Thứ Ba, 13 tháng 1, 2026

Đêm sông Hương 0000000

Đêm sông Hương

- I -
tôi mất
«cây kim chỉ nam»
GIÓ lạnh. Đêm khuya.
Đường Maréchal Joffre chạy ven thành Thanh-hóa từ cửa Tả đến nhà ga, lạnh ngắt vắng tanh như một tấm «phông» tô bằng mấy nét bút sơn của một tay danh họa.
Chúng tôi ngồi đợi chuyến xe đêm vô Huế. Kim đồng hồ nhà ga mới chỉ một giờ.
Một giờ! Có lẽ đoàn xe tốc hành lúc ấy mới đi khỏi ga Đồng-giao; trước mặt chúng tôi còn hơn nửa tiếng đồng hồ nữa.
– Cuộc chợ đêm, sáu giờ chiều hôm nay đã bắt đầu khai mạc, anh đi Huế, hẳn còn có việc gì khác chứ?
— Nếu đủ thời giờ, tôi sẽ điều tra về nghề mãi dâm ở Huế.
– Nghề mãi dâm ở Huế cũng chẳng có gì là lạ. Cảnh sinh hoạt của bọn thanh lâu ở mấv xóm Hậu-bổ, Ao-hồ, đường Ngang, Đâp-đá cũng tương tự như những cảnh ở các đường ngõ Sầm-công, Yên-thái, Bắc-ninh, Gia-ngư. Anh cần phải cất công đi xa làm gi. Ở ngay Hà-thành, anh cũng có thể tìm biết được những cảnh khốn cùng của bọn bán phấn buôn hương đó.
Bạn tôi, anh Kỳ Phong, tôi xin giới thiệu với các ngài, là người đã từng lăn lộn lâu năm ở Huế. Đêm ấy, gặp nhau ở Thanh-hóa, bạn tiễn chân tôi ra ga xe lửa, nhân chuyến xe chưa tới nên cùng tôi ngồi chờ.
– Bây giờ anh bảo tôi xách va-li về?
– Đã đi thi cứ đi. Nhưng tôi khuvên anh một điều, ngòi viết của anh phải dè dặt về câu chuyện đó. Nghề làm đĩ, dù ở đâu cũng chung một đường lối cả. Sự nghèo khó là cái khởi điểm của đường lối đó cũng như khởi điểm của trăm nghìn đường lối khác tối tăm, ngập lụt những bùn nhơ.
– Cử như ý anh thì nghề mãi đâm là do ở sự nghèo khó mà ra. Tôi cũng đồng ý với anh, nhưng khác anh là tôi còn một mối ngờ; anh nghĩ thế nào về câu: « Sơn bất cao, thủy bất thâm…» mà hàng ngày anh vẫn thường nghe nói đó.
– « Sơn bất cao, thủy bất tliâm, nam đa trá, nữ da dâm » lá câu người ta gán nhầm cho nhân-vật sông Hương, núi Ngự. Từ Quảng-ngãi trở vào, Bình-định trở ra mới có những cảnh sông chẳng sâu, núi chẳng cao như lời tục ngữ. Nếu non nước đất Trường-an cũng thế thì làm gi còn có câu: « Núi Chuồi ai đắp mà cao, sông Hương ai bới ai đào mả sâu? » Vả chăng: « Sơn bất tại cao hữu tiên tắc danh, thủy bất tại thâm hữu long tắc linh» (núi có tiên ở thì không cần phải núi cao mới có danh, nước có rồng ở thì chẳng cần phải là nước sâu mới linh). Sông Hương núi Ngự, có Rồng với Tiên không? Cái đó cũng không cần kể đến. Nhưng cái linh khí của một mảnh giang sơn gấm vóc có bao giở kết thành cái xú-khí làm nhơ bẩn cả cảnh vật đất Thần-kinh. Huế có nghề mãi dâm cũng như Hanoi có nghe mãi dâm. Nguyên nhân của nó là sự khốn cùng, mà cảnh khốn cùng thì đâu bằng ở Huế. Đứng làm thủ phủ một xứ mà xưởng công nghệ có thể dung nạp được những thợ thuyền đàn bà, Huế chỉ có hai chỗ là nhà máy điện và sở Bồ nghè. Người đàn bà Huế, ngoài việc tề gia nội trợ, buôn thúng bán mẹt ra, muốn tìm lấy một chức nghiệp để gỡ mình khỏi phải làm vật phụ thuộc của đàn ông, cũng khó có lối mà đi, còn nói gì đến chuvện độc lập về kinh tế nữa. Đất cao không có đủ, giòng nước trong phải chảy xuống vũng bùn nhơ. Nghề mãi dâm ở Huế có thịnh hành, chẳng phải vì «Sơn bất cao, thủy bất thâm » mà chỉ tại nghề làm thợ với nghề đi buôn chẳng đủ làm kế mưu sinh cho chị em phụ nữ.
– Anh quên còn có Nữ-công học hội ở Huế?
– Cái hội-học ấy chẳng giúp ích gì cho ai cả, hay nói cho đúng, chỉ giúp ích cho bọn đàn bà con gái giòng quyền quí đất đế-đô. Những món học của hội Nữ-công ấy có những gì? Làm bánh, trổ bông, thêu hoa, nói tóm lại là những công việc tỉ mĩ làm để « giết » bớt thời giờ, chỉ mua vui cho một dúm người, không có ích gì cho đại đa số phụ-nữ.
Một hồi còi thét. Bài học của bạn, tôi xếp vào một ngăn va-li, xách rồi bước ra.
– En voiture, s’il vous plait!
Bước chân lên toa xe lửa, sau liếng giục của viên xếp ga, mà tôi thấy bâng khuâng như thằng Mọi đánh mất « cây kim chỉ Nam » trong cuộc lữ hành đêm đó.

– Ông đi mô?
– Tôi vào xem cuộc chợ đêm trong Huế. Còn ngài?
– Tôi cũng vô trong nớ, nhưng có chút việc nhà.
Toa hạng nhì hết chỗ, tôi lễ mễ xách chiếc va-li nặng chĩu lời khuyên của bạn, bước sang toa hạng ba.
Toa hạng ba, đêm ấy, cũng chẳng rộng rãi gì, nhưng được ông khách tốt bụng nhường lại cho một chỗ. Ông, người xứ Huế, vui chuyện, thích nói đùa. Được tôi làm bạn đường xa, ông kể nhiều chuyện cho nghe, nhờ đấy tôi mới được biết người ngồi nói chuyện với tôi đêm ấy là một quan huyện ở Thanh-hóa.Thấy tôi người Hanoi, ông nhắc lại những chuyện chơi đùa của anh em sinh viên trường Cao-đẳng Luật-học, hồi ông còn theo học trường đó. Ỏng không ưa cách chơi ở Bắc, nhất là « chơi nhà trò ».
Chơi nhà trò rất hại, không phải hại tự bọn ả-đào ra ; có cái chơi gì, một đêm, hết uống rượu đến hút thuốc phiện rồi thức đêm thức khuya, nhiều khi gồm đủ cả bốn cái khoái luôn một đêm: tửu, sắc, yên, đổ. Muốn ngủ lại nhà ả-đào, làng chơi Bắc-kỳ bầy ra những chai rượu «tạ sự». Cái hại về sắc dục chưa chắc đã có, người đi chơi chỉ hại sức khỏe vì hút thuốc phiện với uống ruợu ti.
– Ở Huế cảnh chơi khác những gì?
– Trai gái không lẫn với thuốc sái, rượu chè. Mỗi cuộc vui đi riêng một thứ. Ở Huế, ít có người trẻ tuôi «hút chơi» như ở Bắc-kỳ. Mấy năm sau đây, không biết thế nào chứ trước đây, cứ như mắ tôi xem thì phần đông bọn trẻ ở Hà-thành đều mắc vào cuộc chơi đó cả.
Nhân nói đến những cuộc hành lạc ở Huế, ông có tả qua cho tôi nghe cái thú chơi «thuyền hoa» trên mặt nước sông Hương. Câu chuyện, lúc đầu còn là nhựng cái tả tình cao nhã, tả cảnh mơ màng, đến sau rút dần vào chuyện mãi dâm, câu chuyện tôi đang cần phải biết.
– Đàn bà Huế làm nghề mãi dâm, phần nhiều không phải vi nghèo hèn mà chính vì dâm dục. Nhiều con nhà sang trọng tử tế đủ mặc, đủ ăn, mà sau rồi cũng đến sa vào cảnh hoa trôi bèo dạt. Huế có bọn con gái «có giấy» thì Huế cũng có bọn đi tắt về ngang. Bước đầu của họ không phải tự ở chỗ kiếm tiền, sau vì nghe lời của bọn mụ mối dỗ dành, quá bước lỡ làng nên họ theo nghề bán phấn buôn hương là nghề vừa thỏa được dục tinh lại vừa kiếm ra tiền để tiêu xài, trang điểm Khỏi ga Hoàng-mai, xe càng chạy nhanh, càng lắc.
Chúng tôi bấy giờ đã mệt cũng chẳng buồn dằn tiếng để đánh át nhữag tiếng bánh xe chuyển trên đirờng sắt ầm ầm.
Sáu giờ rưỡi sáng, xe lửa đến Vinh.
Hơn bốn giờ chiều, xe đến Huế.
Xuống Huế, trong va-li tôi có hai món quà lạ. Món người cho ở dọc đường. Món người cho ở Thanh-hóa.
Cái nào nên giữ?
Cái nào nên bỏ?
Phân vân, tôi đưa tay quay mạnh một vòng khóa, rồi xách va-li, rảo bước bước ra …
- II -
chuyện không ngờ
LÚC ấy, tám giờ tối.
Tôi tới Huế mới trong bốn tiếng đồng hồ.
Hai mắt tuy cay vì mất giấc ngủ hôm qua, tôi cũng cố nhìn cái cảnh tượng tấp nập trên mặt đường Paul Bert, quãng từ nhà Bào-chế trung-ương đến khu đất trước trường Hậu-bổ.
Huế, tối nay tươi tỉnh lạ.
Bỏ hẳn nét mặt buồn rầu của đám cung tần sống mòn trong bóng tối những lâu đài đền các cũ, kinh đô Huế đêm nay như một mỹ nhân mới từ biệt cái cảnh âm thầm của đời vương giả, vàng đeo ngọc giắt, bước chân vào một cuộc dạ hội tưng bừng những tiếng sinh ca.
Thì cuộc dạ hội ấy đã thiết lập trên bến Thương-bạc từ đêm hôm qua, đèn kết hoa chăng, như ném ngọc gieo châu trên giòng Tiêu-Kim-Thủy.
Qua cầu Trường-tiền, tối nay tôi cũng là một viễn khách đến dự cuộc dạ hội đó. Tiếng còi, tiếng nhạc của đám ngựa xe nhộn nhịp như đưa tôi vào cõi mộng mê ly.
Trong cảnh tưng bừng huyên náo, tôi lại chợt nhớ đến Hanoi nơi tôi mới tạm biệt từ đêm hôm kia. Hanoi, chỗ đất phồn hoa có biết bao chuyện lạ trò vui trong những đêm hứng gió ở gác Khuê-văn, đón trăng trên cầu Đô-mỹ.
Một cái đập vai đã gọi tôi ra ngoài cảnh mộng đó. Tôi ngoảnh lại. Người cầm tay tôi là một bạn cùng nghề. Bạn Việt-Dân giới thiệu tôi với ông X. làm việc sở Hỏa-xa. Trong câu chào hỏi lúc gặp gỡ buổi đầu, tôi được biết ông làm việc ở đây đã lâu năm. Với tôi, lại là người đồng xứ.
Trong cuộc chợ đêm, chúng tôi lang thang hết gian hàng này đến gian hàng nọ. Trên một khu sân bốn bề bỏ trống, hai vai đào Kinh vẫn thi nhau hát bộ giữa lúc trong một căn phòng khác, ông giáo Nhiệm với ông Paul Lộ đang diễn vở «Trái-đào-tiên ».
Bao nhiêu danh hoa dị thảo của kinh-đô Huế, tối nay như đua nở cả trong một khu vườn. Ngắm cảnh bông hoa lồng dưới bóng đèn, khách đi dự cuộc chợ đêm đã như lạc bước vào một buổi hội hoa đăng trên chốn Bồng-lai, nếu không có bạn đến gần, đánh tiếng:
– Anh vừa vào chuyến « tầu suốt »?
Tôi nhìn lại thì người hỏi tôi là anh Đào-đăng-V. sinh viên Huế theo học ban tú tài Pháp, người quen biết tôi năm trước ở Hà-thành.
– Tôi mới vào lúc bốn giờ chiều. Còn anh về đầy đã được mấy hôm?
– Ngót tuần lễ nay, từ bữa tôi từ biệt anh ở báo-quán.
Tôi chưa kịp hỏi, bạn đã hỏi tiếp:
– Anh vô đây, trọ ở đâu? Định ở lại mấy hôm?
– Tôi thuê đò đậu ở bến cầu Trường-tiền. Vào đây là để xét về nghề mãi dâm nên ngày về, hiện tôi cũng chưa quyết định.
Bạn cười một cái cười nửa miệng:
– Xét đám nữ-lưu Huế, anh không nên trông riêng về một mặt…
Tôi cũng chỉ cười mà không đáp, biết bạn có ý dặn tôi đừng lẫn những đóa hoa ở vườn Thượng-uyển với những cánh hoa trôi bèo dạt trên mặt nước sông Hương.
Trong khi chúng tôi như hiểu biết nhau ở mấy nụ cười nửa miệng với những câu nói nửa chừng, ông X., người cùng đi với tôi, chừng muốn đỡ lời tôi, vội đáp:
– Ở Huế cũng có nhiều con nhà gác tía lầu son sa chân vào vòng trụy lạc.
Chừng lấy câu nói ấy làm phật ý, anh V. nghiêm nét mặt, hỏi dồn:
– Ông nói như vậy, ông có đủ bằng chứng không?
– Tôi ở đất Huế đã mười năm, chuyện Huế, tôi biết!
– Ông định mạt sát chúng tôi. Ông quá lắm!
– Lời nói của tôi chỉ là một lời nói thực. Ông cũng biết, tôi với các ông, vô can.
Ngọn lửa bất hòa bừng lên trong giây phút, tưởng chỉ đến đấy là tàn. Không ngờ mười phút sau, anh bạn trẻ họ Đào đã cùng với một bọn chừng hơn chục anh em thanh niên, còn kéo đến chất vấn ông X. với chúng tôi, ý muốn làm cho ra chuyện.
– Ở chỗ này, tôi không cần phân trần với ai hết. Các anh muốn tôi đáp? chúng ta cùng ra khỏi khu vực chợ phiên.
Cái đám đông ấy, mỗi phút càng đông thêm. Lời giảng giải, tiếng khuyên can, có lẽ đã lấn át cả tiếng ông giáo Nhiệm ra trò, tiếng mấy vai đào Kinh ca hát.
Trong đám thanh niên «hăng hái» ấy, tôi nhận thấy mấy anh em là người có «ăn học». Cách tiếp đãi của anh em nhã lắm, đã khiến chúng tôi được thêm một bài học về tình đoàn thể mua bằng mấy giọt máu lạnh nhỏ xuống tận đáy lòng.
Chín giờ rưỡi, đốt pháo bông. Tia lửa tung trời đã dẹp tắt ngọn lửa bất bình giữa hai đám thanh niên Trung-Bắc.
Một lát sau,anh Đào-đăng-V. tìm đến xin tôi thứ lỗi cho anh vì một cơn quá nóng. Tôi nhận lời, nhưng nghĩ lại tự thẹn.
Cái thẹn của một người trẻ tuổi phải nghe những lời hối hận của một người cũng trẻ tuổi như mình.
- III -
đêm sông hương
BUÔNG theo giòng nước, chúng tôi lênh đênh trên bốn chiếc «tròng».
Da trời trong xanh, mặt nước trong xanh cùng phẳng lặng như tờ dưới ánh sáng mảnh trăng lưỡi liềm trước đêm hôm thất-tịch.
Bên khay đèn đặt ngay giữa khoang thuyền, khách có năm người đang đưa hồn nhẹ bay theo làn khói xanh nha phiến. Ngoài mũi thuyền, một đào một kép, đường tơ lựa nhịp, cùng họa chung một khúc Nam-Bình.
Đêm sông Hương!
Một đêm trong buổi thu sơ đã làm não lòng biêt bao du khách…
Ngồi chung chuyện với khách đêm nay có hai thiếu nữ người xóm Ao-hồ, từ lúc buông thuyền, người chủ đò đã cho gọi đến. Dưới đèn nấp bóng, hoa dẫu rã cánh, mà chưa hẳn đã tàn hương.
Nhân hỏi cảnh hoa đào nước bạc nổi chìm, Lệ Th., một người trong hai thiếu nữ nói trên, có kể cho khách cùng nghe một chuyện.
Chuyện một người con gái nhà quan, ông bố mất sớm, ở với người mẹ là người sẵn thói đa tình, năm mười-lăm tuổi, bị cái gương xấu của mẹ, đã tập dần những thói đi tắt về ngang, thường cùng với một người thanh niên lấy khoang thuyền ở mặt nước Hương-giang làm nơi hò hẹn.
Huế ít phòng cho thuê, thuyền sông Hương lại là những chỗ buồng riêng rất kín.
Cuộc tình duyên của đôi lứa trẻ trung một ngày phai lạt, thì người thiếu nữ đã lọt vào con mắt tinh ranh của bọn chủ thuyền mà không tự biết, lại trong thời gian có một người yêu chuyên nhất, người thiếu nữ cũng đã quen biết những thói son phấn điểm trang.
Con côi mẹ góa, tiếng cả nhà không, muốn cung cho sự xa-xỉ cần phải có tiền, mà cách kiếm tiền thì đã sẵn có bọn làm nghề «chim-xanh» dẫn lối.
Từ đấy, nhà « thằng Tùng » ở Đập-đá, nhà «đội Mậu » ở đường Ngang là mấy nơi người thiếu nữ ấy thường ngày đi lại. Đủ ăn đủ mặc, tự con mắt người trong cuộc chẳng trông cảnh họ là cảnh bèo dạt hoa trôi.
– Người đàn bà có nghĩ, ai cũng biết cái nhục cam hiến thân làm cái trò vui trong chốc lát cho người...
– Rứa mà cô trợ S., chồng làm giáo học hẳn hoi cũng còn đi tắt về ngang, lại chính chồng đứng làm «chim-xanh» cho vợ.
– Những chuyện như thế hẳn không phải là những chuyện thường có.
– Ông không nghe danh cô Hai Đ. nớ. Hôm xưa còn đeo kiềng sùy vàng, bận áo quả lỡ, bữa ni đã đường-đường ngôi mạnh phủ ở tỉnh K. tê.
Đằng mũi thuyền bên, vẳng nghe có tiếng nước đập lẫn theo với giọng hò đò.
Vén bức mành xẻ nửa nhìn ra, dưới bóng trăng mờ, tôi thấy T. Hoa — cũng một đóa hoa của xóm Ao-Hồ — đang thò tay khỏa nước sông Hương, rửa vết bụi trần đêm đó…
- IV -
ông «mần lục-lộ»
Ở nhà hàng Morin ra, tôi đến thẳng hiệu Bào-chế trung-ương hỏi mua một hộp thuốc xổ.
Đã hai hôm nay, bụng tôi lúc nào cũng thấy ỳ-ạch, đầu thì choáng váng, vì ăn uống không được đúng giờ.
Đứng chờ người lấy thuốc đem ra, tôi lẳng lặng ngắm vạch đường ngôi thanh thanh của người đàn bà ngồi sau bàn giấy thu tiền, lúc ấy đang dán mắt trên cuốn sổ. Người tôi nhìn, nếu đã có chồng, thì là một thiếu phụ Huế xinh tươi lạ. Mái tóc vấn trần bỏ xỏa trên gáy như ôm lấy cái cổ trắng nõn sắc ngà.
Thấy tiếng giầy của một người khách khác mới bước vào khỏi cửa, chúng tôi cùng ngảnh nhìn ra. Khách, một người thanh niên mắt kính, tay can, đầu để trần, mình bận bộ đồ tropical màu đất thó.
Ngơời thiếu phụ hé cập môi son:
– Vous désirez? Monsieur.
Khách bước lại gần bàn, hai má ửng hồng, trông tnrởc nhìn sau như muốn giữ kín một chuyện gì, rồi bảo nhỏ người thiếu phụ:
– Donnez-moi une boîte de c…, s’il vous plaît.
– La boîte de six ou de douze, Monsieur?
– La boîte de six.
Tôi để ý đến mấy câu khách hàng với nhà hàng vấn đáp. Khách hàng, từ lúc hỏi mua hàng đến lúc trả tiền hàng, không giấu nỗi vẻ mặt bẽn lẽn. Nhà hàng — người thiếu phụ tôi vừa giới-thiệu với các ngài đó — từ câu hỏi khách cho đến lúc trao hàng cho khách, lời nói với dáng dấp vẫn thản nhiên.
Làm như người vô ý, tôi bước lại trước bàn. Đứng cạnh hộp thuốc xổ của tôi là một chiếc hộp gỗ tròn, nhỏ mà thấp hơn chiếc hộp đựng manchon, ngoài có «lá nhãn» in mấy giòng chữ Anh tôi không kịp đánh vần vì nó vội vào nằm trong túi khách.
Ra khỏi nhà Bào-chế trung-ương, tôi nghĩ vẩn vơ đến hơn mười phút. Đầu thấy như càng nặng, tôi bước sang hóng gió trên đường cầu Trường-tiền.
Một mảnh trời chiều trong vắt in một mầu xanh da bát trên mặt nước Hương-giang. Xa xa, gác đồng hồ chợ Đông-ba nhô lên như một cái chuồng chim giữa đám cây xanh đã biến ra mầu xám.
Mấy chiếc tròng xuôi ngược giòng sông như lướt trên một tấm gương pha-lê, trong suốt. Mảnh sân quần vườn thể-dục nằm bên tả ngạn như chiếc «mù-soa» sọc đen ô trắng còn để hong trên một bãi cỏ xanh.
Tựa lan-can trông xuống, tôi thấy một bọn trai gái, áo màu sặc sỡ, đang giắt nhau xuống một chiếc tròng. Trong đám, có cả người tuổi trẻ vừa mua chiếc hộp gỗ ở nhà Bào-chế trung-ương mà tôi nhận thấy ngay ở chiếc can cầm thẳng trong tay, với cặp kính đeo ngang trên mắt.
Cũng lúc này, cách đấy có một hàng rào cây, trên mảnh sân xi-măng, mấy bạn trẻ đang đua nhau múa vợt. Trong khi trái ban của bọn trẻ này đang liệng bay tung lộn thì chiếc tròng của bọn trẻ kia đã nhẹ lướt trên sông.
Đứng trước hai cảnh tượng ấy, trong đầu tôi bỗng nẫy ra một cuộc xung-đột của hai quân. Quân «sắc dục» đánh nhau với quân «thể-dục».
Một tiếng hỏi nhỏ bên tai tôi như tiếng còi thu quân bãi trận. Tôi ngoảnh cổ lại. Người đứng cạnh nách lôi nhe ra một chiếc răng vàng:
– Bẩm, quan vừa về Huế hồi hôm?
– Phải, ông muốn hỏi gì, cho tôi biết.
Anh ta lấy phong thuốc lá trong túi áo ra — một chiếc « phô tuýt so » đã sờn cả hai cửa tay — đưa mời tôi hút. Tôi từ chối. Anh ta lấy diêm đánh lửa di lên mẩu thuốc hút dở đã tắt ngấm trên miệng, bắt lửa ở que diêm, hút, rồi lại ngẩng nhìn tôi:
– Bẩm, tôi chắc quan đã quên tôi rồi. Bữa qua, gặp quan trong chợ đêm, nhưng vẫn còn ngợ nên không dám hỏi.
– Tôi chắc ông nhầm tôi với ai thì phải. Tôi là một người dân chân trắng, có quan tước gi đâu.
– Bẩm tôi không nhầm. Ngài cho phép tôi được thưa chuyện hầu. Năm trước, ngài đã giúp tôi hồi tôi ở Thanh đem quế ra Hanoi bán.
Tôi cố lục lại những việc đã qua nằm xếp trong ký-ức.
Người ấy chẳng để tôi phải mất thêm vài giây phút, lại lên tiếng tiếp luôn:
– Bẩm, hồi đó tôi nhỡ độ đường, có mấy thanh quế đem đến bán hầu ngài định lấy tiền về Thanh, sau ngài đưa giúp cho hai đồng mà không nhận quế.
Lúc ấy, tôi mới sực nhớ. Chẳng muốn nghe kể lại câu chuyện cũ, tôi bèn hỏi anh ta:
– Hồi này ông làm gì? Đủ tiền tiêu xài chứ?
– Bẩm, trước đây tôi có «mần» lục lộ. Vừa rồi vì kinh-tế khủng khoảng, tôi bị mất việc, hiện đang đi kiếm sở «mần».
– Ông ở Huế đã lâu năm?
– Bẩm, chính chỗ chúng tôi sanh trưởng.
– Cảnh Huế, ông biết hết?
– Trời ơi! còn phải nói chi.
Vừa lúc chúng tôi đang chuyện phiếm thì một thiếu nữ đi qua.
Anh ta nhìn người ấy, lại nhìn tôi, rồi cười một cái cười có ý nghĩa:
– Ông có biết cô tê, vừa đi qua nớ?
Tôi cũng cười, bắt chước tiếng Huế:
– Tôi biết mô!
– Vừa mới đó, tôi thấy ông chăm chăm con mắt ngó xuống một chiếc đò.
– Làm sao?
– Cô tê cùng là người theo một nghề với tụi nớ.
– Thì họ làm nghề gì chứ?
Anh ta cười:
– Ông thiệt khéo giả đò.
– Không, thiệt mà…
– Thiệt ông không biết họ mần nghề chi? Mỗi người h† mần những hai nghề. Một nghề ngỏ, một nghề kín.
– Này nhưng thôi. Tôi hỏi thiệt: bọn, ông vừa nói đấy, có phải là bọn « gái có giấy» không?
Anh ta lắc đầu:
– Phần nhiều là con gái các nhà lương thiện, kiếm không đủ ăn. Tối lại, họ phải «đi tròng» để kiếm thêm chút bổng.
– Thảm hại thật. Nhưng bất cứ với ai, họ cũng bán rẻ tấm thân?
– Cái nớ cũng không chừng, nhưng thường thì họ vẫn lựa chọn.
Rồi anh kể một thôi giải cho tôi nghe về cải nghề điếm lậu mà anh ta gọi là nghề kín. Trong lời nói, có lắm tiếng lắm câu tục tỉu, sống sượng, đến nỗi tôi nghe mà thấy máu trong trái tim như đông lạnh, có lúc nghĩ như bị nước dội trên sống lưng. Chẳng tiện thuật hết ra đây, tôi chỉ kể tóm lại rằng: trong câu truyện bán phấn buôn hương, bọn này cũng tùy hạng người họ chịu đi, cũng lại tùy khách lạ khách quen, định giá cuộc vui chăn gối một buổi hay một đêm, khi đã ngã giá rồi, họ do những con đường vắng theo khách xuống tròng hay đến những chỗ hẹn riêng của khách. Cứ giá trung binh, mỗi cuộc chơi tròng mỗi đêm ít ra cũng phải mất ba đồng bạc đó là chưa kể tiền thuê tròng, tiền tiêu vặt vãnh với khoán tiền… «cảm tình» gọi là tiền «hoa hồng».
Tôi hỏi anh chàng có chiếc răng vàng:
– Cách buôn ấy có bị các nhà chuyên trách can thiệp đến không?
Anh ta sẽ so vai:
– Ông biểu biết mần răng? Họ cũng biết bọn nớ là những kẻ khốn cùng nên có ngó thấy cũng mần ngơ, đưa ngang cặp mắt. Nghề bán má buôn môi có phải đâu là cái họa lớn. Thuận mua vừa bán, có bao giờ gây cuộc… rối ren!
– Trừ ban đêm không kể, ban ngày, bọn đó cũng đi làm ăn buôn bán như thường?
– Có người có việc mần, cũng có người không, nhưng bán chợ bán hàng có kể chi, cái nghề kín ấy họ thường lấy làm nghề chánh.
Sau một lát lặng yên, anh ta lại nói tiếp:
– Ông đã vô trong ni cũng nên qua chơi các chỗ nớ cho biết người biết cảnh ; nếu ông có muốn người chỉ dẫn, tôi xin đưa đàng cho ông.
Tôi cảm ơn anh ta, hẹn chín giờ tối lại gặpnhau ở tiệm «Chệt Mập» (Khách béo) đường Gia-long.
Về khách sạn, tôi cất hộp thuốc xổ vào va-li rồi gọi bồi dọn ăn, nghĩ lại cười thầm: bữa nay chưa phải «giờ» mình tẩy.
- V -
tại vườn tĩnh-tâm
một tối
XUỐNG xe ở đường Gia-long, đến chỗ hẹn, tôi đã thấy anh chàng có chiếc răng vàng ngồi đấy. Lần này,anh ta không bận âu-phục, chiếc áo «phô tuýt-so» sờn cổ đã nhường chỗ cho mảnh áo xuyến thâm dài.
Thấy cùng đúng hẹn, chúng tôi cùng bắt tay nhau cùng cười.
Gọi nhà hàng làm hai tách cà-phê rồi anh ta quay lại nói với tôi bằng một giọng rất thân ái:
– Dùng được chớ? Chúng ta phải tiêu cơm tối hôm nay.
Nghĩ uống thêm một tách cà-phê nữa cũng chẳng ráo hơn gì, tôi gật đầu ưng lời. Nhân thấy anh ta đã có vẻ chếnh choáng say, tôi cũng chẳng sợ mất lòng, cứ điềm nhiên hỏi:
– Tiếng Huế, chừng như ông đã bỏ đi nhiều thì phải. Tôi có ý nghe những câu ông nói, thường thấy có lắm tiếng Bắc ông đem vào thay.
Anh ta trừng mắt ra vẻ tự phụ, rồi lại dịu nét mặt, sẽ nhếch miệng cười:
– Nam-định, Ninh-bình, Phủ-lý, Hanoi, đã năm sáu năm nay, chỗ nào mà không có vết chân tôi. Tiếng người đàn ông Bắc-kỳ nghe rất sướng tai. Đàn bà Huế đây, họ thiệt ưng nghe mấy ông ở Bắc nói.
Uống cạn tách cà-phê, tôi dỡ đồng hồ xem, đã chín giờ rưỡi.
Kéo anh ta đứng dậy, tôi chi tiền cho nhà hàng rồi giắt anh ta ra ngoài.
– Tiên-sinh định đưa tôi đi đâu, tối nay?
– Ông cứ đi với tôi. Nói trước, ông có biết nơi mô; mà nói.
Hai chiếc xe-kéo từ đầu đường kia xăm-xăm chạy lại. Chúng tôi, mỗi người bước lên một chiếc xe.
– Bẫm, hai quan đi mô?
Đáp lại câu hỏi của phu xe, tôi thấy người «hướng đạo» của tôi bảo kéo về Thượng-Tứ.
Từ đường Gia-long qua phố Paul Bert, xe chúng tôi rẽ vào con đường về mé tay phải trường Hậu-bổ cũ. Người thưa, phố vắng, trong ánh sáng mấy bóng đèn lửa điện, vài cửa hàng tạp hóa lơ thơ.
Qua một cổng thành tối như miệng hũ, chúng tôi lạc vào một khu đất rộng, cây cao bồn cỏ mịt mù. Mấy cây đèn điện lấp ló bên đường như không đủ sức sáng chiếu hết những lối đi ngang dọc như đường bàn cờ trong đó.
Loong-coong tiếng nhạc, xe tôi cứ theo vết xe chạy trước tiến đi. Hết chạy thẳng lại tạt ngang đến mười phút đồng hồ, chúng tôi lần vào một lối hẹp chỉ chạy vừa một chiếc xe, không thấy có đèn đóm gì cả.
Nhờ có vành trăng lưỡi liềm, tôi nhận thấy hai hàng rào cây sát ngay bên má.
Ngửng trông lên: mấy cây cau đứng xù đầu như những con quỉ dữ dưói bóng sáng trăng mờ.
Xe vừa dừng bánh, phía trước về bên tay trái, thấy có một tia đèn điện bấm tỏa ra. Ánh sáng chiếc đèn «pin» chĩa vào mặt chúng tôi không đầy nửa giây đồng hồ đã tắt ngấm hẳn đi, để chúng tôi đứng trước một hàng rào cây đã tối lại tối thêm hơn nữa.
Chúng tôi lần bước đến thẳng chỗ vừa chiếu ra tia điện đó. Đi được chừng năm thước, tôi thấy trong khe rào tối có một cái bóng đen lù.
Anh chàng có chiếc răng vàng — đến lúc đó tôi cũng chưa rõ tên họ là gì — cất tiếng hỏi một câu bâng quơ:
– Nhà mụ Nghè mô? Trời ơi, tối quá mà!
Vừa lúc ấy, tia lửa điện lúc trước lại chiếu ra, rồi trong khe rào thấy có một tiếng đáp theo:
– Dả-aạ!
Ánh sáng đèn «pin» vung lên. Bấy giờ chúng tôi mới nhận biết chúng tôi đứng trước một cái cổng rào không có cửa.
– Dả-ạ. Bẩm các quan …
– Kia, mụ.
Tôi dí mắt vào cái bóng đen đó. Người tôi nhìn là một người béo lùn như cái vựa, đầu trọc lốc mà lại là …. một người đàn bà.
Tôi có cái cảm-giác một người viễn khách, đêm hôm lạc lối, đến xin ngủ đỗ ở một cảnh chùa. Nhưng không! Người mời chúng tôi vào nhà khách tối nay không phải một vị sư bà, vi theo lời nói nhỏ của thằng cha răng vàng thì mụ kia là một mụ đàn bà góa!
 
Qua cái bình phong kiểu cuốn thư xây bằng gạch ngay trước cổng, chúng tôi đến trước một cái bể cạn, trong có núi giả, trên có giàn hoa. Đứng đấy trông vào trong cách chừng bốn thước, thấy một gian nhà thờ, giữa có chao đèn ba giây thả lửng trên cái án thư, tỏa xuống một thứ bóng sáng mờ-mờ hung-hung đỏ.
Lớp nhà có hai chái ba gian, gian thờ là gian chính giữa. Hai chái ở hai đầu đứng nép trong bóng tối cả. Gian giữa chỉ cách sân có một bức rèm thưa.
Mụ Nghè — tên người ta đặt cho người đàn bà trọc đầu đó — trỏ mấy chiếc ghế bầy ở dưới giàn hoa, mời chúng tôi ngồi rồi gọi người nhà pha trà. Ngay lúc ấy, một đứa nhỏ bưng bộ khay chè ra. Hơi thơm trong chén đưa lên, tôi thoảng thấy mùi hương liên-tử.
Uống cạn chén nước, anh chàng răng vàng làm bộ bả lả đứng lên, xoa đầu mụ Nghè, lúc ấy cũng đứng tiếp nước chúng tôi ngay đó:
– Rồi mụ phát tài dữ! Ngó người mập rứa. Tôi biết rồi, mụ giầu mà…
Mụ Nghè cất cái tiếng cười khanh khách của bọn Tú-Bà:
– Dả-aạ.
– Bữa ni, tôi có ông bạn ở Bắc mới vô, mụ cho cô Mai ra tiếp, hả?
– Dả-ạ.
Để mặc hai người nói chuyện, tôi đứng lên, đi tản bộ trong vườn hoa. Mụ Nghè đon đả bước theo:
– Mời quan vô chơi trong nhà.
…rồi dẫn tôi vào gian thờ chính giữa.
Cách bầy biện bên trong coi thanh nhã.
Trên mặt tường bên trái treo mấy cầy đàn nguyệt, độc huyền, thập lục… đối với bốn bức liễn Tầu ngay vách bên kia. Trên mặt án thư kê giữa, chiếc bình sứ đứng ôm một bó hoa. Mấy cánh hồng tàn, nhị đã rữa, hương đã phai, rơi dưới chân binh tơi tả…
Tôi bước sang chái nhà bên qua một khung cửa gỗ. Bức màn hoa vừa hé, một thiếu nữ tóc vấn trần, mình vận đồ lụa, khép nép bước ra.
– Dạ, bẩm quan mới vô?
Tôi ngoảnh lại nhìn, đã không thấy bóng mụ Nghè đâu nữa.
Chái nhà tôi bước vào là một căn phòng ngủ. Đồ đạc bên trong sơ sài nhưng sạch sẽ mà bày thứ tự. Có giường gỗ Tây phủ nệm trắng, có gương pha-lê gọt cạnh, có tủ áo đứng, có bàn rửa mặt trên xếp hàng mấy lọ nước hoa.
Người thiếu nữ mời tôi ngồi xuống một chiếc ghế cói xe.
Dưới cây đèn Tây, tỏa xuống mấy tia sáng lờ mờ, tôi ngồi nhận những nét thanh thanh vẽ trên cái khuôn hoa đó. Một mớ tóc đen vấn trần có chiếc lược nạm vàng giữ nếp, một cặp môi son tươi thắm, hai gò má thon thon như đỡ lấy cặp mắt bồ câu lơi lả, hai vành tai xinh xắn có hai nụ hoa nhỏ xíu, với một bộ răng trắng nõn mau ngà.
Người thiểu-nữ đưa cho tôi một lá quạt, mời tôi bỏ chiếc áo ngoài ra. Bây giờ, tôi chợt nhớ đến anh chàng có chiếc răng vàng, hỏi thì không thấy anh ta đâu nữa.
Với cây đàn Tầu treo ở cửa buồng, thiếu-nữ lựa giây dạo một bài Vọng-cổ. Đường tơ réo rắt càng làm tăng thêm vẻ tịch mịch canh khuya.
Tôi như người bị ru vào cảnh mộng, một đêm chung mộng với hoa.
Trong lúc hồn mộng mơ màng, còn như nhìn thấy mấy ngón tay búp măng với lên chiếc phao dầu khêu cho ngọn hoa đèn lụt nhỏ.
…..
Mười hai giờ khuya. Chiếc xe lúc chập tối đưa tôi vào xóm Tĩnh-Tâm, lúc ấy lại kéo tôi ra khỏi cửa Thượng-Tử.
– Xe, mi có biết tên mụ già đầu trọc ở đàng nớ?
– Dả-ạ, bẩm mụ nớ là mụ Nghè Đ.
- VI -
một hàng nem
ở đế-đô
HƠN tám giờ tối, xem hết trò ông giáo Nhiệm đóng vai «Tây giả», tôi với người bạn nữa ở chợ đêm ra. Lang thang hết phố nọ đến xóm kia, mãi lúc khuya, chúng tôi mới rủ nhau về ăn nem ở một nhà hàng đường Thượng-Tứ.
Trời hôm ấy nóng dữ. Tuy là quạt Tây trên trần vẫn vung văng khua gió mà bồ-hôi ở lưng chúng tôi cùng ướt đẫm cả hai manh áo sơ-mi.
Bỏ chiếc áo ngoài vắt lên vành lưng ghế, trong lúc đợi nhà hàng dọn rượu, ngồi buồn, tôi tẩn mẩn ngắm những đồ bài trí trong nhà. Hai chiếc bàn gỗ tạp sơn bằng thứ nước sơn «mỡ-bồ-hôi-ghét» kinh-niên đứng ghé đầu lên nhau chẳng làm tôi tức cười bằng bộ ghế bành mây kê trước chiếc tủ «buffet» trên có mấy chai «bia» cắm vài cành hoa giả. Cạnh bộ «sa-lông» ấy, sau lưng một cái tầng gỗ xếp đầy dẫy những chiếc vỏ chai, chủ hàng đang nằm đợi khách trên mảnh «ghế-bố»[1]. Nói là đợi khách, nhưng thật ra anh ta đang ngủ, tiếng ngáy phì-phò. Mấy bức tranh phủ vách treo lệch lạc như chẳng «ăn nhập» gì với mấy quả nem chua treo lủng lẳng trong chiếc tủ kính hổng kê ở ngoài bực cửa kia. Mấy quả nem chua — có lẽ vì quá chua — như đang làm nheo mũi đức Thánh-Quan, cái ông tướng mặt đỏ râu dài, ngồi chễm chệ trèn bàn thờ đóng chon von ở đầu khung cửa giữa.
Điểm xuyết cho cảnh ấy, có ba bốn người đàn bà áo mầu quần trắng, chốc chốc lại ưỡn ẹo vào, ra, cặp mắt đưa tình như muốn nuốt chửng cái «mề gà» đựng tiền, chứ không phải trái tim đựng tình, của hai anh chàng khách lạ.
Ngáp thốc một hồi rồi, bạn tôi hỏi xin tôi một điếu thuốc lá.
 
Móc túi chỉ còn thấy cái gói giấy không bẹp dí, tôi gọi thằng nhỏ nhà hàng bảo nó lấy một phong thuốc lá Sacma.
-Dạ, bẩm nhà không sẵn, quan cho tiền đi mua.
Tôi đưa tờ giấy bạc một đồng ra. Thằng bé cầm tiền đưa cho cô ả áo màu rêu trong bọn mấy người đàn bà vừa diễu qua mặt chúng tôi như những «quân đèn cù» đó.
Người ấy đi ra phố, không đầy một phút đã lửng thưng trở về.
Bóc phong thuốc Sacma, cô ả cầm mời chúng tôi, lại đánh que diêm cho chúng tôi lấy lửa.
Bạn tôi đưa mắt nhìn tôi chừng lấy thế làm lạ. Còn tôi? Tôi dấu được vẻ ngạc nhiên đó, cứ ung-dung đỡ lấy que lửa, rồi lại cầm phong thuốc, mời lại cô ta:
– Cô xơi với chúng tôi một điếu. Xin lỗi cô cho tôi hỏi: cô là chủ nhà hàng ni?

Chừng thấy thằng cha «cọc cạch» bắt chước không đúng giọng kinh-kỳ, cô ả cười xòa, rồi cũng rút một điếu ở phong thuốc ra, để vào hai vành môi thắm đỏ.
Thấy tôi còn cầm que diêm trên tay, cô ả đỡ lấy tay tôi, toan bắt lửa.
Tôi vứt que diêm dở, đánh que khác đưa cho cô ta:
– Một que diêm, ba người hút, người ta kiêng mà!
– Dạ, bẩm rứa?
Mặt tôi thấy nóng bừng bừng, nhưng không phải đã bốc giận vì mấy tiếng nghe có cái giọng chế nhạo đó. Mà câu nói ấy quả có giọng chế nhạo thì cũng chỉ là câu chế nhạo có tình ý, nó làm đỏ mày say mặt người nghe.
Thức ăn bấy giờ mới dọn ra. Tôi mời cô ta cùng ngồi uống rượu với chúng tôi, ý muốn người ta không cười mình là kẻ không lịch thiệp.
Làm người khách hàng, lúc ấy chúng tôi đã đổi ra vai chủ tiệc.
Tiệc tuy không sang nhưng được cô khách cũng không khó tính. Thế là chúng tôi bắt đầu cùng ngồi ăn.
Bạn tôi, lúc mới, còn ngượng ngập, nhưng sau, rượu vào, đã ra vẻ bạo dạn dần. Chẳng như tôi cười nói ba hoa, anh ta làm ra bộ một gã si tinh, thỉnh thoảng lại hé một nụ cười nửa miệng.
Trong bữa rượu, những câu chuyện trao đổi trong ba người chỉ là những câu chuyện phiếm. Trên mảnh «ghế bố» bên kia, thằng cha chủ hàng vẫn ngủ như đánh đồng thiếp, tiếng ngáy làm át cả tiếng quạt kéo vẫn phe phẩy trên trần.
Thấy thế, tôi hỏi cô ta:
– Cô đối với ông tê có phải là chỗ họ hàng không?
– Dạ, bẩm, cùng là chỗ thân-thuộc.
– Cô ở luôn đây, hay còn ở chỗ khác?
– Dạ, bẩm tôi ở ngay trên lầu.
Rồi cô ta lại hỏi tiếp:
– Hai ông vô trong ni, hành-lý gởi mô sao không thấy mang theo?
– Bữa mới đến, chúng tôi trọ ở nhà hàng Morin ngay đầu cầu Trường-tiền. Nhưng hôm nay đã thuê một chiếc tròng, có người mách ở tròng vừa rẻ tiền lại vừa được xem nhiều cảnh đẹp.
Cô ta giữ một nụ cười, không để nở ra miệng. Sau một lát ngồi cùng yên lặng, tôi lại hỏi tiếp luôn:
– Cảnh sông Hương, núi Ngự, như ý cô có cho là thật đẹp không?
– Cái nớ còn tùy ở người, nhưng cảnh đẹp thường phải có bạn cùng thưởng thức mới tỏ hết cái đẹp.
– Nếu tôi đoán không lầm, cô ở đây hẳn cũng đã có một người bạn.
– Người bạn ấy nếu có chỉ là có trong não tưởng-tượng của ông.
Ngồi đợi cho đến tàn cuộc rượu, cô ta mời chúng tôi lên chơi lầu trên.
Cái «lầu», tôi mới nghe, tưởng nó đẹp đẽ như tư-đệ của các ông Hoàng, không ngờ nó chỉ là cái gác xép con – một cái gác rộng không bằng cái bàn tay có ván gỗ chia ra làm ba phòng — tường đầy những mạng nhện với bồ-hóng.
Tôi chưa kịp chi tiền ăn cho chủ hàng, người đàn bà ấy đã kéo thẳng chúng tôi lên gác.
– Bữa mai trả cũng đặng, bây giờ hãy mời hai ông lên.
Chúng tôi theo người ấy lên một cái thang gỗ sộc sệch như răng bà lão, mặt dưới có bít phên. Hết mười hai bực, chúng tôi cùng chui vào một căn phòng, đồ bầy trong chỉ có một chiếc giường gỗ Tây trên trải chiếc nệm trắng đã vá đến trăm mụn. Phòng không có tủ áo, không có gương treo, không có bàn rửa mặt. Chiếc giường gỗ thì đưa lên bốn cái cọc đỡ lấy một cái màn bằng vải sô trắng, thứ màu trắng đã sắp biến ra màu «cháo lòng».
Tôi ghé mắt qua khe ván, nhìn sang phòng bên. Phòng bên cũng chẳng sang gì hơn, chỉ thêm có một người đàn bà bỏ xoả tóc nằm, mảnh quần trắng vén cao lên đến háng!
Cả ba căn phỏng trong gian gác ấy cùng hưởng chung ánh sáng của một ngọn đèn treo cao sát nóc. Rui mè dơ ra từng cái một, chạy thoai thoải như những chiếc xương sườn của một bộ xương.
Một mùi hôi hám lẫn có mùi mốc, mùi bồ-hôi, mùi nước tiểu… xông lên.
Tôi vừa toan đứng dậy đi ra, nhin đến bạn đã thấy anh ta say mềm, nẳm ngủ gục ngay trên đệm.
Người đàn bà áo màu rêu giữ tôi lại rồi gọi dưới nhà bưng lên cho một khay nước. Chẳng muốn làm mất giấc ngủ của bạn, tôi cũng ngồi rốn lại, nghĩ ngợi bâng khuâng…
Thật ra, đêm hôm ấy tôi cũng say lắm, nhưng vẫn làm ra mặt tỉnh như thường. Lúc đầu còn gượng ngồi, sau cũng ghé lưng nằm, rồi, ngủ thiếp đi lúc nào không biết
Mở mắt dậy, bẩy giờ giời đã hơi tảng sáng. Tôi thấy tôi gối đầu trên cánh tay người bạn gái — người bạn tôi mới quen biết có một đêm.
Còn chưa kịp thở, tôi đã bị nhức óc về những mùi hôi hám sực nức ở trong phòng. Nghiêng đầu gần làn tóc của bạn bỏ xỏa ở thái đương tôi lại bị ngạt mũi về mùi dầu dừa ướp lẫn với bồ-hôi nó đã đổi ra một thứ mùi thơm ung ủng.
Tôi rón-rén ngồi lên, nhìn sát vào tận mặt bạn. Lớp phấn trên má đã hoen, mầu son trên môi cũng lạt — cặp môi buổi tối còn giữ được bao cái nụ cười tươi thắm, đến sáng ngày đã để bay ra những hơi rượu cay, tỏi sống nồng nàn.
Tôi thấy mình bâng khuâng chán nản như thằng vừa đâm đầu xuống nước, lại bị thẳng khác lôi lên. Thấy bạn cũng như tôi, quần áo còn y nguyên, tôi khẽ đánh thức anh ta, ra hiệu cùng kín tiếng.
Rút ví lấy «con rồng xanh», tôi để nó bò vào nằm trong chiếc túi manh áo lụa vẫn bó chặt cái xác còn nằm cứng đờ trên đệm.
Không kịp sửa lại «cồn», «cà-vạt», chúng tôi bước thẳng xuống cầu thang, cũng chẳng kịp nhìn lại một lần sau cùng cái ngôi hàng nem nhơ nhớp, nó đã cho chúng tôi gửi mộng một đêm.
Chú thích:
[1] Thứ ghế vải dài như chiếc băng-ca có thể gập vào mở ra đủ cho một người nằm lọt, nhưng khác hẳn với thứ ghế vải gập của người Bắc thường dùng.
- VII -
nhà hàng
với
khách hàng
CHIỀU nay, định mua ít món đồ lặt-vặt về làm quà cho bà con ngoài Bắc, tôi lang thang ngoài phố một mình.
Qua mấy cửa hàng tạp hóa ở đường Gia-long, nhân trời lấm tấm mưa, tôi tạt sang chợ Đông-Ba, định tìm mua mấy chiếc nón Kinh với một chiếc điếu ống.
Khách lạ, chợ chiều. Khách nhìn nhà hàng, nhà hàng ngó khách.
Cái cảnh mấy người đàn bà ngồi xổ đầu cho mấy người đàn bà khác xức hộ dầu, búi hộ tóc [1], chẳng làm cho khách hoa mắt bằng những tấm áo hàng màu: hồng, lục, tím, xanh.
Vào dẫy hàng bán đồ tơ lụa, khách tưởng chừng như lạc bước vào một khu vườn mà những mùi thoang thoảng quanh mình chỉ là mùi phấn ngát với mùi dầu thơm của những bông «hoa cười» e-lệ nấp sau nhữag trong hàng bầy la liệt trên bục.
Dẫy hàng bên kia, ồ-ồ giọng nói một người đàn ông Bắc:
– Hào hai, cô có bán thì bán…
Tôi ngoảnh lại. Người đang mà-cả đó là một người trẻ tuổi tôi thường gặp mặt ở Hà-Thành.
– Xin thày cho giác [2] năm.
– Ừ, thì giác năm. Nhưng cô phải chọn cho tôi mấy đôi thật tốt…
– Dạ, bẩm tui chỉ còn có thứ vừa…
– Hạng này hào rưỡi một đôi thì đắt.
Thấy tôi nhìn, cô hàng như có ý hơi bẽn lẽn.
Lúc ấy tôi mới trông rõ mặt — một khuôn mặt trái soan có cặp mắt trong mà sắc dưới hai đường lông mày vành nguyệt như hai chiếc lá liễu cong cong.
Chuyện mua bán chưa ngã giá, khách hàng đã «cười tình» rồi nhà hàng cũng «cười tình».
Chẳng muốn để cho đôi trai gái ấy để ý đến mình, tôi cũng sang chọn xem mấy chiếc nón ở hàng bên, làm như người vô tình không để ý đến câu chuyện …
Câu chuyện hai người nói với nhau, tuy nghe tiếng được tiếng không, nhưng đại ý, tôi rõ hết. Người con gái hẹn khách hàng đúng tám giờ tối đến nhà riêng ở số… đường Đông-Ba chọn hàng đẹp ; vì, cứ như lời cô ta nói với khách thì thứ hàng tốt cô ta không bầy bán ở chợ bao giờ.
Khách hàng cũng thuận thế, chào nhà hàng rồi đi.
Thấy lời chào hẹn với tình-ý hai bên cùng đáng ngờ, tôi chẳng thể nén được lòng muốn biết của mình, cũng làm bộ tự nhiên bước đi, cố dõi theo người thanh niên đó.
Ra khỏi chợ, anh ta nói chuyện với một người đàn ông bận quần áo ta, chừng đã lâu, vẫn đứng đợi anh ta ở cửa.
Người này cũng là người Bắc. Anh ta nói đúng giọng Bắc-kỳ:
– Bây giờ mày đã cho là đúng chưa?
– Chúng nó ở Bắc vẫn bảo mày là thổ-công trong này kia mà; tao phục.
– Năm năm giời, anh phải biết….
– Có lẽ mày biết cả tường thành Huế có mấy viên gạch… Nhưng này, tao hỏi thật: đến như thế có cái gì nguy hiểm không?
– Thằng này nhát lạ. Dễ mày tưởng như ngõ Hội-vũ ngày trước, chúng nó cho mày vào tròng. Mày phải biết ở đây là đất Thần-kinh, không phải ở Hanoi.
– Tao tin mày, nhưng tao vẫn có ý hơi ngài ngại.
– Ngại nó rút dao ra, bắt mày viết cái văn tự nợ ngàn bảy phải không? «Kinh cung chi điểu», mày sợ là phải, nhưng con bé ấy đã làm gì có chồng! Bố chết, nó ở với mẹ, nhưng mẹ lại bằng mười con. Đấy, rồi mày đến đấy mà xem nó có chọn đồ hàng tốt cho mày không. Hàng gì? Hàng «bà nàng» bán cho «ông mãnh».
– Vì thế tao cũng liều. Nhưng phải chi cho nó bao nhiêu tiền, mà cách thức vào ra thế nào, mày cũng phải bảo để tao biết.
– Chỉ một «công» đã sang trọng như ông Hoàng rồi. Còn, mày phải tùy cơ ứng biến. Nhưng đại khái chuyện nó sẽ loanh quanh như thế này, tao không cần phải đoán cũng biết. Mày đến, nó lại sẽ đưa ra thứ… nó đã đưa cho mày xem ở chợ rồi tán ma tán mãnh cho mày bằng lòng. Lúc ấy, chính là lúc nó vừa bán hàng cho mày, lại vừạ «tống tình». Của có xấu, mày cũng nhắm mắt mà mua, nhưng phải bảo nó: «nể cô, tôi lấy vậy, nhưng ở đây còn có hàng nào bán thứ tốt hơn nữa, cô làm ơn dẫn tôi đi xem». Thế là nó dẫn mày đi liền. Còn đi đến đâu, cái đó rồi mày khắc biết…
Bẩy giờ ruỡi tối hôm ấy, tôi đã có mặt ở trước nhà số… đường Đông-Ba, đến chỗ hẹn không ai hẹn.
Đường dài, người vắng, tôi lững thững bước một, hết đi xuống lại đi lên.
Con sông Đông-Ba tối nay yên lặng như một đường cống xây hở chạy giữa hai con đường lớn thông nước từ bến Tiên-Nộn thẳng xuống Hương-Giang. Cầu Đông-Ba vắt mình từ đường Đồng-Khánh sang đường Đông-Ba trông như cuốn cửa gạch tròn xây ngang trên miệng cống.
Buồn, trong lúc nghĩ ngợi vẩn vơ, tôi lấy thuốc lá, đánh diêm lên hút. Nhìn sang căn nhà hai người hẹn nhau gặp mặt, tôi thấy có ánh đèn le-lói bên trong.
Nhà kiểu cũ, thấp không đầy ba thước, trước cửa có mảnh phên cót tre giả làm hiên. Giữa lối cửa vào có hai bực thềm, vôi đã long, gạch đã sụt.
Một lát sau, đằng miệt cầu Gia-Hội, có chiếc xe đi đến. Xe chạy chậm, tôi trông được rõ người ngồi trên. Người ấy chính là người trẻ tuổi chiều hôm đó tôi đã gặp trong chợ, lại đi dõi theo cho đến cùng đường. Lần này anh ta vận bộ đồ nỉ rất sang, đầu để trần, tay cầm một chiếc «can» to gộc.
Chiếc xe đỗ xuống bên kia đường, ngay trước chỗ tôi đứng. Do dự một lát, anh ta ra bộ quả quyết, bước lên thềm căn nhà cũ thấp, giơ «can» gõ cửa, rồi lại chống «can» đứng nhìn ra mặt đường.
Cánh cửa gỗ kẹt mở, người trẻ tuổi ấy quay lại đã thấy có bóng người con gái đứng trong. Anh ta lại ngoảnh lại nhìn, trước khi né mình bước qua khe tấm cánh cửa nửa mở nửa khép. Cửa lại đóng kín như trước. Hè đường bên này, tôi vẫn điềm nhiên đứng như người hóng mát, nhìn thẳng ra sông.
Mười phút sau, cửa mở, rồi cả hai người cùng bước xuống thềm.
Đi bộ khỏi đầu cầu Gia-Hội, cặp trai gái ấy tạt sang đường Paul-Bert, qua cầu Trường-Tiền, gọi hai chiếc xe kéo đậu ở trước hàng Morin, mỗi người bước lên một chiếc.
Chạy thẳng đường Jules Ferry, hai người đã cách xa tôi chừng năm-mươi thước. Tôi cũng vẫy một chiếc xe khác đến, bước lên, bảo phu xe chạy theo hai xe trên.
Qua nhà Băng Đông-Pháp, trường Quốc-học, cầu ga xe-lửa, chúng tôi cùng đến một phố vắng, lơ-thơ có mấy ánh đèn. Thấy hai chiếc xe trước chạy tạt vào con đường hẻm tối như bưng, tôi xuống xe, đi theo bước. Đường gồ ghề, thoai-thoải dốc. Cuối dốc là một chỗ bến —bến Trường-Súng— bên hữu ngạn sông Hương.
Ra về tối hôm ấy, tôi lại chợt nghĩ đến câu nói của anh chàng răng vàng bữa trước tôi gặp trên cầu Trường-Tiền:
– Thiệt ông không biết cái nghề họ mần? Mỗi người họ mần những hai nghề: một nghề «ngỏ», một nghề «kín»
Chú thích:
[1] Ở Huế có những người đàn bà chuyên nghề bán dầu thơm xức đầu và bới tóc hộ cho người khác.
[2] Giác là một hào. Giác năm là hào rưỡi
- VIII -
mệ x…
HẠN ở Huế của tôi chỉ còn có mười-sáu tiếng đồng-hồ nữa thì hết.
Trưa mai, tôi đã phải đáp chuyến xe tốc-hành ra Bắc để khỏi phải ngủ đỗ lại một tối ở Vinh.
Mấy người bạn thân cùng vào Huế, chiều hôm nay đã bỏ cả tôi, rủ nhau cùng vào chơi Cửa Hàn.
Trời đổ tối. Buồn. Tôi cũng bỏ tròng, lên bến.
Lửa đèn trên các ngả đường, giờ ấy, đã bật sáng. Hai bầu thủy-tinh xanh đỏ của hàng Bào-chế như hai con mắt, mắt đau mắt chột, nhìn thẳng ra đường cầu Trường-Tiền.
Rảo bước về cầu Gia-Hội, tôi cũng không rõ mình đi xuống hay đi lên. Đến trước nhà Trung-Hưng, tôi đứng sững giữa một đám đông người đang lõ mắt nhìn xem một người máy, luôn luôn bỏ tay xuống, giơ tay lên, làm quảng-cáo cho một hảng kèn nói.
Vừa lúc ấy, từ ngã đường Gia-Long, một người đàn bà, mắt sắc miệng xinh, quần áo sang trọng như một bà Hoàng thướt tha đi lại. Một người đàn ông trong đám, áo xuyến thâm, khăn lượt xếp, chợt nhìn thấy, cúi chào người kia một cách cung kính, để thõng trước ngực chiếc thẻ-bài. Người đàn bà dừng bước lại, không đáp lễ, chỉ sẽ nhếch miệng cười. Người đàn ông rón rén đến gần, khúm núm chắp hai tay, rõ ra một người bề dưới. Hai người nói với nhau chuyện gì, tiếng nhỏ quá, khôNg ai nghe thấy. Nhưng, chắc ai cũng đoán thằng cha kia đang hầu chuyện một nhà quý phái về tin tức một bà Chúa hay một ông Hoàng.
Hai phút sau, chừng đã hết chuyện, mỗi người đi một đưòng. Trước lúc gót ngọc người này sẽ đưa nhẹ trên thềm thì người kia cũng lại cúi chào, cái chào có đủ ngần ấy vẻ trang-nghiêm, cung-kính.
Tôi đánh bạo, bước theo thằng cha có chiếc bài ngà ở ngực.
– Đường vô cửa Nhà-Đồ đi ngả mô? Ổng chỉ dùm cho biết.
Anh ta nhìn tôi, cười mà đáp:
– Muốn vô chỗ nớ, ông phải đi ngang qua Thành.
– Từ đây đến đó có còn xa không?
– Có là bao, mà ông vô có chuyện chi trong nớ?
Nhân câu hỏi ấy, tôi nghĩ ra một kế: gợi chuyện để dò cho biết tung tích người đàn bà vùa đứng nói chuyện với anh ta.
– Tôi ở Bắc mới đến Huế từ hôm kia. Nay buồn, nên muốn tìm đến đó chơi vì người ta nói ở Nhà-Đồ có nhiều cuộc chơi rất thú.
Quả nhiên anh ta trúng kế.
Làm ra mặt thông thạo, anh ta khuyên tôi không nên đến đó và giảng cho tôi biết: xóm tôi vừa nói chỉ là một xóm có vài nhà-chứa, chẳng có giá-trị gì.
Rồi anh ta nói: nếu tôi ưng đến xem chỗ có những bông «tươi tốt» anh ta sẽ làm «hướng đạo» cho. Tôi nhận lời. Ông «hướng đạo» của tôi gọi luôn xe bảo kéo về Diệu-Đế.
Xe đỗ trong một con đường tên là gì tôi cũng không rõ. Chỉ nhớ cái đường hôm ấy ở gần đường Đồng-Khánh, trông thẳng về bến Đông-Ba.
Chúng tôi bước vào một căn nhà tối như chiếc hũ, hẹp như buồng trò. Ông «hướng-đạo» ba lượt mời tôi ngồi, quả thật ba lần tôi cố nhìn mà không trông rõ chỗ nào bầy ghế.
Tôi lần bước, bước vào mấy bước nữa. Chân tôi cốp phải vật rắn như gỗ, tôi giơ tay lên..sờ..sờ.
Trong nhà có ánh sáng tỏa ra. Tôi thấy tôi đứng trước một ngăn buồng con kê vừa một cái giường, trên giường có một chiếc bàn đèn. Bên đèn, một người nằm nửa thức nửa ngủ. Ngọn đèn dầu lạc cũng «lơ-mơ» như người nằm ôm nó. Người ấy, tôi nhìn kỹ là một ông cụ già.
Cây đèn búp măng vừa thắp, đồ đạc đã từ trong bóng tối hiện ra. Một cái bục gỗ, một cái bàn mộc, hai chiếc ghế sơn với mấy chiếc rương nằm chồng lên nhau trong một xó. Trên bàn, một bộ đồ trà Nhật-bản «cộc kệch», tách chẳng «ăn» với dĩa. Trên bục, hai chiếc gối nan cũ, cái nọ cao hơn cái kia.
Ông «hướng-đạo» cầm ấm tích rót nước ra tách, mời tôi «thời trà». Thấy tôi cầm nhấp một ít lại đặt tách xuống khay, thằng cha cười:
– Dạ, bẩm trà Huế.
Tôi nghĩ bụng: những đóa hoa tươi đẹp mà sống được ở những chỗ nhơ nhớp này, cũng là một sự lạ. Nhưng tôi lại nghĩ «hoa sen tươi thắm há chẳng mọc ở bùn nhơ».
Chừng thấy tôi không nuốt nổi tách trà Huế, anh ta khẽ «bấm» tôi, ra hiệu mời vào trong nhà. Tôi đứng lên vào theo anh ta, hiển nhiên như người đi săn bước theo con chó săn, vừa đánh hơi được một «mồi thơm» về mách chủ.
Trỏ cho tôi một xó tối, xó tối ở gian nhà trong, anh ta bảo nhỏ vào tai tôi: thứ «bông tươi» của anh ta đã sẵn bầy trong đó. Tôi cúi nhìn trong bóng tối chỉ nhận thấy một tấm phản trên có một đống trắng lù lù.
Quay đầu lại toan hỏi, tôi đã thấy mất hút anh ta. Sờ túi lấy bao diêm, tôi quẹt một cây diêm, dí vào gần cái đống trắng đó.
Bóng trắng ấy là một người đàn bà bận quần áo lụa trắng, nằm ngoảnh mặt vào tường như đang say ngủ. Lửa tắt, tôi đánh luôn que diêm nữa rồi khẽ nhấc nghiêng đầu người ấy ra. Tôi nhận nhanh mấy nét mặt trái soan, môi mỏng, gò má cao, mũi dọc dừa. Thấy động — mà có lẽ thấy từ lúc tôi bước vào — mặt ấy sẽ hé dần cặp mắt ra, rồi hé đến cặp môi, để nở một «nụ hồng», trên hai hàm răng... cải mả.
Que diêm tắt lửa trên tay, tôi thấy cái lạnh gây người như thằng ốm rét đứng trong hầm đá. Ba bước — chỉ ba bước thôi — tôi đã nhẩy ra căn phòng đó, bỏ mặc người cười với cả nụ cười.
Tôi chọi trán ông «hướng đạo» tôi.
– Ông coi?
Tôi trả lời:
– Ông biểu đẹp chi, bông nớ.
Anh ta thất vọng, ra vẻ ngẫm nghĩ. Tôi cũng ngồi yên, nín lặng, ngẫm nghĩ như anh ta.
– Ông là chủ nhà ni?
– Dả-ạ...
– Nguời đàn bà ấy là ai?
– Dả-ạ, bẩm chị thị [1] Hai trong nớ.
– Còn người đàn bà đứng nói chuyện với ông ở đường Paul Berl hồi nãy, giờ ở mô?
Anh ta, trước còn ngơ-ngác, sau như đã nghĩ ra:
– Dả-ạ, bẩm Mệ nớ là Mệ X… người hoàng-phái, ở Mang-Cá.
– Tôi muốn gặp Mệ ấy, nói chuyện một lát có được không?
– Dả-ạ bẩm khó quá ạ
Tôi đứng dậy sửa lại chiếc nơ, làm ra bộ sắp sửa bước ra, không để ý đến câu tôi vừa hỏi đó. Anh ta thì lấm lét như một thẳng ăn cắp, nhấp-nhỏm trên chiếc ghế như không muốn cho tôi bước lọt khỏi nhà.
Sau cùng, anh ta bảo nhỏ tôi đưa cho anh ta một đồng bạc đi tìm Mệ kia.
Đưa tiền rồi, tôi ngồi chờ cũng chẳng buồn đáp lại câu mời:
– Ông thời vài điếu chơi, có sẵng mâm đèng nớ.
Nửa giờ sau, anh ta trở lại một mình, bảo tôi đưa thêm cho năm đồng nữa. Tôi hỏi, anh ta nói: Mệ kia, thua bạc phải giả chỗ tiền người ta cho mượn, mới tiện về.
Lần thứ hai tôi rút tiền ở túi áo ra. Đưa tiền rồi, tôi lại ngồi chờ, nhưng lần nầy không thấy anh ta mời tôi hút thuốc phiện nữa.
Một lát sau, ngoài cửa có tiếng xe đỗ. Cánh cửa mở, Mệ X, người đàn bà có vẻ đài các cao quí tôi gặp trước tiệm Trung-Hưng ba tiếng đồng hồ trước đó, đã chững chạc bước vào. Người ấy, thấy tôi, sẽ cúi đầu chào. Nụ hoa đeo thõng ở tai lấp lánh như một ngôi sao bên nửa vòng kiềng vàng vành nguyệt.
Theo bước chủ nhà, người ấy đi thẳng vào nhà trong, dịu dàng, khép nép. Sau đấy một lát, anh «hướng đạo» nọ trở ra bảo nhỏ tôi đưa một chục đồng thêm.
Tôi thất vọng, nhưng vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh như thường.
Điềm tĩnh, tôi đẩy ghế đứng lên, bước thẳng ra ngoài, để mặc thằng cha đứng ngơ ngác nhìn như thằng ăn cắp chợ.
Việc thứ nhất của tôi là nắn lại túi áo sờ xem chiếc ví tuy tôi vẫn thấy ở ngực kềnh kềnh có miếng da.
Chú thích:
[1] Nếu người ta bảo không sai thì ở Huế, những đàn ông được thị-độc, thị-giảng. Người ta thường gọi ông thị, bà thị tức là vợ những ông thị kia.
- IX -
nhân một đêm hè….
MỘT buổi tối mùa hạ, lúc ấy chừng đã chín, mười giờ.
Trời nóng, mấy con đường quanh hồ Hoàn-Kiếm như Avenue Beauchamp, Francis Garnier còn tấp nập những khách thừa lương dạo chơi đón gió.
Các chòi bán đồ giải khát ở ven đường Beauchamp tối hôm ấy không còn thừa một ghế. Bờ Hồ phải một hôm ngập lụt. Lụt nước chanh, nước lựu, nước cam, rượu bia…
Người ta gặp đủ mặt mấy «bạn trẻ» có tiếng hồi bấy giờ.
K., T., hai ông «kép kịch» chết dở về nghề.
L., ông chủ báo hay đội bérêt trắng, đi đâu cũng mang hộp thuốc lá ăng-lê như chiếc ống bơ ;
T.T., ông chủ nhiệm tờ báo vài tháng lại xuất bản một kỳ ;
X., nhà văn lúc nào cũng giắt trong lưng chiếc búa đanh ;
Nguyễn-thị-H.T., cô «gái mới» ăn tương rau muống mà tính nhảy đầm ;
Hoàng-thị-Y.A., cô gái cũ đã bị đòn vì muốn làm một «tiểu thư đi bộ».
Người ta thấy mặt đủ… đủ. Lại cả mấy ông con nhà quí phái xứ Huế, vài ba ông con nhà triệu-phú Bắc-kỳ và Nam-kỳ.
Thì tối hôm ấy, chính tôi cũng là một khách đến giải khát tại một chòi bán đồ giải khát ở Bờ Hồ. Ngồi cạnh tôi, có hai người. Một người Saigon đứng tuổi với một người trẻ tuổi Trung-kỳ, đang nói với nhau về một chuyện «đuổi hoa», câu chuyện người ta thường thấy trên miệng lưỡi các anh em bạn trẻ.
– Con gái Bắc-kỳ, nhất là ở Hà-Thành, hầu hết là hư hỏng. Người ta bảo Hanoi bây giờ là một cái «nhà chứa». Điều đó, không ngoa mà.
– Nói như vậy hơi quá. Nhưng thật ra, con gái Hanoi lắm kẻ hư. Bọn điếm đĩ, mình chẳng nói đến làm gì. Lắm đứa con nhà lương-gia cũng đi tắt về ngang để «bom xu» lấy tiền mua áo hàng mầu, giây chuyền vàng, bông tai đầm với trăm thứ nữa. Ở Huế, không biết thế nào chớ như ở Saigon, đâu có thể. Cứ thiệt tình mà nói thì cũng có dăm ba đứa làm chuyện chó mèo chi đó, nhưng dăm ba đứa không phải là số nhiều.
– Anh phải biết, ở Huế, không khi nào. Huế là đất Đế-đô, trừ một số ít con nhà bình dân, còn phần đông vào hạng ngọc diệp kim chi cả. Con nhà quyền quí có bao giờ làm những chuyện tầm bậy như thế. So với Huế, Hanoi khác nhiều.
Trời đã nóng mà tôi thấy mắt tôi càng nóng như thiêu. Hớp nước chanh ướp nước đá uống đã khỏi cổ rồi cũng chỉ như những giọt dầu tưới trên mớ lửa lòng đang bùng ngọn.
Giữa lúc ấy, người Huế trẻ tuổi lại nói tiếp:
– Năm kia, tôi có một người bạn học trong trường Thuốc. Tốt nghiệp ra rồi, lúc bổ về Saigon. Nhân qua Huế có lại thăm tôi, kể cho nghe chuyện Bắc. Trong những chuyện đó, có nhiều chuyện về tụi thiếu-nữ đất ngàn năm văn vật. Nhưng lý thú nhứt, có câu chuyện này. Năm ấy, anh ta đã lên niên học thứ hai, thường sáng nào cũng đến tập việc tại phòng khám bệnh trong nhà thương Phủ-Doãn. Trước, anh ta còn xem cho những người đến xin khám bệnh làm phúc, sau thăm đến những người chịu khám mất tiền. Một hôm có một thiếu-nữ đến khai với anh ta bị bệnh đau tim. Ghé tai hết ngực đến lưng, anh ta vẫn thấy trái tim người ấy đập đều, không thấy có biến chứng. Hỏi lại kỹ xem, người bệnh của anh ta cứ nhất định khai là bị bệnh. Anh ta cho rằng tại mình chưa học đến nơi đến chốn, nhưng vì chẳng muốn để làm mất thể-diện trước mặt một người con gái đẹp, nên cũng cứ cho đơu. Từ bữa ấy, sáng nào người bệnh ấy cũng đến nhờ khám như thường ; còn anh ta sáng nào cũng cứ kê đơn, mà toàn đơn thuốc bổ. Được ngót một tháng như thế, bạn đồng học anh ta, một tối, gặp «thầy lang» với «con bệnh» khoác tay nhau đi trong một con đường vắng, cạnh nhà Hỏa-lò.Thì ra, người con gái ấy là con một quan Tuần, thác bệnh để đến nhà thương bắt tình với anh «học trò nhà Thuốc» nọ. Anh ta lại kể rằng trong ba năm học cuối cùng, anh ta gặp đến hơn mười «con bệnh» như thế, truy đến gốc tích, hết thẩy đều là con nhà tử tế cả. Anh ta thế ; còn biết bao nhiêu bạn đồng học của anh ta.
Người Saigon đứng tuổi cười:
– Truyện thú hả! «Thầy khám hộ em đi..!»
Người Huế trẻ tuổi cũng cười:
– Như thế là con bé «đau tim» thực.
Riễu cợt chán, anh chàng Huế lại lên cái giọng nghiêm nghị của nhà đạo-đức:
– Con gái Bắc hư hỏng như thế vì chúng nó không có gia đình giáo dục. Trước hết chúng còn làm ra bộ ái tình cao thượng. Sau thấy thằng nào có máu mặt một chút thì giở đến chuyện làm «khó dễ» xoay tiền. Cái thói xa xỉ, cái tính dâm-ô của bọn thiếu-nữ Bắc đã xây dựng lên ở đây biết bao nhiêu khách sạn, nhà săm. Đạp đổ tháp bút với nghiên mực ở cửa đền Ngọc-Sơn, mình sẽ thấy Hà-Thành, đất cố-đô Thăng-Long, chỉ là một cái «phòng cho thuê» lớn…!
Nghe câu chuyện lý thú ấy, tôi không thể không can thiệp:
– Xin hai ông tha lỗi. Hai ông xét như thế thì lầm. Thật ra, các ông chưa thật biết Hà- Thành.
Người Saigon đứng tuổi, ngoảnh nhìn tôi bằng cặp mắt ngạc nhiên:
– Ông không biết, tôi ra ngoài này làm việc đã ba năm.
Người Huế trẻ tuổi cũng trông tôi, nhếch mép cười một cách khinh đời:
– Tôi ra học ngoài này một năm, ông phải biết.
Tôi cũng mỉm cười:
– Hai năm với một năm của các ông không có nghĩa gì hết. Tôi xin nhắc lại: Các ông chưa thật biết Hà-Thành. Cạnh cái Hà-Thành điếm đĩ nhơ nhớp mà các ông vùi xác lăn lưng, còn có cái Hà-Thành làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày mà các ông chưa từng bước đến. Các ông chỉ biết Hà-Thành ở những xóm Khâm-Thiên, Vạn-Thái, Đồng-Lợi, Vạn-Lợi, mà không biết Hà-Thành ở những xóm Sinh-Tử, Cửa-Nam, Bạch-Mai, Chợ-Hôm. Hà-Thành không phải chỉ là một chỗ bán vui mà còn là một công-xưởng suốt ngày có biết bao nhiêu người đổi bát cơm bằng bát bồ-hôi nước mắt. Trong những lúc họ ngủ thì các ông thức, những lúc các ông ngủ thì là lúc họ cắm đầu làm việc, làm việc một cách lương thiện giữa chỗ có bóng sáng mặt trời.
Mỉm cười một cách kiêu ngạo, người trẻ tuổi khẽ nhún vai:
– Thưa ông, thế còn hạng làm việc buôn bán ở những «nơi» với trong những «lúc» không có bóng sáng mặt trời?
– Cái đó tôi không bảo hẳn là không, nhưng cuộc «buôn bán» ông vừa nói, Hà-Thành không giữ độc quyền, ngay ở Huế người ta cũng thấy.
– Ông lấy gì làm bẳng? Xin lỗi ông, ông có mất công cũng không tìm thấy ở Huế những chuyện ấy.
Tôi chịu mất công vậy.
Nửa tháng sau cái đêm hè ấy, một mình với chiếc va-li, thui thủi, tôi đáp chuyến xe lửa tốc-hành vào Huế lần thứ hai.
Cuộc lữ-hành của tôi đã đến đoạn chót rồi.
Những «bằng chứng» ông trẻ Huế đòi hỏi, tôi đã đem theo về cả với cuốn sổ tay. Bẩy bài «Mặt trái Trường-An» tôi đăng trên báo trong nửa tháng nay đều là những nét bút mực, chì, tôi đã ghi chép được trên cuốn sổ tay ấy.
Tôi không dám tự phụ đã điều-tra được hết về nghề mãi-dâm ở Huế. Đây, tôi chỉ thuật lại «những cái… mắt thấy» ở Huế trong mấy đêm ngày…
– Thưa ông, thế còn hạng làm việc ở những «nơi» với trong những «lúc» không có bóng sáng mặt trời?
– Thưa ông, những «của ấy» không phải của riêng Hanoi!
Tác giả - Tác phẩm
Vũ Đình Chí (26/3/1900 – 1986) tại Hà Nội, thường được biết với bút danh Tam Lang, là một trong những nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam. Ông từng học trường Sư phạm rồi bỏ dở, chuyển sang viết báo viết văn. Các bút danh: Tam Lang, Chàng Ba, Ba Phải, Linh Phượng… Ông viết cho hầu hết các báo xuất bản tại Hà Nội. Ông cùng với Vũ Trọng Phụng và Vũ Bằng là ba chàng họ Vũ nổi danh làng báo thời tiền chiến.
Tiểu sử
Ông sinh tại Hà Nội. Ông từng học trường Sư phạm rồi bỏ dở, chuyển sang viết báo viết văn. Các bút danh: Tam Lang, Chàng Ba, Ba Phải, Linh Phượng... Ông viết cho hầu hết các báo xuất bản tại Hà Nội.
Năm 1954 ông vào Nam, sống tại Sài Gòn, làm chủ nhiệm báo Tự do, thư ký tòa soạn tờ Cách mạng Quốc gia.
Năm 1958, Tam Lang ngừng làm báo, chuyển sang soạn các kịch bản chèo.

Sau năm 1975, ông vẫn sống ở Sàigòn và mất năm 1986.
Tác phẩm
1- Giọt lệ Sông Hương – 1930 (tiểu thuyết)
2- Đời Hoàng Oanh – 1930 (tiểu thuyết)
3- Một đêm trước – 1931 (truyện ngắn)
4- Tôi kéo xe – 1932 (phóng sự)
5- Đêm Sông Hương – 1938 (phóng sự)
6- Lọng cụt cán – 1939 (phóng sự châm biếm)
7- Người… ngợm – 1940 (phóng sự châm biếm)
Tam Lang
Nguồn: https://sachvn.net
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chim chích lạc rừng 0000000000

Chim chích lạc rừng Chuột thành phố Trong cơn khói lửa, nhiều tập bản thảo của những anh em trong văn giới mà chúng tôi được giữ bị mất má...