Bi kịch "Đọc không vỡ
chữ văn chương"
Trong các loại hình văn nghệ, thì nghệ thuật văn chương đứng riêng ra một lối, ở tính đặc thù của ngôn ngữ loại hình. Đó là tính phi vật thể của ngôn ngữ văn học, bởi văn học hiện diện với tư cách là nghệ thuật của ngôn từ. Nói trắng ra theo cách diễn nôm, văn học là nghệ thuật viết chữ của từng nhà văn, trong cái viết riêng tư đặc trưng, dẫn tới tác phẩm văn học là sự tổ chức đặc thù của con chữ, nên bản thảo của nhà văn phải được in ấn, xuất bản thành sách văn học và, đương nhiên, phải dẫn đến cái đọc của độc giả.
Chưa đến đáy cùng của chữ
Cho nên, quan hệ lớn nhất và duy nhất của tác phẩm văn học là
quan hệ giữa cái viết và cái đọc, giữa nhà văn và người đọc, chỉ thông qua… chữ
và chữ. Vì thế, mối bận tâm lớn nhất, đặc trưng nhất của cả hai bên, nhà văn và
bạn đọc, chính là việc viết chữ văn chương thế nào và đọc chữ văn chương ra
sao? Ấy là chưa kể đến nghệ thuật chữ của từng nhà văn nhà thơ, nhất là nhà
thơ, như Lê Đạt, ông thấy chữ thơ có thể tỏa bóng rợp mát cả một vùng tâm linh
người đọc, ông thấy chữ có thể lay động và in bóng trên mặt sóng dưới chân cầu,
nên cả nghĩ mà đặt tên tập thơ mình là “Bóng chữ”. Trên tinh thần triết học như
thế về lao động thi sĩ, chưa ai như Lê Đạt, tự gọi cái nghề làm thơ của mình là
nghề làm “phu chữ”.
Kinh nghiệm đọc và phân tích văn chương kịch của ít nhiều năm
miệt mài làm cố vấn văn học kịch (theo tôi, cũng là kiểu “phu chữ”, trên tinh
thần Lê Đạt) cho Nhà hát Tuổi Trẻ và Nhà hát Kịch Việt Nam, khiến tôi tin chắc
rằng, chữ văn chương là thứ chứa chất nhiều hồn vía “phi vật thể” nhất so với sự
hiển thị “vật thể”: thành hình tượng nhân vật bằng xương bằng thịt của diễn
viên sắm vai nhân vật trên sân khấu, trong phim truyện, hoặc tạo hình trong nghệ
thuật múa hoặc nghệ thuật ca hát… Chữ không những có hồn vía, mà có thể là bóng
lay động, đa mang trong lòng nó nhiều nghĩa ở bên ngoài chữ, ở dưới đáy chữ,
khiến người đọc hầu như không biết bao giờ mới dò tới tận đáy thẳm của nó…
Trải nghiệm cá nhân cho tôi biết, có những sách văn học đọc
đi đọc lại suốt quãng đời dài của đời sống hữu hạn mà vẫn chưa thể đi đến đáy
cùng của con chữ. Chính điều ấy khiến tác phẩm văn chương luôn xuyên qua thời
gian, không gian, để còn mãi với thời gian, không gian và luôn thách thức cái đọc
trong sự hữu hạn đời sống trần thế của người đọc. Hẳn các nhà văn chúng ta đã
xem tiểu thuyết Người đọc và bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết này, mà không
nghĩ rằng, rất nhiều tác phẩm thuộc các ngôn ngữ vật thể khác, do được khởi
nguyên từ ngôn ngữ văn học mà được sáng giá, lên giá, treo cao giá ngọc cho các
ngôn ngữ hữu hình được chuyển thể từ cái vô hình của văn chương…
Vậy thì, chỗ của nhà phê bình văn chương ở đâu, và tại sao
nhà phê bình cần có chỗ trong quan hệ thẩm mỹ rất căn cơ giữa nhà văn và bạn đọc
thông qua những con chữ rất “phi vật thể” này, để xác lập tư cách người đọc đặc
thù, chính là nhà phê bình, người chuyên trị đọc “vỡ chữ”? Theo tôi, chỗ
của nhà phê bình văn học là đứng giữa tác phẩm văn chương và người đọc, với tư
cách người bình giá, thẩm định, môi giới cái đẹp của con chữ nhà văn đến với độc
giả. Cũng vì thế, nhà phê bình đương nhiên phải thông hiểu cả hai nghệ thuật tạo
nên mối quan hệ thẩm mỹ đặc thù giữa cái viết và cái đọc này, với một bên là
nghệ thuật viết văn của nhà văn và một bên là nghệ thuật đọc văn của người đọc.
Ở chỗ đứng rất đặc biệt này, có thể rất nhiều khi/ít khi, nhà
phê bình phải đương đầu và phải vượt thoát một bi kịch thường hay xảy ra đối với
cái đọc tác phẩm văn chương, đó là bi kịch đọc không vỡ chữ. Thậm chí việc giải
quyết bi kịch này có thể là việc cấp thiết nhất, cần đặt ra thường hằng đối với
những ai đã mang lấy nghiệp phê bình văn học vào thân, nếu không muốn nói, đây
cũng chính là vượt thoát của cả nền văn học Việt Nam trong suốt tiến trình hiện
đại hóa của nó, đã, đang, và sẽ diễn ra dài dài suốt từ thế kỷ XX cho đến thế kỷ
XXI hôm nay…
Cũng chính vì buộc phải vượt thoát bi kịch này mà các nhà phê
bình hôm nay luôn phải đương đầu với bi kịch “đọc không vỡ chữ”, nhất là đối với
các tác phẩm mới. Chúng ta từng chứng kiến cách đọc văn xuôi như đọc báo trong
tác phẩm Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, cùng sự quá lời
đến mức xúc phạm nhà văn, khi một vài cán bộ văn nghệ ở tỉnh Cà Mau đã kết tội
nữ nhà văn này một cách thô bạo và khiên cưỡng trên báo chí…
Dịch thuật không vỡ chữ
Ngày gần đây, 8.5.2013, tại Trung tâm văn hóa Pháp 24 Tràng
Tiền, Hà Nội, đã diễn ra cuộc thảo luận về dịch thuật và phê bình dịch thuật.
Tôi cho rằng căn cơ của việc thảo luận này vẫn không ra ngoài việc đọc và dịch
hiện nay, trong ít nhiều trường hợp, vẫn chưa thoát khỏi việc đọc chưa vỡ chữ của
nguyên tác, dẫn đến việc dịch cũng không vỡ chữ thành tiếng Việt từ nguyên tác.
Và thực trạng việc dịch văn chương ấy liệu có liên quan mật thiết đến việc đọc
và dịch văn chương một cách có văn hóa không, và thực sự, đang có vấn đề về văn
hóa đọc của nhà phê bình và văn hóa dịch của các dịch giả hay không? Và, cả văn
hóa đọc lẫn văn hóa dịch này có liên quan đến văn hóa đọc văn chương hôm nay
hay không? Không hề ngẫu nhiên, trong nền dịch thuật Việt hôm nay, đã xuất hiện
những nhà phê bình “ném đá” vào những dịch giả, cùng những lời lẽ đánh đập thô
bạo, quá lời, khiến một số dịch giả phải kêu lên “chưa có không khí phê bình dịch
thuật lành mạnh”. Song, phải thấy rằng, không phải lúc nào, tác phẩm nào của dịch
giả cũng sáng láng trong cách đọc vỡ chữ tiếng nước ngoài và cách uyển chuyển
“Việt hóa” của người dịch am tường tiếng Việt, khiến cho, có lúc, dịch thuật
văn chương nước ngoài sang tiếng Việt đã được gọi tên là “thảm họa dịch thuật”.
Việc đọc của nhà phê bình hôm nay đối với tác phẩm văn học,
vì thế, đương nhiên, được/phải diễn ra trên hai loại tác phẩm: loại tác phẩm được
viết bằng tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ, và loại khác, được dịch từ tiếng nước ngoài
sang tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt. Như đã nói, việc đọc của nhà phê bình văn học dịch
là người Việt, chắc chắn phải dựa trên sự đọc “vỡ chữ” từ nguyên bản (tiếng
Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc… chẳng hạn) và cái sự đọc này chắc hẳn phải
ngang bằng với sự đọc “vỡ chữ” và diễn đạt tử tế bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt,
của chính người dịch Việt. Các bản dịch hay nhất của những dịch giả người Việt
từ nền văn chương của các quốc gia trên thế giới đã và đang nằm trên giá sách của
người Việt yêu văn chương thế giới từ trước đến nay, đã chứng tỏ điều đó. Những
thảo luận về sai sót trong dịch thuật hôm nay chỉ chứng tỏ rằng, trong tình cảnh
lộn xộn, bát nháo, vội vã, thậm chí chộp giật, của thị trường xuất bản sách dịch
hôm nay, đã xảy ra rất nhiều lỗi văn hóa trong dịch thuật, liên quan đến lỗi
văn hóa trong cái đọc, và tất nhiên, đi liền với nó là cái viết bình luận bằng
tiếng Việt trong dịch thuật, trước hết là của nhà phê bình văn chương nói chung
và nói riêng, là của nhà phê bình dịch thuật…
Chính dịch giả Trịnh Lữ (Cuộc đời của Pi và Đại gia Gasbi) cũng đã phải nhận thực trên báo Thanh Niên: nguy hiểm nhất của nghề dịch là cái sai về văn hóa. Bởi người dịch vốn được coi là người vận chuyển và người thương lượng giữa hai nền văn hóa. Dich giả Trần Đình Hiến dịch Báu vật của đời cũng đồng thuận: dịch thực chất là giao lưu giữa hai nền văn hóa mà nhiều khi yếu tố văn hóa cho một dịch phẩm thành công quan trọng hơn ngôn ngữ. Văn hóa rất quan trọng với người dịch, cần phải có phông văn hóa sâu rộng của cả hai nền văn hóa. Trong ký ức riêng, tôi cất giữ kỷ niệm về một dịch giả bậc thầy hào hoa phong nhã dịch truyện ngắn cổ điển tiếng Nga sang tiếng Việt, khi đi cùng qua một đường phố nhỏ gần đồi đại học Tổng hợp Lomonosov ở Maxcơva, năm 1984, ông nói: để dịch một chi tiết về cái phố nằm trên triền đồi dông dốc với những khúc quanh lượn rất dễ thương này của Maxcơva, tôi đã phải đi qua đi lại đây hàng trăm lần, ngắm nghía, thưởng thức nó mấy năm trường đại học và quay trở lại làm nghiên cứu sinh…
Trong các thể loại mà nhà phê bình văn chương lấy làm đối tượng
để bình giá, để phê bình, tôi thấy việc đọc cho “vỡ chữ” thơ (thẩm thơ) là điều
khó khăn, phức tạp nhất và cho dù thế nào, cũng khó có ai thuộc thế hệ sau Hoài
Thanh có thể “qua mặt” ông trong việc bình thơ, dù thơ của thế kỷ XXI rất khác
với thơ của thế kỷ XX.
Khó nhất là vỡ chữ thơ
Trong các thể loại mà nhà phê bình văn chương lấy làm đối tượng
để bình giá, để phê bình, tôi thấy việc đọc cho “vỡ chữ” thơ (thẩm thơ) là điều
khó khăn, phức tạp nhất và cho dù thế nào, cũng khó có ai thuộc thế hệ sau Hoài
Thanh có thể “qua mặt” ông trong việc bình thơ, dù thơ của thế kỷ XXI rất khác
với thơ của thế kỷ XX. Nhưng thế kỷ nào thì cũng cần thơ hay, cũng có thơ hay
và những bài thơ hay của ngôn ngữ của quốc gia này vẫn được dịch thật hay sang
ngôn ngữ quốc gia khác. Về dịch thơ, tôi nghĩ bản dịch Đợi anh về của
thi sĩ người Nga Simonov được nhà thơ Tố Hữu dịch sang tiếng Việt, hoặc bài
thơ Không đề của Olga Bergol, cũng thi sĩ người Nga, được nhà thơ Bằng
Việt dịch sang tiếng Việt đã là những thí dụ sáng giá về dịch thơ.
Về Thơ Mới, có lẽ không thể thiếu sự bình giá thật đích đáng
của Hoài Thanh, như một tri âm lãng mạn nhất và có ứng xử văn hóa nhất đối với
Thơ Mới trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa văn học Việt thế kỷ XX,
trong bối cảnh hiện đại của Việt Nam giao lưu văn hóa với phương Tây.
Việc đọc vỡ chữ Thơ Mới của Hoài Thanh, đương nhiên, được/phải
gắn kết biện chứng, thật “liền ruột” với cách diễn đạt tiếng Việt của ông, cũng
thật là mẫu mực về sự trong sáng, uyển chuyển và tinh tế trong cái viết của một
nhà phê bình thơ. Vì vậy, có khi phải là một nhà văn mới có thể viết bình luận
về một nhà văn, và một nhà văn sáng tác tác phẩm văn chương và một nhà văn bình
luận tác phẩm văn chương là hai công việc cùng bản chất sáng tạo và, đương
nhiên, tác phẩm của cả hai đều bình đẳng dưới ánh sáng mặt trời.
Xin chú ý về một đoạn thôi, khi Hoài Thanh viết về Thế Lữ,
người khởi đầu Thơ Mới ở những năm 30 của thế kỷ XX, trong Thi nhân Việt
Nam, với sự phát hiện đúng là của một kẻ tri âm về cái mới, mang tính tiền
phong của thơ Thế Lữ: “Độ ấy Thơ Mới vừa ra đời, Thế Lữ như vầng sao đột hiện
ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi
ít nhiều, nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công của Thế Lữ đã dựng
thành nền Thơ Mới ở xứ này. Thế Lữ không bàn về Thơ Mới, không bênh vực Thơ Mới,
không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước những
bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ. Bởi không
có gì khiến người ta tin ở Thơ Mới hơn là đọc những bài thơ mới hay. Mà thơ Thế
Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến
kết cấu âm thanh. Thế Lữ đã làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch.
Chữ dùng lại rất táo bạo. Đọc đôi bài, nhất là bài “Nhớ rừng”, ta tưởng chừng
những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường”.
Tưởng không có lời nào huy hoàng, đích đáng hơn Hoài Thanh,
khi viết về sức mạnh riêng của con chữ thơ Thế Lữ, với vai trò thi sĩ tiền
phong, khởi đầu trào lưu Thơ Mới.
Di chuyển từ kịch bản lên sàn diễn
Như thế, hoàn toàn không ngẫu nhiên, việc đọc vỡ chữ của nhà
văn làm nghề phê bình văn chương, còn liên quan đến một công việc sáng tạo vô
cùng quan thiết với các loại hình nghệ thuật khác, khởi đi từ văn chương, thí dụ
nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, âm nhạc… là chuyển từ ngôn ngữ phi vật thể của kịch
bản văn học sang ngôn ngữ vật thể của vở diễn trên sàn diễn, hoặc của bộ phim
trên màn ảnh phim truyện. Về chuyện di chuyển đầy sáng tạo và cũng đầy thú vị
này, tôi tin vào một bậc trưởng thượng của giới sân khấu, đó là NSND Nguyễn
Đình Nghi, con trai trưởng của NSND Thế Lữ, hai cha con chiếm hai nửa đầu và nửa
cuối thế kỷ XX về công cuộc đưa nghề đạo diễn từ châu Âu vào Việt Nam và
kiến tạo nghề này một cách vững chắc ở Việt Nam.
Đạo diễn là một nghề mang tính chỉ huy tổng thể đối với sân
khấu. Muốn làm cái nghề đưa tác phẩm văn học kịch lên sân khấu này, theo Nguyễn
Đình Nghi, việc đầu tiên của người đạo diễn là phải chứng tỏ quyền năng hành
nghề ở khâu đầu tiên, hoàn toàn liên quan đến văn chương, đó là “đọc cho vỡ chữ”
văn bản kịch. Nghĩa là đạo diễn có quyền lựa chọn kịch bản văn học, có khả năng
làm hỏng một kịch bản hay, hoặc làm hay hơn một kịch bản trung bình. Một khi đạo
diễn đã tìm được cách đọc kịch bản và cách dàn dựng trên sân khấu thì cả tác giả
kịch lẫn diễn viên kịch đều khó bề cưỡng chống. Đạo diễn phải là người hiểu, cắt
nghĩa, giải thích tác phẩm theo cách riêng của mình, khi ấy văn bản kịch sẽ
mang ánh sáng của riêng người đạo diễn. Cùng một kịch bản văn chương, mỗi đạo
diễn sẽ có cách ứng xử văn hóa riêng, càng riêng càng độc đáo, tất nhiên, riêng
ở đây không có nghĩa là phản bội tinh thần của người viết kịch.
Nguyễn Đình Nghi nhấn mạnh rằng, đạo diễn kịch phải là người
hiểu kịch bản, “tiêu dùng” nó như một khám phá, để làm bệ đỡ cho một ngôn ngữ
khác, đó là dàn dựng vở diễn, chứ không phải hề đồng lóc cóc chạy theo nhà viết
kịch. Và ông dẫn ra một thí dụ rất hay từ một bài thơ tình trong kho tàng thơ cổ
Trung Hoa. Theo trí nhớ của ông, bài thơ có nguyên văn chữ Hán: Quân tri
thiếp hữu phu/ Tặng thiếp song minh chu/ Cảm quân triền miên ý/ Hệ tại hồng la
nhu/ Hoàn quân minh chu song lệ thủy/ Hận bất tương phùng vị giá thì… Ông
tạm dịch nghĩa cho tôi: Chàng biết thiếp có chồng, vẫn tặng thiếp đôi ngọc minh
châu. Cảm cái tình sâu nặng của chàng, thiếp đeo ngọc trong áo lót mình màu phấn
đỏ. Nhưng nghĩ mình là gái đã có chồng, không muốn phụ lời vàng đá với chồng,
đành rơi lệ mà trả chàng đôi ngọc, hận vì không gặp chàng từ khi còn là gái
chưa chồng. Khi bài thơ được dịch sang tiếng Việt, ông Nghi thấy ai cũng dịch
thật sát nguyên văn cái hình ảnh đẹp nhất của bài thơ: thiếu phụ ấy đã khóc mà
trả lại đôi ngọc minh châu cho người tặng. Ông Nghi cũng hiểu y chang như thế,
ngay cả khi đọc bài thơ nguyên bản chữ Hán. Bỗng nhiên ông được đọc bài thơ ấy
bằng tiếng Pháp do một người Trung Quốc dịch. Người đó dịch: Em xin trả lại
chàng đôi ngọc. Đấy là hai giọt nước mắt em rơi xuống. Ông Nghi lập tức thấy
vỡ ra một điều gì đó giống như một phát hiện. Bài thơ bỗng lạ hẳn, mới hẳn, hay
hơn hẳn và rực sáng như khuôn mắt đẹp lúc xuất thần. Từ đó, ông liên tưởng đến
sức mạnh tư duy của người đạo diễn sân khấu, và khẳng định: Hệt như dịch giả
Trung Quốc trong bài thơ dịch này, người đạo diễn phải có sức khám phá, phát hiện
riêng, phải đẩy cho được kịch bản lên một tầm cao mới, trong ngôn ngữ vở diễn
trên sân khấu. Bởi vậy, tự thân kịch bản văn chương đòi người đạo diễn sân khấu
buộc phải có sức biện biệt về văn học, sức biện biệt này càng mạnh, càng lớn,
thì người đạo diễn càng hay, càng độc đáo. Vì thế, khi tôi đối thoại với ông về
nghề đạo diễn cách đây đã vài chục năm, ông Nghi từng thú nhận cảm giác rợn ngợp
khó tả của ông khi đứng trước… chữ của văn bản kịch, y như đứng trước một cánh
cửa khép kín, mà thoạt đầu không thể tìm ngay chìa khóa mở cửa.
Là người tự trải nghiệm sâu sắc về văn hóa đọc… chữ kịch bản
để chuyển sang cái dàn dựng sân khấu, Nguyễn Đình Nghi không bao giờ tin một kịch
bản hay lại lồ lộ phơi trần tất cả những ý nghĩa của nó ngay lần đầu chạm mặt.
Bao giờ kịch bản hay cũng mang trong lòng nó những ý chìm sâu, lắng đọng mà chừng
nào ông Nghi chưa tìm ra nó, thì chưa thể yên tâm bắt tay vào dàn dựng. Song,
là người đọc tinh tế, ông cũng không bao giờ muốn kết luận thô thiển: tác phẩm
văn học kịch chỉ nên viết một cách vừa phải, để dành khoảng trống cho đạo diễn
và diễn viên bù đắp, khi chuyển ngữ sang vở diễn sân khấu. Theo ông, một kịch bản
đích thực là văn chương không phải là nơi để nhà đạo diễn sân khấu thêm thắt,
bù đắp, mà chính là một kho báu cho đạo diễn phát hiện, đào bới mãi cũng chưa
đi hết giới hạn văn chương cuối cùng của nó. Chính vì thế, dù cho Shakespeare
đã viết kịch bản Hamlet kỹ lưỡng đến thế về văn chương kịch, thì hoàn toàn vẫn
có chỗ và còn rộng chỗ cho đạo diễn và diễn viên trên toàn cầu sáng tạo sân khấu
và điện ảnh. Trên thực tế, đã có hàng trăm bản dựng của hàng trăm đạo diễn và
cũng thế, hàng trăm vai diễn Hamlet khác nhau trên toàn cầu. Càng gặp đạo diễn
và diễn viên có tài thì chàng hoàng tử Đan Mạch ấy càng lộ diện nhiều khuôn mặt
và số phận nghệ thuật phong nhiêu trên sân khấu và màn ảnh thế giới.
Cuối cùng, Nguyễn Đình Nghi cho rằng việc khám phá chữ nghĩa
của văn bản kịch phụ thuộc vào việc đạo diễn phải đặt mình vào trạng thái sáng
tạo của nhà viết kịch, nghĩa là trạng thái… viết của người tạo con chữ trên mặt
giấy, để cố gắng sống lại tâm ý của người viết, khi tạo nên tác phẩm kịch, rồi
thì mới làm được công việc tiếp nối của đạo diễn là đưa các con chữ lên, “vật
thể hóa” nó trên sàn dựng và sàn diễn. Và chỉ khi nào người đạo diễn tìm ra
trong công việc ấy một niềm hạnh phúc sáng tạo thì việc dàn dựng vở diễn mới có
thể bắt đầu. Ông Nghi, khi nói những điều này, cũng hiểu rõ: một tác giả kịch
không chỉ thể hiện bộ mặt tinh thần của mình chỉ qua một tác phẩm. Vậy, đấy lại
là điều nhà đạo diễn phải tìm kiếm, thí dụ qua vài chục vở kịch, Lưu Quang Vũ
muốn nói điều gì canh cánh và xuyên suốt với công chúng Việt vào mấy thập niên
cuối thế kỷ XX ở Việt Nam chẳng hạn? Từ đó, Nguyễn Đình Nghi đã tìm được một định
nghĩa đích đáng về nghề đạo diễn kịch, trên một căn bản triết lý về sức biện biệt
văn học, đối với nghề này, như một đảm bảo bằng vàng cho việc sáng tạo vở diễn
kịch. Theo ông:
Đạo diễn sân khấu = người giải thích tác phẩm văn học
Đạo diễn sân khấu = bội số của tác phẩm văn học
Đạo diễn sân khấu = giấc mơ về tác phẩm văn học
Tôi và chúng tôi, những người làm công việc bình luận những vấn đề đặt ra từ sự phát triển đang hết sức phức tạp, đa dạng, bộn bề của nền văn nghệ Việt hôm nay đã đi đến thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, và đang gắng sức nhận thực, phân tích hiện trạng văn hóa đọc hôm nay, đặng tìm cách chuồi ra, thoát khỏi bi kịch “đọc không vỡ chữ”, từ những kinh nghiệm, bài học của tiền nhân, của đồng nghiệp và của những trải nghiệm từ bản thân việc viết phê bình của mình. Và đây là một cố gắng nhỏ nhoi của tôi và cũng là phát biểu có tính trải nghiệm cá nhân về công việc viết bình luận văn nghệ từ chính mình, không có ý nào khác…
17/102023
Nguyễn Thị Minh Thái
Nguồn: Báo Đại Biểu Nhân Dân
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét