Đỗ Nam Cao - Câu thơ làm mát
khoảng chiều chiến tranh
Thơ Đỗ Nam Cao làm dịu mát khoảng trời chiến tranh và tạo nên chất thơ Dính giữa con người hiện thực với thơ, làm cho bạn đọc nhớ về trường ca Hỡi cô cắt cỏ của ông mộc mạc chân quê mà long đong phận người…
Tôi đã đọc thơ của nhà thơ Đỗ Nam Cao anh viết từ thời năm
1970 – 1980. Đó là những năm tháng anh là người chiến sĩ văn nghệ giải
phóng. Được biết anh cùng thời đi B với các nhà thơ Văn Lê, Trần Mạnh Hảo… Đó
là thời điểm tạo nên những viên ngọc quý của văn học miền Đông Nam Bộ trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Rời ghế Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cử nhân văn khoa Đỗ
Nam Cao cùng bạn bè vào thẳng tiến Tây Ninh, xuống Trảng Bàng, Củ Chi, Bình
Dương,… cùng vào trận và trực tiếp ghi chép cuộc chiến đấu của quân và
dân Nam Bộ trong những năm tháng gian lao mà anh dũng. Bằng những trang văn,
bài báo ghi chép, kí sự chiến tranh và nhất là những bài thơ làm cho cuộc sống
nơi chiến trường dịu đi vơi bớt những căng thẳng nặng nề.
Nhà thơ Đỗ Nam Cao cùng những chiến sĩ văn nghệ giải phóng đã
tạo nên bức tranh thơ sống động hiện thực, phản ánh sự khốc liệt của chiến
tranh, làm tăng thêm động lực chiến đấu cho quân dân ta trong thời khắc nghiệt ấy.
Anh đã ví thân phận mình như cánh cò lửa bay trên bầu trời kháng chiến làm nên
những vần thơ xốn xao rung động lòng người. Làm cho tâm trí của tôi hôm
nay ở đây càng nhớ về thời tuổi trẻ một thời cùng ra trận đã qua.
Năm 1973 anh đã viết: Vẫn con cò của ca dao/ Con cò lặn
lội bờ ao ướt mình. Rồi: Xa trông như đốm lửa bùng/ Cánh con cò cháy rực
vùng trời cao. Và như chợt thấy chiều vàng ở đây: Ngẩn ngơ một cánh cò bay
đỏ trời/ Ơi con cò của lòng người/ Ngàn năm quen lại khiến đời xôn xao/ Xuồng
đi mây ửng ngọn sào/ Tôi mang đôi cánh lửa vào tiền phương… Ở đây cánh cò trong
ca dao, dân ca chỉ là: Cánh cò bay lã bay la/ Bay từ ruộng lúa bay ra cánh
đồng. Hay: Con cò bắt tép bờ sông/ Sao mày ăn trộm lúa ông hỡi cò…
Cánh cò ngày ấy trong thơ Đỗ Nam Cao là cánh cò thơ chất chứa nhiệt huyết tinh
thần màu lửa vút trên bầu trời, là ý chí người chiến sĩ giải phóng đi vào
tiền phương trên trận tuyến chống quân thù. Hình tượng cánh cò lửa của khao
khát tự do độc lập cho Tổ quốc là biểu trưng phẩm giá con người, là tiếng nói của
lương tri, là khát vọng sống cho đất nước.
Cánh cò lửa bay vào tiền phương ấy bắt đầu từ bài thơ Mùa
thu chia tay, khác hẳn những cuộc chia tay bình thường khác, không ồn ào náo
nhiệt mà lặng lẽ lạ thường dưới ngòi bút Đỗ Nam Cao. Như thế đấy em ơi ta
xa nhau bây giờ/ Đau khi đất nước đang còn chảy máu/ Mạnh như Tổ quốc đang giờ
chiến đấu/ Trăng dội xuống chỗ mình những ánh ban đêm… Sao lai không những
ánh sao đêm mà những ánh ban đêm. Ánh ban đêm ấy chứa đựng nỗi niềm gì đây. Có
khi dễ dẫn đến cuộc chia li không bao giờ trở lại bởi cuộc chiến tranh đâu phải
trò đùa. Nhưng ánh ban đêm trong Đỗ Nam Cao có một chút dịu êm…
Cũng năm 1973, giữa cái thời buổi tranh tối, tranh sáng giành
giật với phía bên kia từng tấc đất. Anh đã nghĩ đến ngày toàn thắng để nhân dân
xây dựng đất nước mình hơn mười ngày xưa. Tại thị trấn Lộc Ninh, Đỗ Nam Cao có
dịp đã nghe tiếng gõ bay của người thợ xây và cũng từ giây phút ấy, tiếng thơ
anh lan tỏa trong suy tư tâm tưởng đến ngày toàn thắng. Chỉ những tiếng gõ ấy
thôi mà khát vọng ước ao mau thành hiện thực đến ngày hòa bình, sẽ có những tiếng
gõ trên những công trình trên phố phường làng quê. Một dự báo lạc quan, niềm
tin của của người trong cuộc chiến:
Ôi thích biết bao tôi thành con trẻ/Tiếng trái
tim nghe gõ nhịp lanh canh/Tiếng của tương lai thường là rất khỏe/Tiếng bay đập
lên mặt gạch nung già/Tiếng gõ bên này canh canh nhà trẻ/Tiếng gõ bên kia xưởng
máy đầu tiên/Tiếng gõ vội bên nhà đỡ đẻ/Tiếng gõ bốn bề thành phố hiện lên.
Thế đấy trong chiến tranh, nhà thơ đã lắng nghe được tiếng bay người thợ xây sẽ vang vọng trên những công trình, trên làng quê và những đô thị tương lai. Đó là những dự đoán sắp trở thành hiện thực của thi ca và điều đó đã trở thành hiện thực.
Từ chiến khu Tây Ninh, Đỗ Nam Cao đã về đến sông Sài Gòn
không phải con sông tắm mát cả một thời trai trẻ của ông, mà con sông ấy ông phải
lặn lội những năm tháng tuổi trẻ gian khổ mới đến được. Đi qua bao nhiêu mất
mát đau thương mới tận tay vốc lên giọt nước dòng sông chảy về thành phố Sài
Gòn mà nhà thơ yêu quý qua sách vở địa lí đã học. Bây giờ mới tới tận nơi, nhìn
qua mênh mông bát ngát nghỉ về nơi Bác Hồ đi tìm đường cứu nước. Phải chiến đấu
để trở về bên thành phố dòng sông và nỗi nhớ này.
Thành phố tôi yêu ở cuối dòng sông/ Mũi con thuyền xé nước
sang ngang/ Hong ráng chiều con cò bay dọc/ Trong ráng chiều đỏ rực/ Và nước
trong như vầy/ Nước mát lạnh tay/ Vốc lên xoa vào rát mặt/ Con thuyền giấy tuổi
thơ/ Cháy bùng lên khát vọng/ Nước cứ bồn chồn/ Nước chảy ướt tay tôi.
Và: Ta đạp lên toàn vòng gai thép giặc/ Vẫn cứ nghe rì rầm
mạch nước dười bàn chân.
Đến với bài thơ Đi ngược cơn mưa, ta đủ thấy con đường
vào thành phố chiến tranh chông gai biết bao hiểm nguy: Gió ném mưa bay vào rát
mặt/ Hướng con đường không nhìn rõ được/ Cứ nghe gió nghe mưa đập vào rát ngực/
Là nhận ra hướng của đường này.
Thế đấy. Cùng đi ngược chiều với cơn mưa ấy, anh lại nghĩ về
quê cái thời bên cha, bên mẹ: Mưa ở quê nhà có mái rạ vàng che/ Còn hơi ấm
nồng nàn cha mẹ/ Mưa ở chiến trường hào hứng thế/ Đi ngược cơn mưa vào trận
đánh hôm nay. Cơn mưa ngược chiều quất vào da vào thịt những đau đớn về thể xác
nhưng trong tâm trí sâu xa người chiến sĩ văn nghệ vẫn nghĩ về quê hương cha mẹ.
Anh nghĩ về trận đánh sắp xẩy ra và những mất mát hi sinh khó lường trước hòn
tên mủi đạn. Bài thơ: Thư gửi bạn người đồng đội hy sinh trong trận đánh: Giọt
sương đêm bé cỏn con/ Lật trong búi cỏ cùng hồn của ta/ Thương về một khoảng trời
xa/ Một quầng lửa cháy là Khoa với mình…
Bài thơ Những căn hầm bí mật. Nhà thơ Đỗ Nam Cao viết
bài thơ này vào năm 1974 ở Trảng Bàng – Củ Chi vùng ven đô Sài Gòn. Bài thơ đặc
tả nổi buồn chiến tranh tàn khốc, sự sống trong lòng đất chật hẹp nhưng bao la
tình người như nhà thơ Dương Hương Ly từng viết: “Nơi hầm tối là nơi sáng
nhất/ Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam”. Thì Đỗ Nam Cao đã viết: Đất
nước bốn ngàn năm lịch sử/ Trở mủi gươm rạch vào ngực kẻ thù/ Một đường thẳng
vút lên/ Từ sôi sục phía trên/ Những người chui xuống hầm bí mật/ Như mũi tên tẩm
độc/ Như tia nắng đi vào bóng đêm/ Như hạt mầm ủ ươm…
Bài thơ dài nhưng độ nén căng tràn bật ra, tạo nên cảm xúc một
thời chiến đấu đau thương mà hào hùng oanh liệt trước mong manh cái chết nhưng
vẫn lạc quan tự tại: Quân thù đến dội bom/ Mặt đất rùng rình sợ/ Dưới lòng
hầm khi đó/ Ta đang ngồi làm thơ. Bài thơ Ru con ở hầm, hạnh phúc nẩy mầm trong
ác liệt là/ Con sinh ra ở rừng/ Rừng thêm bóng mát. Và Đỗ Nam Cao còn rất nhiều
bài thơ khác được sinh ra trong thời chiến tranh mà tôi chưa được kiểm đếm.
Cái giai đoạn khốc liệt giũa hòn têm mủi đạn, làn ranh của
chiến tranh chực chờ dội xuống những vùng đất hiền lành như cỏ cây những thứ chết
chóc. “Kẻ thù buộc ta ôm cây súng” để tìm ra lẽ sống hòa bình. Đã xuất hiện một
giọng thơ Đỗ Nam Cao lãng mạn, nhân văn đầy chất anh hùng ca. Thơ viết trong
chiến tranh, trước những nỗi bi thương nhưng với Đỗ Nam Cao có bút pháp trữ
tình mang tính nghệ thuật của thơ, gần gủi mà sâu sắc. Thơ viết trong chiến
tranh của Đỗ Nam Cao đầy sức chiến đấu, chứa đựng những tình cảm cao đẹp của
người chiến sĩ văn nghệ giải phóng nhân nghĩa, ân tình giữa sống chết mong
manh.
Sau ngày đất nước thống nhất, người chiến sĩ ấy đã viết tập
thơ Dính. Nhà thơ, nhà lý luận phê bình Nguyễn Thụy Kha đã viết về Đỗ Nam Cao:
“Những năm anh cắn răng lặng lẽ vậy mà vài năm sau, Cao cho ra mắt tập thơ đầu
tiên có cái tên rất lạ “Dính”. Quả thật tập thơ hay và lạ. Dính chất chứa xô lệch
bao số phận, bao quặn thắt dồn nén trần ai. Là những mãnh vỡ nham nhở ghép lại.
Một vỉa hè va vấp của dân đen. Dính cứ thế thầm dính vào bạn bè và những người
yêu thơ”. Tiếc rằng tôi không có được tác phẩm này.
Tập trường ca bằng thơ lục bát Hỡi cô cắt cỏ là nỗi
đau trong thơ anh cũng là nỗi đau số phận con người. Cuộc đời anh ít có niềm
vui nên thơ ông cũng xù xì góc cạnh nhưng chứa đựng những cao xanh, không hèn hạ
bôi bẩn. Anh về lại nơi ngày xưa một thời đèn sách văn chương gặp gỡ bạn bè kỷ
niệm, những gì thân yêu đầu đời cao quý. Hà Nội chiều nay lòng nhao nhác
nhớ/ Đường sấu mùa Thu xanh tận cuối trời/ Heo may nắng hoe vàng rơm rớm khóc/
Đẹp ướt my ai hè phố mùa Thu/ Nâng chén men say nhẹ mảnh lá chiều/ Gió bỗng
liêu xiêu kìa ai dừng lại/ Một cô áo vàng trong cõi nhớ Thu riêng.
Nhiều người đã viết về mùa thu rồi nhưng miên man thu là những
cung bậc trong thơ Đỗ Nam Cao vượt qua sóng gió mà bay bổng, mà nhẹ tênh
sóng sánh. Có nhà thơ nói rằng, Đỗ Nam Cao ví thơ ông: “Thơ mình như khổ
qua mướp đắng, xù xì gai góc như sầu riêng, như mái tóc rậm bết bồng bềnh chưa
gội.” Thơ Đỗ Nam Cao mà đắng như khổ qua, xù xì như sầu riêng thì quả là hồng
phúc cho làng thơ. Bởi trong khổ qua mướp đắng là những vị thuốc bổ dưỡng mát
lành dịu vợi nâng đỡ cơ thể, làm thắm da đỏ thịt con người cũng như thơ ông làm
dịu mát tâm hồn bất cứ ai trong bất cứ lúc nào.
Nếu thơ anh nhìn xù xì bề ngoài như sầu riêng ấy nhưng bên trong chứa đựng hương vị hấp dẫn ngon lành của chất của thơ. Vì đó là thơ anh không khoe mẽ chữ nghĩa, không đánh bóng từ ngữ sáo rỗng vô nghĩa mà chân chất mộc mạc vượt qua chông gai. Thơ anh tạo nên thứ men làm nên thứ rượu thơ ngon hấp dẫn người đọc bởi đó là hồn cốt trong chữ nghĩa của Đỗ Nam Cao. Thơ anh đầy ắp hương vị thơm ngọt và hấp dẫn. Nếu như thơ anh bổng bềnh như mái tóc chưa gội thì đẹp chứ sao. Lại có nhà thơ đã viết: “Nhà thơ Đỗ Nam Cao đã lặng thầm cày bừa trên cánh đồng chữ nghĩa, gieo mầm trong cuộc sống đầy gai góc, gian truân, tạo nên những tác phẩm thơ, làm nên trường ca mà ẩn mình lặng lẽ ngân nga trong lòng bè bạn. Nhưng hội Nhà văn Việt nam bỏ quên ông để ba mươi năm sau Đỗ Nam Cao mới được ngồi trên cái ghế văn nghệ nước nhà.” Khi đã ngồi lên rồi chưa được bao lâu ông lại lặng lẽ ra đi!
Kỷ niệm mười năm nhà thơ Đỗ Nam Cao về với văn hóa miền di sản,
ông để lại những áng văn chương bằng thơ chất chứa vị đời mà lắng đọng chất Đỗ
Nam Cao vang vọng đến bây giờ. Đỗ Nam Cao đã lọc thơ ra từ xù xì đắng đót, tạo
ra nguyên chất của thơ trong những năm tháng chiến tranh, trong khi đất nước
đói nghèo. Ông đã rót vào dòng chảy văn học kháng chiến miền Nam, văn học Việt
nam đương thời những dòng thơ lãng mạn cách mạng mà thế hệ trẻ ngày nay khó
lòng tạo dựng.
Xin gửi đến ông và gia đình nhà thơ Đỗ Nam Cao, làng văn nghệ
Việt Nam tình cảm của tôi với ông. Đó là vào năm 2007 tác phẩm Hai mươi
năm sau là tập truyên ngắn đầu tay của tôi được Nhà xuất bản Văn hóa Thông
tin mời nhà thơ Đỗ Nam Cao biên tập. Đó là điều hân hạnh cho tôi. Sau đó sách
in ra tình cờ tôi gặp ông tại quán văn nghệ 181 Trần Quốc Thảo khi ông đang ngồi
với bạn tâm giao nhà thơ Hoàng Trần Cương từ Hà Nội vào. Biết tôi, ông chỉ nói
môt câu không thừa, không thiếu: “Hai mươi năm sau có mấy truyện đọc được Quỳnh
ạ”.
Xin chân thành cảm ơn ông lần nữa, chắc rằng nơi cửu tuyền
ông sẽ vui khi trên trần gian này còn nhiều người chúng ta, trong đó có tôi
đang đọc Cánh cò lửa và nhớ ông nhà báo, nhà thơ Đỗ Nam Cao. Thơ ông
làm dịu mát khoảng trời chiến tranh và tạo nên chất thơ Dính giữa con
người hiện thực với thơ, làm cho bạn đọc nhớ về trường ca Hỡi cô cắt cỏ của
ông mộc mạc chân quê mà long đong phận người.
Sài Gòn, 10/10/2023
Nguyễn Vũ Quỳnh
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét