câu chuyện kỳ diệu trong Kinh Thánh về phép lạ của Chúa Giê-su, khi Ngài cho một đám đông lớn được ăn no đủ. Câu chuyện này đã trở thành biểu tượng cho lòng tin, sự sẻ chia và phép màu trong đức tin Thiên Chúa, nó nhấn mạnh rằng những điều tưởng chừng nhỏ bé cũng có thể tạo ra kết quả vĩ đại khi được Chúa tác động. Câu thơ “Tôi bắt chước Chúa thổi vào xương sườn vợ tôi” trong bài chứa đựng ý niệm sâu sắc về tình yêu và sự gắn bó vợ chồng. Tác giả mượn hình ảnh Thiên Chúa tạo ra bà Eva từ xương sườn của ông Adam để thể hiện tình yêu bền chặt và thiêng liêng giữa người nam và người nữ. Cách diễn đạt này nhấn mạnh sự hòa quyện giữa tình cảm cá nhân và niềm tin tôn giáo, và, tình yêu cũng chính là một phép màu của tạo hóa. Hình ảnh tôn giáo kết hợp với đời sống thường nhật đã tôn vinh niềm tin trong những giá trị vĩnh cửu: tình yêu, gia đình và hy vọng về một tương lai tràn đầy ơn thánh.
Đức tin Thiên Chúa không chỉ là tín ngưỡng, mà còn là nguồn cảm hứng vô tận. Niềm tin ấy được khắc họa như một hành trình tinh thần, phản ánh sự đấu tranh giữa khát vọng và đau khổ, lòng cậy trông và sự cứu rỗi. Nhiều tác phẩm đã vẽ nên bức tranh đa chiều về con người trong diễn trình tìm kiếm chân lý và sự bình an giữa những biến cải thế gian, khắc họa hình ảnh Thiên Chúa vừa là ánh sáng dẫn lối vừa là tình yêu vô bờ bến dành cho nhân loại. Chính những hình ảnh này đã tạo ra một cầu nối vững bền giữa tôn giáo và văn chương, giúp người đọc nhận thức sâu sắc hơn về đức tin và thấy được giá trị của chính mình trong bức tranh lớn của cuộc sống.
“…Tôi đứng mãi đàng xa, tít tắp/ Chờ bầy chim trắng thoáng bay qua/ Chúa ôi, ai nấy đều tăm tắp/ Như suối, như sông chảy thật thà…” – (“Ngày mai, Lễ khấn dòng” – Lê Đình Bảng)
Đoạn thơ trên của nhà thơ Lê Đình Bảng vẽ nên cảnh tượng mang tính tượng trưng về hành trình tinh thần, nơi mà lòng thành kính và đức tin Thiên Chúa được phác họa qua hình ảnh “bầy chim trắng” – biểu trưng cho sự thanh khiết, hồn nhiên và khát vọng hướng về cõi thiêng. Hình ảnh ấy được sử dụng như một biểu tượng của tâm hồn thanh sạch và khao khát thăng hoa tinh thần. Nhà thơ đã sử dụng ngôn ngữ tinh tế để biểu đạt niềm tin sâu sắc và bền bỉ vào Thiên Chúa, đồng thời mở ra một không gian tinh thần vô biên, nơi đức tin được hình dung là nguồn sáng và nơi an bình vững bền.
Bài thơ này nằm trong tập thơ “Và Em, Lễ khấn dòng” (Tủ sách Tuổi hoa, 2024), đây là thi tập ca ngợi tình yêu thế tục trong không gian của đạo Chúa, nơi hòa quyện hương sắc trần gian với cõi thiêng. Thơ của Lê Đình Bảng trong thi tập này phảng phất giữa đạo và đời, với những câu thơ vương vất mối tình nam nữ mà kết lại trong tình yêu Thiên Chúa:
“Lệ mùa rơi đoá Thu phong ấy/ Hương ngọc lan ủ dưới gối nằm/ Chợt nửa khuya, mơ hồ tỉnh giấc/ Đêm thơm như là đoá từ tâm.” -(“Ngọc lan hương” –  Lê Đình Bảng)
Dấu ấn Đạo Công giáo trong thơ đương đại Việt Nam từ 1975 đến nay cho thấy các nhà thơ đã thay đổi cách tiếp cận đức tin và các giá trị văn hóa tôn giáo. Sau Đổi mới, thơ Công giáo không chỉ miêu tả sự sùng kính Thiên Chúa mà còn phản ánh những trăn trở nội tâm trước thực tại đời sống. Các tác phẩm nhấn mạnh ý thức trách nhiệm cá nhân trong cộng đồng, qua các dòng thơ đậm chất suy tư, chiêm nghiệm về ý nghĩa cuộc sống và sự cứu rỗi. Những chuyển biến trong đời sống văn hóa và xã hội đã làm phong phú thêm dòng thơ về đức tin Thiên Chúa, mở rộng không gian sáng tạo. Giai đoạn này, đức tin, nội tâm và những suy tư của các nhà thơ về Thiên Chúa, không chỉ qua hình ảnh của một Thượng Đế thiêng liêng, mà Ngài còn hiện thân như một Người bạn đồng hành trong cuộc sống thường nhật của con người. Với lý trí, ý chí và tự do, con người được mời gọi hiệp hành cùng Thiên Chúa, kiến tạo một mối quan hệ sâu sắc hơn để khám phá những giá trị cao quý, thiêng liêng. Dòng thơ về đức tin Thiên Chúa từ đó được cá nhân hóa hơn, phản ánh khát vọng tâm linh một cách đa dạng và sâu sắc hơn. Thơ ca không chỉ tôn vinh niềm tin theo truyền thống mà còn kết hợp với triết lý Đông phương, mở rộng tầm nhìn.Thiên Chúa hiện ra trong thơ, vừa là Đấng-Toàn-Năng vừa biểu tượng cho sự hòa hợp, bình an và tự do nội tại, dẫn dắt con người trên hành trình tìm về nơi bình yên, hạnh phúc. Các chủ đề về hiệp hành, tha thứ, hòa giải đã làm cho hình ảnh Thiên Chúa trở nên gần gũi và thiêng liêng, đồng thời mở ra nhãn quan mới mẻ, đa chiều cho không gian thơ.
“Có ai thương con bằng khối tình muôn thuở/ Khi kiếp nhân sinh hơi thở vô thường/ Từ ngàn xưa khi chưa có trời đất/ Rồi đến ngàn sau…/ Nào ai trọn tình thương?”- (“Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” – Đình Chẩn)
Đoạn thơ trên của dịch giả, nhà thơ Đình Chẩn vừa ngợi ca tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa, vừa suy tưởng sâu sắc về kiếp người vô thường theo tư tưởng Á Đông; từ đó mở ra một không gian thơ lành thánh, nơi tâm hồn con người được ôm ấp trong tình thương bao la, trường tồn của Thiên Chúa. Câu thơ “Có ai thương con bằng khối tình muôn thuở” ngợi ca, tôn vinh tình thương vô biên của Thiên Chúa, vượt qua mọi giới hạn thời gian và không gian. Quan niệm của tác giả về “kiếp nhân sinh hơi thở vô thường” phản ánh rõ triết lý Á Đông, cho rằng đời sống ngắn ngủi, mọi thứ đều trôi qua và thay đổi.
Cũng cần phải nói thêm, Đình Chẩn là bút danh của Linh mục Giuse Trần Văn Đỉnh, người công giáo đầu tiên đã chuyển ngữ bản “Thần khúc” của nhà thơ kiệt xuất Dante Alighieri (1265-1321, của nước Ý) từ  nguyên tác tiếng Ý sang tiếng Việt. Mặc dù trước ông đã có một số bản dịch tác phẩm này, nhưng cho đến nay bản dịch của ông là bản dịch đầy đủ và trung thành nhất với nguyên tác “Thần khúc” của Dante. Đình Chẩn không chỉ chuyển ngữ mà còn chú giải tỉ mỉ các đoạn khó hiểu hoặc xa lạ với văn hóa Việt Nam, đồng thời ông ghi chú chi tiết từng điển tích, tên riêng, những ám chỉ, ẩn dụ trong kiệt tác này. Đình Chẩn sinh năm 1982. Năm 2009, ông được bề trên cử sang Ý tu học tại Đại học Giáo hoàng Urbaniana ở Rôma. Sau tám năm học tập ở Ý, ông đã thực hiện một số bản dịch, trong đó có tập thơ của Thánh nữ Teresa. Với kiến thức sâu rộng về Kinh thánh và văn chương Đông – Tây, Đình Chẩn đã giúp độc giả cảm nhận được cái đẹp của nguyên tác gần như trực tiếp, và vượt qua  được những khác biệt về văn hóa. Bản dịch “Thần khúc” của Đình Chẩn đã đóng góp ý nghĩa lớn lao vào kho tàng văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học Công giáo.
Tôn giáo và nghệ thuật, đặc biệt là văn chương, có mối quan hệ khăng khít, lâu đời, tạo nên một dòng chảy tinh thần và tư tưởng phong phú trong lịch sử văn hóa nhân loại. Từ xưa đến này, tôn giáo luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho tác phẩm nghệ thuật, trong đó có thơ, khi con người tìm cách diễn đạt đức tin, những câu hỏi về sự tồn tại, và ước vọng về một thế giới lý tưởng. Ngày 4.4.1999, trong Tông thư của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II gửi các văn nghệ sĩ toàn cầu đã viết: “Tôi mời gọi anh chị em hãy khám phá lại chiều sâu tâm linh và tôn giáo, vốn là nét điển hình của nghệ thuật từ xưa tới nay dưới những hình thức cao quý nhất. Nghĩ như thế, nên tôi kêu gọi anh chị em nghệ sĩ: nghệ sĩ của chữ viết và lời nói, của sân khấu và âm nhạc của tạo hình và thông tin theo các kỹ thuật tiên tiến nhất. Còn các nghệ sĩ Kitô giáo, tôi cũng xin có lời hiệu triệu đặc biệt đối với các bạn: tôi muốn nhắc anh chị em nhớ rằng, ngoài những suy nghĩ nặng tính chức năng trên đây, ta còn thấy có một sự liên minh chặt chẽ và luôn luôn giữa Tin Mừng và nghệ thuật, nghĩa là các bạn được mời sử dụng trực giác sáng tạo của mình để đi sâu vào mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể và đồng thời, đi sâu vào mầu nhiệm con người”[17].
Như thế, ta thấy chính Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã đề cao vai trò của văn chương nghệ thuật trong việc biểu đạt đức tin tôn giáo. Lời dạy của Đức Giáo Hoàng chính là sự khích lệ các văn nghệ sĩ trải nghiệm đức tin thông qua nghệ thuật.
Thơ Công giáo Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay đã trải qua giai đoạn dè dặt và bước ra cánh cửa mở rộng sau Đổi mới, thơ đã mang những đặc tính thiêng liêng của đức tin, kết hợp sâu sắc giữa đức tin và đời sống con người. Sự lan tỏa đức tin Thiên Chúa trong thơ đương đại cho thấy sức hút và sự đa dạng của chủ đề này; nó minh chứng cho khả năng biểu đạt phong phú và rộng mở của thơ ca về tâm linh và niềm tin tôn giáo. Đức tin Thiên Chúa không chỉ mang ý nghĩa thiêng liêng mà còn mở ra một không gian lành thánh để con người hiện đại khám phá và trải nghiệm. Thơ ca về đức tin trước hết dẫn dắt con người đến với niềm tin tôn giáo, con người có đức tin sẽ được sống cuộc sống thiện lành hơn, tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Như vậy, thơ ca Công giáo góp phần vào lan tỏa tinh thần nhân văn, khơi gợi tình yêu thương, lòng khoan dung, và mang đến niềm tin vào những giá trị tốt đẹp. Đức tin Thiên Chúa trong thơ đương đại được thể hiện như một diễn trình tìm kiếm hạnh phúc, bình an và sự hòa hợp giữa đời sống tâm linh với cuộc sống thế tục. Thông qua nghệ thuật thơ ca, các nhà thơ Công giáo biểu đạt khát vọng sống trọn vẹn với đức tin, đồng thời phản ánh những trăn trở và hoài nghi của con người hiện đại trước sự tha hóa và suy thoái của các giá trị đạo đức và văn hóa hiện nay.
Cảm thức tôn giáo, đặc biệt là đạo Công giáo trong thơ đương đại Việt Nam sau 1975, không chỉ kế thừa truyền thống văn chương Công giáo trước đó, mà còn mở rộng các hình thức biểu đạt, thể hiện mối liên kết bền chặt và màu nhiệm giữa Thiên Chúa và con người. Thông qua các biểu tượng và cảm thức tôn giáo, người đọc có thể cảm nhận những xúc cảm thiêng liêng, sâu lắng cùng khát vọng tìm kiếm ánh sáng Thiên Chúa và sự cứu rỗi. Thơ ca, bên cạnh chức năng là nghệ thuật ngôn từ, còn đóng vai trò như một nhịp cầu kết nối đời sống thế tục với thế giới tâm linh, giúp con người khám phá sự giao hòa giữa ánh sáng của đức tin và những trải nghiệm sống, nơi phản chiếu niềm vui và ân sủng từ đức tin.
(Do hạn chế nguồn tài liệu, bài viết này có thể chưa bao quát hết các tác phẩm của các nhà thơ Công giáo Việt Nam, nên rất mong nhận được những ý kiến góp ý từ bạn đọc).
Chú thích:
[1] Xuân Ly Băng là bút danh của Đức Ông G.B Lê Xuân Hoa (1926-2017). Ngài thụ phong linh mục năm 1959 tại Gia Định, từng là Giáo sư Tiểu Chủng viện Chân Phước Tự, Thủ Đức-Gia Định, Tiểu Chủng viện Sao Biển, Nha Trang, Tổng Đại diện giáo phận Phan Thiết. Đã xuất bản hơn 20 cuốn sách, trong đó: “Thơ kinh”, “Hương kinh”, “Trầm tư”, “Nỗi niềm”, “Bài ca thương khó”, “Dụ ngôn Phúc âm”, “Như trầm hương”, “Kinh trong thời gian”, “Khúc hát ân tình”, “Một vùng châu lệ”, “Kinh sầu trên quê hương”…
[2] Nhà thơ Bàng Bá Lân (1912-1988) tên thật là Nguyễn Xuân Lân, là một tín hữu Công giáo. Sinh tại Tân Minh, Lạng Thương, Bắc Giang. Đã xuất bản các tập thơ: “Tiếng thông reo” (1934), “Xưa” (1941), “Tiếng sáo diều” (1939 – 1945), “Để hiểu thơ” (1956, “Thơ Bàng Bá Lân” (1957), “Tiếng võng đưa” (1957),… Và các tập truyện: “Người vợ câm”, “Vực xoáy”, “Gàn bát sách” (phiếm luận). Từ 1977 viết thêm “Kỷ niệm văn”, “Thi sĩ hiện đại quyển 3”, “Hồi ký Trọn đời cho thơ”…
[3] Nhà thơ Hồ Dzếnh (1916-1991), tên thật là Hà Triệu Anh, là một tín hữu Công giáo. Sinh tại làng Đông Bích, xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Tác phẩm đã xuất bản: “Dĩ vãng” (truyện vừa, 1940), “Quê ngoại” (tập thơ, 1942), “Những vành khăn trắng” (truyện dài, 1942), “Tiếng kêu trong máu” (truyện dài, 1942), “Một chuyện tình 15 năm về trước” (1943), “Chân trời cũ”(truyện ngắn, 1943), “Hoa Xuân Đất Việt” (tập thơ,1946), “Cô gái Bình Xuyên” (truyện vừa, 1946), Cuốn sách không tên (tiểu thuyết tự truyện, xuất bản sau khi mất).
[4] Nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912-1940) tên thật là Nguyễn Trọng Trí, là một tín hữu Công giáo. Sinh tại làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Đã xuất bản: “Lệ Thanh thi tập”, “Gái Quê” (1936), “Thơ Điên” (hay “Đau Thương”, 1938), “Xuân như ý”, “Thượng Thanh Khí” (thơ), “Cẩm Châu Duyên”, “Duyên kỳ ngộ” (kịch thơ-1939), “Quần tiên hội” (kịch thơ, 1940), “Chơi Giữa Mùa Trăng” (tập thơ-văn xuôi).
[5] Nhà thơ Quách Thoại (1930-1957) tên thật là Đoàn Thoại, là một tín hữu Công giáo. Thơ của ông thường đăng rải rác trên các báo xuất bản ở Sài Gòn. Đã xuất bản tập thơ “Giữa Lòng Cuộc Đời” (1963).
[6] Nhà thơ Lê Quốc Hán (1949), là một tín hữu Công giáo, đồng thời là phó giáo sư, tiến sĩ Toán học. Đã xuất bản: “Lời khấn nguyện”,“Bến vô cùng”, “Mạc khải”, “Bất biến”, “May”, “Thơ trong ký ức”, “Giao cảm thơ”…
[7] Nhà thơ Lê Đình Bảng (1942), là một tín hữu Công giáo. Sinh tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Đã xuất bản: “Bước chân giao chỉ” (Sài gòn 1967), “Hành hương” (2006), “Quỳ trước đền vàng” (2010), “Lời tự tình của bến trần gian” (2012), “Ơn đời một cõi mênh mang” (2014), “Kinh buồn” (2014), và các bài thơ được phổ nhạc: “Đội ơn lòng Chúa bao dung” (2012), “Lời khấn nhỏ chiều Chúa nhật” (2012), “Về cõi trời mênh mang” (2012). Ngoài ra ông còn là nhà nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Đã in “Văn học Công giáo Việt Nam-Những chặng đường” (2010), và bộ sách  gồm 6 cuốn, 4.088 trang in: “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam” (2009) do ông sưu tầm, nghiên cứu… Gần đây ông xuất bản tập thơ “Và em, Lễ khấn dòng”, và “Hành hương với hành hương”.
[8] Đình Chẩn (1982) là bút danh của Linh mục Giuse Trần Văn Đỉnh. Ngoài sáng tác thơ, ông còn dịch tập thơ của Thánh nữ Teresa và “Thần Khúc” của Dante (Nxb. Hồng Đức, 2022)… (https://phatdiem.org/)
[9] Nhà thơ Trần Vạn Giã (1945) tên thật là Trần Ngọc Ẩn, là một tín hữu Công giáo. Đã xuất bản các tập thơ: “Tiếng hát những người đi tới ” (1993), “Tuyển tập văn chương viết về lao tù” (1973), “Hào khí quê ta” (1970), “Miên ca hòa bình” (1971), “Tình yêu đẹp như bài thơ” (1996), “Gió đưa khói bếp lên trời” (2004), “Trầm tư với lá” (2006), “Trên chặng đường thánh giá” (2006), “Lục bát Trần Vạn Giã” (2007), “Lục bát nhà quê” (2008)…
[10] Nhà thơ-nhà văn Khải Triều (1936) tên thật là Nguyễn Văn Tùy, là một tín hữu Công giáo. Tác phẩm đã xuất bản bao gồm một số tập thơ, truyện ngắn, truyện ký, biên khảo, tiểu luận… (https://vietvanmoi.fr/).
[11] Nhà thơ-nhà văn Trần Mộng Tú (1943), là một tín hữu Công giáo. Sinh tại Hà Đông năm 1943. Là một tín hữu Công giáo. Tác phẩm đã xuất bản: “Thơ Trần Mộng Tú” (1990), “Câu chuyện của lá phong (truyện ngắn, 1994), “Để em làm gió (thơ, 1996), “Cô Rơm và những truyện ngắn khác” (truyện ngắn, 1999), “Ngọn nến muộn màng” (thơ, 2005), “Mưa Sài Gòn mưa Seattle” (tạp văn, 2006), “Thơ tuyển Trần Mộng Tú” (2009)…
[12] Nhà thơ Bùi Đức Dung (1942-2021), sáng tác với bút danh Bùi Kim Phượng, Bùi Thụy. Là một tín hữu Công giáo. Ông đã xuất bản một số tập thơ và sáng tác nhạc. (https://cdn.t-van.net/)
[13] Nhà thơ Dzuy Sơn Tuyền (1946-2021) tên thật là Đinh Thế Tuyền, là một tín hữu Công giáo. Ông đã xuất bản một thi tập và bài nói chuyện về đề tài Thi ca và Cầu nguyện. (https://cdn.t-van.net/)
[14] Nhà thơ Hàn Lệ Thu (1940-2007) tên thật là Nguyễn Thị Thu Cúc, là một tín hữu Công giáo. Bà có một số bài thơ in trong cuốn “Góp nhặt thơ Công giáo Việt Nam” (Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1999) và trong cuốn “Những bài thơ Việt Nam hay lạ xưa nay” (Nxb Văn Nghệ, 2009). (https://cdn.t-van.net/)
[15] Nhà thơ Ngọc Tự (bút danh khác: Ninh Văn, Trần Ninh Bình), sinh 1948, tên thật là Trần Ngọc Tự, là một tín hữu Công giáo. Đã xuất bản một số thi tập. (https://cdn.t-van.net/)
[16] Nhà thơ Thanh Chương (bút danh khác: Thạch Ngữ, Hoài Nhân, Châu Huy Quang… 1939-2021) tên thật là Trần Quang Tịnh, là một tín hữu Công giáo. Đã xuất bản một số thi tập. (https://cdn.t-van.net/)
[17] Nguồn: Nhà thờ Chính tòa Giáo phận TP. Hồ Chí Minh.
28/11/2024
Mai Văn Phấn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Người khai sinh và thử nghiệm thể thơ mới 1-2-3

Người khai sinh và thử
nghiệm thể thơ mới 1-2-3

Nhà giáo, nhà nghiên cứu Lê Xuân là cây bút kỳ cựu ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tại cuộc Tọa đàm “Thơ 1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ và Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức vào tháng 11.2024, ông đã phát biểu tham luận trên cơ sở tiểu luận nghiên cứu công phu mấy năm qua về thơ 1-2-3. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của nhà nghiên cứu Lê Xuân.
Nhà văn Lỗ Tấn (ở Trung Quốc) có nói: “Trên trái đất làm gì có đường, người ta đi nhiều thì thành đường thôi”. Đúng vậy, mỗi con đường sẽ được định hình khi người mở đường đi tiên phong và sau đó nhiều người cùng đi thì con đường ấy được “mặc định”. Với văn chương cũng vậy, khởi thủy là “văn sử bất phân”, rồi sau này từng bước qua nhiều thập kỷ, nó được phân loại. Các thể cùng từng bước ra đời, trải qua thời gian dần dần ổn định, hoặc phát triển hoặc bị lãng quên. Thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng cũng không nằm ngoài khỏi quy luật ấy. Bạn đọc và thời gian là trọng tài vô tư để thẩm định.
1- Trữ tình ngoại đề:
Để hiểu thêm về sự ra đời của thể thơ 1-2-3 mà nhà thơ Phan Hoàng “khai sinh” và “thử nghiệm” ta hãy bàn thêm về các thể thơ truyền thống của Việt Nam như lục bát, song thất lục bát và thể thơ Đường của Trung Quốc, thể thơ haiku của Nhật Bản để thấy sự ổn định và cách tân của nó như thế nào. Còn đối với thơ tự do, đặc biệt là phong trào Thơ mới (1932-1945) là sự phát triển có kế thừa theo trào lưu phương Tây và có Việt hóa. Các thể thơ Đường luật có: thất ngôn bát cú (có 8 câu, mỗi câu 7 từ); thất ngôn tứ tuyệt (có 4 câu, mỗi câu 7 từ); ngũ ngôn tứ tuyệt (có 4 câu, mỗi câu 5 từ); lục ngôn tứ tuyệt (có 4 câu, mỗi câu 6 từ). Thơ haiku của Nhật Bản (có 1 câu 17 từ), nhưng khi dịch sang một số tiếng nước ngoài và ở Việt Nam thì vẫn giữ nguyên 17 từ và được chia thành 3 dòng: dòng 1 có 5 từ, dòng 2 có 7 từ, dòng 3 có 5 từ).
Còn ở Việt Nam có thơ lục bát và song thất lục bát có luật bằng – trắc đã ổn định hơn hai trăm năm nay mà đỉnh cao của thơ lục bát là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và thơ song thất lục bát là “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn.
Với thể thơ thất ngôn bát cú và tứ tuyệt Đường luật đưa vào Việt Nam, ở thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã có sự cách tân trong “Quốc âm thi tập” (viết bằng chữ Nôm), một số bài thơ “thất ngôn” đã được ông cách tân bằng câu “lục ngôn” vào để tạo điểm nhấn. Ví dụ bài “Ba tiêu” (Cây chuối):
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm
Đầy buồng lạ, màu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu, gượng mở xem.
Hoặc bài “Tùng”, thơ thất ngôn liên hoàn, Nguyễn Trãi cũng đã xen 3 câu lục ngôn ở 3 đoạn:
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,
Một mình lạt thuở ba đông
Lâm tuyền ai rặng già làm khách
Tài đống lương cao ắt cả dùng.
Đống lương tài có mấy bằng mày
Nhà cả đòi phen chống khỏe thay
Cội rễ bền dời chẳng động
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.
Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày
Có thuốc trường sinh càng khỏe thay
Hổ phách phục linh nhìn mới biết
Dành còn để trợ dân này.
Những câu lục ngôn này xen vào những câu thất ngôn ở mỗi đoạn có người cho là hay, vì nó tạo cảm giác nhấn mạnh đề tài, chủ đề bài thơ. Nhưng cũng có người cho rằng đó là những “hạt sạn” không tuân theo luật hài âm của tiếng Việt, đọc lên thấy ngắc ngứ. Sự cách tân này của Nguyễn Trãi không được thi nhân đời sau tán thành nên sau một thời gian thì im hơi lặng tiếng, nhừng chố cho thể thơ “thất ngôn trường thiên” phát triển.
Về thể thơ độc đáo, ngắn nhất của thế giới thì có thơ haiku của Nhật Bản. Đây là một thể thơ của người Nhật có từ thế kỷ 16-17 và nhà thơ thiền Matsuo Basho (1644 –1694) là người khai sinh và đưa nó lên tầm cao mà cả thế giới đều yêu thích. Nội dung và triết lý của thơ haiku không nằm ở câu chữ mà ở sự tưởng tượng của chính người đọc. Người viết không miêu tả mà chỉ gợi. Nói như nhà thơ Chế Lan Viên: “Bài thơ anh làm một nửa mà thôi/ Còn một nửa để mùa thu làm lấy”. 17 từ trong bài haiku được chia làm 3 dòng, ứng với số lượng từ của các dòng là:
Dòng 1: Có 5 từ – Giới thiệu
Dòng 2: Có 7 từ – Tiếp tục ý dòng 1 và chuẩn bị cho dòng 3.
Dòng 3: Có 5 từ – Kết lại, không rõ ràng, mở ra suy nghĩ, cảm xúc cho người đọc ngân nga, lan tỏa.
Về tứ thơ: Thơ haiku khơi gợi cảm xúc một khoảnh khắc hiện tại bằng lối dùng “quý ngữ” (từ chỉ mùa trực tiếp hoặc gián tiếp theo cách biểu đạt tượng trưng). Ví dụ khi nói đến mùa xuân là phải có hoa anh đào; mùa hè phải nói đến chim đỗ quyên (con cuốc), hoặc tiếng ve; mùa thu phải có các hình ảnh như mùa sương, chiều thu, gió thu; mùa đông là phải có mưa giăng, áo tơi… Ví dụ bài thơ “Mùa thu”:
 Lệ tràn nóng hổi
 tan trên tay tóc mẹ
làn sương thu.
Dòng 1 giới thiệu tâm trạng nhân vật trữ tình.
Dòng 2 nâng lên một tầng nghĩa mới cụ thể.
Dòng 3 kết lại gợi lên không gian thời gian mùa thu.
Qua những hình ảnh tượng trưng ấy nhà thơ nhằm diễn tả tâm trạng nhân vật trữ tình ở các thời gian và không gian nhất định và luôn gắn con người với thế giới thiên nhiên.
Nói dông dài một chút để thấy rằng việc một thể thơ được khai sinh hay một sự cách tân nào đó đều phải được đa số người làm thơ, người yêu thơ thẩm định. Và phải có thời gian mới có thể “mặc định” nó. Đối với thể Thơ 1-2-3 – một thể thơ mới, cũng không nằm ngoài quy luật sàng lọc ấy.
2- Thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng:
Thể thơ 1-2-3 có luật lệ khá chặt chẽ như sau: Mỗi bài thơ là một chỉnh thể độc lập gồm 3 đoạn, 6 câu.
Đoạn 1 chỉ có 1 câu, tối đa 11 từ hoặc ít hơn, đồng thời cũng là tên bài thơ, nhằm tránh trùng lắp tên những bài thơ đã xuất hiện.
Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi câu tối đa 12 từ hoặc ít hơn.
Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi câu tối đa 13 từ hoặc ít hơn.
Chữ càng tinh lọc càng đa nghĩa càng giá trị.
Đề tài Thơ 1-2-3 hoàn toàn tự do, nội dung chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội tâm tác giả muốn biểu hiện.
Đặc biệt khuyến khích tính độc lập từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài, đồng thời giữa câu 1 và câu 6 có sự hô ứng để nội dung bài thơ chặt chẽ, thống nhất trong một không gian thẩm mỹ riêng biệt.
Không khuyến khích biến thể các loại thơ truyền thống: lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn… thành thơ 1-2-3.
Như vậy ta sẽ có bố cục sau:
Đoạn 1: 1 câu, tối đa 11 từ
Đoạn 2: 2 câu, mỗi câu tối đa 12 từ
Đoạn 3: 3 câu, mỗi câu tối đa 13 từ.
Các chữ số 1-2-3 tương ứng với cac số 11-12-13 ở ba đoạn giúp người làm thơ dễ nhớ để không bị sai luật. Còn việc “Không khuyến khích biến thể các loại thơ truyền thống: lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn… thành thơ 1-2-3” là nhằm làm cho thể thơ này có sự khác biệt mới lạ, không bị “tạp lai”. Việc câu 1 và câu 6 có sự hô-ứng giúp cho bài thơ có cấu tứ chặt chẽ về hình thức và nội dung, tránh đi xa đề.
Sự quan trọng của câu mở đầu và câu kết trong một bài thơ, nhà thơ Hữu Thỉnh nói: “Câu thơ mở đầu phải như một tiếng pháo nổ, và câu kết phải như một tiếng chuông ngân”. Ta có thể xem tiếng “pháo nổ” là câu 1và tiếng “chuông ngân” là câu 6 trong thơ 1-2-3. Đó chính là sự hô ứng sự gắn kết trong tứ thơ hoàn chỉnh theo một chủ đề nhất định, vừa kết lại vừa mở ra cho bạn đọc một chân trời mới.
Như vậy, ta thấy thơ 1-2-3 của nhà thơ Phan Hoàng có luật chặt chẽ về số câu, số chữ, nhưng không bị gò bó về vần. Tính nhạc hay tính họa do sự phối âm tài tình của mỗi nhà thơ tạo nên. Nhưng nếu muốn có bài thơ 1-2-3 hay rất cần có các yếu tố “thi tứ”, “thi ngôn”, “thi ảnh”, “thi nhạc” kết hợp hài hòa.
Nói về sự thống nhất về nội dung và hình thức của một bài thơ, nhà phê bình văn học người Nga Nicolai Eva đã viết: “Không một hình thức nào lại không chứa đựng nội dung, và không có nội dung nào nằm ngoài hình thức. Nếu ta phá bỏ hình thức là phá bỏ nội dung và ngược lại phá bỏ nội dung sẽ phá bỏ hình thức”. Thể thơ 1-2-3 của nhà thơ Phan Hoàng cũng theo quy luật này. Nó có cấu trúc chặt chẽ về mặt hình thức, nó là cái “áo mặc” cho nội dung, nhưng để diễn tả nội dung nó lại không bị cậu nệ về vần. Nghĩa là nó có “biên độ” rộng về nội dung và chặt về hình thức thể hiện.
Cho đến nay tôi đã đọc gần nghìn bài thơ 1-2-3 của một số bạn thấy đa số theo đúng luật thơ, nhưng một số bài theo tôi thì chỉ là thơ 6 câu thôi. Vì câu đầu và câu cuối không có sự hô-ứng để kết dính bài thơ, hoặc có bạn xen cả thơ lục bát vào cho êm tai nhưng lại phá hỏng bài thơ… Ngay thơ tứ tuyệt cũng vậy. Câu khai (câu 1- mở đề) và câu hợp (câu 4- kết bài) vừa có sự mở ra, đóng lại các ý và hướng tới trường liên tưởng cho người đọc người nghe. Vậy chúng ta có thể xem câu 1 và câu 6 của thơ 1-2-3 là những “thần cú” (câu thần), vô cùng quan trọng. Cảm thụ thẩm mỹ của người đọc được nâng lên mức cao hơn, hoàn chỉnh hơn chính là nhờ ở hai câu này. Và dĩ nhiên 4 câu 2,3,4,5 mỗi câu phải làm được mỗi nhiệm vụ riêng nhưng phải dính kết để làm sáng tứ thơ của bài thơ.
Ta hãy tìm hiểu kỹ hơn về một bài thơ 1-2-3 của nhà thơ Phan Hoàng. Anh cho biết: Trong một chyến đi du lịch ở nước Nga mùa thu năm 2018, khi máy bay dừng nghỉ ở Qatar bên vịnh Ba Tư, anh đã sáng tác chùm thơ, trong đó có bài “Từ những trang thơ cái đẹp gọi tên” theo thể thơ 1-2-3 được nhiều bạn đọc yêu thích:
Từ những trang thơ cái đẹp gọi tên
Đàn ngựa phi nước đại trong tuyết rơi rừng vắng
đột ngột dừng dựng bờm hí vang bến sông sâu
Trăng mờ ảo sau cơn mơ kỳ lạ
Moskva về khuya như thiếu phụ khát yêu thương
Tôi rót ly vodka nhớ Yesenin và những thi sĩ tha phương.
Bài thơ ngắn gọn mà nói được nhiều điều về vẻ đẹp của nước Nga hùng vĩ và lãng mạn.
Đoạn 1, tên bài thơ có 1 dòng 8 từ, tứ thơ nằm trong sự khái quát về vẻ đẹp nước Nga hiện lên trên những trang thơ.
Đoạn 2 có 2 dòng, mỗi dòng 10 từ vẽ lên cảnh thiên nhiên hùng vĩ  với hình ảnh tuyết rơi, rừng vắng, sông sâu, đàn ngựa hí… cho người đọc có thể tuởng tượng những trận chiến đã qua trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và thiên nhiên đầy huyền bí mang vẻ kiêu hùng.
Đoạn 3 có 3 dòng vẽ nên cảnh lãng mạn êm dịu về đêm của Moskva với ánh trăng mờ ảo trong tâm tưởng. Câu 6 – kết bài với 12 từ nói đến ly vodka và nhà thơ Yesenin – nhà thơ nổi tiếng về tình yêu và thiên nhiên của nước Nga và liên tưởng tới những nhà thơ “tha phương” khác đã góp phần làm nên vẻ đẹp ấy: “Tôi rót ly vodka nhớ Yesenin và những thi sĩ tha phương” có sự hô-ứng với câu một – tên bài thơ “Từ những trang thơ cái đẹp gọi tên”. Bài thơ rất giàu tính họa, tính nhạc tạo được những liên tưởng cho người đọc, khơi dậy  mỹ cảm. Đó chính là vẻ đẹp của nước Nga được hiện lên mà thơ ca đã đem lại, và như thế “cái đẹp đã gọi tên”. Sự hô-ứng giữa câu 1 và câu 6 bám sát tứ thơ: cái đẹp của nước Nga hiện lên trên những trang thơ.
Tôi ấn tượng nhiều với tập “Những đóa hoa khẽ hương” của nữ nhà thơ Bùi Thanh Hà với 122 bài thơ 1-2-3. Thơ của chị có sự kiệm lời mà ý dư ba, rất đúng quy định chặt chẽ của luật thơ 1-2-3. Và đặc biệt là các câu 1 và câu 6 rất hô-ứng, rất gắn kết. Chị không bị câu thúc bởi số từ ngữ tối đa của mỗi câu thơ. Phần lớn các bài thơ có nhiều câu thơ ngắn 2-3 chữ. Bài “Gió muốn nói gì cùng em” là một ví dụ nén năng lượng từ:
Gió muốn nói gì cùng em
Trong bóng đêm những vì sao lặn vào biển khát
Lặn vào mắt em
Gió vuốt ve làn tóc
Nơi đảo xa những chàng trai mở căng lồng ngực
Gửi gió về…
Đoạn 1 (câu 1): giới thiệu tứ thư Gió với tâm trạng nhân vật trữ tình là Em
Đoạn 2 (câu 2-3): Hình ảnh thiên nhiên: sao, bóng đêm… nằm trong mắt và tâm hồn nhân vật trữ tình với không gian rộng lớn (trời) và thời gian (đêm)
Đoạn 3 (3 câu): Sự liên tượng về Gió, về đảo xa, về nhưng chàng hải quân cường tráng bảo về biển đảo. Và câu kết (câu 6) chỉ 3 từ Gửi gió về có 3 dấu chấm lửng (…) sau câu gợi nên nhiều điều về Gió, về tâm trạng nhân vật trữ tình. Nó hô-ứng cùng câu 1 – Gió muốn nói gì cùng em.
Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ và nén năng lượng chữ để gợi ra nhiều điều cùng bạn đọc “đồng sáng tạo”.
Gần sáu năm thử nghiệm thể thơ này, tôi đã đọc gần nghìn bài thơ của nhiều tác giả Bắc Trung Nam, và đặc biệt được đọc các tập thơ  1-2-3 khá hay  tôi lại càng bị cuốn hút, từng bước thấy được những “chân trời mới” của thể thơ này đem lại. Đó là tập “Thủ thỉ phù sa” (xuất bản quý I/2022) của Nguyễn Đinh Văn Hiếu ở Trà Vinh, “Vọng núi” (quý I/2022) của Trần Nguyệt Ánh ở Đắk Lắk, “Những ký tự xê dịch” (quý II/2022) của Trần Thanh Dũng ở Sóc Trăng, “Lối sen sương” (quý II/2022) và “Ủ hồng bếp lửa” (8.2024) của Vũ Thanh Thủy từ Phú Thọ, “Phong hờ hơi ấm” (quý IV/2022) của Hoàng Hải Phương ở TPHCM, “Những cánh hoa mở đêm” (quý II/2023) của Phạm Thị Phương Thảo” ở Hà Nội, “Hoa rong mùa bấc” (12.2023) của Trần Nhã My ở Tây Ninh, “Những đóa hoa khẽ hương” (3.2024) của Bùi Thanh Hà ở Hà Nội, “Hãy nhìn vào mắt bão và tin lời đắng cay” (quý III/2024) của Tạ Hùng Việt ở Khánh Hòa, “Ban mai thơm mắt nắng” (10.2024) của Vũ Trần Anh Thư từ Hà Nội, tập “Vụn và lành” của Nguyễn Tiến Nên ở Quảng Bình (10.2024).
Ngoài ra, còn những sáng tác của nhiều tác giả khác như: Đoàn Hữu Nam, Hà Phi Phượng, Võ Văn Trường, Mai Bá Ấn, Trần Thế Vinh, Bình Địa Lộc, Thanh Trần, Đặng Tuyết, Đặng Tường Vy, Bảo Bình, Phạm Phương Lan, Bảo Ngọc, Cao Thanh Mai, Khang Quốc Ngọc, Nguyễn Trung Nguyên, Huỳnh Thị Quỳnh Nga, Trương Mỹ Ngọc, Nguyễn Hữu Thông, Hà Vinh Tâm, Vũ Tuyết Nhung, Lê Thanh Hùng, Mai Thìn, Nguyễn Doãn Việt, Đặng Toán, Đoàn Thị Diễm Thuyên, Đỗ Xuân Thu, Nguyễn Đức Bá, Trần Thị Hồng Anh, Đỗ Thu Hằng, Hoa Níp, Võ Hoàng Phương, Nguyễn Hồng Linh, Lê Đỗ Lan Anh, Huỳnh Khang, Vũ Hà, Võ Thị Như Mai, Trần Văn Chính, Trần Thu Hằng, Trần Huy Minh Phương, Trần Thuỳ Linh, Hồ Loan, Vũ Kim Liên, Đình Giao, Nguyên Trân, Giọt Thu, Hồ Xuân Đà, Đỗ Nguyên Thương, Đinh Hạ, Trần Thị Bảo Thư, Thanh Yến, Hà Nguyên, Lương Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Liên Tâm, Lê Văn Ri, Phạm Tuyết Hạnh, Lê Hải Kỳ, Đặng Văn Thắng, Lưu Minh Hải, Phan Minh Thoại, Trầm Thanh Tuấn, Nguyễn Thị Nguyệt Thu, Chu Minh, Thế Thanh, Lê Kim Phượng, Vũ Khắc Tĩnh, Phạm Thị Kim Khánh, Phan Thảo Hạnh, Lê Văn Hiếu, Nguyễn Quỳnh Anh, Lê Hương, Lê Kỳ Nam, Hoàng Thị Bích Hà, Phạm Thị Hồng Thu, Lê Thị Ngọc Nữ, Lê Tuyết Lan, Lê Phượng, Ben Oh, Lê Lệ Thủy, Quách Mộc Ngôn, Nguyễn Minh Ngọc Hà, Đặng Văn Thương, Phan Phương Loan, Võ Quốc Việt, Lâm Long Hồ, Nguyễn Thị Hằng, Hoài Thơ, Châu Mộng Thúy, Võ Văn Thọ, Võ Văn Hân, Nguyễn Duy Chung, Lương Sơn, Nguyễn Trọng Lĩnh, Lương Ngọc Đại, Hà Ngọc Yến, Quang Hoài, Ngô Mậu Tình, Giang Đăng, Tặng Vũ, Đào Nguyên, Hồng Nhạn, Trần Thị Thùy Vy, Trần Ngọc Tuyết, Trần Mai Ngân, Đào Tấn Trực, Huỳnh Thanh Liêm, Châm Võ, Phạm Hồng Soi, Nguyễn Lan Hương, Hạ Như Trần, Chử Lê Hoàng Điệp, Thiên Trúc, Nguyễn Đại Duẫn, Chiên Nguyễn, Lê Hoành Phò, Văn Luân, Nguyễn Thị Lai, Đào Nguyên, Nguyễn Tấn On, Nguyễn Trọng Văn, Từ Dạ Linh, Nguyễn Ngọc Hưng, Văn Diên, Nguyễn Thị Thanh Long, Đỗ Mạnh Hùng, Mai Xuân Thắng, Nguyễn Bá Hoà, Ngô Làm, Phạm Quỳnh Loan, Doãn Thuỵ Như, Doãn Minh Trịnh, Hà Nguyên, Vũ Lam Hiền, Khét, Mai Thanh Hằng, Đỗ Toàn Diện, Cao Ngọc Toản, Hồ Trung Chính, Thái Bảo – Dương Đỳnh, Tuấn Phạm, Trần Thị Kim Cúc, Hoàng Cẩm Thạch, Thanh Trắc Nguyễn Văn, Vương Xoan, Đoàn Hạnh, Dương Vũ, Nguyễn Đình Phê, Đăng Ngọc, Phạm Thế Chất, Nguyễn Ba, Đỗ Thu Yên, Lê Nguyên, Đỗ Quảng Hàn, Vương Thanh Lan, Sang Trương, Phan Duy, Niê A Dũng, Hoàng Trung Vũ, Mai Hân Hạnh, Bùi Thị Hiền, Nguyễn Thị Hoà, Trần Ngọc Sương,…
Đọc thơ 1-2-3 ta không thể đọc nhanh như đọc thơ lục bát hay thơ tự do mà phải đọc chậm để suy ngẫm. Những bài có “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) có những “tảng băng chìm” thì phải đọc ít nhất ba lần. Lần thứ nhất là đọc kiểu “bì phu” (sờ ngoài da) để nắm tổng thể bài thơ. Đọc lần thứ hai theo lối “cốt nhục” (đụng tới xương thịt bài thơ) để đi sâu một bước thu nhận những hình ảnh và sự liên tưởng theo trí tưởng tượng. Và đọc lần thứ ba với hình thức “hút tủy” để thấy được những gì là tinh túy nhất của bài thơ, đặc biệt những gì mới lạ mà tứ thơ đem lại. Cố nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã viết:
Túi nhà thơ có ba ngăn
Tứ, Từ, Tư đủ quanh năm tiêu xài.
Nghĩa là thơ trước hết phải có Tứ, rồi sau đó mới dùng Từ ngữ để biểu hiện, diễn đạt. Và bài thơ luôn phải có Tư (nội dung, tư tưởng tốt). Xin lấy ví dụ về bài thơ “Lối sen sương” trong số 154 bài thơ 1-2-3 của nhà thơ Vũ Thanh Thủy ở Phú Thọ (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) trong tập “Lối sen sương”:
Lối sen sương
Thuyền độc mộc rẽ lối sen sương nung ngân ngấn đợi
Ban mai ngan ngát gọi
Lứa hoa nào đượm hương
Người thưởng thức tinh thơm sảng khoái
Nhấp ngụm trà lắng đọng Việt Nam.
Tên bài thơ: Lối sen sương là một câu có 3 từ mang tính khái quát là chủ đề bài thơ. Đó là con đường là Lối đi tới hồ sen (đầm sen) từ lúc ban mai để dẫn người đọc tiếp tục khám phá ở những câu thơ tiếp. Nhân vật trữ tình ở đây là Sen, không gian mờ ảo, thời gian tinh mơ của một ngày qua hình ảnh Sương. Tên bài thơ rất gợi và mở trong một không gian và thời gian đa chiều mà Tứ thơ sẽ được khai triển.
Các câu 2-3-4-5 tứ thơ được diễn ngôn qua các hình ảnh và nhân vật trữ tình tạo nhiều liên tưởng: thuyền độc mộc, ban mai gọi, lửa hoa, người thưởng thức tinh thơm…Các từ láy “ngân ngấn”, “ngan ngát” cùng cách ngắt nhịp tạo thêm tính nhạc cho bài thơ. Người đọc có thể tưởng tượng ra cảnh vào buổi sớm tinh sương có người chèo thuyền độc mộc ra hồ sen lựa chọn từng búp sen vừa đủ độ chín cho hương nhụy đem về ướp “trà sen” để rồi người thưởng trà sẽ nhấp từng ngụm một trong mùi hương tinh thơm sảng khoái mà thấy được sự độc đáo của “liên trà” lắng đọng vẻ đẹp của con người và cảnh vật Việt Nam. Từ vẻ đẹp tao nhã này – một nét ẩm thực tuyệt vời từ xưa của người Việt Nam, ta có thể liên tưởng đến kiểu thưởng thức “trà đạo” rất đẹp và kỳ công của Nhật Bản và loại “Trảm mã trà” độc nhất vô nhị và có phần tàn nhẫn của vua chúa phong kiến Trung Hoa ngày xưa.
Câu kết “Nhấp ngụm trà lắng đọng Việt Nam” tạo được sự hô ứng với câu 1 “Lối sen sương” và làm nổi bật chủ đề, đề tài bài thơ là vẻ đẹp của Sen trong ẩm thực của người Việt Nam được nâng lên tầm văn hóa “liên trà”. Nhà thơ Phan Hoàng rất có lý khi nhận xét ở Lời giới thiệu tập thơ có 81 bài Thơ 1-2-3 này khá hay: “Sống cho mình, sống cho mọi người. Đó là bản lĩnh mà cũng là cánh cửa khai mở hành trình thơ nhiều chông gai và đầy thi hứng sáng tạo của Vũ Thanh Thủy với chiều sâu cảm thức văn hóa cội nguồn và nhân sinh”.
Ở tập thơ 1-2-3 “Vọng núi” với 154 bài của nhà giáo, nhà thơ Trần Nguyệt Ánh ở Đắk Lắk và tập “Thủ thỉ phù sa” gồm 111 bài của nhà giáo, nhà thơ trẻ Nguyễn Đinh Văn Hiếu ở Trà Vinh cùng nhiều tác giả khác mà tôi đã được đọc với nhiều bài hay, và sẽ có dịp đề cập đến ở một bài viết khác.
Thơ là “rượu được chưng cất”, là “con rồng thần thấy đầu chẳng thấy đuôi. Có khi trong mây chỉ ánh lên một cái vảy” (Văn tâm điêu long). Thơ 1-2-3 là thơ gợi những lời hay ý đẹp thật cô động được chắt lọc từ “quặng chữ” để có được miligam uraniom làm nên sự bùng nổ trong tâm tưởng người thưởng thức. Nhà thơ Phan Hoàng – người có công khởi xướng, khai sinh và thử nghiệm thể thơ mới này, góp phần làm giàu kho tàng thơ ca Việt đang được đông đảo bạn đọc đón nhận. Xin mượn lời anh để kết lại bài viết tản mạn này về một thể thơ mới mà mình yêu thích: “Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng đi tìm phương thức mới để biểu hiện bao giờ cũng rất khó, và càng khó hơn khi không dễ được bạn đọc tiếp nhận, chia sẻ. Chỉ có sự đam mê và dũng cảm mới giúp chúng ta tự tin tìm tòi, khám phá” (Lời giới thiệu tập thơ “Vọng núi”).
29/11/2024
Lê Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Văn học đồng hành cùng dân tộc và khát vọng của nhân dân

Văn học đồng hành cùng dân tộc
và khát vọng của nhân dân

Sau ngày 30.4.1975, chiến tranh chống Mỹ kết thúc và mở ra một chương mới trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Kể từ thời điểm này, cả nước tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, nỗ lực thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận và khủng hoảng kinh tế, đồng lòng bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Cùng với sự thống nhất chủ quyền và lãnh thổ, hai nền văn học tồn tại trong hai chính thể khác nhau đã thống nhất thành một thể, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Giờ đây, khát vọng “nối vòng tay lớn”, hoà hợp dân tộc sau những biến động dữ dội của lịch sử là khát vọng của hàng chục triệu người. Để biến khát vọng thành hiện thực, cần phải biết khép lại quá khứ trên tinh thần hoà giải, chia sẻ, thấu hiểu lẫn nhau. Nhưng khép lại không có nghĩa là lãng quên. Bởi để có được hoà bình, chúng ta đã phải trả giá bằng rất nhiều xương máu, mồ hôi và nước mắt. Đó là một sự thật lịch sử cần được tôn trọng.
1. Những thành tựu chủ yếu
Cùng với sự chuyển mình, phát triển mạnh mẽ của đất nước trong suốt 50 năm qua, văn học Việt Nam sau 1975 đã thu được nhiều thành tựu quan trọng.
Nhìn tổng thể, phần lớn đội ngũ cầm bút là những nghệ sĩ giàu lòng yêu nước, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, gắn bó máu thịt với tổ quốc và nhân dân. Nhiều nhà văn đã trải qua những giờ phút đối mặt với sinh tử, họ đến với hoà bình từ khói lửa của chiến tranh. Từ trong chiến tranh, họ luôn mang khát vọng hoà bình. Đó là những nghệ sĩ – chiến sĩ vượt lên mọi thử thách, hy sinh để “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”. Rồi chiến tranh đi qua, mang trong mình những chấn thương dai dẳng, họ vẫn tiếp tục cầm bút. Không chỉ các nhà văn trong nước mà nhiều nhà văn người Việt ở nước ngoài cũng thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc bằng những trang viết nặng tình quê hương, xứ sở.
Khác với văn học 1945 – 1975, văn học Việt Nam sau 1975 tồn tại và phát triển trong một bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội mới. Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu, toàn cầu hoá và kinh tế thị trường, sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, internet và truyền thông hiện đại đã tạo nên khuôn diện mới của thời đương đại. Đây là những yếu tố tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, văn hoá và văn học Việt Nam.
Trong lĩnh vực sáng tác, sự đổi mới văn học bắt đầu từ sự tìm kiếm một ý thức mỹ học mới. Mỹ học thời chiến đã được thay thế bởi mỹ học thời bình, cái nhìn sử thi đã dần nhường chỗ cho cái nhìn thế sự – đời tư. Từ giã “một thời lãng mạn”, nhà văn Nguyễn Khải nói lên tâm thế sáng tạo của nhiều nhà văn đương đại: “Tôi thích cái hôm nay, cái ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”. Cái “hôm nay” chính là thứ thực tại đang chuyển động, chưa bao giờ hoàn kết. Những quy phạm nghệ thuật cũ, những nhận thức cũ cần phải được thay thế bằng cái nhìn mới để thích ứng với sự chuyển động của thực tiễn. Kinh tế thị trường, đô thị hoá và nhịp sống đương đại đã cuốn con người vào vòng xoáy khốc liệt của nó, làm đảo lộn nhiều giá trị khiến không ít người đánh mất bản lĩnh, chạy theo lối sống thực dụng, sùng bái vật chất, vô cảm trước nỗi đau đồng loại. Con người dường như trở nên cô đơn hơn và luôn thấy mình bất an trước vô vàn mối quan hệ phức tạp, khó lường của thời hậu chiến.
Những biến động này đã được nhiều cây bút nhạy bén nhất của văn học Việt Nam như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng… miêu tả một cách sắc nét vào những năm đầu thập kỷ 80. Bắt đầu từ 1986, với tinh thần “nhìn thẳng sự thật”, “nói thẳng sự thật”, nhiều cây bút đã thực hiện hàng loạt truy vấn, đối thoại trong trang viết của mình. Cao trào Đổi mới văn học diễn ra vào giữa thập niên 80 và tiếp tục được mở rộng về sau đã chứng kiến sự xuất hiện của một đội ngũ cầm bút tài năng. Về văn xuôi là Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Lê Minh Khuê, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương… Về thơ là Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Trần Anh Thái, Inrasara… Về kịch là Lưu Quang Vũ, Xuân Trình… Trong môi trường dân chủ xã hội được mở rộng, tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng, văn học sau 1975 đã cố gắng miêu tả đời sống trong tính đa chiều với nhiều cách tân nghệ thuật táo bạo. Nhờ đó, văn học Việt Nam đương đại đa dạng về khuynh hướng và bút pháp, phong phú về phong cách và giọng điệu nghệ thuật. Người đọc bắt gặp trong văn học đương đại sự hiện diện của nhiều loại hình diễn ngôn nghệ thuật như diễn ngôn chấn thương, diễn ngôn sinh thái, diễn ngôn đô thị, diễn ngôn lịch sử…
Bên cạnh văn học dòng chính/ trung tâm là sự sôi động của văn học dòng phụ/ ngoại vi. Hình thức xuất bản và truyền bá văn học cũng hết sức đa dạng với loại hình xuất bản truyền thống/ chính ngạch và xuất bản phi truyền thống (internet)/ tiểu ngạch… Việc đẩy mạnh giao lưu văn hoá quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ truyền thông hiện đại đã mở rộng cánh cửa cho nhiều trào lưu tư tưởng, văn hoá, nghệ thuật hiện đại, hậu hiện đại của thế giới thâm nhập vào hệ sinh thái nghệ thuật Việt Nam, góp phần kích hoạt sự phiêu lưu sáng tạo của nghệ sĩ, đặc biệt là những cây bút ưa tìm tòi, thể nghiệm. Đáng chú ý là một số cây bút xuất sắc đã nhận được nhiều giải thưởng văn học quốc tế có uy tín. Thực tế ấy đặt ra một phân vân: phải chăng văn học Việt Nam đã xuất hiện những đỉnh cao nghệ thuật (dù hiếm hoi) nhưng chúng ta chưa nhận thấy hết giá trị đích thực và tầm vóc mĩ học toát lên từ những tác phẩm này?
Trong lĩnh vực lý luận, phê bình, ý thức đổi mới tư duy nghiên cứu và nỗ lực hiện đại hoá lý luận, phê bình đã giúp cho đời sống lý luận, phê bình có nhiều khởi sắc. Sự thay đổi nhãn quan khoa học, việc mở rộng tiêu chí đánh giá giá trị trên nền tảng nhân văn hiện đại đã giúp cho lý luận, phê bình dần thoát khỏi lối phê bình áp đặt, máy móc, giáo điều. Về tổng thể, lý luận, phê bình văn học Việt Nam đương đại lấy mỹ học marxist, đường lối văn nghệ của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, đồng thời chú trọng việc mở rộng biên độ nghiên cứu và phương thức tiếp cận trên cơ sở kế thừa tinh hoa văn hoá dân tộc và những thành tựu khoa học xã hội và nhân văn hiện đại của thế giới. Từ sau 1975, nhiều tư tưởng mỹ học và lý thuyết văn học hiện đại của phương Tây đã được dịch, giới thiệu, vận dụng một cách hiệu quả như thi pháp học, tự sự học, cấu trúc luận, ký hiệu học, nữ quyền luận, phê bình sinh thái, lý thuyết diễn ngôn… Đây là những cú hích quan trọng để lý luận, phê bình văn học sau 1975, đặc biệt từ Đổi mới đến nay có sự đổi mới thực sự, từng bước hội nhập với trình độ nghiên cứu văn học của khu vực và quốc tế.
2. Hạn chế, bất cập
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã nói ở trên, đời sống văn học Việt Nam sau 1975 vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Vì sao đã 50 năm trôi qua tính từ 1975, văn học Việt Nam vẫn quá hiếm những đỉnh cao nghệ thuật? Đây là nỗi băn khoăn, trăn trở của rất nhiều bạn đọc. Ở đây, xin được nói đến một số hạn chế, bất cập cơ bản trong văn học đương đại như sau:
Thứ nhất, thiếu tương xứng giữa lượng và chất: Số lượng xuất bản phẩm văn học, cả sáng tác và lý luận, phê bình từ sau 1975 là vô cùng phong phú về chủng loại nhưng còn khiêm tốn về chất lượng. Đây là một thực tế cần được tìm hiểu, phân tích thấu đáo. Điều đáng nói là việc chúng ta chưa tạo được nhiều sản phẩm nghệ thuật ưu tú, những “bách khoa thư” đồ sộ đủ sức tái hiện một cách sinh động số phận và khát vọng của dân tộc trong tính sâu sắc, rộng lớn và kỳ vĩ. Vẫn còn không ít nhà văn quá say mê với cái tôi riêng tư nhỏ hẹp hoặc chạy theo những thời thượng nghệ thuật mà chưa dấn thân một cách quyết liệt để chạm tới lõi sâu của lịch sử, văn hoá và khát vọng của dân tộc để tạo nên những tác phẩm cao về tư tưởng, sâu về nghệ thuật. Còn quá ít nhà văn đủ sức mở ra những chiều kích mỹ học mới mẻ, hiện đại. Việc phản biện, phê phán thói hư tật xấu trong xã hội, tệ tham nhũng, sự tha hoá và thói vô cảm của con người nhằm cảnh báo sự xuống cấp về đạo đức, lối sống là hết sức cần thiết, nhưng cũng không được xem nhẹ sứ mệnh của văn học là khơi thức tinh thần hướng thiện, lối sống cao đẹp, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng trên tầm nhìn nhân văn hiện đại. Đây là những yêu cầu rất cao mà bạn đọc cần đến sự mẫn cảm và tài năng sáng tạo của nhà văn.
Thứ hai, mặt trái của kinh tế thị trường và sự phân hoá, biến đổi trong thị hiếu tiếp nhận có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn học. Mặt tích cực của kinh tế thị trường là giải phóng sức sáng tạo, hình thành thị trường văn học và tạo ra không gian mới cho phép sự xuất hiện của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau. Mặt trái của nó là “dung dưỡng” cho khuynh hướng thương mại hoá và tạo môi trường cho văn học giải trí có điều kiện bùng nổ như nấm sau mưa. Phê bình cánh hẩu, thù tạc hay PR tác phẩm một cách dễ dãi cũng chính là biểu hiện của tình trạng thương mại hoá trong lĩnh vực phê bình. Trong trường hợp này, nhà phê bình tự đánh mất vai trò “ngự sử” của mình và góp phần tạo nên sự loạn chuẩn, lệch chuẩn trong đánh giá và thưởng thức nghệ thuật. Rộng hơn, kinh tế thị trường và sự phát triển vũ bão của văn hoá đại chúng cũng là nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm của văn hoá và văn học tinh hoa. Đây là một thực tế đòi hỏi chúng ta phải có những điều chỉnh khoa học để đưa ra chiến lược phát triển văn học, nghệ thuật đương đại hợp lý, khả thi.
Thứ ba, việc tiếp thu ảnh hưởng văn học, nghệ thuật hiện đại của thế giới là vô cùng cần thiết để văn học Việt Nam nhanh chóng hội nhập với văn học nhân loại. Tuy nhiên cần tránh cực đoan trong tiếp nhận, tránh rơi vào tình trạng sính ngoại mù quáng. Cũng không vì ý thức phản tư hoặc nhân danh ảnh hưởng nghệ thuật hậu hiện đại để xuyên tạc và giải thiêng lịch sử một cách tuỳ hứng vì về bản chất, những giá trị đích thực sẽ không thể giải thiêng bằng những lý do ngoài nghệ thuật. Giải thiêng cần được hiểu như là một phương diện của chủ nghĩa nhân văn hiện đại để “người gần người hơn”. Một số cây bút, bất chấp sự khác biệt văn hoá đã miêu tả đời sống một cách quá mức tục tĩu, hoặc do nhìn nhận đời sống một cách méo mó đã viết nên những trang viết sống sượng khiến độc giả phản ứng gay gắt. Thiết nghĩ, đây cũng là bài học kinh nghiệm trong giao lưu văn hoá. Bản lĩnh của nhà văn trong tiếp nhận tinh hoa văn hoá dân tộc nhân loại là chủ động tích hợp để chuyển hoá thành năng lượng sáng tạo, từ đó kiến tạo diễn ngôn nghệ thuật độc đáo đủ sức chinh phục người đọc.
3. Một số giải pháp phát triển văn học
Về quan điểm và phương châm phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại, dân chủ, nhân văn, giàu bản sắc dân tộc chúng tôi cho rằng Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã xác định rất cụ thể và sát đúng với thực tiễn văn học, nghệ thuật đương đại. Ở đây, xin được nêu lên ba nhóm giải pháp cơ bản để chúng ta cùng thảo luận như sau:
Thứ nhất, nhân tố quan trọng nhất quyết định tầm vóc của một nền văn học là tài năng, tâm huyết của người cầm bút. Vì sao đã 50 năm trôi qua, chúng ta vẫn ít có những kết tinh nghệ thuật xứng tầm kiệt tác? Văn học Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ văn học thế giới? Đó là những câu hỏi và cũng là kỳ vọng đặt ra cho tất cả chúng ta, trước hết là cho nhà văn. Chúng ta phải làm gì để tạo điều kiện tối đa nhằm giải phóng triệt để cá tính sáng tạo và tiềm năng sáng tạo của nhà văn? Rõ ràng, một không gian tinh thần rộng mở, một cái nhìn khoáng đạt trong nhìn nhận, đánh giá sẽ giúp cho nhà văn “tự cởi trói” để tự do phiêu lưu trong trong sáng tạo nghệ thuật. Muốn mới, lạ nhà văn phải vượt lên cái cũ để nhìn nhận đời sống từ mỹ học của cái khác. Hơn nữa, trong đời sống nghệ thuật đương đại, cần nhìn thấy rõ hơn sự tương tác giữa viết và đọc, giữa sáng tạo và tiếp nhận vì tiếp nhận cũng cần đến sự đổi mới về trình độ thưởng lãm nghệ thuật để nhận thấy và mở lòng trước những cách tân. Đúng hơn, nhà văn lớn cần đến người đọc lớn, và người đọc lớn đòi hỏi phải có nhà văn lớn tương ứng. Đó là chiều sâu của tư duy đối thoại và sự vận hành của đời sống văn học, nghệ thuật đương đại. Gần đây, với sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo, không ít người lo lắng AI có thể thay thế công việc của nhà văn. Xin thưa, AI không bao giờ thay thế được nhà văn bởi văn chương là câu chuyện của tâm hồn, cá tính và phong cách. Cho dù rất thông minh, nhưng AI không thể có những thổn thức, những nỗi đau, niềm hạnh phúc và sự “mê sảng tinh thần” như A. Pushkin từng nói về quá trình sáng tạo và sự tận hiến trong nghệ thuật của nhà văn.
Thứ hai, tăng cường mở rộng giao lưu văn hoá quốc tế để mạnh đẩy mạnh hơn nữa tiến trình hội nhập, đưa văn học Việt Nam nhanh chóng bắt kịp tư duy, nhịp điệu của nghệ thuật hiện đại thế giới. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy giao lưu văn hoá là con đường hiệu quả để hiện đại hoá văn học. Tuy nhiên tiếp nhận văn hoá nhân loại khác với mô phỏng, bắt chước một cách thụ động. Cần phải hình thành bộ lọc văn hoá chủ động, tiếp nhận một cách hợp lý, gắn tiếp nhận với tiếp biến, từ đó mở ra những sinh lộ sáng tạo mới. Trong giao lưu văn hoá, cần chú ý thích đáng đến sự kết hợp giữa nhân tố nội sinh và nhân tố ngoại sinh, giữa truyền thống và hiện đại để tránh rơi vào tình trạng cực đoan, thậm chí hư vô trong sáng tạo nghệ thuật. Đây là bài toán nan giải, cần đến bản lĩnh và cách ứng xử thông minh của nhà văn trong thực hành nghệ thuật.
Thứ ba, đẩy mạnh sự phát triển của lý luận, phê bình văn học vì lý luận, phê bình chính là sự tự ý thức của văn học về chính nó. Một mặt, lý luận, phê bình văn học phải nhanh chóng cập nhật trình độ nghiên cứu hiện đại của thế giới, phải tích cực đổi mới phương pháp nghiên cứu, vừa chú trọng phát triển nghiên cứu chuyên ngành, vừa mở rộng nghiên cứu liên ngành. Mặt khác, cần đẩy mạnh nghiên cứu, bổ sung, phát triển di sản lý luận, phê bình marxist và mỹ học truyền thống nhằm tạo nên sự tích hợp các nguồn năng lượng tri thức văn hoá. Để có được sự phát triển đúng đắn, lành mạnh, văn học đương đại cần đến một đội ngũ quản lý văn học, nghệ thuật tinh thông nghề nghiệp, xứng đáng là “bà đỡ” cho những giá trị nghệ thuật mới ra đời. Cần coi đây là một phương diện quan trọng liên quan đến tính hiệu quả của thiết chế văn hoá, nghệ thuật nhằm tạo dựng hành lang tư tưởng khoáng đạt, đủ sức kích hoạt tối đa năng lượng sáng tạo của nhà văn, đồng thời phát hiện, bồi dưỡng những tài năng văn học mới của tương lai.
30/11/2024
Nguyễn Đăng Điệp
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thành tựu của văn học Việt Nam sau 1975: Nhìn từ việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây hiện đại

Thành tựu của văn học Việt Nam
sau 1975: Nhìn từ việc tiếp nhận
lý thuyết phương Tây hiện đại

Với những gì chúng tôi đã khảo sát và minh chứng ở trên trong lĩnh vực lý luận phê bình và sáng tác văn học nhìn từ việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây, có thể xác quyết rằng văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay đã thu được những thành tựu đáng khích lệ. Đó là điều không thể phủ nhận. Tuy vậy, nền văn học nước nhà không phải, không còn những hạn chế, thậm chí những “khuyết tật” mà nếu chúng ta không tỉnh táo nhìn nhận một cách khách quan công bằng và khoa học thì sẽ gặp rất nhiều trở lực trong xu hướng hội nhập và phát triển của thời kỳ tòan cầu hóa.
1. Mở:
Không phải ngẫu nhiên, trong ‘Thi nhân Việt Nam”, mở đầu tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”, Hoài Thanh đã xác quyết: “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ” . Trong cuộc biến thiên ấy, có sự biến thiên của đời sống văn học cả về sáng tác và lý luận phê bình. Kết quả đã hình thành đội ngũ những nhà văn, nhà lý luận – phê bình mà tên tuổi và trước tác của họ được tôn vinh như những nhà khai sáng của nền văn học dân tộc, đến nay hào quang vẫn còn lấp lánh trên văn đàn. Đó là các nhà văn: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo trong Tự lực Văn đoàn; Các nhà văn hiện thực: Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan; Các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới: Phan Khôi, Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Yến Lan, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính, Vũ Đình Liên,… Và các nhà lý luận phê bình: Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu, Đặng Thai Mai, Trần Thanh Mại, Kiều Thanh Quế… Vì vậy, nhận định về ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với xã hội Việt Nam, trong đó có văn nghệ, Phạm Văn Đồng cho rằng: “Trong khoảng thời gian dưới chế độ thực dân Pháp, dân tộc ta đã tiếp thụ và vận dụng những thành tựu của văn hóa văn minh phương Tây, một thành tựu nổi bật là sự ra đời của chữ quốc ngữ chữ viết của dân tộc ta ngày nay. Những phong trào văn hóa đa dạng trong những thập niên đầu thế kỷ XX, với sự đổi mới rõ rệt và sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực văn học nghệ thuật, phong hóa và lối sống, một lần nữa chứng tỏ sự nhạy cảm và khả năng thâu hóa của dân tộc ta đối với những trào lưu văn hóa từ bên ngoài” . Như vậy, trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc, sự gặp gỡ văn hóa phương Tây, trong đó có việc tiếp nhận các học thuyết lý luận phê bình văn học những năm đầu thế kỷ XX đã mở ra bước ngoặt quan trọng và cần thiết như một tất yếu cho việc hiện đại hóa nền văn học nước nhà, hội nhập vào văn học thế giới.
Như thế, việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây hiện đại vào đời sống văn học Việt Nam, không phải là một vấn đề mới lạ mà đã có tiền lệ, đã góp phần tạo nên thành tựu cho nền văn học nước nhà. Song, từ sau năm 1945 đến trước 1986, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc tiếp nhận văn hóa phương Tây, trong đó có các lý thuyết văn học hiện đại như: Phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận, cấu trúc luận, phong cách học, mỹ học tiếp nhận, nữ quyền luận… gần như bị đứt gãy. Thậm chí, do quan niệm hạn chế trong giai đoạn này, các trường phái lý luận – phê bình văn học phương Tây đều bị cho là “suy đồi”, “phản động”, từ đó dẫn đến tình trạng kỳ thị, xem thường lý thuyết phương Tây và những sáng tác văn học chịu ảnh hưởng hệ giá trị của văn hóa phương Tây như phong trào Thơ mới, Tự lực Văn đoàn trong văn học giai đoạn 1930 -1945 hay Văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975. Không những thế, chúng ta còn độc tôn vai trò của lý luận – phê bình Mác xít và các sáng tác văn học viết theo hệ mỹ học Mác Lênin, làm cho đời sống văn học hơi đơn điệu, thậm chí khác biệt so với văn học thế giới. Đây là thiệt thòi, đáng tiếc cho nền văn học nước nhà. Bởi lẽ, việc độc tôn bất cứ một khuynh hướng sáng tác hay lý luận – phê bình nào cho dẫu đó là khuynh hướng lý thuyết được xây dựng trên cơ sở những hệ tư tưởng mỹ học “tiên tiến” nhất, bản thân nó cũng không thể luận giải hết những vấn đề đặt ra trong đời sống văn học. Nói như Tam Ích nếu “nhắm mắt lại mà áp dụng các giáo điều thì đều mắc phải bệnh ấu trĩ cho nhà sáng tác. Rồi đến ấu trĩ cho nhà phê bình cũng theo những nguyên tắc có sẵn mà nói, và ấu trĩ luôn cho độc giả”. Tâm thức này cũng đã trở thành quán tính trong tư duy sáng tác và lý luận phê bình văn học của nước ta trong thập niên đầu của đất nước thống nhất từ 1975 đến 1986.
Nhưng từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã khởi xướng từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, cùng với một quyết tâm chính trị đầy phẩm tính hiện sinh “Đổi mới hay là chết”, các vị lãnh đạo của Đảng lúc ấy đã thổi vào đời sống dân tộc, trong đó có văn học luồng sinh khí mới. Đất nước mở cửa, vươn ra thế giới, hòa nhập cùng nhân loại, khép lại “khung cửa hẹp” làm cản trở sự phát triển của đất nước trong thời gian dài trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là vận hội vô cùng thuận lợi, mở ra cho sáng tác và lý luận – phê bình văn học những chân trời mới trong việc tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó có lý thuyết văn học phương Tây, từ đó hòa nhập vào trào lưu chung của văn học thế giới. Và đây là dấu ấn quan trọng nhất minh chứng cho những thành tựu của nền văn học nước nhà từ sau 1975 đến nay trên hai bình diện lý luận phê bình và sáng tác văn học.
2. Dấu ấn lý thuyết phương Tây – Thành tựu của lý luận phê bình văn học từ 1975 đến nay
Khảo sát đời sống lý luận – phê bình văn học Việt Nam sau 1975, rõ nhất là văn học thời kỳ đổi mới, ta thấy bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa lý luận – phê bình văn học phương Đông vốn đã có tiền đề từ trước trong nền văn học trung đại và luôn được duy trì trong nền văn học dân tộc, diện mạo đời sống văn học nói chung và lý luận – phê bình văn học nói riêng đã có những bước phát triển, phong phú, đa dạng, trong đó có thành tựu của việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây được thể hiện qua các công trình dịch thuật, giới thiệu và ứng dụng các khuynh hướng lý luận – phê bình hiện đại của phương Tây vào nghiên cứu các hiện tượng văn học mà trước kia với nhiều lý do chúng ta chưa có điều kiện nghiên cứu. Đó là những công trình dịch thuật nhằm truyền bá các trường phái triết mỹ phương Tây để làm công cụ giúp các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình có cơ sở lý thuyết khám phá các hiện tượng văn học từ nhiều điểm nhìn khác nhau như: Alain Robbe – Grillet và sự đổi mới tiểu thuyết, Lê Phong Tuyết dịch (1993); Phê bình văn học Pháp thế kỉ XX, Lộc Phương Thủy chủ biên (1995); Octavio Paz: Thơ văn và tiểu luận, Nguyễn Trung Đức dịch (1998); M.Kundera: Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch (1998), J. P.Sartre: Văn học là gì, Nguyên Ngọc dịch (1999); M.Kundera: Tiểu luận, Nguyên Ngọc dịch (2000); Chủ nghĩa cấu trúc và thuyết hiện sinh, Trần Thiện Đạo (2001); Văn học phi lí, Nguyễn Văn Dân dịch (2001); Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Trịnh Bá Đĩnh dịch (2002); Phê bình lý luận văn học Anh – Mỹ, Lê Huy Bắc chủ biên (2002); Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lý thuyết, Nhiều tác giả (2003); Ngôn ngữ bị lãng quên của Erich Fromm, Lê Tịnh dịch (2002); Phân tâm học và văn học nghệ thuật (2000), Phân tâm học và văn hóa tâm linh (2002), Phân tâm học và tình yêu (2003) do Đỗ Lai Thúy biên soạn; J.M. Lotman: Cấu trúc văn bản nghệ thuật do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch (2004); Kate Hamburger: Logic học về các thể loại văn học do Trần Ngọc Vương và Vũ Hoàng Địch dịch (2004); Luận bàn về văn minh của Sigmud Freud do Trần Khang dịch (2005); Bản mệnh lý thuyết do Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào dịch (2006); Lý luận phê bình văn học thế giới Thế kỷ XX (2 tập) do Lộc Phương Thủy chủ biên (2007); Lý luận văn học của R.Wellek và A.Warren do Nguyễn Mạnh Cường dịch (2009); Văn chương lâm nguy của Todorov do Trần Huyền Sâm, Đan Thanh dịch (2013); Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại Lê Nguyên Cẩn dịch của L. Petrescu (2013); Văn học và cái ác của R. Barthes do Ngân Xuyên dịch (2013) ; Kafka vì một nền văn học thiểu số của Gilies Deleuze và Félix Guattari do Nguyễn Thị Từ Huy dịch (2013); Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản của J. P. Sartre do Đỗ Hồng Phúc dịch (2015); Cái Tôi và Cái Nó của Sigmud Freud do Thân Thị Mận dịch (2015); Sâu xa hơn nguyên tắc không đổi của Sigmud Freud do Thân Thị Mận dịch (2016); Đọc truyện ngắn của Daniel Grojnowski do Trần Hinh và Phùng Kiên dịch (2017); Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật của Denis Diderot do Phùng Văn Tửu dịch (2017); Chủ nghĩa hiện sinh – Dẫn luận ngắn của Thomas Flynn do Đinh Hồng Phúc dịch (2018); Về giấc mơ và diễn giải giấc mơ của Sigmud Freud do Ngụy Hữu Tâm dịch (2019); Những cuộc hội ngộ  của văn chương thế giới (Văn học so sánh: nghiên cứu và dịch thuật), Khoa văn Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2019); Nhập môn lý thuyết văn học của Jonathan Culler do Phạm Phương Chi dịch (2020)…
Ngoài việc dịch thuật các trường phái lý thuyết phương Tây hiện đại, các nhà lý luận phê bình văn học còn nghiên cứu ứng dụng hệ hình tư duy lý thuyết này để giải mã các hiện tượng văn học, từ đó hình thành các khuynh hướng lý luận phê bình tạo nên sự đa dạng cho đời sống lý luận phê bình văn học dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Đó là các công trình nghiên cứu và ứng dụng Phân tâm học như: Mắt thơ (1992), Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999), Chân trời có người bay (2002), Bút pháp của ham muốn, (2009), Phê bình con vật lưỡng thê ấy (2010)… của Đỗ Lai Thúy; “Nhân vật tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh nhìn từ Phân tâm học”, luận văn của Trần Sâm, (2007); Học thuyết S. Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam, (2008) của Trần Thanh Hà; “Tác phẩm Hàn Mặc Tử dưới lăng kính phê bình cổ mẫu”, luận văn của Nguyễn Hoàng Khánh Chi (2010); Phân tâm học và phê bình văn học của Liễu Trương (2011); “Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết phân tâm học của Gaston Bachelard” luận văn của Chung Tú Quỳnh (2022)… Đặc biệt công trình Phân tâm học với văn học do Hồ Thế Hà, Nguyễn Thành (chủ biên) với 43 bài viết luận giải các hiện tượng văn học từ học thuyết phân tâm học (2014) là công trình mang tính tổng kết về việc ứng dụng phân tâm học vào nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt Nam trong 30 năm đổi mới (1986-2016).
Cùng với khuynh hướng lý luận phê bình phân tâm học, một khuynh hướng lý thuyết khác của phương Tây cũng được các nhà lý luận phê bình ứng dụng trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học, đó là chủ nghĩa hiện sinh với các công trình như: “Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam trước năm 1975”, luận án của Nguyễn Phúc (1995); “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay” của Nguyễn Thị Thanh Nga (2006); “Chủ nghĩa Hiện sinh ở Miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên bình diện lý thuyết)” của Huỳnh Như Phương, Nghiên cứu Văn học số 9 (2008); “Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, của Nguyễn Thành Thi Nghiên cứu Văn học, số 5 (2010); “Cảm thức hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”, luận văn của Lê Thị Hiền (2011); “Tâm thức hiện sinh trong tác phẩm của Franz Kafka”, luận văn  của Lê Doãn Hệ (2011); “Ám ảnh hiện sinh trong tiểu thuyết nhà văn Thuận” của Hoàng Thanh Hương, Nhà văn, số 11(2012); “Nhân vật mang tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương”, luận văn của Đinh Văn Điệp, (2014); “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”, luận văn của Phạm Thị Thắm (2015); “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam đương đại” của Nguyễn Thái Hoàng, luận án  (2016); “Cảm thức hiện sinh trong văn xuôi Dương Nghiễm Mậu, luận văn của Đinh Thị Oanh (2020); “Cảm thức hiện sinh trong thơ Hoài Khanh”, luận văn của Bùi Quang Khải (2021); “Dấu ấn hiện sinh trong sáng tác của Nguyên Minh”, luận văn của Trần Phạm Thanh Thanh (2023); “Dấu ấn hiện sinh trong sáng tác của Trần Thị NgH”, luận văn của Nguyễn Mạnh Tuyên (2024)… và một số bài viết về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở các công trình: Đi tìm ẩn ngữ văn chương (2017), Đi tìm mỹ cảm văn chương (2020), Đi tìm thanh âm đồng vọng (2023) của Trần Hoài Anh.
Một khuynh hướng lý thuyết phương Tây khác cũng hiện diện khá nhiều trong đời sống lý luận phê bình văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay là Mỹ học tiếp nhận. Ta có thể tri nhận điều này qua những công trình như: Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1988); Tác phẩm văn học như một quá trình (2004) của Trương Đăng Dung; Văn học, sáng tạo và tiếp nhận của Lê Thành Nghị (2003); Việt Nam và phương Tây – tiếp nhận giao thoa trong văn học của Đặng Anh Đào (2007); Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài – kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại của La Khắc Hòa, Lộc Phương Thủy, Huỳnh Như Phương (đồng chủ biên) (2015); Văn học Việt Nam hiện đại sáng tạo và tiếp nhận của Bích Thu (2015); Mỹ học tiếp nhận văn học ở Việt Nam- Một cái nhìn lịch sử do Trần Thái Học chủ biên (2016); “Tác phẩm Nguyễn Du ở miền Nam 1954 – 1975 nhìn từ lý thuyết tiếp nhận”, luận văn của Đỗ Thị Thương (2016); “Tiếp nhận thơ Bùi Giáng từ 1954 đến nay” luận văn của Hồ Thị Giáng Thu (2016); “Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực Văn đoàn ở miền Nam (1954-1975)” của Đặng Thị Hồng Mai (2016); “Tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 nhìn từ các khuynh hướng phê bình”, luận văn của Nguyễn Ngọc Nam (2024)…
Ngoài những khuynh hướng lý thuyết phương Tây hiện đại được các nhà nghiên cứu quan tâm như đã nói ở trên, một khuynh hướng khác có sức hấp dẫn đời sống văn học nước nhà từ sau 1975, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới là chủ nghĩa hậu hiện đại. Cho dù đang còn có những điều cần thảo luận với nhiều quan điểm khác nhau nhưng chủ nghĩa hậu hiện đại cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu qua các công trình: Lã Nguyên với “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài”, Nghiên cứu Văn học, số 12 (2007); Lý thuyết văn học hậu hiện đại của Phương Lựu (2011); Văn học hậu hiện đại – lý thuyết và tiếp nhận của Lê Huy Bắc (2012); Văn học hậu hiện đại – diễn giải và tiếp nhận của Nguyễn Thành, Hồ Thế Hà Nguyễn Hồng Dũng chủ biên (2013); Văn học hậu hiện đại: lý thuyết và tiếp nhận của Lê Huy Bắc (2017)… Qua những công trình này, vấn đề có hay không khuynh hướng văn học hậu hiện đại ở Việt Nam cũng được các nhà nghiên cứu đặt ra và luận giải trên những cơ sở lý thuyết mang tính khai mở nhưng là điều cần thiết nếu chúng ta xem sự hội nhập với thế giới để phát triển là một tất yếu. Bởi, nói như Phương Lựu: “Trong thời buổi toàn cầu hóa này, việc sử dụng những từ ngữ khái niệm lý luận văn học phương Tây là rất bình thường, nếu không muốn nói là hiển nhiên”.
Cùng với chủ nghĩa hậu hiện đại, lý thuyết văn học so sánh cũng đã xuất hiện hàng loạt công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng góp phần định hình cơ sở luận lý cho bộ môn văn học này. Đó là các công trình như: Dẫn luận văn học so sánh của Trần Thanh Đạm (1995); Những vấn đề lý luận của văn học so sánh (1995), Lý luận văn học so sánh (1998), Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng (1999) của Nguyễn Văn Dân; Văn học so sánh – Lý luận và ứng dụng, Lưu Văn Bổng chủ biên (2001); Từ văn học so sánh đến thi học so sánh của Phương Lựu (2002); Văn học so sánh – nghiên cứu và dịch thuật của Khoa Ngữ văn và Báo chí – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh (2003); Những bình diện chủ yếu của văn học so sánh của Lưu Văn Bổng (2004); Văn học so sánh nghiên cứu và triển vọng của Khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm Hà Nội do Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh tuyển chọn (2005); Vượt qua những ranh giới của văn chương (Văn học so sánh và hướng nghiên cứu liên ngành) Nhiều tác giả của Khoa Văn – Đại học Khoa học và nhân văn Tp. HCM (2019) …. Ngoài ra, còn có một số bài viết, công trình nghiên cứu vận dụng những lý thuyết khác của phương Tây vào nghiên cứu các hiện tượng văn học như: Tự sự học, nữ quyền luận, cấu trúc luận, phê bình sinh thái… được đăng tải trên nhiều báo, tạp chí, các cuộc hội thảo khoa học, các luận văn, luận án ở các viện, trường đại học mà do dung lượng của bài viết có hạn chúng tôi chỉ nêu một số công trình tiêu biểu như:“Bi kịch hoá trần thuật – một phương thức tự sự (Trên cứ liệu “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư”), Nguyễn Thanh Tú, Nghiên cứu Văn học, số 5 (2008); “Một số luận điểm cơ bản trong diễn ngôn tự sự của G.Genette”, Nguyễn Mạnh Quỳnh, Tạp chí khoa học số 5 (2006), ĐHSP Hà Nội; “Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 nhìn từ lý thuyết tự sự” luận án của Phạm Thị Thùy Trang (2016); “Phê bình nữ quyền và văn xuôi nữ giới Việt Nam, Trung Quốc đương đại (Nghiên cứu trường hợp Dạ Ngân và Thiết Ngưng”, luận án của Hồ Khánh Vân (2020); “Tự nhiên” và “Nữ giới” trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại nhìn từ nữ quyền luận sinh thái”, luận án của Hoàng Lê Anh Ly (2022)…
Như vậy, với việc ứng dụng các khuynh hướng lý thuyết phê bình văn học phương Tây hiện đại để tìm hiểu nhiều hiện tượng văn học, từ sau 1975 đến nay, các nhà lý luận – phê bình đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí góp phần khám phá những giá trị mới cho văn học, tạo nên một bức tranh đa sắc màu cho đời sống lý luận phê bình. Thế nên, khi bàn về ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, trong đó có các lý thuyết văn học đối với nền văn học nước nhà, Phan Trọng Thưởng cho rằng chính quá trình tiếp xúc và giao lưu với phương Tây “đã diễn ra một sự thanh lọc, một tinh thần hội nhập theo xu hướng hiện đại, khiến cho màu sắc áp đặt đã bị tước bỏ để còn lại ý thức chủ động tiếp thu, chủ động cải biến những sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật vốn gốc gác từ bên ngoài thành một thành tố mới của văn hóa, văn học nghệ thuật mỗi nước. Quá trình này biểu hiện tinh thần không chối từ, tinh thần tích hợp những giá trị văn hóa, nghệ thuật nhân loại để làm phong phú thêm cho gia tài văn hóa phương Đông” .
Chính tinh thần cởi mở và hội nhập đã đem đến cho đời sống lý luận – phê bình văn học nước nhà sức sống mạnh mẽ, tạo năng lượng cho các nhà nghiên cứu trên con đường lao động khoa học. Và xét về một phương diện nào đó, sự tiếp biến các khuynh hướng lý luận – phê bình phương Tây không chỉ tạo nên sự đa dạng của lý luận – phê bình văn học mà còn góp phần làm phong phú và hiện đại hóa lý luận – phê bình văn học dân tộc, vốn còn nghèo nàn và lạc hậu so với lý luận – phê bình văn học hiện đại của thế giới. Nói như Nguyên Sa – Trần Bích Lan: “Nhìn tổng quát cả một thế kỷ văn chương ta thấy sự giao tiếp với văn học nghệ thuật Tây phương thúc đẩy ta tiếp nhận mau lẹ để tiếp nhận cái khác. Ta như bị thúc đẩy với một tiếng nói không âm thanh: phải đổi thay thật nhanh, phải biến dịch thật mau, cho nên, người này vừa làm xong cổ điển, không đợi những thế kỷ 18 và 19 trôi qua, người kia tiến ngay đến siêu thực, cùng một tác giả có thể nhảy từ tả chân sang siêu thực rồi đến hiện sinh. Và cái sự thay đổi mau lẹ đó, nhìn ở mặt trái nó đáng buồn vì chưa thật là ta, vì còn mang nặng dấu vết này, dấu vết nọ, nhưng nhìn ở mặt phải, nó nói lên sự khao khát đổi thay. Và khi họ đổi thay để bắt kịp những đổi thay của văn học nghệ thuật thế giới, sự khao khát đó sẽ đóng vai động lực của những sáng tạo lớn” .
Việc tiếp nhận văn hóa phương Tây trong đó có các trường phái lý luận – phê bình văn học đã tạo điều kiện cho sự phát triển của lý luận – phê bình văn học những khát vọng đổi thay trên tinh thần sáng tạo. Đây chính là động lực, là tiền đề quan trọng tạo những bước nhảy vọt trong tiến trình vận động và phát triển của tư duy lý luận – phê bình văn học mà biểu hiện rõ nhất là việc nở rộ các tác phẩm ứng dụng lý thuyết văn học phương Tây vào việc tìm hiểu giá trị của các hiện tượng văn học, một nhân tố quan trọng nếu không muốn nói là quyết định đến sự hình thành và phát triển của nền lý luận – phê bình văn học Việt Nam hiện nay mà chúng ta có thể nhận diện qua các tác giả và các tác phẩm tiêu biểu như: Những tín hiệu mới (1994), Những nguồn cảm hứng trong văn học (2008) của Huỳnh Như Phương; Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành (1996); Đổi mới đọc và bình văn của Đổ Đức Hiểu (1998), Triết lý văn hóa và triết luận văn chương của Hoàng Ngọc Hiến (2006); Thách thức của sáng tạo, thách thức của văn hóa (2002), Văn chương thẫm mỹ và văn hóa (2007) của Lê Ngọc Trà; Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình của Hữu Đạt (2002); Vọng từ con chữ (2003), Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng (2014) của Nguyễn Đăng Điệp; Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử) của Chu Văn Sơn (2003); Sáng tạo và giao lưu của Phạm Vĩnh Cư (2004); Ngoài trời lại có trời của Vương Trí Nhàn (2006) ; Phong cách nghệ thuật Thạch Lam của Nguyễn Thành Thi (2006); Tiểu thuyết trên con đường đổi mới nghệ thuật; của Phùng Văn Tửu (2010), Thơ – Quan niệm và cảm nhận (2009); Văn học nhìn từ văn hóa (2012) Văn chương và hành trình sáng tạo (2014) của Trần Hoài Anh; Truyện Kiều trong văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc (2013);  Lý luận phê bình – Đổi mới và sáng tạo của Cao Thị Hồng (2013); Thẩm định các giá trị văn học của Phan Trọng Thưởng (2013); Xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt Nam thế kỷ XX của Nguyễn Thị Phương Thùy (2014); Trên đường biên của lý luận văn học của Trần Đình Sử (2014); Thơ trẻ Việt Nam 1965-1975 khuôn mặt cái tôi trữ tình của Bùi Bích Hạnh (2015); Thơ tân hình thức Việt, tiếp nhận và sáng tạo, Sông Hương (2014); Song thoại với cái mới (2008), Thơ Nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố Nữ và 20 tiếng thơ nữ quyền đương đại của Inrasara (2015); Không gian văn học đương đại của Đoàn Ánh Dương (2014); Nhà văn như Thị Nở của Phạm Xuân Nguyên (2014); Tác giả hàm ẩn trong Tu từ học tiểu thuyết của Cao Kim Lan (2015); Văn học phương Tây – Lý luận phê bình và dịch thuật của Trần Thiện Đạo (2015); Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 của Nguyễn Bá Thành (2015); Văn học Việt Nam trong bối cảnh đỏi mới và hội nhập quốc tế, Nguyễn Đăng Điệp chủ biên (2016) Các trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây hiện đại và sự tiếp biến, vận dụng ở Việt Nam của Bửu Nam (2016); Đi tìm ẩn ngữ văn chương của Trần Hoài Anh (2017); Lý luận phê bình văn học, Một góc nhìn mới của Cao Thị Hồng (2017) Văn xuôi Việt Nam hiện đại của Lê Tú Anh (2018); Phê bình văn học Thế kỷ XX của Thụy Khuê (2018); Trăm năm Nguyễn Bính – Truyền thống và Hiện đại  – Nhiều Tác giả (2018); Phê bình ký hiệu học – Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ của Lã Nguyên (2018); Thơ Việt trên hành trình đổi mới – Những vấn đề sáng tác và lý luận của Trần Mạnh Tiến (2019); Đề tài tha hương trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XXI của Lê Tú Anh (2019); Giáo trình lý thuyết liên văn bản của Nguyễn Văn Thuấn (2019); Nghiên cứu và giảng dạy văn học về đề tài lịch sử dân tộc – Nhiều tác giả (2019); Gửi đây chút duyên tình đọc (Chân dung văn học) của Nguyễn Thị Thanh Xuân (2019); Những vẻ đẹp văn chương của Cao Thị Hồng (2020);  Tiến trình văn học (Khuynh hướng và Trào lưu) của Huỳnh Như Phương (2020); Nguyễn Minh Châu trong tiến trình đổi mới văn học, Nguyễn Đăng Điệp chủ biên (2020); Đi tìm mỹ cảm văn chương của Trần Hoài Anh (2020); Dám ngoái đầu nhìn lại của Nguyễn Thị Tịnh Thi (2021); Chút nắng phương Nam (15 nhà văn đô thị miền Nam trước 1975), Phạm Phú Phong chủ biên (2022); Sinh thái & Văn hóa Nam Bộ trong văn học Việt Nam – Nhiều tác giả (2022); Đi tìm thanh âm đồng vọng của Trần Hoài Anh (2023)… Và còn nhiều tác phẩm lý luận – phê bình văn học đã ứng dụng lý thuyết hiện đại phương Tây vào việc nghiên cứu văn học dân tộc và thế giới, theo thống kê của Cao Thị Hồng trong công trình Lý luận phê bình văn học – đổi mới và sáng tạo (2013) , từ 1986 đến 2013 đã có 544 công trình lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học được xuất bản. Song, thực tế số công trình được xuất bản từ thời kỳ đổi mới đến nay còn nhiều hơn nữa…
Rõ ràng nhờ công cuộc đổi mới, việc mở rộng biên độ tiếp nhận lý thuyết phương Tây được chú trọng, đời sống lý luận phê bình văn học thời kỳ này đã thật sự khởi sắc theo hướng phát triển ngày càng đa dạng, phong phú. Tình hình này đã khắc phục bệnh công thức, giản đơn của lý luận phê bình văn học nước nhà, góp phần đổi mới nhận thức trong tư duy lý luận phê bình, làm thay đổi cách nhìn, cách nghĩ, cách thẩm định giá trị của các hiện tượng văn học, tạo nên một đời sống lý luận phê bình sinh động, phong phú, dân chủ, cởi mở. Và đây là điều kiện tất yếu để nền văn học phát triển bền vững trong xu thế toàn cầu hóa của thời kỳ hội nhập và có thể xem là một trong những thành tựu cơ bản của nền văn học dân tộc trong năm mươi năm từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay.
Song, đời sống văn học nước nhà từ sau 1975 đến nay, dấu ấn lý thuyết văn học phương Tây không chỉ hiện hữu trong lĩnh vực lý luận phê bình mà còn hiện hữu sâu sắc trong sáng tác của các thể loại văn học cả thơ và văn xuôi mà rõ nhất là những tác phẩm trong thời kỳ đổi mới. Đó là những sáng tác thể hiện dấu ấn tư duy mỹ học của các khuynh hướng lý luận phê bình phương Tây như: phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hậu hiện đại, tự sự học, nữ quyền luận, phê bình sinh thái… Đây có thể xem là một trong những thành tựu của sáng tác văn học nước nhà từ sau 1975 đến nay mà những diễn ngôn ở tác phẩm văn học sau đây sẽ minh chứng cho điều ấy. 
3. Dấu ấn lý thuyết phương Tây – Thành tựu của sáng tác văn học từ 1975 đến nay
Như đã nói ở trên, sau ngày đất nước thống nhất và từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển. Đời sống xã hội đã có nhiều thay đổi trên mọi phương diện, trong đó có sự thay đổi của diện mạo văn học, rõ nhất là sự thay đổi tư suy sáng tạo văn học. Nhà văn lúc này không đơn thuần phản ánh những diễn ngôn mang cảm hứng sử thi của thời chiến tranh cách mạng, khi cả dân tộc dấn thân vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do và thống nhất nước nhà, ngược lại họ đã bắt đầu trở về với bản ngã, nhận ra những chấn thương của đời sống tâm hồn thời hậu chiến với những buồn vui, khổ đau, hạnh phúc, cay đắng và vinh quang trong cuộc sống đời thường của mình và của tha nhân, với khao khát được sống như những Nhân vị chứ không phải là những phóng thể, để rồi có lúc không còn nhận ra chính mình. Nói như Nguyễn Khải là các nhà văn đã khao khát đi tìm “Cái tôi đã mất”. Đó là “cái tôi bản thể” với những trăn trở, âu lo về thân phận con người ở các bình diện như: sự thức tỉnh ý thức cá nhân; với cảm thức về nỗi cô đơn và thân phận lưu đày; Sự ám ảnh về cái chết và sự hư ảo, của kiếp người, là cảm thức về sự phi lý, buồn nôn trước cái ác, cái xấu, cái thấp hèn của con người trong cuộc sống cùng những khát khao nhục cảm hiện sinh mà trước thời kỳ đổi mới được / bị xem như một điều cấm kỵ trong diễn ngôn văn học. Những phẩm tính rất “Người” này, chúng ta có thể tìm thấy trong sáng tác văn học mang dấu ấn triết mỹ từ các lý thuyết: Phân tâm học, Chủ nghĩa hiện sinh, nữ quyền luận,… như lời một nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh đã suy niệm: “Kiếp sống như một chuyến lưu đày mà ở đó, người ta không thể yêu đương, sinh tồn một cách tự nhiên và có khát vọng, mà bị biến thành công cụ của thù hận, dục vọng, bản năng, phá hoại… Con người chỉ còn biết hưởng thụ sự phù du của thân phận…”
Thế nên, văn học từ sau năm 1975 đến nay, rõ nhất là văn học thời kỳ đổi mới, với sự thay đổi hệ hình trong tư duy sáng tạo, đã xuất hiện nhiều tác phẩm thể hiện rõ dấu ấn triết mỹ của các trường phái lý thuyết phương Tây hiện đại với những khát khao, trăn trở về thân phận, phản ánh đúng qui luật vận động của văn học và đời sống con người Việt Nam thời kỳ hiện đại trong quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa. Dấu ấn tâm thức của các trường phái lý thuyết phương Tây hiện đại trong văn học thời kỳ đổi mới, thực ra là sự tiếp nối tâm thức của các trường phái lý thuyết phương Tây vốn đã hiện hữu trong dòng chảy văn học dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX mà rõ nhất là ở văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cũng như ở văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 nhưng đã bị đứt gãy do những va đập của lịch sử – xã hội, nên khi có điều kiện sẽ phục sinh như một tất yếu của đời sống. Bởi lẽ, đối tượng của văn học là con người mà cái gì “thuộc về con người”, nói như Mác thì không xa lạ với “cuộc sống con người”. Đây cũng là điều chúng ta có thể nhận diện trong những trang viết của các thế hệ nhà văn nối tiếp nhau từ sau 1975 đến nay trên cả văn xuôi và thơ ca.
Về văn xuôi, dấu ấn triết mỹ của các trường phái lý thuyết phương Tây hiện đại như phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, nữ quyền luận, phê bình sinh thái với những ưu tư về cuộc sống và thân phận con người trên hành đi tìm cái tôi bản thể với tư cách là một nhân vị hiện sinh, chúng ta có thể nhận diện trong các tác phẩm như: Thời xa vắng của Lê Lựu (1986); Mảnh đất tình yêu của Nguyễn Minh Châu (1987); Tướng về hưu (1987); Những ngọn gió Hua Tát (1989), Con gái thủy thần (1993) của Nguyễn Huy Thiệp; Chim én bay của Nguyễn Trí Huân (1988); Cuốn gia phả để lại của Đoàn Lê (1988); Nỗi buồn cho em của Nhật Tuấn (1988); Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng (1989); Đi về nơi hoang dã  của Nhật Tuấn (1989); Giọt nước mắt cuối cùng của Nguyễn Khắc Phục (1989); Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập (1989); Mê lộ của Phạm Thị Hoài (1989); Nước mắt đỏ của Trần Huy Quang (1989); Pháp trường trắng  của Ông Văn Tùng (1989); Bến không chồng của Dương Hướng (1990); Chỉ còn anh và em  của Nguyễn Thị Ngọc Tú (1990); Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường (1990); Miền hoang tưởng  của Đào Nguyễn (1990); Mối tình hoang dã  của Trần Huy Quang (1990); Ngõ lỗ thủng  của Trung Trung Đỉnh (1990); Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (1990); Tiễn biệt những ngày buồn của Trung Trung Đỉnh (1990); Vòng nguyệt quế cô đơn, của Nguyễn Quang Thiều (1991); Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai (1992); Tiếng gọi tình yêu của Nguyễn Quang Thiều (1993); Những đứa trẻ chết già của Nguyễn Bình Phương (1994); Man nương của Phạm Thị Hoài (1995); Người đàn bà tóc trắng của Nguyễn Quang Thiều (1996); Thủy hỏa đạo tặc của Hoàng Minh Tường (1996); Một ngày và một đời của Lê Văn Thảo (1997); Thiên sứ của Phạm Thị Hoài (1998); Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào (1992), Tường thành (2004) của Võ Thị Xuân Hà; Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái (2002); Cơn giông  của Lê Văn Thảo (2002); Người sông Mê của Châu Diên (2003); Người nhìn thấy trăng thật, của Nguyễn Quang Thiều (2003); Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê (1993); Thiên thần sám hối (2004), Lão Khổ của Tạ Duy Anh (2004); Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà (2005); Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương (2005); Paris 11 tháng 8 của Thuận (2005); Giữa vòng vây trần gian của Nguyễn Danh Lam (2005); Cơ hội của chúa của Nguyễn Việt Hà (2006); Tấm ván phóng dao của Mạc Can (2006); Ba người khác của Tô Hoài (2007) Song song của Vũ Đình Giang, (2007); Đi dưới mưa hồng của Nhật Chiêu (2007); Xuân từ chiều của Y Ban (2008); Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh (2008); Mưa mặt nạ của Nhật Chiêu (2008); Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng (2008); Sự trở lại của vết xước của Trần Nhã Thụy (2008); Mưa ở kiếp sau của Đoàn Minh Phượng (2009); Chinatown của Thuận (2009); Nháp (2009) của Nguyễn Đình Tú (2009); Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh (2008); Đàn bà của Lý Lan (2009); Blogger của Phong Điệp (2009); Gia đình bé mọn của Dạ Ngân (2010); Một bàn tay thì đầy của Hoàng Việt Hằng (2010); Viết tên trên nước của Nhật Chiêu (2010); Bờ xám của Vũ Đình Giang (2010); Vắng mặt của Đỗ Phấn (2011); Thế giới xô lệch của Bích Ngân (2012); Sông của Nguyễn Ngọc Tư (2012); Thành phố đi vắng của Nguyễn Thị Thu Huệ (2012); Hoang tâm của Nguyễn Đình Tú (2013), Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư (2014); Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân của Tiến Đạt (2014); Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam (2014); Mình và họ của Nguyễn Bình Phương (2014); Ba ngôi của người của Nguyễn Việt Hà (2014); Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh (2015); Thông reo ngàn hống của Nguyễn Thế Quang (2015); Đi biển một mình của Kim Quyên (2015); Làn gió chảy qua của Lê Minh Khuê (2016); Trong cơn lốc xoáy của Trầm Hương (2016); Quán Thuỷ thần của Nguyễn Hải Yến (2019). Đừng kể tên tôi của Phan Thúy Hà (2020); Một ví dụ xoàng của Nguyễn Bình Phương (2021); Sắc Không của Nguyễn Phước Thảo (2021); Nghiệp chướng của Lưu Vĩ Lân (2021); Bửu Sơn Kỳ Hương của Lý Lan (2022); Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín của Nguyễn Một (2023); Tuyệt không dấu vết của Nguyễn Việt Hà (2023); Một mùa hè dưới bóng cây của Nguyễn Tham Thiện Kế (2023); Cõi Tạm nóng dần lên của Thu Trân (2024); Chuyện làng buông của Lưu Trọng Văn (2024)…
Thơ là thế giới của nội cảm, những ưu tư về thân phận con người với khát khao vươn đến một cái tôi mang chiều sâu tâm cảm là phẩm tính không thể thiếu của thi ca. Vì vậy, không chỉ ở văn xuôi mà cả trong thơ những ý niệm nhân bản với những ưu tư về cuộc sống và sự tồn sinh của phận người trong các khuynh hướng triết mỹ của chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, nữ quyền luận cũng để lại những dấu ấn sâu sắc trong thơ Việt từ sau 1975, đặc biệt là thi ca thời kỳ đổi mới. Điều này ta có thể nhận diện trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ khi nhà thơ không chỉ suy tư về nỗi cô đơn phận người trong kiếp lưu đày mà còn luôn tự vấn, âu lo về nỗi buồn và sự hư hao mỏng manh của kiếp người: “Bây giờ chỉ một mình ta/ Một mình ta với bao la một mình…/Khóc ta hạt bụi vô thường/ Mai kia tìm chốn cội nguồn nghỉ ngơi.” (Một mình). Đó cũng là cảm thức của Anh Hồng trong Người đàn bà qua hai mùa tóc với một cách thể hiện riêng tâm thức hiện sinh, nhà thơ không những đi tìm cái “Tôi hiện hữu” mà còn đi tìm từng “mảnh vỡ” của cái “Tôi”: “Từng mảnh Tôi /Từng mảnh Tôi /Tan vỡ /Chơi vơi /Tìm nơi náu mình /Trên ngọn cỏ…/Mặt đất lè tè /Ngọn cỏ thấp /Từng mảnh Tôi /Lặng lẽ…/ Tìm Tôi…” (Mở).
Khảo sát thơ Việt từ sau 1975 đến nay sẽ không khó nhận diện cảm thức hiện sinh đã tạo thành một khuynh hướng sáng tác trong thơ của nhiều thi sĩ thuộc các thế hệ cầm bút khác nhau hiện hữu qua sáng tác của các thi nhân ở những tập thơ tiêu biểu như: Phan Thị Thanh Nhàn với Bông hoa không tặng (1987), Nghiêng về anh (1992); Ý Nhi với Mưa tuyết (1991), Gương mặt (1991); Dư Thị Hoàn với Lối nhỏ (1988), Bài mẫu giáo sáng thế (1993); Lâm Thị Mỹ Dạ với Hái tuổi em đầy tay (1989), Đề tặng một giấc mơ (1998), Hồn đầy hoa cúc dại (2007); Hoàng Phủ Ngọc Tường với Người đi hái phù dung (1992); Tần Hoài Dạ Vũ với Ngọn lửa quạnh hiu (1996); Suy niệm hoàng hôn (2005); Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi (2020); Nguyễn Trọng Tạo với Gửi người không quen (1989), Đồng dao cho người lớn (1994), Thư trên máy chữ và Tản mạn thời tôi sống (1995), Em đàn bà (2008); Hoàng Vũ Thuật với Cỏ mùa thu (1994), Đám mây lơ lửng (2000), Tháp nghiêng (2003), Mùi (2014); Lê Thị Kim với Khi tình yêu đến (1988), Đóa quỳ hư ảo (1991), Sương bụi tình yêu (1997); Nguyễn Quang Thiều với Sự mất ngủ của lửa (1992), Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Nhịp điệu châu thổ mới (1997), Bài ca những con chim đêm (1999), Châu thổ (2010), Dưới ánh trăng và một bậc cửa (2020); Trương Tuyết Mai với Một nửa của anh (2006), Lá vỡ (2008), Gập ghềnh khúc đau (2020); Vi Thùy Linh với Khát (1999), Linh (2000), Đồng tử (2005); Phan Hoàng với Tượng tình (1995), Hộp đen báo bão (2002), Chất vấn thói quen (2012); Lê Thiếu Nhơn với Phố tình riêng (2004) Trong bóng người xưa (2006); Nguyễn Hữu Hồng Minh với Giọng nói mơ hồ (1999), Tên em trong gió cuốn (2016); Đặng Nguyệt Anh với Ru lời ngàn năm (2002), Trời em áo lụa (2006), Lục bát tôi (2018); Phan Huyền Thư với Nằm nghiêng, (2002), Rỗng ngực (2005); Tôn Nữ Thu Thủy với Mắt lá (2002); Cát Du với Cảm (2004), Nàng (2007); Đinh thị Thu Vân với Một ngày ta ngoái lại (2005), Đừng trôi nữa tình yêu mang phận cỏ (2015); Ly Hoàng Ly với Cỏ trắng (1999), Lô Lô (2005); Trần Thị Huyền Trang với Trong tĩnh lặng (2005); Thúy Nga với Nỗi buồn xanh (2006), Phan Thị Vàng Anh với Gửi VB (2006); Nguyễn Khoa Điềm với Cõi lặng (2007); Nguyễn Bính Hồng Cầu với Nhặt bóng mình (2007); Nguyệt Phạm với Mắt giấy (2008), Phơi riêng tư (2019); Ngô Thị Hạnh với Nắng từ những ngón chân (2010),; Huệ Triệu Thức một miền xanh (2010); Trần Mai Hường với Ngược đêm (2014); Bàng Ái Thơ với Mắt lặng (2011), Bạch Lạp & Hoa Hồng (2013); Phạm Phương Lan với Góc trọ hồn người (2011); Phùng Cung với Xem đêm (2011); Trương Đăng Dung với Những kỷ niệm tưởng tượng (2011), Em là nơi anh tị nạn (2020); Minh Đan với Phút 89 (2013), Vương Chi Lan với Rót nhớ vào đêm (2013); Ngô Thúy Nga với Nốt lặng (2014); Anh Hồng với Người đàn bà qua hai mùa tóc (2014) Tôi và Đêm… Và… (2023); Nồng Nàn Phố với Yêu lần nào cũng đau (2015; Trần Huy Minh Phương với Khói rụng (2021); Phùng Hiệu với Trong thế giới ngụy trang (2014); Nguyễn Phong Việt với Sinh ra để cô đơn (2014) Về đâu những vết thương (2016); Trịnh Bích Ngân với Nghiêng về phía nỗi đau (2024) …
Thật vậy, dấu ấn tư tưởng của lý thuyết phương Tây hiện đại để lại trên các sáng tác của các nhà văn từ sau 1975 đến nay là điều không thể phủ nhận. Chưa cần đọc sâu văn bản chỉ cần đọc tiêu đề của các tác phẩm văn xuôi cũng như thơ, chúng ta sẽ nhận ra sự hiện hữu của các khuynh hướng triết mỹ như Phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, nữ quyền luận… trong các diễn ngôn mà nhà văn chia sẻ với người đọc. Điều này đã tạo nên tiếng nói đa thanh, đa diện của văn học nước nhà, là thành tựu mang tính khai phóng của nền văn học mà trước thời kỳ đổi mới chưa thể có được như sự xác quyết đầy ý thức nữ quyền của Xinh trong Một bàn tay thì đầy của Hoàng Việt Hằng: “Đàn bà sao cứ nghĩ phải tựa vào đàn ông mới sống được nhỉ. Phải tựa vào hơi thở của chính mình thôi, làm sao có thể thở bằng hơi thở của người khác” . Hay Phạm Thị Ngọc Liên đã đốt cháy khát vọng nhục cảm tình yêu trong thơ mình bằng những cảm xúc mạnh mẽ với những diễn ngôn đầy sức ám gợi: “Lặn ngụp trong thơ/ Tắm gội mối tình mình/ Hừng hực trong tôi/ cháy bỏng ngôn từ / không hề giấu mặt/ phải trả nỗi đau bằng tiếng thét” (Khỏa thân tím). Và những diễn ngôn này thật sự là tiếng gọi thao thiết đầy chất hiện sinh với một ý thức nữ quyền mà ta không thể tìm thấy trong thơ nữ Việt Nam thòi kỳ tiền đổi mới: “Ta thèm khỏa thân dưới nắng /Thèm ngủ yên trên cát /Có vòng tay người tình như chiếc lưới /Võng ta vào giấc mộng trăm năm” (Biển trăm năm). Và khát vọng tình yêu trong thơ Ly Hoàng Ly cũng không kém phần mãnh liệt, nồng nàn với ái ân cuồng nhiệt ở người đàn bà luôn ý thức về quyền sống đích thực đầy hiện sinh: “Đêm là của chúng mình /Tình yêu thắp sáng đêm /Đêm là của chúng mình /Sao nỡ ngủ /hở anh.” (Đêm là của chúng mình). Đây là những minh chứng vô cùng thuyết phục cho tinh thần khai phóng của văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay nhìn từ sự ảnh hưởng hệ hình tư tưởng của lý thuyết phương Tây hiện đại.
 4. Thay lời kết:
Từ ngày đất nước thống nhất, đặc biệt là khi tiến hành công cuộc đổi mới, xuất phát từ yêu cầu nội tại của tiến trình vận động và phát triển của nền văn học dân tộc theo hướng hiện đại và hội nhập, văn học nước nhà trong những năm qua đã có sự đổi mới tư duy, không chỉ trong lĩnh vực sáng tác và lý luận phê bình mà ngay cả trong tư duy quản lý của các cấp lãnh đạo văn nghệ. Chính điều này đã mở ra những vận hội mới, chân trời mới cho nghệ sĩ sáng tạo, rõ nhất là việc mạnh dạn tiếp nhận lý thuyết phương Tây nên đã thu được những thành quả nhất định để xây dựng nền văn học nước nhà vững mạnh phù hợp với phẩm tính văn học thế giới. Phải chăng từ hệ hình tư duy triết mỹ mang tính phổ quát được các nhà văn, nhà lý luận phê bình tiếp nhận và ứng dụng vào văn học Việt Nam nên đã tạo được những tác phẩm văn học chạm đến mỹ cảm của nhân loại. Vì thế, nhiều nước đã chọn dịch tác phẩm của các nhà văn Việt Nam như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… Không những thế, nhiều tác phẩm thơ, văn của các nhà văn Việt Nam trong những năm gần đây cũng được các dịch giả quan tâm giới thiệu ra thế giới, tạo nên một trường tiếp nhận mới cho văn học dân tộc.
Với những gì chúng tôi đã khảo sát và minh chứng ở trên trong lĩnh vực lý luận phê bình và sáng tác văn học nhìn từ việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây, có thể xác quyết rằng văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay đã thu được những thành tựu đáng khích lệ. Đó là điều không thể phủ nhận. Tuy vậy, nền văn học nước nhà không phải, không còn những hạn chế, thậm chí những “khuyết tật” mà nếu chúng ta không tỉnh táo nhìn nhận một cách khách quan công bằng và khoa học thì sẽ gặp rất nhiều trở lực trong xu hướng hội nhập và phát triển của thời kỳ tòan cầu hóa. Thiết nghĩ đã đến lúc phải nghiên cứu một cách thấu đáo, khách quan, khoa học thành tựu của nền văn học nước nhà ở cả phương diện sáng tác và lý luận – phê bình nhìn từ sự tiếp nhận lý thuyết hiện đại phương Tây để tìm ra những bài học thiết thực, hữu ích cho sự phát triển nền văn học nước nhà. Bởi, với việc mở rộng biên độ và tốc độ trong sự tiếp nhận lý thuyết phương Tây, văn học thời kỳ đổi mới đã có những bước phát triển nhanh chóng tuy sinh động, phong phú, đa chiều, có tính đối thoại nhưng cũng có những giới hạn nhất định cần được thức nhận. Song dù thế nào, những thành tựu của nền văn học nước nhà từ sau 1975 đến nay nhìn ở bình diện lý luận – phê bình và sáng tác từ việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây qua các trường phái, lý luận – phê bình hiện đại như đã trình bày ở trên là một giá trị cần trân trọng và không thể phủ nhận. Bởi, nói như Nguyễn Khoa Điềm: “Dù đất nước đã mở cửa nhưng việc khai thác thành quả của lý luận hiện đại thế giới cũng như truyền thống lý luận của dân tộc lại chưa được nghiên cứu đầy đủ có hệ thống”. Vì vậy, cần “Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú lý luận văn học Việt Nam hiện đại”. Phải chăng, đây cũng là một trong những tư tưởng định hướng có tính tất yếu để đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển của xu hướng toàn cầu hóa…
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 9/11/2024
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chuyện kể bên hồ XXXXXX

Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...