Viết về phụ nữ và chiến tranh như một phương thức gián đoạn huyền thoại
Bàn về văn học, Jean-Luc Nancy thừa nhận đây là loại hình nghệ
thuật có liên quan đến huyền thoại nhưng tác động tới cộng đồng theo cách khác
huyền thoại. Thay vì tiết lộ một thực tại cuối cùng hoặc một tầm nhìn tổng thể,
văn học “tiết lộ điều không thể tiết lộ”[1], và điều không thể tiết lộ đó làm
nên sự gián đoạn của cộng đồng từng được hình dung như là thực thể thống nhất.
Từ góc nhìn này, câu chuyện về phụ nữ và chiến tranh trong tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều đã làm gián đoạn huyền thoại cộng đồng khi nhà văn chia sẻ những bi kịch số phận cá nhân. Qua đó, bạn đọc nhận ra rằng, tình huống chiến tranh đã khiến quá nhiều phụ nữ Việt Nam phải chịu đựng những thương tổn lớn ở mọi chặng khác nhau trong một đời người.
Jean-Luc Nancy cho rằng, bản chất của huyền thoại là toàn trị
vì huyền thoại “tạo ra một cộng đồng có xu hướng đồng hóa mọi thứ vào trong tổng
thể của nó”[2]. Trong khi đó, luôn luôn có những khoảng im lặng, những vùng
không gian sẽ đi ngược lại sự hợp nhất hay tính toàn thể của cộng đồng. Trong
“Bên ô cửa những toa tàu thời chiến”, Nguyễn Quang Thiều chỉ ra một khoảng lặng,
đó là nỗi đau tinh thần tan hoang mà rất nhiều người phụ nữ Việt Nam đã phải
gánh chịu trong và sau chiến tranh. Có bao nhiêu người con trai ra trận thì (gần
như) có bấy nhiêu người mẹ khóc mong con, bấy nhiêu người vợ khóc mong chồng.
Có những nỗi chờ mong khắc khoải đến hóa thành điên dại:
“Ở ga Tía, thuộc huyện Thường Tín của Hà Nội mở rộng bây giờ,
người ta thường thấy một người đàn bà mắc bệnh tâm thần. Ngày ngày bà lang
thang trên sân ga. Cứ mỗi khi có một chuyến tàu dừng lại, bà lại hỏi những hành
khách xem có ai thấy thằng Đức con bà đâu không? Đó là một người lính đã xa mẹ
mình năm 18 tuổi đi vào mặt trận”[3].
Người mẹ ấy vì thương nhớ con mình mà trở thành một phụ nữ
tâm thần. Người phụ nữ tâm thần ấy gần như quên tất cả mọi điều nhưng có một điều
bà không bao giờ nguôi quên: ngày con trai bà bước lên tàu đi vào mặt trận và
vĩnh viễn không trở về. Đó là một số phận, một nỗi đau mà Nguyễn Quang Thiều tận
chứng trên quê hương mình, đó cũng là đại diện cho hàng trăm ngàn số phận, trăm
ngàn nỗi đau của những người mẹ khác ở khắp các miền quê trên dải đất hình chữ
S. “Có hàng trăm ngàn bà mẹ sau 35 năm chiến tranh kết thúc vẫn giật mình khi
nghe tiếng còi tàu chạy qua cánh đồng làng mình. Và những bà mẹ ấy vẫn mơ một
ngày, đứa con bé bỏng của mình bước xuống tàu đi qua cánh đồng trở về nhà trong
buổi hoàng hôn”[4]. Đất nước yên tiếng súng, nhưng nỗi đau của bao người mẹ mất
con thì không khi nào yên lắng. Hình ảnh những chuyến tàu, trong ngữ cảnh này,
trở thành một biểu tượng. Nó gợi nhắc nỗi ám ảnh về sự chia lìa, mất mát – một
thứ chứng tích đau thương mà chiến tranh để lại cho dân tộc Việt Nam.
Ở lời tựa cuốn Phụ nữ và người đọc chiến tranh[5],
Jennifer Turpin chỉ ra rằng chiến tranh ảnh hưởng đến phụ nữ theo những cách
khác với đàn ông. Ngay cả khi phụ nữ tham dự vào chiến tranh với tư cách một
người lính thì kinh nghiệm chiến trường của hai giới vẫn không hề giống nhau. Bởi
lẽ, tình huống xung đột vĩ mô này vận hành theo những luật định vốn không dành
cho nữ giới. Đây cũng là lí do mà nhà văn Belarus Svetlana Alexievich đã đặt
tên cho cuốn sách nổi tiếng của bà là Chiến tranh không có một gương mặt
phụ nữ. Đó là cách tác giả truyền đi một thông điệp: diễn ngôn về chiến tranh
thường xuyên được biểu đạt bằng tiếng nói của đông đảo nam giới, và vì thế, giọng
nam trở thành giọng đại diện về chiến tranh. Trong quán tính ấy, tiếng nói của
nữ giới dễ bị khúc xạ từ lăng kính nam giới trung tâm. Những nữ cựu binh khi được
Svetlana Alexievich kích hoạt ký ức đã thừa nhận: sau buổi tuyển quân, người phụ
nữ bước vào với bím tóc có đuôi, áo dài, giày ban, rồi bước ra với tóc cắt lởm
chởm kiểu đàn ông, áo varơi và ủng lính lớn hơn chân họ 5 số. Hết phụ nữ, chỉ
còn lính. Trở lại với các tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều, có thể thấy nhà văn
không tái hiện hình ảnh người phụ nữ trong vai một người lính chiến đấu ngoài mặt
trận mà mô tả họ ở không gian hậu phương. Tuy nhiên, giống như người phụ nữ ra
trận, người phụ nữ chốn hậu phương cũng rơi vào tình huống “không được là phụ nữ”
dù theo một cách khác. Họ phải nén lại, phải quên đi những nhu cầu bản năng giới
tính. Nguyễn Quang Thiều mô tả:
“Những người đàn bà góa bụa làng tôi – những ví dụ – chân
không giày không dép. Họ tránh con đường dẫn đến những đêm trăng. Bầu vú họ mệt
mỏi nằm ngoẹo đầu và trở nên nghễnh ngãng, không còn nghe được tiếng gọi đàn
ông nồng mùi thuốc lào và ruộng bùn ngai ngái, trong những đêm gió từng đôi quấn
nhau qua vườn hổn hển”[6].
Tái hiện chân dung người đàn bà, Nguyễn Quang Thiều lựa chọn
một chi tiết vốn được hình dung như là đại diện của tính nữ: bầu vú. Nhưng ở
đây, hình ảnh bầu vú không được mô tả như một dấu hiệu cho thấy sức hấp dẫn giới
tính, không mang chút dấu vết nào của những bầu vú “gió núi thổi mát rượi”, mà
ngược lại, là minh chứng của sự héo hon, tàn tạ, rã rời qua trạng thái “mệt mỏi”,
qua hình dáng “ngoẹo đầu”, qua phản ứng “nghễnh ngãng” – phản ứng thất bại khi
đón nhận những tác động thanh âm mà ở đây cụ thể là “tiếng gọi đàn ông”. Đó là
một tình thế quái dị của chiến tranh, tình thế đẩy những con người sinh ra để
trở thành phụ nữ lại không được là phụ nữ. Và với tình thế quái dị này, nhà văn
cho thấy cách người phụ nữ hiện diện trong chiến tranh. Họ không có mặt trực tiếp
trên chiến trường nhưng lại bị chiến tranh thay đổi vĩnh viễn vai trò giới tính
của mình.
Trong văn học chiến tranh, lịch sử và kinh nghiệm nữ giới vốn
ít khi xuất hiện ở vị trí trung tâm. Thực tế này có thể xuất phát từ một quan
niệm rằng, người phụ nữ đang ở “nhà” và được an toàn chứ không phải ở “chiến
trường” và không có trải nghiệm đau thương về chiến tranh như những nam quân
nhân trực tiếp chiến đấu. Tuy nhiên, lịch sử cũng đã cho thấy: có nhiều hơn một
cách mà con người bị tổn thương bởi chiến tranh. Và rõ ràng, những người được
coi là không tham chiến đều có trải nghiệm đau thương của riêng họ. Ở “Hai người
đàn bà xóm Trại”, Nguyễn Quang Thiều trình hiện cách nhìn cuộc chiến qua lịch sử
của những người phụ nữ. Từ góc nhìn của nhân vật khác trong truyện kể – góc
nhìn bên ngoài, sự tồn tại của hai người đàn bà bên bờ sông Đáy bị trượt về
phía tách biệt đời sống cộng đồng người: “Mẹ Phấn nó bảo tết năm nay đón hai cụ
vào nhà nó ăn Tết. Nó bảo hai cụ sống ngoài bãi như ma ấy”[7]. Nhưng từ góc
nhìn của chính người đàn bà, cái vỏ sống lặng lẽ “như ma” ấy lại bọc chứa bên
trong nó muôn vàn lớp sóng ký ức chỉ trực cuộn lên, đau thắt: “Bà lão Mật […] từ
từ ngồi xuống nhìn dòng sông trong đêm. Nơi đây, mấy chục năm về trước bà đã tiễn
chồng theo bộ đội sang sông. Và chính nơi đây, bà đã tiễn Bấc đi trong lần người
lính ghé qua nhà không gặp vợ mình”[8].
Ở đây, không gian người đàn bà thuộc về là không gian bến
sông, nơi họ ngày ngày phải đối mặt với ký ức về những cuộc chia tay biền biệt.
Không gian này gợi liên tưởng về một trường ký hiệu đã trở thành biểu tượng
trong văn hóa Việt Nam: bến sông gắn với bản tính thủy chung đợi chờ của người
phụ nữ. Nhưng cũng từ không gian này, Nguyễn Quang Thiều hé lộ một bi kịch khác
trong đời sống của người đàn bà thôn quê: bi kịch trốn chạy những ẩn ức giới ngấm
ngầm mà mãnh liệt. Ẩn ức đó lách qua vùng kiểm duyệt của lí trí để hiện lộ
trong giấc mơ của bà cụ Mật. Trong mơ, bà cụ Mật thấy người lính trở về không
phải là Ngữ, chồng bà, mà là Bấc, chồng bà cụ Ân:
“Khoảng canh tư thì Bấc khoác ba – lô lên đường. Mật tiễn Bấc
lên đến mặt đê. Bỗng Mật ôm lấy Bấc và khóc nấc lên.
‘Anh Bấc ơi! Em thương chị Ân quá. Em thương anh hu… hu… và
thương cả thân em nữa. Nếu anh Ngữ về được một lần thì em đỡ khổ, đỡ ân hận biết
bao. Anh Bấc ơi, sao em không phải là chị Ân, sao anh không phải là anh Ngữ, hả
anh?”[9].
Nội dung giấc mơ này có thể được giải mã từ một tình huống thực
tế trớ trêu là Bấc đã từng một lần trở về nhưng không gặp được Ân mà chỉ gặp Mật.
Và trong mơ, Mật một lần nữa tiễn người trai lên đường – là Bấc, không phải Ngữ.
Ở tầng sâu vô thức, giấc mơ như là sự phản ứng trước một truyền thống vốn tồn tại
lâu đời trong cộng đồng: truyền thống người phụ nữ bị lệ thuộc vào các quy chuẩn
đạo đức xã hội. Họ phải đáp ứng nhiều tiêu chí được coi như là hiện thân của
giá trị. Trong đó, quan niệm về chính chuyên tiết hạnh đặt ra những đòi hỏi vô
cùng khắt khe. Với cơ chế tập nhiễm nam quyền, bản thân người phụ nữ cũng tự
khuôn mình vào các chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt. Ngay trong “Hai người đàn bà
xóm Trại”, khi Mật kể cho Ân nghe giấc mơ về sự hoài thai, Ân đã nhắc nhở Mật
và cũng là tự nhắc nhở chính mình: “Có chuyện gì thì tôi và cô cứ là bỏ cái xóm
bãi này mà lên rừng”[10]. Chiến tranh đã buộc người đàn bà hậu phương đi qua những
tháng năm thanh xuân trong vò võ cô độc. Đạo đức xã hội một lần nữa trở thành
áp lực vô hình buộc họ phải kìm nén những ham muốn về thể xác. Hai người phụ nữ
trong câu chuyện của Nguyễn Quang Thiều đã lựa chọn một lối sống khắc kỷ ở
không gian xóm bãi chật hẹp bên bờ sông Đáy. Nhưng cảm xúc của con người, đặc
biệt là nỗi khao khát bản năng vô thức vốn có những mạch ngầm nằm ngoài sự kiểm
soát của lí trí. Nguyễn Quang Thiều đã khơi trúng cái mạch ngầm ấy để cho thấy
đời sống tâm lí đàn bà đầy ẩn ức. Trong giấc mơ của bà cụ Mật, người lính trở về
là một người đàn ông khác không phải chồng bà. Đó là diễn biến tâm lí thành thực
nhất thuộc vùng vô thức bất tuân lí trí. Hóa ra, bà cụ Ân và bà cụ Mật đã cùng
mong ngóng một người đàn ông. Dù niềm mong ngóng ấy, với bà cụ Mật, không phải
là tiếng nói được dễ dàng thừa nhận/ chấp nhận, thậm chí bởi chính bà. Nhưng
xét cho cùng, hé lộ vùng ẩn ức nén sâu chôn chặt chính là cách nhà văn từ chối
thánh hóa con người để chia sẻ tận cùng những mảng khuất lấp nhân bản của cảm
xúc người. Và từ đó, câu chuyện của Nguyễn Quang Thiều như là sự diễn giải luận
điểm của Nancy rằng: “Khi huyền thoại bị gián đoạn, văn học một lần nữa kể cho
chúng ta nghe về lịch sử. Nhưng nó không thuần túy là một truyện kể – không lớn
cũng không nhỏ – mà còn là một kiến tạo: lịch sử đang được kiến tạo”[11]. Gián
đoạn huyền thoại về người đàn bà hậu phương trong vai những người vợ, người mẹ
như là “thánh nữ” hy sinh cho chiến thắng, Nguyễn Quang Thiều kiến tạo một tiểu
tự sự về chân dung phụ nữ như một “con người”.
Bên cạnh bi kịch chôn vùi những khát khao tính dục bản năng,
người đàn bà đi qua chiến tranh phải chịu đựng một vết quất đau đớn khác là bị
tước đoạt thiên chức làm mẹ. Xét cho cùng, không được làm mẹ là nỗi bất hạnh của
tất cả phụ nữ nói chung. Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh thì tình huống ấy có
nguy cơ xảy đến với người phụ nữ nhiều hơn. Nói về tác động của chiến tranh tại
Việt Nam lên trải nghiệm của phụ nữ Mỹ, Carol Acton lưu ý rằng: “khuôn mẫu điển
hình về người phụ nữ của những ngôi nhà đẹp, những người chồng và những đứa con
yêu thương”[12] đã bị phá hủy. Trong “Hai người đàn bà xóm Trại”, những
người vợ chờ chồng cũng rơi vào tình thế tương tự. Họ không có niềm hạnh phúc
sinh ra những đứa trẻ – biểu tượng cho sự tiếp nối tới tương lai mà phải sống một
đời trong vò võ đơn chiếc. Nguyễn Quang Thiều để cho nhân vật nữ trực tiếp lên
tiếng về nỗi khát khao làm mẹ. Ân nói: “Giá có đứa con… thì họ đi đến bao giờ
cũng được”[13]. Đứa con sẽ trở thành niềm an ủi người đàn bà trong chờ đợi. Mật
kể cho Ân nghe giấc mơ thấy chồng trở về, và “ngay đêm đó em mơ em có mang. Lúc
tỉnh dậy sờ bụng cứ thấy khang khác”[14]. Ảo giác về sự “khang khác” bắt nguồn
từ niềm khao khát bản năng đàn bà: khao khát được nuôi dưỡng trong mình một mầm
sống, khao khát được sinh con. Nhưng sự thực là, hai người đàn bà đã cùng nhau
sống một cuộc đời lầm lũi cô độc và đã an ủi lẫn nhau bằng chính sự lầm lũi cô
độc của mình.
So sánh điểm khác biệt trong lối viết nam và lối viết nữ về đề
tài chiến tranh, tác giả Lê Hương Thủy lưu ý rằng: “Các chị thường chú trọng
khai thác “giới tính” của mình, đi vào khai thác những mảnh đời thầm lặng, những
số phận cá biệt, những đau thương mất mát người phụ nữ phải gánh chịu trong chiến
tranh. Cảm quan tinh tế, bén nhạy của người phụ nữ giúp họ viết “thật” về giới
mình hơn”[15]. Trong trường hợp các tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều, những nông
nỗi thiệt thòi, những đớn đau bản thể nữ được phản ánh từ góc nhìn của một nhà
văn nam. Nhưng không vì thế mà tác phẩm thiếu đi sự tinh tế, sâu sắc, ngay cả
khi nhà văn chạm vào vùng khuất lấp trong đời sống nữ giới, vùng của niềm khao
khát bản năng tự nhiên. Sự đồng cảm trước những số phận chịu nhiều thương tổn
do chiến tranh đã xóa nhòa ranh giới phân định lối viết nam hay lối viết nữ.
Cao hơn việc phân định giới là tiếng nói của tình yêu thương, của sự sẻ chia mà
nhà văn dành cho những cảnh đời khổ đau. Điều này tạo nên điểm gặp gỡ giữa sáng
tạo của Nguyễn Quang Thiều với quan điểm của nhà phê bình sinh thái hậu thuộc địa
Donelle Dreese khi bà nói về sự kết nối giữa cá nhân và cộng đồng của họ. Theo
Donelle Dreese, quan tâm nhiều hơn đến người khác “có nghĩa là nhận ra vị trí của
một người giữa vô số sinh thể cùng tồn tại trong vũ trụ và chịu một số trách
nhiệm đối với hạnh phúc của họ. Nếu một người không an toàn, sẽ không ai được
an toàn”[16]. Nguyễn Quang Thiều cho thấy việc “chịu trách nhiệm đối với hạnh
phúc” của một người khác bằng cách sử dụng hành vi viết như là một động thái
“chạm”, “chia sẻ”, “kiến tạo” chân dung phụ nữ Việt Nam:
“Thời gian cứ lặng lẽ… lặng lẽ chảy vào chiếc bình gốm cổ khổng
lồ. Những người đàn bà góa bụa làng tôi như những con cào cào nâu cứ khuất dần…
khuất dần sau cỏ. Tôi như kẻ mắc bệnh tâm thần đứng khóc. Tôi khóc vì những VÍ
DỤ đã vĩnh viễn ra đi.
Và đến khi tôi không còn gì để đếm. Những người đàn bà góa bụa
làng tôi từ sau cỏ trở về. Họ đi trên ánh trăng gồ ghề dọc con đường phơi đầy
rơm rạ tháng Mười. Mái tóc đẫm hương lá bưởi của họ chảy lênh láng trong trăng.
Bầu vú họ nghiêng về phía ngọn lửa giới tính vừa nhóm lên đâu đó. Sau bước chân
họ, sau tiếng kẹt cửa trong khuya là bát hát. Bài hát vút lên xuyên qua đỉnh đầu
những người mắc bệnh tâm thần mất ngủ nhìn trăng. Những người mắc bệnh tâm thần
mất ngủ nhìn trăng mở cửa và bước ra khỏi nhà. Họ cùng bài hát kia đi mãi, đi
mãi và đi mãi, về nơi không có những VÍ DỤ bao giờ”[17].
Phép ẩn dụ dựng nên cấu trúc thời gian vũ trụ để chuyển tải
giấc mơ thiêng về một sự tái sinh kì vĩ. Hai chiều vận động tương phản được đặt
cạnh nhau: những người đàn bà góa bụa khuất dần sau cỏ và những người đàn bà
góa bụa từ sau cỏ trở về. Họ trở về trong một diện mạo khác, không còn những mỏi
mệt, khuyết thiếu, tiêu biến mà ngược lại, chỉ có ánh sáng của sức sống, của sự
tròn đầy, của những vẻ đẹp giới tính phục sinh. Hình dung về hành trình “đi
mãi, đi mãi và đi mãi, về nơi không có những VÍ DỤ bao giờ” là cách nhà văn
chuyển tải ước vọng nhân bản, nhân đạo, nhân văn: ước vọng về một đời sống hòa
bình, cho hiện tại, cho tương lai, cho cộng đồng và cho mỗi cá nhân.
Benedict Anderson đề xuất hình dung về dân tộc như một cộng đồng
hài hòa, thuần nhất, được hình thành trên cơ sở tương đồng về gia đình, về bộ lạc
hay sự chia sẻ cùng nhau một lịch sử chung, một thể chế văn hóa giống nhau. Tuy
nhiên, cũng chính văn học lại cho thấy khả năng phân mảnh huyền thoại khi nó tiết
lộ một sự khuyết thiếu, một giới hạn làm cho nền tảng huyền thoại của cộng đồng
bị gián đoạn. Theo cách này, Nguyễn Quang Thiều tạo nên các diễn ngôn tiểu tự sự
về thân phận cá nhân, về nông nỗi bất hạnh riêng tư của người phụ nữ trong tình
huống chiến tranh và cả những tháng năm hậu chiến. Việc đọc các tác phẩm của
Nguyễn Quang Thiều viết về chiến tranh và phụ nữ đồng thời như là sự cộng hưởng
với quan điểm của Jean-Luc Nancy rằng: cả huyền thoại và văn học đều vận hành
trong một tác phẩm, và văn học làm gián đoạn huyền thoại thông qua việc tác phẩm
không bao giờ trọn vẹn mà luôn luôn luân chuyển, luôn luôn chia sẻ. Tác phẩm của
Nguyễn Quang Thiều một lần nữa cho thấy chiều kích của văn chương, nói như Jean-Luc
Nancy, là vô tận – theo nghĩa chủ động, bởi nó là văn chương.
Chú thích:
[1] Jean-Luc Nancy. 1991. The
Inoperative Community. University of Minnesota Press. Minneapolis. tr.63.
[2] Jean-Luc Nancy. 1991. The
Inoperative Community. Bđd. tr.57.
[3] Nguyễn Quang Thiều. 2012. Có
một kẻ rời bỏ thành phố. Nxb Hội Nhà văn. tr.50.
[4] Nguyễn Quang Thiều. 2012. Có
một kẻ rời bỏ thành phố. Bđd. tr.50.
[5] Lorentzen Lois Ann & Turpin
Jennifer E. 1998. The Women and War Reader. New York: New York University
Press.
[6] Nguyễn Quang Thiều. 2015. Sự
mất ngủ của lửa. Nxb Hội Nhà văn. tr.49.
[7] Nguyễn Quang Thiều. 2011. Nguyễn
Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Nxb Hội Nhà văn. tr.148.
[8] Nguyễn Quang Thiều. 2011. Nguyễn
Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd. tr.149.
[9] Nguyễn Quang Thiều. 2011. Nguyễn
Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd. tr.153-154.
[10] Nguyễn Quang Thiều. 2011. Nguyễn
Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd. tr.144.
[11] Jean-Luc Nancy. 1991. The
Inoperative Community. Bđd. tr.69.
[12] Carol Acton. 2001. “Dangerous
Daughters: American Nurses and Gender Identity in World War One and
Vietnam”. War, Literature, and the Arts: an International Journal of the
Humanities. 13/1&2(2001): 87-113. Web. 31 January 2014. tr.96.
[13] Nguyễn Quang Thiều. 2011. Nguyễn
Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd. tr.143.
[14] Nguyễn Quang Thiều.
2011. Nguyễn Quang Thiều Tác phẩm chọn lọc. Bđd. tr.144.
[15] Lê Hương Thủy. 2020. “Chiến
tranh nhìn từ truyện ngắn của một số cây bút nữ”, http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/chien-tranh-nhin-tu-truyen-ngan-cua-mot-so-cay-but-nu_11007.html.
Dẫn theo “Gặp gỡ một số nhà văn nữ”. Tạp chí Tác phẩm mới. 10/1991.
[16] Donelle Dreese. 2002. Ecocriticism:
Creating Self and Place in Environmental and American Indian Literatures.
American Indian Studies. Vol 15. New York: Peter Lang Publishing. tr.116.
[17] Nguyễn Quang Thiều. 2015. Sự
mất ngủ của lửa. Bđd. tr.50.
7/6/2024
Đặng Thị Bích Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét