Vũ Quần Phương tiết lộ chuyện đặc biệt
về Xuân Diệu, Chế Lan
Viên
Nhà thơ Vũ Quần Phương nhớ lại ký ức về những nhà thơ,
nhà văn lão thành như Chế Lan Viên, Tố Hữu, Nguyễn Tuân… thế hệ đàn anh – những
người đã “lót ổ” cho thế hệ hôm nay dưới mái nhà văn chương.
Ngày 30.9, tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Hội
nghị đại biểu Nhà văn lão thành Việt Nam lần thứ nhất năm 2023. Hội nghị
đánh giá những thành tựu to lớn của các nhà văn lão thành đối với nền văn học
Việt Nam trong 50 năm qua.
Vanvn.vn xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Vũ Quần Phương, là tiếng vọng thời gian tưởng nhớ tới thế hệ nhà văn lão thành.
Thế là tôi đã bước vào tuổi mụ 85 hôm 8/9 vừa qua. Sống tử
như đùa mà ào một cái đã vào chặng cuối của đời người. Tiếng tích tắc của đồng
hồ vẫn như mọi khi mà tâm trạng nhìn thời gian của mình không như xưa nữa.
Không hiểu sao tuổi lớn thì cảm giác về thời gian như không còn chính xác, thấy
chóng hết ngày, hết tháng, hết năm.
Thế là đã 60 năm tính từ cái ngày tôi được rủ đến họp thơ ở Hội
Nhà văn Việt Nam. Trụ sở Hội khi ấy không phải ở 65 Nguyễn Du mà ở phía đối diện,
bên số chẵn. Hồi đó (thập niên 1960) lứa chúng tôi được gọi là cây bút trẻ, sau
này gọi là lứa chống Mỹ, hầu hết chưa vào Hội Nhà văn.
Anh Thái Giang được giải Nhất cuộc thi thơ của Tạp chí Văn
Nghệ năm 1962 và sau đó trong nhiều cuộc thi thơ khác anh luôn được giải cao mà
khi viết bài này tôi giở tập kỷ yếu của hội ra xem hấy đến năm 1966, anh mới
vào hội nhưng hầu như tất cả các cuộc họp về thơ, chúng tôi thường được mời dự.
Mời giấy hoặc mời miệng kèm theo lời dặn của anh Chế Lan Viên hoặc anh Tế Hanh:
”Gặp anh em viết nhớ rủ các bạn ấy đến cho vui”.
Tôi đến buổi đầu là theo suất “rủ đến cho vui ấy”. Mà vui thật!
Lần đầu tiên tôi được ngồi thật gần, được trò chuyện với các nhà thơ mà tôi được
học tác phẩm của họ ở trung học: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế
Hanh, Anh Thơ, Nguyễn Xuân Sanh, Yến Lan… Đôi khi là: Tú Mỡ, Huy Cận, Phạm Huy
Thông, Vũ Đình Liên, Quang Dũng… Tôi thích thú như được ngồi trò chuyện với người
trong cổ tích.
Buổi ấy tôi thấy anh Chế Lan Viên ngồi giữa cái đi-văng, một
bên là Ca Lê Hiến một bên là Trường Giang. Anh Chế Lan Viên hồi đó là Trưởng tiểu
ban thơ, người triệu tập và điều hành cuộc họp. Anh tạo một không khí thật gần
giữa chúng tôi, những người còn nhiều rụt rè với văn chương và ngại ngùng trước
các tên tuổi đã vào văn học sử như những người khai sinh nền thơ hiện đại nước
nhà viết bằng quốc ngữ.
Trong buổi họp ấy Ca Lê Hiến đọc bài thơ tình yêu Anh là
con sông chảy trước cửa nhà em. Trường Giang, người luôn có thơ đăng báo hồi ấy,
đọc bài Gà Đông Cảo. Hai bài thơ chọn ngẫu nhiên mà giới thiệu khá chính
xác hai mạch cảm xúc của các anh. Sau đó anh Ca Lê Hiến về miền Nam chiến đấu
và làm thơ dưới bút danh Lê Anh Xuân. Anh hy sinh sau chiến dịch Mậu Thân.
Trường Giang làm báo Giao thông vận tải và làm thơ với viết
hàng ngày cho đến khi về hưu. Anh mất lúc ranh giới giữa hai thế kỷ 20 và 21, vẫn
chưa vào hội.
Năm 1972, khi chuyển từ nghề y sang làm biên tập cho buổi Tiếng
thơ Đài Tiếng nói Việt Nam tôi càng có điều kiện tiếp xúc với các bậc đàn anh,
tính tuổi có người vào hàng cha chú mình rồi. Không chỉ thơ mà cả văn và phê
bình. Tôi đã được gặp ông già nhỏ thó lành hiền Hoàng Ngọc Phách, tác giả Tiểu
thuyết Tố Tâm (1925), tác phẩm vào loại “cổ điển” của tiểu thuyết hiện
đại nước nhà, đã xa vời lắm. Cụ Phách khi ấy đã không viết nữa. Nhưng gặp cụ
như gặp một chứng cứ lịch sử của văn chương.
Tôi đã mạnh dạn hỏi cảm giác cụ Nguyễn Công Hoan, khi cuốn Đống
rác cũ đang là sự kiện trong dư luận xã hội. Lại có lần trường sư phạm ở Hưng
Yên mời cụ Nguyễn Tuân về nói chuyện văn, có mời thêm tôi về nói chuyện thơ.
Trường có chiếc xe com-măng-ca vuông và cử một thầy giáo đi đón khách. Chắc để
thể hiện sự tôn kính, thầy giáo đón cụ Nguyễn Tuân trước, sau rồi mới lần lượt
đến năm người chúng tôi, hai diễn viên ngâm thơ, người đàn, người nói và một
ông đi nghe nhờ.
Cụ Nguyễn ngồi ghế cạnh tài xế, là ghế sang nhất ở loại xe ấy.
Phải cái mỗi lần có người lên cụ phải bước xuống đường để người ta lật cái ghế
cụ đang ngồi ấy lấy lối vào xe. Xe đi lòng vòng đến cả giờ, cụ Nguyễn kiên trì
xuống lên đúng yêu cầu.
Đến lần cuối, khi đón đến một ông đi nghe nhờ, ông này nhà ở
gần hội, phố Nguyễn Du. Xe dừng, cụ Nguyễn nhanh nhẹn bước xuống, nhưng lần này
cụ xách xuống theo cả cái làn cói, trong có cái cặp lồng xinh xắn. Cụ quay lại
từ tốn nói với thầy giáo đi đón: “Đến đây gần nhà tôi rồi, xin ông cho tôi về”.
Lũ chúng tôi, ngồi phía sau tán chuyện đang vui, mới cuống
lên, một người nhảy xuống ốp cụ: “Thưa bác, đi luôn thôi ạ, không đón ai nữa.
Chúng cháu vô ý quá xin bác tha lỗi cho”. Tài xế cũng nhanh trí cụ Nguyễn vừa
lên là đi ngay. Cụ không nói gì nhưng chắc còn đang bực. Trên xe trầm lắng hẳn.
Xe qua cầu Long Biên, chị Kim Dung, diễn viên ngâm thơ, người
ít tuổi nhất đoàn, bỗng nhiên hướng lên khen “nhan sắc” nhà văn: “Bác có nước
da đẹp quá, cứ đỏ hồng lên. Hôm bác nói chuyện ở đài về nghệ thuật nhả chữ,
cháu có được nghe. Cả phát thanh viên, cả ca sĩ, diễn viên thích lắm, vỡ ra bao
nhiêu điều, chứ chúng cháu cứ luyện thanh mò, vất vả lắm mà tiến chậm. Bác phải
sang nói lại và nói thêm bác ạ. Nhiều người, hôm ấy vắng, chưa được nghe”. Thế
là câu chuyện bác cháu về phát âm tiếng Việt lại hào hứng cho đến lúc xuống xe.
Tối hôm đó, lúc sắp lên hội trường làm phận sự của tôi, bác
Nguyễn Tuân bảo: “Trưa nay anh nghe tôi nói rồi. Bây giờ tôi xin đến nghe anh một
lúc”. Tôi thành thật thưa: “Có bác là kỷ niệm đẹp cho cháu nhưng cháu cũng sợ”.
Bác nhắc: “một lúc thôi”. Một lúc trôi qua, bác lặng lẽ đứng dậy về phòng.
Phòng nghỉ là một lớp học cải biên, có giường tôi và giường
bác Nguyễn. Khi tôi về thấy bác còn thức. Tôi hỏi: “Bác không ngủ ạ”. Bác Nguyễn
đáp: “Tôi không ngủ sớm. Thường đọc một chút. Và lại muốn chờ anh. Anh có dây mắc
màn chưa? Tôi có mang theo cuộn dây gai. Trên bàn ấy, anh lấy mà dùng”. Không
hiểu sao, đến nay tôi vẫn nhớ chi tiết ấy.
Cụ Nguyễn Tuân có một cảm tình đặc biệt với những gì truyền
thống. Có một điều gì vừa như xa xôi lại vừa như gắn bó hàng ngày với cụ mà
chúng ta chỉ có thực sự chứng kiến mới hiểu ra các giá trị của những vang bóng
từ một thuở xa xưa trong tâm hồn cụ. Tôi đã thấy, cũng ở đài, ngay trong phòng
biên tập của chúng tôi, hồi chiến tranh chống Mỹ, cuộc gặp ngẫu nhiên của cụ và
bà Quách Thị Hồ.
Bà Hồ là nghệ sĩ còn sót lại của thời xưa. Tuổi cao nhưng giọng
vang, ấm. Bà hát ca trù hay ngâm thơ theo các làn truyền thống hay lạ lùng, có
sức gợi lại những nề nếp văn hóa từ nhiều thời của nước mình, dấu xưa xe ngựa,
bâng khuâng lắm.
Bữa ấy bà nhờ ông Đinh Khắc Ban, người chơi đàn đáy nổi danh
từ trước cách mạng đun cho ấm nước, chị Trần Thị Tuyết thì rửa ấm chén. Bà Hồ lấy
từ chiếc túi xách tay phong trà Thái Nguyên đặc biệt, hồi ấy trà ngon phải mua
ngoài chợ đen, bà Hồ đã tự san ra từng phong nhỏ vừa với một ấm trà. Bà Hồ pha
trà nghiêm cẩn, sang trọng như thực hiện một lễ nghi.
Bà nâng hai tay chén trà nhỏ đưa mời ông Nguyễn. Ông Nguyễn
cũng hai tay đón chén trà nghi ngút khói. Ông nhấp trà, ngẫm nghĩ rồi nhìn bà Hồ,
thư thả: “Trà ngon, bà pha khéo nhưng… hình như nước chưa đủ sôi”. Bà Hồ sửng sốt
nhìn ông Nguyễn: “Ơ hay, ông lạ nhỉ, nước người ta vừa đun xong. Ông thấy đấy
mà lại bảo chưa đủ sôi là đủ thế nào?”.
Ông Nguyễn im lặng, nét mặt bình thản. Bà Hồ rót chén trà mới,
nhấp nhấp lại rồi tươi tỉnh và thân ái nhìn ông Tuân mà rằng: “Hay là ông ngậm
trà vào miệng, tôi rót thắng nước vào xem đủ sôi chưa”. Mấy biên tập viên chúng
tôi ngồi quanh vừa làm việc vừa hóng chuyện hai cố nhân, ai cũng bừng gương mặt,
thích thú nhưng không dám cười thành tiếng. Tôi cũng vui mà quên đưa mắt liếc
bác Nguyễn, người nổi tiếng kỹ tính xem lúc ấy bác thế nào nhưng tôi chắc ông cụ
xúc động.
Cái câu nói của bà Hồ chát chúa thế nhưng hình như lại u ẩn
chút hương thân ái từ một thời xa, đủ mang bác Nguyễn về ngược thời gian bốn
mươi năm trước. Cái thời nhố nhăng và đau đớn của những ông TYPN, ông Xuân Tóc
Đỏ, những chị Dậu, anh Phu, vẫn có những tấm lòng thương nhau, phục nhau thầm lặng
của đám văn nhân tài tử thật sự biết tài đức nhau.
Cái chi tiết “đời” mà tôi chứng kiến hôm ấy quá mảnh mai mà
sao tôi cứ ấn tượng mãi. Đọc tường thuật đám tang Tản Đà hay đám tang Vũ Trọng
Phụng cũng thấy được tình cảm ấy.
Thế hệ viết đang dự cuộc họp này, có hạnh phúc là lúc mới vào
nghề, đã được thở cùng khí quyển văn chương với các bậc khai sơn phá thạch cho
nền văn chương nước nhà trong thời nước mất. Năm tháng chưa xa nhưng cuộc đời
đã khác, trong câu chuyện hay trong tính cách các cụ, chúng ta như còn nhận ra
dấu vết của cái thời ngỡ như trong tiền kiếp nhưng lại là bối cảnh văn chương của
những tác phẩm mà chúng ta mê đắm.
Năm 1984, về làm ở Nhà xuất bản Văn học, tôi được giao làm
tuyển tập cho các nhà văn trước cách mạng. Về thơ, phần trước cách mạng, chỉ chọn
20 bài. Nói chung, các tác giả đều vui “in gì thì in, được in là chúng tôi vui
rồi”. Riêng anh Xuân Diệu cho rằng với anh 20 bài thì biết giới thiệu gì, anh đề
nghị lấy thêm. Nhà xuất bản không thay đổi lượng bài được. Anh xin để anh tự chọn.
Điều ấy tôi làm biên tập, tôi có thể phối hợp với anh được. Nhưng khi duyệt, nếu
phải thay bài thì anh thuận cho. Anh Xuân Diệu nói: “Thế thì tôi chờ, khi nào
tác giả được chọn tôi in”.
Tôi vẫn nghĩ thơ Xuân Diệu trước cách mạng có những bài hay lắm,
có thể là hay nhất trong các tác giả Thơ Mới, hay trong cả tiến trình thơ Việt.
Những bài ấy để dài lại rất “vu vơ”, dễ bị gạt. Mà không in tuyển Xuân Diệu thì
chẳng ra làm sao. Tôi loay hoay tìm cách gỡ. Gỡ chưa ra sáng hôm sau, sớm lắm,
anh Xuân Diệu đạp xe đến căn nhà tội nghiệp của gia đình tôi ở phố Trương Hán
Siêu.
Anh nói: “Đêm qua anh nghĩ lại. Mình dỗi không in thì họ
không in thật. Thế là vì mấy lượm lúa mà mình bỏ cả vụ gặt. Thôi họ muốn chọn
thế nào cũng được. In thơ bây giờ như chạy đồ đạc ra khỏi đám cháy nhà. Chạy khỏi
ngọn lửa của thời gian. Túm được thứ nào cứ bế đại ra. Chọn lọc gì nữa. Sẽ còn
nhiều lần chọn lọc, sắp xếp lại. Các cậu chưa phải là người chọn cuối cùng
đâu”. Rồi anh vận ca dao: Trời mà bắt chết thời thôi/ Nếu còn, tôi sẽ no
xôi chán chè.
Bữa ấy anh Xuân Diệu nói liền một thôi. Tôi chỉ biết nghe,
càng nghe càng nhẹ lòng. Nhẹ lòng vì nút thắt đã được gỡ. Nhưng lúc tiễn anh về,
nhìn theo dáng lưng anh, như lầm lũi như kiên nhẫn, trên chiếc xe đạp Favorit,
tôi như ngộ ra một triết lý sống của anh, cái triết lý chấp nhận, chấp nhận để
thích ứng, để tồn tại, để phấn đấu cho cái đích mình đã định, với anh là tham
gia đánh giặc cứu nước và làm thơ hay. Những cái đích thơ nhiều lúc phải tạm thời
gác lại.
Ngay lứa chúng ta thôi cũng đã đáp ứng nhu cầu tình thế nhiều
phen lắm. Nhưng chúng ta vẫn có những nhà thơ xuất sắc, những bài thơ được công
chúng rộng lớn mến yêu. Bài thơ Tây tiến của Quang Dũng, lứa đàn anh thời kháng
chiến 9 năm và bài thơ Một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao, lứa chúng ta
trong cuộc kháng chiến lần sau, là hai đỉnh thơ độc đáo, đột xuất nhô lên rồi
tuyệt tự. Nó không có hậu duệ. Tại sao? Trả lời câu hỏi ấy cũng là một cách thu
thập kinh nghiệm làm nghề.
Tố Hữu, nhà thơ tài năng duy nhất không phải “nhận đường” hay
“tìm đường”, ông cứ thẳng hướng ban đầu mà tiến. Có lần tôi được nghe ông
khuyên, khi ấy ông đã hưu: “Xúc động thì nên viết, viết ngay nhưng đăng lúc nào
thì phải tính”. Và ông tiếc. Hồi ông qua nước bạn đang cách mạng văn hóa, nhiều
chuyện muốn viết lắm nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Khi chiến tranh biên giới
phía Bắc, muốn viết thì cảm xúc lại mở rồi.
Một lần khi tôi hỏi tại sao ông ít thơ tình yêu thế, có phải
vì cương vị xã hội mà ông không dám bộc bạch. Ông nói: “Không phải, tôi có được
làm thơ vì tôi hay vì thơ đâu. Hồi Từ ấy, tôi làm thơ để tuyên truyền lý tưởng,
sau này là để giải thích chính sách. Các cậu đừng coi tôi là nhà thơ chuyên
nghiệp, thơ tôi nghiệp dư, cách mạng mới là chuyên nghiệp”. Tố Hữu nói xong, trầm
ngâm. Tôi nhìn ông, thầm nghĩ đấy mới chính là chỗ lớn của thơ Tố Hữu.
Tôi hay hỏi tâm sự nghề viết, ở cuộc họp này xin được đôi nét
tưởng nhớ, tri ân lớp đàn anh thuộc thế hệ đầu, những người đã lót ổ cho chúng
ta, dưới mái nhà văn chương tam đại đồng đường khi ấy. Còn lớp chống Pháp và
chính lớp chúng ta nữa, nhiều nỗi lòng, nhiều mong ước nghe cảm động lắm,
thương nghề lắm, xin để một dịp khác.
3/10/2023
Vũ Quần Phương
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét