Đoàn Thị Ký làm thơ
từ khá sớm và tiếng thơ của chị cũng được nhiều người biết đến. Bởi chị có một
số bài thơ như: Nửa vòng bông gạo, Thẩm chiều tạo được dấu ấn với bạn
đọc bởi lời thơ giản dị, chân chất nhưng đầy da diết, yêu thương. Thơ Đoàn Thị Ký luôn hướng về những giá trị truyền thống, về
nguồn cội, quê hương với lời cảm tạ chân thành nhất. Thơ chị luôn là tiếng nói
trung thực của bản ngã với những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc về những chặng đường
mà chị đã trải qua. Là người có điều kiện đi và sống ở nhiều nơi, từng kinh qua
nhiều công việc khác nhau nên Đoàn Thị Ký có vốn tư liệu thực tiễn khá dồi dào.
Đây chính điều kiện thuận lợi để chị giúp chị có nguồn cảm hứng, tạo chất xúc
tác cho hành trình sáng tạo thi ca. Dọc theo hành trình thơ Đoàn Thị Ký, từ tập Dòng sữa
nuôi tôi ( In chung năm 1975) đến Cô gái và cầu vồng (1995), rồi Nửa
vòng bông gạo (2001) và Hà Nội thời có nhau (2010), người đọc sẽ
nhận ra điểm nổi bật và cũng là nét riêng của thơ chị đó là “nhật ký hành
trình”: Đời – Người – những vùng đất mà nhà thơ đã đi qua. Vì thế, trong thơ
Đoàn Thị Ký, xuất hiện hầu khắp các địa danh của mọi miền đất nước. Nhưng nhà
thơ dành tình cảm nhiều nhất vẫn là Hà Nội. Tất cả được chị ghi lại bằng thơ với
những dấu ấn riêng theo cảm quan và sự rung động của trái tim người đàn bà đa cảm. Ở đó, nhà thơ thỏa sức tung tẩy chuyện của người, của mình, của
đời với bao nỗi thương nhớ, khắc khoải, da diết khôn nguôi. Người làm thơ đi
nhiều là lợi thế, nhưng ghi lại bằng thơ trên từng chặng đường, từng địa danh
mà mình đã đi qua thì ít người làm được như Đoàn Thị Ký. Một Hà Giang với nỗi
nhớ ngút ngàn: “Sông Lô chiều man mác/ Rơi từng ngày cuối năm/ Ai có về dưới đấy/
Cho ta lời nhắn thăm”; Một ngã tư Bảy Hiền ở đất phương Nam hiện về trong chị
là hình ảnh những con người sống hào phóng, nghĩa tình, giàu nghĩa khí: “Ríu
ran lắm người dưng ran ríu/ Nhường nhau đi trước, trước không đành/ Thương mến
ngã tư người hiền thế/ Hay là người biết khế còn chanh…”; Một Tháp Mười với nhiều
kênh rạch, xuồng gắn máy, xuồng chèo tay và sự hào sảng trước cuộc sống lao động
với gió nước đặc trưng vùng sông nước: “Tôi kịp giấu bông sen trước ngực/ Gió đổi
chiều hay dòng kinh xoay hướng khác, thảng thốt nhìn gió bứt tình tôi”; một Lào
Cai mây trắng ngang trời, chút lạ lẫm của Sa Pa làm nên điều thú vị, để rồi người
thơ ấy không dấu vẻ kiêu ngầm: “Ngẩng mặt Hoàng Liên trào thi hứng/ Ngoái
Hồng Hà má lựng bồ quân”; một Tây Nguyên đặc trưng: “Đác tiếng dân tộc Ê Đê, Ba
Na là nước/ Miền đất điệp điệp cái tên: Đácglay, Đáchà, Đácmin, Đácrlấp… gợi nước
đầy buôn, đầy làng/ Nước sinh ra từ cánh rừng/ Cánh rừng ngậm trầm tinh hoa của
nước/ Đàn tơ-rưng làm bằng ống lồ ô, thanh âm không trong như tiếng hạc, mà như
thác đổ, như suối reo…”; và với mảnh đất thiêng Hà Nội thì có nhiều điều để
Đoàn Thị Ký gửi gắm những nỗi suy tư, khát vọng, niềm tin của mình vào đó (chị
có hẳn 1 tập Hà Nội thời có nhau gồm 47 bài thể hiện rõ nét thái độ,
quan điểm, tình cảm của nhà thơ về đất và người ở nơi đây). Đoàn Thị Ký viết về những điều xung quanh mà chị nhìn thấy,
chị cảm nhận, suy tưởng. Nhưng cũng từ những điều giản đơn, gần gũi, quen thuộc
ấy lại mở ra những chân trời, những chiêm cảm sâu sắc về cuộc đời. Từ tên những
con phố của Hà Nội, hay hình ảnh những người đàn bà, hạt vừng, cọng rau dớn,
dòng sông tháng ba, lũy tre làng: “Hoa bưởi thơm như ướm/ Mùa xuân lên tre làng”…
cũng đều để lại cho chị những suy ngẫm và liên tưởng đến cuộc sống cõi người. Thơ ca chính là hình thức đặc biệt để con người tư duy và cảm
nhận cuộc sống. Đoàn Thị Ký đã gửi vào thơ nỗi lòng thổn thức với cái chung và
cả những điều riêng. Quyển sổ hộ khẩu ngỡ rằng chẳng có gì là thơ, vì một thời
nó mang dấu ấn xã hội, gắn với lương thực, thực phẩm… vậy mà nó thành thơ, nhờ
trải nghiệm từ thực tiễn đời mình trước cuộc sống thời hiện đại, mọi thứ xảy ra
chóng vánh, người ta thường hay quên quá khứ, đặt nặng vấn đề tiền bạc, quyền lực.
Và điều ấy dẫn đến bao bất cập, không hay, vô cảm lại mặc nhiên có đất sống. Điều
hay, lẽ phải đôi lúc bị nhập nhòa. “Thời cơ chế cho nhau,/ Con người đậm dấu
son quyền lực// Lòng sung/ Lòng vả/ Nhạt màu!” (Ngày nhận giấy báo không được
nhập khẩu Hà Nội). Trái tim nhạy cảm, dễ xúc động nên điều gì xảy ra quanh chị
cũng khiến tâm hồn xao động, thậm chí chị đau như chính chị là người trong cuộc.
Bài thơ Má đi kiện biết thu Hà Nội viết về một bà má từ tận Bến Tre
ra Hà Nội kêu oan về đất đai, đau đáu mà chua chát. Đau đáu bởi con phố Mai
Xuân Thưởng có Phòng tiếp dân một thời, nằm đối diện Phủ Chủ tịch và Lăng Bác
qua một con đường, chua chát bởi : “Mùa thu lạ quá con ơi/ Đêm qua má ngủ ngoài trời thấy sương/
Sáng ra người nhẹ ttơ vương/ Dù đang đi kiện trăm đường cam go/ Con đừng lo má
tay vo/ Má có lý lẽ/ Bác Hồ thương dân/ Ở đây Lăng Bác rất gần/ Đêm đêm yên
tĩnh khắp sân sáng lòa…/ Đất nhà má đất ông cha/ Trồng lúa lúa tốt, trồng dừa dừa
sai!/ Mấy người lấy cớ đất đai/ Liên doanh này nọ, dài dài chia nhau/ Họ chừa lại
cái chũm cau/ Tưởng má ít chữ nông sâu biết gì/ Tỉnh không đòi được má đi/
Trung ương chưa giải quyết, má ở lỳ tháng nay!/ Đi kiện má lại gặp may/ Biết
thu Hà Nội không bay trên trời,/ Sáng ra người tỉnh cả người/ Má tin công lý
vàng mười sáng soi.// Lặng theo lời má là tôi/ Với thu Hà Nội rơi rơi giọt buồn”. Những lời chất phác, gan ruột của má được liệt kê ra lại gợi
lên cho người đọc về thực trạng nhói lòng đã và đang xảy ra ở một số nơi. Vẫn
còn đó những nỗi oan khiên, buộc họ phải kêu cứu đến tận trung ương và không
nguôi hy vọng… Thơ Đoàn Thị Ký nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất trữ tình khi thể
hiện tình cảm của mình với quê hương, đất nước, bạn bè và những người thân yêu
ruột thịt. Nhà thơ cũng dành những trang viết về mẹ, về cha bằng tình cảm của một
đứa con đã hiểu lẽ nông sâu của cuộc đời. Lời thơ vì thế lại càng trầm tư, da
diết và xốn xang hơn. Lời tâm sự của đứa con với người cha trong bài Gửi
cha nghe có gì đó mang nhiều nỗi ưu tư, trắc ẩn: “Đồng bạc lẻ quanh vườn
nhặt nhạnh/ Cha tặng con gái yêu đôi cánh,/ Lên cao vòm trời/ Hương cau dạo nhờ
cỗ xe thần gió/ Lửng thửng mây/ dưới cánh bay/ dây tơ hồng/ Cha gỡ dây tơ hồng/
Chiếc lá bay ngập ngừng/ Bồ đài lá mít/ Cạn kiệt ông xanh/ Chệnh choạng đôi
chân cây khù khì,/ Cái nhện âm i/ Sông Ngân xa bờ lênh lênh nắng/ Có dải mây
như tóc cha bạc trắng/ Chưa yên lòng vì con”. Đi qua những thăng trầm của thời cuộc, trải qua nhiều công việc,
sống và trải nghiệm ở nhiều môi trường khác nhau đã cho chị nhiều vốn sống để ứng
phó, thích nghi với đời: “Những sợi tóc dài đen/ Gáo nước lạ gội đầu lại rụng/
Chưa kịp rẽ ngôi dịu vầng trán bướng/ Dóng dả còi xe// Giá anh hỏi sau mỗi chuyến
được gì? Em rành rẽ trả lời. Và khép cửa…/ Nhưng sao anh cứ ân cần bền bỉ/ Cất
dùm em những sợi tóc mềm” (Tóc chiêm bao). Giờ đây, khi chị đã ở vào tuổi xế chiều của đời mình, bao cảnh
đời dâu bể, những biến cố thời đại được Đoàn Thị Ký nhìn nhận sâu sắc hơn. Nhà
thơ khai thác ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ đạo vẫn hướng về sự nhân văn
nhân ái. Chứng kiến cảnh lao động nhọc nhằn, lòng chị lại trỗi dậy ký ức của những
năm tháng đã qua, sự khổ ải để có miếng ăn trở thành nỗi đau thường trực, vì thế
nhà thơ không khỏi ngậm ngùi: “Tay cấy lúa nước bốc hơi hầm hập/ Thương lúa giữa
trời chả nón che thân/ Bóng lúa nương nhau hàng hàng ngay thẳng/ Một cánh cò
bay vội dáng phân vân…” (Hạt nắng hạt vàng). Trong cái nhìn về thời gian, nhà thơ bộc lộ nhiều nỗi trăn trở
day dứt, đôi lúc chị tự vấn với chính bản thân mình trước thực tại: “Trên dòng
sông ai bắc cầu mây?/ Lúa chiêm chín hạt chảy làm sắc nắng/ Tôi ngỡ mặt trời đi
vắng/ Dưới là sông trên ấy cánh đồng/ Hạt phù sa phải năm nắng mười sương/ Mới
nên quả, nên bông, nên nụ cười tươi thắm/ Câu hát nghĩa tình níu cong đòn gánh/
Ai cuối dòng sông tôi gửi gió thơm đồng!/ … Năm tháng rồi qua vô tình mải miết/
Không biết trong mình có hạt phù sa/ Không biết trong mình ăm ắp lời ca/ Từ thuở
trong nôi…/ Dòng sông thì thầm với tôi như thế!” (Thầm thì dòng sông). Nhìn trên tổng thể, thơ Đoàn Thị Ký vẫn thủy chung với thi
pháp thơ truyền thống nhưng vẫn gây được ấn tượng cho người đọc bởi chị có khả
năng vận dụng từ ngữ, hình ảnh, tứ thơ của mình một cách ấn tượng. Người đi soi
bóng mặt hồ, một bài thơ ngắn nhưng dung chứa và chuyển tải được nhiều điều về
mảnh đất và con người Hà thành với những nét đặc trưng, phẩm chất đáng trân
quý. “Thầm lại nét/ Hào hoa/ Thanh lịch/ Trong từng lời nói, dáng đi// Không
cho riêng mình/ Cho muôn năm Hà Nội/ Còn thơm cốm ủ lá sen/ Thu về…/ Nụ hôn gió
tê tê/ Sau đêm dài lắng lại/ Tất bật/ Ưu tư/ Bon chen/ Khôn dại…/ Tơ liễu thêu
tranh gấm mặt hồ/ Cõi người tự diễn chẳng bầu sô”. Mỗi câu chữ đều dạt dào cảm xúc, chứa đựng tình cảm chân
thành, hồn hậu, giản dị nhưng đầy chất trí tuệ, biểu đạt đến tận cùng nỗi lòng
cũng như những mơ ước, khát vọng của chính nhà thơ. Vẫn mượn lời thì thầm của
dòng sông, nhà thơ lại mở ra một sự liên tưởng khác, mang nhiều ý nghĩa về dòng
sông đời: “Trách cứ gì nếu bờ này có lở/ Thì bờ kia như ngực trẻ căng tròn/ Bắt
đầu từ đâu tôi chưa đến tận nguồn/ Chỉ biết đến làng tôi, sông như người mắc nợ/
Tháng ba hoa gạo đỏ/ Tháng sáu về bông trắng lòng tay”. Những câu thơ nhẹ nhàng mang tính triết lý khi nhà thơ có sự
xâu chuỗi, nhìn nhận sự việc, con người trong thời đại mới với bao biến đổi khó
lường. Vì thế Đoàn Thị Ký tỏ ra hoài nghi. “Nhà đổ tận đâu đâu/ Xòe bàn tay – Bàn tay mình vẫn sạch!/
Khó day mặt kẻ gây tội ác/ Những liên minh/ Vặt trí tuệ loài người như vặt lông
gà, lông vịt.// Trí tuệ hướng con người vươn xa/ Trí khôn níu con người về lại/
Cái bóng của mình/ Cái bóng hằn lên da hổ/ trong câu chuyện cổ nước nhà/ Cái
thiện phải lấy dây thừng ghì cái ác/ Ghì thật chặt/ Mới hy vọng sự mô phỏng
thiên nhiên trên luống cày thời đại/ Làm bác trâu già mọc lại hàm răng…”(Thời đại
và trí khôn). Cái tôi trữ tình trong thơ Đoàn Thị Ký là cái tôi hướng nội,
suy tư, nghiền ngẫm về tình yêu và bản chất của sự sống. Có một số bài thơ của
chị được người đọc yêu thích vì nó chạm đến cõi sâu thẳm trong trái tim với đầy
ắp những tâm tư, khát vọng rất đỗi đời thường. Có lần sợi bông gạo bay/ Như chiếc chong chóng xoay xoay nửa
vòng// Tôi đưa tay đón và mong/ Đâu ngờ gió tự vân mòng đẩy ra// Thế là bông gạo
bay xa/ Nửa vòng chong chóng đã hòa thinh không…// Một mai ngọn gió thổi nồng/
Có còn bông gạo nửa vòng bay bay? (Nửa vòng bông gạo). Cái nhìn độc đáo về cảnh
vật của thế giới tự nhiên làm cho người đọc bất ngờ và cảm thấy thú vị. Nhà thơ
lắng nhìn và quan sát tỉ mỉ bông gạo bay và rồi suy ngẫm về chiều tương lai bằng
một sự nghi vấn mà ở đó có những nuối tiếc, bâng khuâng. Ở bài Thẫm chiều, từng lời thơ đọc lên nghe có điều gì
đó hẫng hụt, man mác, rưng rưng. Chiều tim tím núi Tràng Đà/ Tôi tim tím nụ
hoa cà bến sông// Có người khách cõi hư không/ Chờ con đò vãn bóng hồng nẻo
sang.//Dòng sông vẫn chẳng tày gang/ Bè xuôi gối sóng đêm vàng đứt neo//Trông
người… nào có người theo/ Trông trời… đôi hạt trong veo cách vời// Vẳng lên một
tiếng – Đò ơi/ Sang sông lỡ chuyến, khách tôi thẫm chiều. Đoàn Thị Ký là nhà thơ lặng lẽ nhưng say mê và sống hết mình
với thi ca và bè bạn. Hành trình thơ và hành trình cuộc đời của chị dường như
có sự đối sánh và song hành nhau. Ở đó, nhà thơ đã trải lòng mình trước cuộc sống
để nhận thức, chiêm nghiệm, tự vấn, soi tỏ để củng cố niềm tin và sưởi ấm lòng
người. Bởi hơn ai hết, Đoàn Thị Ký đã đem tất cả tấm chân tình của mình để
trang trải với đời với người. Những gì chị có được hôm nay là cả một quá trình
sống, làm việc nghiêm túc hết mình, sự dấn thân không mệt mỏi vì niềm đam mê
thi ca. 30/5/2022 Nguyễn Văn Hòa Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét