Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026
Cảm thức đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam từ 1975 đến nay
Cảm thức đức tin trong thơ
Ngày 27.11.2024, tại Hà Nội,
Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp cùng Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật
Việt Nam và Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã tổ chức Hội nghị Lý luận Phê bình
Văn học lần thứ V với chủ đề “50 năm Văn học Việt Nam từ 1975: Thành tựu và Xu
thế”, quy tụ nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận nhà phê bình uy tín cả nước về
tham dự. Xin giới thiệu tham luận của nhà thơ Mai Văn Phấn đến từ Hải Phòng: “Cảm
thức đức tin trong thơ Công giáo Việt Nam từ 1975 đến nay”.
Người khai sinh và thử nghiệm thể thơ mới 1-2-3
Người khai sinh và thử
nghiệm thể thơ mới 1-2-3
Nhà giáo, nhà nghiên cứu
Lê Xuân là cây bút kỳ cựu ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tại cuộc Tọa đàm “Thơ
1-2-3 trong không gian văn học đương đại” do Hội Nhà văn Cần Thơ và Khoa Khoa học
xã hội và Nhân văn Trường Đại học Cần Thơ tổ chức vào tháng 11.2024, ông đã
phát biểu tham luận trên cơ sở tiểu luận nghiên cứu công phu mấy năm qua về thơ
1-2-3. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của nhà nghiên cứu Lê Xuân.
Nhà văn Lỗ Tấn (ở Trung
Quốc) có nói: “Trên trái đất làm gì có đường, người ta đi nhiều thì thành đường
thôi”. Đúng vậy, mỗi con đường sẽ được định hình khi người mở đường đi tiên
phong và sau đó nhiều người cùng đi thì con đường ấy được “mặc định”. Với văn
chương cũng vậy, khởi thủy là “văn sử bất phân”, rồi sau này từng bước qua nhiều
thập kỷ, nó được phân loại. Các thể cùng từng bước ra đời, trải qua thời gian dần
dần ổn định, hoặc phát triển hoặc bị lãng quên. Thơ 1-2-3 do nhà thơ Phan Hoàng
khởi xướng cũng không nằm ngoài khỏi quy luật ấy. Bạn đọc và thời gian là trọng
tài vô tư để thẩm định.
1- Trữ tình ngoại đề:
Để hiểu thêm về sự ra đời
của thể thơ 1-2-3 mà nhà thơ Phan Hoàng “khai sinh” và “thử nghiệm” ta hãy bàn
thêm về các thể thơ truyền thống của Việt Nam như lục bát, song thất lục bát và
thể thơ Đường của Trung Quốc, thể thơ haiku của Nhật Bản để thấy sự ổn định và
cách tân của nó như thế nào. Còn đối với thơ tự do, đặc biệt là phong trào Thơ
mới (1932-1945) là sự phát triển có kế thừa theo trào lưu phương Tây và có Việt
hóa. Các thể thơ Đường luật có: thất ngôn bát cú (có 8 câu, mỗi câu 7 từ); thất
ngôn tứ tuyệt (có 4 câu, mỗi câu 7 từ); ngũ ngôn tứ tuyệt (có 4 câu, mỗi câu 5
từ); lục ngôn tứ tuyệt (có 4 câu, mỗi câu 6 từ). Thơ haiku của Nhật Bản (có 1
câu 17 từ), nhưng khi dịch sang một số tiếng nước ngoài và ở Việt Nam thì vẫn
giữ nguyên 17 từ và được chia thành 3 dòng: dòng 1 có 5 từ, dòng 2 có 7 từ,
dòng 3 có 5 từ).
Còn ở Việt Nam có thơ lục
bát và song thất lục bát có luật bằng – trắc đã ổn định hơn hai trăm năm nay mà
đỉnh cao của thơ lục bát là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và thơ song thất lục
bát là “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn.
Với thể thơ thất ngôn bát
cú và tứ tuyệt Đường luật đưa vào Việt Nam, ở thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã có sự
cách tân trong “Quốc âm thi tập” (viết bằng chữ Nôm), một số bài thơ “thất
ngôn” đã được ông cách tân bằng câu “lục ngôn” vào để tạo điểm nhấn. Ví dụ bài
“Ba tiêu” (Cây chuối):
Tự bén hơi xuân tốt lại
thêm
Đầy buồng lạ, màu
thâu đêm
Tình thư một bức phong
còn kín
Gió nơi đâu, gượng
mở xem.
Hoặc bài “Tùng”, thơ thất
ngôn liên hoàn, Nguyễn Trãi cũng đã xen 3 câu lục ngôn ở 3 đoạn:
Thu đến cây nào chẳng lạ
lùng,
Một mình lạt thuở
ba đông
Lâm tuyền ai rặng già làm
khách
Tài đống lương cao ắt cả
dùng.
Đống lương tài có mấy bằng
mày
Nhà cả đòi phen chống khỏe
thay
Cội rễ bền dời chẳng
động
Tuyết sương thấy đã đặng
nhiều ngày.
Tuyết sương thấy đã đặng
nhiều ngày
Có thuốc trường sinh càng
khỏe thay
Hổ phách phục linh nhìn mới
biết
Dành còn để trợ
dân này.
Những câu lục ngôn này
xen vào những câu thất ngôn ở mỗi đoạn có người cho là hay, vì nó tạo cảm giác
nhấn mạnh đề tài, chủ đề bài thơ. Nhưng cũng có người cho rằng đó là những “hạt
sạn” không tuân theo luật hài âm của tiếng Việt, đọc lên thấy ngắc ngứ. Sự cách
tân này của Nguyễn Trãi không được thi nhân đời sau tán thành nên sau một thời
gian thì im hơi lặng tiếng, nhừng chố cho thể thơ “thất ngôn trường thiên” phát
triển.
Về thể thơ độc đáo, ngắn
nhất của thế giới thì có thơ haiku của Nhật Bản. Đây là một thể thơ của người
Nhật có từ thế kỷ 16-17 và nhà thơ thiền Matsuo Basho (1644 –1694) là người
khai sinh và đưa nó lên tầm cao mà cả thế giới đều yêu thích. Nội
dung và triết lý của thơ haiku không nằm ở câu chữ mà ở sự tưởng tượng của
chính người đọc. Người viết không miêu tả mà chỉ gợi. Nói như nhà thơ Chế Lan
Viên: “Bài thơ anh làm một nửa mà thôi/ Còn một nửa để mùa thu làm lấy”.
17 từ trong bài haiku được chia làm 3 dòng, ứng với số lượng từ của các dòng
là:
Dòng 1: Có 5 từ – Giới
thiệu
Dòng 2: Có 7 từ – Tiếp tục
ý dòng 1 và chuẩn bị cho dòng 3.
Dòng 3: Có 5 từ – Kết lại,
không rõ ràng, mở ra suy nghĩ, cảm xúc cho người đọc ngân nga, lan tỏa.
Về tứ thơ: Thơ haiku khơi
gợi cảm xúc một khoảnh khắc hiện tại bằng lối dùng “quý ngữ” (từ chỉ mùa trực
tiếp hoặc gián tiếp theo cách biểu đạt tượng trưng). Ví dụ khi nói đến mùa xuân
là phải có hoa anh đào; mùa hè phải nói đến chim đỗ quyên (con cuốc), hoặc tiếng
ve; mùa thu phải có các hình ảnh như mùa sương, chiều thu, gió thu; mùa đông là
phải có mưa giăng, áo tơi… Ví dụ bài thơ “Mùa thu”:
Lệ tràn nóng hổi
tan trên tay tóc mẹ
làn sương thu.
Dòng 1 giới thiệu tâm trạng
nhân vật trữ tình.
Dòng 2 nâng lên một tầng
nghĩa mới cụ thể.
Dòng 3 kết lại gợi lên
không gian thời gian mùa thu.
Qua những hình ảnh tượng
trưng ấy nhà thơ nhằm diễn tả tâm trạng nhân vật trữ tình ở các thời gian và
không gian nhất định và luôn gắn con người với thế giới thiên nhiên.
Nói dông dài một chút để
thấy rằng việc một thể thơ được khai sinh hay một sự cách tân nào đó đều phải
được đa số người làm thơ, người yêu thơ thẩm định. Và phải có thời gian mới có
thể “mặc định” nó. Đối với thể Thơ 1-2-3 – một thể thơ mới, cũng không nằm
ngoài quy luật sàng lọc ấy.
2- Thơ 1-2-3 do nhà thơ
Phan Hoàng khởi xướng:
Thể thơ 1-2-3 có luật lệ
khá chặt chẽ như sau: Mỗi bài thơ là một chỉnh thể độc lập gồm 3 đoạn, 6
câu.
Đoạn 1 chỉ có 1 câu, tối
đa 11 từ hoặc ít hơn, đồng thời cũng là tên bài thơ, nhằm tránh trùng lắp
tên những bài thơ đã xuất hiện.
Đoạn 2 có 2 câu, với mỗi
câu tối đa 12 từ hoặc ít hơn.
Đoạn 3 có 3 câu, với mỗi
câu tối đa 13 từ hoặc ít hơn.
Chữ càng tinh lọc
càng đa nghĩa càng giá trị.
Đề tài Thơ 1-2-3 hoàn
toàn tự do, nội dung chủ yếu đi từ ngoại cảnh dần vào chiều sâu nội
tâm tác giả muốn biểu hiện.
Đặc biệt khuyến
khích tính độc lập từng câu thơ trong mối tương quan toàn bài, đồng
thời giữa câu 1 và câu 6 có sự hô ứng để nội
dung bài thơ chặt chẽ, thống nhất trong một không gian thẩm mỹ riêng
biệt.
Không khuyến khích
biến thể các loại thơ truyền thống: lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, ngũ
ngôn, lục ngôn, thất ngôn… thành thơ 1-2-3.
Như vậy ta sẽ có bố cục
sau:
Đoạn 1: 1 câu, tối đa 11
từ
Đoạn 2: 2 câu, mỗi câu tối
đa 12 từ
Đoạn 3: 3 câu, mỗi câu tối
đa 13 từ.
Các chữ số 1-2-3 tương ứng
với cac số 11-12-13 ở ba đoạn giúp người làm thơ dễ nhớ để không bị sai luật.
Còn việc “Không khuyến khích biến thể các loại thơ truyền thống: lục bát,
song thất lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn… thành thơ 1-2-3” là
nhằm làm cho thể thơ này có sự khác biệt mới lạ, không bị “tạp lai”. Việc câu 1
và câu 6 có sự hô-ứng giúp cho bài thơ có cấu tứ chặt chẽ về hình thức và nội
dung, tránh đi xa đề.
Sự quan trọng của câu mở
đầu và câu kết trong một bài thơ, nhà thơ Hữu Thỉnh nói: “Câu thơ mở đầu phải
như một tiếng pháo nổ, và câu kết phải như một tiếng chuông ngân”. Ta có thể
xem tiếng “pháo nổ” là câu 1và tiếng “chuông ngân” là câu 6 trong thơ 1-2-3. Đó
chính là sự hô ứng sự gắn kết trong tứ thơ hoàn chỉnh theo một chủ đề nhất định,
vừa kết lại vừa mở ra cho bạn đọc một chân trời mới.
Như vậy, ta thấy thơ
1-2-3 của nhà thơ Phan Hoàng có luật chặt chẽ về số câu, số chữ, nhưng không bị
gò bó về vần. Tính nhạc hay tính họa do sự phối âm tài
tình của mỗi nhà thơ tạo nên. Nhưng nếu muốn có bài thơ 1-2-3 hay rất cần có
các yếu tố “thi tứ”, “thi ngôn”, “thi ảnh”, “thi nhạc” kết hợp
hài hòa.
Nói về sự thống nhất về nội
dung và hình thức của một bài thơ, nhà phê bình văn học người Nga Nicolai Eva
đã viết: “Không một hình thức nào lại không chứa đựng nội dung, và không có nội
dung nào nằm ngoài hình thức. Nếu ta phá bỏ hình thức là phá bỏ nội dung và ngược
lại phá bỏ nội dung sẽ phá bỏ hình thức”. Thể thơ 1-2-3 của nhà thơ
Phan Hoàng cũng theo quy luật này. Nó có cấu trúc chặt chẽ về mặt hình thức, nó
là cái “áo mặc” cho nội dung, nhưng để diễn tả nội dung nó lại không bị cậu nệ
về vần. Nghĩa là nó có “biên độ” rộng về nội dung và chặt về hình thức thể hiện.
Cho đến nay tôi đã đọc gần
nghìn bài thơ 1-2-3 của một số bạn thấy đa số theo đúng luật thơ, nhưng một số
bài theo tôi thì chỉ là thơ 6 câu thôi. Vì câu đầu và câu cuối không có sự hô-ứng
để kết dính bài thơ, hoặc có bạn xen cả thơ lục bát vào cho êm tai nhưng lại
phá hỏng bài thơ… Ngay thơ tứ tuyệt cũng vậy. Câu khai (câu 1-
mở đề) và câu hợp (câu 4- kết bài) vừa có sự mở ra, đóng lại
các ý và hướng tới trường liên tưởng cho người đọc người nghe. Vậy chúng ta có
thể xem câu 1 và câu 6 của thơ 1-2-3 là những “thần cú” (câu thần), vô
cùng quan trọng. Cảm thụ thẩm mỹ của người đọc được nâng lên mức cao hơn, hoàn
chỉnh hơn chính là nhờ ở hai câu này. Và dĩ nhiên 4 câu 2,3,4,5 mỗi câu phải
làm được mỗi nhiệm vụ riêng nhưng phải dính kết để làm sáng tứ thơ của bài thơ.
Ta hãy tìm hiểu kỹ hơn về
một bài thơ 1-2-3 của nhà thơ Phan Hoàng. Anh cho biết: Trong một chyến đi du lịch
ở nước Nga mùa thu năm 2018, khi máy bay dừng nghỉ ở Qatar bên vịnh Ba Tư, anh
đã sáng tác chùm thơ, trong đó có bài “Từ những trang thơ cái đẹp gọi
tên” theo thể thơ 1-2-3 được nhiều bạn đọc yêu thích:
Từ những trang thơ
cái đẹp gọi tên
Đàn ngựa phi nước đại
trong tuyết rơi rừng vắng
đột ngột dừng dựng bờm hí
vang bến sông sâu
Trăng mờ ảo sau cơn mơ kỳ
lạ
Moskva về khuya như thiếu
phụ khát yêu thương
Tôi rót ly vodka nhớ
Yesenin và những thi sĩ tha phương.
Bài thơ ngắn gọn mà nói
được nhiều điều về vẻ đẹp của nước Nga hùng vĩ và lãng mạn.
Đoạn 1, tên bài thơ có 1
dòng 8 từ, tứ thơ nằm trong sự khái quát về vẻ đẹp nước Nga hiện lên trên những
trang thơ.
Đoạn 2 có 2 dòng, mỗi
dòng 10 từ vẽ lên cảnh thiên nhiên hùng vĩ với hình ảnh tuyết rơi, rừng vắng,
sông sâu, đàn ngựa hí… cho người đọc có thể tuởng tượng những trận chiến đã qua
trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và thiên nhiên đầy huyền bí mang vẻ kiêu
hùng.
Đoạn 3 có 3 dòng vẽ nên cảnh
lãng mạn êm dịu về đêm của Moskva với ánh trăng mờ ảo trong tâm tưởng. Câu 6 –
kết bài với 12 từ nói đến ly vodka và nhà thơ Yesenin – nhà thơ nổi tiếng về
tình yêu và thiên nhiên của nước Nga và liên tưởng tới những nhà thơ “tha
phương” khác đã góp phần làm nên vẻ đẹp ấy: “Tôi rót ly vodka nhớ Yesenin và những
thi sĩ tha phương” có sự hô-ứng với câu một – tên bài thơ “Từ những trang thơ
cái đẹp gọi tên”. Bài thơ rất giàu tính họa, tính nhạc tạo được những liên tưởng
cho người đọc, khơi dậy mỹ cảm. Đó chính là vẻ đẹp của nước Nga được hiện
lên mà thơ ca đã đem lại, và như thế “cái đẹp đã gọi tên”. Sự hô-ứng giữa
câu 1 và câu 6 bám sát tứ thơ: cái đẹp của nước Nga hiện lên trên những trang
thơ.
Tôi ấn tượng nhiều với tập
“Những đóa hoa khẽ hương” của nữ nhà thơ Bùi Thanh Hà với 122 bài thơ 1-2-3.
Thơ của chị có sự kiệm lời mà ý dư ba, rất đúng quy định chặt chẽ của luật thơ
1-2-3. Và đặc biệt là các câu 1 và câu 6 rất hô-ứng, rất gắn kết. Chị không bị
câu thúc bởi số từ ngữ tối đa của mỗi câu thơ. Phần lớn các bài thơ có nhiều
câu thơ ngắn 2-3 chữ. Bài “Gió muốn nói gì cùng em” là một ví dụ nén năng lượng
từ:
Gió muốn nói gì
cùng em
Trong bóng đêm những vì
sao lặn vào biển khát
Lặn vào mắt em
Gió vuốt ve làn tóc
Nơi đảo xa những chàng
trai mở căng lồng ngực
Gửi gió về…
Đoạn 1 (câu 1): giới thiệu
tứ thư Gió với tâm trạng nhân vật trữ tình là Em
Đoạn 2 (câu 2-3): Hình ảnh
thiên nhiên: sao, bóng đêm… nằm trong mắt và tâm hồn nhân vật trữ
tình với không gian rộng lớn (trời) và thời gian (đêm)
Đoạn 3 (3 câu): Sự liên
tượng về Gió, về đảo xa, về nhưng chàng hải quân cường tráng bảo về biển đảo.
Và câu kết (câu 6) chỉ 3 từ Gửi gió về có 3
dấu chấm lửng (…) sau câu gợi nên nhiều điều về Gió, về
tâm trạng nhân vật trữ tình. Nó hô-ứng cùng câu 1 – Gió muốn nói gì
cùng em.
Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ
và nén năng lượng chữ để gợi ra nhiều điều cùng bạn đọc “đồng sáng tạo”.
Gần sáu năm thử nghiệm thể
thơ này, tôi đã đọc gần nghìn bài thơ của nhiều tác giả Bắc Trung Nam, và đặc
biệt được đọc các tập thơ 1-2-3 khá hay tôi lại càng bị cuốn hút, từng
bước thấy được những “chân trời mới” của thể thơ này đem lại. Đó là tập
“Thủ thỉ phù sa” (xuất bản quý I/2022) của Nguyễn Đinh Văn Hiếu ở Trà Vinh, “Vọng
núi” (quý I/2022) của Trần Nguyệt Ánh ở Đắk Lắk, “Những ký tự xê dịch” (quý
II/2022) của Trần Thanh Dũng ở Sóc Trăng, “Lối sen sương” (quý II/2022) và “Ủ hồng
bếp lửa” (8.2024) của Vũ Thanh Thủy từ Phú Thọ, “Phong hờ hơi ấm” (quý IV/2022)
của Hoàng Hải Phương ở TPHCM, “Những cánh hoa mở đêm” (quý II/2023) của Phạm Thị
Phương Thảo” ở Hà Nội, “Hoa rong mùa bấc” (12.2023) của Trần Nhã My ở Tây Ninh,
“Những đóa hoa khẽ hương” (3.2024) của Bùi Thanh Hà ở Hà Nội, “Hãy nhìn vào mắt
bão và tin lời đắng cay” (quý III/2024) của Tạ Hùng Việt ở Khánh Hòa, “Ban mai
thơm mắt nắng” (10.2024) của Vũ Trần Anh Thư từ Hà Nội, tập “Vụn và lành” của
Nguyễn Tiến Nên ở Quảng Bình (10.2024).
Ngoài ra, còn những sáng
tác của nhiều tác giả khác như: Đoàn Hữu Nam, Hà Phi Phượng, Võ Văn Trường, Mai
Bá Ấn, Trần Thế Vinh, Bình Địa Lộc, Thanh Trần, Đặng Tuyết, Đặng Tường Vy, Bảo
Bình, Phạm Phương Lan, Bảo Ngọc, Cao Thanh Mai, Khang Quốc Ngọc, Nguyễn Trung
Nguyên, Huỳnh Thị Quỳnh Nga, Trương Mỹ Ngọc, Nguyễn Hữu Thông, Hà Vinh Tâm, Vũ
Tuyết Nhung, Lê Thanh Hùng, Mai Thìn, Nguyễn Doãn Việt, Đặng Toán, Đoàn Thị Diễm
Thuyên, Đỗ Xuân Thu, Nguyễn Đức Bá, Trần Thị Hồng Anh, Đỗ Thu Hằng, Hoa Níp, Võ
Hoàng Phương, Nguyễn Hồng Linh, Lê Đỗ Lan Anh, Huỳnh Khang, Vũ Hà, Võ Thị Như
Mai, Trần Văn Chính, Trần Thu Hằng, Trần Huy Minh Phương, Trần Thuỳ Linh, Hồ
Loan, Vũ Kim Liên, Đình Giao, Nguyên Trân, Giọt Thu, Hồ Xuân Đà, Đỗ Nguyên
Thương, Đinh Hạ, Trần Thị Bảo Thư, Thanh Yến, Hà Nguyên, Lương Mỹ Hạnh, Nguyễn
Thị Liên Tâm, Lê Văn Ri, Phạm Tuyết Hạnh, Lê Hải Kỳ, Đặng Văn Thắng, Lưu Minh Hải,
Phan Minh Thoại, Trầm Thanh Tuấn, Nguyễn Thị Nguyệt Thu, Chu Minh, Thế Thanh,
Lê Kim Phượng, Vũ Khắc Tĩnh, Phạm Thị Kim Khánh, Phan Thảo Hạnh, Lê Văn Hiếu,
Nguyễn Quỳnh Anh, Lê Hương, Lê Kỳ Nam, Hoàng Thị Bích Hà, Phạm Thị Hồng Thu, Lê
Thị Ngọc Nữ, Lê Tuyết Lan, Lê Phượng, Ben Oh, Lê Lệ Thủy, Quách Mộc Ngôn, Nguyễn
Minh Ngọc Hà, Đặng Văn Thương, Phan Phương Loan, Võ Quốc Việt, Lâm Long Hồ,
Nguyễn Thị Hằng, Hoài Thơ, Châu Mộng Thúy, Võ Văn Thọ, Võ Văn Hân, Nguyễn Duy
Chung, Lương Sơn, Nguyễn Trọng Lĩnh, Lương Ngọc Đại, Hà Ngọc Yến, Quang Hoài,
Ngô Mậu Tình, Giang Đăng, Tặng Vũ, Đào Nguyên, Hồng Nhạn, Trần Thị Thùy Vy, Trần
Ngọc Tuyết, Trần Mai Ngân, Đào Tấn Trực, Huỳnh Thanh Liêm, Châm Võ, Phạm Hồng
Soi, Nguyễn Lan Hương, Hạ Như Trần, Chử Lê Hoàng Điệp, Thiên Trúc, Nguyễn Đại
Duẫn, Chiên Nguyễn, Lê Hoành Phò, Văn Luân, Nguyễn Thị Lai, Đào Nguyên, Nguyễn
Tấn On, Nguyễn Trọng Văn, Từ Dạ Linh, Nguyễn Ngọc Hưng, Văn Diên, Nguyễn Thị
Thanh Long, Đỗ Mạnh Hùng, Mai Xuân Thắng, Nguyễn Bá Hoà, Ngô Làm, Phạm Quỳnh
Loan, Doãn Thuỵ Như, Doãn Minh Trịnh, Hà Nguyên, Vũ Lam Hiền, Khét, Mai Thanh Hằng,
Đỗ Toàn Diện, Cao Ngọc Toản, Hồ Trung Chính, Thái Bảo – Dương Đỳnh, Tuấn Phạm, Trần
Thị Kim Cúc, Hoàng Cẩm Thạch, Thanh Trắc Nguyễn Văn, Vương Xoan, Đoàn Hạnh,
Dương Vũ, Nguyễn Đình Phê, Đăng Ngọc, Phạm Thế Chất, Nguyễn Ba, Đỗ Thu Yên, Lê
Nguyên, Đỗ Quảng Hàn, Vương Thanh Lan, Sang Trương, Phan Duy, Niê A Dũng, Hoàng
Trung Vũ, Mai Hân Hạnh, Bùi Thị Hiền, Nguyễn Thị Hoà, Trần Ngọc Sương,…
Đọc thơ 1-2-3 ta không thể
đọc nhanh như đọc thơ lục bát hay thơ tự do mà phải đọc chậm để suy ngẫm. Những
bài có “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời) có những “tảng băng chìm”
thì phải đọc ít nhất ba lần. Lần thứ nhất là đọc kiểu “bì phu” (sờ ngoài da) để
nắm tổng thể bài thơ. Đọc lần thứ hai theo lối “cốt nhục” (đụng tới xương thịt
bài thơ) để đi sâu một bước thu nhận những hình ảnh và sự liên tưởng theo trí
tưởng tượng. Và đọc lần thứ ba với hình thức “hút tủy” để thấy được những gì là
tinh túy nhất của bài thơ, đặc biệt những gì mới lạ mà tứ thơ đem lại. Cố nhà
thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã viết:
Túi nhà thơ có ba ngăn
Tứ, Từ, Tư đủ
quanh năm tiêu xài.
Nghĩa là thơ trước hết phải
có Tứ, rồi sau đó mới dùng Từ ngữ để
biểu hiện, diễn đạt. Và bài thơ luôn phải có Tư (nội
dung, tư tưởng tốt). Xin lấy ví dụ về bài thơ “Lối sen sương” trong số 154 bài
thơ 1-2-3 của nhà thơ Vũ Thanh Thủy ở Phú Thọ (Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam)
trong tập “Lối sen sương”:
Lối sen sương
Thuyền độc mộc rẽ lối sen
sương nung ngân ngấn đợi
Ban mai ngan ngát gọi
Lứa hoa nào đượm hương
Người thưởng thức tinh
thơm sảng khoái
Nhấp ngụm trà lắng đọng
Việt Nam.
Tên bài thơ: Lối
sen sương là một câu có 3 từ mang tính khái quát là chủ đề bài
thơ. Đó là con đường là Lối đi tới hồ sen (đầm sen) từ
lúc ban mai để dẫn người đọc tiếp tục khám phá ở những câu thơ tiếp. Nhân vật
trữ tình ở đây là Sen, không gian mờ ảo, thời gian tinh mơ của
một ngày qua hình ảnh Sương. Tên bài thơ rất gợi và mở
trong một không gian và thời gian đa chiều mà Tứ thơ sẽ được khai triển.
Các câu 2-3-4-5 tứ thơ được
diễn ngôn qua các hình ảnh và nhân vật trữ tình tạo nhiều liên tưởng: thuyền
độc mộc, ban mai gọi, lửa hoa, người thưởng thức tinh thơm…Các từ láy “ngân
ngấn”, “ngan ngát” cùng cách ngắt nhịp tạo thêm tính nhạc cho bài thơ. Người
đọc có thể tưởng tượng ra cảnh vào buổi sớm tinh sương có người chèo thuyền độc
mộc ra hồ sen lựa chọn từng búp sen vừa đủ độ chín cho hương nhụy đem về ướp
“trà sen” để rồi người thưởng trà sẽ nhấp từng ngụm một trong mùi hương tinh
thơm sảng khoái mà thấy được sự độc đáo của “liên trà” lắng đọng vẻ đẹp của con
người và cảnh vật Việt Nam. Từ vẻ đẹp tao nhã này – một nét ẩm thực tuyệt vời từ
xưa của người Việt Nam, ta có thể liên tưởng đến kiểu thưởng thức “trà đạo” rất
đẹp và kỳ công của Nhật Bản và loại “Trảm mã trà” độc nhất vô nhị và có phần
tàn nhẫn của vua chúa phong kiến Trung Hoa ngày xưa.
Câu kết “Nhấp ngụm trà
lắng đọng Việt Nam” tạo được sự hô ứng với câu 1 “Lối sen
sương” và làm nổi bật chủ đề, đề tài bài thơ là vẻ đẹp của Sen trong ẩm
thực của người Việt Nam được nâng lên tầm văn hóa “liên trà”. Nhà thơ Phan
Hoàng rất có lý khi nhận xét ở Lời giới thiệu tập thơ có 81 bài Thơ 1-2-3 này
khá hay: “Sống cho mình, sống cho mọi người. Đó là bản lĩnh mà cũng là cánh
cửa khai mở hành trình thơ nhiều chông gai và đầy thi hứng sáng tạo của Vũ
Thanh Thủy với chiều sâu cảm thức văn hóa cội nguồn và nhân sinh”.
Ở tập thơ 1-2-3 “Vọng
núi” với 154 bài của nhà giáo, nhà thơ Trần Nguyệt Ánh ở Đắk Lắk và tập “Thủ thỉ
phù sa” gồm 111 bài của nhà giáo, nhà thơ trẻ Nguyễn Đinh Văn Hiếu ở Trà Vinh
cùng nhiều tác giả khác mà tôi đã được đọc với nhiều bài hay, và sẽ có dịp đề cập
đến ở một bài viết khác.
Thơ là “rượu được
chưng cất”, là “con rồng thần thấy đầu chẳng thấy đuôi. Có khi trong mây
chỉ ánh lên một cái vảy” (Văn tâm điêu long). Thơ 1-2-3 là thơ gợi những lời
hay ý đẹp thật cô động được chắt lọc từ “quặng chữ” để có được miligam uraniom
làm nên sự bùng nổ trong tâm tưởng người thưởng thức. Nhà thơ Phan Hoàng – người
có công khởi xướng, khai sinh và thử nghiệm thể thơ mới này, góp phần làm giàu
kho tàng thơ ca Việt đang được đông đảo bạn đọc đón nhận. Xin mượn lời anh để kết
lại bài viết tản mạn này về một thể thơ mới mà mình yêu thích: “Trong sáng tạo
nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng đi tìm phương thức mới để biểu hiện
bao giờ cũng rất khó, và càng khó hơn khi không dễ được bạn đọc tiếp nhận, chia
sẻ. Chỉ có sự đam mê và dũng cảm mới giúp chúng ta tự tin tìm tòi, khám phá” (Lời
giới thiệu tập thơ “Vọng núi”).
29/11/2024
Lê Xuân
Theo https://vanhocsaigon.com/
Văn học đồng hành cùng dân tộc và khát vọng của nhân dân
Văn học đồng hành cùng
dân tộc
và khát vọng của nhân dân
Sau ngày 30.4.1975, chiến
tranh chống Mỹ kết thúc và mở ra một chương mới trong lịch sử Việt Nam hiện đại.
Kể từ thời điểm này, cả nước tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, nỗ lực
thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cấm vận và khủng hoảng kinh tế, đồng lòng bước
vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Cùng với sự thống nhất chủ quyền và
lãnh thổ, hai nền văn học tồn tại trong hai chính thể khác nhau đã thống nhất
thành một thể, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Giờ đây, khát vọng “nối
vòng tay lớn”, hoà hợp dân tộc sau những biến động dữ dội của lịch sử là khát vọng
của hàng chục triệu người. Để biến khát vọng thành hiện thực, cần phải biết
khép lại quá khứ trên tinh thần hoà giải, chia sẻ, thấu hiểu lẫn nhau. Nhưng
khép lại không có nghĩa là lãng quên. Bởi để có được hoà bình, chúng ta đã phải
trả giá bằng rất nhiều xương máu, mồ hôi và nước mắt. Đó là một sự thật lịch sử
cần được tôn trọng.
1. Những thành tựu chủ yếu
Cùng với sự chuyển mình,
phát triển mạnh mẽ của đất nước trong suốt 50 năm qua, văn học Việt Nam sau
1975 đã thu được nhiều thành tựu quan trọng.
Nhìn tổng thể, phần lớn đội
ngũ cầm bút là những nghệ sĩ giàu lòng yêu nước, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, gắn
bó máu thịt với tổ quốc và nhân dân. Nhiều nhà văn đã trải qua những giờ phút đối
mặt với sinh tử, họ đến với hoà bình từ khói lửa của chiến tranh. Từ trong chiến
tranh, họ luôn mang khát vọng hoà bình. Đó là những nghệ sĩ – chiến sĩ vượt lên
mọi thử thách, hy sinh để “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”. Rồi chiến tranh
đi qua, mang trong mình những chấn thương dai dẳng, họ vẫn tiếp tục cầm bút.
Không chỉ các nhà văn trong nước mà nhiều nhà văn người Việt ở nước ngoài cũng
thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc bằng những trang viết nặng tình quê hương, xứ
sở.
Khác với văn học 1945 –
1975, văn học Việt Nam sau 1975 tồn tại và phát triển trong một bối cảnh lịch sử,
văn hoá, xã hội mới. Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu, toàn cầu
hoá và kinh tế thị trường, sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, internet và truyền
thông hiện đại đã tạo nên khuôn diện mới của thời đương đại. Đây là những yếu tố
tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, văn hoá và văn học Việt Nam.
Trong lĩnh vực sáng tác,
sự đổi mới văn học bắt đầu từ sự tìm kiếm một ý thức mỹ học mới. Mỹ học thời
chiến đã được thay thế bởi mỹ học thời bình, cái nhìn sử thi đã dần nhường chỗ
cho cái nhìn thế sự – đời tư. Từ giã “một thời lãng mạn”, nhà văn Nguyễn Khải
nói lên tâm thế sáng tạo của nhiều nhà văn đương đại: “Tôi thích cái hôm nay,
cái ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những
biến động, những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức
khai vỡ”. Cái “hôm nay” chính là thứ thực tại đang chuyển động, chưa bao giờ
hoàn kết. Những quy phạm nghệ thuật cũ, những nhận thức cũ cần phải được thay
thế bằng cái nhìn mới để thích ứng với sự chuyển động của thực tiễn. Kinh tế thị
trường, đô thị hoá và nhịp sống đương đại đã cuốn con người vào vòng xoáy khốc
liệt của nó, làm đảo lộn nhiều giá trị khiến không ít người đánh mất bản lĩnh,
chạy theo lối sống thực dụng, sùng bái vật chất, vô cảm trước nỗi đau đồng loại.
Con người dường như trở nên cô đơn hơn và luôn thấy mình bất an trước vô vàn mối
quan hệ phức tạp, khó lường của thời hậu chiến.
Những biến động này đã được
nhiều cây bút nhạy bén nhất của văn học Việt Nam như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Khải, Ma Văn Kháng… miêu tả một cách sắc nét vào những năm đầu thập kỷ 80. Bắt
đầu từ 1986, với tinh thần “nhìn thẳng sự thật”, “nói thẳng sự thật”, nhiều cây
bút đã thực hiện hàng loạt truy vấn, đối thoại trong trang viết của mình. Cao
trào Đổi mới văn học diễn ra vào giữa thập niên 80 và tiếp tục được mở rộng về
sau đã chứng kiến sự xuất hiện của một đội ngũ cầm bút tài năng. Về văn xuôi là
Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Lê Minh Khuê, Tạ
Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương… Về thơ là Dương Kiều
Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Trần Quang Quý, Trần Anh Thái,
Inrasara… Về kịch là Lưu Quang Vũ, Xuân Trình… Trong môi trường dân chủ xã hội
được mở rộng, tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng, văn học sau 1975
đã cố gắng miêu tả đời sống trong tính đa chiều với nhiều cách tân nghệ thuật
táo bạo. Nhờ đó, văn học Việt Nam đương đại đa dạng về khuynh hướng và bút
pháp, phong phú về phong cách và giọng điệu nghệ thuật. Người đọc bắt gặp trong
văn học đương đại sự hiện diện của nhiều loại hình diễn ngôn nghệ thuật như diễn
ngôn chấn thương, diễn ngôn sinh thái, diễn ngôn đô thị, diễn ngôn lịch sử…
Bên cạnh văn học dòng
chính/ trung tâm là sự sôi động của văn học dòng phụ/ ngoại vi. Hình thức xuất
bản và truyền bá văn học cũng hết sức đa dạng với loại hình xuất bản truyền thống/
chính ngạch và xuất bản phi truyền thống (internet)/ tiểu ngạch… Việc đẩy mạnh
giao lưu văn hoá quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ truyền thông hiện đại đã mở
rộng cánh cửa cho nhiều trào lưu tư tưởng, văn hoá, nghệ thuật hiện đại, hậu hiện
đại của thế giới thâm nhập vào hệ sinh thái nghệ thuật Việt Nam, góp phần kích
hoạt sự phiêu lưu sáng tạo của nghệ sĩ, đặc biệt là những cây bút ưa tìm tòi,
thể nghiệm. Đáng chú ý là một số cây bút xuất sắc đã nhận được nhiều giải thưởng
văn học quốc tế có uy tín. Thực tế ấy đặt ra một phân vân: phải chăng văn học
Việt Nam đã xuất hiện những đỉnh cao nghệ thuật (dù hiếm hoi) nhưng chúng ta
chưa nhận thấy hết giá trị đích thực và tầm vóc mĩ học toát lên từ những tác phẩm
này?
Trong lĩnh vực lý luận,
phê bình, ý thức đổi mới tư duy nghiên cứu và nỗ lực hiện đại hoá lý luận, phê
bình đã giúp cho đời sống lý luận, phê bình có nhiều khởi sắc. Sự thay đổi nhãn
quan khoa học, việc mở rộng tiêu chí đánh giá giá trị trên nền tảng nhân văn hiện
đại đã giúp cho lý luận, phê bình dần thoát khỏi lối phê bình áp đặt, máy móc,
giáo điều. Về tổng thể, lý luận, phê bình văn học Việt Nam đương đại lấy mỹ học
marxist, đường lối văn nghệ của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, đồng
thời chú trọng việc mở rộng biên độ nghiên cứu và phương thức tiếp cận trên cơ
sở kế thừa tinh hoa văn hoá dân tộc và những thành tựu khoa học xã hội và nhân
văn hiện đại của thế giới. Từ sau 1975, nhiều tư tưởng mỹ học và lý thuyết văn
học hiện đại của phương Tây đã được dịch, giới thiệu, vận dụng một cách hiệu quả
như thi pháp học, tự sự học, cấu trúc luận, ký hiệu học, nữ quyền luận, phê
bình sinh thái, lý thuyết diễn ngôn… Đây là những cú hích quan trọng để lý luận,
phê bình văn học sau 1975, đặc biệt từ Đổi mới đến nay có sự đổi mới thực sự, từng
bước hội nhập với trình độ nghiên cứu văn học của khu vực và quốc tế.
2. Hạn chế, bất cập
Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu đã nói ở trên, đời sống văn học Việt Nam sau 1975 vẫn còn nhiều hạn
chế, bất cập. Vì sao đã 50 năm trôi qua tính từ 1975, văn học Việt Nam vẫn quá
hiếm những đỉnh cao nghệ thuật? Đây là nỗi băn khoăn, trăn trở của rất nhiều bạn
đọc. Ở đây, xin được nói đến một số hạn chế, bất cập cơ bản trong văn học đương
đại như sau:
Thứ nhất, thiếu tương xứng
giữa lượng và chất: Số lượng xuất bản phẩm văn học, cả sáng tác và lý luận, phê
bình từ sau 1975 là vô cùng phong phú về chủng loại nhưng còn khiêm tốn về chất
lượng. Đây là một thực tế cần được tìm hiểu, phân tích thấu đáo. Điều đáng nói
là việc chúng ta chưa tạo được nhiều sản phẩm nghệ thuật ưu tú, những “bách
khoa thư” đồ sộ đủ sức tái hiện một cách sinh động số phận và khát vọng của dân
tộc trong tính sâu sắc, rộng lớn và kỳ vĩ. Vẫn còn không ít nhà văn quá say mê
với cái tôi riêng tư nhỏ hẹp hoặc chạy theo những thời thượng nghệ thuật mà
chưa dấn thân một cách quyết liệt để chạm tới lõi sâu của lịch sử, văn hoá và
khát vọng của dân tộc để tạo nên những tác phẩm cao về tư tưởng, sâu về nghệ
thuật. Còn quá ít nhà văn đủ sức mở ra những chiều kích mỹ học mới mẻ, hiện đại.
Việc phản biện, phê phán thói hư tật xấu trong xã hội, tệ tham nhũng, sự tha
hoá và thói vô cảm của con người nhằm cảnh báo sự xuống cấp về đạo đức, lối sống
là hết sức cần thiết, nhưng cũng không được xem nhẹ sứ mệnh của văn học là khơi
thức tinh thần hướng thiện, lối sống cao đẹp, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng trên
tầm nhìn nhân văn hiện đại. Đây là những yêu cầu rất cao mà bạn đọc cần đến sự
mẫn cảm và tài năng sáng tạo của nhà văn.
Thứ hai, mặt trái của
kinh tế thị trường và sự phân hoá, biến đổi trong thị hiếu tiếp nhận có ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống văn học. Mặt tích cực của kinh tế thị trường là giải
phóng sức sáng tạo, hình thành thị trường văn học và tạo ra không gian mới cho
phép sự xuất hiện của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau. Mặt trái của nó là
“dung dưỡng” cho khuynh hướng thương mại hoá và tạo môi trường cho văn học giải
trí có điều kiện bùng nổ như nấm sau mưa. Phê bình cánh hẩu, thù tạc hay PR tác
phẩm một cách dễ dãi cũng chính là biểu hiện của tình trạng thương mại hoá
trong lĩnh vực phê bình. Trong trường hợp này, nhà phê bình tự đánh mất vai trò
“ngự sử” của mình và góp phần tạo nên sự loạn chuẩn, lệch chuẩn trong đánh giá
và thưởng thức nghệ thuật. Rộng hơn, kinh tế thị trường và sự phát triển vũ bão
của văn hoá đại chúng cũng là nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm của văn hoá và
văn học tinh hoa. Đây là một thực tế đòi hỏi chúng ta phải có những điều chỉnh
khoa học để đưa ra chiến lược phát triển văn học, nghệ thuật đương đại hợp lý,
khả thi.
Thứ ba, việc tiếp thu ảnh
hưởng văn học, nghệ thuật hiện đại của thế giới là vô cùng cần thiết để văn học
Việt Nam nhanh chóng hội nhập với văn học nhân loại. Tuy nhiên cần tránh cực
đoan trong tiếp nhận, tránh rơi vào tình trạng sính ngoại mù quáng. Cũng không
vì ý thức phản tư hoặc nhân danh ảnh hưởng nghệ thuật hậu hiện đại để xuyên tạc
và giải thiêng lịch sử một cách tuỳ hứng vì về bản chất, những giá trị đích thực
sẽ không thể giải thiêng bằng những lý do ngoài nghệ thuật. Giải thiêng cần được
hiểu như là một phương diện của chủ nghĩa nhân văn hiện đại để “người gần người
hơn”. Một số cây bút, bất chấp sự khác biệt văn hoá đã miêu tả đời sống một
cách quá mức tục tĩu, hoặc do nhìn nhận đời sống một cách méo mó đã viết nên những
trang viết sống sượng khiến độc giả phản ứng gay gắt. Thiết nghĩ, đây cũng là
bài học kinh nghiệm trong giao lưu văn hoá. Bản lĩnh của nhà văn trong tiếp nhận
tinh hoa văn hoá dân tộc nhân loại là chủ động tích hợp để chuyển hoá thành
năng lượng sáng tạo, từ đó kiến tạo diễn ngôn nghệ thuật độc đáo đủ sức chinh
phục người đọc.
3. Một số giải pháp phát
triển văn học
Về quan điểm và phương
châm phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại, dân chủ, nhân
văn, giàu bản sắc dân tộc chúng tôi cho rằng Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã
xác định rất cụ thể và sát đúng với thực tiễn văn học, nghệ thuật đương đại. Ở
đây, xin được nêu lên ba nhóm giải pháp cơ bản để chúng ta cùng thảo luận như
sau:
Thứ nhất, nhân tố quan trọng
nhất quyết định tầm vóc của một nền văn học là tài năng, tâm huyết của người cầm
bút. Vì sao đã 50 năm trôi qua, chúng ta vẫn ít có những kết tinh nghệ thuật xứng
tầm kiệt tác? Văn học Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ văn học thế giới? Đó là
những câu hỏi và cũng là kỳ vọng đặt ra cho tất cả chúng ta, trước hết là cho
nhà văn. Chúng ta phải làm gì để tạo điều kiện tối đa nhằm giải phóng triệt để
cá tính sáng tạo và tiềm năng sáng tạo của nhà văn? Rõ ràng, một không gian
tinh thần rộng mở, một cái nhìn khoáng đạt trong nhìn nhận, đánh giá sẽ giúp
cho nhà văn “tự cởi trói” để tự do phiêu lưu trong trong sáng tạo nghệ thuật.
Muốn mới, lạ nhà văn phải vượt lên cái cũ để nhìn nhận đời sống từ mỹ học của
cái khác. Hơn nữa, trong đời sống nghệ thuật đương đại, cần nhìn thấy rõ hơn sự
tương tác giữa viết và đọc, giữa sáng tạo và tiếp nhận vì tiếp nhận cũng cần đến
sự đổi mới về trình độ thưởng lãm nghệ thuật để nhận thấy và mở lòng trước những
cách tân. Đúng hơn, nhà văn lớn cần đến người đọc lớn, và người đọc lớn đòi hỏi
phải có nhà văn lớn tương ứng. Đó là chiều sâu của tư duy đối thoại và sự vận
hành của đời sống văn học, nghệ thuật đương đại. Gần đây, với sự xuất hiện của
trí tuệ nhân tạo, không ít người lo lắng AI có thể thay thế công việc của nhà
văn. Xin thưa, AI không bao giờ thay thế được nhà văn bởi văn chương là câu
chuyện của tâm hồn, cá tính và phong cách. Cho dù rất thông minh, nhưng AI
không thể có những thổn thức, những nỗi đau, niềm hạnh phúc và sự “mê sảng tinh
thần” như A. Pushkin từng nói về quá trình sáng tạo và sự tận hiến trong nghệ
thuật của nhà văn.
Thứ hai, tăng cường mở rộng
giao lưu văn hoá quốc tế để mạnh đẩy mạnh hơn nữa tiến trình hội nhập, đưa văn
học Việt Nam nhanh chóng bắt kịp tư duy, nhịp điệu của nghệ thuật hiện đại thế
giới. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy giao lưu văn hoá là con đường hiệu quả để hiện
đại hoá văn học. Tuy nhiên tiếp nhận văn hoá nhân loại khác với mô phỏng, bắt
chước một cách thụ động. Cần phải hình thành bộ lọc văn hoá chủ động, tiếp nhận
một cách hợp lý, gắn tiếp nhận với tiếp biến, từ đó mở ra những sinh lộ sáng tạo
mới. Trong giao lưu văn hoá, cần chú ý thích đáng đến sự kết hợp giữa nhân tố nội
sinh và nhân tố ngoại sinh, giữa truyền thống và hiện đại để tránh rơi vào tình
trạng cực đoan, thậm chí hư vô trong sáng tạo nghệ thuật. Đây là bài toán nan
giải, cần đến bản lĩnh và cách ứng xử thông minh của nhà văn trong thực hành
nghệ thuật.
Thứ ba, đẩy mạnh sự phát
triển của lý luận, phê bình văn học vì lý luận, phê bình chính là sự tự ý thức
của văn học về chính nó. Một mặt, lý luận, phê bình văn học phải nhanh chóng cập
nhật trình độ nghiên cứu hiện đại của thế giới, phải tích cực đổi mới phương
pháp nghiên cứu, vừa chú trọng phát triển nghiên cứu chuyên ngành, vừa mở rộng
nghiên cứu liên ngành. Mặt khác, cần đẩy mạnh nghiên cứu, bổ sung, phát triển
di sản lý luận, phê bình marxist và mỹ học truyền thống nhằm tạo nên sự tích hợp
các nguồn năng lượng tri thức văn hoá. Để có được sự phát triển đúng đắn, lành
mạnh, văn học đương đại cần đến một đội ngũ quản lý văn học, nghệ thuật tinh
thông nghề nghiệp, xứng đáng là “bà đỡ” cho những giá trị nghệ thuật mới ra đời.
Cần coi đây là một phương diện quan trọng liên quan đến tính hiệu quả của thiết
chế văn hoá, nghệ thuật nhằm tạo dựng hành lang tư tưởng khoáng đạt, đủ sức
kích hoạt tối đa năng lượng sáng tạo của nhà văn, đồng thời phát hiện, bồi dưỡng
những tài năng văn học mới của tương lai.
30/11/2024
Nguyễn Đăng Điệp
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thành tựu của văn học Việt Nam sau 1975: Nhìn từ việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây hiện đại
Thành tựu của văn học Việt
Nam
sau 1975: Nhìn từ việc tiếp nhận
lý thuyết phương Tây hiện đại
Với những gì chúng tôi đã
khảo sát và minh chứng ở trên trong lĩnh vực lý luận phê bình và sáng tác văn học
nhìn từ việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây, có thể xác quyết rằng văn học Việt
Nam từ sau 1975 đến nay đã thu được những thành tựu đáng khích lệ. Đó là điều
không thể phủ nhận. Tuy vậy, nền văn học nước nhà không phải, không còn những hạn
chế, thậm chí những “khuyết tật” mà nếu chúng ta không tỉnh táo nhìn nhận một
cách khách quan công bằng và khoa học thì sẽ gặp rất nhiều trở lực trong xu hướng
hội nhập và phát triển của thời kỳ tòan cầu hóa.
1. Mở:
Không phải ngẫu nhiên,
trong ‘Thi nhân Việt Nam”, mở đầu tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”, Hoài
Thanh đã xác quyết: “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch
sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ” . Trong cuộc biến thiên ấy, có sự biến thiên của
đời sống văn học cả về sáng tác và lý luận phê bình. Kết quả đã hình thành đội
ngũ những nhà văn, nhà lý luận – phê bình mà tên tuổi và trước tác của họ được
tôn vinh như những nhà khai sáng của nền văn học dân tộc, đến nay hào quang vẫn
còn lấp lánh trên văn đàn. Đó là các nhà văn: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam,
Hoàng Đạo trong Tự lực Văn đoàn; Các nhà văn hiện thực: Vũ Trọng Phụng, Nam
Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan; Các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới:
Phan Khôi, Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu,
Huy Cận, Chế Lan Viên, Yến Lan, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính, Vũ
Đình Liên,… Và các nhà lý luận phê bình: Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan,
Trương Tửu, Đặng Thai Mai, Trần Thanh Mại, Kiều Thanh Quế… Vì vậy, nhận định về
ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đối với xã hội Việt Nam, trong đó có văn nghệ,
Phạm Văn Đồng cho rằng: “Trong khoảng thời gian dưới chế độ thực dân Pháp, dân
tộc ta đã tiếp thụ và vận dụng những thành tựu của văn hóa văn minh phương Tây,
một thành tựu nổi bật là sự ra đời của chữ quốc ngữ chữ viết của dân tộc ta
ngày nay. Những phong trào văn hóa đa dạng trong những thập niên đầu thế kỷ XX,
với sự đổi mới rõ rệt và sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực văn học nghệ
thuật, phong hóa và lối sống, một lần nữa chứng tỏ sự nhạy cảm và khả năng thâu
hóa của dân tộc ta đối với những trào lưu văn hóa từ bên ngoài” . Như vậy,
trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc, sự gặp gỡ văn hóa
phương Tây, trong đó có việc tiếp nhận các học thuyết lý luận phê bình văn học
những năm đầu thế kỷ XX đã mở ra bước ngoặt quan trọng và cần thiết như một tất
yếu cho việc hiện đại hóa nền văn học nước nhà, hội nhập vào văn học thế giới.
Như thế, việc tiếp nhận
lý thuyết phương Tây hiện đại vào đời sống văn học Việt Nam, không phải là một
vấn đề mới lạ mà đã có tiền lệ, đã góp phần tạo nên thành tựu cho nền văn học
nước nhà. Song, từ sau năm 1945 đến trước 1986, do nhiều nguyên nhân khác nhau,
việc tiếp nhận văn hóa phương Tây, trong đó có các lý thuyết văn học hiện đại
như: Phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận, cấu trúc luận, phong
cách học, mỹ học tiếp nhận, nữ quyền luận… gần như bị đứt gãy. Thậm chí, do
quan niệm hạn chế trong giai đoạn này, các trường phái lý luận – phê bình văn học
phương Tây đều bị cho là “suy đồi”, “phản động”, từ đó dẫn đến tình trạng kỳ thị,
xem thường lý thuyết phương Tây và những sáng tác văn học chịu ảnh hưởng hệ giá
trị của văn hóa phương Tây như phong trào Thơ mới, Tự lực Văn đoàn trong văn học
giai đoạn 1930 -1945 hay Văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975. Không những thế,
chúng ta còn độc tôn vai trò của lý luận – phê bình Mác xít và các sáng tác văn
học viết theo hệ mỹ học Mác Lênin, làm cho đời sống văn học hơi đơn điệu, thậm
chí khác biệt so với văn học thế giới. Đây là thiệt thòi, đáng tiếc cho nền văn
học nước nhà. Bởi lẽ, việc độc tôn bất cứ một khuynh hướng sáng tác hay lý luận
– phê bình nào cho dẫu đó là khuynh hướng lý thuyết được xây dựng trên cơ sở những
hệ tư tưởng mỹ học “tiên tiến” nhất, bản thân nó cũng không thể luận giải hết
những vấn đề đặt ra trong đời sống văn học. Nói như Tam Ích nếu “nhắm mắt lại
mà áp dụng các giáo điều thì đều mắc phải bệnh ấu trĩ cho nhà sáng tác. Rồi đến
ấu trĩ cho nhà phê bình cũng theo những nguyên tắc có sẵn mà nói, và ấu trĩ
luôn cho độc giả”. Tâm thức này cũng đã trở thành quán tính trong tư duy sáng
tác và lý luận phê bình văn học của nước ta trong thập niên đầu của đất nước thống
nhất từ 1975 đến 1986.
Nhưng từ khi tiến hành
công cuộc đổi mới, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật” đã khởi xướng từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, cùng với một
quyết tâm chính trị đầy phẩm tính hiện sinh “Đổi mới hay là chết”, các vị lãnh
đạo của Đảng lúc ấy đã thổi vào đời sống dân tộc, trong đó có văn học luồng
sinh khí mới. Đất nước mở cửa, vươn ra thế giới, hòa nhập cùng nhân loại, khép
lại “khung cửa hẹp” làm cản trở sự phát triển của đất nước trong thời gian dài
trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là vận hội vô cùng thuận lợi, mở
ra cho sáng tác và lý luận – phê bình văn học những chân trời mới trong việc tiếp
nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó có lý thuyết văn học phương Tây, từ
đó hòa nhập vào trào lưu chung của văn học thế giới. Và đây là dấu ấn quan trọng
nhất minh chứng cho những thành tựu của nền văn học nước nhà từ sau 1975 đến
nay trên hai bình diện lý luận phê bình và sáng tác văn học.
2. Dấu ấn lý thuyết
phương Tây – Thành tựu của lý luận phê bình văn học từ 1975 đến nay
Khảo sát đời sống lý luận
– phê bình văn học Việt Nam sau 1975, rõ nhất là văn học thời kỳ đổi mới, ta thấy
bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa lý luận – phê bình văn học phương Đông vốn đã
có tiền đề từ trước trong nền văn học trung đại và luôn được duy trì trong nền
văn học dân tộc, diện mạo đời sống văn học nói chung và lý luận – phê bình văn
học nói riêng đã có những bước phát triển, phong phú, đa dạng, trong đó có
thành tựu của việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây được thể hiện qua các công
trình dịch thuật, giới thiệu và ứng dụng các khuynh hướng lý luận – phê bình hiện
đại của phương Tây vào nghiên cứu các hiện tượng văn học mà trước kia với nhiều
lý do chúng ta chưa có điều kiện nghiên cứu. Đó là những công trình dịch thuật
nhằm truyền bá các trường phái triết mỹ phương Tây để làm công cụ giúp các nhà
nghiên cứu, lý luận, phê bình có cơ sở lý thuyết khám phá các hiện tượng văn học
từ nhiều điểm nhìn khác nhau như: Alain Robbe – Grillet và sự đổi mới tiểu thuyết,
Lê Phong Tuyết dịch (1993); Phê bình văn học Pháp thế kỉ XX, Lộc Phương Thủy chủ
biên (1995); Octavio Paz: Thơ văn và tiểu luận, Nguyễn Trung Đức dịch (1998);
M.Kundera: Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch (1998), J. P.Sartre: Văn học
là gì, Nguyên Ngọc dịch (1999); M.Kundera: Tiểu luận, Nguyên Ngọc dịch (2000);
Chủ nghĩa cấu trúc và thuyết hiện sinh, Trần Thiện Đạo (2001); Văn học phi lí,
Nguyễn Văn Dân dịch (2001); Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Trịnh Bá Đĩnh dịch
(2002); Phê bình lý luận văn học Anh – Mỹ, Lê Huy Bắc chủ biên (2002); Văn học
hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lý thuyết, Nhiều tác giả (2003); Ngôn ngữ
bị lãng quên của Erich Fromm, Lê Tịnh dịch (2002); Phân tâm học và văn học nghệ
thuật (2000), Phân tâm học và văn hóa tâm linh (2002), Phân tâm học và tình yêu
(2003) do Đỗ Lai Thúy biên soạn; J.M. Lotman: Cấu trúc văn bản nghệ thuật do Trần
Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch (2004); Kate Hamburger: Logic học
về các thể loại văn học do Trần Ngọc Vương và Vũ Hoàng Địch dịch (2004); Luận
bàn về văn minh của Sigmud Freud do Trần Khang dịch (2005); Bản mệnh lý thuyết
do Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào dịch (2006); Lý luận phê bình văn học thế giới Thế
kỷ XX (2 tập) do Lộc Phương Thủy chủ biên (2007); Lý luận văn học của R.Wellek
và A.Warren do Nguyễn Mạnh Cường dịch (2009); Văn chương lâm nguy của Todorov
do Trần Huyền Sâm, Đan Thanh dịch (2013); Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại Lê
Nguyên Cẩn dịch của L. Petrescu (2013); Văn học và cái ác của R. Barthes do
Ngân Xuyên dịch (2013) ; Kafka vì một nền văn học thiểu số của Gilies Deleuze
và Félix Guattari do Nguyễn Thị Từ Huy dịch (2013); Thuyết hiện sinh là một
thuyết nhân bản của J. P. Sartre do Đỗ Hồng Phúc dịch (2015); Cái Tôi và Cái Nó
của Sigmud Freud do Thân Thị Mận dịch (2015); Sâu xa hơn nguyên tắc không đổi của
Sigmud Freud do Thân Thị Mận dịch (2016); Đọc truyện ngắn của Daniel Grojnowski
do Trần Hinh và Phùng Kiên dịch (2017); Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật
của Denis Diderot do Phùng Văn Tửu dịch (2017); Chủ nghĩa hiện sinh – Dẫn luận
ngắn của Thomas Flynn do Đinh Hồng Phúc dịch (2018); Về giấc mơ và diễn giải giấc
mơ của Sigmud Freud do Ngụy Hữu Tâm dịch (2019); Những cuộc hội ngộ của
văn chương thế giới (Văn học so sánh: nghiên cứu và dịch thuật), Khoa văn Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn (2019); Nhập môn lý thuyết văn học của Jonathan
Culler do Phạm Phương Chi dịch (2020)…
Ngoài việc dịch thuật các
trường phái lý thuyết phương Tây hiện đại, các nhà lý luận phê bình văn học còn
nghiên cứu ứng dụng hệ hình tư duy lý thuyết này để giải mã các hiện tượng văn
học, từ đó hình thành các khuynh hướng lý luận phê bình tạo nên sự đa dạng cho
đời sống lý luận phê bình văn học dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
Đó là các công trình nghiên cứu và ứng dụng Phân tâm học như: Mắt thơ (1992), Hồ
Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999), Chân trời có người bay (2002), Bút pháp
của ham muốn, (2009), Phê bình con vật lưỡng thê ấy (2010)… của Đỗ Lai Thúy;
“Nhân vật tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh nhìn từ Phân tâm học”,
luận văn của Trần Sâm, (2007); Học thuyết S. Freud và sự thể hiện của nó trong
văn học Việt Nam, (2008) của Trần Thanh Hà; “Tác phẩm Hàn Mặc Tử dưới lăng kính
phê bình cổ mẫu”, luận văn của Nguyễn Hoàng Khánh Chi (2010); Phân tâm học và
phê bình văn học của Liễu Trương (2011); “Nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử từ lý thuyết
phân tâm học của Gaston Bachelard” luận văn của Chung Tú Quỳnh (2022)… Đặc biệt
công trình Phân tâm học với văn học do Hồ Thế Hà, Nguyễn Thành (chủ biên) với
43 bài viết luận giải các hiện tượng văn học từ học thuyết phân tâm học (2014)
là công trình mang tính tổng kết về việc ứng dụng phân tâm học vào nghiên cứu
và phê bình văn học ở Việt Nam trong 30 năm đổi mới (1986-2016).
Cùng với khuynh hướng lý
luận phê bình phân tâm học, một khuynh hướng lý thuyết khác của phương Tây cũng
được các nhà lý luận phê bình ứng dụng trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học,
đó là chủ nghĩa hiện sinh với các công trình như: “Khảo sát sự du nhập của phân
tâm học và chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam trước năm 1975”,
luận án của Nguyễn Phúc (1995); “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong truyện ngắn
Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay” của Nguyễn Thị Thanh Nga (2006); “Chủ nghĩa
Hiện sinh ở Miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên bình diện lý thuyết)” của Huỳnh
Như Phương, Nghiên cứu Văn học số 9 (2008); “Ám ảnh hiện sinh trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp”, của Nguyễn Thành Thi Nghiên cứu Văn học, số 5 (2010); “Cảm
thức hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp”, luận văn của Lê Thị Hiền
(2011); “Tâm thức hiện sinh trong tác phẩm của Franz Kafka”, luận văn của
Lê Doãn Hệ (2011); “Ám ảnh hiện sinh trong tiểu thuyết nhà văn Thuận” của Hoàng
Thanh Hương, Nhà văn, số 11(2012); “Nhân vật mang tâm thức hiện sinh trong tiểu
thuyết Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương”, luận văn của Đinh Văn Điệp, (2014);
“Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương”, luận văn
của Phạm Thị Thắm (2015); “Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi Việt
Nam đương đại” của Nguyễn Thái Hoàng, luận án (2016); “Cảm thức hiện sinh
trong văn xuôi Dương Nghiễm Mậu, luận văn của Đinh Thị Oanh (2020); “Cảm thức
hiện sinh trong thơ Hoài Khanh”, luận văn của Bùi Quang Khải (2021); “Dấu ấn hiện
sinh trong sáng tác của Nguyên Minh”, luận văn của Trần Phạm Thanh Thanh
(2023); “Dấu ấn hiện sinh trong sáng tác của Trần Thị NgH”, luận văn của Nguyễn
Mạnh Tuyên (2024)… và một số bài viết về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học ở
các công trình: Đi tìm ẩn ngữ văn chương (2017), Đi tìm mỹ cảm văn chương
(2020), Đi tìm thanh âm đồng vọng (2023) của Trần Hoài Anh.
Một khuynh hướng lý thuyết
phương Tây khác cũng hiện diện khá nhiều trong đời sống lý luận phê bình văn học
Việt Nam từ sau 1975 đến nay là Mỹ học tiếp nhận. Ta có thể tri nhận điều này
qua những công trình như: Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1988); Tác phẩm văn
học như một quá trình (2004) của Trương Đăng Dung; Văn học, sáng tạo và tiếp nhận
của Lê Thành Nghị (2003); Việt Nam và phương Tây – tiếp nhận giao thoa trong
văn học của Đặng Anh Đào (2007); Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài – kinh
nghiệm Việt Nam thời hiện đại của La Khắc Hòa, Lộc Phương Thủy, Huỳnh Như
Phương (đồng chủ biên) (2015); Văn học Việt Nam hiện đại sáng tạo và tiếp nhận
của Bích Thu (2015); Mỹ học tiếp nhận văn học ở Việt Nam- Một cái nhìn lịch sử
do Trần Thái Học chủ biên (2016); “Tác phẩm Nguyễn Du ở miền Nam 1954 – 1975
nhìn từ lý thuyết tiếp nhận”, luận văn của Đỗ Thị Thương (2016); “Tiếp nhận thơ
Bùi Giáng từ 1954 đến nay” luận văn của Hồ Thị Giáng Thu (2016); “Tiếp nhận tác
phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực Văn đoàn ở miền Nam
(1954-1975)” của Đặng Thị Hồng Mai (2016); “Tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai
đoạn 1954-1975 nhìn từ các khuynh hướng phê bình”, luận văn của Nguyễn Ngọc
Nam (2024)…
Ngoài những khuynh hướng
lý thuyết phương Tây hiện đại được các nhà nghiên cứu quan tâm như đã nói ở
trên, một khuynh hướng khác có sức hấp dẫn đời sống văn học nước nhà từ sau
1975, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới là chủ nghĩa hậu hiện đại. Cho dù đang còn
có những điều cần thảo luận với nhiều quan điểm khác nhau nhưng chủ nghĩa hậu
hiện đại cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu qua các công trình: Lã
Nguyên với “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam
qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài”, Nghiên cứu Văn học, số 12
(2007); Lý thuyết văn học hậu hiện đại của Phương Lựu (2011); Văn học hậu hiện
đại – lý thuyết và tiếp nhận của Lê Huy Bắc (2012); Văn học hậu hiện đại – diễn
giải và tiếp nhận của Nguyễn Thành, Hồ Thế Hà Nguyễn Hồng Dũng chủ biên (2013);
Văn học hậu hiện đại: lý thuyết và tiếp nhận của Lê Huy Bắc (2017)… Qua những
công trình này, vấn đề có hay không khuynh hướng văn học hậu hiện đại ở Việt
Nam cũng được các nhà nghiên cứu đặt ra và luận giải trên những cơ sở lý thuyết
mang tính khai mở nhưng là điều cần thiết nếu chúng ta xem sự hội nhập với thế
giới để phát triển là một tất yếu. Bởi, nói như Phương Lựu: “Trong thời buổi
toàn cầu hóa này, việc sử dụng những từ ngữ khái niệm lý luận văn học phương
Tây là rất bình thường, nếu không muốn nói là hiển nhiên”.
Cùng với chủ nghĩa hậu hiện
đại, lý thuyết văn học so sánh cũng đã xuất hiện hàng loạt công trình nghiên cứu
mang tính ứng dụng góp phần định hình cơ sở luận lý cho bộ môn văn học này. Đó
là các công trình như: Dẫn luận văn học so sánh của Trần Thanh Đạm (1995); Những
vấn đề lý luận của văn học so sánh (1995), Lý luận văn học so sánh (1998),
Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng (1999) của Nguyễn Văn Dân; Văn học so
sánh – Lý luận và ứng dụng, Lưu Văn Bổng chủ biên (2001); Từ văn học so sánh đến
thi học so sánh của Phương Lựu (2002); Văn học so sánh – nghiên cứu và dịch thuật
của Khoa Ngữ văn và Báo chí – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí
Minh (2003); Những bình diện chủ yếu của văn học so sánh của Lưu Văn Bổng
(2004); Văn học so sánh nghiên cứu và triển vọng của Khoa Ngữ văn – Đại học Sư
phạm Hà Nội do Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh tuyển chọn (2005); Vượt
qua những ranh giới của văn chương (Văn học so sánh và hướng nghiên cứu liên
ngành) Nhiều tác giả của Khoa Văn – Đại học Khoa học và nhân văn Tp. HCM (2019)
…. Ngoài ra, còn có một số bài viết, công trình nghiên cứu vận dụng những lý
thuyết khác của phương Tây vào nghiên cứu các hiện tượng văn học như: Tự sự học,
nữ quyền luận, cấu trúc luận, phê bình sinh thái… được đăng tải trên nhiều báo,
tạp chí, các cuộc hội thảo khoa học, các luận văn, luận án ở các viện, trường đại
học mà do dung lượng của bài viết có hạn chúng tôi chỉ nêu một số công trình
tiêu biểu như:“Bi kịch hoá trần thuật – một phương thức tự sự (Trên cứ liệu
“Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư”), Nguyễn Thanh Tú, Nghiên cứu Văn học,
số 5 (2008); “Một số luận điểm cơ bản trong diễn ngôn tự sự của G.Genette”,
Nguyễn Mạnh Quỳnh, Tạp chí khoa học số 5 (2006), ĐHSP Hà Nội; “Tiểu thuyết Việt
Nam từ 1986 đến 2000 nhìn từ lý thuyết tự sự” luận án của Phạm Thị Thùy Trang
(2016); “Phê bình nữ quyền và văn xuôi nữ giới Việt Nam, Trung Quốc đương đại
(Nghiên cứu trường hợp Dạ Ngân và Thiết Ngưng”, luận án của Hồ Khánh Vân
(2020); “Tự nhiên” và “Nữ giới” trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại nhìn từ nữ
quyền luận sinh thái”, luận án của Hoàng Lê Anh Ly (2022)…
Như vậy, với việc ứng dụng
các khuynh hướng lý thuyết phê bình văn học phương Tây hiện đại để tìm hiểu nhiều
hiện tượng văn học, từ sau 1975 đến nay, các nhà lý luận – phê bình đã thổi vào
đời sống văn học một luồng sinh khí góp phần khám phá những giá trị mới cho văn
học, tạo nên một bức tranh đa sắc màu cho đời sống lý luận phê bình. Thế nên,
khi bàn về ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, trong đó có các lý thuyết văn học
đối với nền văn học nước nhà, Phan Trọng Thưởng cho rằng chính quá trình tiếp
xúc và giao lưu với phương Tây “đã diễn ra một sự thanh lọc, một tinh thần hội
nhập theo xu hướng hiện đại, khiến cho màu sắc áp đặt đã bị tước bỏ để còn lại
ý thức chủ động tiếp thu, chủ động cải biến những sản phẩm văn hóa, văn học nghệ
thuật vốn gốc gác từ bên ngoài thành một thành tố mới của văn hóa, văn học nghệ
thuật mỗi nước. Quá trình này biểu hiện tinh thần không chối từ, tinh thần tích
hợp những giá trị văn hóa, nghệ thuật nhân loại để làm phong phú thêm cho gia
tài văn hóa phương Đông” .
Chính tinh thần cởi mở và
hội nhập đã đem đến cho đời sống lý luận – phê bình văn học nước nhà sức sống mạnh
mẽ, tạo năng lượng cho các nhà nghiên cứu trên con đường lao động khoa học. Và
xét về một phương diện nào đó, sự tiếp biến các khuynh hướng lý luận – phê bình
phương Tây không chỉ tạo nên sự đa dạng của lý luận – phê bình văn học mà còn
góp phần làm phong phú và hiện đại hóa lý luận – phê bình văn học dân tộc, vốn
còn nghèo nàn và lạc hậu so với lý luận – phê bình văn học hiện đại của thế giới.
Nói như Nguyên Sa – Trần Bích Lan: “Nhìn tổng quát cả một thế kỷ văn chương ta
thấy sự giao tiếp với văn học nghệ thuật Tây phương thúc đẩy ta tiếp nhận mau lẹ
để tiếp nhận cái khác. Ta như bị thúc đẩy với một tiếng nói không âm thanh: phải
đổi thay thật nhanh, phải biến dịch thật mau, cho nên, người này vừa làm xong cổ
điển, không đợi những thế kỷ 18 và 19 trôi qua, người kia tiến ngay đến siêu thực,
cùng một tác giả có thể nhảy từ tả chân sang siêu thực rồi đến hiện sinh. Và
cái sự thay đổi mau lẹ đó, nhìn ở mặt trái nó đáng buồn vì chưa thật là ta, vì
còn mang nặng dấu vết này, dấu vết nọ, nhưng nhìn ở mặt phải, nó nói lên sự
khao khát đổi thay. Và khi họ đổi thay để bắt kịp những đổi thay của văn học
nghệ thuật thế giới, sự khao khát đó sẽ đóng vai động lực của những sáng tạo lớn”
.
Việc tiếp nhận văn hóa
phương Tây trong đó có các trường phái lý luận – phê bình văn học đã tạo điều
kiện cho sự phát triển của lý luận – phê bình văn học những khát vọng đổi thay
trên tinh thần sáng tạo. Đây chính là động lực, là tiền đề quan trọng tạo những
bước nhảy vọt trong tiến trình vận động và phát triển của tư duy lý luận – phê
bình văn học mà biểu hiện rõ nhất là việc nở rộ các tác phẩm ứng dụng lý thuyết
văn học phương Tây vào việc tìm hiểu giá trị của các hiện tượng văn học, một
nhân tố quan trọng nếu không muốn nói là quyết định đến sự hình thành và phát
triển của nền lý luận – phê bình văn học Việt Nam hiện nay mà chúng ta có thể
nhận diện qua các tác giả và các tác phẩm tiêu biểu như: Những tín hiệu mới
(1994), Những nguồn cảm hứng trong văn học (2008) của Huỳnh Như Phương; Tư duy
thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành (1996); Đổi mới đọc và
bình văn của Đổ Đức Hiểu (1998), Triết lý văn hóa và triết luận văn chương của
Hoàng Ngọc Hiến (2006); Thách thức của sáng tạo, thách thức của văn hóa (2002),
Văn chương thẫm mỹ và văn hóa (2007) của Lê Ngọc Trà; Phong cách học với việc dạy
văn và lý luận phê bình của Hữu Đạt (2002); Vọng từ con chữ (2003), Thơ Việt
Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng (2014) của Nguyễn Đăng Điệp; Ba đỉnh cao
Thơ mới (Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử) của Chu Văn Sơn (2003); Sáng tạo
và giao lưu của Phạm Vĩnh Cư (2004); Ngoài trời lại có trời của Vương Trí Nhàn
(2006) ; Phong cách nghệ thuật Thạch Lam của Nguyễn Thành Thi (2006); Tiểu thuyết
trên con đường đổi mới nghệ thuật; của Phùng Văn Tửu (2010), Thơ – Quan niệm và
cảm nhận (2009); Văn học nhìn từ văn hóa (2012) Văn chương và hành trình sáng tạo
(2014) của Trần Hoài Anh; Truyện Kiều trong văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc
(2013); Lý luận phê bình – Đổi mới và sáng tạo của Cao Thị Hồng (2013);
Thẩm định các giá trị văn học của Phan Trọng Thưởng (2013); Xu hướng tự do hóa
ngôn ngữ thơ Việt Nam thế kỷ XX của Nguyễn Thị Phương Thùy (2014); Trên đường
biên của lý luận văn học của Trần Đình Sử (2014); Thơ trẻ Việt Nam 1965-1975
khuôn mặt cái tôi trữ tình của Bùi Bích Hạnh (2015); Thơ tân hình thức Việt, tiếp
nhận và sáng tạo, Sông Hương (2014); Song thoại với cái mới (2008), Thơ Nữ
trong hành trình cắt đuôi hậu tố Nữ và 20 tiếng thơ nữ quyền đương đại của
Inrasara (2015); Không gian văn học đương đại của Đoàn Ánh Dương (2014); Nhà
văn như Thị Nở của Phạm Xuân Nguyên (2014); Tác giả hàm ẩn trong Tu từ học tiểu
thuyết của Cao Kim Lan (2015); Văn học phương Tây – Lý luận phê bình và dịch
thuật của Trần Thiện Đạo (2015); Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 của Nguyễn Bá
Thành (2015); Văn học Việt Nam trong bối cảnh đỏi mới và hội nhập quốc tế, Nguyễn
Đăng Điệp chủ biên (2016) Các trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây
hiện đại và sự tiếp biến, vận dụng ở Việt Nam của Bửu Nam (2016); Đi tìm ẩn ngữ
văn chương của Trần Hoài Anh (2017); Lý luận phê bình văn học, Một góc nhìn mới
của Cao Thị Hồng (2017) Văn xuôi Việt Nam hiện đại của Lê Tú Anh (2018); Phê
bình văn học Thế kỷ XX của Thụy Khuê (2018); Trăm năm Nguyễn Bính – Truyền thống
và Hiện đại – Nhiều Tác giả (2018); Phê bình ký hiệu học – Đọc văn như là
hành trình tái thiết ngôn ngữ của Lã Nguyên (2018); Thơ Việt trên hành trình đổi
mới – Những vấn đề sáng tác và lý luận của Trần Mạnh Tiến (2019); Đề tài tha
hương trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XXI của Lê Tú Anh (2019); Giáo trình
lý thuyết liên văn bản của Nguyễn Văn Thuấn (2019); Nghiên cứu và giảng dạy văn
học về đề tài lịch sử dân tộc – Nhiều tác giả (2019); Gửi đây chút duyên tình đọc
(Chân dung văn học) của Nguyễn Thị Thanh Xuân (2019); Những vẻ đẹp văn chương của
Cao Thị Hồng (2020); Tiến trình văn học (Khuynh hướng và Trào lưu) của Huỳnh
Như Phương (2020); Nguyễn Minh Châu trong tiến trình đổi mới văn học, Nguyễn
Đăng Điệp chủ biên (2020); Đi tìm mỹ cảm văn chương của Trần Hoài Anh (2020);
Dám ngoái đầu nhìn lại của Nguyễn Thị Tịnh Thi (2021); Chút nắng phương Nam (15
nhà văn đô thị miền Nam trước 1975), Phạm Phú Phong chủ biên (2022); Sinh thái
& Văn hóa Nam Bộ trong văn học Việt Nam – Nhiều tác giả (2022); Đi tìm
thanh âm đồng vọng của Trần Hoài Anh (2023)… Và còn nhiều tác phẩm lý luận –
phê bình văn học đã ứng dụng lý thuyết hiện đại phương Tây vào việc nghiên cứu
văn học dân tộc và thế giới, theo thống kê của Cao Thị Hồng trong công trình Lý
luận phê bình văn học – đổi mới và sáng tạo (2013) , từ 1986 đến 2013 đã có 544
công trình lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học được xuất bản. Song, thực tế số
công trình được xuất bản từ thời kỳ đổi mới đến nay còn nhiều hơn nữa…
Rõ ràng nhờ công cuộc đổi
mới, việc mở rộng biên độ tiếp nhận lý thuyết phương Tây được chú trọng, đời sống
lý luận phê bình văn học thời kỳ này đã thật sự khởi sắc theo hướng phát triển
ngày càng đa dạng, phong phú. Tình hình này đã khắc phục bệnh công thức, giản
đơn của lý luận phê bình văn học nước nhà, góp phần đổi mới nhận thức trong tư
duy lý luận phê bình, làm thay đổi cách nhìn, cách nghĩ, cách thẩm định giá trị
của các hiện tượng văn học, tạo nên một đời sống lý luận phê bình sinh động,
phong phú, dân chủ, cởi mở. Và đây là điều kiện tất yếu để nền văn học phát triển
bền vững trong xu thế toàn cầu hóa của thời kỳ hội nhập và có thể xem là một
trong những thành tựu cơ bản của nền văn học dân tộc trong năm mươi năm từ sau
ngày đất nước thống nhất đến nay.
Song, đời sống văn học nước
nhà từ sau 1975 đến nay, dấu ấn lý thuyết văn học phương Tây không chỉ hiện hữu
trong lĩnh vực lý luận phê bình mà còn hiện hữu sâu sắc trong sáng tác của các
thể loại văn học cả thơ và văn xuôi mà rõ nhất là những tác phẩm trong thời kỳ
đổi mới. Đó là những sáng tác thể hiện dấu ấn tư duy mỹ học của các khuynh hướng
lý luận phê bình phương Tây như: phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hậu
hiện đại, tự sự học, nữ quyền luận, phê bình sinh thái… Đây có thể xem là một
trong những thành tựu của sáng tác văn học nước nhà từ sau 1975 đến nay mà những
diễn ngôn ở tác phẩm văn học sau đây sẽ minh chứng cho điều ấy.
3. Dấu ấn lý thuyết
phương Tây – Thành tựu của sáng tác văn học từ 1975 đến nay
Như đã nói ở trên, sau
ngày đất nước thống nhất và từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, bước vào thời kỳ
hội nhập và phát triển. Đời sống xã hội đã có nhiều thay đổi trên mọi phương diện,
trong đó có sự thay đổi của diện mạo văn học, rõ nhất là sự thay đổi tư suy
sáng tạo văn học. Nhà văn lúc này không đơn thuần phản ánh những diễn ngôn mang
cảm hứng sử thi của thời chiến tranh cách mạng, khi cả dân tộc dấn thân vào cuộc
đấu tranh giành độc lập tự do và thống nhất nước nhà, ngược lại họ đã bắt đầu
trở về với bản ngã, nhận ra những chấn thương của đời sống tâm hồn thời hậu chiến
với những buồn vui, khổ đau, hạnh phúc, cay đắng và vinh quang trong cuộc sống
đời thường của mình và của tha nhân, với khao khát được sống như những Nhân vị
chứ không phải là những phóng thể, để rồi có lúc không còn nhận ra chính mình.
Nói như Nguyễn Khải là các nhà văn đã khao khát đi tìm “Cái tôi đã mất”. Đó là
“cái tôi bản thể” với những trăn trở, âu lo về thân phận con người ở các bình
diện như: sự thức tỉnh ý thức cá nhân; với cảm thức về nỗi cô đơn và thân phận
lưu đày; Sự ám ảnh về cái chết và sự hư ảo, của kiếp người, là cảm thức về sự
phi lý, buồn nôn trước cái ác, cái xấu, cái thấp hèn của con người trong cuộc sống
cùng những khát khao nhục cảm hiện sinh mà trước thời kỳ đổi mới được / bị xem
như một điều cấm kỵ trong diễn ngôn văn học. Những phẩm tính rất “Người” này,
chúng ta có thể tìm thấy trong sáng tác văn học mang dấu ấn triết mỹ từ các lý
thuyết: Phân tâm học, Chủ nghĩa hiện sinh, nữ quyền luận,… như lời một nhân vật
trong sáng tác của Tạ Duy Anh đã suy niệm: “Kiếp sống như một chuyến lưu đày mà
ở đó, người ta không thể yêu đương, sinh tồn một cách tự nhiên và có khát vọng,
mà bị biến thành công cụ của thù hận, dục vọng, bản năng, phá hoại… Con người
chỉ còn biết hưởng thụ sự phù du của thân phận…”
Thế nên, văn học từ sau
năm 1975 đến nay, rõ nhất là văn học thời kỳ đổi mới, với sự thay đổi hệ hình
trong tư duy sáng tạo, đã xuất hiện nhiều tác phẩm thể hiện rõ dấu ấn triết mỹ
của các trường phái lý thuyết phương Tây hiện đại với những khát khao, trăn trở
về thân phận, phản ánh đúng qui luật vận động của văn học và đời sống con người
Việt Nam thời kỳ hiện đại trong quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa. Dấu ấn
tâm thức của các trường phái lý thuyết phương Tây hiện đại trong văn học thời kỳ
đổi mới, thực ra là sự tiếp nối tâm thức của các trường phái lý thuyết phương
Tây vốn đã hiện hữu trong dòng chảy văn học dân tộc trong những năm đầu thế kỷ
XX mà rõ nhất là ở văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cũng như ở văn học miền
Nam giai đoạn 1954-1975 nhưng đã bị đứt gãy do những va đập của lịch sử – xã hội,
nên khi có điều kiện sẽ phục sinh như một tất yếu của đời sống. Bởi lẽ, đối tượng
của văn học là con người mà cái gì “thuộc về con người”, nói như Mác thì không
xa lạ với “cuộc sống con người”. Đây cũng là điều chúng ta có thể nhận diện
trong những trang viết của các thế hệ nhà văn nối tiếp nhau từ sau 1975 đến nay
trên cả văn xuôi và thơ ca.
Về văn xuôi, dấu ấn triết
mỹ của các trường phái lý thuyết phương Tây hiện đại như phân tâm học, chủ
nghĩa hiện sinh, nữ quyền luận, phê bình sinh thái với những ưu tư về cuộc sống
và thân phận con người trên hành đi tìm cái tôi bản thể với tư cách là một nhân
vị hiện sinh, chúng ta có thể nhận diện trong các tác phẩm như: Thời xa vắng của
Lê Lựu (1986); Mảnh đất tình yêu của Nguyễn Minh Châu (1987); Tướng về hưu
(1987); Những ngọn gió Hua Tát (1989), Con gái thủy thần (1993) của Nguyễn Huy
Thiệp; Chim én bay của Nguyễn Trí Huân (1988); Cuốn gia phả để lại của Đoàn Lê
(1988); Nỗi buồn cho em của Nhật Tuấn (1988); Đám cưới không có giấy giá thú của
Ma Văn Kháng (1989); Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn (1989); Giọt nước mắt
cuối cùng của Nguyễn Khắc Phục (1989); Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn
Quang Lập (1989); Mê lộ của Phạm Thị Hoài (1989); Nước mắt đỏ của Trần Huy
Quang (1989); Pháp trường trắng của Ông Văn Tùng (1989); Bến không chồng
của Dương Hướng (1990); Chỉ còn anh và em của Nguyễn Thị Ngọc Tú (1990);
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường (1990); Miền hoang tưởng
của Đào Nguyễn (1990); Mối tình hoang dã của Trần Huy Quang (1990); Ngõ lỗ
thủng của Trung Trung Đỉnh (1990); Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
(1990); Tiễn biệt những ngày buồn của Trung Trung Đỉnh (1990); Vòng nguyệt quế
cô đơn, của Nguyễn Quang Thiều (1991); Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai (1992); Tiếng
gọi tình yêu của Nguyễn Quang Thiều (1993); Những đứa trẻ chết già của Nguyễn
Bình Phương (1994); Man nương của Phạm Thị Hoài (1995); Người đàn bà tóc trắng
của Nguyễn Quang Thiều (1996); Thủy hỏa đạo tặc của Hoàng Minh Tường (1996); Một
ngày và một đời của Lê Văn Thảo (1997); Thiên sứ của Phạm Thị Hoài (1998); Vĩnh
biệt giấc mơ ngọt ngào (1992), Tường thành (2004) của Võ Thị Xuân Hà; Cõi người
rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái (2002); Cơn giông của Lê Văn Thảo
(2002); Người sông Mê của Châu Diên (2003); Người nhìn thấy trăng thật, của
Nguyễn Quang Thiều (2003); Bi kịch nhỏ của Lê Minh Khuê (1993); Thiên thần sám
hối (2004), Lão Khổ của Tạ Duy Anh (2004); Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà
(2005); Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương (2005); Paris 11 tháng 8 của Thuận
(2005); Giữa vòng vây trần gian của Nguyễn Danh Lam (2005); Cơ hội của chúa của
Nguyễn Việt Hà (2006); Tấm ván phóng dao của Mạc Can (2006); Ba người khác
của Tô Hoài (2007) Song song của Vũ Đình Giang, (2007); Đi dưới mưa hồng của Nhật
Chiêu (2007); Xuân từ chiều của Y Ban (2008); Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh
(2008); Mưa mặt nạ của Nhật Chiêu (2008); Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng
(2008); Sự trở lại của vết xước của Trần Nhã Thụy (2008); Mưa ở kiếp sau của
Đoàn Minh Phượng (2009); Chinatown của Thuận (2009); Nháp (2009) của Nguyễn
Đình Tú (2009); Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh (2008); Đàn bà của Lý Lan
(2009); Blogger của Phong Điệp (2009); Gia đình bé mọn của Dạ Ngân (2010); Một
bàn tay thì đầy của Hoàng Việt Hằng (2010); Viết tên trên nước của Nhật Chiêu
(2010); Bờ xám của Vũ Đình Giang (2010); Vắng mặt của Đỗ Phấn (2011); Thế giới
xô lệch của Bích Ngân (2012); Sông của Nguyễn Ngọc Tư (2012); Thành phố đi vắng
của Nguyễn Thị Thu Huệ (2012); Hoang tâm của Nguyễn Đình Tú (2013), Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư (2014); Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân của Tiến Đạt (2014);
Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam (2014); Mình và họ của Nguyễn Bình
Phương (2014); Ba ngôi của người của Nguyễn Việt Hà (2014); Kỳ nhân làng Ngọc của
Trần Thanh Cảnh (2015); Thông reo ngàn hống của Nguyễn Thế Quang (2015); Đi biển
một mình của Kim Quyên (2015); Làn gió chảy qua của Lê Minh Khuê (2016); Trong
cơn lốc xoáy của Trầm Hương (2016); Quán Thuỷ thần của Nguyễn Hải Yến (2019). Đừng
kể tên tôi của Phan Thúy Hà (2020); Một ví dụ xoàng của Nguyễn Bình Phương
(2021); Sắc Không của Nguyễn Phước Thảo (2021); Nghiệp chướng của Lưu Vĩ Lân
(2021); Bửu Sơn Kỳ Hương của Lý Lan (2022); Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín của
Nguyễn Một (2023); Tuyệt không dấu vết của Nguyễn Việt Hà (2023); Một mùa hè dưới
bóng cây của Nguyễn Tham Thiện Kế (2023); Cõi Tạm nóng dần lên của Thu Trân
(2024); Chuyện làng buông của Lưu Trọng Văn (2024)…
Thơ là thế giới của nội cảm,
những ưu tư về thân phận con người với khát khao vươn đến một cái tôi mang chiều
sâu tâm cảm là phẩm tính không thể thiếu của thi ca. Vì vậy, không chỉ ở văn
xuôi mà cả trong thơ những ý niệm nhân bản với những ưu tư về cuộc sống và sự tồn
sinh của phận người trong các khuynh hướng triết mỹ của chủ nghĩa hiện sinh,
phân tâm học, nữ quyền luận cũng để lại những dấu ấn sâu sắc trong thơ Việt từ
sau 1975, đặc biệt là thi ca thời kỳ đổi mới. Điều này ta có thể nhận diện
trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ khi nhà thơ không chỉ suy tư về nỗi cô đơn phận người
trong kiếp lưu đày mà còn luôn tự vấn, âu lo về nỗi buồn và sự hư hao mỏng manh
của kiếp người: “Bây giờ chỉ một mình ta/ Một mình ta với bao la một
mình…/Khóc ta hạt bụi vô thường/ Mai kia tìm chốn cội nguồn nghỉ ngơi.” (Một
mình). Đó cũng là cảm thức của Anh Hồng trong Người đàn bà qua hai mùa tóc với
một cách thể hiện riêng tâm thức hiện sinh, nhà thơ không những đi tìm cái “Tôi
hiện hữu” mà còn đi tìm từng “mảnh vỡ” của cái “Tôi”: “Từng mảnh Tôi /Từng
mảnh Tôi /Tan vỡ /Chơi vơi /Tìm nơi náu mình /Trên ngọn cỏ…/Mặt đất lè tè /Ngọn
cỏ thấp /Từng mảnh Tôi /Lặng lẽ…/ Tìm Tôi…” (Mở).
Khảo sát thơ Việt từ sau
1975 đến nay sẽ không khó nhận diện cảm thức hiện sinh đã tạo thành một khuynh
hướng sáng tác trong thơ của nhiều thi sĩ thuộc các thế hệ cầm bút khác nhau hiện
hữu qua sáng tác của các thi nhân ở những tập thơ tiêu biểu như: Phan Thị Thanh
Nhàn với Bông hoa không tặng (1987), Nghiêng về anh (1992); Ý Nhi với Mưa tuyết
(1991), Gương mặt (1991); Dư Thị Hoàn với Lối nhỏ (1988), Bài mẫu giáo sáng thế
(1993); Lâm Thị Mỹ Dạ với Hái tuổi em đầy tay (1989), Đề tặng một giấc mơ
(1998), Hồn đầy hoa cúc dại (2007); Hoàng Phủ Ngọc Tường với Người đi hái phù
dung (1992); Tần Hoài Dạ Vũ với Ngọn lửa quạnh hiu (1996); Suy niệm hoàng hôn
(2005); Bài thơ vui tặng cuộc đời tôi (2020); Nguyễn Trọng Tạo với Gửi người
không quen (1989), Đồng dao cho người lớn (1994), Thư trên máy chữ và Tản mạn
thời tôi sống (1995), Em đàn bà (2008); Hoàng Vũ Thuật với Cỏ mùa thu (1994),
Đám mây lơ lửng (2000), Tháp nghiêng (2003), Mùi (2014); Lê Thị Kim với Khi
tình yêu đến (1988), Đóa quỳ hư ảo (1991), Sương bụi tình yêu (1997); Nguyễn
Quang Thiều với Sự mất ngủ của lửa (1992), Những người đàn bà gánh nước sông
(1995), Nhịp điệu châu thổ mới (1997), Bài ca những con chim đêm (1999), Châu
thổ (2010), Dưới ánh trăng và một bậc cửa (2020); Trương Tuyết Mai với Một nửa
của anh (2006), Lá vỡ (2008), Gập ghềnh khúc đau (2020); Vi Thùy Linh với Khát
(1999), Linh (2000), Đồng tử (2005); Phan Hoàng với Tượng tình (1995), Hộp
đen báo bão (2002), Chất vấn thói quen (2012); Lê Thiếu Nhơn với Phố tình
riêng (2004) Trong bóng người xưa (2006); Nguyễn Hữu Hồng Minh với Giọng nói mơ
hồ (1999), Tên em trong gió cuốn (2016); Đặng Nguyệt Anh với Ru lời ngàn năm
(2002), Trời em áo lụa (2006), Lục bát tôi (2018); Phan Huyền Thư với Nằm
nghiêng, (2002), Rỗng ngực (2005); Tôn Nữ Thu Thủy với Mắt lá (2002); Cát Du với
Cảm (2004), Nàng (2007); Đinh thị Thu Vân với Một ngày ta ngoái lại (2005), Đừng
trôi nữa tình yêu mang phận cỏ (2015); Ly Hoàng Ly với Cỏ trắng (1999), Lô Lô
(2005); Trần Thị Huyền Trang với Trong tĩnh lặng (2005); Thúy Nga với Nỗi buồn
xanh (2006), Phan Thị Vàng Anh với Gửi VB (2006); Nguyễn Khoa Điềm với Cõi lặng
(2007); Nguyễn Bính Hồng Cầu với Nhặt bóng mình (2007); Nguyệt Phạm với Mắt giấy
(2008), Phơi riêng tư (2019); Ngô Thị Hạnh với Nắng từ những ngón chân (2010),;
Huệ Triệu Thức một miền xanh (2010); Trần Mai Hường với Ngược đêm (2014); Bàng
Ái Thơ với Mắt lặng (2011), Bạch Lạp & Hoa Hồng (2013); Phạm Phương Lan với
Góc trọ hồn người (2011); Phùng Cung với Xem đêm (2011); Trương Đăng Dung với
Những kỷ niệm tưởng tượng (2011), Em là nơi anh tị nạn (2020); Minh Đan với
Phút 89 (2013), Vương Chi Lan với Rót nhớ vào đêm (2013); Ngô Thúy Nga với Nốt
lặng (2014); Anh Hồng với Người đàn bà qua hai mùa tóc (2014) Tôi và Đêm… Và…
(2023); Nồng Nàn Phố với Yêu lần nào cũng đau (2015; Trần Huy Minh Phương với
Khói rụng (2021); Phùng Hiệu với Trong thế giới ngụy trang (2014); Nguyễn Phong
Việt với Sinh ra để cô đơn (2014) Về đâu những vết thương (2016); Trịnh Bích
Ngân với Nghiêng về phía nỗi đau (2024) …
Thật vậy, dấu ấn tư tưởng
của lý thuyết phương Tây hiện đại để lại trên các sáng tác của các nhà văn từ
sau 1975 đến nay là điều không thể phủ nhận. Chưa cần đọc sâu văn bản chỉ cần đọc
tiêu đề của các tác phẩm văn xuôi cũng như thơ, chúng ta sẽ nhận ra sự hiện hữu
của các khuynh hướng triết mỹ như Phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, nữ quyền
luận… trong các diễn ngôn mà nhà văn chia sẻ với người đọc. Điều này đã tạo nên
tiếng nói đa thanh, đa diện của văn học nước nhà, là thành tựu mang tính khai
phóng của nền văn học mà trước thời kỳ đổi mới chưa thể có được như sự xác quyết
đầy ý thức nữ quyền của Xinh trong Một bàn tay thì đầy của Hoàng Việt Hằng:
“Đàn bà sao cứ nghĩ phải tựa vào đàn ông mới sống được nhỉ. Phải tựa vào hơi thở
của chính mình thôi, làm sao có thể thở bằng hơi thở của người khác” . Hay Phạm
Thị Ngọc Liên đã đốt cháy khát vọng nhục cảm tình yêu trong thơ mình bằng những
cảm xúc mạnh mẽ với những diễn ngôn đầy sức ám gợi: “Lặn ngụp trong thơ/ Tắm gội
mối tình mình/ Hừng hực trong tôi/ cháy bỏng ngôn từ / không hề giấu mặt/ phải
trả nỗi đau bằng tiếng thét” (Khỏa thân tím). Và những diễn ngôn này thật sự là
tiếng gọi thao thiết đầy chất hiện sinh với một ý thức nữ quyền mà ta không thể
tìm thấy trong thơ nữ Việt Nam thòi kỳ tiền đổi mới: “Ta thèm khỏa thân dưới nắng
/Thèm ngủ yên trên cát /Có vòng tay người tình như chiếc lưới /Võng ta vào giấc
mộng trăm năm” (Biển trăm năm). Và khát vọng tình yêu trong thơ Ly Hoàng Ly
cũng không kém phần mãnh liệt, nồng nàn với ái ân cuồng nhiệt ở người đàn bà luôn
ý thức về quyền sống đích thực đầy hiện sinh: “Đêm là của chúng mình /Tình yêu
thắp sáng đêm /Đêm là của chúng mình /Sao nỡ ngủ /hở anh.” (Đêm là của chúng
mình). Đây là những minh chứng vô cùng thuyết phục cho tinh thần khai phóng của
văn học Việt Nam từ sau 1975 đến nay nhìn từ sự ảnh hưởng hệ hình tư tưởng của
lý thuyết phương Tây hiện đại.
4. Thay lời kết:
Từ ngày đất nước thống nhất,
đặc biệt là khi tiến hành công cuộc đổi mới, xuất phát từ yêu cầu nội tại của
tiến trình vận động và phát triển của nền văn học dân tộc theo hướng hiện đại
và hội nhập, văn học nước nhà trong những năm qua đã có sự đổi mới tư duy,
không chỉ trong lĩnh vực sáng tác và lý luận phê bình mà ngay cả trong tư duy
quản lý của các cấp lãnh đạo văn nghệ. Chính điều này đã mở ra những vận hội mới,
chân trời mới cho nghệ sĩ sáng tạo, rõ nhất là việc mạnh dạn tiếp nhận lý thuyết
phương Tây nên đã thu được những thành quả nhất định để xây dựng nền văn học nước
nhà vững mạnh phù hợp với phẩm tính văn học thế giới. Phải chăng từ hệ hình tư
duy triết mỹ mang tính phổ quát được các nhà văn, nhà lý luận phê bình tiếp nhận
và ứng dụng vào văn học Việt Nam nên đã tạo được những tác phẩm văn học chạm đến
mỹ cảm của nhân loại. Vì thế, nhiều nước đã chọn dịch tác phẩm của các nhà văn
Việt Nam như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp,
Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… Không những thế, nhiều tác phẩm thơ, văn
của các nhà văn Việt Nam trong những năm gần đây cũng được các dịch giả quan
tâm giới thiệu ra thế giới, tạo nên một trường tiếp nhận mới cho văn học dân tộc.
Với những gì chúng tôi đã
khảo sát và minh chứng ở trên trong lĩnh vực lý luận phê bình và sáng tác văn học
nhìn từ việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây, có thể xác quyết rằng văn học Việt
Nam từ sau 1975 đến nay đã thu được những thành tựu đáng khích lệ. Đó là điều
không thể phủ nhận. Tuy vậy, nền văn học nước nhà không phải, không còn những hạn
chế, thậm chí những “khuyết tật” mà nếu chúng ta không tỉnh táo nhìn nhận một
cách khách quan công bằng và khoa học thì sẽ gặp rất nhiều trở lực trong xu hướng
hội nhập và phát triển của thời kỳ tòan cầu hóa. Thiết nghĩ đã đến lúc phải
nghiên cứu một cách thấu đáo, khách quan, khoa học thành tựu của nền văn học nước
nhà ở cả phương diện sáng tác và lý luận – phê bình nhìn từ sự tiếp nhận lý
thuyết hiện đại phương Tây để tìm ra những bài học thiết thực, hữu ích cho sự
phát triển nền văn học nước nhà. Bởi, với việc mở rộng biên độ và tốc độ trong
sự tiếp nhận lý thuyết phương Tây, văn học thời kỳ đổi mới đã có những bước
phát triển nhanh chóng tuy sinh động, phong phú, đa chiều, có tính đối thoại
nhưng cũng có những giới hạn nhất định cần được thức nhận. Song dù thế nào, những
thành tựu của nền văn học nước nhà từ sau 1975 đến nay nhìn ở bình diện lý luận
– phê bình và sáng tác từ việc tiếp nhận lý thuyết phương Tây qua các trường
phái, lý luận – phê bình hiện đại như đã trình bày ở trên là một giá trị cần
trân trọng và không thể phủ nhận. Bởi, nói như Nguyễn Khoa Điềm: “Dù đất nước
đã mở cửa nhưng việc khai thác thành quả của lý luận hiện đại thế giới cũng như
truyền thống lý luận của dân tộc lại chưa được nghiên cứu đầy đủ có hệ thống”.
Vì vậy, cần “Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học,
nghệ thuật của ông cha và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú lý luận
văn học Việt Nam hiện đại”. Phải chăng, đây cũng là một trong những tư tưởng định
hướng có tính tất yếu để đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc
trong thời kỳ hội nhập và phát triển của xu hướng toàn cầu hóa…
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 9/11/2024
Trần Hoài Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Chuyện kể bên hồ XXXXXX
Chuyện kể bên hồ Em chỉ muốn kể một câu chuyện gần nhất với sự thật. Nhưng điều đáng tiếc là sự thật thường tồn tại dưới dạng những mảnh g...
-
Thẩn thơ Võ Phiến Nhà văn Võ Phiến, sinh năm1925 tại Bình Định - qua đời chiều 28-9-2015 tại Quận Cam, Hoa Kỳ. Dư luận chợt nhớ đến một sự n...
-
Nỗi khắc khoải kiếm tìm bản thể trong truyện của Nguyên Minh Nguyên Minh như một chứng nhân sinh động cho một thế hệ cầm bút từ trước 1975...
-
Đến với thơ của Bùi Hoàng Linh Tác giả Bùi Hoàng Linh đến với nghiệp văn chương khi còn đang học phổ thông tại Trường Quốc Học Huế. Thơ Bù...
.jpg)
.jpg)
.jpg)
.jpg)