Văn học Nam bộ 1932-1945:
Một cái nhìn toàn cảnh
Văn học Nam Bộ 1932 – 1945 là một bộ phận máu thịt của văn học Việt Nam, là một phần của đời sống tinh thần và tâm hồn của người Việt ở Nam Bộ. Tuy nhiên từ trước đến nay, việc nghiên cứu về mảng văn học này chưa được chú ý vì nhiều lý do, trong đó chủ yếu là do khó khăn về tư liệu và thói quen thưởng thức.
1. Đặt vấn đề:
Văn học quốc ngữ Nam Bộ hình thành từ cuối TK.XIX, cho đến đầu
thế kỷ XX vùng văn học này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trở thành bộ
phận tiên phong của văn học dân tộc với hàng chục mấy tác gia, hàng trăm bộ tiểu
thuyết ngay từ khi các miền khác ở đất nước chưa biết “tiểu thuyết” là gì. Những
tên tuổi lớn của văn học quốc ngữ Nam Bộ là: Trương Vĩnh Ký – nhà văn hóa, người
viết ký sự quốc ngữ đầu tiên; Nguyễn Trọng Quản – nhà tiểu thuyết quốc ngữ
đầu tiên; Trương Minh Ký – nhà văn, dịch giả văn học Pháp đầu tiên; Huỳnh Tịnh
Của – nhà văn ngữ văn học quốc ngữ tiên phong; Trần Chánh Chiếu – nhà văn Minh
tân; Lương Khắc Ninh – nhà thơ nhà báo duy tân; Hồ Biểu Chánh – nhà tiểu thuyết
xã hội-đạo lý cự phách; rồi Trương Duy Toản- nhà văn dã sử võ hiệp; Lê Hoằng
Mưu – nhà tiểu thuyết tiên phong và táo bạo; Nguyễn Chánh Sắc- nhà tiểu thuyết
võ hiệp, nhà dịch thuật truyện Tàu trứ danh v.v. Những nhà văn ấy và hàng chục
nhà văn khác nữa với hàng mấy trăm tác phẩm đã xây dựng nền móng đầu tiên, từ
đó mới phát triển ra miền Bắc, miền Trung, tạo thành tòa lâu đài của văn học
TK.XX, khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc.
Từ năm 1932 trở đi, nền văn học mới của cả nước khởi sắc với
hai hiện tượng đáng chú ý: Phong trào Thơ mới mở ra từ tờ Phụ nữ tân văn ở Sài
Gòn do nhà văn – học giả Phan Khôi và nữ sĩ Manh Manh người Gò Công khởi xướng
và bảo vệ; Nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập ở Hà Nội do Nhất Linh, Khái Hưng
đứng đầu. Mặc dù không còn giữ được vai trò tiên phong như trước, khi văn đàn
đã xuất hiện những nhà văn lớn thế hệ mới: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam,
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…, nhưng văn học Nam Bộ vẫn tiếp tục
tiến triển. Các nhà văn đàn anh của văn học Nam Bộ vẫn tiếp tục sáng tác, sáng
tác rất khỏe và có nhiều thành tựu đáng kể: Hồ Biểu Chánh tiếp tục sáng tác những
tiểu thuyết xã hội-đạo lý xuất sắc; Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên trở thành những
nhà văn hàng đầu về tiểu thuyết lịch sử; Phú Đức, Nguyễn Thế Phương dẫn đầu về
tiểu thuyết trinh thám-vụ án, Việt Đông thành lập “Việt Đông văn tập” xuất bản
hàng tuần để cạnh tranh với “Tiểu thuyết Thứ Bảy” và “Tiểu thuyết Thứ Năm” ở Hà
Nội… Bên cạnh đó, nhiều gương mặt mới xuất hiện: Nữ sĩ Manh Manh, người làm chấn
động văn đàn với những bài viết và diễn thuyết ủng hộ, bảo vệ Thơ Mới tấn công
Thơ cũ; Đông Hồ, Mộng Tuyết, Lư Khê, Hồ Văn Hảo, Khổng Dương, Sơn Khanh… những
nhà Thơ Mới Nam Bộ tiêu biểu; Nguyễn Thới Xuyên, Đào Thanh Phước, Gabriel Võ Lộ,
Huỳnh Quang Huê…nổi lên như những nhà tiểu thuyết xã hội; Trần Quang Nghiệp –
ông vua truyện ngắn; Cẩm Tâm (tác giả tiểu thuyết Sóng tình), Phan Huấn Chương
(tác giả Hòn máu bỏ rơi)…là những nhà văn thành danh qua các cuộc thi tiểu thuyết…
Sự trưởng thành của văn học Nam Bộ được đánh dấu bằng sự xuất hiện những nhà
nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp: Thiếu Sơn, Trúc Hà, Kiều Thanh Quế,
Phan Văn Hùm, Ca Văn Thỉnh…Nửa đầu thập niên bốn mươi hé lộ một nhà văn đầy tài
năng: Phi Vân với tập “phóng sự tiểu thuyết” Đồng quê đầy ắp chất hiện thực về
đất và người Nam Bộ; cùng với ông và sau ông một chút là: Thẩm Thệ Hà, Huỳnh
Văn Nghệ…những nhà văn nhà thơ thuộc thế hệ bắc cầu giữa giai đoạn trước 1945 với
giai đoạn sau 1945. Theo thống kê ban đầu, những tác giả có tác phẩm được xuất
bản từ 1930 đến 1945 còn lưu lại đến nay lên đến hơn 150 người.
Văn học Nam Bộ 1932 – 1945 là một bộ phận máu thịt của văn học
Việt Nam, là một phần của đời sống tinh thần và tâm hồn của người Việt ở Nam Bộ.
Tuy nhiên từ trước đến nay, việc nghiên cứu về mảng văn học này chưa được chú ý
vì nhiều lý do, trong đó chủ yếu là do khó khăn về tư liệu và thói quen thưởng
thức.
Văn học Nam Bộ là những tư liệu vô giá lưu giữ cho chúng ta
ngôn ngữ của người Việt ở Nam Bộ cách đây hàng trăm năm, nó là cứ liệu không gì
thay thế để nghiên cứu về tiếng Việt Nam Bộ. Nhà văn Nam Bộ viết văn làm thơ,
ngoài những lý do về cảm xúc còn có ý muốn lưu giữ cho cháu con, cho dân tộc một
thứ tiếng Việt ngọt ngào, đằm thắm của những người phụ nữ Nam Bộ, một thứ tiếng
Việt khỏe khoắn, bộc trực của những người đàn ông Nam Bộ. Văn học quốc ngữ Nam
Bộ cũng là tư liệu quý báu để tìm hiểu đời sống, xã hội, phong tục tập quán,
tính cách của người Nam Bộ. Việc nghiên cứu văn học Nam Bộ 1932-1945 sẽ làm cho
bức tranh văn học Việt Nam 1932-1945 thêm đa sắc và hoàn chỉnh hơn.
2. Một chặng đường nghiên cứu văn học Nam Bộ 1932-1945
Trước 1975: Ở miền Bắc, vì nhiều lý do, trước hết là do thiếu
tư liệu mà các công trình nghiên cứu và các giáo trình văn học sử 1932 – 1945 hầu
như bỏ quên văn học Nam Bộ. Người ta nói rất nhiều đến những Nguyễn Công Hoan,
Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Bùi Hiển, Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan, Trương
Chính, Hoài Thanh…nhưng rất ít người nghe thấy nhắc đến những cái tên như: Hồ
Biểu Chánh, Tân Dân Tử, Trần Quang Nghiệp, Phan Huấn Chương, Kiều Thanh Quế,
Phi Vân…
Ở miền Nam có một số công trình nghiên cứu bước đầu về đề tài
này như: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ (Quốc học tùng
thư, SG, 1963), Văn học sử Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 của Bùi Đức Tịnh (SG,
1967), Khi những lưu dân trở lại của Nguyễn Văn Xuân (Thời Mới xb., S.1968)…
Sau 1975: Tình hình nghiên cứu về vấn đề này đã tiến lên được
một bước dài, đáng chú ý là các công trình của các tác giả: Hoài Anh, Thành
Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp: Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa TK.XX (1900-1954)(NXB.TP.HCM,
1988); Bằng Giang: Sài Côn cố sự (NXB.Văn học, 1994); Nguyễn Ngọc Thiện
(chủ biên): Văn học Việt Nam hiện đại- Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn
học Việt Nam (1900-1945), tập 1 (NXB Văn học, Hà Nội, 1997); Trần Văn
Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình chủ biên: Địa chí văn hóa TP.HCM,
(tập 2) (NXB.TP.HCM, 1998); Nguyễn Q.Thắng: Từ điển tác gia Việt Nam (NXB.Văn
hóa thông tin, H.1999); Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (chủ biên): Từ điển tác phẩm
văn xuôi VN (từ cuối TK.XIX đến 1945) (NXB.Văn học, HN, 2001); Nguyễn Huệ
Chi, Trần Hữu Tá chủ biên: Từ điển văn học (Bộ mới) (NXB.Thế giới,
HN, 2004); Nguyễn Thị Thanh Xuân: Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX (1932-1945) (Nxb. Đại học Quốc gia TP. HCM, 2004); Nguyễn Q.Thắng: Văn
học Việt Nam nơi miền đất mới (NXB. Văn học, 2007) v.v.
Nhiều tác phẩm của các tác giả Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt,
Phú Đức, Phi Vân, Phan Khôi, Thiếu Sơn, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Phan Văn Hùm… cũng
đã được tái bản, Tổng tập văn học Việt Nam có đưa một ít tác phẩm văn học Nam Bộ
vào các tập 20, 21, 26 …
Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ, toàn diện, hệ thống về văn học Nam Bộ 1932-1945. Vì thế từ năm 2008 đến
2011 chúng tôi đã tiến hành thực hiện một công trình nghiên cứu với quy mô lớn
Khảo sát, đánh giá và bảo tồn văn học Nam Bộ 1930-1945 để giải quyết vấn đề
trên(1). Bài viết dưới đây là phần giới thiệu khái quát văn học Nam Bộ
1932-1945 rút ra từ công trình ấy.
3. Thơ mới Nam Bộ 1932 -1945
Có thể hình dung thơ mới Nam Bộ 1932-1945 qua một số nhóm sau
đây:
3.1 Nhóm Phụ nữ tân văn:
Với bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ, trên báo
Phụ nữ tân văn số 122 (10/3/1932), Phan Khôi đã tuyên chiến công khai với Thơ
cũ. Phụ nữ tân văn được thành lập năm 1929 quy tụ các cây bút Tây học và tiến bộ
nhất bấy giờ:
– Phan Khôi, xuất thân từ phong trào Duy tân, tham gia viết
báo, trở thành nhà ngôn luận cự phách
– Đào Trinh Nhất, du học ở Pháp từ 1925 mới về Sài Gòn
– Nguyễn Thị Kiêm, tốt nghiệp trường nữ đầu tiên của cả nước
– trường Collèges des Jeunes filles Annamites de Saigon/ Trường nữ Trung học
Annam Sài Gòn (Nữ sinh áo tím).
Tờ báo trở thành cơ quan đấu tranh cho tiến bộ xã hội, cho nữ
quyền và cho nền văn học mới. Phan Khôi trở thành vị chủ soái của nhóm
trí thức Phụ nữ tân văn. Nguyễn Thị Kiêm trở thành người phụ nữ cổ xúy cho thơ
mới và cho phụ nữ tham gia vào văn học và các công tác xã hội. Quy tụ trong
nhóm Phụ nữ tân văn còn có các nhà thơ: Lư Khê (phu quân của Nguyễn Thị Kiêm),
Hồ Văn Hảo, Vân Đài, Huy Hà, Nguyễn Hữu Trí, Khổng Dương, Sơn Khanh…
Phan Khôi là người khởi xướng cho Phong trào thơ mới trên Phụ
nữ tân văn, nhưng bản thân ông không phải là một nhà thơ. Ông là nhà văn hóa, một
học giả nhạy bén và dũng cảm dám công khai tấn công vào thơ cũ, phá vỡ khuôn khổ
cũ để đi tìm chân trời mới biểu đạt tự do tình cảm cảm con người. Manh
Manh, Hồ Văn Hảo mới thực sự là những nhà thơ mới. Thơ của Manh Manh rất Tây vì
đều mô phỏng âm điệu thơ Pháp: Thơ gửi cho em Vân theo điệu Gió chiều, Mộng
du theo điệu Sợi tơ lòng... Số câu trong một khổ, số từ trong một câu không giới
hạn, có khi ngắn như các bài: Viếng phòng vắng, Canh tàn, có khi rất
dài – 8 chân, 10 chân, 24 chân như các bài Hai cô thiếu nữ, Bức thư gởi
cho tất cả ai ưa hay ghế lối thơ mới…
Hồ Văn Hảo cũng đi theo hướng phá cách này. Trong các buổi diễn
thuyết của mình, Manh Manh thường dẫn thơ Hồ Văn Hảo. Hai bài thơ được nhắc
đến nhiều nhất là bài Tự tình với trăng và Con nhà thất
nghiệp.
Bài Con nhà thất nghiệp không chỉ là mở rộng câu
thơ, khổ thơ, mà điều quan trọng nhất là mở rộng phạm vi phản ánh của thơ: thơ
không phải chỉ có mây gió trăng hoa, mà còn có thể có cả thất nghiệp với cơm áo
gạo tiền. Cho đến nay nhìn lại, có thể nói thơ Manh Manh, Hồ Văn Hảo không thật
hay, thậm chí nhiều bài còn khá vụng về, ngọng nghịu, nhưng điều đáng quý của họ
là ở thái độ sống, thái độ sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Đó là điều lớn
nhất mà Manh Manh, Hồ Văn Hảo và cả Lư Khê đóng góp cho phong trào Thơ mới.
3.2 Nhóm Hà Tiên
Nhóm văn chương này xoay xung quanh Đông Hồ và trường Trí Đức
học xá.
Bị thuyết phục bởi Nam phong tạp chí, Đông Hồ Lâm Tấn Phác mở
trường Trí Đức học xá ở Hà Tiên để dạy tiếng Việt và chủ trương viết văn viết
báo bằng một thứ tiếng Việt “chuẩn” như Nam phong tạp chí. Khi phong trào thơ mới
bột phát, ông nhanh chóng chuyển hướng sang thơ mới và ủng hộ thơ mới bằng tập
Cô gái xuân có khuynh hướng lãng mạn với hồn thơ mới mẻ trẻ trung khác hẳn tập
Linh Phượng trước đó. Năm 1935 ông lập ra tờ báo Sống quy tụ khá đông đảo văn hữu
Bắc Trung Nam.
Châu tuần xung quanh Đông Hồ có “Hà Tiên tứ tuyệt”: Mộng Tuyết,
Trúc Hà, Lư Khê (tất nhiên có cả Đông Hồ).
Nữ sĩ Mộng Tuyết, học trò của Đông Hồ ở Trí Đức học xá, đồng
thời cũng là bạn thơ, bạn đời của ông trong một mối tình định mệnh. Mộng Tuyết
theo chủ trương sáng tác của Đông Hồ, cô có tập Phấn hương rừng được Tự Lực văn
đoàn khen tặng 1939, đồng thời cô cũng góp mặt cùng các nữ thi sĩ hàng đầu của
làng Thơ mới: Vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ để xuất bản tập thơ Hương Xuân (NXB.
Nguyễn Du, Hà Nội, 1943). Người nữ trong thơ Mộng Tuyết với vẻ bề ngoài kín
đáo, e ấp, hay xấu hổ, nhưng bên trong tâm hồn thì thật mới. Cô hay nói về đời
sống sinh hoạt thường ngày rất con gái của mình: chải đầu, trang điểm, ngủ mơ,
sửa lại áo xiêm…Cô hay ngắm nhìn vẻ đẹp của mình: một cái mũ thời trang, một
cái áo mới, một kiểu tóc, gương mặt, vầng trán (Làm cô gái Huế, Em bị cười, Em
trả thù…). Tất cả những điều ấy rất xa lạ với thơ cũ, một nền thơ ca trọng đạo
lý, trọng chí khí, trọng sự cao nhã. Đọc đến bài thơ Em xấu hổ người ta phải
kinh ngạc: chưa có bài thơ nào vừa kín đáo, e ấp lại vừa táo bạo đầy vẻ sắc dục
như thế. Tôi nghĩ là sẽ không quá lời khi khẳng định: Mộng Tuyết là thi sĩ tài
hoa nhất, có bản sắc nhất trong nhóm Hà Tiên, và là nữ thi sĩ xuất sắc nhất của
phong trào Thơ mới toàn quốc. Nói như thế tôi có nghĩ đến Manh Manh, Hằng
Phương, Vân Đài, Anh Thơ.
Lư Khê là cháu của Đông Hồ, đồng thời là chồng của nữ sĩ Manh
Manh (Nguyễn Thị Kiêm). Với cả hai tư cách như thế nên sáng tác của ông cũng có
đặc điểm của các hai nhóm: nhóm Hà Tiên và nhóm Phụ nữ tân văn. Có thể xếp ông
vào nhóm Hà Tiên như là một trong “Hà Tiên tứ tuyệt” cũng được, và tập tùy bút
Phút thoát trần của ông thì đúng là phong cách Trí Đức học xá – nghĩa là “văn
Nam phong”; nhưng đồng thời cũng có thể xếp ông vào nhóm Phụ nữ tân văn cũng được,
với hơi hướng “văn Tây” và tư tưởng khai phóng mà mấy bài thơ Riêng tặng K. bạn
tôi, Nhủ nhau cho thấy rất rõ.
Trúc Hà viết văn và làm thơ theo đúng phong cách nhóm Hà
Tiên. Những sáng tác đầu tay là những tùy bút giàu chất thơ đăng trên Nam Phong
tạp chí (Lời cảm cựu, Nam Phong, số 141, tháng 8.1929), sau đó là một số truyện
ngắn đăng trên báo Sống. Trúc Hà có dịch bài thơ L’isolement/ Cảnh
đìu hiu của Lamartine theo thể song thất lục bát. Về sáng tác, ông có hai
bài thơ đáng chú ý là Dưới rèm và Giận bức rèm cùng in trên báo Sống. Tuy
nhiên đóng góp chủ yếu của Trúc Hà lại ở lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn học –
một lĩnh vực khá ít người tham gia ở Nam Kỳ. Chúng ta sẽ nhắc đến ông nhiều hơn
ở nhóm nghiên cứu phê bình văn học.
3.3 Huỳnh Văn Nghệ với các nhà thơ thập niên 1940
Cuối thập niên 1930 đầu thập niên 1940 ở Sài Gòn xuất hiện
hàng loạt các nhà thơ mới với một phong cách khác: giàu chất hiện thực, thiên về
nam tính, cứng cỏi, ngôn ngữ đậm chất Nam bộ, âm điệu trầm hùng…Đó là Khổng
Dương với tập Ly tao xuất bản 1940, Sơn Khanh tập Tiếng lòng, 1942 (cả hai đều
quê Trà Vinh), Nguyễn Hữu Trí (quê Mỹ Tho?) và Huỳnh Văn Nghệ (quê Bình Dương)
có nhiều thơ đăng trên báo Sống. Huỳnh Văn Nghệ ngay từ năm 1940 đã viết những
câu thơ hào hùng mà sau này làm nên tên tuổi “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ: “Ai
đi về Bắc ta đi với/ Thăm lại non sông giống Lạc Rồng/ Từ độ mang gươm đi mở
cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” (Nhớ Bắc).
Cả bốn thi sĩ trên sau 1945 đều theo tiếng gọi của Tổ Quốc mà
tham gia kháng chiến chống Pháp. Họ là thế hệ chuyển tiếp giữa thơ lãng mạn và
thơ kháng chiến – mà phong cách thơ của họ trước 1945 đã có những dấu hiệu
báo trước.
4.Tiểu thuyết Nam Bộ 1932-1945
4.1. Tiểu thuyết lịch sử
Từ thập niên 1920 ở Nam Bộ có hàng loạt tiểu thuyết lịch sử
được sáng tác và xuất bản. Tân Dân Tử là tác gia nổi bật nhất. Tiểu thuyết của
ông chỉ lấy một đề tài là quá trình đấu tranh chống Tây Sơn giành ngôi báu và
thống nhất nước nhà. Những tác phẩm ấy in sâu trong ký ức người dân Nam Bộ, vượt
qua cả một thời thiên lệch về cách nhìn lịch sử để tái khẳng định mình trong thời
hiện đại, trở thành niềm tự hào của văn học Nam Bộ, đó là bộ ba tác phẩm: Gia
Long phục quốc (Nhà in Nguyễn Văn Viết, SG, 1917), Gia Long tẩu quốc (Nhà
in Xưa Nay, Sài Gòn, 1930), Hoàng Tử Cảnh như Tây (Nhà in Đức Lưu
Phương, SG, 1931).
Bên cạnh các nhà văn viết về lịch sử Nam Kỳ, có một số nhà
văn viết tiểu thuyết lịch sử về dân tộc Việt trước triều Nguyễn, đó là:
– Hồ Biểu Chánh với Nam cực tinh huy (Nhà in Đức
Lưu Phương, SG, 1924) viết về Ngô Quyền; Nặng gánh cang thường (Càng
Long, 1930) viết về lịch sử thời Lê Thánh Tông
– Nguyễn Chánh Sắt với Việt Nam Lê Thái Tổ, tiểu thuyết
lịch sử, 4 tập, Đức Lưu Phương xuất bản, SG, 1929
– Phạm Minh Kiên là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử với số
lượng nhiều nhất – 5 tác phẩm: Loại tiểu thuyết lịch sử có: Vì nước hoa
rơi (Nhà in Xưa nay, SG, 1926), Việt Nam anh kiệt – Vì nghĩa liều
mình (Impr. Duy Xuân, Sađec, 1926), Việt Nam Lý trung hưng (Việt
Nam Lý Thường Kiệt) (Nhà in Đức Lưu Phương, SG, 1929), Lê triều Lý thị (Impr.
Nguyễn Văn Viết, SG, 1931), Tiền Lê vận mạt (Tín đức thư xã, SG,
1932), Trần Hưng Đạo (Tín đức thư xã, SG, 1933).
Các nhà văn trên viết tiểu thuyết lịch sử trước hết là nhằm đối
phó lại tình trạng truyện Tàu được dịch và xuất bản tràn lan ở Nam Bộ, nhưng
quan trọng hơn là qua tiểu thuyết lịch sử, các nhà văn muốn kín đáo nhắc nhở
tình tự dân tộc, khơi gợi truyền thống anh hùng và ý chí đấu tranh giành độc lập
cho dân tộc.
4.2. Tiểu thuyết trinh thám – vụ án
Nhà văn viết truyện trinh thám theo kiểu phương Tây đầu tiên
có thể nói là Biến Ngũ Nhi với các bộ Mật thám truyện, Kim thời dị sử (Ba
Lâu ròng nghề đạo tặc, Chủ nợ bất nhân) nổi tiếng từ những thập niên 1910-1920.
Thế nhưng nhà văn trinh thám thành công nhất, viết truyện mà trở thành cự phú
là Phú Đức. Những tác phẩm tiêu biểu của ông có: Châu về Hiệp Phố (3
tập, nhà in Xưa Nay, SG, 1926, 1927, 1928); Lửa lòng (Tiếp theo Châu
về Hiệp Phố) (nhà in Xưa Nay, SG, 1928); Tiểu anh hùng Võ Kiết (Quảng
Nghĩa tùng thơ xuất bản, nhà in Tín Đức thư xã, SG, 1929); Một mặt hai
lòng (Nhà in Xưa Nay, SG, 1929); Non tình biển bạc, tiểu thuyết (tiếp
theo Một mặt hai lòng), (Nhà in Xưa Nay, SG, 1929); Chẳng vì tình (Quảng Nghĩa
tùng thơ, nhà in Thạch Thị Mậu, SG, 1929); Độc địa trăng già (tiếp
theo Chẳng vì tình) (đăng trên Công luận báo từ số 1305 (20.6.1929) – 1782
(24.5.1930); Tình trường huyết lệ (Nhà in Xưa Nay, SG, 1930); Một
thanh bửu kiếm (Nhà in Xưa Nay, SG, 1930); Kiêm biên bí mật (1931), Căn
nhà bí mật (tiểu thuyết, Imp. Nguyễn Văn Viết và Tín Đức thư xã, SG,
1931); Tổng đốc Hồ Cường (tiểu thuyết, SG, 1931); Tôi có tội (tiểu
thuyết, Tiểu thuyết Nam Kỳ từ tập 1 đến tập 13, 1935); Tiếng
súng đêm mưa (tiểu thuyết, chưa rõ nơi và năm xb); Bà chúa Đền vàng (tiểu
thuyết, không rõ nơi và năm xb)…
Cùng phong cách với Phú Đức có Nam Đình Nguyễn Thế Phương nhà
văn chuyên viết truyện vụ án. Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm có: bộ
ba tiểu thuyết liên hoàn: Bó hoa lài (Phạm Văn Thình xuất bản, SG,
1930) – Túy hoa đình (tiểu thuyết, nhà in Bảo Tồn, SG, 1930) – Chén
thuốc độc (Phạm Văn Thình xuất bản, SG, 1932); Vô oan trái (ái
tình tiểu thuyết, Nhà in J.Viết, 1931); Khép cửa phòng thu (tiểu thuyết,
Phạm Đình Khương xuất bản, SG, 1933); Lửa phiền cháy gan (Phạm Đình
Khương xuất bản, SG, 1934); Cô Ba Tràng (Nhà in Bảo Tồn, Sài Gòn,
1933); Khối tình (Tiểu thuyết, Phạm Đình Khương, SG, 1937); Vì một
mối thù (Nhà in Bảo tồn, SG, 1938); Tội của ai? (Tiểu thuyết, Phạm
Đình Khương xuất bản, SG, 1938) v.v. có thể kể thêm một nhà văn ít nổi tiếng
hơn là Phi Long (Ngọc Sơn) với bộ truyện trinh thám Thùng thơ bí mật (Nhà
in Xưa nay, SG, 1928).
4.3. Tiểu thuyết xã hội – đạo lý
Vào đầu thập niên 1930 có hàng loạt những nhà văn viết tiểu
thuyết đăng báo, sau đó được các nhà in ở Sài Gòn xuất bản. Truyện của họ không
dài, chừng 24 hoặc 36 trang, nếu dài thì có nhiều quyển, mỗi quyển cũng mong mỏng
như thế. Truyện thường viết về các đề tài xã hội: người giàu người nghèo, người
tân học kẻ hồn hậu quê mùa, thiện ác rõ ràng. Truyện có tình tiết éo le, người
nghèo bị bạc đãi, trải qua nhiều nghịch cảnh cuối cùng lại tìm được người thân,
gặp nhiều may mắn, cuộc sống giàu sang sung sướng. Nhiều người chạy theo lối sống
mới “Tây học”, bị phụ bạc, khinh khi, cuối cùng nhìn ra lỗi lầm, trở lại với
mái ấm gia đình, cha mẹ…Có thể kể ra đây hàng loạt các tên như thế: Nguyễn Bửu
Mọc, Huỳnh Quang Huê, Đào Thanh Phước, Gabriel Võ Lộ, Nguyễn Bá Thời, Cẩm Tâm,
Lê Mai, Elen Anh Hoa…Tiêu biểu nhất cho loại nhà văn này là Việt Đông với “Việt
Đông văn tập” ra hàng tuần: mỗi tuần một quyển sách bỏi túi loại “Sách hồng”
(Livre rose) 3 xu. Có lẽ Việt Đông văn tập muốn đối lại với nhóm Tiểu thuyết thứ
Năm, Tiểu thuyết thứ Bảy đang tràn ngập thị trường sách Sài Gòn như có lần ông
đã từng tâm sự.
Các nhà văn ấy tiếp tục một văn mạch Nam Kỳ từ giai đoạn trước
mà Hồ Biểu Chánh vừa là người mở đường, người dẫn đường lại vừa là người thành
công hơn cả. Tác phẩm của ông không tầm tầm như những người học theo ông vừa được
nhắc ở trên, mà có chất lượng cao hơn, chuyên nghiệp hơn, vượt qua được giới hạn
là văn hóa phẩm giải trí đơn thuần, có thể trường tồn trong lòng độc giả và có
tác dụng hướng đạo cho độc giả. Đứng ngay sau ông, vào những năm 1932-1945 có
hai nhà văn có tên tuổi là: Nguyễn Thới Xuyên với Người vợ hiền mà cả Phan Khôi
và Thiếu Sơn đều phải tấm tắc khen, sau nữa Phan Huấn Chương với Hòn máu bỏ rơi
được in đi in lại trên báo, được tái bản ở Sài Gòn, Hải Phòng và được Đuốc nhà
Nam trao giải thưởng.
Nói đến “văn Nam” thì phải nói đến nhóm nhà văn này, nhiều
khi in sai chính tả, dày đặc từ địa phương, phần nhiều chân chất, ngây thơ,
nhưng chính những tác phẩm ấy làm nên chất Nam Bộ không trộn lẫn đi đâu
được, cái chất ấy cũng là một phần của dân tộc và góp phần làm giàu thêm phẩm
chất Việt Nam.
Vào đầu thập niên 1940, trong cảnh suy tàn của văn chương và
báo chí do Thế chiến thứ Hai đang đi vào giai đoạn quyết liệt, lại xuất hiện một
gương mặt văn sĩ khá lạ với những tác phẩm “phỏng (sic) sự tiểu thuyết” viết về
những người dân quê Nam Bộ, đó là Phi Vân với tác phẩm Đồng quê. Đồng
quê xuất bản năm 1942 thì năm sau – 1943 được giải nhất cuộc thi văn
chương của Hội khuyến học Cần Thơ. Sau đó danh tiếng Phi Vân còn nổi như cồn với
hàng loạt tác phẩm viết về người dân quê Nam Bộ: Dân quê (1949), Tình
quê (1949), Cô gái quê (1950), Nhà quê trong khói lửa…Văn của
ông gọn, tươi mới, có tính chất hài hước nhẹ nhàng, vượt ra khỏi cái bóng “xã hội
– đạo lý” theo phong cách Hồ Biểu Chánh. Phi Vân sẽ mở ra một giai đoạn mới của
văn phong Nam Bộ, hiện đại hơn với những tác giả lớn sau ông: Thẩm Thệ
Hà, Dương Tử Giang, rồi Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam…Những nhà văn này sẽ trở thành
những nhà văn hàng đầu của văn học Nam Bộ sau 1945.
Tiểu thuyết Nam Bộ 1932-1945 là tấm gương phản ánh đời sống
Nam Bộ, từ những làng quê xa xôi, hẻo lánh bên cạnh những tắc, xẻo mới đào đến
những thị trấn nhộn nhịp ghe thuyền và nhất là Sài Gòn ồn ã và phồn hoa. Đó là
bộ bách khoa thư về đời sống, con người, văn hóa phong tục Nam Bộ trước 1945.
Tính chất hiện thực tươi rói, tính chất yêu nước, yêu thích đạo lý, tính chất
giải trí và bình dân là những đặc điểm nổi bật của tiểu tiểu thuyết Nam Bộ.
5. Lý luận phê bình văn học Nam Bộ 1932-1945
Đời sống phê bình văn học ở Nam Bộ phát triển khá mạnh trên
báo chí, nhưng ít có người hoạt động chuyên nghiệp. Nổi bật trong số các nhà lý
luận phê bình văn học Nam Bộ 1932-1945 là Thiếu Sơn, Phan Khôi, Trúc Hà, Kiều
Thanh Quế, Phan Văn Hùm và Ca Văn Thỉnh.
Người thành danh sớm nhất về phê bình văn học là Thiếu Sơn.
Thiếu Sơn sinh tại Hải Dương nhưng từ khi vào Gia Gia Định làm công chức sở Bưu
điện năm 1927, ông chủ yếu hoạt động văn nghệ ở Sài Gòn. Thiếu Sơn bắt đầu sự
nghiệp văn học của mình bằng các bài viết cho tạp chí Nam Phong tạp chí, sau đó
là các tờ Tiểu thuyết thứ Bảy, Đại Việt tạp chí, Nam Kỳ tuần báo… Cuốn sách nổi
tiếng nhất của ông là Phê bình và cảo luận (Nam Ký xuất bản, 1933).
Ông là người đã cùng với Hoài Thanh đứng về phía “Nghệ thuật vị nghệ thuật”
tranh luận với nhóm “Nghệ thuật vị nhân sinh” do Hải Triều đứng đầu.
Phan Khôi là nhà nghị luận chính trị, xã hội, văn hóa, học
thuật, nhưng riêng về văn chương ông cũng thuộc loại có tiếng tăm, trong đó tập Chương
Dân thi thoại (Nguyên danh “Nam âm thi thoại”, Huế, in lần 1, Đắc lập,
1936) là tập phê bình văn học tiêu biểu.
Trúc Hà, nhà văn Hà Tiên, thành danh với những bài lý luận
phê bình văn học trên Nam phong tạp chí trong khoảng thời gian từ 1927 đến
1933. Sau đó ông viết cho Phụ nữ tân văn (phê bình tiểu thuyết Tố Tâm), Sống (phê
bình sáng tác của Nguyễn Lan Sơn, Thế Lữ, Nhất Linh, Tự lực văn đoàn, Thơ mới…),
Nam Kỳ tuần báo (phê bình Xuân Thu nhã tập)… Ông có công lớn trong việc giới
thiệu và phê bình các sáng tác xuất bản ở Hà Nội cho độc giả Nam Bộ.
Kiều Thanh Quế là nhà phê bình viết khỏe nhất, chuyên nghiệp
nhất ở Nam Bộ. Chưa có ai trong văn học Nam Bộ thời ấy viết nhiều với một diện
quan tâm rộng như ông. Các tác phẩm nghiên cứu lý luận phê bình tiêu biểu nhất
của ông có: Phê bình văn học (NXB. Tân Việt, Hà Nội, 1942), Ba
mươi năm văn học (bút danh Mộc Khuê, NXB. Tân Việt, Hà Nội, 1942); Một
ngày của Tolstoi (Tủ sách Gió tây, Tân Việt, Hà Nội, 1942), Cuộc tiến
hóa văn học Việt Nam (NXB. Đời Mới, Hà Nội, 1943), Đàn bà và nhà văn (NXB.
Tân Việt, Hà Nội, 1943), Thi hào Tagore (bút danh Nguyễn Văn Hai,
NXB. Tân Việt, Hà Nội, 1943), Học thuyết Frued (bút danh Tô Kiều
Phương, NXB. Tân Việt, Hà Nội, 1943), Cuộc vận động cứu nước trong Việt
Nam vong quốc sử (1945), Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa tả thiệt xã hội (1945)…
Phan Văn Hùm và Ca Văn Thỉnh xuất hiện vào cuối thập niên
1930 đầu thập niên 1940, đóng góp của hai ông chủ yếu trên phương diện nghiên cứu
văn học cổ Nam Bộ.
Phan Văn Hùm nổi bật nhất ở những công trình nghiên cứu về
Nguyễn Đình Chiểu: Nỗi lòng Đồ Chiểu (Tân Việt xb, 1938); Ngư tiều
y thuật vấn đáp (Tân Việt xb, 1953); Dương Từ Hà Mậu (Tân Việt
xb, 1964). Bên cạnh đó là những công trình nghiên cứu triết học: Phật giáo
triết học (Tân Việt xb, Hà Nội, 1942); Vương Dương Minh: Thân thế và
học thuyết (Tân Việt xuất bản, Hà Nội, 1944) và một tập ký nổi tiếng: Ngồi
tù khám lớn (Bảo Tồn xuất bản, in lần thứ nhất, Sài Gòn, 1929).
Ca Văn Thỉnh chú tâm nhiều nhất vào việc nghiên cứu “Khổng học
ở đất Đồng Nai” – như tên gọi một bài nghiên cứu rất có giá trị của ông trên Đại
Việt tập chí số 22 và 23 năm 1943. Những bài giới thiệu và dịch thuật làm nên
tên tuổi của ông (Ngạc Xuyên/ Ca Văn Thỉnh) như một nhà nghiên cứu văn học Nam
Bộ trước 1945 là: Nguyễn Thông (Đại Việt tập chí, số 3, 1942), Luận về núi (của
Nguyễn Thông, Đại Việt tập chí, số 3, 1942), Câu chuyện yểm quỹ (của
Nguyễn Thông, Đại Việt tập chí, 1942), Minh bột di ngư – Một quyển
sách hai thi xã (Đại Việt tập chí, số 12, 1943), Bài diễn văn trong
buổi lễ Kỉ niệm Nguyễn Đình Chiểu (đọc 27.6.1943 tại Ba Tri, Bến Tre, Đại
Việt tập chí, số 19, 1943), Khổng học ở đất Đồng Nai (Đại Việt tập
chí, số 22 và 23, 1943), Nguyễn Văn Thoại với sự đào Thoại hà và kinh Vĩnh Tế
(Đại Việt tập chí, số 28, 1943), Tiểu sử Nguyễn Văn Thoại (Đại Việt tập chí, số
29, 1943).
Hồ Biểu Chánh từ thập niên 1940 trở đi có khuynh hướng làm học
giả hơn là văn gia. Mặc dù Đại Việt tập chí của ông khá tai tiếng vì nhận tiền
trợ cấp của chính quyền nhưng do ông cũng quy tụ được nhiều cây bút tên tuổi và
tích cực như Thượng Tân Thị, Trúc Hà, Ca Văn Thỉnh, Phan Văn Hùm, Trương Vĩnh Tống…nên
tạp chí của ông cũng có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu về Nam Kỳ mà các
nhà nghiên cứu về sau không một ai phủ nhận.
6. Văn học yêu nước cách mạng Nam Bộ 1932-1945
Sẽ là thiếu sót rất lớn nếu không điểm qua bộ phận văn học
này. Do tính mục đích nổi trội nên cần phải phân ra thành một khuynh hướng văn
học riêng. Nói đến thơ văn yêu nước cách mạng là nói đến loại văn chương tranh
đấu mạnh mẽ đòi lật đổ sự thống trị của thực dân Pháp. Nếu tính từ đầu thế kỷ
XX ở Nam Bộ có 3 nhóm nhà văn yêu nước cách mạng tiêu biểu :
– Nhóm các chí sĩ trong phong trào Minh tân Nam Bộ
– Nhóm yêu nước cách mạng có khuynh hướng dân chủ và cánh tả
– Nhóm yêu nước cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương.
Nhóm các chí sĩ Minh tân Nam Bộ đã làm ra cuộc vận động cách
mạng rầm rộ mở đầu TK.XX với các gương mặt trí thức hết sức đáng kính: Nguyễn
Thần Hiến, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản, Nguyễn An Cư, Đặng Thúc Liêng,
Nguyễn Háo Vĩnh, và ở mức độ ít quyết liệt hơn là: Thượng Tân Thị, Sương Nguyệt
Anh, Lương Khắc Ninh, Nguyễn Chánh Sắt…Thực chất đấy là phong trào duy tân
nhưng người Nam Bộ gọi nó là Minh tân có lẽ là để tránh sự đàn áp của thực dân
Pháp. Nhóm văn thi sĩ này sẽ được nói đến nhiều hơn trong các công trình về văn
học Nam Bộ trước 1932.
Nhóm yêu nước cách mạng có khuynh hướng dân chủ tư sản và
cánh tả xuất hiện từ thập niên hai mươi kéo dài cho đến trước 1945 với các
gương mặt nổi bật: Nguyễn Quang Diêu, Cao Hải Để, Bửu Đình, Nguyễn Văn
Vinh và mạnh mẽ nhất là Trần Hữu Độ, Nguyễn An Ninh và Nam Kiều Trần Huy Liệu.
Trần Hữu Độ nổi tiếng với các cuốn sách yêu nước, tiến bộ,
phê phán sự thống trị của thực dân Pháp như: Cây dù gãy của nước Việt
Nam (Nhà in Xưa Nay, 1925), Tiếng chuông truy hồn (Nhà in Xưa
Nay, Sài Gòn, 1925), Tờ cớ mất quyền tự do (Réveil Saigonnais xuất bản,
1926), Hồi trống tự do (Nhà in Xưa Nay, Sài Gòn, 1926)… Trong đó cuốn Hồi
trống tự do được Trường Chinh nhắc đến một cách trang trọng trong báo cáo
Chủ nghĩa Mác và văn hóa VN tại Hội nghị văn hóa toàn quốc 1947. Sau đó Trần Hữu
Độ tham gia phong trào Đông Dương đại hội, bị bắt và bị kết án tù. Các tác phẩm
trong giai đoạn này chủ yếu là giới thiệu về chủ nghĩa Mác như: Biện chứng
pháp (1936), Mười một công thức của Karl Marx làm cơ sở duy vật sử
quan (1936), Đế quốc chủ nghĩa (1937)…
Nguyễn An Ninh, con trai của cụ Nguyễn An Khương – dịch giả
“truyện Tàu” và là lãnh tụ của phong trào Minh tân Nam Kỳ. Nguyễn An Ninh du học
ở Pháp trở về, nổi tiếng với bài diễn thuyết diễn thuyết “Thanh niên cao vọng”
tại Hội khuyến học Nam Kỳ, sau đó ông lập ra tờ báo yêu nước là La Cloche fèlée
(Chuông rè). Tác phẩm có Dân ước (dịch Contrat Social/ Khế ước xã hội của
Rousseaux, 1923), tuồng Trưng Nữ Vương (1928), Triết học Niezsche…
Trần Huy Liệu quê ở Nam Định, nhưng vào Sài Gòn từ năm 1924
hoạt động rất mạnh trong làng báo, làng văn Sài Gòn. Trước khi tiếp thu chủ
nghĩa Cộng sản, ông là nhà văn nhà báo yêu nước tiến bộ. Ông cộng tác với tờ
Nông cổ mín đàm, Rạng Đông, rồi làm chủ bút tờ Đông Pháp thời báo. Ông dịch và
viết nhiều sách về các tấm gương yêu nước, chủ yếu xuất bản ở Cường học thư xã
do ông chủ trương.
Sau thế hệ chuyển tiếp ấy là Nhóm yêu nước cách mạng dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Thế hệ này ngay từ đầu đã tham gia cách
mạng dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Đông Dương, đó là: Nguyễn Văn Nguyễn,
Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo…
Nguyễn Văn Nguyễn quê Mỹ Tho, học trường sư phạm ở Sài Gòn. Tại
đây, ông háo hức tìm đến tư tưởng xã hội chủ nghĩa qua sách báo cách mạng và
các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc. Năm 1925, ông đi đầu trong phong trào học sinh
Sài Gòn chống đế quốc nên bị đuổi học. Ông xin việc ở Công ty xe lửa Đông
Dương, gia nhập tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Khi Đảng Cộng
sản Việt Nam thành lập, ông là đảng viên lớp đầu tiên. Năm 1932, ông nhận án
đày ra Côn Đảo. Ở đó ông tham gia thành lập chi bộ nhà tù Côn Lôn.
Năm 1930 ở Sài Gòn có một nhóm trí thức trẻ (19 người) du học
ở Pháp bị chính quyền Pháp trục xuất về nước vì hoạt động chính trị và biểu
tình tại Pháp. Trong số 19 người ấy có một số tên tuổi quen thuộc: Tạ Thu Thâu,
Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Phan Văn Chánh, Lê Bá Cang…(2). Các trí thức yêu
nước cánh tả này phân hóa thành hai phái:
Phái Đệ Tam Quốc tế có: Trần Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Trần
Văn Giàu…
Phái Đệ tứ Quốc tế : Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường,
Trần Văn Thạch…
Họ hoạt động rất tích cực xung quanh tờ báo La Lutte (Tranh đấu)
và tờ Đồng Nai. Đóng góp chủ yếu của họ là về lĩnh vực học thuật, tư tưởng, và
mạnh nhất là ở giai đoạn sau 1945.
Kết luận:
Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối 1932-1945 là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc. Trước năm 1932 bộ phận văn học này hình thành và phát triển khá tách biệt, nhưng do những cố gắng không ngừng của nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình mà dần dần văn học Nam Bộ hòa nhịp chung với sự phát triển của văn học dân tộc. Bên cạnh những tính chất và bước đi chung với văn học toàn quốc, do hoàn cảnh lịch sử xã hội và truyền thống văn học trước đó mà văn học Nam Bộ 1932-1945 vẫn có những đặc điểm, những sắc thái riêng rất cần được nghiên cứu. Hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về tác giả, tác phẩm, các trào lưu và sự vận động chung của cả bộ phận văn học này, để cho văn học Nam Bộ có vị trí xứng đáng hơn trong các tổng tập, các giáo trình lịch sử văn học Việt Nam.
Chú thích:
1. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQG – trọng điểm: Khảo
sát, đánh giá, bảo tồn văn học Nam Bộ 1930-1945, chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Đoàn
Lê Giang, Mã số: B2008-08b-01TĐ, thời gian thực hiện: 2008-2010, nghiệm thu
tháng 9.2011. Mốc 1930 là để chỉ bắt đầu thập niên 1930 chứ không nhằm vào một
sự kiện văn học cụ thể nào. Trong bài viết này chúng tôi vẫn dùng cách phân
chia 1932-1945 như đã thống nhất trong nhiều công trình nghiên cứu hiện nay, mặc
dù trong thực tế vẫn phải đề cập ít nhiều đến những tác phẩm được xuất bản trước
đó một vài năm để cho thấy sự phát triển liên tục.
2. Phụ nữ tân văn số 59
TP.HCM, 28/5/2011
Đoàn Lê Giang
Theo https://vanvn.vn/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét