Einstein đời sống và tư tưởng
Vài lời thưa trước
Cuốn Einstein của cụ Nguyễn Hiến Lê là một trong
các tác phẩm mà tôi đã có ý định thực hiện eBook từ mấy năm nay, sau khi nhận
được bức chân dung Einstein do một người bạn học, bạn Lương Văn Sơn, vẽ bằng
bút chì từ ngày 19/10/1974, một trong mấy ngày bạn ấy đói meo trên một căn gác
trọ ọp ẹp – tôi quên tên đường - gần trường Đại học Khoa học Sài Gòn. Cuối
tháng 6 năm 2010, trong lúc nằm bệnh viện Chợ Rẩy, tôi được bạn Sơn cho hay là
đang tập Một cái nhìn mới về thế giới tự nhiên”, xét lại thuyết tương đối
hẹp của Einstein, nên tôi mò ra đường Trần Nhân Tôn để tìm cuốn Einstein của
cụ Nguyễn Hiến Lê, nhưng chỉ mua được cuốn Einstein của Nguyễn Xuân
Sanh (ngày 02/07/2010).
Lương Văn Sơn (Cần Thơ) vẽ tại Sài Gòn ngày 19/10/1974
Gần đây bạn Ca_kiem cho tôi hay là trong Tuyển Tập Nguyễn
Hiến Lê (Tập II: Sử học) của Nxb Văn học, năm 2006 có Phần I: Eintein
– Đời sống và tư tưởng (“in theo bản NXB Lửa Thiêng, 1972 Sài Gòn”) và gởi
cho tôi bản scan. Trong thời gian thực hiện eBook này, tôi thường xem lại cuốn Einstein của
Nguyễn Xuân Sanh để, nếu thấy cần, trích đôi dòng cho vào chú thích.
Nhà xuất bản Lửa Thiêng, năm 1972
(Nguồn: Sachxua.net)
Goldfish
Ngày 23/04/2012
MỘT BỘ ÓC LẠ LÙNG VÀ MỘT TÂM HỒN ĐÁNG QUÍ
Năm 1952 hay 1953, đại sứ Ấn Độ ở Hoa Kì là Mehta, lại thăm
Einstein để thay mặt chính phủ Ấn mời Einstein qua Ấn dự một hội nghị khoa học.
Einstein vừa già vừa yếu, từ chối rồi nói thêm:
- Tôi thực ân hận vì tôi rất quí mến Ấn Độ và thủ tướng
Nehru.
Khi Mehta nói về các vĩ nhân hiện đại, so sánh Eisntein với
Gandhi, Einstein nhỏ nhẹ bảo:
- Ông ạ, xin ông đừng so sánh tôi với Gandhi. Gandhi đã giúp
cho nhân loại được biết bao. Còn tôi, tôi đã làm được gì đâu? Tìm ra được vài
công thức khoa học, cái đó có gì là phi thường.
Lời đó không phải là một lời xã giao, Einstein quả thực đã
nhiều lần ngạc nhiên rằng sao thiên hạ khen mình quá mức khiến ông phải ngượng
và cũng đã nhiều lần tỏ ý ngưỡng mộ Gandhi.
Nhưng hầu khắp thế giới đều cho Einstein và Gandhi là những
vĩ nhân làm vẻ vang nhất cho nhân loại ở thế kỉ XX này.
Chúng ta phục nhất bộ óc lạ lùng của Einstein đã tìm ra được
điểm cốt yếu trong cái trật tự thâm áo của vũ trụ[1] mà chúng ta cũng phục cái tâm của
ông nữa; lí tưởng nhân bản tự do, hoà bình, hợp tác quốc tế mà ông bênh vực,
làm cho một nhà báo đã bảo: đức độ của ông còn rực rỡ hơn thiên tài của ông.
Hầu hết các nhà bác học chân chính đều có một cá tính đẹp,
nhưng tôi chưa thấy ai bằng Einstein.
Chưa chắc nhiều độc giả đã thấy chân dung ông. Rất dễ nhận,
chỉ coi một lần là nhớ: mớ tóc bạc phơ, bù xù như bờm sư tử, vầng trán rộng,
cao, nét mặt cân đối, cặp mắt tinh anh, lúc nào cũng như mơ mộng, suy tư; nhất
là cái vẻ phúc hậu, hiền từ, rất dễ thương của ông toả ra một cách hồn nhiên,
không có một chút gì là cố ý làm vui lòng người khác, mà đối với ai cũng vậy,
không phân biệt gì cả. Tâm hồn ông lúc nào cũng quân bình, vui vẻ.
Nhưng lạ lùng thay, mặc dầu rất nhã nhặn, ân cần với mọi người,
trừ với những kẻ tàn bạo, tự cao, tự đại, ông rất ngại giao du quá thân mật với
người khác, thành thử có vẻ cô độc trong đám đồng nghiệp, bạn bè, sinh viên,
ngay cả trong gia đình ông nữa. Chính ông tự nhận xét ông như vầy:
“Tôi say mê theo lí tưởng công bằng và trách nhiệm đối với xã
hội (…) nhưng hiển nhiên là tôi không thích trực tiếp hợp tác với người khác,
đàn ông và đàn bà. Tôi là con ngựa chỉ quen với một cỗ yên cương, không chịu buộc
chung với một con ngựa nào khác. Tôi không khi nào hết lòng tuỳ thuộc các bạn
bè, ngay cả gia đình của tôi nữa. Những liên hệ đó luôn luôn lơi dần ra và tuổi
càng cao, tôi càng muốn rút vào cái vỏ của tôi”.
Ông bảo ông có thái độ đó vì ông muốn thoát li các tục lệ,
thành kiến của người khác, muốn được hoàn toàn là mình. Có lẽ cũng do ông không
quan tâm một chút nào tới những cái nhỏ nhen, lặt vặt trong đời sống, để tư tưởng
vượt lên được tới những tầng cao nhất. Vẫn nhập thế, hăng hái bàn về các vấn đề
khoa học và xã hội, mà vẫn như xuất thế, xuất thế một cách bản nhiên, do thiên
tính, chứ không gò bó, cầu kì như một số triết gia, đó là điểm đặc biệt nhất
trong tâm hồn ông.
[1] Lời của nhà bác học
Oppenheimer.
ĐỜI HỌC SINH
Albert Einstein sanh trong một gia đình Do Thái (nhưng không
theo đạo Do Thái) ở Ulm (Đức) ngày 14 tháng 3 – 1879. Cha là Hermann làm chủ một
xưởng nhỏ chế đồ điện, vui tính, chẳng có gì là một nhà khoa học cả, chủ nhật
thường dắt vợ con ra ngoại ô Munich dạo mát ở chân núi, bờ hồ, kiếm một quán để
đánh chén. Mẹ là Pauline Koch, hiền lương, thích chơi đờn piano mỗi khi rảnh
công việc nhà.
Albert bẩm sinh từ tốn, bình tĩnh, không ưa các trò chơi hung
hăng của các trẻ khác mà thích cùng với em gái là cô Maja[2] chơi chim và bọ rầy ở sân cỏ. Một lần
cha cậu dắt cậu đi chơi, gặp một đoàn quân đi qua thành phố, kèn trống inh ỏi,
theo sau là một bầy con nít hò la nhảy nhót, cậu sợ quá, nắm tay cha, khóc lóc
năn nỉ cha đưa về nhà, không chịu nổi tiếng ồn đó.
Ba tuổi mới biết nói, sáu tuổi vô một trường công giáo vì
không có trường Do Thái nào ở gần. Học không giỏi. Điểm rất tầm thường, mà chẳng
có ý ganh đua để đứng đầu lớp. Thậm chí bà mẹ đã lo ngại phàn nàn với một người
bạn thân: “Tôi không biết sau này cháu Albert sẽ làm cái nghề gì, học hành kém
quá”.
Được cái là tính tình rất ngoan: thích môn Thánh sử lắm, thuộc
làu làu đời chúa Ki Tô và các truyện trong Kinh Thánh, không hề phân biệt
đạo Ki Tô và đạo Do Thái. Triệt để không nói dối, ghê tởm sự nói dối, cho nên
nhiều khi suy nghĩ lâu rồi mới trả lời làm cho người ta tưởng rằng cậu chậm chạp.
Bạn học mỉa mai cậu, gọi là Biedermier có nghĩa là gần gần như là “thằng
bé thật thà như đếm”.
Mười tuổi cậu vô trường trung học Luitpold[3] ở Munich cũng chẳng xuất sắc chút
nào cả. Cậu không ưa kỉ luật nghiêm khắc của trường; sau này nhớ lại các ông thầy
cũ, bảo các giáo viên có vẻ như các “thầy đội”, còn các giáo sư thì không khác
gì các ông “trung uý” độc tài, tàn nhẫn với người dưới mà khúm núm với người
trên. Cậu thêm oán[4] cái lối bắt học thuộc lòng niên đại
và chi tiết về các biến cố lịch sử. Sau này khi đã nổi danh, Einstein mạt sát lối
học đó: “Cần gì phải nhớ mỗi giây ánh sáng đi được bao nhiêu cây số. Mở tự điển
ra mà tra. Dạy học là tập cho trẻ em suy nghĩ chứ không phải nhồi cho chúng nhớ
thật nhiều”.
Và cậu thích suy nghĩ, thường hỏi giáo sư: “Tại sao vậy? Cách
nào vậy?” Khi giáo sư hỏi, cậu chậm chạp cân nhắc rồi mới đáp, làm cho nhiều
ông bực mình. Vẻ mặt cậu lúc nào cũng như mơ mộng. Cậu tự hỏi những câu, chẳng
hạn như: “Nếu có thể nhốt được tia sáng thì sẽ ra sao nhỉ?”
Như mọi nhà bác học khác, ngay từ thuở nhỏ, Einstein đã ham đọc
sách, nhất là loại phổ thông khoa học, để hiểu những bí mật của vũ trụ, rồi tới
tác phẩm của Schiller và Goethe.
Mười hai tuổi, Albert bắt đầu mê môn hình học, có khiếu lạ
lùng về toán, cả ngày chỉ lúi húi làm toán, lúc nào muốn nghỉ thì chơi vĩ cầm,
vì đã được mẹ dạy cho từ hồi nhỏ. Cậu thích những bản du dương, vui tươi của
Mozart, sau này thích thêm Bach nữa, bảo hễ nghe Bach thì chỉ nên làm thinh mà
ngưỡng mộ thôi, chứ không nên thốt một lời nào cả, và có lần thấy một thanh
niên không thưởng thức nổi Bách giữa một buổi hoà tấu, trong một buổi tiếp tân
quan trọng, Einstein bất chấp phép xã giao, dắt thanh niên đó qua phòng khác,
quay các dĩa hát để hướng dẫn chàng ta hiểu nhạc, làm cho bà chủ nhà hơi phật
ý. Einstein đờn không hay, nhưng có thể thuộc vào hạng tài tử khá.
*
Năm Albert mười lăm tuổi, công việc làm ăn của cha sa sút,
gia đình phải qua Milan (Ý), để cậu lại Munich một mình học cho hết chương
trình Trung học.
Cậu ở trọ một nhà nọ, buồn bã, chán nản, thấy mình cô độc, Vừa
ghét kỉ luật nhà trường, vừa nhớ gia đình, cậu muốn đau, bỏ học, chỉ ngong
ngóng mong thư từ bên Ý qua, thành thử sự học sút hẳn.
Một hôm, ông hiệu trưởng kêu cậu vô phòng giấy bảo:
- Trò nên kiếm một trường khác mà học.
Cậu hỏi:
- Con có lỗi nào đâu?
- Trò có vẻ không thích học, không tin cách dạy ở đây… với lại
trò làm trái kỉ luật của lớp học.
Albert thấy lời buộc tội đó bất công, muốn phản kháng, nhưng
nghĩ lại, thấy cơ hội đó rất tốt để được qua Ý, cậu lặng lẽ cắp sách ra về[5].
Qua Milan ở với cha mẹ và em gái, cậu thích nền trời sáng sủa
của Ý, thích bóng rợp của cây cối bên đường, thích tiếng đờn, tiếng ca của nông
dân trên cánh đồng Ý, thích các giáo đường, lâu đài, viện tàng cổ Ý.
Nhưng công việc làm ăn của cha ở Milan còn tệ hơn ở Munich,
gia đình lại dời một lần nữa qua Pavie. Rồi một hôm cha cậu bảo cậu: “Công việc
của ba lúc này xuống quá rồi, ba không thể nuôi con ăn học được nữa đâu”.
Cậu đã tính bỏ học, kiếm một việc gì giúp nhà, may được mấy
người anh họ tình nguyện giúp đỡ, miễn là chịu sống cực khổ một chút. Cậu bèn
xin phép cha qua Thuỵ Sĩ[6], thi vào trường Bách khoa Polytechnicum ở
Zurich. Thi rớt vì kém môn vạn vật học và ngoại ngữ, nhưng được viên viện trưởng
an ủi:
- Bài toán và bài vật lý của cậu xuất sắc lắm. Cậu nên học lại
các môn kém ở một trường trung học nào đó. Cậu mới mười sáu tuổi đầu mà vội gì.
Tôi giới thiệu cho cậu trường Aarau, cách đây năm chục cây số. Lại đó học môn vạn
vật và ngoại ngữ đi. Cậu có tương lai về hai môn toán và vật lí.
Không khí ở Aarau rất dễ chịu: kỉ luật không nghiêm khắc như ở
Munich, tình thầy trò, bạn bè lại thân mật. Học hết năm, Albert được vô trường Polytechnicum khỏi
phải thi, cậu lựa ngành giáo sư, chứ không phải kĩ sư như thân phụ muốn, chuyên
về vật lí và toán.
Hồi đó cậu đã bỏ quốc tịch Đức, thích tinh thần của Zurich.
Muốn nhập quốc tịch Thuỵ Sĩ theo luật, phải sống trong nước bốn năm và đóng một
số tiền. Cậu nhịn ăn, nhịn tiêu, để dành một
phần tư số tiền của người anh họ chu cấp cho mỗi tháng, để nộp lệ phí đó.
[2] Sách in là: Maya. (Goldfish).
[3] Sách in là: Lnitpold.
(Goldfish).
[4] Có lẽ là “thâm oán” bị in sai
mà thành “thêm oán”. (Goldfish).
[5] Nguyễn Xuân Sanh trong cuốn Einstein (Nxb
Tổng hợp TP. HCM, 2007) bảo: “Albert không phải học tồi như huyền thoại
lưu truyền. Theo nguyện vọng, thầy giáo dạy toán của ông xác nhận rằng ông có đủ
kiến thức trong môn toán đến tú tài và nói chung là một “nhà toán học xuất sắc”.
Trong môn tiếng Latinh và Hy Lạp điểm ông là một và hai, theo hệ thống điểm của
Đức là ưu và bình. Chỉ các môn lịch sử phải học thuộc lòng là ông kém mà sau
này ông phải học lại tại Thuỵ Sĩ”. (trang 27). (Godfish).
[6] Vì ở Thuỵ Sĩ có trường dạy bằng
tiếng Đức, ở Ý không có.
LỰA CON ĐƯỜNG PHÁT MINH VÀ NỔI DANH
Năm 1900, cha mất. Cũng năm đó, Albert ra trường được xếp ưu
hạng về hai môn toán và vật lí. Cậu viết trong nhật kí: “Về khoa học, tôi có
nhiều ý hay lắm, nhưng phải đợi một thời gian ấp ủ lâu rồi mới đưa ra được”. Cậu
đã dám chê Newton là đưa ra nhiều luật mà chẳng chứng minh gì cả. Chẳng hạn
Newton bảo sức hấp dẫn trong vũ trụ có tác dụng ở xa và tức thời, điều đó khó
mà hiểu được. Rồi ông lại cho rằng trong không gian có chất ê-te. Toàn là giả
thuyết dựng đứng lên thôi, chưa thể chấp nhận được.
Mặc dầu đậu cao, Albert xin việc ở đâu cũng bị từ chối. Ngày
nào cũng đọc mục “Cần người” trên các báo, rồi cũng chạy đi hỏi han và nộp đơn
nhưng ngày tháng cứ qua mà số tiền trong túi cứ giảm dần, quần áo đã sờn và sắp
rách. Có cái gì không êm đây? Tại sao các bạn học tầm thường, đậu thấp lại có
việc ngay và kiếm được những chỗ tốt?
Đúng khi cậu thất vọng thì một trường kĩ thuật ở Winterthur
cho cậu một chỗ dạy tạm. Học sinh đã bướng bỉnh lại làm biếng, chỉ thích chơi bời,
tán gái, nhưng Einstein vừa khoan vừa nghiêm, giảng rất dễ hiểu, nên luôn luôn
được chúng trọng. Ít tháng sau chàng dạy tại một trường tư, học trò rất tấn tới,
viên chủ trường thấy ngại, bảo chàng:
- Tôi muốn các giáo sư của tôi theo lối dạy của tôi; thầy có
lối dạy khác, nên tôi không thể mướn thầy được nữa.
Thế là chàng lại trở về Munich, vừa đúng lúc được giấy nhập
quốc tịch Thuỵ Sĩ, hy vọng rằng từ nay xin việc sẽ dễ dàng, nhưng sự thật,
chàng vẫn chỉ là người Thuỵ Sĩ trên giấy tờ, nên vẫn thất nghiệp.
Mãi đến mùa thu năm 1902, nhờ một người bạn giới thiệu, chàng
mới được vô làm phòng Phát minh chấp chiếu ở Berne. Công việc của
chàng là xét các phát minh người ta gởi tới xem có giá trị không, có phải là
sáng kiến không, hay chỉ là cóp một phát minh có từ trước để phát tờ chấp chiếu
cho người ta.
Albert Einstein và Mileva Maric
Einstein hơi thích công việc đó, xét đoán mau và sáng suốt,
được cấp trên mến. Có việc làm chắc chắn, chàng cưới cô Mileva[7], gốc Serbe, bạn học cũng ở trường Polytechnicum và
hai vợ chồng mướn một phòng nhỏ tồi tàn sống một cách cực khổ nhưng vui: vợ lo
việc nhà và những lúc rảnh hăng hái bàn về vật lí với chồng.
Hồi này Einstein đưa ra một thuyết về các photon tựa
như “hạt” ánh sáng đăng trên tờ Niên giám Vật lí. Nhiều người nổi lên công
kích nhưng chàng tự tín, nói với vợ:
- Kẻ nào lựa con đường phát minh thì phải chịu cảnh cô độc
trên đường.
Ít lâu sau chàng lại đưa ra một thuyết nữa: thuyết “vận
chuyển Brownnich của các phân tử” mà chàng chứng minh bằng toán học. Nhờ
thuyết đó chàng được đại học Zunich cấp cho bằng tiến sĩ và giới khoa học Thuỵ
Sĩ bắt đầu để ý tới tên Einstein.
Năm 1905, Einstein lại chứng minh cũng bằng toán học rằng tốc
độ ánh sáng trong khoảng chân không là bằng một hằng số duy nhất trong vũ trụ:
không một năng lực nào có thể làm cho nó tăng hoặc giảm được, nó luôn luôn vào
khoảng 300.000 cây số/giây. (300.000km/giây).
Cũng năm đó, ông đưa ra “thuyết tương đối hẹp” (théorie
de la relativité restreinte).
Ông bảo chuyển động đều (mouvement uniforme) nào cũng là chuyển
động của một vật này tương đối với một vật khác. Ví dụ đứng trên một toa xe lửa
đương chạy nhìn một chiếc xe hơi chạy dưới đường, nếu xe hơi chạy cùng chiều với
xe lửa thì ta thấy nó chạy chậm, nếu nó chạy ngược chiều với xe lửa thì thấy nó
chạy nhanh. Mà nếu toa xe đóng kín mít các cửa, tồi om om thì ta có cảm tưởng rằng
xe lửa không chạy[8].
Vậy thuyết của ông chỉ mới xét riêng về các chuyển động đều,
nên ông gọi nó là “thuyết tương đối hẹp”. Thuyết đó giảng được vài cái mâu thuẫn
trong môn vật lí thời đó, nên một số nhà bác học rất phục ông. Như Witkowski,
người Ba Lan, gọi ông là “một Copernic nữa mới ra đời!”; Max Plank, người
Đức, khen ông là can đảm và độc đáo.
Năm đó Einstein mới hai mươi sáu tuổi![9]
[7] Sách in là: Milena. (Goldfish).
[8] Dĩ nhiên thuyết đó không phải
chỉ giản dị như vậy. Muốn trình bày cho đủ thì phải là một nhà toán học, mà
không phải ai cũng hiểu được.
[9] Nguyễn Xuân Sanh viết về ba
thuyết trên như sau: “(1) bản chất của chuyển động Brown trong chất lỏng, bằng
cách sử dụng xác suất như một phương pháp nghiên cứu mới trong vật lý, góp phần
đặt cơ sở cho ngành cơ học thống kê (độc lập với Gibbs), và giải thích được sự
hiện hữu của nguyên tử, lúc bấy giờ còn bị nghi ngờ rộng rãi; (2) giả thuyết
“lượng tử ánh sáng”, rằng ánh sáng được cấu tạo bằng hạt được gọi là photon với
những “gói năng lượng lượng tử” rời rạc, chỉ được phát huy hay hấp thu trọn
gói; một trong những áp dụng của giả thuyết lượng tử ánh sáng là giải thích được
hiện tượng quang điện khó hiểu lúc bấy giờ (năm 1921 ông được giải Nobel về
công trình này); và (3) “Về động lực học các vật thể chuyển động”, tức thuyết
tương đối hẹp (special relativity theory)”. (Sđd, trang 50). (Goldfish).
E = MC2 VÀ NGUYÊN TỬ LỰC
Nhưng độc đáo nhất là ý nầy: từ trước các nhà vật lí học đều
cho năng lượng (énergie) và khối lượng (masse) là hai cái khác hẳn nhau;
Einstein không tin như vậy, thấy tốc độ của électron tăng thì năng lượng của nó
cũng tăng theo, ngỡ rằng năng lượng và khối lượng chỉ là một. Ông suy nghĩ,
dùng toán học mà tìm ra được công thức lạ lùng này:
E = mc2
Nghĩa là năng lượng E bằng khối lượng m nhân với vận tốc c, rồi
lại nhân với tốc độ nữa. Chẳng hạn khối lượng một gram vật chất chứa một năng
lượng (tính theo erg) bằng bình phương của tốc độ ánh sáng (tính theo cm). Như
vậy một kí lô vật chất nếu đổi ra thành năng lượng thì sẽ thành 25 ngàn triệu
kw giờ, nghĩa là bằng tổng số năng lượng mà kĩ nghệ điện sản xuất ở Hoa Kì
trong hai tháng (năm 1939), trong khi một kí lô than đốt lên chỉ cho ta được có
8,5kw giờ thôi.
Công thức E = mc2 làm xao động giới khoa học trên thế giới.
Nó cho họ thấy năng lượng vĩ đại nằm trong cái nhân của nguyên tử, và sau này,
khi chế tạo được bom nguyên tử, người ta mới thấy công thức đó đúng.
Nó lại giảng được tại sao mặt trời phát sinh ra ánh sáng và sức
nóng cả bao nhiêu tỉ năm nay mà không nguội đi, tắt đi. Nếu mặt trời là than
hay dầu lửa thì tất đã tắt ngúm từ lâu rồi. Sở dĩ còn cháy được là nhờ những phản
ứng hạch tâm tạo nên những năng lượng theo công thức E = mc2. Ta thử tưởng tượng
chỉ một kí lô vật chất tạo được 25 triệu kw giờ năng lượng thì khối lượng lớn
lao vô cùng của mặt trời kia tạo được biết bao nhiêu năng lượng.
Nhờ những phát minh đó, Einstein được mời làm privat-dozent (tựa
như giảng viên)[10] ở đại học Berne. Ông không được
lãnh lương nhất định, chỉ nhận được tiền đóng góp của sinh viên, như vậy nếu
sinh viên ít thì ông sẽ đói; hơn nữa, ông lại bị các giáo sư Zurich kiểm soát,
nếu họ bằng lòng lối dạy của ông thì họ mới đề nghị cho ông làm giáo sư ở
Zurich.
Bà Mileva muốn ngăn ông, nhưng ông nhận lời, và trong khi dạy
thử, ông vẫn làm ở phòng Phát minh chấp chiếu.
Buổi đầu, chỉ có hai sinh viên lại nghe ông giảng mà cả hai đều
là bạn thân của ông, muốn nâng đỡ ông. Ông phải rán trình bày thuyết của ông
sao cho vừa với trình độ của họ; và lần lần số sinh viên tăng lên. Rồi một hôm,
ông thấy trong đám thính giả có giáo sư Kleiner ở đại học Zurich, ông hoá ra
lúng túng.
Cuối giờ, Kleiner, bằng một giọng nghiêm khắc, bảo ông:
- Bài giảng của ông hôm nay coi bộ không hợp với trình độ
sinh viên. Nếu ông dạy không có kết quả hơn thì tôi khó giới thiệu ông với đại
học Zurich được.
Einstein đáp:
- Không sao. Nếu vậy thì tôi xin nhiệt liệt giới thiệu với
ông, ông bạn thân của tôi là Freidrich Adler vào chân giáo sư đó.
Kleiner ngạc nhiên: lần đầu tiên mới thấy một thanh niên coi
thường chức giáo sư đại học như vậy.
Nhưng ít tháng sau (1909) Einstein được đề cử làm giáo sư vật
lí ở Zurich. Sau này ông mới hay rằng chính Adler đã nhường chỗ đó cho ông, bảo
rằng: “Nếu có thể mời Einstein dạy ở Zurich thì không có lí gì lại đề cử tôi.
Tôi thú thực rằng khả năng phát minh về vật lí của tôi kém ông ấy xa”. Mối tình
của hai bạn thân đó đối với nhau thật cao thượng.
Einstein báo tin cho thân mẫu: “thằng Albert của má nay là
giáo sư rồi má ạ”. Ông không lấy việc đó làm danh dự nhưng biết rằng má ông sẽ
sung sướng thấy ông đã có chút danh vọng.
Những bài giảng của ông ở Zurich rất được hoan nghênh vì ý kiến
đã mới mẻ mà lại trình bày một cách hấp dẫn. Một hôm, ông giảng về luật biến đổi:
“tốc độ càng cao thì kích thước càng rút ngắn lại” của một vật lí gia Hoà Lan
là Hendrik Antoon Lorentz. Ông chứng minh luật đó bằng toán học rồi bảo:
- Như vậy, một cây thước di động theo chiều dài của nó với tốc
độ 150.000 cây số/giây thì chiều dài của nó sẽ mất đi ba phân. Nếu tốc độ của
nó bằng tốc độ của ánh sáng thì chiều dài của nó thành số không[11].
Một sinh viên bảo:
- Nhưng theo cái lẽ thường thì dù đứng yên hay di động, một vật
vẫn giữ những kích thước của nó.
Einstein mỉm cười đáp:
- Nhưng lẽ thường là cái gì kia chứ? Chỉ là thành kiến từ hồi
trẻ thôi. Phải có tinh thần từ bỏ thành kiến đi mới được.
Dẫu sao thì cũng khó mà tưởng tượng được một cây thước rút ngắn
lại tới số không.
Einstein giảng:
- Sự rút ngắn đó không có gì lạ. Chiều dài không phải là sự
kiện của một vật mà chỉ là một liên hệ giữa vật với người quan sát vật đó. Chỉ
một phần nhỏ vũ trụ có thể giảng được bằng những giác quan của ta; còn thì phải
dùng tư tưởng mà đạt được tri thức.
Dùng tư tưởng mà đạt được tri thức, đó là mục đích của môn vật
lí lí thuyết (physique théorique) mà Einstein suốt đời nghiên cứu.
Lương của ông ở đại học Zurich tăng lên, nhưng ông không lấy
vậy làm vui, hỏi các bạn đồng sự: “Tại sao lương người này lại lớn hơn lương
người khác, vì ai cũng có bổn phận phụng sự nhân loại như nhau cả mà”. Không những
vậy, ông còn cho con người là bị nô lệ tiện bạc, giá đốt hết các giấy bạc, các
cổ phiếu đi thì nhân loại đỡ lo lắng, đau khổ hơn.
Ông không trọng tiền mà cũng chẳng quan tâm tới địa vị, chức
tước, coi mọi người bình đẳng, cư xử với người lao động cũng lễ độ như với ông
viện trưởng viện đại học. Mỗi khi trong nhà có tiệc tùng, khi khách ra về rồi,
ông đích thân dọn bữa cho chị giúp việc ăn, vì “phải tôn trọng người lao động”,
họ cực khổ hơn mình, và nhờ họ giúp, mình mới làm việc bằng trí óc được.
Ông rất ghét tinh thần ganh tị giữa các giáo sư đại học. Đại
học ở nước nào, thời nào thì cũng có nạn bè phái, “xôi thịt”. Người ta cậy cục,
nịnh bợ để cho bài nghiên cứu của mình được đăng trên tạp chí khoa học; người
ta chê bai nhau: kẻ này mấy năm chẳng có công trình nào, kẻ kia chỉ giảng những
điều cũ rích; người ta ấm ức vì không được thăng chức, người ta mỉa mai những
người may mắn được vô viện hàn lâm… Trong các ngôi đền thờ tri thức đó, cũng có
đủ các cái bỉ ổi như trên trường chính trị, kinh doanh và cả trăm giáo sư may mắn
lắm được vài người có tư cách đáng gọi là bác học.
Bản tính của Einstein vốn độc lập, ít chịu trực tiếp cộng tác
với người khác, cho nên thấy không khí đó trong Đại học; ông càng chán ngán, cứ
cặm cụi làm việc, mặc người khác tranh giành địa vị với nhau. Dĩ nhiên, bạn đồng
sự của ông cũng không ưa ông.
Hai ông bà lúc này đã có hai người con trai: Hans và Eduard;
bà phàn nàn rằng không đủ tiêu, ông ngạc nhiên hỏi tại sao. Bà đáp: tại có thêm
con, và khách khứa nhiều hơn trước.
Ông thú thực không có cách nào kiếm thêm tiền được và bà phải
nuôi thêm người ở trọ.
Năm 1910, ông được dạy môn vật lí lí thuyết ở đại học Prague,
chức cao hơn, lương cũng cao hơn, năm 1912 lại được mời dạy ở trường Polytechnicum tại
Zurich và hai năm sau hai nhà bác học danh tiếng Max Plank và Walter Nernst tới
mời ông làm giáo sư ở đại học Berlin và vô hàn lâm viện khoa học Đức.
Ông nhận lời mời với điều kiện vẫn giữ quốc tịch Thuỵ Sĩ[12].
Theo Hilaire Cuny trong cuốn Einstein (Seghers -
1961) thì ông nhận qua Đức dạy vì ông muốn xa bà: không khí trong gia đình
trong mấy năm nay không còn vui như hồi đầu, tính tình của bà không hiểu sao đã
thay đổi, nhiều lúc quạu quọ, bà không chịu ở Đức, nhất định ở lại Thuỵ Sĩ với
hai người con.
Nhưng theo Aylesa Forsee trong cuốn Einstein et là
phisique théorique (Nouveaux Horizons – 1966) thì ông vẫn quí vợ, khi xa vợ
con, ông hi vọng tới Berlin ít tháng rồi vợ con ông sẽ qua sau, nhưng bà thưa
viết thư cho ông rồi lần lần họ mặc nhiên li thân nhau.
Ở Berlin được ít lâu, ông cưới cô Elsa một người em họ cũng
đã li thân với chồng và có hai người con gái riêng: Margot và Ilse. Cuộc hôn
nhân này có hạnh phúc hơn: bà Elsa tính tình vui vẻ, không biết chút gì về vật
lí, nhưng khéo chiều chồng và tận tâm săn sóc chồng. Sự hiểu biết của bà về môn
toán chỉ vừa đủ để làm bốn phép tính và giữ sổ chi tiêu trong nhà, bà không thể
góp ý với chồng về công việc nghiên cứu vật lí được, nhưng nhận định được thiên
tài của chồng và tự nhận trách nhiệm lo hết mọi việc gia đình, tiếp đãi khách
khứa, để chồng được rảnh trí mà suy tư, tìm tòi.
Trong thời chiến tranh, nhiều thức ăn bị hạn chế, bà cố xoay
sở cho ông không bị thiếu thốn. Tới bữa ăn mà ông vẫn mải mê với công việc thì
bà khẽ nhắc ông. Khách lạ tới, bà xét có nên để ông tiếp không, sợ có nhiều người
chẳng có việc gì quan trọng cũng tới quấy rầy ông. Tóm lại, bà che chở, săn sóc
ông gần như săn sóc một em bé. Điều đó có lần làm ông bực mình, nhất là những
khi đi du lịch nước ngoài, bà muốn ăn bận đàng hoàng, nhắc ông bận thứ áo này,
đeo chiếc cà vạt nọ… mà ông không muốn lệ thuộc những vật chất đó, không muốn lệ
thuộc thói đời, nên ông phàn nàn với người khác:
- Nhà tôi ở nhà suốt ngày săn sóc các đồ đạc, bàn ghế, giường
tủ; khi đi xa, thì chỉ có tôi là món đồ duy nhất cho bà ấy săn sóc.
Thỉnh thoảng bà cũng đùa ông:
- Mình giỏi toán nhất đời, ai nấy đều phục, nhưng không tính
nổi số tiền còn gởi ngân hàng là bao nhiêu.
Ông đáp:
- Có lẽ tại anh thấy con số trên trương mục[13] khác những con số trên một bài toán
vật lí.
Lần khác bà bảo ông:
- Nhiều người hỏi em lúc này mình đương nghiên cứu cái gì. Nếu
em trả rằng em không biết thì ra vẻ em ngu ngốc quá. Mình giảng qua cho em được
không?
Ông suy nghĩ một chút rồi đáp:
- Lần sao có ai hỏi thì em cứ đáp rằng em biết nhưng không thể
nói ra được, vì đó là điều bí mật.
[10] Theo trang
http://www.dict.cc/german-english/Privatdozent.html thì “privatdozent” có nghĩa
là: associate professor (giảng nghiệm viên). (Goldfish).
[11] Ý nói chiều dài của cây thước
phụ thuộc vào vận tốc theo công thức . (Goldfish).
[12] Theo Nguyễn Xuân Sanh
thì: “Đầu năm 1954, ông chấp nhận lời mời của Hàn Lâm viện Phổ để về
Berlin. Năm đó ông mới 35 tuổi, thành viên trẻ nhất của Hàn Lâm viện Phổ. Năm
1913. Planck (55 tuổi) và Nernst (49 tuổi) cùng với phu nhân đã từ Berlin lấy
xe lửa đi qua Zürich để mời cho được Einstein về Berlin. Hai ông đã có ấn tượng
rất mạnh về Eisntein khi gặp Einstein tại hội nghị quốc tế Solvay lần thứ năm
năm 1911 ở Bỉ, và có quyết tâm mời Einstein về Berlin bằng được. Hai ông hứa với
Einstein những đãi ngộ hết sức đặc biệt: ngoài làm thành viên của Hàn lâm viện
Phổ với mức lương cao nhất (12.000 Đức Mã một năm, chưa kể tiền của đại học, tiền
“danh dự” của Viện hàn lâm do sự nổi tiếng) ông còn được làm giáo sư Đại học
Berlin mà không phải giảng dạy. Alexander Humboldt là người đầu tiên được hưởng
chế độ ưu đãi tương tự như thế của Hàn lâm viện Phổ và Einstein là người cuối
cùng. Ngoài ra ông còn làm viện trưởng Viện Vật lý Vua Wilhelm (Viện Max
Planck) sẽ được thành lập. Các ưu đãi ngoài sức tưởng tượng là những chính sách
đặc biệt ngoại hạng dành cho Einstein, lại được mang đến bởi Planck và Nernst
là những người Einstein đã từng ngưỡng mộ!”. (Sđd, trang 84). (Goldfish).
[13] Trương mục: Sách in là “chương
mục”. (Goldfish).
“EINSTEIN HẠ GIỚI” VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI RA ĐỜI
Đầu năm 1916, Einstein phát triển thêm “thuyết tương đối
hẹp” thành “thuyết tương đối tổng quát” (relativité généralisée)[14]. Lúc đó mọi người mải theo dõi tin tức
trên mặt trận Pháp, nên chỉ có vài tờ báo đăng tin phát minh mới đó của ông, vả
lại thuyết đó cao quá, tương truyền trên khắp thế giới chỉ có mười hai nhà bác
học hiểu nổi. Nhưng ai ai cũng nhận rằng nó là một cuộc cách mạng vĩ đại vào bậc
nhất trong khoa học từ thời Newton đến nay.
Suốt hai thế kỉ, người ta đều nhận thuyết vạn vật hỗ tương hấp
dẫn của Newton là đích xác rồi, giải được những vấn đề căn bản của khoa học tới
nỗi một thi sĩ Anh Alexander Pope (1688-1744) đã ca tụng Newton như sau:
Nature and Nature’s law lay hid in night;
God said: “Let Newton be!” and all was light.
(Thiên nhiên và luật thiên nhiên còn chìm trong bóng tối;
Thượng Đế truyền: “Newton hạ giới!” thế là vũ trụ bừng sáng)
Nhưng khi thuyết tương đối tổng quát của Einstein xuất hiện,
có người đã đề nghị thêm hai câu dưới đây nữa:
Nhưng chẳng được bao lâu, rồi Quỉ Satan bảo:
“Einstein hạ giới!” và vũ trụ lại tối tăm lại.
Hai câu đó diễn được ý kiến rất phổ biến này: học thuyết của
Newton đã sụp đổ, khoa vật lí trước thế kỉ XX cũng sụp đổ, người ta không thể
giảng vũ trụ bằng cơ học (mécanique) được nữa. Nhưng bảo rằng vũ trụ tối tăm lại
thì sai; vì thuyết của Einstein giảng được vũ trụ một cách đúng hơn trước, làm
cho vũ trụ sáng hơn trước nữa.
Newton chỉ coi sự hấp dẫn (gravitation) là một sức mạnh.
Einstein dùng môn toán để chứng minh rằng khoảng chung quanh của bất kì một
thiên cầu nào (mặt trời, mặt trăng, trái đất, các ngôi sao…) đều là một trường
hấp dẫn (champ gravitationnel) cũng như trường từ tính (champ magnétique) ở
chung quanh một phiến nam châm.
Mấy thế kỉ nay thuyết Newton không giảng được những chuyển động
khác thường của hành tinh Mercure[15], nay theo thuyết của Einstein thì những
chuyển động đó hiểu được. Sức hấp dẫn của champ gravitationnel đó lớn tới nỗi
tia sáng gặp nó phải quẹo đường đi.
Cũng theo thuyết của Einstein, vũ trụ là một khoảng cong và
như vậy vũ trụ không phải là vô biên.
Điều đó, tất cả các nhà thiên văn cho là vô lí. Các nhà hình
học cũng hoang mang: phải bỏ môn hình học ba chiều (trois dimensions) của
Euclide, mà thay vào môn hình học bốn chiều.
Không do nhận xét thiên nhiên, không nhờ thí nghiệm, chỉ suy
nghĩ rồi làm toán (Einstein có lần nói rằng phòng thí nghiệm của ông là cây viết
máy), Einstein chứng minh được thuyết của mình. Ông bảo rằng tia sáng một ngôi
sao khi tới gần mặt trời, uốn cong về phía trong (nghĩa là về phía mặt trời)
thành thử ở trái đất nhìn lên, ta thấy vị trí của ngôi sao sai đi một chút cũng
như khi thọc một đầu gậy xuống nước, ta thấy đầu gậy không ở đúng vị trí thực của
nó.
Ánh sáng của một ngôi sao nằm khuất sau mặt trời
bị hấp lực của mặt trời uốn cong nên người quan sát ở mặt đất
có ảo tưởng rằng ngôi sao đó nằm trên đường thẳng quan sát của
mắt.
Và vì vũ trụ là một khoảng cong, một tia sáng của một ngôi
sao nào đó có thể sau hằng tỉ năm, đi vòng quanh vũ trụ rồi trở về chỗ nó xuất
phát, cũng như chúng ta đi vòng quanh trái đất rồi trở về Sài Gòn vậy.
Các nhà bác học không bác được lối tính của Einstein, nhưng
cũng chưa tin hẳn, mãi tới bốn năm sau, ngày 29 tháng 5 năm 1919, nhân một lần
nhật thực, dùng máy ảnh để chụp hình ở Sobral (Brésil) mới thấy rằng quả nhiên
tia sáng một ngôi sao đã uốn cong đi khi lại gần mặt trời, mà vị trí trí của
ngôi sao đó xê dịch khoảng 1,45 giây cung (seçonde d’are) đúng như Einstein đã
tính trước[16].
Lúc đó người ta mới phục bộ óc vĩ đại của ông và hai năm sau,
năm 1921, ông được giải thưởng Nobel về vật lí, nhưng không phải vì thuyết
tương đối, mà vì một công trình nghiên cứu về photon, một công trình mà tầm
quan trọng kém hơn nhiều. Số tiền năm ngàn Mĩ kim nhận được, ông tặng một nửa
cho một cơ quan từ thiện, còn một nửa giao cho bà vợ trước để nuôi hai cậu con
trai. Ông không có thêm người con nào nữa với bà vợ sau. Hai người con trai của
ông sau này đều nên người và đều quí mến cha.
[14] Ông Hoàng Xuân Hãn dịch là
“thuyết tương đối suy rộng” rộng đối với hẹp (relativité restreinte). Nhưng nhiều
người theo tiếng Anh dịch là “tương đối tổng quát” (general theory).
Thuyết đó rất khó, tôi không đủ tư cách để phổ biến nó với độc
giả, cho nên trong cuốn này chỉ giới thiệu ít hàng thôi; độc giả có thể đọc cuốn: l’Introduction
à l’étude de la relativité của Bertrand Russell.
Về tiếng Việt, tôi xin giới thiệu bài Quan niệm không
gian thời gian trong thuyết tương đối Einstein của Giáo sư Phạm Mậu Quân
đăng trên Gió Việt số 18 tháng 4 năm 1969.
[15] Theo Nguyện Xuân Sanh thì
Einstein “hoàn toàn tin vào lý thuyết tương đối rộng của mình và những hệ
luận của nó khi ông kiểm tra thấy hấp lực Newton chỉ là một xấp xỉ của thuyết
tương đối rộng và kết quả tính toán độ lệch của điểm cận nhật (điểm gần mặt trời
nhất của quỹ đạo) của sao Mercury theo thuyết tương đối rộng (43 giây) hoàn
toàn trùng hợp với kết quả quan sát của nhà thiên văn học Pháp LeVerrier 1859,
điều mà cơ học thiên thể của Newton đã không giải thích được; đó là độ lệch
trong cả khoảng thời gian 100 năm, rất nhỏ nhưng cũng đủ gây quan ngại trong giới
vật lý và thiên văn!”. (Sđd, trang 101). (Goldfish).
[16] Theo Nguyễn Xuân Sanh thì ngoài
đoàn quan sát tại Sobral ở Brazil (tức Brésil) còn có đoàn quan soát ở “đảo
Principe ngoài khơi bờ biển của Guinea”. Ông cho biết thêm: “Ngày 6..11.1918:
Trong một cuộc hợp chung trọng thể của Royal Society và Royal Astronomical
Society ở Luân Đôn về kết quả của hai đàn thám hiểm, Sir Frank Watson Dyson
long trọng tuyên bố kết luận: “Sau cuộc kiểm tra kỹ lưỡng các bản anh, tôi sẵn
sàng có thể nói rằng chúng chứng minh tiên đoán của Einstein là đúng. Chúng tôi
được một kết quả rất dứt khoát rằng ánh sáng bị lệch theo định luật hấp lực của
Einstein”. Độ lệch do đo đạt được là 1,64” (giây) trong khi tiên đoán của
Einstein là 1,7”. Độ sai biệt không đáng kể”. (Sđd, trang 97). (Goldfish).
ĐI KHẮP THẾ GIỚI DIỄN THUYẾT
Ngày 29 tháng 5 năm 1919, danh của Einstein nổi lên như cồn.
Chính quyền Đức mới đầu có tính cách dân chủ, ngỏ ý mời ông vô quốc tịch Đức để
ủng hộ chế độ dân chủ, ông nể tình, bỏ quốc tịch Thuỵ Sĩ, trở về quốc tịch Đức.
Dân chúng trước kia không để ý gì tới thuyết tương đối, bây giờ nhao nhao lên
đòi phổ biến thuyết đó: từ các ông tổng trưởng tới các phu mỏ, ai nấy đều hỏi
nhau thuyết đó ra sao. Bọn con buôn nắm ngay cơ hội, tung ra những nhãn hiệu
“xì gà tương đối”, “thuốc đánh răng tương đối”; trong câu chuyện, từ ngữ “một
cách tương đối” được dùng luôn miệng.
Một người Hoa Kì ở Paris đặt một giải thưởng năm ngàn Mĩ kim
để tặng tác giả thiên khảo luận nào hay nhất về thuyết đó, các nhà xuất bản đua
nhau in các tập khảo luận đó, đa số viết sai bét, còn một số thì khó quá, chỉ một
nhà toán học hạng giỏi mới hiểu nổi[17]. Để thoả mãn nhu cầu của đại chúng,
Einstein viết một cuốn cho những người trình độ trung bình biết kha khá về toán
tức cuốn Relativity: The Special and the General Theory xuất bản năm
1921.
Trường đại học nào cũng mời ông lại diễn thuyết và buổi diễn
thuyết nào cũng đông nghẹt, tới nỗi cảnh sát phải đứng chặn ở cửa, giữ trật tự.
Ít ai hiểu được thuyết của ông, nhưng ai cũng muốn coi tướng mạo ông ra sao mà
đoán trước được sự đi lệch đường của tia sáng. Đủ các hạng người lại chầu chực ở
nhà ông để xin chữ kí. Nhiều trường đại học châu Âu mời ông lại dạy. Ông không
còn được yên ổn làm việc nữa, nói với học giả Ratheneau, bạn thân mà cũng gốc
Do Thái như ông:
- Tôi chỉ tìm được một nguyên tắc; tìm được nguyên tắc là nhận
định được một cái gì đã có trước rồi, chớ có sáng tạo được gì đâu, mà sao thiên
hạ hoan nghênh như vậy?
Bút tích của Einstein
Mấy năm sau ông phải đi khắp nơi diễn thuyết, Hoà Lan, Áo,
Hoa Kì. Tàu vừa cặp bến New York, các nhà báo bu chung quanh ông:
- Thưa giáo sư, phải khắp thế giới chỉ có mười hai người hiểu
thuyết tương đối?
Ông đáp:
- Tôi không bao giờ tuyên bố như vậy. Tôi đâu có muốn lập một
thuyết chỉ để cho mười hai người hiểu nổi. Các nhà vật lí học đều hiểu thuyết
đó, một số sinh viên của tôi cũng vậy.
Rồi một tay cầm chiếc vĩ cầm, một tay dắt vợ, ông bước xuống
cầu thang.
Dân chúng New York đứng chật đường hoan hô ông, từ cửa sổ
tung hoa giấy xuống đầu ông. Ông nói với bà:
- Tụi mình y như một đoàn xiếc vậy. Anh cứ tưởng thiên hạ
thích ngắm một con hưu cao cổ hay một con voi hơn là một nhà vật lí học.
Khi người ta hỏi ông cảm tưởng về New York ra sao, ông đáp:
- Các bà, các cô ở đây thích mỗi năm đổi mốt một lần. Năm nay
có mốt mới, là mốt tương đối.
Lần đó ông qua Mĩ là theo lời mời của Chaim Weizmann, một nhà
bác học ái quốc Do Thái, sau làm tổng thống đầu tiên của quốc gia Do Thái. Ông
diễn thuyết để lấy tiền giúp thành lập viện đại học Do Thái ở Palestine. Ở Hàn
lâm viện Quốc gia (National Academy) ông bảo: “Một người sau nhiều năm tìm tòi
mà tình cờ kiếm ra được một ý, vén được một chút màn bí mật của vũ trụ thì có
gì đâu mà đáng tán tụng. Sự thích thú khi tìm kiếm được đã đủ là phần thưởng
cho người đó rồi”.
Ông thích tinh thần lạc quan của người Hoa Kì nhưng chê họ
ham tiền, ham vật chất quá, mà sao các vụ trộm cướp giết người nhiều thế.
Từ Mĩ ông bà trở về Anh, rồi Pháp, được gặp gần hết các nhà
bác học danh tiếng nhất thế giới. Khi trở về Đức thì tình hình ở Đức bắt đầu
xáo trộn dữ dội. Đức thất trận, bị Anh, Pháp bắt bồi thường những khoản quá nặng,
dân chúng nghèo khổ, Đức kim mất giá kinh khủng, có những người hồi trước chiến
tranh giữ địa vị quan trọng bây giờ phải đi ăn xin. Người ta đổ lỗi cho chính
phủ Cộng Hoà và cho bọn Do Thái, và dân chúng bắt đầu bị Hitler thuyết phục.
Bạn thân của ông, Ratheneau, bị ám sát chỉ vì là Do Thái, và
có người doạ rằng sau Ratheneau là sẽ tới phiên ông, nên ông tránh, ít khi ra mặt
trước công chúng và nắm ngay cơ hội để qua Trung Hoa, Nhật Bản diễn thuyết.
Ở Nhật, ông được hoan nghênh nhiệt liệt: Nhật hoàng coi ông
là thượng khách, dắt ông bà đi coi vườn Thượng uyển trồng đầy cúc, còn dân
chúng thì chen chúc nhau trước khách sạn, thức suốt đêm để đợi lúc ông xuất hiện
trên ban công. Ông cảm động, nhưng bực mình vì phải dự tiệc, bắt tay và tặng chữ
kí. Chính trong khi ở Nhật, ông hay tin được giải thưởng Nobel[18].
Trên đường về châu Âu, ông ghé Palestine, Y Pha
Nho.
[17] Nguyễn Xuân Sanh cho biết:
“…5.000USD thời bấy giờ là một số tiền rất lớn, cho ai trình bày được thuyết
tương đối hay nhất không quá 3.000 chữ, khoảng 12 trang đánh máy, sẽ được đăng
trong Scientific American. Tờ tạp chí chủ trì. Có 300 bài dự thi. (…) Người
trúng giải mang bút hiệu bút hiệu “Zodiaque”, lại là nhân viên của Sở sáng
chế Anh, một sự trùng hợp đến kinh ngạc, nếu chúng ta nhớ lại rằng Einstein là
chuyên viên của Sở sáng chế liên bang Thuỵ Sĩ khi ông khám phá Thuyết tương đối
hẹp! – Theo Hermann, Einstein, tr. 252”. (Sđd, trang 119). (Goldfish).
[18] Theo Nguyễn Xuân Sanh thì:
“Tháng mười Einstein lên đường cùng Elsa đi đến Marseil để lên tàu Kitano
Maru đi Kobe. Trên đường ông dừng chân tại một số điểm, như Colombo,
Singapur, Honkong. Ngày 13.11 tàu ông dừng chân tại Thượng Hải. Trước đó
Einstein đã nhận được điện tín báo ông được trao giải Nobel vật lý năm 1921 về
“những đóng góp cho vật lý lí thuyết, và đặc biệt cho khám phá của ông về định
luật hiệu ứng quang điện”. Không một lời nào về thuyết tương đối. Trong nhật ký
của ông, người ta cũng không thấy ghi lại sự kiện này. (…) Ngày 17.11 tàu cập bến
Kobe”. (Sđd, trang 125-126). (Goldfish).
[19] Sách in là “vật lí”, tôi tạm sửa
lại thành “luật”. (Goldfish).
THUYẾT “CHAMP UNIFIÉ” CHÌA KHOÁ VŨ TRỤ
Từ 1929, ông bắt đầu dùng hết tâm lực để dựng một thuyết mới
nữa, thuyết “Champ unifié” (trường hợp nhất). Suốt hai mươi năm, ngoài các công
việc khác như diễn thuyết, dạy học, viết báo, hô hào tự do, hoà bình, sự hợp
tác quốc tế… với một đức kiên nhẫn vô biên, ông cặm cụi làm làm không biết bao
nhiêu bài toán, liệng vào giỏ giấy không biết bao nhiêu tờ toán ông thấy là
sai, để rán chứng minh thuyết đó. Có lần ông làm toán trên bảng đen, sau thấy
là lầm, viết mấy chữ dặn thím giúp việc nhà: “Chùi giùm cho”; rồi dí dỏm
viết trên một tấm bảng bên cạnh:
Nhưng đừng chùi hàng này:
2 + 2 = 4
Mãi đến năm 1950, năm năm trước khi mất, ông mới công bố thuyết Champ
unifié. Một nhà báo tìm cách xâm nhập được vào phòng làm việc của ông hỏi:
- Giáo sư có thể giảng được cho độc giả của chúng tôi hiểu được
thế nào là thuyết Champ unifié không?
Ông ân hận lắc đầu:
- Trên nhật báo, chỉ những con số ở trang kinh tế tài chánh
là độc giả thích đọc thôi. Ông có thể cho độc giả của ông hay rằng khi thuyết Champ
unifié được áp dụng thì ít hao đến vô tuyến điện hơn.
Sau ông giảng thêm trên tờ New York Times:
- Tôi muốn chứng minh rằng những sức hấp dẫn của vạn vật
với sức điện từ (force électromagnétiques) liên quan chặt chẽ với nhau chứ
không tách biệt ra được. Tôi chứng minh được những luật chi phối hai loại sức
căn bản đó.
Theo thuyết của ông thì những luật[19] chi phối nguyên tử nhỏ xíu cũng chi
phối cả các thiên thể mênh mông nữa, nghĩa là toàn thể vũ trụ, từ những vật vô
cùng nhỏ tới những vật vô cùng lớn đều theo những luật chung. Hấp dẫn lực, điện
từ lực, năng lực nguyên tử, đều bao gồm chung trong thuyết đó, nó là chìa khoá
của cả vũ trụ. Ông mới dùng toán mà dựng nên thuyết Champ unifié, còn
phải đợi sự xác nhận bằng những sự kiện vật lí, cũng như trước kia, thuyết
tương đối đến năm 1919 mới được xác nhận trong khi ngắm nhật thực. Nhưng ông
tin chắc rằng thuyết ông đúng, mà vũ trụ quả là hoà hợp, hợp nhất, có một trật
tự kì dị[20].
Nếu ngày nào đó thuyết của ông được xác nhận thì khoa học lúc
đó mới xáo trộn hết, phải giảng lại hết và nhân loại sẽ phải coi ông là bậc thần,
chứ không phải người nữa.
[19] Sách
in là “vật lí”, tôi tạm sửa lại thành “luật”. (Goldfish).
[20] “Einstein nói với thư ký Helen
Dukas của mình rằng có lẽ một trăm năm sau các nhà vật lý mới hiểu những gì ông
làm. Có lẽ. Nhưng mới năm mươi năm sau sự quan tâm về trường thống nhất đã sống
dậy mạnh mẽ, nhằm thống nhất thuyết tương đối và thuyết cơ học lượng tử. Ngày
nào người ta xem nó như tuyệt vọng, thì nay nó lại chiếm mọi buổi hội thảo về vật
lý lý thuyết. Thuyết siêu dây (superstring) hiện là ứng viên làm cho người ta
hy vọng tìm lại được cái Einstein đã bỏ dở. Ở thuyết này vật chất biến thành âm
nhạc (…) Các nhà vật lý tin rằng vào thời điển của big bang, của thuở khai
thiên lập địa, tất cả phép đối xứng hay các nguyên lý dẫn đường được thống nhất
như Einstein tin tưởng. Tất cả các lực trong trời đất (hấp lực, điện từ, các lực
mạnh và yếu của thế giới nguyên tử) đều được thống nhất vào một lực duy nhất, gọi
là “siêu lực” vào lúc tạo thiên lập địa, chúng chỉ tách ra thành từng mảnh khác
biệt sau đó khi vũ trụ bắt đầu nguội dần. (…) Từ năm 1995 hằng số lamda (λ) của
“cái ngu ngốc lớn nhất” của Einstein cũng sống lại và năm 1999 trở thành thời sự
cao độ (…) Có thể ngày nào đó người ta sẽ chứng minh rằng “cái ngu ngốc” lớn nhất”
sẽ là một trong những phát minh lớn nhất của ông?”. (Nguyễn Xuân Sanh, Sđd, tr.
222, 223, 224). (Goldfish).
ĐƯỢC ĐỨNG CHUNG VỚI CÁC VỊ THÁNH
Ngày 14 tháng 3 năm 1923 là ngày lễ ngũ tuần của ông. Ông trốn
Berlin từ mấy ngày trước để tránh các cuộc tiếp rước, chúc tụng, nhất là các cuộc
phỏng vấn của các nhà báo. Ông lại khu trại mênh mông của một người bạn trên bờ
sông Havel nghỉ ngơi vài ngày: chơi vĩ cầm, nấu ăn lấy, nhất là thả thuyền buồm
trên dòng nước. Nhưng cả trong những lúc tiêu khiển, óc ông cũng không quên các
bài toán, khi tìm ra được một lỗi nào, ông trở ngay về phòng giấy, hí hoáy làm
lại.
Nhân dịp sinh nhật đó, các bạn thân của ông và một ngân hàng ở
Berlin tặng ông một chiếc du thuyền rất đẹp, ông rưng rưng nước mắt, bảo: “Các
bạn ấy mến tôi đến thế này ư?”
Khi trở về Berlin, ông thấy phòng giấy đầy những thiệp chúc
thọ và quà cáp của mọi hạng người ở khắp nơi, thợ thuyền, sinh viên, các nhà
bác học, thủ tướng Đức, vua Y Pha Nho, Hoàng đế Nhật… Và vinh dự lớn nhất: viện
Thiên văn Vật lí Potsdam ở gần Berlin đã dựng cho ông một tượng đồng gọi
là Tháp Einstein.
Tượng Einstein tại Tháp Einstein (một đài thiên văn vật lí)
trong Công viên Khoa học Albert Einstein ở Potsdam, Đức
Hội đồng thành phố Berlin muốn tặng ông một trại nhỏ ở ngoại
ô, tại làng Caputh. Nhưng có một nhóm người phản đối, thủ tục kéo dài, ông viết
thư từ chối:
- Thưa ông Đô trưởng, đời người ngắn ngủi quá mà nhà cầm quyền
làm việc chậm chạp quá… Vậy tôi xin cảm ơn nhã ý cùng thịnh tình của ông. Ngày
sinh nhật của tôi qua rồi, tôi không nhận vật tặng đó nữa.
Và ông phải bỏ tiền ra cất cho xong căn nhà ở Capth vì đã lỡ
làm giấy với chủ đất.
Năm 1929 đó là năm vui nhất của ông ở Berlin, mà năm đó cũng
chính là năm kinh tế bắt đầu khủng hoảng ở Mĩ rồi lan qua châu Âu, tới khắp thế
giới. Hoa Kì không thể cho Đức vay tiền kiến thiết được nữa, các xưởng máy, nhà
buôn ở Đức nối tiếp nhau đóng cửa, hàng mấy triệu người thất nghiệp, các ngân
hàng bị phá sản. Dân chúng khốn khổ, bất bình, ủng hộ Hitler, đảng Quốc Xã phát
triển rất mạnh, hô hào sự bạo động, diệt các tự do cá nhân, và tái võ trang.
Năm 1931, ông qua Mĩ hợp tác với các nhà bác học ở Viện Công
nghệ Californie. Trong khi ghé New York, ông được mời tới giáo đường Riverside
Church để coi hình ông tạc trên một bức tường cùng với các vị thánh và ba nhà
bác học khác vĩ đại nhất lịch sử nhân loại[21]. Ông hỏi người dắt dẫn ông:
- Trong số các vị đó, phải chỉ có một mình tôi còn sống
không?
Người đó đáp:
- Vâng. Cảm tưởng của giáo sư ra sao?
- Tiến bộ lắm. Một giáo đường Ki Tô mà tạc tượng một người Do
Thái.
Nghĩa là ông mong rằng hết sự kì thị giữa hai tôn giáo, mà
vinh dự ông được hưởng đó chính là vinh dự của cả dân tộc Do Thái chứ không phải
của riêng ông.
Tượng Einstein trong Riverside Church ở New York
(hàng trên, thứ 2 từ phải qua trái)
Dĩ nhiên, ông buồn cho dân tộc ông bị đàn áp, phiêu bạt non
hai ngàn năm, nhưng nếu là một dân tộc khác thì ông cũng xót xa như vậy. Ông
không có tinh thần quốc gia nồng nhiệt như các người Do Thái khác, và khi có
phong trào tập hợp các người Do Thái về Palestine để thành lập quốc gia Do
Thái, thì ông tỏ vẻ lãnh đạm.
Hiển nhiên là ông muốn vượt lên trên quan niệm quốc gia mà đề
cao tinh thần quốc tế.
Một nhà báo có lần hỏi ông:
- Giáo sư có thấy sự liên lạc nào giữa sự vinh quang và quốc
tịch không?
Ông đáp:
- Tại sao khi nói tới các vĩ nhân thì người ta cứ nghĩ tới quốc
tịch của họ. Một vĩ nhân Đức, một vĩ nhân Anh… cũng chỉ là một con người mà
thôi, không phân biệt người nước này, người nước khác.
[21] Tức ngoài Einstein còn có:
Hippocrates, Galileo và Darwin. (theo http://www.drew.edu/theological/2011/11/new-york-city-walking-tour-becomes-annual-part-of-gdr-orientation)
(Ca_kiem và Goldfish).
ĐẦU EINSTEIN BỊ HITLER TREO GIÁ HAI VẠN ĐỨC KIM
Vì có tinh thần quốc tế đó, nên ông cực lực chống chiến
tranh, rất khinh bọn quân nhân. Ông bảo:
“Thấy người nào thích thú xếp thành hàng ngũ, chen nhau bước
theo tiếng nhạc, tôi khinh người đó liền… Sao mà tôi thấy chiến tranh đê tiện,
đáng khinh tới thế. Thà để cho người ta băm vằm tôi chứ không khi nào tôi dự
vào những hành động bỉ ổi như vậy”.
Ngay từ thế chiến thứ nhất, đương làm giáo sư ở Berlin ông đã
can đảm chống chính quyền Đức. Ngày mùng 4 tháng 8 năm 1914, quân đội Đức, bất
chấp luật quốc tế, xâm chiếm Bỉ, một nước trung lập. Muốn biện bạch cho hành động
đó, vua Đức thảo sẵn một bản tuyên ngôn, rồi yêu cầu các nhà văn, nhà bác học
và nghệ sĩ kí tên vào. Hết thảy có 39 nhà kí tên, Einstein nhất định từ chối.
Max Plank, bạn của ông, cảnh cáo ông:
- Anh sẽ bị coi là phản quốc đấy.
Ông đáp:
- Việc xâm chiếm Bỉ đó đáng phỉ nhổ. Lời biện bạch trong bản
tuyên ngôn đó láo toét. Tôi không thể nào kí tên được.
Bây giờ đây, thái độ hiếu chiến của Hitler còn đáng ngại, khả
ố hơn nhiều. Ông tổ chức một nhóm quốc tế chống chiến tranh, viết thư cho các
nhà bác học khắp thế giới đề nghị họ nêu gương hợp tác hoà bình, đừng chế tạo
các vũ khí và chất hoá học giết người. Ông buồn cho họ và có lẽ cũng cho ông đã
“để cho nhà cầm quyền khớp mỏ”, “làm lính thì phải hi sinh tính mạng mình và diệt
tính mạng người khác, dù mình tin chắc rằng một sự hi sinh như vậy rất vô lí”,
mà làm nhà khoa học thì “phải theo lệnh chánh phủ đặt làm mà tiếp tục tìm các
phương tiện để tận diệt loài người”.
Nhưng chỉ có một số ít nhà hưởng ứng ông, như Paul Painlevé,
Sigmund Freud, Rabindranath Tagore.
Về Đức năm 1931, ông lại tiếp tục hô hào chính sách hoà bình.
Trong năm đó ông xuất bản một cuốn nhan đề là “Cosmic Religion” (Tôn
giáo vũ trụ), chủ trương rằng vũ trụ là một toàn thể hợp nhất, có trật tự, mà
người nào thấu triệt được cái trật tự của các biến cố tự nhiên thì không tin rằng
có cái luật nhân ý hay thần ý nào khác cả. Ông bảo:
“Tôi tin có đấng Thượng đế của Spinoza[22], đấng đó biểu hiện trong sự hoà hợp của
vạn vật; chứ tôi không tin một đấng Thượng đế săn sóc tới thân phận và những
hành động của con người”.
Năm sau ông lại qua Mĩ hợp tác với các nhà khoa học ở
Californie. Ông đương ở đó thì hay tin Hitler lên cằm quyền. Ông tới New York
cho viên đại sứ Đức hay rằng đảng Quốc Xả Đức còn cầm quyền thì ông không muốn
trở về Đức nữa. Viên đại sứ nói riêng với ông:
- Thưa giáo sư, lấy tư cách cá nhân chứ không phải tư cách đại
sứ, thì tôi có thể nói rằng giáo sư tính như vậy là phải.
Mùa xuân năm sau ông về châu Âu, ngừng chân tại Bỉ, thuê một
căn nhà ở trên bờ biển, gần Ostende. Ngoài những giờ làm việc ra, ông đi chơi,
chuyện trò với dân làng, đôi khi với vua Albert và hoàng hậu. Giao thiệp với hạng
vua chúa hay hạng bình dân, ông cũng rất tự nhiên, không phân biệt sang hèn.
Trong lúc đó, bọn Đức Quốc Xã in một cuốn album có hình tất cả
những người họ muốn xử tử vì tội chống đối họ, hình Einstein ở trang đầu.
Bà Elsa bảo chồng:
- Em ngại cho mình quá.
Ông đáp:
- Thì họ giết anh là cùng chứ có thể làm gì anh hơn được nữa?
Hitler ra lệnh tịch thu tất cả của cải Einstein ở Caputh, đốt
hết các sách và bài báo ông đã viết tại công viên trước Hí viện Berlin. Một vài
giáo sư ở Đức còn dạy về thuyết tương đối nhưng tuyệt nhiên không nhắc tới tên
Einstein. Các nhà bác học như Plank, bạn thân của ông, trước đã giúp đỡ ông,
bây giờ cũng vì sợ chết, theo bọn Quốc Xã mà mạt sát ông; chỉ có mỗi một nhà,
Nerst, là can đảm bênh vực ông, bảo các bạn đồng sự: “Chúng ta đừng hèn nhát mà
phục tùng sức mạnh”.
Ở Bỉ, ông không thể nghiên cứu gì được, lại hay tin Hitler đã
treo giá cái đầu ông hai vạn Đức kim, ông cười bảo bà: “Giá cao nhỉ!”, rồi dắt
bà qua Anh, tại đó ông viết bài tố cáo chính sách tàn bạo, vô nhân đạo của
Hitler và hô hào người Anh giúp đỡ người Đức tị nạn Quốc Xã. Bọn được lệnh ám
sát ông cũng lẻn qua Anh và chính quyền Anh phải tăng cường đoàn hộ vệ ông.
[22] Về Spinoza, Nguyễn Xuân Sanh
cho biết:
Baruch Spinoza (1632-1678), triết gia Hà Lan gốc Do Thái, là
người có ảnh hưởng lớn đến Einstein, cũng như đến nhiều thế hệ trước đó. Ông
cũng là một biểu tượng của tự do và độc lập, của trí tuệ và đạo đức; tự học là
chính, và cũng yêu môn hình học như Einstein. Ethik (Đạo đức học) là tác phẩm
chính nổi tiếng của ông. (…) Einstein nói: “Tôi say mê thuyết phiếm thần
(pantheism) của Spinoza, nhưng ngưỡng mộ hơn nữa sự đóng góp của ông vào tư tưởng
hiện đại bởi ông là nhà triết học đầu tiên đã xem linh hồn và thể xác chỉ là một,
không phải là hai vật thể riêng biệt”.
Một số ý tưởng dưới đây trong Ethik gần gũi với những gì
chúng ta gặp ở Einstein:
Trong bản chất tự nhiên của vạn vật không có gì là ngẫu
nhiên, mà tất cả đều được quyết định bởi sự tất yếu của bản chất tạo hoá, để tồn
tại và tác dụng bằng một cách nào đó.
Ý tưởng này có ảnh hưởng liên quan tất định của Einstein đối
với cơ học lượng tử.
Ý tưởng của Thượng đế, từ đó vô số cái hình thành bằng vô số
cách, chỉ có thể có một thôi.
(…). (Sđd, tr. 251, 252).
Về cụm từ “Thượng đế của Spinoza”, Pháp Thường, trong
bài Khái niệm Niết-bàn theo quan điểm tâm lí học, viết như sau: “Theo
Spinoza, không có chuyện đa thực thể như Descarts quan niệm, chỉ có một thực thể
vô tận mà thôi. Spinoza đã đánh đồng thực thể này cùng Thượng đế, nhưng chứng cớ
về Thượng đế thì ông không sai lầm. Thượng đế của Spinoza đơn thuần là Thực thể
uyên nguyên hay thực thể căn bản, hoàn toàn không phải là Thượng đế theo kiểu
Do Thái - Cơ Đốc. Hơn thế, Thực thể uyên nguyên chỉ là tổng thể tối hậu của mọi
thứ mà nó đang là. Chính là thực tại, tự nhiên. Mặc dầu Spinoza được cho là kẻ
theo thuyết vô thần, nhưng với ông thì không. Ngược lại, ông là một người hữu
thần, ông tuyên bố: Thượng đế là tất cả”. (http://phapluanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1768&Itemid=96)
Xem thêm bài Spinoza của Will Durant trong Câu
truyện triết học tại
http://triethoc.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=104:cau-truyn-trit-hc-spinoza&catid=23:sach-xa&Itemid=200.
(Goldfish).
QUA MĨ
Trừ Đức, còn khắp thế giới vẫn trọng ông, cơ hồ còn hơn trước
nữa vì thái độ can đảm đó. Pháp, Anh, Pháp, Y Pha Nho đều mời ông dạy học; sau
cùng ông quyết định qua Mĩ, nhận một chân giáo sư ở Princeton (New Jersey).
Vừa mới tới thị trấn đó, ông thay y phục, bận một bộ đồ cũ đi
dạo mát, khoan khoái vì tinh thần không còn bị kích thích như mấy tháng trước nữa.
Ông vô tiệm mua một cây viết chì khi quay ra thì đám sinh viên bao nghẹt lấy
ông, cảnh sát phải tới tháo vòng vây cho ông.
Ông hỏi viên cảnh sát:
- Làm sao họ biết tôi là ai?
- Ai mà không biết. Báo chí mấy ngày nay chỉ nhắc tới giáo sư
thôi mà.
Phòng làm việc của Einstein ở Princeton
Hôm sau ông tới viện Đại học nằm giữa một khu rộng mấy mẫu,
cây cao bóng mát. Viện đã dành cho ông một phòng riêng và hỏi ông cần những đồ
đạc gì.
Ông đáp:
- Tôi chỉ cần một cái bàn, một cái ghế dựa. Phòng đã sẵn bảng
đen rồi (ông ngó khắp phòng rồi nói thêm). Với một cái giỏ giấy nữa để tôi liệng
vào đó những bài toán sai.
- Giáo sư sẽ nghiên cứu về cái gì?
- Tôi muốn khai triển thuyết tương đối hẹp và tương
đối tổng quát cho có liên lạc chặt chẽ với nhau hơn. Tôi mong tiếp tục
công việc của tôi về quantum[23]. Sau cùng, tôi ước ao gom hết các hiện
tượng vật lí vào chung một số công thức toán học, tìm được những luật chung chi
phối từ những proton, électron tới các vì tinh tú.
- Làm sao mà có thể có như vậy được?
Einstein ôn tồn đáp:
- Nếu không có một sự hoà điệu thâm trầm trong vũ trụ thì
không thể có khoa học được.
Vậy là Einstein tiếp tục suy tư về thuyết champ unifié như
trên tôi đã nói.
Đời sống và điều kiện làm việc ở Princeton thật dễ chịu.
Không khí tĩnh mịch, giáo sư ít nhưng ông nào cũng có thực tài, sinh viên
nghiêm trang và được lựa kĩ.
Nhưng có lúc ông thấy ngượng vì ăn lương mà chẳng làm gì
ngoài cái việc suy nghĩ. Ông cho rằng ít nhất cũng phải làm một công việc để
sinh nhai; như triết gia Spinoza chẳng hạn, mài kính mỗi ngày mấy giờ kiếm đủ sống
rồi mới viết lách. Ông đòi dạy học như các giáo sư khác, còn thì giờ mới nghiên
cứu, như vậy mới thực là độc lập, khỏi tuỳ thuộc ai cả.
Nhưng rồi ông lại nói với môn đệ của ông là Leopold Infeld:
- Tôi muốn làm một việc tay chân, như ông đóng giày để kiếm
ăn, mà chỉ coi môn vật lí là món tiêu khiển, như vậy còn thú hơn là dạy vật lí.
Nhiều người cho ý tưởng đó thật lạ lùng, nhưng nếu suy nghĩ
kĩ thì hiểu tâm lí của ông: ông cho vật lí học là cái gì lớn lao, cao đẹp,
không nên để cái hơi đồng làm cho nó mất thanh khiết.
Năm năm sau, đủ kì hạn do luật định rồi, ông xin nhập tịch
Hoa Kì. Cuối năm 1936, bà Elsa mất, từ đây ông sống non hai mươi năm gần như cô
độc. Trong mấy chục năm bà lo hết việc nhà cửa, tiền nong cho ông, nhắc ông ăn
hoặc bận thêm áo, che chở cho ông khỏi bị khách khứa, nhất là các nhà báo quấy
rầy, lựa thư từ, trả lời nhiều cuộc phỏng vấn thay ông, mỗi khi có tò mò muốn
biết về lối sống của ông. Hai người con trai của ông lúc đó cũng đã qua Hoa Kì,
có gia đình, nhưng ở xa ông. Cũng may còn một người con gái riêng của bà, cô
Margot, ở lại săn sóc ông. Năm đó ông 57 tuổi[24].
[23] Ý nói tiếp tục tìm hiểu về cơ học
lượng tử (quantum-mechanical). Theo Nguyễn Xuân Sanh thì: “Năm 1935 sự phê phán
cơ học lượng tử của Einstein được đến cao điểm được thể hiện trong bài báo cùng
với hai đồng nghiệp trẻ là Boris Podolsky và Nathan Rosen mang tên “Sự mô tả thực
tế vật lý bằng cơ học lượng tử có thể xem là đầy đủ?” (Can Quantum-mechanical
Description of Physical Reality Be Considered Complete?). Công trình này, thường
được gọi tắt là “Nghịch lý EPR” (tên tắc của 3 tác giả), nhằm chứng minh rằng
mô tả vật lý bằng cơ học lượng tử là không đầy đủ”. (Sđd, tr.202). (Goldfish).
[24] Ngày 3 tháng 10 năm 1933,
Einstein cùng với vợ, thư kí Helen Dukas và người trợ lý Walther Mayer rời châu
Âu đi Princeton, trong khi Ilse và Margot ở lại châu Âu. Năm 1935, Ilse mất tại
Paris. Margot và chồng sau đó đến Princeton với Einstein. Mùa thu năm 1935, gia
đình Einstein và Helen Dukas dọn đến địa chỉ Mercer Street 112 ở Princeton.
Ngày 7 tháng 9 năm 1936, bà Elsa mất. Năm 1937, Hans Einstein, con trai của
Einstein, cùng với gia đình định cự tại Mĩ. Năm 1939, Maja [em gái của
Einstein] qua sống với Einstein cho đến cuối đời. Mùng 1 tháng 10 năm 1940.
Einstein, Margot và Helen Dukas chính thức trở thành công dân Hoa Kì. Einstein
vẫn giữ quốc tịch Thuỵ Sĩ. (theo Nguyễn Xuân Sanh, Sđd, tr.356, 357).
(Goldfish).
BỨC THƯ LỊCH SỬ
Cuối tháng 7 năm 1939, hai vật lí gia Hung Gia Lợi Leo
Szilard và Eugene Wigner, giáo sư ở Princeton, vẻ mặt lo lắng, lại kiếm
Einstein lúc đó đương nghỉ mát ở Long Island, tỏ ý ngại rằng Đức Quốc Xã đương
nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử, nếu họ thành công thì chẳng những châu Âu mà
khắp thế giới sẽ bị nằm dưới gót sắt của họ nếu không bị tiêu diệt.
Szilard bảo ông:
- Ông chịu viết thư cho tổng thống, thúc tổng thống lập một
chương trình chế tạo bom nguyên tử không?
Einstein thấy đề nghị đó táo bạo quá, ngồi im lặng một lát. Mới
mấy năm trước đây, hô hào các nhà bác học trên thế giới đừng chế tạo vũ khí tối
tân để nhân loại giết nhau nữa, bây giờ làm sao có thể chấp nhận một đề nghị
như vậy được, đâu có thể tiếp tay vào việc tàn sát nhân loại được. Nhưng rồi
ông nghĩ lại: Hitler tất nhiên không thể có một chút lương tâm gì cả, và nếu Đức
chế tạo được bom nguyên tử trước Hoa Kì thì mới làm sao? Ông đáp:
- Tôi chưa hề gặp Tổng thống, giá có viết thư thì cũng chẳng
ích gì…
Wigner mỉm cười, bảo:
- Tổng thống quí ông lắm, chỉ một mình ông là có thể làm cho
Tổng thổng lưu tâm tới vấn đề đó được thôi.
Ông nói:
- Tôi không khi nào tán thành cai ý dùng bom đó, trừ trường hợp
bất khả kháng. Nhưng nếu Hoa Kì có được thứ bom đó mà làm cho Hitler phải suy
nghĩ lại thì tôi sẽ gởi thư lên Tổng thống.
Einstein bèn đọc bằng tiếng Đức đại ý nội dung một bức thư
cho một người giúp việc tên là Teller chép. Rồi Szilard theo những ý đó mà viết
thành hai bức, một dài một ngắn, để Einstein lựa. Ông lựa bức dài rồi kí, chẳng
thêm bớt gì cả. Bức thư đó như sau:
Albert Einstein
Old Grove Road
Nassau Point
Peconic, Long Island
Ngày 2-8-1939
F.D. Roosewelt
Tổng thống Hoa Kì
Bạch Ốc
Washington D.C
Thưa Tổng thống,
Tôi đã được đọc bản thảo các công việc nghiên cứu mới đây của
E. Fermi và L. Szilard và tôi tin rằng chất uranium có thể một ngày gần đây biến
đổi thành một nguồn năng lực mới rất quan trọng. Theo tôi có vài khía cạnh của
tình trạng đáng cho chính quyền chú ý tới và nếu cần, phải hành động mau nữa.
Vì vậy tôi tự xét có bổn phận trình lên Tổng thống thấy những sự kiện và những
lời dặn dò dưới đây:
Do những công việc của Joliot ở Pháp, của Fermi và Szilard ở
Hoa Kì bốn tháng gần đây, người ta thấy rằng có thể gây nên những phản ứng hạch
tâm dây chuyền trong một khối uranium, những phản ứng đó có thể phát sinh được
một sức mạnh vĩ đại và rất nhiều chất phóng xạ. Hiện nay gần như chắc chắn rằng
sắp có thể đạt được kết quả đó.
Hiện tượng mới đó cũng làm cho người ta chế tạo được bom, và
có thể chứ chưa thật chắc chắn rằng những thứ bom mới này cực kì mạnh, tới nỗi
chỉ một trái thôi chở trên một chiếc tàu, để nổ trong một hải cảng thì trọn hải
cảng và một phần miền chung quanh sẽ tan tành. Nhưng có thể rằng những bom đó nặng
quá không thể chở bằng máy bay được.
Hoa Kì chỉ có ít quặng uranium mà quặng đó lại rất xấu. Ở Gia
Nã Đại, ở cựu[25] Tchécoslovaquie có quặng tốt, nhưng
những mỏ uranium lớn nhất thì ở Congo thuộc Bỉ.
Xét tình trạng như vậy, Tổng thống có thể thấy rằng chính quyền
nên tiếp xúc thường xuyên với các nhóm vật lí gia ở Mĩ đương nghiên cứu các phản
ứng dây chuyền. Có một cách là giao công việc đó cho một người được Tổng thống
tin cậy và người đó sẽ tiếp xúc với các vật lí gia một cách không chính thức.
Nhiệm vụ của người đó có thể là:
a/ Tiếp xúc với các cơ quan chính quyền, cho các cơ quan đó
hay mọi sự phát triển sẽ thực hiện được, đề nghị với chính quyền những biện
pháp cần thiết, và đặc biệt chú ý tới việc mua và dự trữ đều đều quặng uranium.
b/ Làm gấp công việc nghiên cứu hiện nay giao cho các phòng
thí nghiệm tại các đại học mà ngân sách rất eo hẹp, phải tăng ngân sách cho họ;
tiếp xúc với các tư nhân muốn trợ lực vào công việc đó, hoặc yêu cầu các phòng
thí nghiệm kĩ nghệ hợp tác, nếu họ có đủ dụng cụ cần thiết.
Tôi tin rằng Đức đã cấm bán uranium đào được ở các mỏ
Tchécoslovaquie mà họ đã chiếm được. Nếu chúng ta nhớ rằng viên thứ trưởng bộ
ngoại giao Đức được biệt phái qua viện Kaiser Wilhelin ở Berlin, mà tại viện
đó, người ta tiếp tục một phần công việc nghiên cứu về uranium, thì chúng ta hiểu
được tại sao họ vội cấm bán uranium như vậy.
Kính chúc Tổng Thống.
Bức thư Einstein gởi cho Tổng thống Roosewelt
[25] Cựu, vì lúc đó Tchécoslovaquie
đã bị Đức chiếm.
NỖI ÂN HẬN CỦA NHÀ BÁC HỌC
Bức thư đó là một tài liệu lịch sử quan trọng
và sau này làm cho Einsten rất ân hận.
Trong thế chiến thứ nhì, mặc dầu vẫn nghiên cứu về thuyết
“champ unifié”, ông cũng không quên nỗi khổ của nhân loại. Ông thường dự những
công cuộc từ thiện để giúp các trẻ em Anh tị nạn chiến tranh, giúp những nạn
nhân trong vụ Nhật tấn công Trân Châu Cảng, khuyến khích mọi người mua quốc
trái…
Khi Đức đầu hàng rồi, Hoa Kì muốn thanh toán quân đội Nhật
cho mau. Ông phản đối chủ trương thả bom nguyên tử xuống các thị trấn Nhật. Ông
gởi một bức thư nữa cho tổng thống Roosevelt, cho hay cái hại ghê gớm của bom
nguyên tử, và đề nghị mời Nhật tới một miền hẻo lánh nào đó rồi cho nổ bom
nguyên tử để họ thấy sức tàn phá kinh khủng của thứ bom đó, mà sẽ đầu hàng.
Nhưng bức thư đó còn vẫn còn nằm trên bàn của Roosevelt, khi ông này mất thình
lình ngày 14.4.45. Chính quyền Hoa Kì không nghe, thả hai trái bom xuống
Hiroshima và Nagasaki.
Ngày 6-8-1945, ông đương nghỉ ngơi ở bờ hồ Saranac thì một
phóng viên tờ New York Times lại kiếm ông cho hay rằng một trái bom
nguyên tử mới thả xuống Hiroshima. Ông rầu rĩ bảo:
- Nước ta chưa đủ khôn để sử dụng một năng lực như vậy[26].
Phóng viên nói tiếp mà có vẻ như cái máy, không tin điều mình
nói:
- Trên sáu chục ngàn người chết. Vô số người chết nữa vì chất
phóng xạ.
Einstein nghe nói mà choáng váng. Giá mà biết trước người ta
dùng bom nguyên tử cách đó thì ông không gởi bức thư trên cho tổng thống
Roosevelt. Ông viết trên tờ Atlantic Monthly, số 15-11: “Tôi tự cho tôi là
người gây ra sự giải phóng nguyên tử năng. Tôi chỉ dự vào việc đó một cách gián
tiếp. Sự thực hồi đó tôi không ngờ rằng người ta thực hiện được cái đó trong đời
tôi. Tôi tưởng chỉ mới dùng về lí thuyết thôi”.
Cho tới suốt đời, Einstein và một nhà bác học nữa,
Oppenheimer, ân hận về việc đó và lo lắng cho tương lai nhân loại, cho nên ông
hăng hái chiến đấu cho hoà bình, hô hào các bạn bác học hãy huỷ bỏ bom nguyên tử
đi, chỉ dùng nguyên tử năng vào các mục tiêu hoà bình nếu không thì “văn minh
nhân loại sẽ sụp đổ”.
Một kí giả hỏi ông nếu thế chiến thứ ba phát sinh thì người
ta sẽ dùng vũ khí nào. Ông đáp:
- Tôi không biết. Nhưng tôi có thể nói chắc rằng trong thế
chiến thứ tư, nhân loại sẽ dùng đá để liệng nhau!
Ông viết một tập nhỏ nhan đề là Only then shall we find
courage (Chỉ tới lúc đó chúng ta mới đủ can đảm) trong đó ông bảo: “Chỉ
khi nào lương tâm và trí óc của ta minh mẫn thì lúc đó chúng ta mới đủ can đảm
để thắng nỗi sợ nó ám ảnh thế giới”.
Ông thấy cần phải thành lập một uỷ ban kiểm soát bom nguyên tử,
do đó ông chấp nhận ý của Bertrand Russell, một bạn thân của ông, rằng phải có
một tổ chức quốc tế với một vũ lực mạnh mẽ thường bị[27]. Có người hỏi ông như vậy không sợ chính
quyền quốc tế đó độc tài sao, ông đáp:
- Sợ chứ, nhưng bom nguyên tử còn đáng sợ hơn.
[26] Sau này đô đốc Nhật Matsumoto
cũng nói: “Chúng tôi đã định đầu hàng, không đợi Mĩ phải dùng bom nguyên tử. Tại
sao họ còn thả thêm xuống Nagasaki làm chi. Bom nguyên tử ở trong tay họ như một
con dao sắc ở trong tay một đứa bé hư hỏng”.
[27] Coi cuốn Thế giới ngày nay
và tương lai nhân loại của Bertrand Russell, Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB văn
hoá, 1997.
EINSTEIN CẢNH CÁO CHÚNG TA
Còn kẻ thù chung là Đức, Nhật thì Nga, Mĩ, Anh còn liên minh
với nhau; khi Đức và Nhật sắp bị diệt, chiến tranh sắp tàn thì họ vội nghĩ ngay
tới việc chia phần: hội nghị Yalta và hội nghị Potsdam là cái sỉ nhục của các
cường quốc mà cũng là cái mầm gây hoạ cho khắp thế giới, hiện nay chưa dứt, biết
bao nước nhược tiểu phải chịu tai hoạ, đau đớn nhất là Việt Nam.
Nga đã ngoạm một phần lớn Đông Âu và Trung Âu nhưng vẫn chưa
vừa lòng; Mĩ làm bá chủ hoàn cầu thì tất nhiên muốn giữ hoài địa vị đó, gầm ghè
với Nga, Mĩ muốn giữ độc quyền nguyên tử, mà Nga thì muốn phá độc quyền đó, muốn
đuổi kịp Mĩ.
Chiến tranh mới chấm dứt, Nga chưa có bom nguyên tử mà
Einstein lại đòi kiểm soát vũ khí nguyên tử, nên nhiều người Mĩ ngờ ông là thân
Nga. Sự thực ông không thân Nga. Có lần ông phục Lénine là hi sinh cho sự công
bằng xã hội, nhưng ông không chấp nhận phương pháp của Lénine. Người ta sực nhớ
rằng ông vốn là Do Thái, đã ba lần thay đổi quốc tịch, không có tinh thần quốc
gia, nên đả kích ông dữ. Nhưng danh ông lớn quá, lòng ông chân thành quá, những
lời vu oan ông không làm hại ông được.
Ông vẫn can đảm đề cao tự do, hoà bình, hợp tác quốc tế, và
hai năm trước khi mất, trên báo New York Times, ông cảnh cáo dân Mĩ:
“Các nhà trí thức xứ này (Mĩ) phải đương đầu với một vấn đề rất
nghiêm trọng. Các chính trị gia phản động đã âm mưu với nhau doạ dân chúng phải
coi chừng một tai hoạ ngoại lai, để tiêm vào lòng dân chúng niềm nghi ngờ mọi gắng
sức tinh thần. Tới nay họ đã thành công; họ đương chuẩn bị diệt sự tự do giáo dục
và làm cho những kẻ nào không chịu phục tòng sẽ phải mất chức mà sẽ đói khổ.
“Thiểu số trí thức phải làm cách nào chống tai nạn đó? Thực
tâm tôi nghĩ rằng chỉ có cách là phản động theo chính sách bất hợp tác của
Gandhi. Nhà trí thức nào bị mời tới một uỷ ban điều tra thì phải từ chối không
chịu bảo chứng, nghĩa là sẵn sàng vô khám, sẵn sàng chịu nghèo đói, tóm lại sẵn
sàng hi sinh sự an toàn của chính mình cho sự an toàn của văn hoá xứ này.
(…) “Nếu có đủ một số trí thức chịu liều thân như vậy họ sẽ
thành công. Nếu không thì họ không đáng được hưởng gì hơn là cái ách nô lệ người
ta chuẩn bị cho họ”.
Sở dĩ Einstein phải lên tiếng như vậy là vì nước Mĩ vẫn tự
hào là thành trì của tự do, tự nhận nhiệm vụ cầm đầu thế giới tự do, mà lại có
biện pháp dùng một số trí thức làm mật vụ, điều tra về chính kiến, hoạt động của
thanh niên, sinh viên, và những kẻ nào họ cho là khả nghi thì không được thu dụng
trong các công sở[28].
[28] Ở Anh cũng vậy, có giáo sư
Oxford làm mật vụ. Coi cuốn đã dẫn ở trên của Bertrand Russell.
ĐỒNG CHÍ CỦA BERTRAND RUSSELL
Năm 1950, ông soát lại những toán của ông về thuyết “champ
unifié”, chưa được hoàn toàn thoả mãn, nhưng thấy đã có thể tuyên bố được.
Năm 1952, sau khi Chaim Weizmann mất, Aba Eban, sứ thần
Israël ở Hoa Kì được giao phó cho việc mời ông làm Tổng thống Israël. Ông từ chối,
biết rằng mình không có tài làm chính trị.
Ông giống như Spinoza hơn là giống Leibnitz. Spinoza mài kính
để mưu sinh, không phải tuỳ thuộc ai, mà có thể tự do suy tư về triết lí, còn
Leibnitz thì làm cố vấn cho các vua chúa, trước sau viết tới 15.000 bức thư có
tính cách chính trị. Einstein không bao giờ làm cố vấn cho một nhà cầm quyền
nào, sở dĩ viết báo, diễn thuyết, viết thư cho các bạn bác học, gia nhập các uỷ
ban hô hào hoà bình, chống bom nguyên tử, chỉ là do lòng yêu nhân loại, muốn bảo
tồn những giá trị cao quí của nhân loại.
Cũng như Bertrand Russell, ông ghét nhất chiến tranh và chính
sách chỉ huy tư tưởng, chính kiến của cá nhân.
Lần đó, trước thế chiến thứ nhì, hai ông bà lại toà Đại sứ Mĩ
ở Đức để làm nốt mấy thủ tục xin giấy thông hành. Một nhân viên tra vấn ông:
- Chính kiến của ông ra sao?
Ông ôn tồn đáp:
- Tôi không có chính kiến nào cả.
- Ông có ở trong một nhóm nào không?
- Có, nhóm người chống chiến tranh.
- Những người đó là ai?
Ông nổi nóng lên, đáp:
- Các bạn tôi. Nhưng tôi không hiểu tại sao ông lại hỏi tôi
những câu đó.
Rồi ông đưa mắt nhìn bà. Bà hiểu ý, lượm chiếc nón và chiếc
áo khoác ở trên một chiếc ghế dựa.
- Nếu bị tra vấn như vậy thì thôi tôi không qua Mĩ nữa.
Ông khoác áo, bước ra. Ra tới khỏi cửa, ông hết giận, bảo bà:
“Anh chàng đó có lẽ chỉ tuân lệnh trên thôi”[29].
Hôm sau điện tín tới tấp bay lại nhà ông, “xin ông bỏ qua cho
sự ngu xuẩn của một số công chức”. Và một nhân viên toà đại sứ Mĩ mang tờ thông
hành lại tận nhà cho ông.
[29] Chép theo Nouveaux
Horizons; bản Seghors hơi khác.
VÀI NÉT VỀ ĐỜI TƯ CỦA EINSTEIN
Ông dậy vào lúc tám giờ sáng, chơi đàn piano một lát, tắm rửa
xong, ăn điểm tâm, rồi nhồi một ống điếu, vô phòng làm việc.
Nhiều người thường hỏi ông làm việc mấy giờ một ngày. Ông
không biết trả lời ra sao. Ông hỏi lại những người khác làm việc bao nhiêu giờ
một ngày. Người ta đáp: tám hay chín giờ. Ông nhún vai: “Tôi không thể làm việc
nhiều như vậy được. Mỗi ngày tôi chỉ làm bốn, năm giờ thôi. Tôi ngại rằng tôi
không siêng năng lắm”. Làm việc đối với ông là suy nghĩ, là làm toán. Ông nói
như vậy chớ thực sự óc ông không lúc nào được nghỉ ngơi. Cho nên cả những ngày
chủ nhật, đương lúc ông thả thuyền buồm, hễ[30] nghĩ ra một ý nào, ông cũng trở vô
làm việc liền.
Có người hỏi ông:
- Chủ nhật giáo sư cũng làm việc sao?
Ông đáp:
- Chính Thượng đế cũng làm việc ngày chủ nhật kia mà.
Một lần Philippe Frank và ông rủ nhau đi thăm viện Thiên văn
vật lí Potsdam, hẹn đợi nhau ở một chiếc cầu nào đó. Frank không biết đường phố
Berlin, sợ tới trễ. Einstein bảo: “Ông tới trễ thì tôi đứng đó đợi ông chứ có
gì đâu”. Frank bảo như vậy làm mất thì giờ của ông. Ông đáp: “Công việc của tôi
làm ở đâu mà chẳng được. Tại sao đứng ở cầu thì tôi lại không suy nghĩ về các vấn
đề của tôi như ở nhà tôi được?”.
Einstein đang thả thuyền buồm của mình trên hồ Saranac
Trong khi làm việc ông không ngại bị người khác quấy rầy. Một
bọn sinh viên sau giờ học, hỏi ông:
- Xin thầy cho chúng con biết giờ nào thầy làm việc ở nhà.
Ông đáp:
- Ban ngày, các anh tới giờ nào cũng được.
- Như vậy chúng con sợ làm ngưng công việc của thầy chứ.
- Có ngưng lại một chút đấy. Nhưng các anh về rồi thì tôi lại
làm việc.
Tư tưởng của ông như một dòng nước chảy xiết. Liệng một hòn
đá xuống, nước toé lên rồi lại tiếp tục chảy.
Nhưng ông sợ nhất là người trạm mang thư lại. Có lần ông bảo:
“Kẻ thù đáng ghê nhất của tôi đấy. Không làm sao tránh khỏi nanh vuốt của chú ấy
được”.
Là vì thư từ của mọi hạng người khắp nơi trên thế giới gởi tới
nhà ông hằng chồng mỗi ngày. Bà Elsa phải lựa trước liệng một số lớn đi, tự trả
lời một số khác, chỉ giữ lại một số ít đưa ông đọc. Thực là một cực hình đối với
ông. “Ban đêm tôi nằm mê thấy tôi bị thiêu ở dưới âm ti, mà tên quỉ sứ hành
hình tôi chính là chú trạm đưa thư”. Nội cái việc đọc thư và trả lời đó nuốt của ông mất mấy giờ mỗi ngày rồi.
[30] Sách ghi: hể (Ca_kiem)
GIẢN DỊ…
Ông sống cực kì giản dị.
Hồi về già, ông được nhiều người coi như một nhân vật huyền
thoại vì không tưởng tượng được làm sao ông chỉ nhờ suy tư mà tìm được những luật
thiên nhiên rất mầu nhiệm rồi chỉ dùng cây bút, chứ không cần có phòng thí nghiệm
mà chứng thực được những luật đó. Một nữ sinh có lần viết thư cho ông, bảo:
“Con viết thư cho cụ chỉ để xem cụ có thực không”.
Nhưng ai đã gần ông đều thấy ông rất dễ thương “tới nỗi muốn
ôm lấy ông, siết tay ông, hoặc vỗ nhẹ vào lưng ông… mà đồng thời vẫn trọng ông
vô cùng”.
Một nét đặt biệt của ông là mớ tóc bù xù, không khi nào chải,
ngay từ hồi ông còn trẻ, và về già thì có lẽ cả năm không hớt. Ở trong nhà, ông
chỉ bận chiếc áo cụt ấm bằng len hay bằng da; đi dự lễ thì bận bộ đồ “complet”
chứ không chịu bận “smoking” (lễ phục), ngay cả lần lãnh giải Nobel cũng vậy.
Chỉ mỗi một lần, đúng hơn là hai lần, ông chịu bận đồng phục.
Năm 1910, ông được vời làm giáo sư đại học Prague. Theo lệ, giáo sư nào ở Áo
cũng phải bận một đồng phục tựa như đồng phục của sĩ quan hải quân: mũ ba sừng
cắm lông chim, áo quần có nẹp kim tuyến, gươm đeo bên sườn, để làm lễ tuyên thệ
nhậm chức. Ông may bộ đồ đó, bận một lần trong buổi lễ, sau bán lại cho giáo sư
Frank. Nhưng trước khi bán, cậu Hans, con lớn của ông bảo:
- Khoan đã ba, ba bận bộ đồ đó, dắt con đi chơi đã.
Ông hiểu ý cậu muốn khoe với bạn trong khu phố, rằng ba cậu
“rất oai”.
Bà Mileva can:
- Thiên hạ sẽ nghĩ sao đây?
Ông đáp:
- Sẽ tưởng anh là một vị đô đốc Brésil.
Rồi ông bận bộ đồ đó, dắt con đi chơi, chiếc gươm đeo bên sườn,
dài quá, có khi làm cho ông vấp.
Qui tắc của ông là hạn chế nhu cầu để được tự do thêm, bớt tuỳ
thuộc tha nhân và ngoại vật. Ông bảo: “Chúng ta là nô lệ cho cả triệu cái, mà cứ
mỗi ngày mỗi nô lệ thêm… Nô lệ cho phòng tắm, tủ lạnh, xe hơi, máy thu thanh…”.
Ông để tóc dài cho bớt lệ thuộc người hớt tóc, chỉ dùng một
thứ xà bông để giặt, tắm, gội đầu, chỉ bận một chiếc áo cụt bằng da trong mấy
năm, muốn bỏ cả vớ nữa. Vì vậy mà nhiều bạn đồng sự cho ông là kì cục.
…MÀ HỒN NHIÊN
Ông rất hồn nhiên, yêu trẻ và thanh niên.
Hồi ở Princeton, một đêm Noel, một đám trẻ trai gái lại hát
trên bồn cỏ trong vườn ông. Ông nghe xong rồi hỏi các em:
- Các cháu có chịu bác ôm cây vĩ cầm đi theo các cháu không?
Chúng đồng thanh đáp:
- Chịu, chịu.
Thế là ông khoác thêm chiếc áo bằng da, chụp cái mũ nồi lên đầu,
xách cây vĩ cầm nhập bọn với chúng. Có một vĩ nhân nào dễ thương như vậy không?
Ngôi nhà số 112 Mercer Street ở Princeton, New Jersey, Hoa Kì
Einstein sống trong ngôi nhà này từ 1935 cho đến cuối đời
Trẻ em mà lại thăm ông thì ông bao giờ cũng vui vẻ tiếp đón.
Một hôm một em gái nhỏ lại xin ông giải cho một bài toán. Khi em về rồi, bà
trách ông:
- Nhiều khi mình coi thì giờ của mình không quan trọng gì cả.
Ông mỉm cười, đáp:
- Em ấy sẽ trả công anh một cách xứng đáng, lấy tiền túi ra
mua cho anh cục kem.
Một em gái khác táo bạo hơn, hễ gặp bài toán nào khó cũng lại
xin ông gà cho. Má em hay vậy, lại xin lỗi ông. Ông bảo:
- Bà và cháu khỏi phải xin lỗi tôi. Tôi nói chuyện với cháu,
có lợi cho tôi hơn là có lợi cho cháu.
Một nam sinh trung học, trình độ đệ lục của ta viết thư xin
ông giải cho một bài toán về đường tiếp xúc với một hình tròn. Ông vẽ hình, chứng
minh cho, rồi kí tên: A.E. gởi cho.
Những sinh viên được học ông đều quí mến ông. Hans Tanner,
môn đệ của ông từ 1911, viết về ông như sau:
“Khi thầy Einstein lần đầu tiên vô giảng đường, áo sờn, quần
ngắn quá, chiếc dây đồng hồ bằng sắt, anh em chúng tôi hoài nghi quá.
“Nhưng cách giảng của thầy làm cho tấm lòng sắt đá của chúng
tôi phải cảm động. Thầy chỉ ghi những điểm quan trọng trên một miếng giấy nhỏ bằng
tấm danh thiếp. Bài giảng từ trong óc trực tiếp phát ra, thành thử chúng tôi biết
cách suy nghĩ của thầy ra sao, như vậy thích thú hơn là những bài giảng đã nghĩ
sẵn, gọn, không có lỗi hành văn của các thầy khác (…) Mỗi khi không hiểu một điểm
nào thì chúng tôi có thể ngắt lời thầy được (…) Đôi khi thầy thân tình, thẳng
thắn nắm lấy cánh tay của một sinh viên để giảng cho một điểm trong bài, như
nói chuyện với một người bạn”.
Buổi chiều, giờ tan học, Einstein thường hỏi: “Nào có ai muốn
ra tiệm cà phê với tôi không nào?” Thế là thầy trò kéo nhau ra tiệm, vừa đi vừa
bàn về các vấn đề khoa học hoặc xã hội. Có lần thầy trò ngồi với nhau tới khi
tiệm cà phê sắp đóng cửa mà vẫn chưa hết chuyện, thầy kéo trò về nhà nói chuyện
tiếp.
Ông thường khuyên môn đệ của ông phải kiên nhẫn, kiên nhẫn, nếu
tìm tòi, suy nghĩ hoài mà không ra thì cũng nên mừng vì “đã bắt thiên nhiên phải
thách đố mình rồi”. Một sinh viên phàn nàn rằng mất năm giờ mới tìm ra được chỗ
lầm trong bài toán, ông mỉm cười bảo: “Đã thấm gì đâu”.
Ông thú thực với một nhà báo: “Tôi suy nghĩ, suy nghĩ cả
tháng, cả năm. Một trăm lần thì tôi suy luận sai tới chín mươi chín lần. Tới lần
thứ một trăm may mà đúng”.
Nhà báo đó hỏi thêm:
- Theo giáo sư thì có công thức nào để thành công?
Ông hóm hỉnh đáp:
- Cho x là sự làm việc, y là sự tiêu khiển, a là
sự thành công. Công thức của tôi là: a = x + y + z.
Nhà báo ngạc nhiên:
- Thế còn z là gì?
Ông mỉm cười:
- Là biết làm thinh.
…VÀ NHŨN NHẶN, GHÉT QUẢNG CÁO
Một đức nữa cũng rất quí của ông là đức nhũn nhặn. Như trên
tôi đã nói, ông không chịu nhận rằng có công lớn với nhân loại, thấy ai so sánh
ông với Gandhi thì ông ngượng vì ông thực tâm nghĩ rằng khoa học không có giá
trị gì lớn lắm khi phải giải quyết các vấn đề nhân bản; con người chỉ tìm ý
nghĩa chân chính của cuộc đời khi hi sinh cho xã hội như Gandhi. Ông rất phục
Gandhi, bảo các thế hệ sau này khó mà tin được rằng Gandhi đã sống trên trái đất.
Ông không muốn ai nhắc tới mình để được yên ổn làm việc nhưng
không được. Ông nhận được mấy trăm bằng cấp danh dự và huy chương (mà ông không
khi nào đeo); phải dự không biết bao nhiêu là cuộc tiếp rước, hội họp, ông lấy
làm ngán lắm. Một lần ông trách bà Elsa:
- Tại sao mình nhận lời dự buổi hội họp mà không hỏi ý anh
trước? Anh không ưa cái chỗ đó: xa xỉ, khoe khoang quá.
Lần khác, đi đâu về nhà thấy khách khứa đầy nhà ông phụng phịu
bảo bà:
- Anh đi chỗ khác thôi, nơi đây đông người quá.
Ngày sinh nhật ông bảy mươi bốn tuổi, đại học đường Yeschiva
đã xin phép ông lấy tên đặt cho trường Y Khoa[31], tổ chức một buổi tiệc để quyên tiền cho
trường, ông bắt buộc phải tới dự. Ông chẳng ăn uống gì cả, cuối bữa tiệc một
người hỏi ông các món ăn có ngon không. Ông đáp:
- Rất ngon, nhưng xong rồi, tôi thấy mừng quá.
Trong một buổi họp khác đã có nhiều người diễn thuyết rồi tới
phiên ông. Ông ghét những lời rỗng, sáo, “xin được kéo một khúc vĩ cầm mà khỏi
đọc diễn văn, như vậy chư vị sẽ dễ hiểu tôi hơn mà mến tôi hơn”. Và ông chơi một
bản nhạc của Mozart, một cách rất tự nhiên, cảm động[32].
Biết ông ham chơi vĩ cầm, một người tặng ông một chiếc vĩ cầm
đáng giá cả chục ngàn Mĩ kim do Guarneri[33] chế tạo. Ông từ chối:
- Cây đàn quí như vậy, phải là nhạc sĩ bậc thầy mới đáng dùng
nó.
Không khi nào ông quan tâm tới tiền nong. Khi đại học
Princeton mời ông làm giáo sư, xin ông định cho số lương. Ông lúng túng:
- Tôi không biết nữa, ba ngàn Mĩ kim một năm được không ông?
Người kia biết rằng ông không hiểu chút gì về giá sinh hoạt ở
Mĩ, tưởng đâu cũng như Đức, Thuỵ Sĩ, vội vàng bảo:
- Thôi, vấn đề đó để bà giáo sư và chúng tôi bàn với nhau, ba
ngàn Mĩ kim thì làm sao đủ sống.
Các nhà báo lại phỏng vấn về đời tư của ông thì ông luôn luôn
từ chối: “Trong đời một người như tôi chỉ suy nghĩ, tìm tòi, thì cái quan trọng
nhất là tôi suy nghĩ về những vấn đề gì chứ không phải là tôi làm những gì đau
khổ ra sao”.
Và ông rất ghét các nhà giám đốc Hollywood muốn lợi dụng danh
tiếng của ông để trục lợi. Khi ông công bố thuyết “champ unifié”, một nhà sản
xuất phim nọ đề nghị với ông một số tiền vĩ đại, mà chỉ xin ông cầm cục phấn đứng
trước bảng đen vài phút thôi. Ông bảo bà:
- Anh không chịu đóng cái trò con khỉ thông thái đâu.
Nhiều nhà sản xuất xe hơi, khi cho ra một kiểu mới, xin tặng
ông một chiếc có ý quảng cáo, ông cũng từ chối hết.
[31] Tức ngày 14 tháng 3 năm 1953;
tên trường là: Albert Einstein College of Medicine. (theo
http://en.wikipedia.org/wiki/Albert_Einstein_College_of_Medicine). (Goldfish).
[32] Nguyễn Xuân Sanh thuật lại buổi
tiếp tân ở Prague như sau: “Tại Prag nơi ông đã làm giáo sư năm 1911 người
ta đến nghe chật ních cả phòng họp một cách nguy hiểm. “Người ta đến không phải
để hiểu mà cốt để tham gia, chứng kiến một sự kiện kích thích”. Tại buổi tiếp
tân đêm đó, sau khi nhiều người phát biểu, đến phiên Einstein thì ông nói: “Có
lẽ sẽ dễ chịu và dễ hiểu hơn cho Quý vị nếu tôi chơi một bản nhạc trên đàn vĩ cầm
cho Quý vị thay vì đọc một bài diển văn”. Thế rồi ông lấy đàn ra và chơi một bản
Sonate của Mozart một cách say sưa ngon lành. Ông như muốn trình bày bằng âm
thanh tính phức tạp của vũ trụ nhưng lại có thể được diễn tả - qua khả năng tri
thức của con người – bằng những công thức đơn giản”. (Sđd, tr. 111, 112).
(Goldfish).
[33] Sách in là: Guanneri.
(Goldfish).
THÍCH GIÚP NGƯỜI
Nhưng thấy ai đáng giúp thì không khi nào ông tiếc công.
Một lần để giúp trong một cuộc quyên tiền của một cơ quan nào
đó, ông chép tay lại bài báo của ông về thuyết tương đối mà ông đã đăng từ lâu.
Bản chép tay đó một thư viện mua với giá mấy triệu Mĩ kim.
Khi bà Elsa mất rồi, cô Margot, con riêng của bà và cô Dukas,
thư kí của ông thay phiên nhau che chở ông cho khỏi bị khách quấy rầy.
Một hôm đi chơi về, ông thấy một phóng viên đứng đợi trước cửa.
Nhà báo đó chào ông rồi thưa:
- Cô thư kí của cụ cấm không cho tôi vô, nhưng nếu tôi không
nộp cho toà soạn được một bài về cụ thì người ta không nhận cho tôi làm.
Thấy thanh niên đó nghèo túng lạnh run, quần áo đã sờn mà
không đủ ấm, ông bảo:
- Thầy vô đi, tôi cho thầy phỏng vấn. (Ông nhăn mặt, nói
thêm). Nhưng nên mau mau lên kẻo cô Dukas bắt gặp thầy ở đây.
Khi cô Dukas trách ông đã phí thì giờ, ông ôn tồn đáp:
- Làm sao được, thầy ấy gốc gác ở Ulm, người đồng hương của
tôi mà.
Trước thế chiến thứ nhì, hồi ông còn ở Berlin, một thanh niên
tên là Leopold Infeld vẻ mặt xanh xao, lại kiếm ông, thưa:
- Làm mất thì giờ của giáo sư, tôi ngại lắm, nhưng ở Berlin
này tôi không quen biết ai cả. Tôi…
Thấy chàng có vẻ thông minh, hăng hái, ông bảo chàng có điều
gì muốn nhờ cậy thì cứ nói.
Infeld kể tình cảnh: con một người thợ đóng giày nghèo ở
Cracovie, Ba Lan, chỉ ước ao được làm giáo sư vật lí; nhưng không trường đại học
Ba Lan nào nhận vì chàng gốc Do Thái; qua Berlin, xin vô đại học mà đơn không
được xét.
Ông nói giúp chàng và chàng được vô học thử[34].
Sau Infeld cũng tị nạn Đức Quốc Xã, cũng qua Mĩ, lại
Princeton, được cấp học bổng trong một năm, để làm phụ tá cho ông. Học bổng
không được tái cấp, chàng lúng túng, nhưng không chịu nhận tiền của ông. Một
hôm chàng lại thưa với ông:
- Thưa thầy, con đã nghĩ ra một cách… Xin thầy đừng chê con tự
phụ, ngu ngốc…
- Cách gì đó, nói đi.
Chàng ngượng nghịu đề nghị:
- Cách này đây: thầy và con viết chung một cuốn về sự phát
triển của môn vật lí. Ý là ý của thầy nhưng con sẽ trình bày cho giản dị.
Einstein vuốt râu, rồi đưa tay cho Infeld bắt:
- Được đấy, chúng mình sẽ viết cuốn đó.
Ít tháng sau, trước ngày lễ Lao động năm 1937, Einstein và
Infeld gởi bản thảo cuốn The Evolution of Physics (Sự Tiến triển của
Khoa Vật lí)[35] cho nhà xuất bản Simon and
Schuster. Trong bài tựa có câu:
“Cuốn sách này chỉ là một cuộc đàm thoại giữa độc giả và
chúng tôi. Độc giả có thể cho nó là chán hay thích thú, nhưng nếu nó giúp độc
giả có được vài ý niệm về sự gắng sức bất tuyệt của trí óc con người để hiểu rõ
hơn những luật chi phối các hiện tượng vật lí, thì mục đích của chúng tôi đạt
được rồi”.
Cuốn đó xuất bản năm 1938, bán rất chạy, khắp nơi trên thế giới
đều hỏi mua, chính nhà xuất bản cũng ngạc nhiên.
Einstein góp nhiều công trong cuốn đó, nhưng khi bản thảo viết
xong rồi, ông không nghĩ tới nữa, muốn in ra sao thì in, ông cũng chẳng buồn
ngó ấn cảo. Infeld phải nói dối nhà xuất bản rằng ông thích cách trình bày lắm.
Sự thực, sách tới, ông không mở ra coi nữa.
Nhưng ông phải đề tặng không biết bao nhiêu bản, tới nỗi hễ
trông thấy cuốn sách nào có bìa xanh dương là
ông “chụp ngay cây viết, như một cái máy” (lời của ông).
[34] Sau đó, năm 1921, Infeld được
trao bằng tiến sĩ tại Đại học Jagiellonian (Ba Lan) (Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Leopold_Infeld).
(Goldfish).
[35] Các bạn có thể tải bản PDF của
tác phẩm này tại: http://rs2p12.rapidshare.com/cgi-bin/rsapi.cgi?sub=download&fileid=81351136&filename=0671201565.rar&dlauth=256B2C646B1E11E819EEE32164B0395943A6B7319C16073B516FD5F98E43D0F69B36DC75A37C4FB63706782ECF0863271E6CD921B67ECB33156AF682ADB804F4618A0993CF537D82B1531D0F32199009BBDC075E7AB8AC5D1125E35266131BA307E6B437890F23F128876749AE45BFD3.
(Goldfish).
TƯ TƯỞNG CỦA EINSTEIN
Tôi thấy ít có nhà khoa học hiện đại nào mà tinh thần quân
bình như Einstein. Ông chuyên về toán và vật lí nhưng cũng biết yêu nghệ thuật
như âm nhạc, văn chương, trên tôi đã nói ông phục Mozart, Bach, Schiller,
Goethe, lại thường đọc các triết gia như Spinoza, Schopenhauer, Nietzsche “để
biết chứ không nhất thiết theo chủ trương của họ”. Hồi nhỏ ông không ưa các môn
cổ ngữ La, Hi, nhưng lớn lên ông thấy môn cổ học có lợi cho sự đào tạo tâm hồn
con người. Nhờ vậy ông có một nhân sinh quan cao đẹp.
Dưới đây tôi xin giới thiệu nhân sinh quan của ông. Ông không
hề thắc mắc về mục đích của đời sống; ngay từ hồi trẻ, ông đã chủ trương rằng sống
thì phải phục vụ cái thiện, cái mĩ và cái chân; nếu chỉ lo
kiếm tiền và hưởng lạc thì thứ lí tưởng đó ông gọi là lí tưởng của con heo.
Ông đặt cái thiện (đạo đức) lên trên cái chân (khoa học). Mặc
dầu là nhà khoa học, ông nhận rằng:
“Lí trí không thể dẫn dắt ta được, chỉ có thể phục vụ ta
thôi. (…) Trí năng rất tinh mắt khi tìm phương pháp và phương tiện, nhưng nó lại
đui khi nhận định mục tiêu và giá trị”.
Mà mục tiêu của chúng ta là phải dựng nên được một cộng đồng
gồm những người bình đẳng, tự do và sung sướng.
Vì vậy ông chiến đấu cho tự do. Quan niệm về tự do của ông
sâu sắc. Theo ông, tự do cá nhân đành là cần thiết rồi, nhưng chỉ là ngoại diện;
cần có tự do nội tâm nữa, nghĩa là con người cần “giữ cho tư tưởng của
mình được độc lập đối với những hạn chế do thành kiến xã hội, đối với thủ tục
và các thói quen”; muốn vậy mỗi người phải được đủ ăn, có thì giờ nhàn rỗi để
trau dồi tri thức[36], đạo đức, và phải được dạy dỗ từ hồi nhỏ
theo một tinh thần khác tinh thần trong các học đường ngày nay, nghĩa là không
bị nhồi sọ mà tập suy tư một cách độc lập.
Einstein chơi violon cho một buổi hoà nhạc từ thiện
trong một giáo đường Do Thái ở Berlin vào năm 1930
Ông lại chiến đấu cho sự bình đẳng xã hội và kinh tế. Ông bảo:
“Chúng ta bao lâu nay vẫn không tìm được những giải pháp
thích hợp với cuộc xung đột chính trị và các tình trạng khẩn trương kinh tế
(…). Có lẽ sự tương phản về quyền lợi kinh tế giữa các cá nhân, giữa các dân tộc
là nguyên nhân lớn gây ra tình trạng nguy hiểm, đáng lo ngại hiện nay trên thế
giới”.
Ông cực lực chống chiến tranh, như chúng ta đã biết, và như
Bertrand Russell, ông đề nghị thành lập một tổ chức siêu quốc gia, nắm quyền tối
cao về kinh tế và võ bị. Bao nhiêu vũ khí nguyên tử giao cho tổ chức đó hết,
như vậy mới tránh được nạn tiêu diệt nhân loại. Ông không nói rõ ra, nhưng chắc
ông cũng nghĩ rằng những nguồn lợi thiên nhiên trên thế giới phải là của chung
của mọi dân tộc, như vậy mới có sự bình đẳng.
Theo ông, bất kì người nào cũng phải giúp vào sự thực hiện tổ
chức đó bằng cách truyền bá những tư tưởng hoà bình, nhân đạo, phải buộc các ứng
viên vô quốc hội… đại diện cho mình, một khi trúng cử sẽ hoạt động cho trật tự
thế giới.
Riêng các nhà bác học có nhiệm vụ quan trọng hơn: phải cảnh
cáo chính quyền, chống chính quyền bằng đường lối bất hợp tác của Gandhi, mỗi
khi chính quyền tỏ ra độc tài, hiếu chiến. Ông cho rằng sở dĩ các chính quyền
thời nay có sức đàn áp quần chúng kinh khủng, chính là do các nhà bác học đã trực
tiếp hoặc gián tiếp tạo các phương tiện đàn áp cho bọn cầm quyền.
Lời buộc tội của ông chắc làm cho rất nhiều nhà bác học xấu hổ.
Người ta khen “đức độ của ông còn rực rỡ hơn thiên tài của ông” là phải.
Ông chẳng những đáng làm gương cho chúng ta, mà còn đáng làm bậc thầy cho tất cả
các nhà bác học trên thế giới nữa.
[36] Sách ghi: trau giồi trí thức.
(Ca_kiem).
TRIẾT NHÂN EINSTEIN
Thái độ của ông đối với lẽ sinh tử y như thái độ của các triết
gia thời cổ.
Ngay từ 1916, một lần ông đau nặng, tưởng không qua khỏi, ông
đã bảo một bà bạn:
- Tôi tự coi tôi là một phần tử của tất cả những gì sống
trong vũ trụ; sinh và tử chỉ như thuỷ trào lên xuống nên tôi không quan tâm tới
khởi thuỷ và chung cục của mỗi đời sống.
Giáo sư Einstein, tranh của Low
Một Lão tử của thế kỷ 20 đi tìm cái “Đạo” của vũ trụ[37]
Lần khác ông nói với môn sinh của ông là Infeld:
- Đời sống là một cảnh tượng say mê. Tôi thích nó. Nó tuyệt
diệu. Nhưng nếu tôi biết trước rằng ba giờ nữa tôi chết thì tôi cũng tuyệt
nhiên không xúc động. Tôi sẽ nghĩ cách dùng ba giờ cuối cùng đó ra sao cho có
ích nhất, tôi sẽ bình tĩnh, sắp đặt các giấy má của tôi, rồi tôi bình tâm nằm
xuống.
Các khoa học gia chân chính sao mà gần gũi các triết gia thế.
Khi suy tư mấy chục năm về thiên nhiên thì dù theo con dường nào, rốt cuộc người
ta cũng đồng hoá với vũ trụ.
Ngày 13 tháng 4 năm 1955, ông đau nhói dữ dội ở đại động mạch
quản (aorte)[38]. Các y sĩ đòi mổ, ông không chịu. Một giờ
rưỡi sáng ngày 18-4 ông nghẹt thở, thì thào mấy lời bằng tiếng Đức mà cô y ta
không hiểu. Rồi ông tắt nghĩ.
Theo di chúc, không có một lễ long trọng nào của chính quyền,
cũng không làm lễ tôn giáo. Di hài ông được hoả thiêu, chỉ có vài người cực
thân tới dự, vì giờ và chỗ thiêu được hoàn toàn giữ kín[39]. Vốn là tro bụi, Einstein lại sớm trở về
với tro bụi. Trước ông chưa có đám táng một vĩ nhân nào mà giản dị, khiêm tốn tới
mực đó, mà sau ông cũng chỉ thấy có đám táng của Bertrand Russell[40]. Cả khi chết rồi, ông cũng còn cho nhân
loại một bài học nữa.
Toàn thế giới xúc động. Báo nào cũng loan tin. Điếu văn rất
nhiều, nhưng tôi không chép lại vì trước cái chết của những người như Gandhi,
Einstein, tôi thấy lời điếu nào cũng là vô nghĩa hết.
Sài Gòn ngày 1-10-1970
(In theo bản NXB Lửa Thiêng, 1972 Sài Gòn)
[37] Lời chú thích trong Sđd, trang
268. (Goldfish).
[38] Tức động mạch chủ. Xem thêm
bài Cái chết của nhà vật lý vĩ đại A.Einstein của Bùi Hữu Cường trên
trang http://antg.cand.com.vn/vi-VN/hosomat/2010/6/72521.cand. (Goldfish).
[39] Trước đó, có lần ông bảo: “Tang
lễ tự nó, chẳng nghĩa gì cả (…) Chăm lo tang lễ chẳng khác gì lo việc đánh
giày, chỉ để cho không ai có thể chê mình rằng đi giày dơ”.
[40] Coi cuốn Thế giới ngày nay
và tương lai nhân loại của Bertrand Russell – Văn hoá xuất bản 1997, và cuốn Bertrand
Russell chiến sĩ tự do và hoà bình (nt)
Đám tang của Mozart, nhạc sĩ mà Einstein thích nhất cũng chỉ
có một số rất ít người đi đưa, nhưng hoàn toàn khác hẳn: tình đời bạc bẽo, bao
nhiêu người trước kia ngưỡng mộ Mozart lúc đó quên Mozart và ngay mấy người đi
đưa đám, giữa đường gặp bão tố, cũng bỏ về hết, chỉ còn trơ hai người phu
khiêng quan tài tới huyệt.
Nguyễn Hiến Lê
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét