Trên con đường học đạo
Thái tử Siddhattha (Tất Đạt Đa) rời bỏ hoàng cung năm Ngài
hai mươi chín tuổi. Sáu năm sau, Ngài được khai minh, trở thành Đấng Giác Ngộ.
Thái tử Siddhattha (Tất Đạt Đa) rời bỏ hoàng cung năm Ngài
hai mươi chín tuổi. Sáu năm sau, Ngài được khai minh, trở thành Đấng Giác Ngộ.
Đệ tử đông dần cho đến khi hình thành một giáo đoàn, và Ngài nổi danh khắp xứ Ấn
Độ. Người ta gọi Ngài là hiền triết xứ Kashi, là đại sư của bộ tộc Thích Ca.
Tin bay về thành Kapilavastu rằng thái tử Siddhattha nay đã
thành Phật và có rất nhiều đệ tử. Vua cha của Ngài bán tín bán nghi bèn cho
quân đi điều tra. Quân do thám về tâu lại rằng quả đúng như tin đồn. Thái tử
nay đã được thiên hạ gọi là Buddha Đấng Giác Ngộ và sống đời Sadhu, tức là giáo
sĩ du hành.
Năm 528 trước Công nguyên thái tử thành đạo thì cũng phải hai năm sau, năm 526 Ngài mới trở lại kinh thành quê hương. Vua cha của Ngài tự thân đến yết kiến vị giáo chủ tại giáo đoàn. Nhà vua bàng hoàng khi biết vị giáo chủ cùng đệ tử hàng ngày đi khất thực vào buổi sáng. Họ đi thành từng nhóm, qua cửa từng nhà, nhận thực phẩm cúng dường rồi trở về ăn một bữa vào trước buổi trưa. Trời ơi, con trai của nhà vua, một thái tử dòng dõi, đã trở thành kẻ ăn mày.
Vẫn chưa tin vào mắt mình, nhà vua hỏi và Phật khẳng định rằng
đó là tập quán của người tu hành.
– Tập quán nào? – Nhà vua cố kìm nén cơn giận – Ngươi sinh ra
trong dòng họ các nhà vua chưa một lần trong đời biết xin xỏ cái gì hết. Tập
quán của chúng ta là ăn thức ăn trong bát đĩa bằng vàng bằng bạc, chứ không phải
trong cái bát gỗ.
Đức Phật ôn hòa đáp lời:
– Thưa phụ vương, Người xuất thân dòng dõi hoàng gia, đó là sự thật. Nhưng con thuộc dòng dõi các nhà sư, những Người Giác Ngộ. Chẳng phải những người này không biết làm lấy mà ăn, nhưng khi đi xin bố thí, họ muốn khơi gợi ở người đời lòng trắc ẩn, lòng muốn làm điều thiện, và gieo phúc lại cho người thành tâm cúng dường. Con nói “tập quán” là tập quán của những Người Giác Ngộ này.
Ngày nay, nếu ta muốn hình dung cách thức một giáo đoàn đi khất
thực như thế nào thì có lẽ dễ hiểu hơn cả là đi một chuyến sang Sri Lanka hoặc
Lào, những nước mà tập quán Phật giáo còn ít bị pha tạp.
Mỗi buổi sớm, khoảng từ năm giờ sáng, ta có thể thấy trên đường
phố những sắc áo vàng đi khất thực. Họ đi thành từng nhóm khoảng dăm bảy người.
Các thí chủ rất thành tâm đã mang ghế ra ngồi sẵn trước cửa nhà, có người thì
trải chiếu rồi quỳ lên đó mà chờ. Thí chủ ôm trong lòng một cái thẩu đan bằng
mây tre, trong ấy là xôi như ở Lào hoặc bánh mì roti như ở Sri Lanka. Các nhà
sư lần lượt đi đến và dừng lại trước mặt thí chủ, chìa chiếc bình bát cũng bằng
mây tre ra để cho thí chủ bỏ thức ăn vào đó. Người cúng dường không nói, người
nhận cũng không nói. Sau vài khoảnh khắc, khất sĩ này đi qua thì khất sĩ đằng
sau bước tới. Lại chìa bình bát ra để nhận. Hoàn toàn yên lặng trên những đường
phố thanh bình. Không ai thấy lạ, không ai gây huyên náo rồng rắn chạy theo các
nhà sư.
Như ở thành phố Luang Prabang xứ Lào, hơn 50.000 dân hoan hỉ
nuôi hơn 1.000 nhà sư, tức là cứ 100 dân thì có 2 tu sĩ. Trên một đường phố, chỉ
cần bước đi dăm chục mét là gặp một ngôi chùa cổ kính, mái chùa lượn xuống là
là mặt đất như nghiêng mình xuống chào. Xứ Phật giáo là quốc đạo cho nên đã
hình thành một nghi thức, một nếp sống, một bộ luật ứng xử rõ ràng.
Sáng sớm bước ra đường phố Luang Prabang, ta lại ngỡ đang ở
chính giữa sinh thời Đức Phật. Không khí cổ kính ấy còn ở ngay trong lời văn của
bản quy định của chính quyền thành phố về việc cúng dường. Chính quyền coi việc
các nhà sư đi khất thực là một nét đẹp của thành phố. Vật cúng dường phải được
mua từ chợ mang về, hoặc được chế biến tại nhà, như vậy mới thành tâm. Đồ cúng
dường nhất thiết không được vội vàng đường đột mua ở hàng quán ngay tại chỗ các
nhà sư đi ngang. Du khách có thể chụp ảnh, nhưng không được để đèn flash hoặc
chạy cắt ngang lối đi của nhà sư. Người ta không thể ngồi trên ô tô buýt đuổi
theo đoàn nhà sư mà chụp ảnh, chính vì thế chính quyền không cho phép ô tô buýt
hoạt động trong thành phố. Cũng như vậy, để tỏ lòng thành kính, không ai được
nhìn xuống các nhà sư từ trên cao như ban công tầng gác hoặc trèo lên cây để
nhìn xuống…
Hầu như du khách nào đọc quy định này cũng đồng tình với chính quyền Luang Prabang. Nhờ vậy mà cố đô có thể bảo tồn nguyên vẹn một tập tục tưởng đã thất truyền gần ba thiên niên kỷ.
Thời Phật, các nhà sư đều là khất sĩ, chưa phải là giáo sĩ an
cư trong “văn phòng hành chính” như những thời đại về sau. Các giáo đoàn đầu trần
chân đất đi khất thực trên khắp vương quốc của mình, có khi du hành sang vương
quốc bên cạnh. Không chỉ ở thành thị mà cả ở hang cùng ngõ hẻm làng quê. Bằng
cách ấy các sư mang ánh đạo vàng của Phật đến với mọi tầng lớp dân chúng. Dừng
đâu là quê, nghỉ đâu là nhà, màn trời chiếu đất nhưng khắp cõi người đi đâu
cũng không ra khỏi cửa Phật. Món khất thực có được, các sư dừng chân ăn một
cách thành tâm. Dừng chân để ăn chứ không được đến nhà các thí chủ ăn uống linh
đình ba hoa tán tụng.
Có những khất sĩ tu khổ hạnh hơn, đi mải miết không nghỉ, ban
ngày phơi mình giữa trời nắng chang chang hơn bốn mươi độ, ban đêm mùa đông mới
chịu vào nghỉ trong hang đá để qua cơn giá lạnh.
Còn tăng đoàn thì vẫn tuân theo hành trình đi khắp xứ sở,
nhưng buổi trưa nắng cháy vẫn dừng lại tìm bóng mát dưới những cổ thụ để ngồi
thiền. Cũng không phải đi suốt năm suốt tháng. Mấy tháng mùa mưa trở ngại cho
hành trình, các sư ngồi an cư trong những tinh xá (hoặc tịnh xá) là thiền viện
ashram mà các vị đại vương hoặc các bậc phú thương xây dựng cho Phật. An cư
chính là thời gian để các sư dành nhiều thời gian tu tập, tinh xá trở thành
trung tâm nghiên cứu. Các cuộc thuyết giảng và luận bàn sôi nổi suốt mùa mưa.
Phật tử và cư sĩ cũng tận dụng thời gian này để đến các tinh xá tham dự các cuộc
hội thảo và luận bàn. Mãi sau thời Phật, một ít vị tu hành rao giảng ý nghĩa của
mùa kiết hạ là dịp để Phật tử đến “phát tâm cúng dường”. Chữ “cúng dường” là
sau này mới đèo thêm vào, chứ thời Phật thì mùa kiết hạ chỉ là để tu tập và
khai sáng.
7/6/2024
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét