Danh nhân lịch sử Việt Nam:
Nguyễn Hữu Chỉnh
LỜI NÓI ĐẦU
Dân tộc Việt Nam ta có lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời,
có một nền văn hóa vô cùng đặc sắc. Nền văn hóa đó là do công lao tạo dựng của
những con người Việt Nam, của những nhân vật lịch sử cụ thể.
Nằm trong dòng chảy của lịch sử loài người, lịch sử Việt Nam
đã trải qua những biến cố thăng trầm, có những năm tháng độc lập, tự do, vươn
lên mạnh mẽ với những sự tích anh hùng lẫm liệt, nhưng cũng có những năm tháng
loạn ly suy thoái, chìm đắm trong cảnh nước mất nhà tan. Trong bối cảnh lịch sử
đó, đã xuất hiện những con người làm thay đổi diện mạo của xã hội, góp phần
tích cực vào công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, mở ra một thời kỳ mới
cho đất nước, đưa đất nước tiến lên. Chính vì vậy họ được trang trọng ghi tên
vào sử sách, được nhân dân quý trọng, đời đời tôn vinh. Nhưng bên cạnh họ, còn
có những kẻ yếu hèn đê tiện, gặp khi Tổ quốc lâm nguy đã sẵn sàng bắt tay với
giặc, bị nhân dân căm thù lên án. Do đó, một yêu cầu lớn đặt ra cho việc tìm hiểu,
học tập lịch sử dân tộc là không phải chỉ hiểu biết về các nhân vật chính diện,
mà còn cả về những nhân vật phản diện...., để trên cơ sở đó hiểu được đặc điểm
phát triển phong phú, đa dạng, phức tạp của lịch sử dân tộc, đặng rút ra được
những nhận xét, đánh giá, những kinh nghiệm và bài học lịch sử cần thiết. Bộ
sách Danh nhân lịch sử Việt Nam là nhằm mục tiêu phục vụ đông đảo bạn
đọc, những người yêu thích lịch sử dân tộc, là theo tinh thần đó.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, các thế hệ cha ông chúng ta ở
nhiều thế kỷ trước đã có nhiều nhà văn hóa, nhà sử học ghi lại khá đầy đủ công
tích của các danh nhân kiệt xuất trong các bộ “chính sử”, “dã sử”, “dật sử”...
Đó là những con người mà sự nghiệp lẫy lừng của họ đã đóng góp cho quê hương đất
nước, hoặc tạo nên những thành tích lớn lao, hoặc mở ra hẳn một thời đại mới.
Chung quanh các nhân vật này cũng thường có những truyền thuyết, giai thoại,
thơ ca hấp dẫn mọi người bằng những nét đẹp trí tuệ và cảm thức thẩm mỹ tuyệt vời
mà gần gũi như không có một danh nhân nào đi ra ngoài những nhận xét ấy.
*
Việc tìm hiểu nghiên cứu các danh nhân lịch sử vốn là một đề
tài hấp dẫn rất nhiều các nhà nghiên cứu và giới thức giả xưa nay. Từ các thời
xa xưa đã có nhiều học giả quan tâm thể hiện thành những tác phẩm văn chương kỳ
thú. Đến thời cận hiện đại lại có nhiều hơn các công trình sáng tác, biên khảo
các loại truyện ký, tiểu thuyết. Trước cách mạng tháng 8-1945, chúng ta đã từng
được đọc nhiều cuốn sách danh nhân truyện ký viết về thời Hùng Vương, về Bà
Trưng, Bà Triệu, Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,
Quang Trung, Nguyễn Công Trứ... Nhưng đến nay, loại sách này cũng đã trở nên
khó tìm. Vả lại, những truyện đó cũng có những điểm hạn chế, bất cập về mặt này
mặt khác trong nội dung biểu hiện của nó, và nó đã bị thời đại vượt qua, cần được
đính chính lại theo nhận thức mới của thời đại hiện nay.
Bộ sách Danh nhân lịch sử Việt Nam đã nhận được sự
hưởng ứng và cộng tác của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa học, những người
tâm huyết với việc tìm hiểu lịch sử Việt Nam, mong muốn phổ biến những kiến thức
lịch sử giúp cho độc giả gần xa hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về các danh nhân lịch
sử.
Tuy cách tiếp cận các nhân vật lịch sử của các tác giả chưa đạt
tới mức độ nghiên cứu chuyên sâu ở mức độ hàn lâm, nhưng cũng đã cố gắng để
mang đến những thông tin một cách toàn diện, nhiều chiều về các nhân vật lịch sử,
phổ cập rộng rãi tới đông đảo bạn đọc, giúp họ có thể tiếp thu nội dung một
cách dễ dàng thoáng nhẹ, dễ nhớ lâu dài. Nhóm biên soạn cũng đã cố gắng để
tránh những sai sót, bất cập, hạn chế của những cuốn sách của các tác giả trước
đây, đồng thời còn mang đến những kiến thức mới, những phân tích lý giải rõ
ràng, đúng đắn, hợp lôgíc và nhận thức tư duy đổi mới đối với lịch sử và nhân vật
lịch sử....
Trong nội dung của các tập sách này, ngoài phần mô tả, kể lại
đầy đủ con người, cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân, ở phần lớn các tập sách
được ấn hành lần này đều có thêm phần Phụ lục kèm theo, trong đó hàm chứa những
trang tư liệu mới được bổ sung nhằm thuyết minh rõ thêm để bổ sung cho phần
chính văn ở trên. Đó là những văn bản bình luận, nhận định, đánh giá danh nhân
đó của những học giả, hoặc các mẩu giai thoại, huyền sử, thơ ca dân gian, hoặc
các tư liệu lịch sử vừa mới được phát hiện, khai thác từ các gia phả, thần phả,
các tư liệu trong thư tịch cổ Hán Nôm... khá đa dạng phong phú mà từ trước chưa
được biết đến. Phần phụ lục này khá quan trọng và mới mẻ, sẽ giúp ích cho các
nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc....
Xin mời quý độc giả lần lượt tiếp cận các tập sách của bộ
sách này. Tuy nhóm biên soạn đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế, xin quý vị rộng lòng lượng thứ. Rất mong nhận được những
ý kiến phê bình đóng góp của bạn đọc gần xa để bộ sách được hoàn thiện hơn
trong lần xuất bản sau.
Hà Nội, mùa xuân năm Nhâm Thìn 2012
Thay mặt nhóm biên soạn
PGS. TS Sử học Chương Thâu
LỜI NGƯỜI BIÊN SOẠN
Từ giữa thế kỷ XVIII trở về sau, lịch sử đã ghi nhận đây là một
thời kỳ loạn lạc với sự tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến, sự đụng
độ của các mâu thuẫn giữa các thế lực dẫn tới sự cát cứ ở các vùng, nạn đói triền
miên, các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa
của nông dân Tây Sơn.
Trong bối cảnh phức tạp ấy, đã xuất hiện một nhân vật lịch sử
ghi dấu ấn đậm nét trong thế kỷ này, đó là Nguyễn Hữu Chỉnh. Đây là một nhân vật
mà các sử gia phong kiến và nhiều nhà nghiên cứu đã tốn rất nhiều giấy mực để
bàn luận. Bên cạnh đó, cũng có nhiều câu chuyện dã sử truyền lại về cuộc đời
ông, đặc biệt cuốn tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí đã
dành khá nhiều trang kể về ông gắn với các sự kiện lịch sử thời bấy giờ.
Đa phần các đánh giá về ông thường dưới góc độ, ông là con
người có tài nhưng trí trá, xảo quyệt, không đáng tin. Thậm chí những tác động
của ông tới lịch sử thường được miêu tả thoáng qua, chỉ vài ba dòng, còn chủ yếu
đi sâu khai thác tính cách của cá nhân ông gắn với những toan tính cá nhân.
Thật ra, cuộc đời của Nguyễn Hữu Chỉnh cho thấy, ông là một
nhà chính trị biết nhìn xa trông rộng. Sau khi nắm quyền lớn trong triều, ông
đã mở chế khoa để kén chọn nhân tài. Ông là người quyền biến, khi nhu, khi
cương, rộng lượng với những kẻ đối nghịch mình như Nguyễn Đình Giản, Hoàng
Phùng Cơ. Về hành vi đối nghịch của Nguyễn Đình Giản, Nguyễn Hữu Chỉnh tìm hiểu,
khoan dung, chứ không giữ oán thù riêng. Ông vừa sáng suốt, vừa rộng lượng,
khôn khéo, biết thu phục lòng người khiến triều đình thời kỳ này “có vẻ phồn thịnh
như thời bình”. Thậm chí, khi vua Lê mưu giết ông rồi nghe can gián lại thôi, sợ
ông giận, đã sai người đi phân trần, ông đã nói: “Nay bốn bể giặc giã, hãy gác
chuyện ấy lại”. Rõ ràng, ông đã dẹp ân oán sang một bên để lo việc nước.
Ông là người giỏi dụng binh, nổi tiếng là tướng tài đánh đâu
được đấy, nghề thủy vào bậc vô dịch, luôn luôn thắng trận nên mới có danh hiệu
“con cắt biển”.
Nhiều sử gia đã miêu tả nhân vật này là người “ức hiếp vua
còn hơn Chúa Trịnh” nhưng thực sự, chưa bao giờ ông leo lên ngồi cạnh vua, ông
cũng chưa hề giết Hoàng Thái tử như Trịnh Sâm. Nhiều việc ông làm không tâu với
vua trước, nhưng nếu ông làm như vậy cũng vì thấy vua chẳng tha thiết gì đến việc
nước.
Đặc biệt chi tiết trước khi nhổ thuyền vào Nam theo Nguyễn Nhạc,
ông đã cho gọi hết quân lính dưới quyền ra bờ sông nói rõ duyên cớ, để lại cho
mỗi người một quan tiền cho thấy ông là người có từ tâm và chu đáo với người dưới.
Ngay khi vâng lệnh vua đi đánh Dương Trọng Tế, ông cũng căn dặn thuộc hạ không
cần nhọc sức quân, cấm quân không được nhũng nhiễu dân.
Với Nguyễn Huệ, ông tỏ ra thực thà đến vụng về khi nói: “Nhân
tài Bắc Hà chỉ có mình tôi”. Đó là sự thực, vì vua mấy lần phải triệu ông ra
cáng đáng việc nước. Điều này chứng minh ông không hề nghĩ đến chuyện bỏ Tây
Sơn, chỉ là sau này, bị Tây Sơn bỏ rơi, ông mới nghĩ đến cách khác để tồn tại.
Thực tế cho thấy, đây là một nhân vật có tính cách không đơn
giản. Những toan tính và các việc ông làm khách quan dã có tác động tới lịch sử.
Có thể nói, Nguyễn Huệ là người đầu tiên có công thống nhất đất nước, dẹp sự
cát cứ thì trong công ấy, có phần của Nguyễn Hữu Chỉnh khi ông tư vấn cho quân
Tây Sơn chiếm Thuận Hóa và nhân đà nêu khẩu hiệu “Diệt Trịnh phù Lê” mà tiến ra
Bắc Hà.
Kết cục bi đát của ông đã được một nhà viết sử mô phỏng câu
nói của Chu Du trong Tam Quốc khi so sánh với Gia Cát Lượng: Vì sao trời đã
sinh ra Huệ còn sinh ra Chỉnh, để giải thích cho sự thất bại của ông.
Nhận định về nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh có nhiều ý kiến, thậm
chí trái ngược nhau. Cuốn sách này không nhằm chứng minh Nguyễn Hữu Chỉnh có phải
là một anh hùng trong thời loạn hay không mà chỉ dựa trên tư liệu lịch sử, dã sử
và các cuốn sách của người đi trước, cố dựng lại bối cảnh mà nhân vật này đã sống,
giúp bạn đọc nhìn nhận đôi phần về những gì đã qua để hiểu thêm lịch sử nước
nhà.
Rất mong nhận được sự góp ý phê bình của bạn đọc để cuốn sách
được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
TÁC GIẢ
1. ĐẤT BẰNG NỔI SÓNG
Sau chiến tranh Nam Bắc triều, nhà Mạc diệt vong, sông Gianh
được lấy làm ranh giới phân đôi Bắc và Nam, phía Bắc là đất nhà Lê - Trịnh,
phía Nam là đất của chúa Nguyễn.
Một thời gian dài, chiến tranh và nạn đói liên miên xảy ra
khiến đời sống của dân chúng ngày càng thêm cùng quẫn. Thời buổi loạn lạc này,
lòng người ngả nghiêng, xáo động, nhiều tin đồn cứ lan ra như vết dầu loang, thậm
chí, những chuyện cung vua phủ chúa, vốn là điều cấm kỵ, mấy khi lọt ra ngoài
thì nay được những kẻ hiếu sự rỉ tai nhau khiến các cáu chuyện thâm cung bí sử
cứ không cánh mà bay.
Trong dân gian, có lời đồn chúa Trịnh Giang chẳng màng chính
sự, chỉ thích làm cung quán, đi chơi rong ruổi khắp nơi, không đâu là không có
dấu xe ngựa của chúa. Chúa sa đà vào việc vui chơi, ham mê tửu sắc, đi đến đâu
cũng có phường nhạc tấu inh ỏi. Đã thế, chúa lại tin yêu hoạn quan Hoàng Công
Phụ, Phụ được thể, đổi lính Thanh Nghệ thay bằng lính của làng mình khiến các
quan trong triều không biết chúa ở đâu. Người ta còn xì xào, hình như chúa bị mắc
căn bệnh hiểm, nghe đâu là bệnh kinh quỷ, lúc
nào tâm thần cũng hoảng loạn nên toàn ở lì trong mật thất, tại
cung Thưởng Trì khiến mọi việc trong triều trở nên rối ren, không ai bảo được
ai.
Chúa không những không quan tâm đến chính sự mà còn ngang ngược
phế bỏ vua Lê Dụ Tông khiến hoàng tử Lê Duy Mật phẫn uất tập hợp những người
cùng vây cánh nổi lên. Các chính sách của chúa về tài chính thuế khóa không còn
được như các vị chúa tiền liệt, triều đình đã rối lại thêm rối hơn khiến lòng
người nghiêng ngả, hai lòng.
Trước tình hình ấy, Vũ Thái phi - mẹ của Trịnh Giang và Trịnh
Doanh đã họp các đại thần và thân tộc phủ chúa bàn việc đưa Trịnh Doanh lên
thay ngôi chúa. Tuy nhiên, các biến cố ở nhiều nơi không dễ ngày một ngày hai
mà kết thúc được.
Bấy giờ ở xứ Hải Dương và miền hạ lưu đông nam đều mất mùa, nạn
phu dịch nặng nề, dân chúng kham không nổi, nhiều người đã chết đói. Cực chẳng
đã, nhiều người phải đi bóc vỏ cây, bắt chuột đồng để ăn. Tình cảnh thật thảm
thương, dân tình thật khốn quẫn. Nhiều nơi náo loạn. Nạn trộm cướp nổi lên. Dân
đói dắt nhau đi ăn xin đầy đường. Giá gạo tăng vọt, một trăm đồng tiền không được
một bữa no. Người chết nhiều vô kể, xác chồng lên nhau, xương trắng đầy đồng, số
dân sống sót không còn được một phần mười, khói bếp tiêu điều lạnh lẽo, những
nơi sầm uất thành ra gò đống.
Người ta truyền tai nhau, nào là dân chúng ở xứ Hải Dương đã
nhất tề nổi dậy theo Nguyễn Tuyển, Nguyền Cừ, rủ nhau đi phá từ đường của vợ
chúa. Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ đã giương cao ngọn cờ “Ninh dân” (yên dân) nên
dân theo về ngày một đông, nào là tại huyện lỵ Châu Ninh, đốc lĩnh Hoàng Kim Trảo
đã bị quân của Vũ Đình Dung hợp với quân của Danh Chấn, Tú Cao giết chết.
Để yên định phép nước, chúa Trịnh Doanh xin vua ban chiếu
truyền ngôi và Duy Diêu - vua Lê Hiển Tông lên nối nghiệp. Tuy nhiên, tình hình
lúc đó vẫn không yên. Rất nhiều bản đệ trình của các quan lại địa phương cáo cấp
về triều đình. Hoàng tử Lê Duy Mật tụ tập quân ở thượng du Thanh Hóa, Nguyễn
Tuyển, Nguyễn Cừ họp quân ở Chí Linh, Ninh Xá, sau đó có thêm vây cánh là Nguyễn
Hữu Cầu, Đồ Tế giữ châu Sơn Dương, Nho Bồng giữ huyện Phượng Nhãn, Tú Cao giữ
huyện Thư Trì, Giáo Ly giữ huyện Đông Quan, Vũ Đình Dung giữ huyện Ngân Già. Thật
là hỗn loạn!
Sau khi nạn hoạn quan nhũng nhiễu triều chính được dẹp yên,
các quan trong triều đặt hy vọng vào vị chúa mới nhưng mọi việc không một sớm một
chiều thay đổi ngay như họ mong muốn. Trịnh Doanh - vị chúa lên thay Trịnh
Giang đau đầu với rất nhiều cuộc nổi dậy. Không chỉ những người dân chân lấm
tay bùn mà ngay cả Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ - dòng dõi quận công Nguyễn Mại -
cũng nổi lên. Thậm chí, trong tôn thất nhà Lê, hoàng tử Lê Duy Mật cũng dấy
binh chống lại triều đình.
Trong ngoài triều, người ta bàn tán xôn xao. Những kẻ hiếu sự
được dịp nhỏ to. Kẻ cho rằng lỗi do Trịnh Giang không màng đến chính sự nên đất
nước mới ra nông nỗi này. Kẻ khác lại bàn luận, lỗi đâu phải ở nơi chúa Trịnh.
Chúa ốm yếu, không thể đảm đương chính sự, phải thông qua các hoạn quan, hơn thế,
chúa ở lâu dưới mật thất, bị Hoàng Công Phụ xúi bẩy, đâu còn đủ sáng suốt để
quyết định mọi việc. Nay chúa Trịnh Doanh đã lên thay ngôi chúa, ắt hẳn mọi việc
rồi sẽ đổi thay.
Tuy nhiên, các bản sớ vẫn liên tục gửi về triều đình, tâu
trình về việc xứ Sơn Nam địa thế dài rộng, trộm cướp ẩn hiện bất thường, một
mình quan thống lĩnh không thể chế ngự nổi và xin chúa ban lệnh cho đem quân tiến
đánh và được tiện nghi hành sự.
Tuy nhiên dù quân triều đình ra sức chống giữ, “giặc” Hải
Dương vẫn sang sông đánh phá các huyện Thượng Phúc, Phú Xuyên. Tiếp đó, lại có
tin báo về triều, các phủ Từ Sơn, Thuận Thành, Hạ Hồng, Nam Sách đã nổi dậy
theo lời kêu gọi của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ. Quân nổi dậy đan tre làm nón làm
dấu hiệu riêng. Nguyễn Cừ chiếm lĩnh Chí Linh, Nguyễn Tuyển giữ Phao Sơn, nhóm
họp liên lạc với nhau, số người theo có đến vài vạn.
Trong khi đó ở huyện Nam Chân, Vũ Đình Dung, Đoàn Bá Chấn đã
nổi lên, dân chúng đi theo ngày một nhiều. Quân của Vũ Đình Dung giữ chỗ bùn lầy
làm thế hiểm, chẳng có trận pháp gì nhưng hễ gặp quan quân là cứ cầm dao xông
vào chém vung chân người, chân ngựa khiến quân triều đình thua liểng xiểng.
Tin tức đưa về dồn dập khiến chúa lòng như lửa đốt. Chúa ban
dụ và cho đưa công văn hỏa tốc đi khắp nơi. Lời dụ viết:
“Nhà nước lấy lễ đãi kẻ sĩ, lấy nhân nuôi dân, nuôi dạy nhân
tài như thơ Thanh Nga, vỗ yên nhân dân như thơ Hồng Nhạn. Vừa rồi lũ giặc Nguyễn
Tuyển, Nguyễn Cừ can phạm danh phận, sĩ dân xứ Đông Bắc bị dụ dỗ bức bách, kẻ
sĩ được giáo dục tác thành mà lại vì nó dâng tờ sức phơi gan. Người dân đang được
yên vui nhàn nhã mà lại vì nó nhảy vào nước sôi, xông vào mũi nhọn. Có kẻ vì muốn
khỏi lụy đến gia đình, có kẻ vì muốn khỏi bị chúng xâm phạm trước mắt. Dẫu cúi
đầu gượng theo, lẽ nào quên mất đường quay về với chính nghĩa? Nếu biết bỏ nghịch
theo thuận, bỏ giáp về hàng thì nhất thiết đều cho phép cùng đổi mới. Nếu ai đới
tội lập công cũng được tha tội và khen thưởng..”
Cùng với các lời dụ, chúa quyết định chỉnh đốn kỷ cương triều
chính. Chúa tập hợp các triều thần trung thành như Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Công
Thái, Trịnh Đạc, lắng nghe lời nói thẳng của người dưới quyền, tuyển lựa một lớp
quan lại có học, có tài ở triều đình như Ngô Thì Sĩ, Lê Quý Đôn để làm việc ở
Phủ Liêu. Chúa còn cho đặt ống đồng ở cửa phủ để nhận thư từ của dân chúng tố
giác việc làm sai trái.
Ngoài việc chấn chỉnh triều đình, chúa quyết định thân cầm
quân đánh trận. Chúa đóng quân ở bến Mộc Hoàn, sửa khí giới, tập thủy trận rồi
trực tiếp đích thân chỉ huy quân tiến công khu căn cứ của quân Ngân Già. Các
cánh quân của Cần quận công Đinh Văn Giai, Hoán quận công Nguyễn Đình Hoàn cùng
Vũ Tất Thận, Trương Khuông đốc quân tiến đánh. Chúa hạ lệnh đóng trại, cho quân
bao vây bốn phía và ra lệnh đánh hỏa công. Theo lệnh chúa, mọi thứ có thể đốt
được đều bị trưng thu. Lửa bốc ngút trời, cháy rần rật khiến quân Ngân Già
không thể chịu đựng được cái nóng khủng khiếp của than bùn ở đầm lầy, phải tìm
cách thoát ra liền bị quân mai phục của triều đình nhằm bắn. Quân nổi dậy chết
vô số, xác chồng lên nhau. Kết cục, Vũ Đình Dung và các tướng thân cận đều bị bắt
và bị giết.
Thời gian này, Nguyễn Tuyển nhân lúc chúa bận đánh Ngân Già
đã sai đồ đảng là Trần Thiểm đem quân đến sát sông Nhị Hà. Tin cấp báo ở kinh
sư khiến chúa vội hối thúc quân đi gấp về cứu kinh đô.
Quân triều đình đánh thắng nghĩa binh của Nguyễn Tuyển, Nguyễn
Tuyển sợ phải chạy sang An Quảng. Chúa nghe tin sai các đạo binh thuyền đến
sông Bạch Đằng hội đánh. Kết cục, quân của Nguyễn Cừ phải rút lên Lạng Sơn, sau
Nguyễn Cừ bị quân triều đình bắt, đóng cũi giải về kinh, Nguyễn Tuyển thì bỏ mạng
trong trận giao tranh ác liệt ở Đỗ Xá.
Tuy nhiên, chúa vẫn không yên vì Nguyễn Hữu Cầu, cầm đầu quân
nổi loạn Ninh Xá đã đưa toán quân còn lại về cố thủ Đồ Sơn. Chúa nghe tin, vội
cử Trịnh Bính đem 7 cơ binh, 7 thớt voi đi tiêu diệt nghĩa binh nhưng Trịnh
Bính chần chừ, không dám tiến. Chúa sốt ruột, liền phái Trịnh Bảng thống suất
thủy quân đánh dẹp. Trịnh Bảng cậy có chiến thuyền lớn, không đánh giá được lực
lượng của quân nổi dậy, bị mắc mưu Nguyễn Hữu Cầu, quan quân tan vỡ. Bảng bị
hơn 10 vết thương, bị bắt và chết. Chúa tức giận, lại cử Hoàng Công Kỳ thống
lĩnh quân bộ, Trần Cảnh thống lĩnh quân thủy, kết hợp với 29 cơ đội của Vũ Tá
Liễn hội quân cùng đánh. Chỉ sau nửa tháng, tin dữ lại đưa về kinh, Nguyễn Hữu
Cầu đã chiếm châu Vạn Ninh, quân triều đình bị đánh úp, thua to. Nghe tin, chúa
thất kinh, phái Hoàng Ngũ Phúc đem quân đi dẹp loạn. Nguyễn Hữu Cầu không ra mặt
đối địch, đưa quân về Thọ Xương, trấn Kinh Bắc, đắp lũy dọc hai bờ sông, các đồn
lũy lại liên lạc với nhau khiến quân triều đình không dám đánh. Quân của Nguyễn
Hữu Cầu còn đánh phá huyện Võ Giàng, phá thành, phóng hỏa đốt trại lính khiến
Trần Đình Miên và Vũ Phương Đề bỏ cả ấn tín mà chạy.
Triều đình hội quân đánh Nguyễn Hữu Cầu nhưng kết cục quân
triều đình thất bại thảm hại. Chúa lại ban dụ để Hoàng Ngũ Phúc kết hợp với Phạm
Đình Trọng đánh quân nổi loạn. Quân triều đình tìm cách triệt nguồn tiếp tế
lương thực, bao vây triệt dân khiến Nguyễn Hữu Cầu lâm vào tình cảnh vô cùng
khó khăn. Chúa theo lời bàn của các quan, bắt dân phu chín huyện gần kinh đô đắp
thành, mỗi cửa đặt hai ô tả hữu, chia lính tuần phòng túc trực và quyết định ra
tay bắt cho được nghịch đảng.
Tuy vậy, Nguyễn Hữu Cầu vẫn thoát khỏi vòng vây ở Hương Lãng,
dẫn một toán quân chạy ra bể. Kết cục, bị đội chiến thuyền của Phạm Đình Trọng
truy kích, Hữu Cầu sa lưới, bị đóng cũi giải về kinh.
Quân Ninh Xá và Ngân Già bị tiêu diệt nhưng nguy cơ mới đe dọa
sự an nguy của triều đình vẫn treo lơ lửng. Nguyễn Danh Phương nổi lên lập căn
cứ ở Thanh Lanh, Ngọc Bội, hoạt động mạnh ở các trấn Sơn Tây, Thái Nguyên,
Tuyên Quang. Chúa liên tiếp nhận được văn thư cáo cấp, có khi một đêm vài lần.
Trong thư nói: “Nhân lúc nhiều nơi có biến động, quan quân đang bận việc, giặc
Ngũ đã hợp quân trộm chiếm núi Độc Tôn ở huyện Tam Dương, hoành hành cướp bóc.
Những nguồn lợi mỏ, gỗ, tre, sơn ở thượng lưu, Phương đều cướp lấy cả. Dân một
phương ai cũng sợ hãi, dắt nhau đi nơi khác. Các lộ Tuyên, Hưng, Thái đem nhau
đi theo, nộp tô thuế cho nó, của báu chất như núi, vây cánh ngày càng nhiều.
Phương nghiễm nhiên tự xưng là “Thuận Thiên khải vận đại nhân”, tiếm xây cung
phủ, đặt quan thuộc, quân hiệu, chế xe kiệu, làm màn trướng, may cờ nhật nguyệt,
khí dụng, y phục, đồ chơi các thứ đều trang sức bằng vàng bạc, châu báu. Đám thủ
hạ xưng là quận công gồm vài mươi người, cướp của, quan quân bị chúng vây đánh.
Phương lại thường đem của đút lót quan quân. Các tướng cũng cứ dung túng giặc để
tự bảo toàn, động một tí thì khoa trương thế giặc. Từ đấy càng ngày y càng càn
rỡ, quan quân không đủ sức chế ngự”.
Nhận được thư cáo cấp liên tục, chúa vô cùng bực tức nghĩ:
“Nghịch Phương là giặc lâu năm, binh tình lương đủ, lại dựa vào chỗ hiểm yếu,
không như các giặc khác. Ta phải thân hành cầm cờ tiết đi cứu dân phương này, nếu
không thì suốt đêm nằm không yên gối”. Ngay sau đó, chúa mật lệnh cho một viên
quan thân tin đi tới đại đồn của giặc Phương ngầm dò địa thế cẩn thận và đưa
thư của chúa tới các tướng hiệu ở các đồn thuộc đạo Sơn Tây, Thái Nguyên, sức
cho quân tìm tre gỗ làm khí cụ vây đánh thành.
Trong khi ráo riết chuẩn bị đánh Nguyễn Danh Phương, chúa thấy
cần chấn chỉnh luật pháp, răn đe và thưởng phạt để lấy đó làm gương. Chúa nghĩ,
việc dân chúng nổi loạn khiến chúa phải động binh phần lớn bắt nguồn từ luật
pháp lơi lỏng, hoạn quan lộng quyền, quan lại tham nhũng khiến đám dân chúng
ngu dốt kia chi cần một sự xúi giục, hứa hẹn là có thể nổi lên làm càn. Ngay cả
trong việc thi cử, các quan cũng cố tình cầu lợi. Muốn đi thi thì cứ việc nộp
tiền là được, thí sinh chỉ cần nộp 3 quan tiền là xong khiến nhiều kẻ ngu dốt,
dân cày và dân buôn cũng xun xoe nộp đơn xin đi thi. Chuyện đi thi này đến tai
chúa khiến chúa rất buồn phiền. Nghe đâu hôm thi, nhiều kẻ giẫm đạp lên nhau chết
ở cổng trường, các thí sinh đem sách vào lớp, mượn người làm văn hộ một cách
công khai. Kẻ đỗ thực học không được một phần mười...
Chúa thấy cần phải ban dụ để chấn chỉnh quan lại và dân
chúng. Lời dụ viết: “Ta nối tiếp truyền thống trước, mong đón lấy phúc to, hậu
tước thưởng để khuyến khích người có công, kỷ luật để răn kẻ phạm pháp. Vào lúc
ngoài biên nhiều tin cáo cấp, đánh dẹp liền năm. Lấy quan tước để thưởng người
có công, sử dụng tài năng, bỏ qua lầm lỗi nên quan tước cho hơi lạm, pháp luật
có hơi khoan. Lũ trá mạo gian xảo ngày càng coi thường. Nay nên sửa đổi chấn chỉnh,
cùng nhau đổi mới”.
Tuy lời dụ của chúa rất hay nhưng thế sự không đơn giản, dân
chúng khắp nơi vẫn rên xiết khốn khổ, do đó người theo về với Nguyễn Danh
Phương ngày một đông. Vì thế, chúa quyết định đem binh đi chinh phục phía Tây.
Tả quân chúa giao cho Hoàng Ngũ Phúc, hữu quân giao cho Đàm Xuân Vực, tiền quân
giao cho Nguyễn Đình Quyền, hậu quân giao cho Nguyễn Hữu Chí... Tiếp đó, chúa
vào triều, đem việc chinh phạt tâu với nhà vua và trước lầu Ngũ Long, chúa ủy
cho Hoàng Ngũ Phúc làm tri quân vụ coi việc quân binh.
Chúa đem quân vượt sông, truyền mật lệnh cho các cánh quân tiến
đến Giang Dã. Đến trấn sở Giang Dã, chúa sai lấy thổ binh của phiên thần Thái
Nguyên để sử dụng vì số này thông thạo địa hình. Chúa sai lính đi lấy cây và
dây rừng, làm thang cao và chiến cụ, sử dụng viên tướng quy hàng Nguyễn Bá Trạc
để công thành.
Đồn Ức Kỳ bị hạ, tướng Trị, tướng Sầm cùng hơn 400 quân nổi
loạn phải giơ tay chịu trói, sau hai viên tướng này bị chúa hạ lệnh chém cùng
200 tỳ tốt, số còn lại chúa cho tha bổng.
Tiếp đó đồn Tiên Sơn, Hương Canh, Ngọc Bội đều bị tấn công, tất
cả các con đường rút lui đều bị khóa chặt khiến Nguyễn Danh Phương cùng một số
thuộc hạ thân tín phải bỏ trốn. Trên đường đi, tất cả đều bị bắt. Các viên tướng
trung thành cùng 62 quân của Phương bị chém để thị uy. Phương và Cầu bị chúa bắt
ra làm trò, Hữu Cầu phải thổi sáo, còn Phương phải rót rượu, sau đó cả hai bị
đưa tới Thái miếu để dâng tù và bị chém, đầu bị bêu ở các trấn.
Một năm sau khi Nguyễn Danh Phương và Nguyễn Hữu Cầu bị đem tế
ở Thái miếu, tình hình vẫn chưa yên. Chúa nhận thấy cần phải nghe lời nói thẳng
nói thật nhưng câu trả lời của viên quan hầu cận đã khiến chúa không vui:...mấy
năm liền đói khổ, dân chúng rên xiết vì bị trưng cầu bóc lột, dần đến điêu hao
cộng thêm nạn nha dịch sách nhiễu, cường hào ức hiếp cướp đoạt nên lòng dân vẫn
ly tán. Hơn nữa quan lại sở tại thì tham lam, cường hào thì ức hiếp dân... Dù
chúa đã cho mọi người rộng đường tâu bày, ai biết gì về các địa phương cứ thực
tình tâu lên nhưng vì pháp chế nới lỏng, nhân tình coi thường kể đã lâu năm. Lời
nói suông không thể thi hành được, do đó giặc Chất kia dù thấy cái gương tày liếp
của giặc He (Nguyễn Hữu Cầu) và giặc què (Nguyễn Danh Phương) nhưng đâu có lấy
đó làm răn, vẫn liên kết với giặc Mật và giặc Thành khiến quan quân vẫn phải dốc
sức đối phó...
Nghe xong lời tâu, chúa im lặng, trầm ngâm khi nghĩ đến việc
Lê Duy Mật, tôn thất nhà Lê chạy ra Thạch Thành, tập hợp dân chúng làm loạn,
nói dối là theo mệnh vua Lê Ý Tông, đúc ấn bảo ty riêng, sắm cờ gươm, dụ dỗ bức
bách các tù trưởng hào mục ở vùng thượng du Thanh Hoa, kêu gọi đem thổ binh đến
giúp khiến triều đình không giây phút nào yên.
Sau một thời gian toan tính và nỗ lực cầm quân ra trận, các
đám quân nổi loạn phần lớn đã bị chúa đánh dẹp. Tuy nhiên, một việc chúa không
ngờ đến, đó là lực lượng ưu binh Thanh - Nghệ mà chúa chủ ý đề cao và dựa vào
đó để dẹp loạn, sau này lại trở thành kiêu binh, khiến cái trật tự mà chúa phải
hao tổn tâm trí để thiết lập đã trở nên hỗn loạn, rối ren và đây là mầm mống họa
hại đầu tiên khiến nhà Trịnh sau này phải suy vong.
2. KIÊU BINH
Thế tử Trịnh Sâm con trưởng của Trịnh Doanh ngay từ trẻ được
hai danh sĩ Dương Công Chú, Nguyễn Hoàn kèm cặp nên nổi tiếng văn võ song toàn.
Năm 1767, Trịnh Doanh mất, Trịnh Sâm lên ngôi kế vị. Lúc này, tình hình Đàng
Ngoài vẫn chưa yên nên ngay khi mới lên ngôi, Trịnh Sâm quyết định trực tiếp cầm
quân đánh dẹp Hoàng Công Chất.
Trịnh Sâm biết Hoàng Công Chất đã đưa quân lên Tây Bắc, tập hợp
các lực lượng, chiếm thành Tam Vạn và đáng lo hơn là liên minh chặt chẽ với Lê
Duy Mật. Chúa còn nhận được tin đưa về, Công Chất lập thành mới là Bản Phủ, mở
mang thế lực ra toàn vùng sông Mã, sông Đà, chiếm miền Thập Châu và trở thành vị
chúa Mường Thanh. Dân vùng đó tôn sùng gọi là Then Chất, Keo Chất. Quân của
Hoàng Công Chất liên kết với quân của Lê Duy Mật hoạt động ở Quan Gia, Cẩm Thủy,
Lang Chánh, Thụy Nguyên khiến tướng triều đình lo sợ, phải mật báo về triều xin
thêm quân.
Để thu phục lòng dân, trước khi đánh Hoàng Công Chất và Lê
Duy Mật, Trịnh Sâm ban lệnh: “Ai chém được 1 tướng giặc (đầu sỏ) được thưởng
quan tứ phẩm, tước hầu, cho ăn lộc 4 xã và 100 mẫu ruộng. Chém được những tỳ tướng
trở xuống đều có từng bậc. Dụ giặc quy hàng thì thưởng cho một nửa giải thưởng
kể trên. Giao cho quan thống lãnh bài vàng, bài bạc, mỗi thứ 100 chiếc, thẻ bạc
100 cái, sắc để trống, lệnh để trống 200 đạo, lưu sẵn trong quân để dự bị thưởng
cấp. Đánh thắng to sẽ được thưởng ngay tại trận 1 bài vàng, thăng chức hai “thứ”,
đánh thắng nhỏ thì thưởng bài bạc, thăng chức một “thứ”. Ai xông vào trước phá
vỡ trận giặc thưởng sắc hoặc lệnh một đạo còn những người lập công khác nhau đều
có thưởng theo từng bậc. Sau khi giặc bại trận mà đuổi bắt được thì thưởng một
nửa giải thưởng bắt giặc tại trận.”
Ngoài việc hiểu dụ dân giàu trong hạt, ai chịu nộp thóc thì
trao cho quan chức rồi đem thóc ấy phát chẩn cho dân đói, chúa còn sai Hiến ty
các lộ thăm hỏi, điều tra sự cực khổ của dân gian và tâu lên. Ngoài ra, chúa
ban lệnh cấm các sở tuần, các bến đò ven sông thu thuế bừa bãi và cho phép dân
tố cáo quan chấp chính nếu viên quan đó ức hiếp dân. Vì thế, địa bàn hoạt động
của quân nổi loạn bị thu hẹp.
Năm 1769, chúa dẹp yên được Hoàng Công Chất. Sau đó, Lê Duy Mật
cũng bị dẹp yên. Xác Lê Duy Mật bị thiêu trên sân chầu và chúa sai người đi
truyền bảo cho các xứ biết.
Sau khi Lê Duy Mật bị giết, thế sự tạm yên, chúa nghĩ đã có
thể kê cao gối để ngủ. Từ khi nắm quyền chấp chính, chúa đã làm được nhiều việc
trọng đại, thân chinh dẹp yên loạn Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật, lại còn Nam
tiến, vượt lũy Nhật Lệ, chiếm Phú Xuân rồi tiến đánh Quảng Nam, thống nhất được
thiên hạ. Công nghiệp của chúa thật hiển hách, quả là chưa từng có ở thời các vị
chúa tiền nhiệm.
Trịnh Sâm - một vị chúa công nghiệp lừng lẫy - trong thời trị
vì đã làm được nhiều việc nhưng cuối đời, quyết định phế trưởng lập thứ của ông
được xem là một trong những căn nguyên khiến nhà Trịnh suy thoái.
Mọi việc bắt đầu từ khi ông say mê Đặng Thị Huệ. Có thể nói,
ngày Đặng Thị Huệ bưng khay hoa đến chỗ Trịnh Sâm là ngày tiếng chuông cáo
chung của nhà Trịnh bắt đầu điểm.
Theo sử sách, Đặng Thị uyển chuyển tiến vào, quỳ xuống dâng
khay hoa. Đặng Thị mắt phượng mày ngài, mười phần xinh đẹp khiến Trịnh Sâm rất
hài lòng. Từ đấy chúa hay cho gọi Đặng Thị vào chầu, vốn là người khéo léo, biết
cách làm đẹp lòng chúa nên chẳng bao lâu, chúa cho Đặng Thị ở liền trong cung với
chúa, không phải ở nơi khác như các cung tần mỹ nữ.
Chúa phong Đặng Thị làm tuyên phi, ban cho biết bao nhiêu thứ
quý giá và sẵn sàng chiều theo mọi ý thích dù nhỏ nhặt nhất của nàng, vốn thông
minh, Đặng Thị Huệ nhận thấy Trịnh Sâm là một người quyết đoán trong công việc
nhưng trong tình cảm lại dễ lung lạc nên tìm mọi cách để chúa không thể xa rời
mình. Sau này, nắm được tình cảm của chúa, Đặng Thị thường vật vã, giận hờn kêu
khóc thảm thiết khi gặp chuyện trái ý và lần nào, Trịnh Sâm cũng phải nhường nhịn
nàng.
Một thời gian sau, Đặng Thị sinh con trai. Yêu mẹ nên quý
con, Trịnh Sâm đã lấy tên mình thuở nhỏ để đặt tên cho con để tỏ lòng yêu mến.
Bấy giờ, con trai trưởng của Trịnh Sâm là Trịnh Tông đến tuổi
lập phủ, các quan nhắc nhưng Trịnh Sâm làm ngơ. Thâm tâm Trịnh Sâm rất yêu Đặng
Thị và Trịnh Cán nên đã có ý khác. Vì thế chúa bảo: Chuyện lập phủ cho thái tử
Tông chưa phải vội, hãy để đó để chúa cân nhắc.
Quyết định của Trịnh Sâm khiến Trịnh Tông lo lắng không yên.
Phe cánh của Trịnh Tông cũng bất mãn và ý định phản loạn đã hình thành. Tin đến
tai Trịnh Sâm, Trịnh Sâm giận lắm, chúa cho rằng lập Trịnh Cán lên ngôi là
đúng. Tiếp đó chúa quyết định Trịnh Cán sẽ là người kế vị. Quyết định đưa Trịnh
Cán lên kế vị khi Trịnh Cán còn là một đứa trẻ và bản thân chúa lại ốm đau, sắp
tới ngày gần đất xa trời không chỉ gây xôn xao trong dư luận mà còn là giọt nước
làm tràn bát nước đầy khiến thời cuộc ngày một rối ren.
Thời gian này, tin tức không hay về Quận Huy liên tiếp truyền
về phủ chúa. Ý nghĩ Quận Huy có ý làm phản khiến chúa không yên. Chúa quyết định
triệu Quận Huy về kinh. Việc chúa triệu Quận Huy về Đặng Thị Huệ đã biết vì ở
ngay bên cạnh chúa. Bấy giờ vợ Quận Huy muốn nương bóng Đặng Thị nên thường lui
tới thăm hỏi. Muốn lôi kéo Quận Huy vào vây cánh với con mình, Đặng Thị liên mật
báo cho vợ Quận Huy biết để liệu cách đối phó. Và thế là phe của Đặng Thị đã
hình thành.
Quận Huy quyết định chủ động dâng thư xin về kinh để giải tỏa
sự nghi ngờ của chúa. Được chúa cho phép, quận Huy lập tức lên đường, về kinh,
quận Huy quyết định một lòng với Đặng Thị và nuôi chí phế lập. Trước hết, quận
Huy dâng ngôi nhà của quận Việp Hoàng Ngũ Phúc - chú của quận Huy cho Đặng Thị
để làm dinh thự cho vương tử Cán, sau đó vợ của quận Huy liên tục có mặt ở chỗ
Đặng Thị và kể cho Đặng Thị nghe mọi diễn biến bên ngoài. Từ đấy, quận Huy trở
thành chỗ dựa của Đặng Thị. Đặng Thị luôn thủ thỉ bên tai chúa để cất nhắc quận
Huy. Kết quả, quận Huy từ chỗ bị chúa nghi ngờ có ý định làm phản lại trở thành
một trong những viên quan được chúa tin cậy. Quận Huy được vời vào làm trong phủ
chúa, coi việc trong phủ đồng thời kiêm chức trấn thủ Sơn Nam.
Biết rõ mọi chuyện, Trịnh Tông vô cùng bực tức, vời Khê Trung
hầu tới và bảo:
- Ta nghe nói Huy quận công Hoàng Tố Lý và Thị Huệ đang câu kết
chặt chẽ với nhau. Huy dựa vào sự giúp đỡ của Thị Huệ để nương dựa bên trong,
còn Thị Huệ lấy quận Huy làm chỗ dựa cậy bên ngoài. Thằng giặc ấy sai người đem
của báu đút lót để nương tựa vào ta. Ta không cho nó nương tựa, lại đe sẽ tịch
thu hết cả gia sản nhà nó. Nó biết ta không dung nó, bèn quyết ý hùa theo Thị
Huệ để âm thầm phế lập ta. Chúng nó dựa vào nhau, thế lực nghiêng cả thiên hạ.
Mọi chức cai cơ trấn thủ đều nhờ cửa của chúng mà ra. Vậy là cái thế bè đảng đã
thành rồi. Bây giờ chứng bệnh cũ của chúa lại phát, bệnh tình rất nguy kịch.
Đêm qua, ta mơ thấy mình mặc áo chầu chàm, đội mũ chữ đinh đứng ở phủ đường. Ta
cho đó là điềm có tang. Trong cung nay mai chắc chấn sẽ có biến, ta phải sớm lo
liệu trước mới xong. Ý ngươi thế nào?
- Thế tử lo như vậy là phải. Trong triều hiện nay chỉ có Hồng
Lĩnh hầu Nguyễn Khản và Tuân Sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân là còn dám có ý này khác
với quận Huy mà thôi. Theo ý thần, nên ngấm ngầm sắm sửa binh khí, chiêu mộ
dũng sĩ. Nếu mai kia trong cung có biến thì cứ việc đóng chặt cổng thành, giết
quận Huy, bắt giữ hai mẹ con Thị Huệ thì vương tử Cán không thể lên ngôi chúa
được. Mặt khác, sẽ báo cho Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Khản và Tuân Sinh hầu Nguyễn Khắc
Tuân đem quân về kinh bắt ép các đại thần dựng thế tử lên ngôi chúa là xong.
- Lời ngươi bàn rất hợp ý ta. Ngươi hãy cầm lấy một ngàn lạng
bạc này, đưa cho nho sinh Đàm Xuân Thụ, bảo hắn phân phát cho bọn tay chân bí mật
đi mua sắm vũ khí. Ngoài ra, ngươi nên tìm cách mật báo cho các viên trấn thủ ở
hai phía Tây, Bắc chiêu tập dũng sĩ, sẵn sàng chờ thời cơ khởi sự. Ngươi nên nhớ
phải hết sức giữ bí mật. Nếu việc này bị phát giác, ta và ngươi sẽ không tránh
khỏi cái chết đâu.
- Xin thế tử yên tâm. Thần đã hiểu rõ phải làm thế nào rồi.
Nguyễn Huy Bá, người ở Gia Lâm, tính tình nham hiểm, xảo quyệt.
Bá thường có thói quen tố giác kẻ khác để kiếm quan chức. Bá lắng nghe mọi chuyện
và dò biết thế tử Tông có ý định triệt vương tử Cán. Bá liền sai người tới làm
bộ hạ ở nhà hai viên trấn quan Tây, Bắc. Biết rõ mười mươi sự việc, y liền nhờ
con dâu đang làm đầy tớ cho Thị Huệ xin cho Bá gặp.
Biết chuyện, Thị Huệ vô cùng lo lắng, liền vời quận Huy vào
bàn. Huy bảo:
- Thế tử Tông quả thực có lỗi nhưng a tòng và xúi giục thế tử
làm bậy phải là kẻ khác kia. Hai viên trấn quan Tây, Bắc ở xa, chắc không phải
là kẻ chủ mưu. Thần e rằng trong việc này, quan thị Khê Trung hầu Chu Xuân Hán
phải dúng tay vào. Trước đây thần nghe nói chính nhờ Khê Trung hầu mà Thái phi
Ngọc Hoan mới được tiến ngự và sau đó sinh được thế tử Tông. Bời vậy, Tông rất
coi trọng hoạn quan Khê Trung hầu. Nay nếu Tuyên phi vội vã loan chuyện này ra,
chắc khó mà tiêu diệt được bọn phản loạn ấy. Xin Tuyên phi cứ để thần lo liệu
việc này.
Sau đó Huy bảo Bá:
- Ngươi hãy tự tay viết một phong thư, dán kín nó vào để ta
đưa tới trình chúa thượng.
Bá y lời liền ngồi viết một mạch. Trong đó kể rõ thế tử Tông,
quan Khê Trung hầu và nho sinh Đàm Xuân Thụ đả làm những gì. Sau đó Bá dán kín
bức thư lại rồi đưa cho Huy. Huy giấu bức thư vào ống tay áo rồi đến phủ chúa.
Huy sụp lạy và tâu:
- Thần có một việc quan trọng và khẩn thiết cần trình ngay
chúa thượng.
Sau đó, Huy đưa mắt nhìn những kẻ đứng hầu xung quanh. Trịnh
Sâm hiểu ý ra lệnh:
- Các ngươi lui cả ra đi. Nếu ta không gọi thì không được
vào.
Khi bọn người kia ra hết, Huy rút bức thư giấu trong ống tay
áo ra trình chúa, chúa xem xong thư, cả giận:
- Ta phải trừng trị ngay kẻ khốn kiếp này mới được. Ngay cả
Khê Trung hầu, xưa nay vẫn sớm tối hầu hạ và trung thành với ta, nay lại có ý
làm phản ư? Không hiểu chúng nó nghĩ thế nào mà dám làm thế. May mà ông trời đã
cho ta khỏi bệnh. Bay đâu?
- Xin chúa thượng minh xét. Thế tử Tông dám làm điều này cũng
vì có các kẻ chủ mưu xúi giục. Nay hai viên trấn thủ Tây, Bắc chưa bị trừng trị,
nếu ta ra tay ngay e sẽ có biến khác. Xin chúa hây cho gọi hai viên trấn thủ ấy
về triều, giam lại rồi tuyên bố tội trạng cũng chưa muộn. Nhưng trước đó, cần
phải giam Khê Trung hầu lại, nếu không hắn sẽ sai người đi báo cho bọn kia biết.
- Ta hiểu rồi. Khanh hãy lo liệu việc này đi.
Hôm sau, chúa gọi Thế tử vào cung, vờ quở mắng về việc xao
nhãng học hành rồi bắt Thế tử phải đến ở trong ngôi nhà ba gian ở Trạch Các. Đồng
thời sai Khê Trung hầu tới đó để hầu hạ Thế tử.
Biết có chuyện chẳng lành, Khê Trung hầu nói:
- Thần thấy chúa có ý khác. Chắc là việc lớn của Thế tử bị bại
lộ rồi.
Thế tử Tông hoảng sợ hỏi:
- Vậy ngươi khuyên ta phải làm thế nào?
- Lúc này không thể làm gì hơn được nữa. Đành phải chờ xem
sao thôi.
Đúng như Khê trung hầu dự đoán, phe nhóm của thế tử Tông và
những kẻ liên đới đều bị bắt hết.
Sau khi tra xét và nắm được mọi chuyện, chúa cho gọi các
chính thần vào cung, vừa khóc vừa nói:
- Quả nhân không may gặp phải người con bất hiếu, lũ bầy tôi
bất trung. Chúng ngầm mưu việc phản nghịch, chống lại quyết định của ta. Các
ngươi thấy đấy, việc ta lập con thứ bỏ con trường là hoàn toàn đúng. Các ngươi
nên hiểu rõ bụng ta. Cứ theo phép nước mà định tội chúng đi.
Các quan đều tâu:
- Những tên phản nghịch ấy giết là đáng kiếp. Riêng về thế tử,
chúng thần không dám lạm bàn.
Chúa tức giận cầm bút phê:
- “Theo nghĩa của kinh Xuân Thu, tên Tông phải trị tội thật nặng.
Nhưng nghĩ tình ruột thịt, quả nhân không nỡ xử tội. Vậy truất nó xuống làm con
út để trọn đời giữ đạo làm tôi. Còn Khê Trung hầu, vì theo hầu ta từ lúc chưa
lên ngôi, cũng có công lao, đặc ân cho được tự liệu lấy..
Mệnh lệnh ban xuống, Khê Trung hầu uống thuốc độc tự tử, đó
là tháng 9 năm Cảnh Hưng thứ 41. Thế tử Tông không những bị chúa truất ngôi Thế
tử, còn bị bắt phải ở trong nhà, bị người giám sát nhất cử nhất động, không ai
được phép ra vào thăm hỏi.
Thời gian này, Trịnh Sâm mệt nặng. Biết Trịnh Sâm khó lòng
qua khỏi, Đặng Thị cố ý không cho chúa gặp bất cứ người nào. Chiếu chỉ đã sắc
phong cho hoàng tử Trịnh Cán và Tuyên phi rất sợ vào lúc này, chúa sẽ thay đổi
quyết định. Cả khi thái hậu vào gặp chúa, Đặng Thị cũng không lui, cứ quanh quẩn
ngay gần đấy. Thái hậu ngập ngừng, rất muốn hỏi ý chúa về việc lập thái tử
nhưng Tuyên phi đang ở đó nên thái hậu đành phải lui ra.
Bệnh tình của Trịnh Sâm ngày càng trầm trọng. Trước phút chúa
lâm chung, Đặng Thị quỳ xuống bên chúa, khóc mà rằng:
- Thiếp nhờ chúa thượng quá thương nên nhiều kẻ thù ghét. Rồi
mai đây không biết mẹ con thiếp sẽ gửi thân vào đâu?
Chúa nói:
- Thế tử chính thức lên ngôi Đông cung. Khanh là mẹ của cả
thiên hạ rồi, chớ có lo lắng quá làm gì.
Rồi chúa cho gọi quận Huy vào, dặn dò hãy giúp đỡ Tuyên phi
và lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng. Tuy nhiên, mọi sự xếp đặt của chúa cũng như
các toan tính đều không như Đặng Thị và Quận Huy dự liệu.
Trong khi đó, ở bên ngoài phủ, đám thân binh tụ tập lại bàn
tán. Dự Vũ, đầu bếp của Thế tử Tông là người châm ngòi nổ cho việc phế lập. Dự
Vũ làm cơm rượu, mời đám thân binh tới đánh chén và nói:
- Thế tử chẳng có tội gì, chẳng qua là do Đặng Thị mê hoặc
khiến chúa bỏ trưởng lập thứ. Nay chúa bệnh nặng, không biết khi nguy biến thì
cơ nghiệp của chúa do ai làm chủ. Các anh em đều là thân binh, là nanh vuốt của
chúa. Nếu còn nghĩ đến cái ơn của chúa thì hãy một lòng giúp cho sự nghiệp của
nhà chúa. Nếu xong việc, tất nhiên sẽ được hưởng phú quý lâu dài.
Đám lính xôn xao, có kẻ lớn tiếng:
- Thì chúng tôi cũng có bụng đó, nhưng không biết ý Thế tử
Tông ra sao. Nay Thế tử đã có ý đó, nhất định chúng tôi sẽ tuân theo ý của thế
tử.
Tiếp đó, lại có người bàn nên đến nhà quận Viêm, lôi kéo cả
thánh mẫu vào cho chắc ăn. Cả đám nhao nhao hưởng ứng rồi cử người xin vào yết
kiến thánh mẫu. Thánh mẫu vội sai người sang truyền ý chỉ cho quận Huy:
- Xã tắc là trọng. Lúc này nên để vương tử Tông lên ngôi chúa
vì vương tử Cán còn quá bé. Khi nào vương tử Cán trường thành, vương tử Tông sẽ
trao lại quyền. Muốn vậy, để vương tử Tông nhận Đặng Thị làm mẹ nuôi là được.
Quận Huy lựa lời nhất mực kiên quyết từ chối, còn nói:
- Việc này không phải ý của chúa. Được chúa phó thác con côi,
không thể tự tiện sắp đặt lại được. Hoặc giả sau này vương tử Cán ở ngôi không
gánh nổi việc nước thì vương tử Tông sẽ thay thế, điều đó đâu có muộn. Cơn cớ
gì phải hấp tấp, làm trái lẽ thường như thế?
Quận Hoàn, một trong bảy viên quan được chúa phó thác con
côi, thấy thân binh náo loạn, có ý sợ. Hơn nữa, quận Hoàn cũng chả ưa gì quận
Huy nên đã buông một câu gọn lỏn:
- Cơ sự đã vậy, thôi thì cứ mặc cho thân binh làm gì thì làm.
Hôm sau, đám thân binh - lính Thanh Nghệ - bắt đầu ra tay
hành động. Sau khi dâng cơm cúng chúa, 3 hồi 9 tiếng trống lệnh vang lên. Quận
Huy biết có biến, sai người đóng chặt cửa phủ. Kẻ đánh trống là Bằng Vũ bị bắt
giam lại. Đám thân binh ở bên ngoài hò hét quát tháo vang trời. Quận Huy tức giận,
cầm bảo kiếm rồi lên voi xung trận.
Trước sự phẫn nộ của đám thân binh, quận Châu sợ phải mở cổng
phủ. Quận Huy cưỡi voi tiến ra quát tháo. Đám lính lúc đầu còn e sợ, hơi chùn lại
nhưng ngay sau đó, họ nhao nhao tiến tới, kẻ lấy khí giới đâm chém chân voi, kẻ
lấy gạch đá ném khiến con voi khiếp đảm, co vòi lại. Được dịp, đám lính dùng
câu liêm móc cổ áo quận Huy kéo xuống. Kết cục, quận Huy bị giết phanh thây.
Thái tử Tông được phò lên ngôi chúa.
Mấy ngày sau đó, kinh thành vẫn ở trong tình trạng náo động.
Dinh của quận Huy bị phá tan tành, ai theo phe cánh Đặng Thị đều bị phá nhà cửa,
vội vã bỏ trốn. Thân binh sau khi phò lập vương tử Tông lên ngôi chúa, cậy quyền
có công nên hàng ngày thường tụ họp để bàn việc triều chính. Thế chưa đủ, họ
còn cho người đưa thư vào triều, yêu cầu phải làm việc này việc nọ, đòi triều
đình trả ơn. Có viên quan nào nói đến thái độ của họ, họ liền kéo đến phá nhà,
đánh giết. Thậm chí họ còn dúng tay vào việc xử kiện của các quan, có việc còn
tự quyết lấy, thật là nhiễu nhương ầm ĩ khiến chúa Trịnh Tông cũng cảm thấy
không thể chịu nổi.
Sau đó, các quan bàn nên xét công ban thưởng để họ mãn nguyện
rồi ra tay trị dần cho yên phép nước. Thế là Dự Vũ, đầu bếp của Trịnh Tông, có
công phát hỏa, kích động nhóm thân binh được phong Tuyên lực công thần, những
thân binh đầu tiên nhóm họp ở chùa Khán Sơn được thăng thưởng thêm, thậm chí
nhiều người còn được cấp các đạo sắc để trống để có thể đem bán cho kẻ khác lấy
tiền.
Mãi sau đó, chúa Trịnh Tông phải tìm cớ giết một người để ra
oai, đám thân binh đó mới yên. Theo ghi chép của một người đương thời là Hoàng
giáp Bùi Dương Lịch thì: “Sau khi tôn Trịnh Khải, quân lính cậy có công... đòi
hỏi những mối lợi nơi điếm tuần, bến đò, đầm hồ, gò bãi, cửa ải, chợ búa... Dân
chúng khổ sở vì sự quấy nhiễu hà khắc của chúng, mối hận thấm cốt tủy. Từ đấy,
lính với dân coi nhau như kẻ thù. Triều đình phải đặt ra đội Phong vân để tuần
phòng trong kinh kỳ, dò xét quân lính, hễ ai còn có thói cũ, rủ nhau tập hợp
phá nhà lấy của thì lập tức bắt giải về triều xét xử.
3. LỜI TIÊN ĐOÁN CỦA GIÁM SINH HỌ ĐỖ
Nguyễn Hữu Chỉnh hiệu Bằng Lĩnh Hầu, quê làng Cổ Đan xã Đông
Hải huyện Chân Phúc, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, con trai
trưởng của Đại phu đô đốc, Phủ tả đô đốc Thái bảo Hải quận công - phú thương
Nguyễn Mẫn.
Về gia thế của Nguyễn Hữu Chỉnh, có rất nhiều dã sử nói về
ông. Tương truyền, cha của Nguyễn Hữu Chỉnh là một người gia tư rất giàu có. Đời
Lê Hiển Tông, có một năm Bắc Hà mất mùa, dân cư đói kém đến cùng cực. Trái lại,
hai trấn Thanh và Nghệ lại rất sung túc. Triều đình liền hạ lệnh cho hai trấn
Đường Trong phải chở thóc kho ra cứu tế cho Bắc Hà. Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn
Như Châu cho đòi nhiều người đến giao việc chuyên chở nhưng không ai chịu đi.
Duy có Nguyễn Mẫn khảng khái xin đảm nhiệm, công việc hoàn tất, Nguyễn Mẫn được
thưởng rất nhiều tiền thành ra giàu có.
Lại có ý kiến cho rằng, thời kỳ ấy, chiến tranh Trịnh Nguyễn
nổ ra. Chúa Nguyễn và chúa Trịnh đều cần huy động tiền cho chiến tranh nên thời
kỳ này, giao thương tương đối phát triển. Khi ấy, Nguyễn Mẫn là một nhà buôn muối,
chuyên chở muối lên kinh thành và đã có dịp tiếp xúc với Hoàng Ngũ Phúc. Việc
quan lại và thương nhân câu kết với nhau để làm giàu là chuyện hiển nhiên. Vì
buôn bán nên chẳng bao lâu sau Nguyễn Mẫn trở thành một nhà giàu có trong vùng.
Khi trở nên giàu có, Nguyễn Mẫn hy vọng sau này các con ông sẽ
ngày càng phát đạt nên có ý tìm đất để đặt mộ. Và ông đã tìm đến giám sinh họ Đỗ
nhờ đặt mộ cho gia đình mình.
Theo gia phả họ Đỗ ở xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương thì
trong dòng tộc có một vị giám sinh tên là Đỗ Công Bàn rất giỏi địa lý phong thuỷ.
Đỗ Công Bàn đã điểm cho huyệt đất “phát tướng” ớ núi Côn Bằng, về sau Nguyễn Hữu
Chỉnh thành tướng giỏi lừng lẫy Bắc Hà, được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tiếp đãi
hàng thượng khách. Chuyện này cũng được Phạm Đình Hổ nói trong sách Tang
thương ngẫu lục...
Chuyện còn kể rằng, sau một thời gian tìm kiếm, Đỗ Công Bàn
cho Nguyễn Mẫn biết đã tìm thấy hai huyệt mộ ở huyện Can Lộc. Về huyệt thứ nhất,
Đỗ giám sinh cho biết, táng vào đây thì:
Côn dược tam thiên, công hầu miên miên
Nghĩa là: Cá côn vượt ba nghìn, đời nào cũng có công, hầu.
Về huyệt thứ hai ở núi Bằng, Đỗ giám sinh nói:
Bằng đoàn cửu vạn, thiên hạ đại loạn
Nghĩa là: Chim bằng bay chín vạn, thiên hạ đại loạn.
Nghe Đỗ giám sinh phán, Nguyễn Mẫn quyết định xin táng ở Bằng
Sơn. Nghe Nguyễn Mẫn bày tỏ ý muốn của mình, Đỗ giám sinh đọc tiếp:
Nhất phát bất như tái phát, tái phát bất như tam phát, kinh
thiên động địa.
Nghĩa là: Phát lần thứ nhất không bằng lần thứ nhì, thứ nhì
không bằng thứ ba, long trời lở đất.
Không rõ việc đặt huyệt mộ linh thiêng thế nào nhưng một thời
gian sau, bà Nguyễn Thị Hùng Nhị - vợ Nguyễn Mẫn sinh ra Nguyễn Hữu Chỉnh. Ngay
khi mới sinh, Nguyễn Hữu Chỉnh khóc ngằn ngặt ròng rã mấy ngày trời. Đỗ Công
Bàn sang thăm nghe tiếng khóc, lắc đầu nói:
- Ngày sau loạn thiên hạ tất là thằng bé này. Thật tội ở ta
nhiều lắm.
Nguyễn Hữu Chỉnh cứ khóc mãi, mọi người chuyền tay nhau bế,
nhưng ai dỗ cũng không nín. Chợt một người con gái xinh đẹp tự xưng là cô Lự đi
qua, xin vào dỗ giúp. Theo tục truyền, cô Lự vốn là Thần nữ núi Vu Sơn bên Tàu,
khi Thám hoa Nguyễn Lai Thạch sang sứ Yên Kinh có qua núi này, Thần nữ núi Vu
Sơn hiện lên trêu ghẹo ông, rồi theo ông về Nam và lấy tên là cô Lự (???)
Lại nói, Nguyễn Mẫn không biết làm thế nào cho con nín, đành
liều trao phó con mình cho cô. Cô Lự bồng Nguyễn Hữu Chỉnh và ru:
Rau răm một cụm ba đồng,
Anh đi xứ Quảng xứ Đông chưa về.
Bao giờ răm mọc rậm rì,
Anh ra xứ Bắc gửi yếm đào về cho em.
Nghe câu hát ru đó, Nguyễn Hữu Chỉnh nín bặt. Phải chăng câu
hát đã ám chỉ tương lai sau này của Nguyễn Hữu Chỉnh là lập thân ở Quảng Nam và
khi ra Bắc Hà sẽ đạt được danh vọng bậc nhất trong tòa lâu đài phú quý?
Chẳng rõ do sau này con đường hoạn lộ của Nguyễn Hữu Chỉnh
ngày càng rộng mở hay không nhưng thời ấy, thiên hạ đã đồn thổi rằng, ngôi mả tổ
của Nguyễn Hữu Chỉnh nằm trên núi Côn Bằng, có thế ngàn vạn con rồng đuổi ngàn
vạn con hổ nên xưng bá xưng vương đều được như ý. Có lẽ nhân đó mà Nguyễn Hữu
Chỉnh đã tự đặt cho mình tên hiệu là Bằng lĩnh hầu chăng?
Tết Nguyên Đán, Hữu Chỉnh theo cha đến mừng tuổi thầy học.
Lúc này Hữu Chỉnh mới lên 9 tuổi nhưng đã tỏ ra đĩnh ngộ, thông minh khác thường.
Sau khi lạy thầy học và đưa quà biếu tết thầy, thấy Hữu Chỉnh
cứ chăm chú nhìn tràng pháo thầy treo sẵn để đốt lúc giao thừa, thầy buột miệng:
- Trò Chỉnh, sao trò cứ nhìn chăm chú tràng pháo ấy thế. Trò
có thể làm thơ vịnh tràng pháo đó được không? Nếu trò làm được, thầy sẽ thưởng
cho trò tràng pháo mà trò thích.
Nghe thầy nói, mắt Nguyễn Hữu Chỉnh sáng lên. Hữu Chỉnh xin
phép thầy và đọc một mạch:
Xác không vốn những cậy tay người,
Bao nả công trình, tạch cái thôi!
Kêu lắm lại càng tan tác lắm,
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.
Nghe xong bài thơ vịnh pháo của Hữu Chỉnh, thầy học lắc đầu
buồn rầu than:
- Thằng bé này sau công nghiệp ắt to lớn lắm nhưng rồi làm loạn
đời, tất cũng là nó!
Về câu chuyện này, có ý kiến cho rằng, người đời chiêm nghiệm
cuộc đời của Nguyễn Hữu Chỉnh rồi gán ghép bài thơ ấy cho ông, xem như đó là một
lời tiên báo. Lại có người luận rằng “khẩu khí” bài này cho thấy Nguyễn Hữu Chỉnh
không có thực tài, làm nên sự nghiệp đều “cậy tay người”, song càng trèo cao
càng ngã đau, rút cục chết phanh thây mà công danh cũng không còn, khác nào như
pháo, chỉ nổ tạch một tiếng, tan xác là hết.
Đó là miệng tiếng thế gian, sau này còn theo lời truyền lại,
ngay từ nhỏ, Nguyễn Hữu Chỉnh đã nổi tiếng học rất giỏi. Năm 16 tuổi, Nguyễn Hữu
Chỉnh thi đỗ Hương cống nên còn gọi là cống Chỉnh.
Nguyễn Hữu Chỉnh thuộc làu nhiều sách, lại lớn lên trong thời
buổi loạn lạc nên cho rằng, chí làm trai nếu chỉ biết nghiên bút vị tất đã làm
nên sự nghiệp lớn. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh vừa học văn, vừa luyện tập các môn
võ nghệ.
Thời ấy, Nguyễn Hữu Chỉnh nổi tiếng ở kinh kỳ là người có tài
ứng đối chữ nghĩa. Thêm nữa, vốn xuất thân trong một gia đình người cha là
thương nhân, Nguyễn Hữu Chỉnh đã tiếp thu được tính năng động của cha, luôn là
người “thức thời” với thời thế, không thích bó buộc vào khuôn phép.
Ngay từ khi còn trẻ, hoàn cảnh kinh tế gia đình có phần dư dả,
lại được người cha truyền cho ý nghĩ phải giành lấy một chỗ đứng trong xã hội
nên ngoài việc học hành, Nguyễn Hữu Chỉnh nhận thấy cần phải giao du, kết bạn
càng nhiều càng tốt. Vì thế, trong các buổi tiệc chiêu đãi bạn bè, Nguyễn Hữu
Chỉnh luôn tỏ ra là người hào phóng, giao du rộng rãi. Ông nổi tiếng là người vừa
có tài hùng biện của một chính khách vừa có chất phong lưu hào sảng của một văn
nhân.
Trong tư dinh tại làng Cổ Đan, ông nuôi vài chục người hầu tuổi
mười tám đôi mươi, vừa giỏi tề gia nội trợ vừa giỏi đàn hát để góp vui cùng những
văn tài hiền sĩ trong vùng là bạn thân của ông. Khi nhà có đại tiệc, ông cho
người đến làng ca trù Cổ Đạm bên Nghi Xuân mời tốp đào kép đào nương về nhà, biểu
diễn thâu đêm các sáng tác mới của ông và của văn tài bạn hữu.
Nguyễn Hữu Chỉnh thi đậu Hương cống năm 16 tuổi. Ngay từ thời
đó, Nguyễn Hữu Chỉnh đã nhận thấy cảnh tranh giành quyền lực năm phe bảy phái,
thời thế chao đảo, bất ổn. Vì thế, ông cho rằng thi thố tài năng trong cảnh đại
loạn này, không thể níu giữ ngọn bút lông, chỉ biết đắm mình trong giáo lý. Ảnh
hưởng tính thực tế của cha, Nguyễn Hữu Chỉnh quyết định phải gắng sức lục thao
tam lược, lập nghiệp bằng nghề võ. Ông dày công luyện tập nhưng khi triều đình
mờ khoa thi bác cử (khoa thi võ), ông ra Thăng Long song không đỗ, đành trở về
nhà và gửi gắm tâm sự trong những bài thơ, ngụ cái bất đắc như ý của mình.
Phận đành yên phận, chửa yên thân
Vàng, bạc còn chen đám tục trần
Trong hãy trả ơn bề cốt nhục
Ngoài càng luống tưởng đạo quân thân
(Vô đề)
Sau đó, ông càng quyết chí theo đuổi nghiệp võ. Vốn là dân miền
biển, dần dần ông không chỉ thông thạo 18 ban võ nghệ, nổi tiếng về cưỡi ngựa
múa đao mà còn rất giỏi về thủy chiến. Từ một nhà Nho trói gà không chặt, ông
trở thành một lực sĩ “xách nổi hàng mấy trăm cân”.
Sống trong cảnh xã hội nhiễu nhương, chia bè kéo cánh, Nguyễn
Hữu Chỉnh nhận thấy không thể tồn tại khi đơn thương độc mã. Nhờ mối thân tình
từ trước giữa cha mình - ông Nguyễn Mẫn với Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn
Hữu Chỉnh quyết định ra mắt Việp quận công - một danh tướng Bắc Hà rất được
chúa Trịnh tin dùng.
Lần đầu tới dinh Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Hữu Chỉnh
đã có thái độ ung dung, tự tin, không tỏ ra xun xoe, luồn cúi. Vốn biết rõ về
Nguyễn Mẫn, Hoàng Ngũ Phúc ngắm nhìn Hữu Chỉnh khá lâu. Sau một hồi trò chuyện,
hỏi thăm về Nguyễn Mẫn, Hoàng Ngũ Phúc mới hỏi han về ý định của Nguyễn Hữu Chỉnh
khi tới dinh của ông. Nguyễn Hữu Chỉnh thành thật kể cho Việp quận công rõ mong
muốn sau này sẽ trở thành một người như Quách lệnh công, có thể thi thố tài
năng, giúp hai vị vua Đường Túc Tông và Đường Đại Tông mưu đồ việc trung hưng.
Việp quận công thích thú lắng nghe Nguyễn Hữu Chỉnh nói và hỏi:
- Ta nghe nói ngươi làm bài phú Quách Lệnh Công, các danh sĩ ở
kinh đô thi nhau tìm đọc. Vậy có thể cho ta nghe vài câu được không?
Nguyễn Hữu Chỉnh nói:
- Việp quận công đã cho phép, sao cháu dám chối từ.
Và Nguyễn Hữu Chỉnh vui vẻ đọc:
Hai kinh trợ lệch phò nghiêng,
Tắt binh lửa đặng ngôi triều thị
Việp quận công im lặng ngồi nghe. Sau khi đọc xong, Nguyễn Hữu
Chỉnh lễ phép nói:
- Thưa quận công, Quách Lệnh Công là một tướng giỏi đời Đường,
đã giúp Đường Túc Tông dẹp loạn An Lộc Sơn, thu phục kinh đô Tràng An. Họ Quách
đã lập công danh bằng tài sức mình chứ không “cậy tay người”, đấy chính là mẫu
người lý tưởng, đáng được ca tụng.
Nghe Nguyễn Hữu Chỉnh nói vậy, Hoàng Ngũ Phúc nhận ra chàng
thanh niên này có ý chí khác thường, đang ôm ấp hoài bão vươn đến đỉnh cao nhất
của công lao và danh vọng, mong được ra vào trăm trận lập công, được lưu danh sử
sách, tự ví mình với những bậc được người đời tôn thờ như Trương Tử Phòng,
Quách Tử Nghi, và đặc biệt muốn “xã tắc lấy mình làm nặng nhẹ”. Quả thực, dám lấy
bản thân làm thước đo cho cả thời đại, đúng là một ý tưởng táo bạo và ngang
tàng.
Sau đó, Việp quận công cho người tìm hiểu thêm về Cống Chỉnh,
người này rất khen ngợi Chỉnh, lại còn dẫn ra đôi câu đối Cống Chỉnh đề ở cánh
cửa:
Mở khép càn khôn có ra tay mới biết
Ra vào khanh tướng, thử mở mắt mà coi.
Nhân đó, liền quyết định dùng làm gia khách. Năm 1774, Hoàng
Ngũ Phúc được phong làm thống tướng, đem quân đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong và
cho Nguyễn Hữu Chỉnh đi theo quân thứ, giữ công việc thư ký.
Hoàng Ngũ Phúc nhận lệnh vượt sông Gianh xâm chiếm Đàng
Trong. Nguyễn Hữu Chỉnh được lệnh đi theo quân ngũ. Sống bên cạnh Hoàng Ngũ
Phúc, tiếp xúc với nhiều tin tức từ triều đình truyền về, Nguyễn Hữu Chỉnh ngày
càng nhận thức rõ đại cục rối ren. Ông biết từ Thuận Hoá trở ra Bắc là vùng chiếm
giữ của vua Lê - chúa Trịnh, phía nam là vùng đất của chúa Nguyễn. Vua Lê tại vị
chỉ trên danh nghĩa, quyền lực nằm cả trong tay chúa Trịnh. Cục diện phân tranh
Trịnh - Nguyễn còn đang bất phân thắng bại thì lại xuất hiện một lực lượng thứ
ba. Anh em Tây Sơn nổi lên, chiếm Quy Nhơn rồi xin làm phiên thuộc của họ Trịnh,
diệt chúa Nguyễn, làm chủ phần đất từ Quảng Ngãi đến Gia Định. Sau đó, Nguyễn
Nhạc xưng đế, đặt niên hiệu Thái Đức.
Nhiều thế lực nổi lên xây dựng sự nghiệp bá vương. Kẻ sĩ bị
phân hóa, người từ chối quan trường, người chọn vua mà trung, chọn chúa mà thờ.
Nguyễn Hữu Chỉnh cũng vậy, ông đã quyết định theo Hoàng Ngũ Phúc và quyết tâm từ
vị trí là một người tâm phúc của Việp quận công, sẽ có điều kiện thi thố tài
năng.
Kiêm Long được chúa Nguyễn phái đến trại của Việp quận công,
truyền lại ý chỉ của chúa Nguyễn, Đàng Trong tự dẹp được Tây Sơn, không cần
quân Trịnh. Khi Kiêm Long đến trại, Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn đường đưa Kiêm Long đến
ra mắt Quận Việp. Nghe Kiêm Long trình bày và Việp quận công khôn khéo hỏi dò mọi
việc, Nguyễn Hữu Chỉnh đã hiểu rõ tình thế ở vùng đất phía Nam.
Kiêm Long lựa lời:
- Thống tướng chắc đã rõ, cổ nhân có câu: “Đường không đi
không đến, chuông không gõ không kêu”.
Quận Việp hiểu thâm ý của Long, quyết định tiến quân. Ông sai
Hoàng Đình Thể tiến đánh lũy Trấn Ninh.
Các tướng Nguyễn làm nội ứng mở cửa đầu hàng. Quân Trịnh chiếm
được Quảng Bình.
Sau khi tiến đến Hồ Xá, tìm hiểu tình hình, Hoàng Ngũ Phúc nhận
thấy danh có chính thì mới dễ hành động. Biết các tướng lĩnh của chúa Nguyễn e
ngại Nguyễn Nhạc, hay tìm lý do để thoái thác, không chịu đi đánh dẹp. Hơn thế
trọng thần Trương Phúc Loan còn ăn hối lộ để thay đổi người đi đánh; quân lính
thì phẫn nộ cứ ra trận là bỏ chạy khiến quân của Nguyễn Nhạc thừa thế đánh ra
khắp nơi.
Hoàng Ngũ Phúc liền nghĩ cách ly gián Trương Phúc Loan, liền
sai Nguyễn Hữu Chỉnh cho truyền đi lời hịch đại ý nói: “Phúc Loan ỷ vào tình thế
ở trong phòng the, trộm lạm quyền cơ mật, tin bọn gian nịnh, hãm người trung
lương, tự ý giết người, dùng sài lang làm thân cận, làm cạn xương máu của dân,
ăn bớt quân lương, làm yếu lực lượng phòng vệ. Khiến cho bọn manh lệ ở đất Tây
Sơn tụ tập đông như kiến, nổi lên tựa đàn ong, chiếm đất Quảng là vùng màu mỡ,
con lợn phải trốn, con lang phải chạy. Vì thế, trước hết phải trừ dẹp bọn bề
tôi nơi biên ải rồi sẽ diệt tên giặc đầu sỏ gian ngoan. Trừ tàn khử bạo, ngăn
chặn bọn quốc thích khi nó đang gây nhiều khó khăn. Dẹp nạn là do việc nghĩa,
thừa lúc nguy nan chứ chẳng có lòng tham”.
Hịch được truyền đi, Việp quận công cười bảo các tướng:
- Lời hịch của ta làm cho dân chúng phía Nam cảm động. Còn những
kẻ bề tôi trong triều Nguyễn vốn căm thù Loan, sẽ tìm cách bắt hắn nộp cho ta.
Vậy chẳng phải ta bắn một mũi tên mà trúng hai đích sao?
Các tướng dưới trướng đều hoan hỉ, tấm tắc khen ngợi chủ tướng.
Quận Việp bảo:
- Ta đã sai người ngầm giao kết với viên biện lại giữ vùng
biên giới. Các ngươi có biết người phía Nam này có câu gì không? Họ thường nói:
kẻ nào khôn ngoan, xảo quyệt, vào quá được Thanh Thủy cũng chưa dễ mọc cánh bay
qua Lũy Thầy. Quân ta nay đã vượt được sông Gianh, Đào Duy Từ nếu còn sống liệu
có thể bảo vệ được nơi đất hiểm đó để chống lại quân nhà Trời không?
Nay, chúa Nguyễn lại sai Quý Lộc và Kiêm Long đi khao quân đội
ta, lại nói quân Tây Sơn sắp bị tảo trừ, không cần quân của nhà Chúa phải lặn lội
vất vả nữa. Hừm, ta lạ gì cái mẹo ấy! Ta đã tương kế tựu kế, nói chuyện với
Kiêm Long, nhưng lại sai người bí mật đi đánh Bố Chính. Và bây giờ ta đã thành
công. Các ngươi hãy chờ xem ta nói có đúng không, chắc chắn Trương Phúc Loan sẽ
bị các đình thần căm ghét và bắt nó nộp cho ta.
Quả đúng như lời Hoàng Ngũ Phúc phán đoán, ít lâu sau Thành
quận công Pháp cùng Tôn Thất Huống bí mật bắt Loan đem nộp cho quân của chúa Trịnh.
Giết xong Trương Phúc Loan, Hoàng Ngũ Phúc lại viện cớ giúp Nguyễn đánh Tây Sơn
để tiến vào Phú Xuân hội binh. Chúa Nguyễn sai các tướng trá hàng ra quấy rối
Quảng Bình, Bố Chính nhưng các cánh quân đó bị quân Trịnh nhanh chóng phá tan.
Chúa Nguyễn điều Tôn Thất Chí, Nguyễn Văn Chính ra đánh đều bị Hoàng Ngũ Phúc
đánh bại. Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Phác theo kế của Hoàng Ngũ Phúc, men đường
núi qua thác Trầm Ma đánh tan quân Nguyễn, giết chết Nguyễn Văn Chính.
Đầu năm 1775, quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn không
chống nổi phải bỏ chạy vào Quảng Nam. Quân Trịnh chiếm toàn bộ Thuận Hoá. Thủ
lĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc nhân chúa Nguyễn bỏ chạy vào Quảng Nam liền mang quân
hai đường thuỷ bộ ra đánh. Nguyễn Phúc Thuần vội bỏ Quảng Nam theo đường biển
trốn vào Gia Định, để Nguyễn Phúc Dương ở lại chiêu mộ quân Quảng Nam đánh Tây
Sơn từ phía Bắc, còn Thuần đánh từ phía Nam.
Tháng 2 năm 1775, Hoàng Ngũ Phúc nhận lệnh đánh Quảng Nam.
Quân Tây Sơn cũng tiến ra, lùng bắt được Phúc Dương. Tháng 4, quân Trịnh vượt
đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn. Hoàng Ngũ Phúc thắng lợi. Tướng người
Hoa của Tây Sơn là Tập Đình vượt biển bỏ chạy về Trung Quốc. Nguyễn Nhạc phải
rút quân về Quy Nhơn.
Nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận, tướng Nguyễn là Tống Phúc Hiệp
từ Bình Khang đánh ra Phú Yên, quân Tây Sơn thua phải co về Quy Nhơn. Tình thế
của Nguyễn Nhạc rất nguy ngập, Nguyễn Nhạc bèn sai người đến chỗ Hoàng Ngũ Phúc
xin đầu hàng và làm tiên phong cho chúa Trịnh để đánh chúa Nguyễn.
Khi sứ giả của Nguyễn Nhạc ra về, Hoàng Ngũ Phúc hỏi Nguyễn Hữu
Chỉnh:
- Ngươi đã nghe rõ mọi chuyện rồi đấy. Theo ngươi, ta nên làm
thế nào, có nên khoan sức cho Nguyễn Nhạc không?
Nguyễn Hữu Chỉnh lựa lời:
- Bẩm, Việp quận công chắc đã tính toán cẩn thận rồi. Binh
lính dưới trướng của ngài chinh chiến đã lâu, nay nhân cơ hội này mượn sức Nguyễn
Nhạc mà đánh chúa Nguyễn, như vậy chỉ một mũi tên đã trúng hai mục đích.
Việp quận công hể hả:
- Ngươi nói đúng ý ta. Vậy ta sẽ cử ngươi đến chỗ Nguyễn Nhạc,
cần nói gì chắc ngươi đã rõ, ta không phải căn dặn gì thêm.
Sau đó, Việp quận công cử Nguyễn Hữu Chỉnh đem ấn cờ đến
phong Nguyễn Nhạc làm “Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân”.
Thời gian ở dưới trướng quận Việp, Nguyễn Hữu Chỉnh thường được
cử làm sứ giả qua lại với Tây Sơn. Nguyên Hữu Chỉnh có tài biện luận nên dần dần
đã được Nguyễn Nhạc chú ý. Sau này, khi Nguyễn Hữu Chỉnh theo về dưới trướng của
Nguyễn Nhạc, ông là người đưa ra nhiều ý đồ chiến lược, thuyết phục được Nguyễn
Nhạc tin theo khiến thời cuộc đổi thay.
Vốn là người cầm quân lão luyện, Hoàng Ngũ Phúc không vội rút
lui. Ông muốn nhân khi Tây Sơn và chúa Nguyễn đánh nhau để thủ lợi. Nếu Tây Sơn
bại trận, ông sẽ tiến lên diệt gọn Tây Sơn, lấy nốt Quảng Ngãi và Quy Nhơn. Nếu
Tây Sơn thắng, ông nhờ sức họ diệt chúa Nguyễn. Tính toán như vậy, ông cho quân
tới đóng ở Chu Ổ thuộc Quảng Ngãi.
Tháng 7 năm 1775, nghe tin Nguyễn Huệ thắng quân Nguyễn chiếm
lại Phú Yên, Hoàng Ngũ Phúc quyết định án binh bất động. Ông biết Tây Sơn đã đủ
thực lực đứng vững, quân Trịnh không thể diệt được, nhất là khi quân của ông đi
xa nhà đã mệt mỏi và phát dịch bệnh. Theo đề nghị của Nguyễn Nhạc, Hoàng Ngũ
Phúc phong chức cho Nguyễn Huệ làm “Tây Sơn hiệu tiền tướng quân”.
Mọi việc tưởng như thuận buồm xuôi gió, bỗng nhiên, một nạn dịch
bất ngờ xuất hiện làm quân của Hoàng Ngũ Phúc chết quá nửa. Lượng biết sức mình
không thể đương nổi việc quân nữa, quận Việp bí mật bàn với các tướng rút quân
về. Các tướng bàn nên rút về Quảng Nam, đặt quan trông giữ phần lãnh thổ chiếm
được, nhưng quận Việp chủ trương rút hẳn về Thuận Hóa, còn Quảng Nam sẽ tính
sau. Ông sai người cầm thư đi gấp về Thăng Long xin ý chỉ của chúa Trịnh. Trịnh
Sâm xưa nay rất tin tưởng quận Việp nên chấp nhận đề nghị của ông. Quân Trịnh
rút khỏi Quảng Ngãi lui hẳn về Phú Xuân.
Hoàng Ngũ Phúc phát bệnh, ông giao lại thành Phú Xuân cho phó
tướng Bùi Thế Đạt, còn mình dẫn đại quân về Bắc nhưng giữa đường ngã bệnh mà chết.
Nguyễn Nhạc nghe tin Hoàng Ngũ Phúc chết, biết không phải lo
mặt Bắc nữa, liền đem quân chiếm thành Quy Nhơn rồi xưng vương, đó là tháng 3
năm 1776.
Sau khi quận Việp qua đời, Nguyễn Hữu Chỉnh quay về kinh đô
và lại tiếp tục ngao du. Nguyễn Hữu Chỉnh vui chơi mà lòng cảm thấy trống vắng.
Ông muốn thi thố tài năng trong thời kỳ mà theo ông, đang có nhiều biến chuyển,
nhưng cái chết của Việp quận công đã khiến ông có phần hụt hẫng. Vì thế, ông
quyết định phải giao lưu với giới quý tộc kinh kỳ để tìm ra một hướng đi thích
hợp.
Thời gian này, nhà Nguyễn Hữu Chỉnh lúc nào cũng có vài chục
khách, khi uống rượu, lúc ngâm thơ. Nguyễn Hữu Chỉnh còn tự tay soạn ra bài
hát, phổ vào đàn sáo để các ca nhi tập và mua vui. Thời đó, Nguyễn Hữu Chỉnh nổi
tiếng ở kinh đô là tay phong lưu bậc nhất.
Thời gian này, Nguyễn Hữu Chỉnh đã làm một bài thơ thể hiện
tâm trạng có phần bất đắc chí của mình. Bài thơ của ông khiến nhiều kẻ ra luồn
vào cúi cảm thấy chướng tai gai mắt:
Của chẳng riêng ai vốn của trời
Có thì ăn mặc, có thì chơi
Bán buôn áo cũng bồ nâu đỏ
Hàng chợ cơm dù bát sứ xôi
Rượu uống tiêu sầu năm bảy chén
Thơ ngâm khiển hứng một vài lời
Bá vương nhắm mắt làm chi nữa
Lầm lẫn trời đành đã có nơi.
Việp quận công mất, Nguyễn Hữu Chỉnh mất một chỗ dựa có thế lực.
Trong cảnh nháo nhác đua chen ấy, việc Nguyễn Hữu Chỉnh tỏ ra bất cần khiến ông
đã gặp tai họa. Có kẻ vốn ghét quận Huy, liền đi tố cáo ông, trong lúc làm
quan, được quận Huy tiếp tay, đã đánh cắp vàng bạc của công kể đến hàng trăm vạn
nên mới có thể ăn chơi nhởn nhơ như thế.
Ngay lập tức, Nguyễn Hữu Chỉnh bị hạ ngục. Không rõ việc tố
cáo này đúng hay sai, chỉ biết chắc một điều, dù bị tra tấn gần chết nhưng Nguyễn
Hữu Chỉnh nhất mực không đổ tội cho quận Huy. Hành động này của Nguyễn Hữu Chỉnh
khiến quận Huy rất nể trọng ông. Vì thế, khi vào làm trấn thủ Nghệ An, quận Huy
đã dùng Nguyễn Hữu Chỉnh làm Hữu tham quân.
4. HẢI ĐIÊU
Nguyễn Hữu Chỉnh về làm môn hạ quận Huy mười năm và rất được
quận Huy tin dùng. Khi mới vào phủ của Huy quận, Hữu Chỉnh được giao làm quản
lĩnh đội Thiện tiểu. Có kẻ ác ý, hỏi giễu:
- Ông thường tự hào về chí làm trai, sao lại là Thiện tiểu -
nhỏ thế?
Hữu Chỉnh lập tức đáp lại:
- Xưa có câu rằng, quân tử chớ cho điều thiện nhỏ mà không
làm.
Câu trả lời của Hữu Chỉnh khiến kẻ kia đớ người còn đám người
trong phủ cười vang. Dần dần, quận Huy ngày càng yêu mến Hữu Chỉnh chẳng kém gì
quận Việp và đã tin tưởng giao cho Hữu Chỉnh huấn luyện thủy quân.
Năm 1788, quận Huy được giao trấn thủ Nghệ An, liền cho Nguyễn
Hữu Chỉnh giữ chức Hữu Tham quân, giúp đánh dẹp giặc biển. Nguyễn Hữu Chỉnh
luôn luôn thắng trận, nghề thủy vào bậc vô địch bấy giờ nên người vùng biển gọi
Hữu Chỉnh là “con cắt biển” (hải điêu).
Quận Huy đi trấn thủ Sơn Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh đổi sang đội
Tiền trung rồi Tiền cơ, đóng ở Nghệ An. Vốn là người thông minh, hiểu rõ thời
cuộc nhưng chưa thể làm gì để thi thố tài năng, khiến tâm trạng của ông không
yên. Cách suy nghĩ vượt lên trên sự hiểu biết thông thường khiến ông bị nhiều kẻ
ghen ghét. Bài thơ làm thời kỳ này của ông thể hiện trạng thái bất đắc chí và đẫm
nỗi buồn thế sự:
Kẻ yêu nên ít bề cao hạ
Người ghét, càng nhiều tiếng thị phi
Và
Ai có hay chăng là chẳng hay?
Lòng này vốn đã dậy thân này.
Kẻo lầm, kẻo lỡ, người yêu ghét,
Đà tỏ, đà tường, kẻ thảo ngay
Xem nỗi thế-thời, xem đã nhạt,
Bén mùi đạo lý, bén càng say.
Phải cơ mới biết cơ Trời nhiệm (mầu nhiệm),
Có rủi bằng dường lại có may.
Dẫu sao tâm trạng dằn vặt ấy chỉ là nhất thời bởi Nguyễn Hữu
Chính vốn dĩ là một con người hành động. Ông luôn luôn tính toán, phân tích lợi
hại và khi cần, ông thường tỏ ra quyết đoán. Ông hiểu rõ thời thế rối ren và
theo ông, ai phân tích, hiểu rõ được đại cục sẽ là người chiến thắng. Vì thế,
ngay cả thời kỳ trấn ở đất Nghệ An, ông vẫn luôn theo dõi mọi diễn biến ở kinh
thành để khi cần, sẽ lập tức hành động.
Và mọi điều ông toan tính quả là không vô ích. Một lần, khi
Nguyễn Hữu Chỉnh đang ở trấn Nghệ An, chợt có người hớt hải vào dinh bẩm báo:
- Chủ tướng, có tin gấp từ kinh đô. Người phụ trách đạo Hậu
Kiên xin gặp.
Nguyễn Hữu Chỉnh giật mình:
- Tên hắn là gì?
- Dạ, hắn xưng tên là Nguyễn Viết Tuyển.
Nguyễn Hữu Chỉnh vội nói:
- Cho hắn vào ngay!
Nghe nhắc đến tên Tuyển, Nguyễn Hữu Chỉnh lo ngại không biết ở
kinh đô đã xảy ra chuyện gì. Vốn Tuyển là người cùng làng với Hữu Chỉnh, thi võ
đỗ biền sinh, nổi tiếng là người can đảm, mưu lược. Nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh tiến cử
với quận Việp, Tuyển được quận Việp trọng dụng. Khi đóng ở Trấn Ninh, Nghệ An,
Nguyễn Hữu Chỉnh đã giao hẹn, nếu có việc gì xảy ra ở kinh thành, Tuyển cần báo
ngay cho ông rõ. Vì thế, nghe nói Nguyễn Viết Tuyển xin gặp, Nguyễn Hữu Chỉnh cảm
thấy đã có chuyện chẳng lành xảy ra.
Một lát sau, Nguyễn Viết Tuyển bước vào. Trông thấy Tuyển,
Nguyễn Hữu Chỉnh cố giữ vẻ bình thản, bảo:
- Ngươi vào đi, đã lâu không gặp.
Tuyển cúi đầu chào, khẽ nói:
- Hữu tham quân, mọi việc diễn biến quá nhanh, đến ngài cũng
không ngờ tới.
Rồi Tuyển đem hết những chuyện nhốn nháo suốt dọc đường kể lại
cho Nguyễn Hữu Chỉnh rõ. Nghe xong câu chuyện, Nguyễn Hữu Chỉnh cảm thấy bối rối,
thật sự hoang mang. Song vốn là người cơ mưu, ông cố trấn tĩnh, không để lộ cho
Viết Tuyển biết. Đầu óc ông tính toán rất nhanh xem nên hành động thế nào trong
tình huống này. Cần phải quyết định đi ngay vào Nam, nhưng trước hết phải bàn với
Dao trung hầu ở trấn sở doanh để liệu thời cơ hành động.
Vốn là người thức thời nên ngay từ khi Hoàng Ngũ Phúc sai ông
mang sắc ấn, cờ kiếm phong tước cho Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh đã thấy rõ,
anh em Tây Sơn là những người có nhiều tham vọng, chẳng thể chịu ở dưới quyền lực
của ai lâu. Việc họ sai sứ giả đến trại Hoàng Ngũ Phúc chỉ là một sách lược nhất
thời. Tuy nhiên, Nguyễn Hữu Chỉnh nhận thấy đây là một lực lượng đáng kể, không
thể coi thường nên khi tiếp xúc với Nguyễn Nhạc, ông đã tỏ ra là người hiểu biết
và đáng tin. Giờ đây, những toan tính đầy tính thực tiễn của ông đã có tác dụng.
Ông có thể hướng về Tây Sơn mà phò tá.
Ông còn cho rằng, nhà Tây Sơn từ lúc dấy nghiệp, thuộc hạ chủ
yếu là những tay võ biền. Nay tuy đã dựng được một triều đình riêng ở Quy Nhơn
nhưng thiếu người có thể sắp đặt triều chính, kinh bang tế thế. Nếu ông theo
vào phò tá, chắc sẽ được trọng dụng và ông có thể thi thố tài năng. Như vậy, việc
ông rời Bắc Hà dù là thế cùng nhưng không phải vì sự thất thế đó mà ông trở nên
vô dụng.
Sau khi tính toán rất nhanh, Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức đến
dinh của Vũ Tá Dao. Vốn trung hầu Vũ Tá Dao là em rể quận Việp, lại đang làm trấn
thủ Nghệ An, nắm trong tay một số lớn binh lính. Nếu Vũ Tá Dao nghe theo, đem
quân vào Nam thì mọi việc đối với ông sẽ dễ dàng hơn. Còn ông dù thế nào cũng
phải đi ngay, không thể ở đây chờ chết vì Trịnh Tông đã lên ngôi chúa, mà Trịnh
Tông và quận Huy vốn là kẻ thù không đội trời chung. Ông lại là vây cánh đắc lực
của quận Huy, không cao chạy xa bay thì không những hại đến gia đình mà ngay cả
bản thân cũng không toàn tính mạng.
Lập tức, Nguyễn Hữu Chỉnh rẽ qua nhà, dặn dò vợ chuẩn bị hành
lý, mang những thứ thật cần thiết để gấp rút lên đường, lại sai mấy gia nhân
trung thành đi thuê thuyền lớn, chất của cải lên thuyền, chuẩn bị nhổ neo. Cắt
đặt xong mọi việc, ông vội vã đến dinh của trung hầu Vũ Tá Dao.
Nghe nói Nguyễn Hữu Chỉnh xin vào gặp, Vũ Tá Dao lật đật bước
ra. Trung hầu cũng đã nghe phong thanh mọi việc xảy ra ở kinh thành, phấp phỏng
không rõ thực hư thế nào, trong bụng rất lo lắng bởi vốn là người nhà quận Huy,
trước sau gì cũng bị dính líu, nhưng chưa biết phải quyết thế nào. Vì thế, nghe
nói Nguyễn Hữu Chỉnh đến, Vũ Tá Dao đoán mười mươi lý do Nguyễn Hữu Chỉnh đến
là về việc này. Hãy thử xem ý kiến của ông ta ra sao rồi sẽ tính. Vì thế, Dao
trung hầu mời Nguyễn Hữu Chỉnh vào dinh, sau khi bảo hết thủ hạ lui ra, khẽ
nói:
- Chắc Hữu tham quân đến về việc có biến ở kinh thành.
Nguyễn Hữu Chỉnh gật đầu:
- Ngài đoán không sai. Nhưng mọi việc diễn biến quá nhanh, loạn
lắm, không như ngài tưởng đâu. Tôi có một người thân cùng làng, hắn chạy từ
kinh đô về đây báo tin cho tôi biết. Phải quyết rất nhanh, lửa đã cháy bén đáy
nồi rồi.
Dao trung hầu tái mặt, khẽ hỏi:
- Theo ý Hữu tham quân, nên như thế nào?
Nguyễn Hữu Chỉnh hạ giọng:
- Trấn này giáp liền Thuận Hóa, hiện quận công Hoàng Đình Thể
- phó tướng Phú Xuân, Khôi Thọ hầu, lưu thủ đồn Động Hải đều vốn là quân dưới
trướng của Việp quận công, như vậy là dễ cho tôi và ngài rồi. Ngài nên viết mật
thư cho Hoàng Đình Thể, khuyên quận công tìm cách giết đại tướng Phú Xuân, chiếm
lấy thành rồi kêu gọi Khôi Thọ đem đồn Động Hải liên kết lại. Như thế, ngài ở
đây cứ việc giữ trấn này làm thế môi răng, nương tựa vào nhau. Tiếp đó ngài nên
chiêu mộ hào kiệt, thổ binh, chặn đường Hoàng Mai, đóng đồn lớn ở Quỳnh Lưu làm
kế cố thủ. Như vậy, trấn này có thể giữ yên, có thể lấy đó làm chỗ dựa. Còn về
việc phòng thủ trên biển, ngài hãy để tôi đảm nhiệm, như thế mới có thể chống lại
được nhà chúa mà thoát khỏi tai nạn. Vậy cũng có nghĩa là lấy được nửa thiên hạ
rồi. Ngài chẳng những không bị triều đình hỏi tội, còn có thể ung dung ngồi đó
nhìn thiên hạ thay đổi, lại không hay ư? Ngài còn nhớ quận Siêu thời chúa Trịnh
Giang, đã từng giữ trấn này để chống lại nhà chúa không? Sự thể bây giờ còn lợi
hơn thời quận Siêu mang quân đến đây đấy.
Dao Trung hầu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bảo:
- Kế của Hữu tham quân không chê vào đâu được, nhưng e rằng sức
tôi không đảm đương nổi. Liệu còn có cách gì khác không?
Nguyễn Hữu Chỉnh lắc đầu:
- Chả còn kế gì khác, chỉ có mỗi cách là bỏ nước mà đi.
Dao Trung hầu ngạc nhiên:
- Đi ư, ông bảo đi đâu?
- Thiên hạ vạn nước, lo gì không có chỗ đi. - Nguyễn Hữu Chỉnh
ung dung đáp - Ngài hãy cân nhắc lời của tôi xem sao.
Vũ Tá Dao cũng toan theo Hữu Chỉnh vào với Tây Sơn nhưng rồi
lại ngần ngại, bảo:
- Đây là việc lớn, để tôi nghĩ kỹ lại xem.
Nguyễn Hữu Chỉnh bực mình bảo:
- Việc kíp đến nơi rồi. Đợi ngài nghĩ xong thì còn gì là đời.
Thôi, ngài cứ ở lại mà nghĩ.
Sau đó Nguyễn Hữu Chỉnh đưa tất cả gia đình và tài sản xuống
thuyền. Trước khi nhổ neo, Nguyễn Hữu Chỉnh nói rõ mọi chuyện cho hơn 300 lính
cơ dưới quyền, lại cho mỗi người một quan tiền rồi hạ lệnh nhổ neo, giong thuyền
ra biển. Lúc đó, mọi người mới biết Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ đi vào Quảng Nam.
Giong buồm ra biển về dưới trướng của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu
Chỉnh hồi tưởng lại thời gian khi làm nhiệm vụ sứ giả đưa tin. Đã có lần, ông
còn mang cờ, kiếm thay mặt Việp quận công vào phong cho Nguyễn Nhạc là Duy quốc
công, Tây Sơn Duyên úy đại sứ. Những lần tiếp xúc như vậy, do ăn nói rất khéo
léo nên Nguyễn Nhạc rất có cảm tình với ông. Đây cũng là lợi thế của ông khi rời
đất Bắc theo Tây Sơn.
Biết tin Nguyễn Hữu Chỉnh quay về Quảng Nam, xin vào ra mắt,
Nguyễn Nhạc vừa mừng vừa có ý phân vân. Mừng vì có một thuộc hạ giỏi như Nguyễn
Hữu Chỉnh, nhưng băn khoăn không rõ mục đích của Nguyễn Hữu Chỉnh thế nào, có
tin được hay không?
Bước vào dinh của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh nhận thấy
cách trưng bày bàn ghế, màn trướng, hình khắc trên cột kèo vẫn như khi ông đến
đây với tư cách là sứ giả của họ Trịnh.. Là một người từng trải và giàu có, lần
này lại đến đây không phải với tư cách sứ giả, Nguyễn Hữu Chỉnh tự nhủ, phải cố
quan sát thật kỹ nơi này để hiểu thêm về những con người từ nay sẽ gắn bó với
ông. Ông nhận thấy cách bày biện ở phủ Quy Nhơn có vẻ thô kệch, quê mùa, chắc hẳn
các vị chủ nhân của nó không am hiểu gì nhiều về nghệ thuật. Sự so sánh này khiến
Nguyễn Hữu Chỉnh cảm thấy có phần chua chát. Họ là như thế nhưng hiện tại họ mạnh
hơn ông. Ông phải làm thế nào để họ tin ông, lấy đó làm chỗ dựa mà thực hiện
hoài bão của mình.
Nghĩ vậy, ông cố giữ vẻ trầm tĩnh tự tin, bước vào nơi Nguyễn
Nhạc đang ngồi. Cùng ngồi với Nguyễn Nhạc là một người đàn ông mắt sáng, tóc
quăn, dáng nhanh nhẹn. Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức đoán ra, người ấy chính là Long
Nhương tướng quân Nguyễn Huệ. Với đôi mắt sành sỏi của một người mấy đời giàu
có nhờ buôn bán, Nguyễn Hữu Chỉnh biết ngay lúc này, Nguyễn Huệ là nhân vật
đang lên của Tây Sơn.
Qua vài câu thăm hỏi xã giao, chỉ thoáng qua, Nguyễn Hữu Chỉnh
đã hiểu Nguyễn Nhạc chưa thực sự tin mình. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh liền đem mọi
chuyện diễn ra ở Bắc Hà kể tường tận với Nguyễn Nhạc. Nghe Nguyễn Hữu Chỉnh kể,
khuôn mặt của Nguyễn Nhạc như giãn ra, riêng Nguyễn Huệ không tỏ thái độ gì,
đôi mắt sáng quắc chỉ nhìn Nguyễn Hữu Chỉnh chăm chú, dường như Nguyễn Huệ đã
nhìn ra thâm tâm Nguyễn Hữu Chỉnh muốn gì. Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức cũng nhận
thấy, ông chưa thể lấy được lòng tin của Nguyễn Huệ. Nhưng ở vào hoàn cảnh của
ông lúc này, điều đó là không tránh khỏi. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh cố tỏ ra
bình thản, chậm rãi nói:
- Cũng chả giấu gì ngài, hiện tại hạ đang lâm vào tình cảnh
bi đát. Tại hạ những muốn thi thố tài năng nhưng không được chúa Trịnh dung, cực
chẳng đã phải bỏ nước mà đi. Suy tính chán, thấy Quảng Nam có thể là nơi cho tại
hạ được chốn dung thân, có thể tỏ rõ ý chí của mình nên đánh liều đưa gia quyến
vào đây.
Nguyễn Nhạc nghe Hữu Chỉnh nói xong, sự nghi ngờ đã tan biến,
cười bảo:
- Là chỗ quen biết cũ, cũng đã rõ về nhau. Người xưa bảo, hùm
thiêng có lúc cũng sa cơ, chả cần phải nói đã rõ cả. Nay đã vào đây, nếu tận
tình trung thành giúp ta, sợ gì không có ngày lại được nổi danh.
- Cảm ơn ngài đã cho nương náu. Tôi xin đem cả gia đình vợ
con ra để làm tin. Sau này mọi việc sẽ chứng tỏ cho ngài rõ, tôi hết lòng với
ngài thế nào.
Nguyễn Nhạc hể hả:
- Được một người như Nguyễn Hữu Chỉnh làm môn khách thì còn
gì bằng. Hãy yên tâm ở đây với ta.
Đêm ấy, khi chỉ một mình một bóng, Nguyễn Hữu Chỉnh ngồi bên
án suy nghĩ: “Ta năm nay đã ngoài 30, ở cái tuổi tam thập nhi lập, thế mà công
danh lại lận đận thế này. Việc phải bỏ nước mà đi đâu phải là điêu ta mong muốn.
Nhưng cái thế bắt buộc phải làm vậy. Trời mà chưa mở cửa cho ta thì đâu dễ gì
có thể thi thố tài năng? Muốn được Nguyễn Nhạc tin dùng, có lẽ phải đi tiên
phong xông pha tên đạn. Dầu sao, đây sẽ là nơi đầu tiên để thiên hạ biết đến Hữu
Chỉnh này”.
Sau đó, Hữu Chỉnh cầm bút viết mấy dòng thơ tự thuật:
Lửa thành từ thuở dẹp Nam đô
Tế tát nhiều phen trận được thua
Xanh biếc cảnh xôn người ẩn dật
Bạc đen đường rộn khách bôn xu
Suy cơ khăn khán đau lòng trí
Toan chước dần dần nát dạ ngu
Muốn tới Vị Tân mà hỏi Lã
Rằng Chu xưa cũng thế này ru?
Từ khi vào nương nhờ Nguyễn Nhạc, Hữu Chỉnh ra sức chứng tỏ
cho Nguyễn Nhạc thấy tài năng của mình. Dần dần, Nguyễn Nhạc ngày càng thêm yêu
mến Nguyễn Hữu Chỉnh. Hữu Chỉnh đã bầy nhiều mưu mẹo giúp Tây Sơn, nào bổ các
chức, nào bầy ra văn học. Có thể nói, cái khuôn mẫu chính trị của Bắc Hà đã được
đem áp dụng ở Quảng Nam. Hơn thế, Nguyễn Hữu Chỉnh còn tỏ ra là một người dũng
cảm, luôn đi tiên phong trong những trận đánh nhau với Xiêm La và Bồn Man khiến
đất đai của Tây Sơn ngày thêm mở rộng, hùng cường.
Từ khi Nguyễn Hữu Chỉnh vào Quảng Nam, chúa Trịnh lấy làm lo
ngại nên đã có lời truyền, ai gọi được Nguyễn Hữu Chỉnh về sẽ được trọng thưởng.
Biết việc này, một người em rể của Nguyễn Hữu Chỉnh tình nguyện
xin đi, nhận chỉ dụ của phủ chúa và lên đường. Người này vào Quảng Nam tìm đến
gặp Nguyễn Hữu Chỉnh. Vừa gặp lại người quen cũ, Nguyễn Hữu Chỉnh đã rõ mười
mươi lý do người này đến nên hỏi ngay:
- Chú lận đận vượt đường xa tới đây làm gì? Định làm thuyết
khách cho nhà Trịnh chắc. Chú nghĩ lại xem, ta đã từng nghe ai xui khôn xui dại
chưa mà dám cả gan như vậy?
Thấy người em rể lúng túng vì bị phủ đầu, Nguyễn Hữu Chỉnh
nghĩ: “Phải hỏi cặn kẽ xem hắn vào đây ngoài việc dụ dỗ ta còn có ý gì khác rồi
sẽ liệu bề tính sau”. Nghĩ vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh hạ giọng:
- Thôi được, từ Bắc Hà vào đây, chú biết những chuyện gì, kể
ta nghe xem? Từ khi quận Huy gặp nạn, những người trong gia đình thế nào?
Người em rể vội vàng trả lời:
- Công chúa (vợ quận Huy) bị giam vào hậu cung. Hai công tử bỏ
chạy về huyện Yên Dũng, dấy binh trả thù, sau bị Mãn trung hầu bắt sống, giải về
kinh. Triều đình bàn luận, hai công tử đáng tội chết nhưng chúa nghĩ tình anh
em con cô con cậu, ra ơn tha cho tội chết song lại bị thái phi ngầm sai người
đánh thuốc độc, công tử trưởng trúng độc chết, công tử thứ hai hiện đang bị
giam. Còn công chúa, là cô ruột của chúa nên chúa không nỡ hành hạ song bị thái
phi làm cho khổ cực đủ đường, uất giận mà chết.
Nghe xong, Nguyễn Hữu Chỉnh than:
- Hai công tử bồng bột, sao mà không hỏng việc. Còn công chúa
chết cũng phải, sống mà làm gì cho nhục...
Nguyễn Hữu Chỉnh hỏi tiếp:
- Còn việc báo ân báo oán gì nữa?
Người em rể đáp:
- Đặng Thị bị Thái phi làm tình làm tội, sau giáng làm cung tần
vào hầu hạ lăng tẩm của chúa. Đúng ngày giỗ của Thịnh Vương, đã uống thuốc độc
tự tử. Ngoài ra, chúa ban ý chỉ khoan dung với mọi người, chỉ riêng những kẻ tố
giác việc chúa có ý định phế lập (xóa bỏ ngôi chúa của Trịnh Cán) là không được
tha mà thôi.
Nguyễn Hữu Chỉnh im lặng một lát rồi hỏi tiếp:
- Thế có điềm lành điềm gở gì không?
Người em rể cứ thực tình kể, điềm lành không thấy, điềm gở
thì nhiều, nào là núi vua Hùng sụt hơn hai chục thước, nào là sông Thiên Đức cạn
hẳn một ngày một đêm, rồi tiếng quạ đêm ngày lao xao, quang quác.
Đã hiểu rõ mọi chuyện, những gì cần biết đã biết cả, Nguyễn Hữu
Chỉnh nghĩ, việc người em rể đến đây, chắc mọi tin tức đều đến tai Nguyễn Nhạc.
Biện minh với Nguyễn Nhạc là rất khó, chỉ có một cách duy nhất chứng tỏ lòng
trung với vua Tây Sơn là giết người em rể này. Đây là việc làm cực chẳng đã,
nhưng biết làm sao được? Ai bảo người em rể hám lợi, không biết tính toán, đâm
đầu vào làm cái việc thuyết khách ngu ngốc này?
Ngay sau đó, Nguyễn Hữu Chỉnh sai người nhà làm cơm thết đãi,
rồi căn vặn:
- Nói thực đi, ai sai chú vào đây?
Người em rể đáp:
- Thấy tôi với quan lớn có tình bà con nên Lân trung hầu xin
chúa giáng chỉ sai tôi vào khuyên quan lớn về triều cho khỏi mất công danh phú
quý.
- Thật ngu ngốc, còn cả cái kẻ dám sai chú đến đây dụ ta về nữa,
dám khinh nhờn ta quá lắm. Hôm nay là ngày giỗ của chú đấy, nếu oan ức thì xuống
âm phủ mà kiện đứa đã sai chú làm việc này.
Rồi hạ lệnh đem người em rể ra chém. Chuyện đến tai Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Nhạc càng thêm tin Nguyễn Hữu Chỉnh hơn.
Đã mấy năm ở với Nguyễn Nhạc nhưng lòng Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn
nhớ về cố hương. Mặc dầu được Nguyễn Nhạc hậu đãi song với một người không tầm
thường như Nguyễn Hữu Chỉnh, nếu nương náu chỉ vì no ấm thì đâu có phải ước muốn
của ông. Ông đến nương náu dưới trướng Nguyễn Nhạc một phần vì thế cùng, phần
khác, thâm tâm ông đã tính đến việc tận dụng lực lượng của Nguyễn Nhạc để thay
đổi số phận của mình. Một người có ý chí muốn vẫy vùng ngang dọc như ông luôn
có khát vọng được thi thố tài năng trong cảnh xã hội biến động đều muốn tận dụng
hoàn cảnh để thay đổi thời cuộc, giành lợi thế trên một bàn cờ mà giờ đây, hai
đối thủ tương đối ngang tài ngang sức là chúa Trịnh và anh em Tây Sơn đang đấu
trí đấu lực.
Vì thế, năm 1786, nghe tin Trấn tướng Thuận Hóa Phạm Ngô Cầu
sai Dương lĩnh bá Nguyễn Phu Như vào Quy Nhơn để điều đình với Nguyễn Nhạc về địa
giới, Nguyễn Hữu Chỉnh rất mừng. Ông liền mời Nguyễn Phu Như về nhà, thết đãi
cơm rượu, nhân tiện hỏi dò tình hình Thuận Hóa - vùng đất giờ đây đã thuộc về
chúa Trịnh.
Vốn Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Phu Như trước đã kết tâm giao
nên Nguyễn Hữu Chỉnh hỏi điều gì, Như cũng thực tình nói hết, không giấu diếm.
Qua câu chuyện của Như, Nguyễn Hữu Chỉnh biết vùng Thuận Hóa là vùng đất mới,
quân Trịnh chưa thể kiểm soát triệt để, hơn nữa, Trấn tướng vùng đất này lại
ham mê săn bắn, việc trị an có phần chểnh mảng, vì thế ông cho rằng, nếu có thể
thuyết phục Nguyễn Nhạc đưa quân đi đánh thì việc thành công gần như nắm trong
tay. Quân Tây Sơn mà giành được Thuận Hóa thì việc trở về Bắc Hà của ông sẽ trở
nên dễ dàng bởi theo như lời Nguyễn Phu Như, hai xứ Thanh Nghệ và cả bốn trấn
hiện đang đói lớn, dân chúng ca thán, lại chẳng ưa gì binh lính Trịnh nên tình
thế nắm giữ đất của quân Trịnh ở đây không thể lâu bền. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh
nghĩ, phải chớp thời cơ, hành động ngay. Chiếm được Thuận Hóa rồi, chắc chắn
ông sẽ có cơ hội trở về vùng đất quen thuộc, lúc ấy cuộc đời của ông sẽ đổi
khác.
Sau khi nghiền ngẫm hết mọi tình huống, Nguyễn Hữu Chỉnh xin
vào gặp Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc nghe nói Nguyễn Hữu Chỉnh xin vào gặp thì mừng
rỡ cho truyền ngay vào. Vốn Nguyễn Nhạc phục tài ăn nói của Nguyễn Hữu Chỉnh, lại
thêm việc Nguyễn Hữu Chỉnh mấy năm ở với Tây Sơn, đã tỏ ra rất mẫn cán, làm được
nhiều điều cho triều đình nên dần dần chiếm được lòng tin của Nguyễn Nhạc, vì
thế, việc Nguyễn Hữu Chỉnh đột ngột xin vào gặp ngay sau khi Nguyễn Phu Như xuất
hiện khiến Nguyễn Nhạc biết chắc có việc gì hệ trọng lắm.
Khi Nguyễn Hữu Chỉnh bước vào thi lễ, Nguyễn Nhạc gật đầu ra
hiệu cho Nguyễn Hữu Chỉnh ngồi gần mình và ra lệnh cho các thủ hạ ra ngoài,
không ai được vào khi hai người đang nói chuyện.
Chờ cho mọi người ra hết, Nguyễn Hữu Chỉnh khẽ nói:
- Tại hạ có việc nên xin diện kiến. Hôm trước, tại hạ đã dò hỏi
rất nhiều Dương lĩnh bá Nguyễn Phu Như và thấy đây là thời cơ quân Tây Sơn có
thể tiến công quân Trịnh. Thành Phú Xuân là chỗ đầu cùng của miền biên giới, một
nơi rất xung yếu. Vì thế, chúa Trịnh đã để ba ngàn quân đóng đồn và ba vạn quân
thay phiên canh phòng, lại cử một đại tướng, một phó tướng, một đốc thị, một
phó đốc thị trông nom công việc này. Các nơi trọng yếu từ đèo Ải Vân trở ra đều
lập đồn đóng quân, còn bổ sung thêm lính là dân địa phương nữa. Vùng này chúa
Trịnh cho khai khẩn đất đai, mở mang lưu thông hàng hóa, còn lấy việc thi cử chọn
người tài để ra làm việc cho triều đình...
Nguyễn Nhạc cau mày hỏi:
- Quân Trịnh thực lực như thế, ngươi nói với ta việc này để
làm gì?
Nguyễn Hữu Chỉnh hạ giọng:
- Nhưng đáng tiếc thực lực thì như thế song tại hạ biết rõ, Tạo
quận công Phạm Ngô Cầu, người đứng đầu xứ đó lại là một người nhu nhược, không
có khả năng ứng biến khi tình thế thay đổi. Đốc thị Nguyễn Lệnh Tân là kẻ đã nhận
rõ điều này, lại biết quân Tây Sơn đang mạnh lên, có ngày sẽ thôn tính vùng Thuận
Hóa nên đã đề đạt ý phải tấn công Tây Sơn song Phạm Ngô Cầu gạt đi. Đốc thị
Nguyễn Lệnh Tân đã làm sớ đưa về triều đình, chê trách quận Tạo nhút nhát, còn
xin bãi chức quận Tạo nhưng chúa Trịnh không những không nghe, lại còn bãi chức
kẻ nói thẳng này nữa.
Mấy năm qua, vùng đất ấy yên ổn, thái bình, vì thế chúa càng
tin Phạm Ngô Cầu. Tuy nhiên, theo như ý tại hạ, qua câu chuyện dò hỏi được từ
Nguyễn Phu Như thì việc canh gác, trị an ở trấn này đã ngày càng chểnh mảng.
Đây là lúc cần tấn công để đoạt lấy Thuận Hóa.
Vốn là người cơ mưu, Nguyễn Nhạc ngay lập tức nhận ra ý đồ
táo bạo và sự phân tích rõ ràng của Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Nhạc ngẫm nghĩ một
lúc rồi hỏi:
- Vậy ngươi có cao kiến gì không?
Nguyễn Hữu Chỉnh biết Nguyễn Nhạc đã chấp nhận ý kiến của
mình nhưng vẫn tỏ ra thận trọng, cân nhắc từng lời rồi nói:
- Tại hạ có ý thế này, trước hết phải sai một kẻ đóng giả thầy
tướng số bởi Phạm Ngô Cầu rất tin tướng số. Người này phải làm thế nào thuyết
phục được viên Trấn tướng lập đàn giải hạn, cúng bảy ngày bảy đêm liền. Như thế,
quân lính liên tục phục dịch, sẽ vô cùng mệt mỏi. Lúc đó, cần đem quân tấn công
để giành lại vùng Thuận Hóa. Theo thiển ý của tại hạ, quân của hoàng thượng đi
lần này sẽ cầm chắc thành công.
Nguyễn Nhạc gật đầu, sau đó hỏi:
- Liệu lời hắn có đáng tin không?
Nguyễn Hữu Chỉnh quả quyết:
- Nếu Thánh thượng tin thần, thì cũng có thể tin được Nguyễn
Phu Như.
Vua Tây Sơn chăm chú nhìn Nguyễn Hữu Chỉnh rồi hỏi:
- Hình như cái xứ này quê mùa không có gì quyến rũ được ông?
Ông chỉ ngong ngóng trông về Bắc. Ông muốn dựa vào ta chăng?
Nghe Nguyễn Nhạc hỏi, Nguyễn Hữu Chỉnh lo ngại nhưng khi thấy
Nguyễn Nhạc tỏ ra vui vẻ, Nguyễn Hữu Chỉnh mới cảm thấy yên tâm. Ông nói:
- Mấy năm nay được nhà vua bao dung, không biết lấy gì để đền
công ơn trời bể, đâu dám chê đây là chốn quê mùa. Chỉ có điều thù nhà nợ nước
chưa trả cứ canh cánh bên lòng khôn nguôi...
Vua Tây Sơn an ủi:
- Lòng ngươi thế nào mấy năm nay ta đã rõ. Vậy ngươi định thế
nào, đến Thuận Hóa hay Lũy Thầy? Rồi sau đó sẽ đi đâu?
Nguyễn Hữu Chỉnh thận trọng đáp:
- Muôn tâu, Bắc Hà đã xử bạc với thần, thần tự thấy đâu còn nợ
nần gì với Bắc Hà nữa. Thần chỉ mong luôn là tướng tiên phong mở đất cho Tây
Sơn. Thần vốn am hiểu Đàng Ngoài, nên xin nhà vua cho được cùng đi với đoàn
quân Tây Sơn ra Bắc. Thêm nữa, đã lâu rồi thần chưa trở về Bắc, về cố hương.
Nay nếu quân Tây Sơn ra Bắc, thu lấy cương vực, làm một việc thuận lòng trời,
thần lại được về mảnh đất của tổ tiên, thử hỏi còn mong gì hơn?
Nguyễn Nhạc cười lớn, vui vẻ bảo:
- Thực không hổ là người từng trải. Ngươi đã làm ta xiêu
lòng. Nhưng chuyện này liên quan đến sự thịnh suy của xã tắc, ta cần bàn bạc với
Long Nhương tướng quân đã.
Nhìn vẻ mặt của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh tin mười mươi
Nguyễn Nhạc đã nghe theo đề nghị của ông. Không hiểu sao, ông tin chắc chắn rằng
Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ cũng sẽ chấp nhận. Nguyễn Hữu Chỉnh mừng rỡ,
cảm thấy ông như được chắp thêm đôi cánh. Tuy nhiên, khi suy xét cẩn thận, ông
lại có ý lo ngại, không rõ Nguyễn Huệ có tin vào sự phán đoán về tình hình Bắc
Hà của ông không. Ông cần phải cân nhắc mọi điều để khi tiếp xúc với Nguyễn Huệ,
sẽ liệu lời đưa đẩy.
Ý định Bắc tiến của Nguyễn Hữu Chỉnh khiến Nguyễn Nhạc hết sức
quan tâm. Tuy nhiên, khi Nguyễn Nhạc đưa việc này ra bàn với Nguyễn Huệ, Nguyễn
Huệ không tỏ ra vồ vập, ông đang cân nhắc lợi hại xem nên hành động thế nào cho
có lợi nhất. Và ông quyết định tiếp xúc với Nguyễn Hữu Chỉnh, một phần muốn
nghe trực tiếp sự phân tích tình hình Bắc Hà của Nguyễn Hữu Chỉnh, mặt khác
nhân đó mà hiểu rõ thêm con người này. Bởi thế, khi trò chuyện với Nguyễn Hữu
Chỉnh, Nguyễn Huệ nói:
- Sau khi ông trình bày ý định tiến ra Bắc Hà, hoàng thượng
đã cho gọi tôi tới để bàn bạc. Chắc lần này, hoàng thượng sẽ đích thân cầm
quân. Có ông đi tiên phong, hẳn mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió.
Nguyễn Hữu Chỉnh ngớ người:
- Tôi những tưởng người cầm quân là Long Nhương tướng quân?
Nguyễn Huệ vặn hỏi:
- Sao lại là tôi?
Nguyễn Hữu Chỉnh lựa lời:
- Theo thiển ý của tôi thì việc này không ai có thể thay vị
trí của tướng quân bởi tướng quân là người từng trải, mưu lược, dũng cảm, kiên
quyết, hơn nữa, nội sự có mặt của tướng quân đã khiến binh lính tin tưởng và
hăng hái. Chỉ ngần ấy cũng đủ để quân Tây Sơn chiến thắng rồi. Đó là chưa kể thời
cuộc hiện đang rất có lợi cho quân Tây Sơn. Thêm nữa, còn điều này...
Thấy Nguyễn Hữu Chỉnh ngập ngừng, Nguyễn Huệ khuyến khích:
- Ông thấy có điều gì thì nên nói ra, tôi sẵn sàng nghe.
Nguyễn Hữu Chỉnh hạ giọng:
- Có điều này tôi đã nhận thấy từ lâu, không rõ nhận xét này
của tôi có chủ quan không nhưng về lâu dài, nếu tướng quân đem quân ra Bắc Hà,
sẽ có nhiều cái lợi. Thứ nhất, tài cầm quân của ngài sẽ khiến quân Tây Sơn chiến
thắng, như vậy lãnh thổ của vương triều Tây Sơn sẽ ngày một rộng mở. Thứ hai, nếu
tướng quân cứ đóng ở phía Nam, nội bộ sẽ có nhiều điều đổ vỡ lớn bởi ngài quá
tài năng. Nếu ngài nhân cơ hội này, vừa mở rộng lãnh thổ cho hoàng thượng, vừa
được quyền tự quyết ở nơi biên viễn thì có phải công tư vẹn toàn không?
Nghe Nguyễn Hữu Chỉnh phân tích thiệt hơn, Nguyễn Huệ hơi giật
mình. Quả thực, Nguyễn Hữu Chỉnh không phải nhân vật tầm thường. Ý tưởng của
ông ta về việc tiến ra Bắc Hà là muốn mượn tay Tây Sơn để trở về đất cũ, nhưng
sự phân tích của ông ta về tình hình nội bộ Tây Sơn, ông không thể xem thường.
Vì thế, Nguyễn Huệ tỏ ra đồng ý với nhận xét của Nguyễn Hữu Chỉnh.
Trước khi kết thúc cuộc nói chuyện, Nguyễn Huệ thăm dò:
- Vậy nếu tôi đem binh ra Bắc Hà, ông có theo giúp tôi không?
Nguyễn Hữu Chỉnh chân thành:
- Xưa có câu, người khôn ngoan phải chọn minh chủ mà thờ.
Nguyễn Huệ cười:
- Tôi nghe nói ông có tài thủy chiến, nay lại biết thêm một
điều, trên đất liền, ông còn thông thạo hơn.
Nguyễn Hữu Chỉnh im lặng, lòng tự nhủ, không rõ đây là lời
khen hay là Nguyễn Huệ đã nhìn nhận ông theo một hướng khác?
Theo mệnh lệnh của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, ngay sau đó,
Nguyễn Huệ đốc suất quân thủy bộ, Võ Văn Nhậm làm Tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh
làm Hữu quân đô đốc mang quân đánh Thuận Hóa.
Quân Tây Sơn đánh chiếm đồn Ải Vân. Tướng giữ đồn Quyền trung
hầu Hoàng Nghĩa Hồ chết tại trận. Phạm Ngô Cầu hốt hoảng đem quân vào thành cố
thủ.
Nghe tin quận Tạo đem quân cố thủ, Nguyễn Hữu Chỉnh bàn Nguyễn
Huệ và Võ Văn Nhậm:
- Tôi biết quận Tạo là một kẻ đa nghi, hèn nhát. Nếu dụ hàng
chưa chắc hắn đã tin, mà đem quân đánh thành này sẽ bị tổn thất nhiều bởi đây
là cái thành tương đối kiên cố. Chi bằng để tôi tìm cách ly gián Phó tướng quận
Thể và Trấn tướng quận Tạo, viết một bức thư chiêu hàng quận Thể nhưng gửi cho
quận Tạo, có thế hắn mới tin và ra hàng.
Nguyễn Huệ gật đầu đồng ý. Nguyễn Hữu Chỉnh liền lập tức lấy
giấy bút viết một bức thư, đại ý nói quận Thể và Nguyễn Hữu Chỉnh xưa đều là
thuộc hạ của quận Huy, nếu quận Thể chịu đem quân ra hàng, sẽ được Nguyễn Hữu
Chỉnh đứng ra đảm bảo cho được giàu sang, chớ nên đem quân chống lại vì quân
Tây Sơn tinh nhuệ lắm, không thể địch nổi. Viết xong thư, Hữu Chỉnh lấy sáp bọc
kín rồi sai người bí mật đưa đến dinh quận Tạo. Quận Tạo vốn đa nghi, nhận được
thư có ý nghi ngờ quận Thể, bụng muốn hàng Tây Sơn nên đã cố ý giấu bức thư đó
đi, toan tính nếu quận Thể có ý khác, sẽ liệu bề hành động.
Đoàn thuyền của quân Tây Sơn tiến đánh thành Phú Xuân. Trong
thành, Trấn tướng Phạm Ngô Cầu cho đóng chặt các cửa rồi hạ lệnh cho quân lính ở
trên thành bắn xuống. Thuyền của quân Tây Sơn bị chìm một chiếc, bộ binh phải
lui cả vào trong thuyền. Mặc dầu pháo ở thuyền của Tây Sơn bắn lên thành dồn dập
nhưng do thành cao so với mặt sông hơn hai trượng nên đạn không thể với tới mặt
thành. Tuy nhiên, theo tính toán của Nguyễn Huệ, đêm ấy thủy triều lên to, nước
tràn ngập khắp chân thành Vì thế, thuyền của Tây Sơn tiến sát được vào chân
thành, bộ binh của Tây Sơn dàn ra vây chặt cửa thành.
Phạm Ngô Cầu sai quận Thể đem quân ra ngoài đón đánh. Hết đạn,
quận Thể cho lính vào thành xin thêm nhưng quận Tạo vốn nghi ngờ quận Thể, nhất
quyết không cho, lại còn sai người đóng chặt cửa thành. Quận Thể tức giận, quyết
định đem quân quay lại đánh quận Tạo Phạm Ngô Cầu.
Đúng như phán đoán của Nguyễn Hữu Chỉnh, ngay khi quận Thể
quay đầu voi thì thế trận của quân Trịnh rối loạn. Hai con trai của quận Thể hợp
sức cùng đánh quân Tây Sơn nhưng thế cùng, định rút quân vào thành cố thủ thì
quận Tạo đã kéo cờ trắng xin hàng. Phú Xuân thất thủ. Đất Thuận Hóa trở thành
vùng đất của quân Tây Sơn.
Sau khi Thuận Hóa trở thành vùng đất của Tây Sơn, các tướng
lĩnh Tây Sơn vui vẻ họp bàn việc sửa lại địa giới La Hà. Thấy khí thế ngùn ngụt
của quân Tây Sơn như vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh ao ước có được một đội quân hùng hậu
như thế. Ông suy nghĩ cân nhắc và quyết định lựa lúc thuận lợi sẽ cố thuyết phục
Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc.
Trong thâm tâm, Nguyễn Hữu Chỉnh đã tính toán rất kỹ các bước
đi cần thiết để có thể trở về Bắc Hà trong tư thế của một người chiến thắng. Biết
đâu, sau này ông lại chẳng có trong tay một đội quân hùng mạnh như đội quân Tây
Sơn và sẽ giành được lợi thế trong hoàn cảnh loạn lạc này. Ông tin vào sự suy
tính khôn ngoan của mình, chỉ hiềm một nỗi, trời chưa cho ông có cơ hội tung
hoành ngang dọc để tỏ chí nam nhi. Trong hoàn cảnh hiện thời, chỉ có thể dựa
vào lực lượng của Tây Sơn mới có thể thực hiện được ý đồ sâu xa ấy. Vì thế, sau
khi cân nhắc kỹ, Nguyễn Hữu Chỉnh quyết định vào gặp Nguyễn Huệ.
Nhìn thấy Nguyễn Hữu Chỉnh bước vào, Nguyễn Huệ tươi cười:
- Hữu quân đô đốc, ngài đến có việc gì vậy? Ta đã sai người
làm tờ lộ bố cáo tin thắng trận cho anh ta. Ngài xem thử có được không?
Nguyễn Hữu Chỉnh đọc tờ lộ bố, cảm thấy rất khâm phục Nguyễn
Huệ. Con người này không chỉ giỏi về võ công mà còn rất tài trí, uyên thâm và
quyền biến. Quả thực, quân Tây Sơn có một chủ tướng như thế này, chắc chắn thực
lực sẽ ngày càng mạnh. Ông mơ hồ cảm thấy, có thể Nguyễn Huệ sẽ là đối thủ của
ông trong tương lai. Lúc này, ông chi có vũ khí duy nhất là sự phán đoán chính
xác thời cuộc. Và ông hiểu, Nguyễn Huệ tuy không nói ra nhưng có lẽ cũng cảm nhận
được ông là một người đầy mưu lược, đặc biệt qua sự phân tích nhạy bén và đánh
giá chính xác thực lực của quân Trịnh ở Thuận Hóa, giúp quân Tây Sơn chiếm được
vùng đất này. Vì thế, thái độ của Nguyễn Huệ đối với Hữu Chỉnh có vẻ vị nể đôi
phần.
Thấy Hữu Chỉnh có vẻ suy tư khi đọc tờ lộ bố, Nguyễn Huệ hỏi,
có ý thăm dò:
- Không rõ ý Hữu quân đô đốc thế nào, hình như ngài có điều
gì cần nói?
- Ô, không, đọc lộ bố, tôi chợt nảy ra một ý này, không biết
có nên nói lúc này không?
Nguyễn Huệ cảm thấy điều mà Nguyễn Hữu Chỉnh sắp nói rất quan
trọng nên đưa mắt nhìn, lập tức các thuộc hạ đều cáo từ, bước ra ngoài để hai
người nói chuyện. Nguyễn Huệ tươi cười:
- Ngài có cao kiến gì, xin cứ nói.
Nguyễn Hữu Chỉnh im lặng giây lát rồi cất giọng:
- Tôi có ý thế này, tướng quân đánh một trận đã lấy được Thuận
Hóa, mà trong phép dùng binh, ngài đang nắm trong tay ba điều cốt yếu, đó
là thời, thế và cơ, có ba điều ấy thì đánh đâu thắng đó. Uy
danh của ngài sau trận Thuận Hóa đang lừng lẫy, chi bằng thừa thắng mà đánh lấy
Bắc Hà, chắc chắn ngài sẽ thành công, bởi ở Bắc Hà, tướng lười, binh kiêu, triều
đình không có kỷ cương gì cả. Cổ nhân đã dạy, chiếm nước yếu, đánh nước ngu, lấy
nước loạn, lấn nước suy vong, đây là lúc không nên bỏ lỡ thời cơ.
Nguyễn Huệ suy nghĩ một lát, lắc đầu bảo:
- Không dễ gì, Bắc Hà là nước lớn, nhiều người tài, ta coi
thường sao được.
Nguyễn Hữu Chỉnh cao giọng:
- Nhân tài Bắc Hà, ngoài tôi ra, không còn ai khác. Việc đời,
thành bại nhiều khi do quả quyết hay do dự, tướng quân đừng ngại.
Nghe câu trả lời có vẻ tự đắc của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ
cười, nửa đùa nửa thật:
- Bắc Hà tôi chẳng ngại ai hết, chỉ ngại mình ông thôi.
Nguyễn Hữu Chỉnh tái mặt, có vẻ ngượng, nói chữa:
- Tôi tự biết mình bất tài. Tôi nói như vậy chỉ muốn để cho
tướng quân biết, hiện thời ở Bắc Hà không có nhân tài nào cả mà thôi.
Nguyễn Huệ nhận biết Nguyễn Hữu Chỉnh không phải kẻ tầm thường,
trong lòng có ý nể phục, lại thấy câu nói vừa rồi của mình có vẻ hơi ác ý, vội
an ủi:
- Tôi nói đùa vậy thôi, ngài đừng để bụng. Tuy nhiên, Bắc Hà
là nước mấy trăm năm, các vua Lê nối nhau làm vua, rất được lòng dân chúng.
Nhân tình cố kết như vậy, chắc gì đã đánh được? Hơn thế, một nước như thế, bỗng
dưng ta mang quân ra cướp lấy, thử hỏi có mang tiếng trong thiên hạ không? Người
ta sẽ gọi đạo quân của ta là đạo quân gì?
Hữu Chỉnh đáp:
- Về điều này lại chẳng đáng ngại. Bắc Hà vừa có vua vừa có
chúa, đó là việc trái đạo chưa từng thấy bao giờ. Ai cũng biết, chúa Trịnh mang
tiếng phò vua Lê nhưng thực chất là chèn ép thiên tử. Nếu tướng quân lấy danh
nghĩa phò Lê diệt Trịnh mà kéo quân ra, thử hỏi còn gì hơn, thiên hạ chắc sẽ hưởng
ứng, có gì mà không thành công?
Nguyễn Huệ nhận ra ngay ý đồ chiến lược sâu sắc của Nguyễn Hữu
Chỉnh, ý đồ của Nguyễn Hữu Chỉnh rất hợp ý ông. Vốn là người quyết đoán, thông
minh, Nguyễn Huệ nhận thấy đây là thời cơ có một không hai để Tây Sơn mở rộng
vùng đất, phát huy thanh thế. Tuy nhiên, Nguyễn Huệ nhận thấy cần cân nhắc kỹ
càng hơn. Vì thế ông im lặng suy nghĩ cân nhắc rồi đột ngột hỏi:
- Ý ngài ta cho là rất hay. Nhưng ta chỉ phụng mệnh cầm quân
đánh Thuận Hóa, sao dám tự tiện đem quân ra Bắc Hà?
Nguyễn Hữu Chính khẳng định:
- Cổ nhân có câu, tướng ở ngoài, tiền trảm hậu tấu, có thể tự
ý hành động, đâu phải chờ ý chỉ của vua. Hơn thế, nếu tướng quân thắng trận, ắt
có công to. Xin tướng quân hãy cân nhắc.
Lời bàn của Nguyễn Hữu Chỉnh rất hợp với suy nghĩ mang tính
chiến lược của Nguyễn Huệ, vì thế Nguyễn Huệ lập tức cho gọi các tướng vào và
ra mệnh lệnh. Đồng thời, Nguyễn Hữu Chỉnh được giao nhiệm vụ viết một bức thư
cho vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc, nhằm giải quyết mọi mắc mớ tế nhị trước khi xuất
binh ra Bắc Hà. Bức thư đại ý:
“Lũ thần vâng theo mưu mô của miếu đường, lại kính nhờ về oai
trời thiêng liêng, Thuận Hóa đã dẹp yên, thiên hạ đều rung động. Nay ở Bắc Hà
quân kiêu tướng lười, thế có thể lấy được. Thần cúi xin mạn phép tùy tiện, đã ủy
cho Hữu quân Nguyễn Hữu Chỉnh đem tiền bộ thủy binh đi trước, thẳng tới Sơn
Nam. Riêng thần hiện đang chiêu mộ nhân dân các vùng ven biển, chọn lấy đinh
tráng để tăng thêm thế lực cho quân ta. Hẹn trong ít ngày sẽ dẹp yên xứ Bắc Hà.
Còn quan ải, thành quách xứ Thuận Hóa hiện đã giao cho Đông định công Nguyễn Lữ
coi giữ, xin bề trên ban chiếu chỉ để thần tuân theo”.
Trước khi bức thư được gửi đi, Nguyễn Hữu Chỉnh đã đưa cho
Nguyễn Huệ xem. Đọc xong thư, Nguyễn Huệ cảm thấy khâm phục Nguyễn Hữu Chỉnh,
ông ta quả là người khôn ngoan, biết cách lựa lời. Nguyễn Huệ gật đầu bảo:
- Hữu tướng quân thực là người tài, đã giải quyết cho tôi mối
lo canh cánh về việc phải tâu trình lên hoàng thượng thế nào cho phải đạo.
Nguyễn Hữu Chỉnh nhũn nhặn:
- Tướng quân quá khen, đây cũng là công việc tôi phải làm.
Theo sự sắp đặt của Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ đem một đội
thủy quân đi trước, đánh kho lương ở Vị Hoàng còn Nguyễn Huệ cùng các tướng sẽ
cấp tốc theo sau.
Là một người đầy mưu lược, Nguyễn Hữu Chỉnh liền phân quân
làm mấy toán, mỗi toán khoảng vài trăm người, chia nhau đi đánh các đồn để phô
trương thanh thế, đồng thời ông theo sự ủy thác của Nguyễn Huệ, thay mặt quân
Tây Sơn viết lời hịch đánh Trịnh để lôi kéo những người vốn nuôi chí phục thù
cho nhà Lê. Bài hịch đánh Trịnh có đoạn:
Sinh dân phải nuôi dân làm trước, vậy hoàng thiên dựng đất
quân sư,
Gặp loạn đành dẹp loạn mới xong, ấy vương giả có phen binh
cách,
Hội thuận ứng thế đừng được chửa
Việc chinh tru lòng há muốn ru
Ta đây: Bẩm khí trời Nam
Vốn dòng họ Nguyễn
Nhờ lộc nước phải lo việc nước, đòi phen Trương tử giả ơn Hàn
Ăn cơm vua nên nhớ nghĩa vua, chi để Tào man nhòm vạc Hán
Giận quốc phó ra lòng bội thượng
Nên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương
Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp
nghé
Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kéo cùng nhân sa chốn lầm than
Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân
Ắt đấu cũ lại cơ đồ Hoa Hạ
Nào biết ngôi trời có bảy, giặc họ Trương toan biến phiếm mười
phần
Bỗng xui thế nước tranh ba, tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước
Thế bạng duật đương còn đối mặt
Thói kình lang sao khéo lắng tai
Ngoài mượn lời cứu viện làm danh, dân kinh loạn cử binh điếu
phạt
Trong mấy chữ thừa nguy để dạ, chốn thừa bình nên nỗi lưu ly
Cung đền thành quách phá lâng lâng
Súng ống thuyền bề thu thảy thảy
Cơn gấp khúc chẳng thương dòng ngoại tộc, đã cùng đường đuổi
thú thời thôi
Dấu cưỡi rồng còn nhớ đấng tiên quân, lại khoét lỗ bừa sâu
sao nỡ
So chữ bạo lửa nồng quá Hạng
Dò lòng người nước chảy về Lưu
Chúng cùng đường cờ nghĩa đem về đầu, nên quân số mỗi ngày một
thịnh
Dân cơ cận cảm lòng nhân ngóng cổ, khiến binh uy càng thấm
càng thêm
Quảng Nam đà quét sạch bụi trần
Thuận Hóa lại đem về bờ cõi
Nam một dải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần
Bắc mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao
tiện
Cảm công đức vua Lê dám phụ
Lộng quyền hành họ Trịnh khó nghe.
Hịch đánh Trịnh được ban bố, ngay sau đó tướng giữ Thanh Hoa
bỏ thành mà chạy. Nguyễn Hữu Chỉnh chiếm được kho lương Vị Hoàng, liền đốt lửa
làm hiệu như đã định sẵn. Nguyễn Huệ thấy hiệu lửa liền dẫn hơn một ngàn chiếc
thuyền giong buồm đi ra.
Trong phủ chúa Trịnh, tin tức liên tục đưa về cấp cáo: quân
Tây Sơn chiếm kho lương Vị Hoàng, chiếm trấn Thanh Hoa, sau đó là trấn Nghệ An.
Chúa Trịnh hốt hoảng phái Trịnh Tự Quyền phối hợp với Đinh Tích Nhưỡng đem 27
cơ lính giữ vùng Sơn Nam, Hải Dương. Kết quả, quân triều đình thất bại. Tin dữ
đưa về kinh, các quan trong triều vô cùng hốt hoảng, không lo chống giữ mà chỉ
nghĩ tới việc thu xếp của cải và đưa gia đình đi lánh nạn, vì thế mọi việc càng
ngày càng không thể kiểm soát nổi. Chúa tức giận, bãi chức tể tướng của Bùi Huy
Bích rồi cho người triệu Trần Công Xán vào bàn bạc. Trần Công Xán tâu:
- Khải chúa thượng, kinh sư là gốc của thiên hạ, chúa không
thể rời bỏ nơi này. Phải dử cho quân Tây Sơn tới gần để đánh một trận quyết chiến.
Xin chúa hãy triệu quận Thạc đang đóng ở trấn Sơn Tây về rồi đóng binh ở hồ Vạn
Xuân để chặn giặc.
Theo lời bàn của Trần Công Xán, chúa cho truyền ý chỉ tới quận
Thạc và cảm thấy yên tâm hơn. Nhưng chúa không mừng được lâu trước thế tiến
công áp đảo của quân Tây Sơn. Kết cục, quận Thạc không dám giao tranh với quân
Tây Sơn, cùng hai người con bỏ chạy tháo thân.
Chúa đành ra ngự trên lầu Ngũ Long bày trận rồi tư thân đốc
thúc quân lính phản công nhưng không thể thắng nổi sức tiến công như vũ bão của
quân Tây Sơn. Kết cục, chúa đành bỏ trốn theo cửa ô Yên Hoa.
Quân Tây Sơn vào thành, Nguyễn Huệ vào phủ chúa nghỉ ngơi và
ban lệnh cấm binh lính cướp bóc của dân. Mệnh lệnh được ban ra, kinh thành dần
dần trở nên ổn định hơn.
Nghe tin chúa Trịnh phải bỏ phủ chạy trốn, Đỗ Thế Long, một
người quen cũ của Hữu Chỉnh tới thăm ông và nói:
- Ngài đưa quân Tây Sơn ra Bắc Hà, thiên hạ nói đấy là một việc
làm tàn hại.
Nghe Đỗ Thế Long nói vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh tái mặt, cố ghìm
cơn tức giận hỏi:
- Ông nói vậy là nghĩa thế nào?
Long đáp:
- Quả thật, mới nhìn bên ngoài, ngài giúp quân Tây Sơn, đưa
ra cái chiêu phù Lê diệt Trịnh, đuổi chúa ra khỏi phủ, khiến nhà vua được trở về
chính ngôi thiên tử, có vẻ như một việc làm nhân nghĩa nhưng thực chất, tôi là
người hiểu rõ ngài hơn ai hết, chẳng qua là ngài muốn dựa vào Tây Sơn để có cái
thế nghiêng non, lấp biển. Nhưng thử hỏi, có thực nhà chúa chỉ hiếp chế vua
không? Cái công tôn phò của nhà chúa hai trăm năm trời, chẳng lẽ ngài không rõ
hay sao?
Nguyễn Hữu Chỉnh gằn giọng:
- Tôi làm cái việc tôn phò thiên tử, cốt để chống đỡ cho nền
cương thường, đấy là việc làm nhân nghĩa mà ông lại cho rằng đó là tàn hại hay
sao?
Thế Long cười mai mỉa:
- Nhà vua vốn đã tôn quý rồi, cần gì ngài tôn phò? Chẳng qua
vì chuyện liên quan đến quận Huy khi trước mà ngài theo Tây Sơn để trả thù
thôi. Sao ngài không nghĩ đến chức tước, phong hầu trước đây ngài đã được hưởng
từ nhà chúa? Hơn thế, Bắc Hà như cái âu lành lặn, bỗng dưng ngài đưa quân Tây
Sơn đến, thế chẳng phải thiên hạ nói không ngoa, ngài giống như cáo mượn oai
hùm, hệt như beo như sói, phá hoại Bắc Hà hay sao?
Nguyễn Hữu Chỉnh cố nén giận hỏi:
- Vậy ông khuyên tôi nên làm thế nào?
Long không hiểu rõ thâm ý của Nguyễn Hữu Chỉnh, vội đáp:
- Ngài có ý định mượn quân trả thù, mọi việc đã thỏa. Nay
ngài nên nghĩ lại, khéo tìm cách điều đình để quân Tây Sơn rút về, thế chẳng
hay ư? Rồi ngài tìm một người trong tông thất nhà Trịnh, lập lên ngôi chúa, như
thế cái công tôn phù mới là không sao kể xiết.
Nguyễn Hữu Chỉnh đáp:
- Tôi đã rõ hết ý của ông, ông về đi.
Sau khi Thế Long đi khỏi, Nguyễn Hữu Chỉnh bực bội suy nghĩ,
hắn là cái thá gì mà dám khinh nhờn ta, lại còn già mồm nói ta như beo như sói.
Thử nghĩ lại xem, ai là người nâng đỡ đám kiêu binh, gây nên loạn lạc ở kinh
thành? Ai đời, cái đám lính Thanh Nghệ ấy dám làm loạn mà triều đình không dám
ra tay trừng phạt? Ta đưa quân Tây Sơn ra Bắc, bên cạnh cái riêng cũng có cái
chung là chính ngôi thiên tử, ổn định tình hình Bắc Hà, há chẳng hay ư? Sao dám
ví ta như hùm như sói? Đã thế, kẻ này không nên để cho sống mà có ngày ta sẽ
mang họa vào thân.
Tuy nhiên, lời hắn nói không hẳn không có chỗ có lý. Giờ muốn
bịt miệng thiên hạ, chỉ có cách gắn kết chủ tướng Tây Sơn với triều đình. Những
kẻ chinh chiến xa nhà đều muốn có một nơi yên ổn để làm chỗ dựa. Hoàng thượng
có nhiều công chúa, chi bằng phải xin hoàng thượng gả một công chúa cho Nguyễn
Huệ, như thế mối quan hệ giữa quân Tây Sơn với triều đình sẽ mật thiết mà ta
cũng có cái thế với thiên hạ là tôn phò nhà Lê và có thể tung hoành giữa cái xã
hội điên đảo này. Chẳng gì thì Nguyễn Huệ cũng là người trí cao, ông ta đã ra mắt
nhà vua và tỏ thái độ rất đúng mực. Ông ta biết rất rõ sau này vua Lê sẽ chỉ là
bù nhìn nhưng trước mắt, cần phải tỏ ra thần phục nhà Lê. Như thế, việc mở mang
đất đai của nhà Tây Sơn sẽ hợp pháp chỉ một sớm một chiều. Còn ta, ông ta biết
ta đang dựa vào ông ta để có thể trụ lại ở Bắc Hà. Hai bên dựa vào nhau để sống,
thế chẳng hơn ư?
Nghĩ sao làm vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh sai người chặn bắt Đỗ Thế
Long rồi đem dìm xuống sông Nhĩ Hà. Tiếp đó, Nguyễn Hữu Chỉnh đến gặp Nguyễn Huệ
để cùng vào cung ra mắt hoàng thượng. Cách cư xử của Nguyễn Huệ khi vào ra mắt
vua Lê khiến Nguyễn Hữu Chỉnh vô cùng khâm phục.
Ngay khi vừa vào cung, Nguyễn Huệ đã tỏ ra khôn khéo, chờ nhà
vua dụ hai ba lần mới ngồi ghé vào sập ngự mặc dầu ông tới đây với tư cách một
người chiến thắng. Khi hoàng thượng nói: “Quả nhân có nước mà không được tham dự,
khoanh tay rủ áo đã hơn bốn mươi năm. Đa tạ ông có lòng quá hậu đối với quả
nhân, vất vả trèo đèo lội suối đến đây, không có gì để biếu tặng cả”. Nguyễn Huệ
đáp: “Thần vì nghĩ tôn phò mà đến, đâu dám kể công lao. Hơn thế, việc thần đem
quân ra đây là mệnh trời muốn bệ hạ thống nhất bờ cõi. Xin bệ hạ sắp đặt giường
mối, đưa thiên hạ trở về cảnh thái bình, ấy là thần được ban tặng nhiều lắm”.
Rồi quay sang Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ nói:
- Thần ra đây được phần lớn là nhờ vào công giúp đỡ của ông
đây.
Hoàng thượng gật đầu:
- Quả nhân đã rõ tấm lòng trung của ông ấy.
Sau buổi diện kiến nhà vua, Nguyễn Hữu Chỉnh hiểu rõ hơn bao
giờ hết số phận của mình gắn rất chặt với quân Tây Sơn. Nhờ sự thuyết phục của
ông, sự quyết đoán của Nguyễn Huệ và sức mạnh của quân Tây Sơn, ông mới có cơ hội
trở thành người quan trọng trong triều đình nhà Lê sau này.
Về phần Nguyễn Huệ, chủ tướng Tây Sơn cũng hiểu phải dựa vào
Nguyễn Hữu Chỉnh để giao thiệp với các quan trong triều tại một nơi hoàn toàn
xa lạ. Vì thế, mọi việc Nguyễn Huệ đều nghe theo Nguyễn Hữu Chỉnh. Vì thế, khi
Nguyễn Hữu Chỉnh bàn: Danh phải đi đôi với thực, chủ tướng nên tỏ rõ cho thiên
hạ biết, nên chọn ngày lành, cử hành lễ chầu yết để tỏ rõ việc làm của chủ tướng
là quang minh chính đại thì lời bàn này được Nguyễn Huệ xem là rất xác đáng. Vì
thế, Nguyễn Huệ đã chọn ngày chính thức ra mắt nhà vua với sự tham dự của tất cả
quan lại trong triều. Sau đó nhà vua chính thức phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyên
soái phù chính dực vũ Uy quốc công.
Sau khi Nguyễn Huệ nhận chức phong, Nguyễn Hữu Chỉnh còn tiến
thêm một bước xa hơn là đứng ra làm mai mối cho Nguyễn Huệ kết duyên với Ngọc
Hân công chúa Theo toan tính của Nguyễn Hữu Chỉnh, mối nhân duyên này sẽ là một
sự liên kết chính trị vững chắc giữa triều đình nhà Lê với quân Tây Sơn. Điều
đó cũng có nghĩa là, vị thế của Nguyễn Hữu Chỉnh, cầu nối cho mối quan hệ này sẽ
vững bền hơn. Tuy nhiên, các toan tính của ông sau này đã được thực tế chứng
minh là không hoàn toàn như vậy.
Tuy nhiên, khách quan mà nói, tất cả những việc làm này của
Nguyễn Hữu Chỉnh đã phần nào giúp Nguyễn Huệ có một thế đứng ổn định trong triều
đình nhà Lê và chính thức hợp pháp hóa cuộc tiến công của ông ra Bắc Hà. Có thể
nói, Nguyễn Huệ là người có công mở đầu cho sự thống nhất Bắc Nam, trong đó có
một phần đóng góp công sức của Nguyễn Hữu Chỉnh.
Nguyễn Nhạc tức tốc đem quân ra Bắc khi nhận được thư của
Nguyễn Huệ báo tin đã vào được kinh đô. Bức thư của Nguyễn Huệ đại ý, nhà Trịnh
bị diệt, thiên hạ thu về một mối, nên thể theo lòng mong muốn của bàn dân thiên
hạ, Nguyễn Huệ đã phò lập nhà Lê cho dân chúng yên lòng. Hiện ở Bắc Hà đã tạm
yên nhưng Nguyễn Huệ vẫn phái đóng quân tại đây để xếp đặt mọi việc và vỗ yên
dân chúng.
Đọc xong thư, lại nghe theo lời bàn của mấy thuộc hạ thân
tín, Nguyễn Nhạc cảm thấy lo ngại, sợ người em nắm giữ một đội quân lớn, dễ
sinh lòng kêu căng, tự ý chuyên quyền, hơn nữa dưới trướng của Nguyễn Huệ còn
có Nguyễn Hữu Chỉnh, một kẻ cơ mưu, dễ phát sinh những chuyện không hay nên lập
tức lên đường ra Bắc.
Nghe tin Nguyễn Nhạc đến kinh đô, Nguyễn Huệ ra tận ngoại ô
đón, nhân thể tạ tội tự chuyên của mình nhưng Nguyễn Nhạc lại tỏ ra độ lượng,
khen Nguyễn Huệ biết dùng binh rồi hai anh em sóng ngựa vào thành. Một thời
gian sau, Nguyễn Nhạc họp với các tướng bàn việc rút về Nam. Các tướng đều được
tham dự chỉ trừ Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyên nhân của việc giấu kín chuyện này với
Nguyễn Hữu Chỉnh bởi anh em Tây Sơn đã nghe lời bàn của Võ Văn Nhậm. Võ Văn Nhậm
đã có những nhận xét về con người Nguyễn Hữu Chỉnh, cho Nguyễn Hữu Chỉnh là người
cơ trí, giảo hoạt, biết lời dụng sức mạnh của đội quân Tây Sơn cho mục đích trở
về Bắc Hà của mình, là con người không đáng tin, sau này sẽ liên kết với những
người ở Bắc Hà gây nguy hiểm cho nhà Tây Sơn, vì thế phải tìm cách triệt đi để
trừ mối họa về sau.
Võ Văn Nhậm đã nói với Nguyễn Huệ:
- Chỉnh là một kẻ bầy tôi đi trốn, mượn sức của Tây Sơn để trả
thù. Quân Tây Sơn rong ruổi vạn dặm đưa Chỉnh về nước, vẽ mày vẽ mặt cho. Thế
mà khi đạt được ý đồ đã có ý lôi kéo những người trong nước. Nếu không tại sao
trong thiên hạ lại lưu truyền câu: “Hổ tự Tây Sơn xuất, long tòng Đông Hải
lai”, tức là hổ lìa khỏi núi thì thất thế, rồng ra khỏi biển vẫn vẫy vùng, ý
câu này chỉ chủ tướng chỉ là hổ, còn hắn là rồng. Thế có khác gì cho thấy Chỉnh
có chí ngang tàng, không muốn để Tây Sơn dùng sao? Tây Sơn có mấy vạn người ở
đây để giúp Chính gây thanh thế là một việc làm khờ dại. Chi bằng bỏ Chỉnh mà về,
Chỉnh sẽ chết bởi người ở Bắc Hà vốn cho là Chỉnh cõng rắn cắn gà nhà, như thế
một mũi tên mà trúng hai đích, vừa tiêu diệt được con người trí trá, giảo hoạt
này, vừa dễ lấy Bắc Hà sau này hơn.
Nguyễn Huệ nghe lời bàn của Võ Văn Nhậm, thấy cũng hợp lý nên
từ đó trong lòng tỏ ra ngờ vực. Về phía Nguyễn Hữu Chỉnh, vốn là một người nhạy
cảm, thấy thái độ của Nguyễn Huệ có ý khác, thêm nữa quân Tây Sơn bỗng nhiên tỏ
ý coi thường ông nên Nguyễn Hữu Chỉnh biết sắp tới ông sẽ gặp nhiều khó khăn,
tuy nhiên có một điều ông không lường được, đó là quân Tây Sơn đột ngột bí mật
bỏ Bắc Hà rút về Nam.
Lại nói, khi nghe tin Nguyễn Nhạc ra Bắc, Nguyễn Hữu Chỉnh
không lấy đó làm ngạc nhiên. Mối quan hệ bằng mặt nhưng không bằng lòng của hai
anh em Tây Sơn mà Nguyễn Hữu Chỉnh nhận thấy từ lâu nay đã được xác nhận. Vì thế,
ông tính toán rằng, chẳng bao lâu nữa, Nguyễn Nhạc vì nghi ngờ Nguyễn Huệ sẽ buộc
Nguyễn Huệ đem quân về Nam để dễ bề chế ngự. Như vậy, ông không thể trụ lại ở
kinh đô nên chỉ còn cách duy nhất là chiếm cứ một vùng đất riêng, sau đó sẽ tùy
cơ hành động. Nhưng về đâu được? Và ông đã nghĩ tới đất Nghệ An. Nghệ An vốn là
vùng xa kinh đô, triều đình khó với tay tới, hơn nữa nếu trấn ở vùng đất này có
thể từ đó làm bàn đạp để tiến ra Bắc Hà hoặc vào Nam Hà. Hơn thế, đây là vùng đất
phên giậu của triều đình, các quan chả mấy ai muốn về trị nhậm ở đây, vì thế việc
xin với hoàng thượng về Nghệ An đỡ bị mọi người nhòm ngó, và không để lộ ý đồ
sâu xa khi thời cơ đến.
Cân nhắc suy tính mãi, Nguyễn Hữu Chỉnh mới xin vào cung kiến
giá. Nguyễn Hữu Chỉnh lựa lời:
- Thần có một việc muốn tâu bày với hoàng thượng. Hiện nay ở
Bắc Hà, nhìn bên ngoài mọi việc có vẻ tạm yên nhưng thần nghe nói, vua Tây Sơn
đang trên đường ra kinh đô. Chắc chắn vua Tây Sơn có ý nghi kỵ Nguyễn Huệ tự
chuyên, có thể ngày một ngày hai nắm lấy Bắc Hà nên sớm hay muộn cũng buộc Nguyễn
Huệ phải quay về Nam để dễ bề kiểm soát. Việc thần đem hắn ra đây là nhằm tôn
phù nhà Lê, thế là đã hoàn tất. Từ đây, thần sẽ không theo hắn nữa, sẽ chỉ một
lòng trung với bệ hạ. Trấn Nghệ An là phên giậu của triều đình sát bên cạnh giống
sài lang. Vậy nên thần xin bệ hạ cho thần vào đấy trấn thủ, một mặt Nam Hà thần
xin đảm đương.
Hoàng thượng nghe Nguyễn Hữu Chỉnh nói xong liền bảo:
- Được, khanh hãy lui ra để trẫm suy tính xem nên làm thế nào
đã.
Nguyễn Hữu Chỉnh liền lạy tạ rồi lui ra. Về phủ, ông đi đi lại
lại trong thư phòng, linh cảm thấy cần phải gấp rút hành động. Ông suy nghĩ cân
nhắc hết mọi tình huống, lòng cảm thấy nặng trĩu ưu phiền. Ông là người giỏi
toan tính nhưng cơ trời khó lường. Dầu sao chăng nữa, ông vẫn cố tin rằng rồi
thời thế sẽ thay đổi, và vận hội sẽ đến với ông.
Nguyễn Nhạc cho vời Nguyễn Hữu Chỉnh vào chầu, rồi giữ ông lại
trò chuyện suốt ngày. Nguyễn Nhạc tỏ ý muốn có một người vợ Bắc Hà thông minh,
đoan trang, kiều diễm như công chúa Ngọc Hân khiến Nguyễn Hữu Chỉnh cảm thấy an
lòng. Chắc chắn phỏng đoán của ông về vua Tây Sơn sẽ trở về Nam là điều sắp xảy
ra nhưng chưa thực hiện vào lúc này. Ông đâu có ngờ, mọi sự đã được sắp đặt hết
và việc vua Tây Sơn giữ ông bên mình là nhằm bịt mắt ông để ra khỏi Bắc Hà một
cách nhanh chóng.
Trước đó, đêm nào bên trại của quân Tây Sơn cũng nổi chiêng
trống vang trời, nhưng đến đầu canh hai thì chỉ cầm canh thưa thớt, đến canh ba
thì lặng ngắt như tờ khiến dân chúng tưởng quân Tây Sơn đã rút hết, tuy nhiên đến
sáng hôm sau, bên trại Tây Sơn, mọi việc lại diễn ra bình thường. Dần dần việc
đó không được ai để ý nữa. Vì thế, khi quân Tây Sơn bí mật rời khỏi kinh thành,
Nguyễn Hữu Chỉnh mới không hay biết gì.
Thực tế Nguyễn Nhạc đã bí mật hạ lệnh cho tất cả quân thủy bộ
sửa soạn hành trang và sẵn sàng xuất phát. Sợ Nguyễn Hữu Chỉnh ở ngoài thấy rõ
tình hình thì sinh nghi nên mới có việc nhà vua giữ Nguyễn Hữu Chỉnh lại trò
chuyện từ sáng đến tối; vì thế mọi việc diễn ra ở bên ngoài thế nào, Nguyễn Hữu
Chỉnh không hề hay biết.
Đến khuya, nhà vua mới cho phép Nguyễn Hữu Chỉnh ra khỏi
cung. Nguyễn Hữu Chỉnh vừa về đến nhà, đã có thám báo đến báo tin quân Tây Sơn
đã rời khỏi kinh thành. Tin này khiến ông thật sự sửng sốt, nửa tin nửa ngờ. Lập
tức ông cho xác nhận ngay. Quả thực vào đầu canh năm, quân Tây Sơn đã bí mật
rút đi. Đáng ngạc nhiên nhất là hàng trăm lâu thuyền đỗ san sát ở bến sông mà
giờ vắng ngắt, không biết đi đâu.
Tin này đưa về khiến Nguyễn Hữu Chỉnh cực kỳ hoang mang, lòng
rối như tơ vò. Ông là người dự đoán được nhiều chuyện, đã tính hết mọi nước cờ
thế mà vẫn bị rơi vào tình cảnh bi đát này. Hoàn cảnh của ông đúng là đi thì
cũng dở mà ở thì không xong. Muốn nương thân nhưng không biết nương thân nơi
nào, muốn trốn cũng không có chỗ trốn. Ngay cả việc ông đã lường trước, mật tâu
với hoàng thượng xin vào trấn đất Nghệ An cũng đã chậm một bước. Ông không thể
hiểu nổi tại sao mọi việc lại diễn biến nhanh đến thế. Tuy nhiên thấy người nhà
sợ hãi, ông vẫn cố gượng cười khôi hài để mọi người vững dạ:
- Đi cùng bốn biển chín châu, trở về xó bếp chuột chù gặm
chân. Không sợ, ta cứ ở đây xem đứa nào làm gì được ta.
Tuy miệng nói cứng như vậy nhưng trong đầu Nguyễn Hữu Chỉnh
đã tính toán rất nhanh, phải tìm thuyền buôn ở bến Cơ Xá ngay. Sau đó, ông cùng
các thuộc hạ và gia nhân giong buồm chạy khỏi kinh đô.
Một tuần sau, thuyền của Nguyễn Hữu Chỉnh chạy vào cửa biển Hội
Thống, đúng lúc đám quân bộ của Tây Sơn cũng vừa tới nơi. Biết Nguyễn Huệ không
dung mình nhưng do thời thế bắt buộc, Nguyễn Hữu Chỉnh cho rằng ông không có
con đường nào khác, vẫn phải liên kết với quân Tây Sơn dù ông biết, trên bàn cờ
thời cuộc, lúc này ông chỉ là một con cờ chẳng mấy quan trọng nữa. Tuy nhiên ý
chí bền bỉ và nhẫn nại đã khiến Nguyễn Hữu Chỉnh đi đến quyết định, xin vào gặp
Nguyễn Huệ để nối lại sự liên kết mong manh vốn đã đứt đoạn bởi ông nghĩ trong
tình huống này, nếu ông không nhẫn nại cúi đầu thì sẽ không bao giờ có cơ hội đảo
ngược thế cờ nữa. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh vào gặp Nguyễn Huệ, xin theo Nguyễn Huệ
vào Nam, Nguyễn Huệ an ủi ông rồi bảo:
- Bắc Hà, quận Thạc, quận Liễn chưa trừ xong, phi ông không
ai trị nổi, ông hãy tạm ở đây đã.
Nói xong, Nguyễn Huệ truyền lệnh cấp cho Nguyễn Hữu Chỉnh các
thứ súng ống, khí giới thu được ở Bắc Hà, còn cho ông một trăm lính hộ vệ, hai
mươi lạng vàng, hai trăm lạng bạc nhưng ông chỉ nhận vàng bạc và nói:
- Tôi dùng số vàng bạc này để mộ quân địa phương. Nếu sức tôi
không đủ, xin ngài hãy giúp tôi.
Nguyễn Huệ gật đầu chấp nhận và ngay sau đó đem quân vào Phú
Xuân.
Lúc này tình thế của Nguyễn Hữu Chỉnh không dễ dàng gì. Ông
không dám bỏ thuyền lên bờ, sợ bị bắt trả thù. Suy tính mãi, Nguyễn Hữu Chỉnh
nghĩ ra còn một người có thể cậy nhờ, đó là người anh rể Nguyễn Kim Khuê, nổi
tiếng đa mưu. Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức tới gặp người anh rể, cho Nguyễn Kim
Khuê biết, ông có ý định mộ quân chiếm cứ trấn này. Nguyễn Kim Khuê nghe xong gật
đầu tán thưởng, nói:
- Tên tuổi của ông, thiên hạ không ai là không sợ. Ông lấy
Nghệ An dễ như trở bàn tay. Tuy người trong trấn biết ông lúc này đang thân cô
thế cô, nhưng mọi việc vẫn là chuyện đồn thổi, chưa rõ thực hư. Nếu ông quyết định
nhanh chóng ra tay, chiêu binh được khoảng nghìn thủ hạ thì lo gì không có chỗ
đứng, có thể dọc ngang trong thiên hạ.
Nguyễn Hữu Chỉnh gật đầu nói:
- Quả thực, lời của anh rất hợp ý tôi.
Sau đó, Nguyễn Hữu Chỉnh ban hịch chiêu mộ quân, ra lệnh các
làng hễ chậm trễ sẽ bị xử lý. Chỉ trong vài ngày, bằng cách chém hai kẻ dám
ngáng đường, ông đã mộ được hơn nghìn quân.
Tuy nhiên, tình thế của ông không êm xuôi như Nguyễn Kim Khuê
phán đoán. Tại kinh đô, chúa Trịnh nghe tin Nguyễn Hữu Chỉnh đang ở Nghệ An liền
quyết định cử Phan Huy Ích cầm quân vào bắt. Tương truyền, trước khi lên đường,
không đánh giá được thực lực của Nguyễn Hữu Chỉnh, Phan Huy Ích sai làm chiếc
trống trận thật lớn và dặn thủ hạ, khi bắt được Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ nhét vào
đó, đem về dưới cửa khuyết.
Không may, trong trận chiến với Nguyễn Hữu Chỉnh, Phan Huy
ích thua, bị giải đến trước mặt Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Hữu Chỉnh mắng:
- Ngươi đâu có lòng trung, dám vào bè với với Nhưỡng, hùa với
chúa để chống lại hoàng thượng. Ta còn nghe nói, ngươi đã sai người làm cái trống
lớn lắm, định thắng được ta thì nhét ta vào cái trống đó, đúng không?
Phan Huy Ích sợ tái mặt, luôn miệng lắp bắp xin lỗi. Nguyễn Hữu
Chỉnh dằn giọng:
- Hừ, cái bộ thầy đồ nói khoác, ta giết ngươi cũng vô ích
thôi.
Nói xong liền tha cho Phan Huy Ích.
Lúc này thanh thế của Nguyễn Hữu Chỉnh rất lớn khiến trong phủ
chúa, các thuộc hạ của chúa Trịnh đều bàn: Tây Sơn mới đi, bờ cõi còn chưa yên ổn,
thế mà Nguyễn Hữu Chỉnh đã chiêu mộ quân làm loạn ở Nghệ An. Chúa hãy ra tay diệt
trừ Chỉnh, lấy lại đất Nghệ An thì mọi quyền ở kinh đô lại sẽ thuộc về tay
chúa. Nếu không diệt trừ Chỉnh ngay, để cho sự phản loạn ấy càng phát triển,
sau này Chỉnh đem quân ra kinh đô, chúa làm sao có thể chống giữ.
Tuy nhiên, lời bàn đó chỉ dừng ở đấy vì người chúa Trịnh dựa
vào là Đinh Tích Nhưỡng. Đinh Tích Nhưỡng nghe nói quân Tây Sơn đã cử một đội
quân ra chỗ Nguyễn Hữu Chỉnh khi nghe tin chúa Trịnh đã phục hồi vương vị. Thêm
nữa, trước đó Nguyễn Hữu Chỉnh đã cao tay viết cho Đinh Tích Nhưỡng một lá thư,
trong thư nhắc tới tình xưa nghĩa cũ giữa hai người và xin Đinh Tích Nhưỡng có
lời để Nguyễn Hữu Chỉnh được ở lại trấn Nghệ An. Sau này khi yên hàn, nếu có sự
bảo đảm của Đinh Tích Nhưỡng, Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ quay về triều.
Xem xong thư, Đinh Tích Nhưỡng suy nghĩ cần nhắc cẩn thận và
nhận thấy, dù Nguyễn Hữu Chỉnh lúc này đang gặp khó khăn nhưng uy thế vẫn rất lớn,
vì thế không nên đối đầu với ông ta. Do đó, lời tâu bày của các quan về việc
đem quân đánh Nguyễn Hữu Chỉnh không thực hiện được.
Biết rõ mọi chuyện, Nguyễn Hữu Chỉnh tiến thêm một bước, đó
là xin vua Lê ban ý chỉ cho ông làm trấn tướng ở Nghệ An để hợp pháp hóa việc
điều động binh Ông liền phái anh ruột là Nguyễn Ban lẻn về kinh yết kiến hoàng
thượng, xin mệnh làm trấn thủ Nghệ An. Vua Lê do luôn bị chúa Trịnh đè nén, rất
muốn có người thay mặt mình lật đổ nhà chúa nên đã hỏi kỹ Nguyễn Ban về thực lực
của Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Ban được thể, ra sức tô vẽ cho Nguyên Hữu Chỉnh
khiến nhà vua mừng rỡ, xem Nguyễn Hữu Chỉnh như cứu cánh. Nhà vua nói với Ban:
- Việc này, Hữu tướng quân trước đã có lời với trẫm, nay sẽ
cho tờ sắc ban xuống.
Các quan biết tin này đều can ngăn, họ lo sợ nếu chúa Trịnh
biết chuyện, nhà vua sẽ ở vào thế khó xử. Vì thế, không có sắc ban cho Nguyễn Hữu
Chỉnh làm trấn tướng Nghệ An. Tuy nhiên, khi về Nghệ An, nghe Nguyễn Ban kể lại
mọi chuyện, Nguyễn Hữu Chỉnh đã giả làm lễ bái mệnh rồi truyền hịch kêu gọi
chiêu mộ quân. Các hào mục trong vùng tưởng ông đã có sắc mệnh của vua, không
nghe theo Nguyễn Hữu Chỉnh tức là chống lại mệnh vua, khó tránh khỏi tội nên đã
đem quân theo Nguyễn Hữu Chỉnh. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh đã có một đội quân
đông đảo, đội ngũ chỉnh tề. Như vậy, một lần nữa, nhờ sự ứng phó nhanh nhẹn và
nắm bắt rõ thời cuộc, Nguyễn Hữu Chỉnh đã thoát ra khỏi tình thế nguy nan.
Nhận được chiếu chỉ mật của hoàng thượng phải đem quân về
kinh ngay, Nguyễn Hữu Chỉnh mừng rỡ truyền lệnh lên đường. Thời khắc của ông bắt
đầu đến, ông phải tận dụng cơ hội này để nắm lấy thiên hạ. Quân đội của ông lập
tức lên đường, quân của chúa Trịnh chặn đánh Nguyễn Hữu Chỉnh ở Hoàng Mai thất
bại. Tin thắng trận loan đi rất nhanh, thanh thế của Nguyễn Hữu Chỉnh ngày một
lừng lẫy.
Cũng thời gian này, nhà vua ban mật chỉ sai các hào kiệt ở Hải
Dương đem quân diệt trừ Đinh Tích Nhưỡng.
Đinh Tích Nhưỡng không gượng nổi, phải đem bộ hạ kéo về miền
Đông nhưng tại đây, bị dân chúng nổi dậy phản ứng, Đinh Tích Nhưỡng đành bó tay
thúc thủ, rút quân về cố thủ Hàm Giang.
Bấy giờ, chúa Trịnh chủ yếu dựa vào quận Thạc (Hoàng Phùng
Cơ) và quận Liễn (Đinh Tích Nhưỡng), nên khi nghe tin quận Liễn đem quân cố thủ
vùng Hàm Giang, quận Thạc bảo các thuộc hạ:
- Hiện Bắc Hà là đất không có chủ, vua chúa thù ghét nhau. Quận
Liễn, một cánh tay đắc lực của chúa đã đi mất rồi mà giặc Chỉnh thì sắp đem
quân tới đây. Ta tội gì mà gắng sức vô ích. Ta cũng nên rút về Sơn Tây để bảo tồn
lực lượng rồi ngồi đó mà xem việc thiên hạ, như thế mới là đắc sách, sau này sẽ
chờ thời cơ nổi lên, các ngươi thấy thế nào?
Đám thuộc hạ đều tán thành. Ngay sau đó, quận Thạc đem quân về
Sơn Tây khiến kinh đô trở nên trống rỗng. Thậm chí, người của phủ chúa tới các
phủ huyện thu lương còn bị dân chúng đánh đập, lột quần áo, chỉ mình trần chạy
về. Chúa Trịnh lo lắng, bèn gọi Bồi tụng Dương Trọng Tế đến truyền:
- Việc lớn hỏng rồi, ta không tự lượng sức mình, đã trót làm
chúa. Nhà ngươi là bầy tôi trung thành, nay giặc Chỉnh thế lực rất mạnh, sắp
kéo ra, ta nghĩ, phi nhà ngươi thì không còn kẻ nào có thể ngăn được hắn. Ta sẽ
cho ngươi làm Trấn thủ Thanh Hoa, đem quân chống nhau với Chỉnh.
Dương Trọng Tế bất đắc dĩ phải vâng mệnh nhưng lo sợ kéo quân
ra ô Cầu Dền, còn trùng trình mãi không chịu lên đường. Chúa phải cho người đến
giục mới chịu đi, nhưng khi nghe tin báo quân đội của Nguyễn Hữu Chỉnh đã vượt
sông Thanh Quyết, Tế sợ hãi than:
- Ta là kẻ đọc nhiều sách mà không biết thời cơ như quận Thạc,
quận Liễn, hai kẻ đó đã rút quân cố thủ một nơi, đâu dám đối đầu với Nguyễn Hữu
Chỉnh. Thật là lắm chữ nghĩa mà không bằng bọn võ biền. Giờ thì đã muộn rồi,
trong ba mươi sáu kế, chỉ có kế chuồn là hay hơn cả.
Ngay sau đó, Dương Trọng Tế đưa quân một mạch về Kinh Bắc rồi
mới sai người dâng khải cho chúa, đại ý xin chúa cho lĩnh chức Trấn thủ Kinh Bắc
để chiêu mộ thêm binh, mưu đồ khôi phục.
Chúa xem xong tờ khải, sợ cuống cuồng, gọi đến những kẻ bầy
tôi thân tín như Bùi Nhuận thì mới hay, Bùi Nhuận đã đem cả gia đình chuồn mất.
Chúa vội vời Triệu Sỹ vào than thở:
- Ta chẳng may đẻ ra ở nhà chúa, lại bị một lũ tiểu nhân làm
cho lỡ lầm. Biết thế này cứ làm sư nương náu dưới cửa thiền lại hóa hay. Theo
ngươi, bây giờ nên đi đâu?
Một thuộc hạ bàn chúa nên về Quế Dương để hiệu triệu cần
vương rồi dựa vào thế hiểm của sông Nhị Hà mà cố thủ, Nguyễn Hữu Chỉnh đâu dám
vượt sông sang đánh nhà chúa. Chúa mừng rỡ nghe theo, đêm đó cùng vài chục quan
quân bỏ kinh thành ra đi.
Sớm hôm sau, nhà vua mới biết chúa đã chạy khỏi kinh thành liền
ngầm sai người đốt phủ chúa, lâu đài cung khuyết bỗng chốc cháy thành than.
Trong khi đó, Nguyễn Hữu Chỉnh ngay khi vượt sông Thanh Quyết
đã cho Lê Giốc đem biểu dâng tới nhà vua, đại ý: “Thần vâng chỉ kéo quân vào bảo
vệ kinh sư, đã kính cẩn xuất quân từ tháng trước. Khi tới huyện Ngọc Sơn, Lê
Trung Nghĩa và Phan Huy Ích dám ra chống cự, thần đã chém chết Trung Nghĩa, bắt
sống Huy Ích. Nhờ về oai trời, lòng hăng hái của quân sĩ tăng lên gấp bội. Từ
Thanh Hóa trở ra Bắc, thần đi tới đâu, dân chúng vui mừng đón rước tới đó. Đến
chỗ nào thần cũng kính cẩn tuyên bố oai đức của nhà vua, khiến cho đâu đấy đều
yên nghiệp làm ăn. Thần nay thân mang giáp trụ, hồn mơ tưởng quân thiều, tấc
lòng khôn xiết nhớ mong cửa khuyết”.
Nhà vua xem xong tờ biểu, tỏ ra rất vui mừng, liền khen ngợi
Nguyễn Hữu Chỉnh là người quyền biến. Nghe tin Nguyễn Hữu Chỉnh tới làng Thịnh
Liệt, nhà vua còn sai các quan ra cửa ô đón tiếp và cho vời vào điện. Giáp mặt
nhà vua, Nguyễn Hữu Chỉnh tâu:
- Do kiêu binh làm loạn, chúa Trịnh không dung nên thần khi ấy
đang cầm quân ở ngoài đành bỏ nước mà đi. Sự rối loạn ấy là do cương thường đảo
lộn mà nên. Vì thế nhiều kẻ trung nghĩa trong nước đã mộ quân nổi dậy, tuy công
việc không thành nhưng cái tiếng nghĩa khí đã lan rộng. Như thế đủ biết, ai
cũng chung một bụng, chứ không phải thần vì mưu riêng mà gây nên hiềm khích. Thần
lấy điều nghĩa để cảm động lòng người, cốt chấn chỉnh lại cơ đồ nhà vua, để đạo
quân thần sáng tỏ chứ với chúa Trịnh, thần đâu có thù oán gì. Thế mà nhiều kẻ lại
buộc tội cho thần là có mưu đồ theo vết xe đổ, rắp tâm giết chết thần nhằm quấy
rối chính sự buổi đầu của bệ hạ. Thần cúi xin bệ hạ soi xét.
Nhà vua lắc đầu, nói:
- Mọi việc trầm đã rõ. Giúp cho đất nước thái bình, công ấy
là do nhà ngươi cả.
Ngay sau đó, Nguyễn Hữu Chỉnh được phong Bình chương quân quốc
trọng sự, tước Bằng trung công. Nguyễn Hữu Du, con trai Nguyễn Hữu Chỉnh cũng
được phong tước hầu.
Mọi việc đã tạm yên. Cứ năm ngày Nguyễn Hữu Chỉnh mới vào chầu
một lần để bàn những việc chính sự, còn những ngày khác, các quan đều phải tới
dinh của Nguyễn Hữu Chỉnh để xin ý kiến quyết định của ông. Thời gian này, quyền
lực của Nguyễn Hữu Chỉnh thực chất ngang với nhà vua, thế của ông rất lớn mà
theo như lời bàn của các thức giả, có thể lật nghiêng cả nước.
Tuy ngôi vị cao, Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn thể hiện sự tôn trọng
các viên quan trung trực, thẳng thắn, không sợ hãi quyền lực. Chuyện kể rằng,
trong triều Lê khi đó có viên quan Nguyễn Đình Giản, nổi tiếng thẳng thắn, luôn
vạch ra lỗi lầm của kẻ khác, bất kể người đó có địa vị tôn quý đến đâu. Chính
Nguyễn Đình Giản là người hạch tội Nguyễn Hữu Chỉnh, cho ông là người cõng rắn
cắn gà nhà, đưa quân nước ngoài về phá hoại Bắc Hà và xin cầm quân đánh dẹp.
Tuy nhiên lời đề nghị của Nguyễn Đình Giản không được triều đình chấp nhận. Thời
gian Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân vào kinh thì Nguyễn Đình Giản đang vâng mệnh đi
chiêu dụ ở trấn Sơn Tây. Các quan đều biết sự ngay thẳng của Nguyễn Đình Giản,
cho rằng nếu ông về triều, chắc chắn sẽ bị Nguyễn Hữu Chỉnh trả thù hoặc ngầm
kiếm cớ giết đi.
Nguyễn Kim Khuê, một người thân cận với Nguyễn Hữu Chỉnh đã
đem việc các quan bàn tán ra hỏi Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Kim Khuê hỏi:
- Ông cho Nguyễn Đình Giản là hạng người thế nào?
Nguyễn Hữu Chỉnh nhận xét:
- Đó là kẻ cuồng trực.
- Vậy ông có dùng hắn không? Nguyễn Kim Khuê tò mò hỏi.
Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức trả lời:
- Chẳng những dùng được mà con người ấy còn đáng nể nữa.
Nguyễn Kim Khuê lại hỏi tiếp:
- Quả thật ông nghĩ như vậy chứ?
Nguyễn Hữu Chỉnh cười, thành thật bảo:
- Đến quận Hoàn là bố vợ hắn vậy mà hắn còn ngồi tại giữa triều
kể tội ông ta là quỳ gối theo giặc, huống chi là với người khác? Hắn đã từng chỉ
tay vào bố vợ nói: “Ông chịu ơn nước, quan đến cực phẩm, bổng lộc chất lên
thành núi. Đến nay đã bảy mươi còn tiếc một cái chết đến nỗi phải khom lưng ở
thềm giặc, thật là để xấu lại muôn đời”. Thế đấy - Nguyễn Hữu Chỉnh nhấn giọng
- Nếu có lỗi hắn nói là đúng. Còn không có lỗi mà hắn nói thì cũng không hại gì
cho mình. Con người như hắn thật không nên giận.
Rồi Nguyễn Hữu Chỉnh trầm ngâm một lúc và thủng thẳng:
- Mà có giận hắn thì cũng không làm gì hắn tốt. Chẳng qua chỉ
tổ để người ta thấy chỗ nông sâu của mình mà thôi.
Sau đó, chính Nguyễn Hữu Chỉnh đã viết một lá thư nhằm thu phục
Nguyễn Đình Giản, lời lẽ trong thư rất mềm mỏng và tâm huyết. Kết cục, Nguyễn
Đình Giản đã vui vẻ hợp tác với ông để chấn chỉnh lại Bắc Hà đang mục nát.
Câu chuyện trên cho thấy, dù uy thế lẫy lừng, quyền nghiêng cả
nước nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh nhiều khi vẫn tìm ra cách ứng xử thích hợp nhất với
địa vị mà ông đang nắm giữ.
Sử sách còn ghi lại một câu chuyện nữa, đó là quan hệ của
Nguyễn Hữu Chỉnh với Hoàng Phùng Cơ, một viên quan rất trung thành với triều
đình nhà Lê.
Khi Nguyễn Hữu Chỉnh mang quân về Thăng Long đuổi Trịnh Bồng
thì Hoàng Phùng Cơ đang đóng ở Sơn Tây. Hoàng Phùng Cơ cho rằng Nguyễn Hữu Chỉnh
là kẻ táng tận lương tâm, mang quân Tây Sơn về giày xéo Bắc Hà nên quyết định
mang quân Mường Mán ở Hưng Hóa và Sơn Tây về, định một trận thư hùng với Nguyễn
Hữu Chỉnh. Vua Lê nghe tin, sai sứ đi triệu Hoàng Phùng Cơ về chầu. Nhà vua
truyền bảo sứ giả:
- Ngươi là người giỏi thuyết phục về họa phúc mà Hoàng Phùng
Cơ - vốn là người tính khí trung trực, lại một lòng trung với triều đình, vì
lòng tôn quân, Cơ chắc sẽ dẹp mối thù với Chỉnh để Bắc Hà yên. Do đó, ngươi nên
tìm cách khéo léo nói cho hắn rõ ý chỉ của trẫm.
Tuy nhiên, mọi việc không diễn ra như nhà vua nghĩ. Khi sứ giả
vừa xuất hiện, con gái lớn của Hoàng Phùng Cơ đã tức giận lôi ngay sứ giả ra
chém.
Việc trót lỡ, Hoàng Phùng Cơ không còn cách nào khác đành
mang quân tiến về kinh đô, truyền hịch đi các phủ Quốc Oai và Quảng Oai, kêu gọi
dân chúng giết Nguyễn Hữu Chỉnh để trừ nạn nước.
Vua Lê cũng bất đắc dĩ phải xuống chiếu sai Nguyễn Duật làm
tiên phong, Nguyễn Hữu Chỉnh làm thống lĩnh đại binh đi dẹp Hoàng Phùng Cơ.
Trước đó, Nguyễn Hữu Chỉnh đã nhận thấy cần lôi kéo Hoàng
Phùng Cơ để làm hậu thuẫn cho Bắc Hà yên Nên đã sai người đưa thư tới tay Hoàng
Phùng Cơ, lời lẽ dầy mềm mỏng. Bức thư có đoạn:
“Trước đây tướng quân lên miền thượng du, xếp đặt công việc
ngoài bờ cõi, trèo đèo lội suối, thật là vất vả. Nếu tướng quân có ý muốn
chuyên giữ một phương để che chở cho miền Tây thì tôi xin đề đạt ý ấy lên nhà
vua, cho phép tướng quân tùy ý mà làm. Nếu tướng quân cho rằng ở trong quân ngũ
đã lâu, sức lực suy yếu, muốn nghỉ việc quân cơ thì tôi dám đâu không giúp đỡ
tướng quân chọn một địa vị tốt đẹp để cho tướng quân giữ trọn công danh, làm bậc
túc tướng của tiên triều. Kẻ đại trượng phu ở đời chỉ có hai con đường là
“hành” và “chỉ”, cần phải sơm sớm chọn lấy một. Mong tướng quân tính liệu lấy”.
Tuy nhiên Hoàng Phùng Cơ nhất mực không nghe, quyết tâm đánh
Nguyễn Hữu Chỉnh. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh quyết định giao chiến. Quân của Nguyễn
Duật và của Hoàng Phùng Cơ giáp chiến tại bến đò Đại Phùng. Nguyễn Duật thua phải
bỏ cả khí giới mà chạy. Con trai Hoàng Phùng Cơ là Gia Võ khuyên cha nên thừa
thắng xốc tới bắt Nguyễn Hữu Chỉnh nhưng Hoàng Phùng Cơ nói:
- Ta bắt Chỉnh như bắt đứa trẻ con, hãy cho quân sĩ tạm nghỉ
rồi đuổi cũng chưa muộn.
Nguyễn Duật thấy quân của Hoàng Phùng Cơ không đuổi theo liền
thu quân dàn trận trở lại để đánh. Lính của Hoàng Phùng Cơ đang ăn, kinh sợ
thua chạy. Hoàng Phùng Cơ cùng con chơ vơ trên mình voi, cố sức đánh. Ngay khi ấy,
quân của Nguyễn Hữu Chỉnh kéo đến, Hoàng Phùng Cơ vội bỏ voi, cưỡi ngựa xông
vào quân của Nguyễn Hữu Chỉnh. Gia Võ liều chết theo cha, tỳ tướng là Đặng Tập
thu được vài trăm lính cũng cố giúp sức chống đỡ cho Hoàng Phùng Cơ.
Tuy nhiên, thế cùng lực kiệt, Hoàng Phùng Cơ bỏ chạy. Nguyễn
Hữu Chỉnh liền sai cung nỏ bắn vào ngựa của Hoàng Phùng Cơ. Hoàng Phùng Cơ bị bắt
sống, bị giải vào điện, tới trước mặt nhà vua. Vua Lê Chiêu Thống nhớ lại tờ biểu
Hoàng Phùng Cơ viết: “Trước đây thần vâng mệnh ra trấn Sơn Tây, vừa lúc ấy Nguyễn
Hữu Chỉnh từ nghệ An vào chầu. Bệ hạ cho là Chỉnh có công tôn phò nên giao việc
chính trị trong nước cho hắn. Đứa tiểu nhân đắc chí, dần dà mưu đồ làm việc
không hay. Cứ như ngu ý của thần thì Chỉnh không phải là người bề tôi thuần thục
mà là một đứa tự mưu lợi riêng. Xem việc hắn làm giống như ma quỷ, xét bụng hắn
nghĩ, độc hơn hùm beo. Cúi xin bệ hạ xét rõ, cho phép thần được trị hắn ngay từ
lúc đầu để hắn không thể rông rỡ làm ác về sau, thì thật là phúc cho xã tắc...”.
Nhà vua nhìn Hoàng Phùng Cơ, lòng bối rối. Đây là viên tướng
có lòng trung với triều đình, chính hắn đã cứu ta, cực chẳng đã ta phải theo
Nguyễn Hữu Chỉnh mà dụ hắn, tuy nhiên không thể để Nguyễn Hữu Chỉnh xử tội hắn
mà không cứu. Vì thế, nhà vua liền hỏi lý do Hoàng Phùng Cơ không vâng theo ý
chỉ của triều đình, làm tình hình thêm rối, Hoàng Phùng Cơ tâu:
- Thần đã có lần tâu với bệ hạ, thần là con nhà võ biền,
không biết che đậy, việc gì cũng thẳng băng mà làm. Nguyễn Hữu Chỉnh là con người
trí trá, trước đưa Tây Sơn ra xâm lược Bắc Hà, sau lại hai lòng với Tây Sơn ra
chiếm đất Nghệ An. Đến khi Tây Sơn không dung mới quay về với bệ hạ. Các quan
văn bị hắn lừa dối, để cho hắn có thể mượn mệnh của nhà vua. Dương Trọng Tế thì
không đủ khả năng chống chọi với hắn, còn quận Liễn lại là bè đảng với hắn trước
đây nên không dám kéo quân về kinh đô hỏi tội hắn. Vì thế, hiện nay chỉ có thần
dám gánh lấy trách nhiệm đánh Chỉnh. Nay vì lòng trời không thuận mà bị thua,
tùy bệ hạ xử trí.
Vua Chiêu Thống nghĩ tới cái ơn Hoàng Phùng Cơ đã từng cứu
mình liền xuống dụ:
- Hoàng Phùng Cơ tuy phải nhưng lý thì trái, danh và thực
không đi đôi với nhau. Nay bị bắt, phải chịu tử hình là đáng lắm. Nhưng khi xưa
ta bị quân vây bức hoàng thành, tình thế vô cùng nguy ngập. May nhờ Hoàng Phùng
Cơ cứu gỡ nên ta mới được an toàn. Cứ theo nhu cách luận tội từ xưa tới nay,
Hoàng Phùng Cơ phải chịu tội chém nhưng lòng ta không nỡ. Vậy đình thần nên xử
lại để lý và nghĩa được vẹn toàn.
Nguyễn Hữu Chỉnh vốn thâm tâm có phần vì nể Hoàng Phùng Cơ
nên xin đem Phùng Cơ về phủ của mình, cởi trói, mời ngồi và hỏi:
- Ông là bậc nguyên thần của nước, cớ sao lại làm giặc?
Hoàng Phùng cơ thản nhiên đáp:
- Ta là kẻ võ biền dốt nát, không biết làm giặc là ai?
Nguyễn Hữu Chỉnh tái mặt vì bị Hoàng Phùng Cơ nói mỉa, biết
Hoàng Phùng Cơ chẳng khi nào chịu hợp tác với mình nên sau đó đã đưa Hoàng
Phùng Cơ ra cho đình thần nghị tội. Hoàng Phùng Cơ bị luận tội là bề tôi mà chống
lại triều đình nên phải chịu hình phạt chém đầu.
Nguyễn Hữu Chỉnh vốn không thù oán gì Hoàng Phùng Cơ nên bảo
Ngô Trọng Khuê nghị tội lại. Khuê nói:
- Mang quân cự vua, tội đáng chém đầu, nhưng xét trước kia đã
có công nên nay giảm xuống, xử cho tự tận.
Kết cục Hoàng Phùng Cơ phải uống thuốc độc tự tử.
5. CHIM BẰNG GÃY CÁNH
Sau khi thắng Hoàng Phùng Cơ, uy thế của Nguyễn Hữu Chỉnh
ngày một lừng lẫy, quyền hành chỉ đứng sau vua nhưng thực chất thì như một vị
vua thực sự. Ông điều hành mọi việc trong triều, từ chính sự cho đến kinh tế.
Thấy hàng hóa không lưu thông, giá cả tăng vọt, ông liền xin với triều đình cho
thu vét hết tượng đồng về kinh sư, mở lò đúc tiền để giải quyết nạn khan hiếm
tiền, người nào có ý chống lệnh sẽ bị trừng trị. Việc làm của Nguyễn Hữu Chỉnh
lúc đó là một biện pháp cần thiết nhưng không được lòng dân chúng, họ đều oán
thán, thậm chí còn có hai câu thơ dán ở cửa Đại Hưng, nơi người qua lại trong
thành đều nhìn thấy rõ:
Thiên hạ thất tự chung, chung thất nhi đỉnh an tại?
Hoàng thượng phần vương phủ, phủ phần tức điện diệc không!
(Thiên hạ mất chuông chùa, chuông mất vạc còn đâu nữa. Hoàng
thượng thiêu phủ chúa, phủ thiêu, điện cũng trơ thôi).
Câu đối ám chỉ việc làm của Nguyễn Hữu Chỉnh và nhà vua sẽ
tiêu tan sự nghiệp nhà Lê. Việc đến tai Nguyễn Hữu Chỉnh, ông rất tức giận, vì
thế càng tỏ ra cứng rắn và cẩn thận hơn. Thậm chí, ông còn củng cố lại đội quân
của mình, trong thì nắm giữ quân cơ, ngoài thì kiểm tra các trấn, những chỗ cơ
mật ông đều tìm cách đưa các thuộc hạ thân tín vào. Biết Lê Chiêu Thống là vị
vua bất tài, nhiều việc ông tự quyết rồi mới tâu lên nhà vua. Việc làm của ông
khiến vua Lê Chiêu Thống nghi kỵ, tuy nhiên vị vua bất tài này không thể làm gì
được để thay đổi tình thế, vẫn phải dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh để tồn tại nên nhà
vua chỉ dám than thở với mấy bề tôi gần cận:
- Chỉnh tuy có công bảo vệ trẫm nhưng dần dần trẫm thấy hắn
có vẻ muốn lấn bức. Giá mà trẫm có thể chặn ngay lúc đầu, không để hắn càn rỡ
được thì có phải tốt bao nhiêu. Giờ thế lực của hắn đả mạnh, giữ hắn như giữ cọp
trong nhà, các ngươi thử tính hộ trẫm xem.
Đám quần thần đều nhất trí cho rằng, Nguyễn Hữu Chỉnh là người
hiểm độc, mưu mô sâu sắc, giả trá khôn ngoan, ứng biến mau lẹ, đúng là một kẻ
gian hùng đời loạn, giống như hùm sói yêu ma, không thể kiềm chế mà chỉ có cách
tốt nhất là giết đi.
Một bề tôi của Lê Chiêu Thống e dè:
- Bẩm, thần nhận thấy hắn quả là người thâm hiểm, nếu không cẩn
thận e mang vạ vào thân. Muốn giết hắn đâu có dễ, phải có mẹo. Xin bệ hạ hãy
coi hắn như người tâm phúc, cho tự do ra vào nơi cung cấm, thỉnh thoảng mời hắn
vào điện bàn việc, đặt tiệc rượu đãi hắn uống thật say. Nhiều lần hắn quen dần,
hãy dùng thuốc độc mà giết, thế mới không xảy ra biến loạn.
Lê Chiêu Thống gật gù, lại căn dặn:
- Chuyện này ở miệng các ngươi, vào trong tai trẫm, đừng để lộ
ra ngoài. Có câu: làm vua không kín chuyện mất bề tôi, làm bề tôi không kín
chuyện thời mất thân mình. Bao giờ có cơ hội, ta sẽ bảo để các ngươi hành động.
Sau cuộc trò chuyện bí mật với các bề tôi thân tín, vua Lê
Chiêu thống ngày càng lo ngại trước uy danh của Nguyễn Hữu Chỉnh. Nhà vua liền
cho vời Tham tụng Bùi Huy Bích vào triều để hỏi mọi chuyện, vốn Bùi Huy Bích đã
bị nhà chúa cách chức bởi không đảm đương nổi việc triều chính, thấy nhà vua lại
cho người vời vào triều, Bùi Huy Bích nghĩ, chắc chẳng có chuyện gì ngoài việc
về Nguyễn Hữu Chỉnh. Thực tế, Nguyễn Hữu Chỉnh là một người tài, mưu sâu, đã
làm được nhiều việc cho triều đình nhà Lê. Tất nhiên ai cũng nhận thấy mọi việc
ông ta làm cũng có ý muốn thu vén thiên hạ. Tuy nhiên, vào thời buổi nhiễu
nhương, loạn lạc này, thế nào cũng phải có người tài, anh hùng xuất thế mới
hòng làm cho xã hội yên ổn. Nhưng người đó là ai? Tới lúc này ông vẫn chưa đánh
giá được. Còn Nguyễn Hữu Chỉnh, tuy là người tài nhưng lại làm nhiều việc mất
lòng dân chúng. Vì thế sắp tới Bắc Hà chắc chắn sẽ đại loạn. Ta phải lựa lời để
tránh khỏi cơn sóng gió này.
Do đó, khi được vua Lê Chiêu Thống hỏi về việc thiên hạ, Bùi
Huy Bích lựa lời tâu:
- Thần may được thi đỗ nhưng không có tài giúp đời trị nước.
Trước đây thần được chúa cất nhắc làm việc trong chính phủ, tuy vậy thần không
đảm đương nổi, lính kêu dân oán, quân giặc lấn cướp, kinh thành bị hãm, chúa
soái mắc nạn, cái tội đó thần thật khó tránh. Nay Bắc Hà đã nhất thống, chính sự
ban đầu đang sáng suốt, bệ hạ nên tìm một người tài giỏi khác còn thần đâu dám
làm nhơ đến triều đình. Xin cho thần được lui về ruộng đồng làng xóm.
Sau khi ra khỏi cung, Bùi Huy Bích đã hiểu ý của vua Lê Chiêu
Thống, ông cả kinh thốt lên: Thiên hạ sắp loạn mất rồi, ta phải bỏ đây mà đi
thôi.
Một thời gian sau, Đốc trấn Nghệ An Phạm Huy Khiêm mưu đồ cần
vương, ban hịch kể tội Nguyễn Hữu Chỉnh nhưng đã chết khi việc chưa thành. Thời
gian này, những kẻ nặng công danh, muốn lấy việc dẹp loạn làm trách nhiệm của
mình cũng nổi lên ở khắp mọi nơi.
Nguyễn Văn Đức, trấn thủ giữ phủ Diễn Châu do Nguyễn Huệ cử
ra Nghệ An phòng khi có biến, vốn là đại thần của chúa Nguyễn, bị Tây Sơn bắt
nên buộc lòng phải theo Tây Sơn. Vì thế, nghe nói Nguyễn Hữu Chỉnh quyền
nghiêng cả thiên hạ, liền liên hệ với phó tướng Nguyễn Duệ, bàn việc kết hợp
ngay với Nguyễn Hữu Chỉnh, mưu đồ hợp lực để phân chia thiên hạ. Trong thư gửi
Nguyễn Hữu Chỉnh, hai người bày tỏ, nếu Nguyễn Hữu Chỉnh chịu hợp tác, họ sẽ
nhân cơ hội vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc mâu thuẫn với Nguyễn Huệ kéo quân vào Nam để
chiếm đất. Khi thành công, họ sẽ giao lại cho Nguyễn Hữu Chỉnh vùng đất từ
Hoành Sơn ra Bắc. Lúc này ở kinh đô, Nguyễn Hữu Chỉnh còn nhiều việc phải giải
quyết nên còn trùng trình chưa quyết.
Trong khi đó, thái độ và mối quan hệ của hai viên tướng này
khiến Võ Văn Nhậm sinh nghi, liền cho người bí mật theo dõi. Võ Văn Nhậm phát
hiện ra Nguyễn Duệ đã có mối quan hệ thân thiết với Nguyễn Hữu Chỉnh từ khi coi
dinh Kỳ Hoa, liền mật báo cho Nguyễn Huệ biết. Võ Văn Nhậm nhớ lại ngày quân
Tây Sơn rút về Nam, Chiêu Viễn được vua Tây Sơn ủy cho đóng ở châu Bố Chánh,
Nguyễn Duệ ở doanh Kỳ Hoa còn Võ Văn Nhậm đóng ở Động Hải để làm thế chân kiềng
nương tựa lẫn nhau. Khi ấy Nguyễn Duệ rất được tin cậy, Nguyễn Huệ trước khi
vào Nam đã dặn riêng Nguyễn Duệ:
- Chỉnh vốn là người Bắc, trốn về với ta. Ta thấy hắn là kẻ
phản phúc, không tin cậy được, có lẽ vì thế mà dân Bắc Hà rất oán hắn. Ta định
bỏ hắn ở lại, không ngờ hắn lại bắt kịp ta đến đây. Nghệ An là quê hương của hắn,
vì thế nhà ngươi ở đây nên xét kỹ lòng người xứ này, chú ý theo dõi xem động
tĩnh của hắn ra sao. Có việc gì, nhất quyết phải bàn với Tả quân Võ Văn Nhậm,
tránh mắc phải mưu của hắn.
Thế mà thời gian đóng ở Nghệ An chưa được bao lâu, quan hệ của
Nguyễn Duệ với Nguyễn Hữu Chỉnh lại trở nên mật thiết đến thế. Võ Văn Nhậm đâu
biết, Nguyễn Hữu Chỉnh là người có nhiều toan tính sâu xa. Khi ông được nhà vua
truyền đưa quân ra Bắc, ông đã cài cắm người của mình là Nguyễn Duật ở lại làm
việc dưới trướng Nguyễn Duệ. Sau đó, khi quyền hành ngang ngửa ở Bắc Hà, Nguyễn
Hữu Chỉnh thường gửi thư qua lại và biếu Nguyễn Duệ nhiều món quà hậu hĩnh, đồng
thời kiếm cớ cho gọi Nguyễn Duật ra Bắc để hỏi tình hình Tây Sơn và dò ý tứ của
Duệ. Biết anh em Tây Sơn mang quân đánh nhau, lại tiếp được thư của Duệ hẹn
cùng chung sức đánh phương Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh rất mừng, bèn đưa cho Nguyễn
Duật mười lạng vàng và mười tấm đoạn đem về biếu Nguyễn Duệ. Nguyễn Duật còn
theo ý Hữu Chỉnh dặn, nói lại với Nguyễn Duệ, muốn thực hiện được ý đồ đó, trước
hết phải ngăn chặn Chiêu Viễn rồi đắp lại lũy cũ Hoành Sơn, lấy sông Gianh làm
biên giới như khi hai chúa Trịnh Nguyễn phân tranh.
Việc làm này không che mắt được do thám của Võ Văn Nhậm. Võ
Văn Nhậm liền đưa binh phù triệu Nguyễn Duệ về nhưng Duệ thoái thác, viện cớ:
- Tướng ở ngoài, có khi còn không theo mệnh vua, hơn thế, khi
Thượng công về Nam đã ủy cho tôi đóng giữ đất này, tôi không thể rời đi được.
Nhậm nghe Duệ nói như vậy liền gửi thư cấp cáo cho Nguyễn Huệ.
Trong thư đại ý có đoạn viết: Ngày trước Thượng công dùng Chỉnh chẳng khác gì
nuôi hổ dưới gậm giường, ngày nay dùng Duệ chẳng khác gì nuôi ong tay áo. Xin
Thượng công nhanh chóng mang quân ra Bắc, giết Duệ, bắt Chỉnh, dẹp loạn và bình
định đất nước, đây là cơ hội không thể bỏ lỡ, xin Thượng công chuẩn y.
Thời gian này, do xung đột giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ
căng thẳng nên mối lo ở miền Nam đối với Nguyễn Huệ là cần kíp hơn. Vì thế ông
hạ lệnh cho Võ Văn Nhậm tiến ra Nghệ An bắt Nguyễn Duệ rồi thu gom lương thực,
chiêu mộ binh và viết thư cho Hữu Chỉnh, hỏi về tội thông mưu với Duệ xem Chỉnh
trả lời ra sao. Trong thư, Nguyễn Huệ còn dặn kỹ, nếu Nguyễn Hữu Chỉnh còn biết
sợ hãi thì sẽ liệu sau, không nên đánh Nguyễn Hữu Chỉnh ngay. Nếu Nguyễn Hữu Chỉnh
ra mặt chống cự, sẽ dùng cái cớ ấy tiến ra Bắc đánh dẹp.
Võ Văn Nhậm kéo quân đến Kỳ Hoa thì Nguyễn Duệ đã không còn ở
đó nữa. Nguyễn Duệ biết bị phát giác liền đem quân vào Nam, Nguyễn Văn Đức thì
trốn sang Xiêm La (Thái Lan). Võ Văn Nhậm lập tức gửi ngay một bức thư cho Nguyễn
Hữu Chỉnh. Nhận được thư của Võ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh cảm thấy lo lắng,
ông biết ý đồ tiến vào chiếm giữ dải đất từ Hoành Sơn trở ra Bắc đã thất bại. Bức
thư này phải được giấu kín, nếu việc này lộ ra, e là ông không thể trụ lại ở Bắc
Hà. Phải tìm cách làm dịu đi tình hình nguy cấp này. Ông lập tức viết một bức
thư, sai người đưa gấp đến Võ Văn Nhậm. Bức thư viết:
“Trước kia tôi bỏ nước cũ về với chúa công, nhờ ơn cho vào
nơi mạc phủ, hầu hạ túi cung roi ngựa đến bốn năm năm. Mùa thu năm ngoái, đại
quân về Nam không cho tôi biết, tôi cũng hiểu là thượng công muốn dùng cách đó
để thử tôi, xem tôi lui tới ra sao. Lúc bấy giờ người Bắc cố lưu lại nhưng tôi
quả quyết bỏ họ mà đi. Nghĩ rằng lòng này không có đổi thay như thế, bậc cao
minh hẳn đã soi xét đến. Lúc vào yết kiến Thượng công ở Vĩnh Dinh, tôi xin theo
quân đội về Nam, ngài bảo tôi: “Quận Thạc, quận Liễn còn làm ngang trở không thể
trừ khử, nhà ngươi hãy ở lại đây, lo liệu một phen”. Tôi dám đâu không theo mệnh
lệnh? Tôi đã đem thân mình theo Thượng công thì còn dám tiếc gì? Chỉ mong trừ
được hai tên ngang ngược ấy sẽ lập tức quay ngựa về Nam”.
Nguyễn Hữu Chỉnh đã tìm cách chứng minh cho Võ Văn Nhậm thấy
quận Thạc đã bị ông tiêu diệt còn quận Liễn ông vẫn chưa thể dẹp yên thì sao có
thể quay trở về Nam được. Ông còn biện minh rằng, sau khi Nguyễn Huệ về Nam,
ông chỉ ở lại Nghệ An mười ngày là nhận được lệnh vua triệu ra Bắc. Như thế, liệu
ông có thời giờ liên kết với Nguyễn Duệ không? Và ông kết luận, nếu ông hai
lòng, sao dễ giấu được, đồng thời ông đề nghị Võ Văn Nhậm chuyển lời của ông tới
Nguyễn Huệ.
Theo như căn dặn của Nguyễn Huệ, nhận được bức thư có ý lo ngại
của Nguyễn Hữu Chỉnh,Võ Văn Nhậm đã viết một bức thư, tỏ ý an ủi Nguyễn Hữu Chỉnh
để có đủ thời giờ chỉnh đốn quân ở Nghệ An và làm cho Nguyễn Hữu Chỉnh lơ là cảnh
giác.
Về phía Nguyễn Hữu Chỉnh, ông vốn là người cơ mưu nhưng do chủ
quan, đánh giá thấp Võ Văn Nhậm nên sau này, ông đã phải hối hận vì không kịp
trở tay, thấp cơ thua trí một người mà ông cho rằng nước đi trên bàn cờ kém hơn
ông. Nguyễn Hữu Chỉnh đâu có ngờ, đứng sau Võ Văn Nhậm là Nguyễn Huệ, một con
người sắc sảo, có khả năng nhận biết bản chất của những người đã tiếp xúc với
ông. Đây là nguyên nhân dẫn đến thất bại của Nguyễn Hữu Chỉnh sau này. Ngay cả
lời đồn thổi của dân chúng, rằng quân Tây Sơn đã tập kết ở Nghệ An, chẳng mấy nửa
sẽ kéo quân ra Bắc cũng không khiến Nguyễn Hữu Chỉnh mảy may lo lắng. Ông đã chủ
quan quá tin vào sự phán đoán của mình và mọi tai họa đối với ông bắt đầu từ
đây.
Thời gian này, nhiều viên quan trong triều lo lắng tấu trình
lên vua Lê. Nhà vua hoảng hốt cho vời Nguyễn Hữu Chỉnh vào để hỏi hư thực thế
nào. Nguyễn Hữu Chỉnh tự tin tâu:
- Dân chúng đồn nhảm, hoàng thượng không nên lo lắng làm gì.
Thần đã cho người đi xem xét và biết rõ sự thực rồi. Vua Tây Sơn từ khi ở đất Bắc
vào Nam đã tới thẳng quốc thành. Còn Thượng công (Nguyễn Huệ) thì đóng ở Phú
Xuân, nghỉ quân để vui chơi, ban bố hiệu lệnh, sửa sang thành lũy. Đã thế, anh
em Tây Sơn lại đang mâu thuẫn với nhau. Thượng công tự tiện quyết định mọi việc
phong quan, ban tước. Dù được phong Bắc Bình Vương nhưng Thượng công không dâng
vua những thứ lấy được trong phủ chúa. Vì thế, giữa anh em họ đã nảy sinh cuộc
binh đao. Họ đâu có thì giờ mà tranh đoạt với ta, ra khỏi dãy Hoành Sơn. Chỉ cần
triều đình ta yên ổn thì thiên hạ sẽ thái bình. Việc ở trấn Nghệ An, chỉ cần một
sứ giả đem bức thư sang, bàn bạc với họ là xong. Hơn thế, ta cùng họ là thông
gia, hoàng thượng không nên lo xa làm gì.
Nhận xét này của Nguyễn Hữu Chỉnh cho thấy Nguyễn Hữu Chỉnh
quá phiến diện, không đủ tỉnh táo để đánh giá tình thế và lực lượng của quân
Tây Sơn lúc này. Ngay cả khi Nguyễn Đình Giản, một viên quan luôn nói thẳng khiến
Nguyễn Hữu Chỉnh rất tin tưởng cất lời can gián cũng không làm cho Nguyễn Hữu
Chỉnh tỉnh ra. Ông còn tỏ ra có phần coi thường Nguyễn Huệ khi nghe Nguyễn Đình
Giản nói:
- Bắc Bình Vương là một bậc anh hùng, không thể xem thường
ông ta được. Ngài đừng quá tin vào tình hòa hảo thông gia mà nên lo cho bờ cõi
vững chắc, đó mới là điều cần thiết lúc này.
Nguyễn Hữu Chỉnh nghe xong cười bảo:
- Tôi đã từng cộng sự với ông ta, há lại không biết hay sao?
Ông ta quả là bậc anh hùng thật nhưng nhân tài xứ Bắc cũng đâu có thua kém lắm.
Nếu xảy ra việc gì, tôi xin chọi với ông ta còn Võ Văn Nhậm thì đáng kể gì. Cứ
mặc hắn. Quân nước ngoài ở trọ, ở mãi thế nào được? Chả mấy Nghệ An lại thuộc về
ta thôi.
Vua Lê Chiêu Thống e dè:
- Nay dân chúng đang nghe động tĩnh ở phía Nam, lòng người ly
tán. Ngươi nên tính liệu trước để lòng trẫm được yên.
Nguyễn Hữu Chỉnh tâu:
- Đó là chức phận của thần, xin hãy yên tâm.
Sau mấy hôm suy tính và cân nhắc, Nguyễn Hữu Chỉnh vào triều
tâu với vua Lê Chiêu Thống:
- Võ Văn Nhậm là con rể vua Tây Sơn, nhưng lại là tướng của
Nguyễn Huệ nên khi biết rõ anh em Tây Sơn bất hòa, hắn vẫn phải tuân theo tướng
lệnh. Tuy nhiên trong lòng không thể nào không nghĩ đến bố vợ. Hơn nữa, tin tức
do thám đưa về cho biết, vừa rồi ở Động Hải có biến, Nhậm xin về hầu nhưng Nguyễn
Huệ không cho, hạ lệnh hắn ra thẳng Nghệ An. Như thế có nghĩa là địa vị của Nhậm
rất bấp bênh, hắn bị Nguyễn Huệ nghi ngờ, vì thế nhân cơ hội này nên tìm mọi
cách thương lượng để lấy lại đất Nghệ An. Thần nghĩ, nên lễ lạt nhiều để Nhậm
tâng bốc triều đình, bên trong nhờ công chúa nói đỡ, chắc Nguyễn Huệ dù không
muốn cũng phải gượng theo ý của hoàng thượng.
Vua Lê Chiêu Thống cho là phải nên hôm sau trong buổi chầu,
nhà vua bảo các quan:
- Nghệ An là đất phên giậu của triều đình trước đây nên không
thể để cho người ngoài chiếm giữ mãi. Trẫm muốn cử người đi Phú Xuân để điều
đình với Nguyễn Huệ một phen. Các ngươi thử nói cho trẫm biết, ai thích hợp với
công việc này?
Các quan trong triều đều nhất trí đề cử Nguyễn Đình Giản và
Phạm Đình Dư - hai viên quan nổi tiếng ngay thẳng làm công việc này. Tuy nhiên,
Phan Lê Phiên lại có ý khác, ông tâu:
- Xin bệ hạ cân nhắc kỹ việc này, bởi theo thiển ý của thần,
Nguyễn Đình Giản cương trực nhưng lại thiếu mềm mỏng, Phạm Đình Dư nghị luận vững
vàng nhưng xét việc hơi chậm, e cử hai người này đi không thuận, trong khi
tranh biện, có thể làm hỏng việc lớn.
Chờ các quan bàn luận chán, Nguyễn Hữu Chỉnh nói:
- Bẩm, thần cho rằng trong việc này, cử Trần Công Xán đi là
hay hơn cả. Đó là người đảm lược, sẵn tính tự chủ ít ai bì kịp. Hơn nữa, trong
con mắt của Nguyễn Huệ, Trần Công Xán được đánh giá là vị quan đáng trọng trong
triều đình. Nguyễn Huệ chả đã từng nói: “Ta nghe nhân tài Bắc Hà nhiều lắm mà
chỉ mới thấy có Trần Công Xán là ra dáng người”. Cử Trần Công Xán đi, Nguyễn Huệ
vì lòng kính trọng mà có thể trả lại xứ Nghệ cho Bắc Hà.
Vua Lê Chiêu Thống nghe Nguyễn Hữu Chỉnh nói vậy thì gật đầu
ưng thuận:
- Được đấy, hãy truyền ý chỉ của trẫm để Trần Công Xán mau
lên đường.
Trước ngày lên đường, nhà vua truyền Trần Công Xán và Nguyễn
Hữu Chỉnh vào triều và nói:
- Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh đã tiến cử ngươi dẫn đầu
đoàn sứ bộ vào thương lượng đòi đất Nghệ An cho trẫm. Trẫm biết ngươi là người
trung trinh vì nước, ngươi cố vì trẫm vâng mệnh ra đi.
Trần Công Xán đáp:
- Để vua phải lo là lỗi của bề tôi. Xin bệ hạ an lòng, thần sẽ
cố làm mọi việc như bệ hạ truyền chỉ.
- Trẫm rất mừng khi nghe khanh nói như vậy. Rồi hướng về phía
Nguyễn Hữu Chỉnh, nhà vua nói: Bằng quận công hãy cùng Phan Lê Phiên bàn việc
thảo quốc thư.
Nguyễn Hữu Chỉnh đáp:
- Thần tuân chỉ.
Hai hôm sau quốc thư được dâng lên để vua ngự lãm. Bức thư viết:
“Nghệ An là đất nền móng trong cuộc trung hưng của bản triều,
cùng với Thanh Hoa, đều là quận chân tay của nhà nước, quan văn tướng võ phần
nhiều ở đó mà ra. Quân lính túc vệ cũng đều kén chọn đinh tráng ở xứ ấy mà sung
vào. Nếu như dùng người mà bỏ đất, để họ cách trở quê hương, xa lìa thân thích,
xét về nhân tình là rất trái ngược. Đức vua quý quốc trọng điều tín nghĩa, hòa
với láng giềng, chắc không vì việc nhỏ mọn nào mà không soi thấu... Nghĩ lại đức
vua quý quốc lúc mới ra Bắc, vốn lấy việc tôn phò làm nghĩa thứ nhất. Tiên đế
lúc sinh thời, từng mời ngồi trên giường, cầm tay trò chuyện. Tiếng ngọc còn
văng vẳng bên tai, vội quên sao được? Kịp đến khi tiên đế tựa ghế trối trăng mọi
việc, ân cần lo cho kẻ tiểu tử này tuổi còn trẻ nhỏ, muốn nhờ vào phúc ấm của
quý quốc để làm nơi nương tựa. Gần đây nghe tin quý quốc sai tướng ra đóng ở
Nghệ An, lòng người ngờ vực, có kẻ cho rằng đó là do bọn bề tôi ở biên giới gây
việc, không phải bản ý của quý quốc vương. Trong thư vin vào cớ mùa thu năm
ngoái bản quốc đã hứa cắt đất khao quân. Kẻ tiểu tử này mới lên ngôi, chưa được
rõ nguyên nhân việc trước, đã sai đình thần tra cứu lại cái ước cắt đất, thì là
hai châu Bố Chánh, Minh Linh chứ không liên can gì tới bỡ cõi xứ Nghệ An. Vả lại
hồi đó đã vâng lời quý quốc vương dụ rằng: “Nếu là đất đai của nhà Lê thì một tấc
cũng không lấy”. Nay nếu khao quân bằng đất thì không bằng khao quân bằng của.
Vậy xin tính số thu nhập hàng năm của đất ấy, dùng làm chi phí khao quân, rồi cứ
hàng năm đưa đến biên giới, làm thành định lệ lâu dài. Xa trông quý quốc vương
xét cho, để trọn tình hòa hảo của hai nước. Cả nước chúng tôi đều lấy làm may mắn
lắm”.
Nhà vua xem xong, ngầm khen Nguyễn Hữu Chỉnh biết lựa lời
khôn khéo rồi cho gọi Trần Công Xán vào dặn dò và giao bức thư cho mang đi.
Trước khi lên đường, Trần Công Xán bảo Nguyễn Hữu Chỉnh:
- Theo ta nghĩ, Nguyễn Huệ là người quỷ quyệt, chưa chắc đã
chịu lép mà trả đất Nghệ An cho ta. Ta phụng mệnh nhà vua nên sẽ lựa chiều mà
biện bác xem. Bằng quận công ở nhà nên cẩn thận, những nơi hiểm yếu trong hạt
Thanh Hoa, ông nên cho đóng đồn ngăn giữ, các cửa bể trấn Sơn Nam cũng nên cho
cắm cừ ở lòng sông đề phòng về mặt thủy. Như vậy nếu quân Tây Sơn ra đánh thì
đã có sự phòng bị rồi, đừng để nước đến chân hãy nhảy.
Nguyễn Hữu Chỉnh không cho lời dặn của Trần Công Xán là phải
dù Trần Công Xán trước đây là thầy học của mình, còn nói:
- Xin thầy cứ yên tâm, bất tất phải lo xa quá. Vạn nhất có việc
gì xảy ra, quân đội của triều đình cũng chẳng đến nỗi kém người. Nguyễn Huệ tuy
kiệt hiệt thật, vị tất đã làm gì nổi.
Trần Công Xán lắc đầu, tỏ ý không hài lòng rồi từ giã lên đường.
Chứng kiến cuộc chia tay giữa Trần Công Xán và Nguyễn Hữu Chỉnh,
Ngô Nho - Phó sứ trong đoàn sứ bộ đi thương thuyết cảm thấy lo ngại. Và quả
nhiên, khi đến Nghệ An, trong tiệc rượu, Võ Văn Nhậm hỏi Trần Công Xán:
- Các quan Bắc Hà như ông được độ mấy người? Vua Lê giao quyền
cho Nguyễn Hữu Chỉnh, không hiểu nghĩ thế nào? Hiện tôi đã lĩnh binh phù kéo
quân ra Bắc, trước là chém đầu Chỉnh, sau mới hỏi tội vua Lê sao lại dung nạp đứa
làm phản. Nhà vua đã không giữ nổi nước, nếu ta không lấy, kẻ khác cũng sẽ lấy,
Nghệ An chỉ là mảnh đất cỏn con, tội gì mà phải lặn lội cho mất công. Chỉ sợ
khi trở về, ông sẽ như con chim mất tổ, bay về không có cành mà đậu nữa.
Trần Công Xán nghe câu đe dọa của Võ Văn Nhậm, nét mặt thản
nhiên như không. Chỉ đến khi về nơi trú chân, mới than với Ngô Nho:
- Quân Tây Sơn hành binh thần tốc, chống nó không nổi mà đuổi
cũng không xong. Ta lo xa quả là không thừa. Trước khi đi ta đã dặn quận Bằng cẩn
thận lo phòng thủ, ông ta có vẻ chủ quan, nếu chậm chạp thì cơ hồ đến hỏng việc
mất.
Ngô Nho nói:
- Cứ lấy ý tứ mà suy thì quân Tây Sơn có ý định lấy nước ta rồi.
Năm trước Nguyễn Huệ nói tôn phù nhà Lê chẳng qua chỉ là đãi bôi, không thể lấy
nhân nghĩa mà dụ hắn ta được. Đã thế quận Bằng từ khi đắc chí, tính tình đổi hẳn,
chỉ sợ ông ta sẽ bị Võ Văn Nhậm bắt được thì không còn thể thống gì. Lúc ấy vua
ta ở hay đi cũng không rõ nữa. Chi bằng phải quyền biến may ra mới xong.
- Thế theo ông, nên quyền biến thế nào?
Ngô Nho đáp:
- Theo ý tôi, nên đổi lời lẽ quốc thư đi, bịa ra rằng vua
chúng ta mời Nguyễn Huệ ra giúp việc nước và phong cho vua ta một chỗ. Hãy cứ
chấp nhận như thế rồi dần dà sẽ mưu việc khôi phục.
Trần Công Xán lắc đầu:
- Không được. Bằng quận công theo việc binh từ lúc đầu còn để
chỏm, là tay lão luyện trong chốn trận mạc. Nếu xảy ra việc binh cách thì vị tất
ông ta đã thua ngay. Chúng ta vâng mệnh đi sứ mà tự tiện đổi lời lẽ trong quốc
thư là có tội với nước. Chi bằng cứ minh bạch mà làm, thành hay bại đều do ở trời
cả.
Hôm sau, đoàn sứ bộ vào ra mắt Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đọc
xong thư tức giận nói:
- Thư này ai viết? Toàn là điều vô nghĩa lý, ta có phải trẻ
con đâu mà dễ lừa dối được ta?
Trần Công Xán bình tĩnh:
- Xin hãy bớt giận, dù có giết chúng tôi, cũng để chúng tôi
nói một lời.
Nguyễn Huệ dịu giọng:
- Trước kia ta vượt biển ra Bắc Hà, diệt họ Trịnh, muôn người
khiếp sợ, trong triều ngoài nội thảy đều bó tay, không ai dám làm gì. Nếu lúc
đó ta cứ chiếm phăng lấy cả nước, rồi tùy ý xưng vương, xưng đế, phỏng ai dám
ngăn trở. Chỉ vì mến đức tiên đế mà ta trả nước cho vua Lê. Cơ đồ nhất thống là
công ở ta. Lúc tiên đế mất, ta lo chu toàn tang lễ. Tự quân lên ngôi cũng do ta
chủ trương. Nay đã không nhớ cái ơn ấy lại còn dung túng kẻ làm phản ta, toan
tranh đất Nghệ An với ta. Như vậy có ai nín được không? Ta đã sai Võ Văn Nhậm
mang ba vạn quân ra Thăng Long, chém đầu cha con tên Chỉnh. Trong chỗ mũi tên
hòn đạn, Tự quân lỡ có mệnh nào, dân nước lại oán ta thì phiền.
Trần Công Xán mềm mỏng nhưng kiên quyết đáp:
- Đại vương phụng mệnh vua Tây Sơn, đánh một trận đã ra đến
Thăng Long, uy danh tuy lừng lẫy nhưng vẫn phải lấy danh nghĩa tôn phù nên mói
thành công nhanh chóng như vậy. Nếu không thế thì tràn vào nước tôi sao dễ dàng
thế được. Nhà Lê làm vua đã mấy trăm năm nay, được Trời Phật phù trì, lòng người
lưu luyến, nếu đại vương mang trả nước lại cho vua Lê, chẳng qua cũng chỉ là
làm một việc hợp ý trời, thuận lòng người, sao gọi là ơn được? Tự hoàng lên
ngôi, việc gì cũng bẩm mệnh đại vương trước. Đến khi đại vương về Nam, đại
vương không cho Nguyễn Hữu Chỉnh đi theo, sao lại gọi đó là hắn làm phản? Nghệ
An là đất của bản triều tôi, chúng tôi có nghĩa vụ xin lại, gọi là tranh với đại
vương, thật không đúng nghĩa chút nào. Đại vương phái quân ra thăm nước tôi, bản
triều có nghĩa vụ phải nghênh tiếp. Nếu không thế thì nước lớn có quân đánh dẹp,
nước nhỏ có cách chống giữ. Tôi đã đi khỏi nước rồi, mọi việc không dám dự biết.
Tự hoàng lên làm vua là có số mệnh, gươm đao cũng phải lựa chọn, đại vương chớ
có lo. Đại vương cứ thuận lẽ trời mà làm cứu cho nước nguy, giúp cho người bĩ
thì thần dân ai chẳng cảm phục công đức của đại vương. Bằng không thì việc đời
biến đổi, mỗi lúc một khác, tôi đâu dám nói trước.
Kết cục, đoàn sứ bộ của triều đình nhà Lê không thành công
trong việc thuyết phục đòi lại đất Nghệ An, và thuyền của họ bị đắm trên biển.
Trong khi đó, Nguyễn Hữu Chỉnh không hay biết gì về tình hình
đoàn sứ bộ. Thậm chí, ông còn cho rằng nội bộ Tây Sơn vẫn đang rối ren, nên
không có sức đâu mà chú ý đến tình hình bên ngoài. Võ Văn Nhậm thì chơ vơ ở Nghệ
An, bên trong không có quân cứu viện, sẽ làm được gì? Thậm chí Nguyễn Huệ còn mừng
khi đọc quốc thư ấy chứ, làm gì có khả năng với tay ra Bắc Hà. Vì thế, những lời
dặn dò của Trần Công Xán trước lúc lên đường, ông đều bỏ ngoài tai. Nguyễn Hữu
Chỉnh còn sai lầm khi cho rằng, ông sẽ lấy lại được đất Nghệ An, dựng lại lũy
cũ và giữ vững bờ cõi Bắc Hà. Ông còn tỏ ra rất tin tưởng vào tài phán đoán của
mình khi dặn Nguyễn Duật:
- Vào Nghệ An lần này, ngươi chớ có sinh sự để bên địch nghi
ngờ. Đợi khi Trần Công Xán trở về, sẽ dời vào trấn thủ Nghệ An, sửa lại lũy cũ,
giữ vững bờ cõi làm chước lâu dài.
Sau khi đoàn sứ bộ lên đường vào Nghệ An, một thuộc hạ thân
tín đã kể lại cho Nguyễn Hữu Chỉnh nghe việc các quan xì xào bàn tán lo lắng,
cho rằng đoàn sứ bộ đi lần nay lành ít dữ nhiều. Nguyễn Hữu Chỉnh nghe xong cười
bảo:
- Dù Nguyễn Huệ là anh hùng hào kiệt ở miền Nam, ta cũng đâu
kém gì hắn. Hắn quỷ quyệt hơn ta nhưng ta khôn ngoan hơn hắn. Trước ta từng cộng
sự với hắn nên ngày nay hãy nhường hắn một nước cờ, đợi khi trong nước tạm yên,
ta sẽ chuyên tâm lo việc phương Nam. Lúc đó ta sẽ tập hợp binh mã, giao phong với
hắn một trận sống mái. Nay Trần Công Xán vào Nam bàn việc bờ cõi, ta biết có thể
phải nhường đất Nghệ An cho hắn nhưng như việc người xưa đã nói: “Định lấy cả
nó hãy tạm cho nó”, điều này người thường sao mà biết được.
Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh quyết định dùng lời nói ngọt, lễ vật
nhiều để yên được binh đao ngoài Bắc Hà, dành thời gian đánh chúa Trịnh rồi mới
quay sang đối đầu với Tây Sơn. Nguyễn Hữu Chỉnh đâu có ngờ các bước đi trên bàn
cờ của ông đã bị con mắt thiên nhãn của Nguyễn Huệ nhìn thấy rõ. Và đây là sai
lầm chiến lược quan trọng khiến ông thất bại.
Biết Nguyễn Hữu Chỉnh không màng tói việc phòng bị Tây Sơn,
Phan Lê Phiên không đừng được, đã phải gặp riêng Nguyễn Hữu Chỉnh. Ông nói:
- Bằng quận công, hình như ông đã quá chủ quan, chưa nhận thức
rõ thực lực của quân Tây Sơn. Theo tôi, Trần Công Xán là người già giặn việc đời,
xét đoán mọi việc rất nhanh, tính liệu như thần. Ông chớ nên xem thường lời dặn
của ông ấy.
Nguyễn Hữu Chỉnh thản nhiên nghe Phan Lê Phiên nói, không có
phản ứng gì khiến Phan Lê Phiên cảm thấy rất lo lắng. Ông than thở với Trương
Đăng Quỹ, người bạn đồng liêu:
- Bằng quận công vốn nổi tiếng là biết việc binh, ai dè lúc
này ông ta lại tỏ ra coi thường quân giặc. Tôi e là kinh đô mới qua cơn binh lửa,
khó mà có thể chịu nổi một trận tàn phá nữa. Tôi và ông là những viên quan đầu
triều, trước tình cảnh này mà can ngăn không được, đâu còn xứng đáng giữ trọng
trách này?
Trương Đăng Quỹ thở dài hồi lâu, ông cũng nhận thấy Bằng quận
công từ khi nắm quyền bính trong tay, có vẻ yên tâm, luôn kê cao gối mà ngủ,
không e dè gì quân Tây Sơn cả. Ông thấy đất nước nguy đến nơi nên khi nghe lời
tâm sự của Phan Lê Phiên, ruột rối như tơ vò. Hai người bàn định một lúc rồi
Phan Lê Phiên nói:
- Hai chúng ta mà không gắng thuyết phục nổi ông ấy, chắc đất
nước khó qua cơn binh lửa. Thôi thì cố làm được điều gì hay điều ấy. Tôi nghĩ,
công đức của tiên đế rất lớn, phải tôn xưng miếu hiệu và xin làm lễ cáo miếu mới
được.
Trong buổi chầu, khi nghe hai viên quan này đề cập đến chuyện
tôn xưng miếu hiệu, Nguyễn Hữu Chỉnh nói:
- Việc tôn xưng miếu hiệu phải chờ sau ngày đại tường rồi mới
cử hành, sao hai ngài phải vội thế?
Trong thâm tâm, Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn nghĩ, sau khi ông đánh
diệt chúa Trịnh, làm việc ấy vẫn chưa muộn, ông không hề nhận ra mối đe dọa từ
quân Tây Sơn mặc dầu trước đây ông là người thức thời với thời cuộc. Ông cho rằng
điều cần thiết trước tiên lúc này đối với triều đình là đánh chúa Trịnh và xin
nhà vua cho đem quân bản bộ tiến đánh.
Nhà vua đã có ý e ngại Nguyễn Hữu Chỉnh nhưng thế lực của
Nguyễn Hữu Chỉnh rất lớn nên đành nói:
- Trẫm nghĩ nên hiểu dụ về họa phúc đã, nếu không nghe đánh
cũng chưa muộn.
Nguyễn Hữu Chỉnh không nghe, nói:
- Chẳng lẽ hoàng thượng không nhớ việc vừa xảy ra sao? Nếu thần
không đem quân ra, Dương Trọng Tế giúp chúa Trịnh đứng vững, thử hỏi y có xử hậu
với hoàng thượng không? Anh hùng làm việc, há lại theo lòng nhân đức của đàn
bà?
Vua Lê nghe Hữu Chỉnh nói thế, bất đắc dĩ phải chấp nhận yêu
cầu đánh Trịnh. Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức đốc thúc quân qua sông, thuyền bè dày
đặc như nêm. Tin cấp báo đến tai chúa Trịnh, chúa liền sai các tướng bày thế trận
cự lại. Quân của vua và chúa đánh nhau cả ngày không phân thắng bại. Thấy vậy,
Hữu Chỉnh liền đưa tờ chiếu của vua đến dụ chúa nên quy thuận, chúa bảo:
- Hữu Chỉnh có ý muốn bắt sống ta, nuốt trôi được đã chẳng
tha nhưng không làm được, lại giở trò dụ dỗ ngon ngọt. Hắn thật quỷ quyệt. Vì hắn
mượn mệnh lệnh của hoàng thượng, ta cũng phải trả lời cho hắn biết.
Rồi chúa tự thảo một biểu trần tình, kể tội Nguyễn Hữu Chỉnh,
còn nói dân chúng đều căm giận Chỉnh và đưa ra điều kiện nếu nhà vua giết Nguyễn
Hữu Chỉnh, chúa mới đem quân về triều.
Nhận được tờ biểu của chúa, Nguyễn Hữu Chỉnh tức tối quát:
- Quân mất nước mà không biết sợ, dám khua môi múa mép với
ta. Ta thề sống chết với hắn. Các tướng phải đốc quân, trông cờ nghe trống, chỉ
có tiến không được phép lùi.
Rồi Nguyễn Hữu Chỉnh tự thân lên mình voi đốc chiến. Cánh
quân bên tả của chúa sắp vỡ, liền co cụm lại trong lũy cố thủ. Suốt nửa ngày
quân của nhà vua không thể phá vỡ thế cố thủ đó. Tối hôm ấy mưa gió dữ dội,
chúa sai hai viên tướng chia làm hai cánh đánh hai ngả, chúa đi giữa dồn quân
ra còn hai viên tướng ở lại chăn hậu. Quân của Nguyễn Hữu Chỉnh bị đánh bất ngờ,
đêm tối đen, bắn nhau loạn xạ mà không biết. Sáng ra, biết rõ sự thật thì không
thể đuổi kịp quân của chúa nữa, đành rút quân về kinh.
Trong khi đó, chúa viết một bức thư cho nhà vua, đại ý nói,
chúa sinh vào lúc lỗi thời, nhà nước lắm nạn, chỉ muốn xin nhà vua cho về triều
kiến, thờ phụng tổ tiên cho tròn đạo hiếu chứ không có bụng chuyên quyền. Do bị
chư tướng ép buộc nên đã hành động trái ý hoàng thượng. Từ khi Hữu Chỉnh về cầm
quyền ở kinh đô, chúa đã phải phiêu bạt khắp nơi, chỉ lo tìm nơi trú ngụ. Vì thế,
xin nhà vua cho được yên ổn.
Tiếp được thư của chúa, nhà vua liền sai Trương Đăng Quỹ làm
sứ thần đón chúa về triều. Khi đó, chúa lại nghe tin quận Liễn liên kết với
Nguyễn Hữu Chỉnh, sợ hãi liền đem quân chạy tới Sơn Nam. Quận Liễn biết, sợ
chúa cho mình là kẻ hai lòng vội đem quân tức tốc đuổi theo. Lúc chúa chạy đến
huyện Chân Định, Phạm Đình Thiện tiếp đón chúa đã khuyên chúa nên dùng quận Liễn.
Chúa nghe lời, sau đó quận Liễn và Phạm Đình Thiện đưa hịch đi các nơi, kêu gọi
đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉ trong vòng mươi ngày, người theo về có đến hàng vạn.
Chúa quyết định đem quân đánh Nguyễn Hữu Chỉnh, liền sai người
bí mật truyền ý chỉ cho Bùi Nhuận, viên tướng cũ của chúa. Nhuận liền tìm cách
thay quân canh giữ cửa ô nhưng con trai của Nguyễn Hữu Chỉnh là Nguyễn Hữu Du
phát hiện ra, liền sai Nguyễn Viết Tuyển ở Sơn Nam đem quân đánh chúa. Kết cục,
quân của chúa thất bại, chúa phải sống lẩn lút ở miền ven biển, rồi xuống tóc
quy y.
Sau khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc hòa giải, Nguyễn Huệ đã rảnh
tay để có thể giải quyết vấn đề Bắc Hà. Trong thâm tâm, Nguyễn Huệ đã nhận thấy
các bước đi sắp tới của Nguyễn Hữu Chỉnh. Chắc chắn, Nguyễn Hữu Chỉnh đã tính
toán chiếm lấy Nghệ An rồi dùng nơi này làm căn cứ để tiến vào phía Nam. Nguyễn
Hữu Chỉnh là một đối thủ mà trước mắt ông cần phải tìm cách triệt hạ ngay. Ông
đã từng nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh bàn, kéo quân ra Bắc, nêu cao khẩu hiệu phủ
Lê diệt Trịnh và đã thành công. Nguyễn Hữu Chỉnh quả là người có đầu óc chiến
lược, là nhà chính trị mưu lược nhưng giờ đây, vua Lê ngày càng trở nên vô vị,
thực chất không nắm quyền hành. Nếu ông không giải quyết triệt để vấn đề Bắc Hà
thì việc kéo quân ra Bắc của ông lần vừa rồi thành công cốc, không chừng tình
hình Bắc Hà sẽ chả yên ổn được nữa bởi Nguyễn Hữu Chỉnh đã có tham vọng lớn, muốn
có ý chiếm lấy cả vùng đất phía Nam. Ý đồ của Nguyễn Hữu Chỉnh là không thể chấp
nhận được. Giá mà ông ta chịu theo quân Tây Sơn, ông ta có thể trở thành người
đại diện cho Tây Sơn ở phía Bắc thì hay biết bao nhiêu. Tuy nhiên, đến lúc này,
tham vọng đã làm cho ông ta mờ mắt, không đánh giá đúng tình hình thời cuộc,
dám đối đầu với đội quân Tây Sơn được rèn luyện và có kỷ luật. Âu là cũng đến
lúc phải kết thúc việc này. Trong thâm tâm, Nguyễn Huệ thấy tiếc cho con người
tài năng này, quả thực ông ta mà chết là điều đáng tiếc, nhưng trong tình thế
hiện nay, không còn cách giải quyết nào khác. Sau khi cân nhắc kỹ, Nguyễn Huệ
trở về Phú Xuân họp đại hội các tướng và bảo:
- Chỉnh là kẻ sắp chết, ta lại vẽ mày vẽ mặt cho hắn. Hắn quyền
nghiêng thiên hạ ở Bắc Hà, không lo đền đáp ơn của ta mà còn định cắn lại, mưu
đồ giành đất Nghệ An, đặt làm một trấn quan trọng, bắt chước chúa Trịnh xâm lấn
phương Nam ngày xưa. Thằng giặc ấy thật đáng giết, không biết hắn sắp xếp được
bao nhiêu binh mã, liệu có đánh nổi với ta một trận hay không mà dám càn rỡ như
thế? Hắn tưởng ta bận lo việc phương Nam, không thể với tay ra Bắc Hà, tóm hắn
được hay sao? Ta quyết định đánh ra Bắc lần thứ hai. Tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn
Lân nghe lệnh.
Hai viên tướng liền đứng dậy chờ nghe ý chỉ của Nguyễn Huệ:
- Hai tướng hãy kéo quân ra Nghệ An hợp sức với Võ Văn Nhậm
đánh ra phía Bắc. Võ Văn Nhậm sẽ lĩnh ấn tiết chế, chỉ huy cuộc hành binh này.
Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân cấp tốc điều quân lên đường. Trong
khi tình hình diễn biến ngày một căng thẳng, Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn bình chân như
vại, không hề nhận thấy Nguyễn Huệ đang lập tâm bắt mình. Khi có người nhắc đến
trấn Nghệ An, Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ ngoài tai, thậm chí tin đồn đoàn sứ bộ đã chết
trên biển, không còn một ai, ông lại cho đó là do tin đồn nhảm của những kẻ hiếu
sự đoán mò.
Tin cấp cáo ở Thanh Hoa đưa đến, quân của Võ Văn Nhậm đang
trên đường ra Bắc, quân triều đình không chống cự nổi đã phải rút về Trinh
Giang, dân chúng trong thành đã nhốn nháo, bỏ kinh thành mà chạy, Nguyễn Hữu Chỉnh
vẫn điềm nhiên như không có chuyện gì xảy ra.
Các quan trong triều thảy đều lo sợ. Trong một buổi chầu, khi
các quan bàn cách chống giữ, Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn chủ quan khi nhận định về thời
cuộc. Ông cười bảo các quan:
- Các vị đại thần, cần phải trấn tĩnh, nếu bối rối chỉ tổ làm
lòng người dao động. Chức trách của Duật là giữ đất Thanh Hoa, Duật là một tướng
giỏi, Võ Văn Nhậm không thể dễ dàng nuốt sống được y. Vả lại, sông Thanh Quyết,
sông Trinh Giang đều sâu, nước lạnh, dù thiên binh vạn mã cũng chưa dễ đã vượt
qua yên ổn. Việc đánh hay giữ, đã có định cục, làm gì mà các ngài cuống quít
lên thế?
Nguyễn Đình Giản cau mày cao giọng:
- Thanh Hóa là đất “thang mộc”, lăng tẩm mấy triều đều ở đấy.
Nay cả vùng Tĩnh Gia đã bị quân Tây Sơn chiếm mất, xã tắc nguy nan như trứng để
đầu đẳng, ông là quan đầu triều, binh quyền trong tay, định thế nào, thử nói rõ
ràng xem để chúng tôi đem hết ý kiến nông cạn mà cùng ông lo việc. Việc nước
đâu phải chuyện riêng một nhà, sao không nói cho mọi người đều biết? Nếu không
lo liệu sớm thì thử hỏi một mình ông có trụ được không?
Các quan đều xôn xao, cho lời nói của Nguyễn Đình Giản là
đúng nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn một mực cho rằng các quan đã quá lo xa, tình thế
chưa có gì đáng ngại. Các quan đều nhất mực đưa ra ý kiến cần gấp rút đề phòng,
chuẩn bị sẵn quân đội và phân tích, việc đoàn sứ bộ không trở về và Võ Văn Nhậm
đã tiến vào Thanh Hoa cho thấy, tình hình không đơn giản như Nguyễn Hữu Chỉnh
nghĩ. Ý kiến và sự phản ứng quyết liệt của các quan khiến Nguyễn Hữu Chỉnh đột
nhiên lờ mờ cảm thấy mọi việc có vẻ đã không ổn. Thêm nữa, khi Phan Lê Phiên, một
vị đại thần có uy tín trong triều lên tiếng:
- Không cần nói nhiều. Quân giặc đến chỉ có đánh mà thôi. Bằng
quận công thấy ai có thể làm tướng thì tâu xin hoàng thượng chuẩn y, tòa Xu mật
sẽ cấp binh bài, tòa Độ chi sẽ cấp lương thực. Ngày mai tức tốc lên đường,
không chậm trễ!
Nguyễn Hữu Chỉnh liền gật đầu:
- Ý tôi cũng như ông vậy.
Rồi quay sang nhà vua, Nguyễn Hữu Chỉnh tâu:
- Xin hoàng thượng chuẩn y cho Nguyễn Như Thái làm thống
lĩnh, Ninh Tốn làm tham tán quân vụ, đem quân hợp với quân của Duật để chống đỡ
ở Thanh Hoa.
Cuộc họp bàn của các đại thần trong triều lại chậm một bước.
Lúc này quân của Nguyễn Duật đã bị quân Tây Sơn do Ngô Văn Sở chỉ huy lẻn qua
sông Tất Mã, đánh úp phía sau. Nguyễn Duật sợ hãi đem quân rút chạy, chạy cả
đêm tới Cao Lũng, mệt phờ người lại nhận được tin thám báo, quân của Ngô Văn Sở
đã ở đó rồi. Nguyễn Duật giật mình, cố thu gom tàn quân để chống đỡ nhưng không
nổi và đã chết tại trận.
Trong khi đó, Nguyễn Như Thái nghe tin quân của Nguyễn Duật
thất bại thảm hại, Nguyễn Duật đã chết trận, liền bàn với Ninh Tốn:
- Tam Điệp là nơi hiểm yếu, phải tiến đến giữ lấy. Như vậy về
phía Bắc vẫn là của mình. Nếu Tam Điệp mất, tôi e ở lộ Sơn Nam khó giao tranh với
giặc.
Ninh Tốn gật đầu, cùng bàn định kế hoạch ngăn chặn quân Tây
Sơn. Nguyễn Như Thái lập tức cất quân nhưng vừa qua sông đã nghe tin quân Tây
Sơn vượt núi Tam Điệp rồi. Nguyễn Như Thái lo lắng nhưng đành đem quân bày trận
để chặn quân Tây Sơn. Quân của Nguyễn Như Thái bị quân của Tây Sơn chia làm hai
ngả đánh kẹp vào, Nguyễn Như Thái đành lên ngựa chạy trốn. Quân của Ninh Tốn
cũng bị đánh tan tác, Ninh Tốn do trốn được vào một nhà dân nên mới thoát nạn.
Quân của Võ Văn Nhậm thừa thế tiến đánh. Nguyễn Hữu Chỉnh
nghe tin cấp cáo vội cho gọi con trai đến, nói rõ tình hình và quyết định hai
cha con ông phải nương vào nhau, hợp sức chống chọi. Nguyễn Hữu Du thưa:
- Xin cha yên lòng, con sẽ cầm quân đi trước, lấy đầu Võ Văn
Nhậm về.
Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức vào triều tâu với vua xin thân chinh
cầm quân.Vua Lê Chiêu Thống lo lắng nói:
- Trận đánh này quan hệ đến sự an nguy của đất nước. Chớ
khinh thường giặc, mau đưa tin thắng trận để yên lòng trẫm.
Nguyễn Hữu Chỉnh tâu:
- Thần đã rõ tình hình giặc, Võ Văn Nhậm thật ra là một kẻ hữu
dũng vô mưu, ngày thường hắn vẫn sợ thần, nay thần thân chinh cầm quân, chắc hắn
không dám chống chọi. Thần sẽ lấy khí thế mà đè nén, không cần đánh cũng thắng.
Xin hoàng thượng chớ lo.
Câu nói chắc như đinh đóng cột của Nguyễn Hữu Chỉnh phần nào
làm an lòng nhà vua. Vua Lê Chiêu Thống thân tiễn Nguyễn Hữu Chỉnh xuống thềm,
lại sai các quan tiễn đội quân của Nguyễn Hữu Chỉnh ra ngoài kinh thành.
Con của Nguyễn Hữu Chỉnh là Nguyễn Hữu Du theo lời cha đem
quân ra sông Thanh Quyết (khúc sông Đáy thuộc Ninh Bình), đắp lũy đất dọc sông,
dựng đồn cố thủ. Ban đêm, do quân của Nguyễn Hữu Du lạnh quá phải đốt lửa sưởi
nên quân của Võ Văn Nhậm nhìn thấy rất rõ. Võ Văn Nhậm bèn cho quân bắn vào những
chỗ có đám lửa, quân của Nguyễn Hữu Du hoảng sợ, tự tan vỡ. Số quân mười phần
chỉ còn hai ba. Nguyễn Hữu Du lo lắng phải rút quân, vừa rút vừa có ý chờ hội với
quân của Nguyễn Hữu Chỉnh.
Tương truyền, khi Nguyễn Hữu Chỉnh tới trạm Bình Vọng, đêm đó
ông ngồi một mình, trầm ngâm suy nghĩ về thế cuộc. Không hiểu vì sao trong giờ
phút này, ông lại nhớ khi xưa, ông đã làm những vần thơ bất đắc chí khi lận đận
trên đường công danh:
Phận đành yên phận chửa yên thân
Vàng bạc còn chen đám bụi trần
Trong hãy trả ơn bề cốt nhục
Ngoài càng luống tưởng đạo quân thần
Mình ta đã nghĩ ta vô lụy
Dạ chúng nên hiềm nỗi bất nhân
Ấy bởi vụng sinh hay lỗi số
Máy thiêng khôn xiết mặc xoay vần
Đã hẳn ai là mặt cố tri
Giàu sang tìm đến khó tìm đi
Bạc đen dạ chúng ta hay vậy
Vàng đá lòng ta, chúng biết gì
Có phận ra người nên giữ phận
Lỗi thì là đứa phải theo thì
May ai nấy gặp chăng mà chớ
Lỡ bước lầm chân ấy cũng vì.
Trong sự cô đơn, ông đã tự bói một quẻ. Lời đoán của quẻ này
thật xấu khiến ông lần đầu tiên sợ nổi da gà. Quẻ thẻ có câu: Nước có giặc lớn,
nguyên nhung thua trận. Hữu Chỉnh đang lo sợ bối rối thì bất ngờ có một đàn ong
rừng không biết ở đâu đến cứ nhằm ông mà đốt. Nguyễn Hữu Chỉnh thất sắc, xem đó
là điềm gở. Đang hoang mang thì đám quân bại trận của Nguyễn Hữu Du chạy về. Du
nhớn nhác:
- Quân ta đã vỡ, giặc đuổi sắp đến nơi rồi.
Nghe câu nói này, Nguyễn Hữu Chỉnh vốn là người bình tĩnh bỗng
nhiên mặt mày thất sắc, ông không thể hiểu nổi vì sao tình hình lại trở nên bi
đát như vậy. Trong quân nhốn nháo, các tướng hốt hoảng cho rằng không thể giao
tranh với quân Tây Sơn ngay trong lúc này. Một viên tướng bàn:
- Nay thế quân Tây Sơn mạnh như chẻ tre, đi lại nhanh như chớp.
Từ đây đến kinh thành chả mấy nỗi. Chi bằng rút quân về lui giữ đất Kinh Bắc,
chặn ngang sông Nhĩ Hà rồi sau sẽ tính nước tiến lui.
Nguyễn Hữu Chỉnh nghe lời bàn, biết không thể còn cách nào
khác, ông phái Nguyễn Khuê vào điện tâu với vua để ngày mai, xa giá sang Kinh Bắc
còn ông về thẳng phủ, sai gia nhân thu xếp và hộ vệ gia đình sang sông trước.
Một lát sau, nhà vua lật đật đến dinh của Nguyễn Hữu Chỉnh,
thấy Nguyễn Hữu Chỉnh đang sai gia nhân dọn dẹp, vua thất vọng hỏi:
- Sự thể đã đến thế này thì phải làm thế nào đây?
Nguyễn Hữu Chỉnh ngượng ngập nhìn nhà vua, đau khổ tâu:
- Thần không xứng đáng với chức trách bệ hạ giao phó, tội ấy
không thế tha thứ. Giờ hai mặt kinh sư không còn gì để nương tựa, chống đỡ,
thành lũy chưa có, quân giặc đến không có gì ngăn cản, đánh chắc không được mà
giữ cũng không xong. Theo thiển ý của thần, bệ hạ nên xa giá sang phương Bắc để
tính kế sau này. Chắc chắn quân giặc từ xa đến mệt nhọc, lại bị sông lớn ngăn
trở, không dám đuổi theo. Trong vòng mươi ngày, ta có thời gian chuẩn bị, sẽ có
cơ hội tốt để khôi phục. Xin bệ hạ gấp cho, thần sẽ đợi ở bến sông.
Dứt lời, Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức ra đi, nhà vua cũng vội về
cung thu xếp để chạy. Chỉ có thái hậu và con nhỏ của nhà vua được ngồi trên
cáng tre còn tất cả phi tần đều đi bộ. Đồ đạc hầu như đều bỏ lại hết, thậm chí
nhiều thứ quý báu còn rơi vãi dọc đường nhưng ai nấy đâu còn tâm trí để nhặt nữa.
Suốt dọc đường, dân chúng dắt díu nhau chạy loạn, cảnh tượng thật hỗn độn. Đến
bến sông, mạnh ai nấy sang, thả sức giẫm đạp lên nhau. Tiếng than khóc, gọi
nhau ý ới vang động. Quang cảnh thật hỗn độn, thảm thương.
Nguyễn Hữu Chỉnh cùng các quan theo xa giá chạy loạn, ai nấy
đều sấp sấp ngửa ngửa, bộ dạng thật thiểu não. Chập tối đến trấn Kinh Bắc, Nguyễn
Hữu Chỉnh cho kiểm điểm lại số quân, thấy lính hao hụt đến quá nửa, phần lớn họ
đã bỏ trốn về lo cho gia đình, số lính còn lại chỉ khoảng hơn bốn trăm người với
hơn sáu mươi con ngựa. Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức chấn chỉnh đội ngũ, đem quân đi
trước qua sông Như Nguyệt, đến đóng đồn ở núi Tam Tằng, Hà Bắc, đốc thúc lính cắm
rào, đắp lũy rồi sai người hộ vệ xa giá.
Đêm ấy, dù trong cơn bĩ cực, phải lo toan chống trả nhưng khi
thành lũy dựng xong, nghĩ lại số lính chỉ vẻn vẹn hơn bốn trăm người, ông buồn
bã mà nhận ra trò đùa tai ác của số phận. Ông là một viên tướng chỉ huy nhưng
thực ra cũng chi như con bài trên bàn cờ của tạo hóa:
Vô duyên, trái kiếp, thiệt hòa hai,
Chẳng biết là ai giống máu ai?
Những tưởng trên thời đà suốt dưới,
Nào hay trong lại phải thua ngoài.
Nghĩ nguồn cơn nọ, gan dầm muối,
Thấy khúc nôi này, thịt sởn gai!
Khen kẻ đặt lời, sao khéo xiết,
Rằng thân người chằng khác con bài!
Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân đi trước lập phòng lũy, nhà vua
không thể sang sông bởi lúc này, ai cũng lo sợ, chỉ muốn thoát thân. Viên quan
trấn thủ nơi này là Nguyễn Cảnh Thước tâu:
- Xin bệ hạ ban cho ít vàng lụa để thuê thuyền qua sông, giờ
không kẻ nào biết trên dưới là gì nửa rồi. Nếu chậm trễ, thần e đến mai cũng
không qua được sông.
Vua Lê Chiêu Thống buồn bã than:
- Ta có cả thiên hạ còn không giữ nổi, tiếc gì mấy thứ lụa là
vàng bạc đó.
Vua liền sai người mở hòm cho Cảnh Thước xem, trong đó chỉ có
ấn truyền quốc và bốn mươi lạng vàng. Thước tham lam lấy hết tất cả rồi mới gọi
thuyền chở vua sang sông. Nhà vua lâm vào tình cảnh khốn khó, nhục nhã, phẫn uất
ứa nước mắt rồi quyết định cùng thái hậu và các phi tần chạy lên Cao Bằng nương
náu.
Quân của Võ Văn Nhậm do tướng Nguyễn Văn Hòa cầm đầu đuổi kịp
Nguyễn Hữu Chỉnh. Hai bên đánh nhau ở núi Tam Tằng. Nguyễn Hữu Du cố chống đỡ,
múa đao giết vài chục lính Tây Sơn nhưng cánh quân kỵ binh của Tây Sơn bất thần
từ phía sau đánh ập đến. Quân của Nguyễn Hữu Chỉnh rối loạn, thế trận bị vỡ.
Nguyễn Hữu Du kêu lớn: “Cha chạy đi, để con chặn giặc”, rồi cố tìm cách thu hút
sự chú ý về phía mình. Một lát sau, Nguyễn Hữu Du bị đám lính quây lại bao vây,
chết ngay tại trận. Nguyễn Hữu Chỉnh thấy tình thế không thể đảo ngược, lại
nghe rõ tiếng giục của con trai, liền nhảy ngay lên ngựa, nhằm hướng Bắc mà
phóng như bay. Tuy nhiên, sự may mắn đã rời bỏ ông, ông bị quân Tây Sơn dùng
giáo ngáng chân ngựa. Ông lập tức ngã vập xuống đất và bị bắt sống, bị trói chặt
và đưa về kinh.
Trên đường bị trói giải về kinh, dầu là một người quyền biến,
ông hiểu rõ vào lúc này, ông không thể làm bất kỳ điều gì để thay đổi tình thế
được nữa. Thân phận của ông giờ đây không khác gì hùm thiêng sa cơ, nhìn thấy
rõ cái kết cục đen tối đang chờ đợi mình. Không hiểu sao ở vào hoàn cảnh bi đát
thế này, cuộc đời lại như một cuốn phim quay nhanh hiện về trong đầu ông.
Dù nhìn nhận khiêm nhường đến đâu, ông vẫn là người có tài cả
văn lẫn võ. Công danh mà ông đạt được là do vì tài mà được trọng dụng, một điều
không dễ dàng trong thời buổi nhiễu nhương. Và điều khiến ông khác hẳn những
người khác là ông biết lựa thế mà tiến, quyền biến, linh hoạt. Nếu không có vụ
biến loạn 1782, kiêu binh nổi lên tiến hành đảo chính phế Trịnh Cán, lập Trịnh
Tông, quận Huy vì thế mà bị kiêu binh giết thì cuộc đời ông đâu có bước ngoặt
như thế?
Ông vốn là người thân tín của quận Huy, khi quận Huy bị diệt,
triều đình Bắc Hà ở trong tay địch thủ, sớm muộn ông cũng không tránh khỏi kết
cục bi thảm. Trong thế cùng đó, ông đã phải suy tính đến hai con đường: một là
liên kết với phó tướng Thuận Hóa giết Phạm Ngô Cầu, chẹn đường Hoàng Mai, đóng
cửa Quỳnh Lưu, rồi tùy cơ mà xoay xở; hai là phải bỏ nước mà tìm chốn dung
thân. Không còn đường sống ở Bắc Hà, muốn đứng một mình ở Nghệ An không được,
tình thế buộc ông phải lựa chọn con đường thứ hai. Đó là thế cùng, nhưng thử hỏi
liệu có ai rơi vào hoàn cảnh như ông mà đảo ngược được tình thế không? Dầu sao
đi nữa, ông đã có con mắt hơn đời.
Việc ông bị dư luận đương thời phê phán là nhị tâm, hai lòng,
trước thì phản bội nhà Lê, giúp Tây Sơn, sau lại hai lòng với Tây Sơn chiếm đất
Nghệ An, khi Tây Sơn không nhìn nhận, người Nghệ An không dong mới quay về với
hoàng thượng thì sao? Ông chua chát nhận ra rằng, tài năng chưa đủ để thực hiện
những ước muốn và toan tính của ông trong thời buổi loạn lạc này. Thử hỏi, một
người muốn thi thố và lập công danh trong một xã hội đảo điên, các thế lực
tranh giành quyền hành như thế, muốn đạt được mục đích của mình mà không quyền
biến thì sao có thể thành công?
Ông phụ nhà Lê ư? Triều đình ấy thực chất chi là bù nhìn, đâu
đáng để ông tâm phục tin theo? Ông phản nhà Trịnh ư? Chúa Trịnh đâu còn có uy
danh như các vị chúa tiền liệt trước đây, đã bị đám kiêu binh nổi lên, tự sắp đặt
mọi việc triều chính. Vị chúa ấy đâu phải là hình ảnh một minh chủ để ông thờ?
Còn nhà Tây Sơn thì sao? Không lẽ việc làm của ông lại chẳng
mang lại điều gì hay sao? Chính ông đã đưa ra ngọn cờ “phù Lê diệt Trịnh”, khiến
việc đem quân ra Bắc Hà của Nguyễn Huệ chẳng những xóa đi được dị nghị mà còn
trở thành một nghĩa lớn của người anh hùng. Ông tuy không phải là động cơ duy
nhất thúc đẩy Tây Sơn ra Bắc nhưng lý luận đích đáng của ông đã đóng vai trò hết
sức trọng yếu trong việc thuyết phục Nguyễn Huệ quyết định Bắc tiến, tiếp sức
làm đổ vỡ cái thế phân tranh cũ kéo dài hơn hai trăm năm, mở mang thống nhất
sơn hà. Như vậy đâu có thể chỉ quy kết ông phản nhà Tây Sơn?
Có chăng - ông chua chát nghĩ thầm - trời đã phú cho ông mưu
lược tài trí hơn người nhưng lại giễu cợt ông khi không tạo thiên thời cho ông.
Vậy ông phải làm gì trong tình cảnh này? Liệu có thể tìm ra lối thoát bằng cách
thuyết phục Võ Văn Nhậm rồi sẽ liệu bề tính sau không?
Tuy nhiên, mọi toan tính của ông không như ý trời. Giờ đây
đâu còn là thời kỳ ông có thể dùng lời nói khôn ngoan của mình để bao biện, che
chắn nhằm tìm ra lối thoát hữu hiệu nữa. Võ Văn Nhậm vốn ghét giọng lưỡi biện
bác khôn ngoan của Nguyễn Hữu Chỉnh, mới gặp ông đã phủ đầu:
- Vốn là tôi chúa Trịnh, lại phản chủ theo về với Tây Sơn, được
Tây Sơn dung nạp, lại tìm cách phản Tây Sơn ra Bắc, đã thế còn lừa dối vua Lê,
chiếm ngôi, đoạt quyền, không rõ thân phận lại còn có ý tranh đoạt với chủ tướng
của ta, thử hỏi còn gì đáng nói. Phải phanh gan ruột ngươi ra để làm răn cho những
kẻ phản loạn mới đáng.
Nguyễn Hữu Chỉnh nghe Võ Văn Nhậm nói chỉ im lặng. Thế là hết.
Chim Bằng đã gãy cánh, hỏi còn có cơ hội nào không? Lúc này đây, ông không thể
biện minh gì cho mình. Phải chăng suốt cuộc đời ông đã khao khát muốn thoát ra
ngoài mọi sự ràng buộc của những tiêu chí thông thường, muốn hành động với khát
vọng tìm kiếm mọi con đường giải phóng năng lực và tham vọng của mình - con người
tự do nhưng không thể vì trời đã không ủng hộ ông?
Vào giây phút cuối đời, ông chợt có một mong muốn người đời sẽ
khách quan khi nhìn nhận ông - một con người mà khi sống đã phải đứng dưới chân
cột đèn không được sáng.
Trong khi Võ Văn Nhậm liên tục sỉ mắng thì Nguyễn Hữu Chỉnh lại
tỏ ra bình thản dửng dưng. Chỉ đến khi Võ Văn Nhậm quát hỏi:
- Hãy nói thực xem, vì sao ngươi dám chống đối với chủ tướng
của ta?
Ông tặc lưỡi đáp:
- Việc tất phải thế, há không biết hay sao mà còn hỏi.
Kết cục, ông bị phanh thây, thả cho chó ăn thịt. Theo tài liệu
của các giáo sĩ, Nguyễn Hữu Chỉnh bị bêu đầu ngày 15 tháng 1 năm 1788, tức là
tháng chạp năm Đinh Mùi (vì năm Mậu Thân chỉ bắt đầu từ ngày 7 tháng 2 năm
1788), thọ 47 tuổi.
Lê Quý Dật Sử chép rằng đến tháng 3 năm 1788, Nguyễn Huệ
nghe tin Võ Văn Nhậm đã giết Nguyễn Hữu Chỉnh liền làm thơ tỏ ý tiếc tài trí của
ông:
Gạo Phục Ba khéo chất hình non,
Đường Thục đạo rõ bầy nơi hiểm dễ,
Dây Nhược thủy hay dò đáy nước,
Sông Nhị Hà tỏ mạch chốn sâu nông.
Sau khi Nguyễn Huệ lên ngôi, tiếc Nguyễn Hữu Chỉnh là người
có có công mở nước, ông đã cấp cho vợ con Nguyễn Hữu Chỉnh 30 lính hầu, 30 mẫu
ruộng làm sản nghiệp đời đời.
PHỤ LỤC
hịch đánh trịnh
Bài hịch này tương truyền của Nguyễn Hữu Chỉnh thay mặt Nguyễn
Huệ soạn ra, có một nhận xét về tác giả bài hịch như sau: “...nhưng dù vua
Quang Trung không làm toàn bộ thì chắc cũng phải tham gia hiệu đính tu sửa rất
nhiều vì bài hịch chính thức đứng tên ông, mà vua Quang Trung vốn là người sính
chữ Nôm và cũng có học vấn, lại là người thích tự tay làm mọi việc. Đọc đoạn
thơ Nôm của vua Quang Trung “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng, đánh
cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri
Nam quốc anh hùng chi hữu chủ...” chúng ta thấy giọng điệu khí phách không khác
gì bài hịch, nên bảo rằng Nguyễn Hữu Chỉnh làm toàn bộ là không có cơ sở”.
Sinh dân phải nuôi dân làm trước, vậy hoàng thiên dựng đất
quân sư
Gặp loạn đành dẹp loạn mới xong, ấy vương giả có phen binh
cách
Hội thuận ứng thế đừng được chửa
Việc chinh tru lòng há muốn ru
Ta đây: Bẩm khí trời Nam
Vốn dòng họ Nguyễn
Nhờ lộc nước phải lo việc nước, đòi phen Trương tử giả ơn Hàn
Ăn cơm vua nên nhớ nghĩa vua, chi để Tào man nhòm vạc Hán
Giận quốc phó ra lòng bội thượng
Nên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương
Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp
ghé
Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng nhân sa chốn lầm than
Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân
Ắt đấu cũ lại cơ đồ Hoa Hạ
Nào biết ngôi trời có bảy, giặc họ Trương toan biến phiếm mười
phần
Bỗng xui thế nước tranh ba, tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước
Thế bạng duật đương còn đối mặt
Thói kình lang sao khéo lắng tai
Ngoài mượn lời cứu viện làm danh, dân kinh loạn cử binh điếu
phạt
Trong mấy chữ thừa nguy để dạ, chốn thừa bình nên nỗi lưu ly
Cung đền thành quách phá lâng lâng
Súng ống thuyền bè thu thảy thảy
Cơn gấp khúc chẳng thương dòng ngoại tộc, đã cùng đường đuổi
thú thời thôi
Dấu cưỡi rồng còn nhớ đấng tiên quân, lại khoét lỗ bừa sâu
sao nỡ
So chữ bạo lửa nồng quá Hạng
Dò lòng người nước chảy về Lưu
Chúng cùng đường cờ nghĩa đem về đầu, nên quân số mỗi ngày một
thịnh
Dân cơ cận cảm lòng nhân ngóng cổ, khiến binh uy càng thấm
càng thêm
Quảng Nam đà quét sạch bụi trần
Thuận Hóa lại đem về bờ cõi
Nam một dải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần
Bắc mấy thành tin nhạn chưa yên, bè cứu viện ngồi trông sao
tiện
Cảm công đức vua Lê dám phụ
Lộng quyền hành họ Trịnh khó nghe
Ngôi hoàng đế đặt không, há nước thấp lao lung thấy đặng
Tội Hoàng Sào chẳng có, lòng trinh thêu dệt vào bình
Hiệu Đoan Vương càng tỏ dạ vô quân
Mưu soán đoạt nên lòng bội phụ
Trưởng cung vốn xưa nay là đích, quyền cha trót bội bạc sao
đành
Điện Đô tuy bé nhỏ nhưng anh, mệnh cha rắp tranh khi sao phải
Tai chẳng đoái đến lời cố mệnh
Mặt nào trông vào chốn tử cung
Khiến một đàn con trẻ đàn bà, đem chữ hiếu nỡ gieo xuống đất
Để những kẻ tôi ngay người thẳng, tiếng kêu oan đã động đến
trời
Chí tôn phù ví chẳng mưu mình, thì sắc lệnh ngân tiền nào đợi
nó
Gươm ngược cán còn đem xuống dưới, nghĩa lý nào trời đất còn
dong
Lưới đứt giềng quân đuổi được quan, ấy sự ấy xưa nay cũng lạ
Vì phế lập muốn mình cho ích
Để khuynh nguy làm nước phải lo
Vả bấy nay thần nịnh chúa hôn, mở bình trị lòng trời hẳn muốn
Lại gặp hội binh kiêu dân oán, sửa mối giềng tài cả phải ra
Chước vạn toàn đã tạc đá Hoành Sơn
Binh tức khắc giương buồm Bắc Hải
Qua sông Mạnh phất cờ Chu Võ, ra tay sử chính dẹp tà
Vào đất Quan thét ngựa Hán Hoàng, quyết chí lấy nhân đổi bạo
Sắp sửa vắn nguyên lòng thật
Giữ gìn phải ngỏ lời ngay
Chữ hướng minh phải mượn ai suy, thương sĩ nữ huyền hoàng là
thế
Máy trợ thuận hẳn nhiều kẻ biết,... nữa ta
Ai biết suy lẽ phải, quyết một lòng hạ chúng hề tô
Ta chẳng phụ dân lành, ắt hai chữ thu hào vô phạm
Thói bội phản chớ quen như trước
Chút thái bình còn để dài lâu
Nước triều đông ví chẳng thuận dòng, lại cự cưỡng rắp giơ tay
chắn
Lửa cháy đá vỡ hòa lầm ngọc, dù hiền ngu khôn lọt lưới trời
Ân với uy ngỏ cáo lời hằng
Thuận hay nghịch mặc lòng ai quyết.
MỘT SỐ BÀI THƠ
văn của nguyễn hữu chỉnh
Tóc chen hai thứ chùa danh chi
Thân hỡi là thân thì hỡi thì
Chưa trả chưa đền ân đệ tử
Thêm ngừng thêm tủi chí nam nhi
Kẻ yêu nên ít bề cao hạ
Người ghét càng nhiều tiếng thị phi
Tay bé khôn bưng vừa miệng thế
Giãi lòng ngay thẳng cậy tiên tri
Cửa sổ buồn xem ngựa trắng qua
Vừa khôn thì lại thấy vừa già
Trước đã cậy lòng con cái
Sau còn nhớ đức mẹ cha
Giàu ở làng sang ở nước
No nên bụt đói nên ma
Sắc không chữ ấy âu vàng thếp
Nghĩ lại thì là bẵng cái hoa
Phận đành yên phận chửa yên thân
Vàng bạc còn chen đám tục trần
Trong hãy trả ơn bề cốt nhục
Ngoài còn luống tưởng đạo quân thần
Mình ta đã nghĩ ta vô lụy
Dạ chúng đà hiềm chúng bất nhân
Ấy bởi vụng sinh hay lỗi số
Máy thiêng khôn biết mặc xoay vần
Đã hẳn nào là mặt cố tri
Giàu sang tìm đến khó tìm đi
Bạc đen dạ chúng ta hay vậy
Vàng đá lòng ta chúng biết chi
Có phận ra người nên giữ phận
Lỗi thì là đứa vụng tùy thì
May ai nấy gặp chăng mà chớ
Lỡ bước lầm chân cũng vậy vì
Thiệt chăng một đứa dại trân trân
Tài đức thua bên cả thánh thần
Cá nọ mèo tha đầy kẻ đuổi
Lợn kia hùm bắt mấy người ngăn
Tham sinh cho kiệm lòng ưu quốc
Úy tử nên nhiều dạ ái thân
Chữ phú mới hay đè chữ quý
Chửa tin thì hãy nhắc đồng cân
TRƯƠNG LƯƠNG HẦU PHÚ
Trương Lưu Hầu! Trương Lưu Hầu!
Ngao cực gây thiêng,
Hồ tinh cấu sáng.
Vằng vặc mi thanh mục tú, kỳ sĩ phong tư;
Nhơn nhơn thức viễn tài cao, danh nho khí tượng.
Y bát theo một mối cầm thư;
Chung đỉnh dõi năm đời khanh tướng.
Trời đất thuở cát vàng, bụi tía, áng công danh không uốn lưỡi
Nghi, Tần;
Nước nhà khi bể biếc, dâu xanh, mưu báo phục há kém tay Kha,
Nhượng.
Rải ngàn vàng tỉm khách thiếu niên,
Nâng chiếc dép tôn người lão trượng.
Bác Lãng một chùy tiết nghĩa, trợt vẩy Tổ Long;
Trần Lưu ba quyến lược thao, mở lòng đình trưởng.
Ngôi đế sư này chốn phúc tâm,
Việc trù sách vận trong duy trướng.
Bóng cờ phất thập thò trên đỉnh Khoái, sơn ha trăm hai lẻ, một
khắc hóa tan tành;
Tiếng tiêu đưa rủ rỉ trốn thành Cai, tử đệ tám nghìn dư, nửa
đêm xuôi khảng tảng
Việc năm năm đưa tấc lưỡi còn thừa,
Cơ nghìn dặm quyết trong màn một nhoáng.
Cung Tần rót một liều thuốc đắng, bệnh phú ông tỉnh lại lúc
tê mê;
Cửa Hồng khuyên ba chén rượu nồng, hồn quy phụ xiêu về cơn chếnh
choáng.
Cho dượng Phàn ương mắt tại quân trung;
Dìu ông Bái rảo chân về Bá Thượng,
Áo gấm ví von xui miệng trẻ, giục Trùng Đồng xót dạ lại cồn cồn;
Chén châu giả mẽ ghẹo gan già, làm Ngu Lão tức mình gieo choảng
choảng.
Bao Quận tiễn đưa xe ngựa Hán, dập dìu xui đốt nẻo về đông;
Huỳnh Dương lẩn quẩn nước non Hàn, rong ruổi rắp gây nền thụ
đang.
Đổ mồ hôi nghe lời khách vừa xong;
Sa nước mắt nghĩ việc nhà lai láng,
Chí ngùi ngùi khôn chiếm đất trung nguyên;
Long ngài ngại phải chăng miền tây hướng.
Ý nhiệm bán gươm ba thứ, lòng quốc sĩ như soi;
Mưu sâu vạch đũa tam điều, mặt hủ nho mới hoảng.
Việc quyên Quan chia Tín, Bố dương quyền;
Chước hoãn chiến máy Tề, Lương phản trạng.
Gương trung nghĩa treo tranh Tề Cảnh,
Kỳ tướng quân khi gấp khúc phải liều;
Máy hiểm thâm đánh mái sơn cương, Phàn tráng sĩ lúc nguy nghi
phải gượng.
Bài gián Sở giục chàng Nhụ Tử, tuốt xương, bẻ cánh chước càng
ghê;
Việc vương Tề chiều kẻ vương tôn, bấm gót, rỉ tai lời phải
khoảng
Lừa Vũ đưa một bức khiêm cung,
Ngăn Sở giục ba người cưu tráng.
Hồng Câu thuở chia sông một giải, nuôi hùm vào lòng mảy tiêm
cừu.
Cố Lăng khi cắt đất hai phân, đuổi khỉ những êm bài ngự tướng.
Ngắm thiên văn hay phá Sở cơ mầu;
Xem địa lý biết hưng Lưu khí vượng.
Đứa điền phu trỏ vời miền trạch tả, ai hay chăng ấy chước cao
thâm;
Thuyền trưởng ông dòng đợi bến Ô Giang, ai biết chẳng là mưu
liệu lượng.
Lũ trăm Tham nào đọ sức kinh luân,
Trong tam kiệt dễ so công chiến xướng.
Phấp phới lá cờ trước gió, huân lao sá kế thứ Phàn, Đằng;
Vẫy vùng cán việt lên đàn, công tích không so phường Giang,
Quán.
Đế sư cao một bậc, trọng đức tôn danh,
Hầu tước hậu ba muôn, luận công hành thưởng,
Đường báo quốc nhờ lưng Xích Đế, tiệc Nam Cung đà vẹn tiếng
vin rồng;
Chước bảo thân mượn dấu Hoàng Công, miền Bắc Thành tìm nơi ấp
phượng.
Giá đã cao, nên dùng đỉnh công hầu;
Mình được nhẹ, nên tiêu dao ngày tháng.
Rỡ rỡ thư son khoán sắt, lời Nãi Ông dù trỏ núi thề sông;
Thênh thênh non đá am thông, thuyền tiên tử đã quen mây mến
ráng.
Trót phải duyên cùng họ Hán mà theo;
Nên làm dấu lấy chữ Lưu kẻo đãng.
Đạo ấy, sá bàn chân với ngụy, đấng cao minh chi vướng sự hữu
vô;
Lòng này, ai biết Hán hay Hàn, phải biện bạch kẻo thẹn cùng
phủ ngưỡng.
Trần hiêu chẳng bận ấy thần tiên;
Thanh tĩnh góp dần nên đạo dưỡng.
Ngao ngán chè thông, rượu cúc, lọ chắt chiu hồ ngọc đầy vơi;
Thảnh thơi quạt gió, đèn trăng, mảy hiu hắt đan sa nấu nướng.
Bầu tiên, chén thánh mặc khề khà;
Khóa lợi, giàm danh nào dính dáng.
Tưởng lại lúc hươu lồng, khỉ tắm, dã trống Hàm Quan, lại chùy
Cửu Lý, giận anh hùng từ đấy sạch lâng lâng;
Trông về khi trâu mỏi, ngựa già, kìa xe Vân Mộng, nọ án Thượng
Lâm, lòng du tử ngẫm thay cười sang sảng.
Hà, Tham vị thứ, bọt nước lênh đênh;
Tín, Việt công danh, áng mây thấp thoáng.
Thua được thừa điều Hán, Sở, túi Xích Tùng đủng đỉnh mái
thanh sơn;
Nhục vinh gác truyện Tiêu, Hàn, buồm Phạm Lãi nghênh ngang
dòng bích lãng.
Ở giang hồ thì danh sĩ phong lưu;
Vào lang miếu lại đại thần thể dạng.
Nghe văng vẳng chốn sa trung rục rịch, bảng lảng lừa then,
rút máy, giải chúng tâm nâng một kẻ oán thù;
Thấy hiu hiu khi quốc bản lung lay, khoan thai rút cánh, ên
lông, yên trừ vị vẫy bốn người dật khoáng.
Hay dùng nào hết chước huyền vi;
Khó giấu dễ hao cơ bí tạng.
Đi lại tha hương, cố quốc, lưới anh hùng khôn dò chốn thiểm
thâm;
Ra vào đế tử, tiên ông, lồng trí thuật dễ ngự trong lai vãng.
Nghĩa thủy chung biện bạch cũng êm;
Đường tiến thoái thong dong chẳng vướng.
Một lần mộng dọc ngang trong tám cõi, đủ phê pha công Hán, nợ
Hàn;
Ba tấc lưỡi đưa đẩy ngoại năm năm, vừa chọn vẹn thù Tần oán Hạng.
Ngẫm từ trên Trọng Liên, Phạm Lãi nào hơn;
So xuống dưới dẫu Lý Tĩnh, Khổng Minh chưa đáng.
Ngôi đế sư mà danh cao sĩ, ngoại vật há còn trong bụng, nghìn
thu chữ thắm chẳng vàng phai;
Nền nho giả mà giá danh thần, chẳng tiên nhưng cũng khác
phàm, muôn kiếp sử xanh còn để sáng.
Nay độc danh thần truyện, xem thượng hữu thiên;
Trách ai thượng hữu cổ nhân, sao chẳng nguyện hy Tử Phòng, mà
lại nguyện hy Gia Cát Lượng.
NGUYỄN THIẾP VÀ NGUYỄN HỮU CHỈNH
hai văn tài ở hai đầu xứ nghệ
(lê thanh nga)
Từ nhiều phương diện, có thể coi sự đột hiện của vương triều
Tây Sơn là một sự kiện kì lạ trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Liên quan đến
triều đại này có nhiều cá nhân đặc biệt với những số phận đặc biệt, trong đó
không ít người đã để lại cho đời những tác phẩm văn học có giá trị. Dưới đây
chúng tôi giới thiệu vài nét về văn chương của hai nhân vật ở hai đầu xứ Nghệ:
Nguyễn Thiếp và Nguyễn Hữu Chỉnh.
Nguyễn Thiếp sinh ngày 25 tháng 8 năm Quý Mão (1723), mất năm
1804. Quê quán ở làng Mật, xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là
Can Lộc, Hà Tĩnh), hiệu Khải Xuyên, Lạp Phong cư sĩ, Bùi Phong cư sĩ, Hạnh Am
tiên sinh, La Sơn tiên sinh, Lục Niên tiên sinh, La Sơn phu tử, nổi tiếng thông
minh, học rộng, hiểu sâu, lại từng được lịch trải nhiều nơi; thờ học nhiều bậc
thầy lỗi lạc, giao du với nhiều người tài hoa như Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản
(1) (với Khản, ông vừa là đồng học, vừa là đồng hao), Bùi Huy Bích (2), Ngô
Phúc Lâm (3), Phan Khiêm Thụ (4), Phạm Nguyễn Du (5)... Hai mốt tuổi đỗ Hương
giải, nhưng ông đột ngột bỏ lối học cử nghiệp, chuyên đọc sách kinh điển của
nho gia, sống một cuộc sống tự do tự tại. Ngoài 30 tuổi, vì nhà nghèo, còn mẹ
già phải phụng dưỡng nên ra làm quan, sau lại từ quan quy ẩn trên núi Thiên Nhẫn
gần 20 năm. Ông từng từ chối lời mời của chúa Trịnh nhưng lại chống gậy xuống
núi giúp rập nhà Tây Sơn khi đã ngoại lục tuần, sau ba lần khước từ chiếu cầu
hiền của Nguyễn Huệ.
Có lẽ những thập niên loạn lạc, mối rường đổ nát ở thế kỉ
XVIII đã chặn đứng khát vọng kinh bang tế thế của Nguyễn Thiếp. Và nỗi thất vọng
hiền minh về hiện thực đã đưa ông đến quyết định khó khăn: từ bỏ con đường cử
nghiệp để làm một ẩn sĩ. Thơ Nguyễn Thiếp trước hết thể hiện tình cảm của một
người không màng lợi danh phú quý. Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về
thiên nhiên, một phần, để trút xả những buồn giận và thất vọng, hoặc để cố quên
thế sự (mà không quên được), nên trong những rung động tinh tế của họ trước cảnh
vật, vẫn bợn lên tâm tình u uất về lẽ đời, những chiêm nghiệm về cuộc sống. Với
thời gian làm quan ngắn ngủi, mà cũng chỉ là chức quan bé mọn ở những nơi khuất
hẻo, chưa phải tận mắt chứng kiến những xấu xa thối nát chốn quan trường ở những
quan hệ đa chiều, phức tạp, Nguyễn Thiếp đến với thiên nhiên về cơ bản hoàn
toàn tự nguyện, mỗi vần thơ ông viết về nó là một sự chiếm lĩnh đích thực với
tâm thế quan sát, tiếp nhận cái đẹp một cách hồ hởi, chủ động. Thiên nhiên xứ
Nghệ hiện ra trong thơ Nguyễn Thiếp với những nét khôi vĩ, sinh động và ngang
tàng: ở đấy có “mạch rồng”, có “Đảo Song Ngư biển rộng/ Núi vạn nhẫn trời cao”
(Hoan Châu), có “Hương Tích giành trời bên hữu trải/ Hoa Khê dồn nước hướng
đông xuôi/ Chọc trời đá rắn đầu voi hiện/ Động nước đầm trong bọt cá bày”. (Du
Liêu Đông - Phạm Nhượng dịch)
Tuy vậy không có nghĩa là Nguyễn Thiếp dứt hẳn nợ duyên với
cõi trần ai mà chính ông đã phải sinh ra mà tồn tại trong đó. Khác với Nguyễn
Trãi đêm ngày đau đáu với chữ trung, với chữ ưu, ái, trong tâm trạng của người
bị loại khỏi cuộc chơi chính trường, khác với Nguyễn Bỉnh Khiêm cố gắng tìm kiếm
và công bố những quy luật nghiệt ngã của thói đời sau bao trải nghiệm, suy nghiệm,
mối quan tâm của Nguyễn Thiếp về điều hai bậc tiền bối quan tâm cũng có ít nhiều,
nhưng nổi bật hơn hết trong tâm sự của ông là nỗi thương cảm đối với cuộc sống
của sinh dân. Suốt đời Nguyễn Thiếp dường như ít thấy cảnh thái bình. Ông nhìn
thấy vẻ tang thương của kinh thành trong chiến loạn, của đồng ruộng bị bỏ
hoang; ông thương cảm nỗi đói khổ của sinh dân và thất vọng vì “Lâu rồi không
thấy Thánh vương/ Chiến tranh khói lửa bốn phương tơi bời” (Phó tỉnh thí bất quả
đăng Đông Lũy thành).
Chiến tranh, loạn lạc đã trở thành đề tài nhức nhối, thường
trực trong văn học Việt Nam suốt một thời gian dài bởi điều kiện đặc biệt của lịch
sử ở khoảng 3 thế kỉ cuối thiên kỉ thứ 2. Song, trong thứ hiện thực mà Nguyễn
Thiếp đã khái quát, chúng ta vẫn thấy có một cái gì đó khác. Ít khi trực tiếp
nói đến chiến tranh, đến những thói tật của giai cấp thống trị như một số tác
giả khác cùng thời và sau này, Nguyễn Du chẳng hạn. Hiện thực trong sáng tác của
nhà thơ gợi những trắc ẩn nhẹ nhàng. Ông đặc biệt quan tâm đến số phận nhân dân
bằng một mối tương cảm, đồng cảm chân thành bởi về phần lớn cuộc đời ông cũng
chỉ là, và tự coi mình là một người dân như bao người dân khác.
Nguyễn Thiếp là người có phương pháp học tập độc đáo, khoa học
và hiệu quả, điều đó góp phần giúp ông thấm nhuần một cách sâu sắc đạo lý Thánh
hiền. Nghiên cứu con người ông qua văn chương, cần đặt trong mối tương quan với
trục dọc của tư tưởng Nho gia và thực tế lịch sử gắn liền với một số cá nhân
tiêu biểu. Trên cái trục dọc này, ta sẽ thấy Nguyễn Thiếp chịu ảnh hưởng nhân
cách và phép ứng xử của các bậc hiền sĩ mà mỗi đời thường không được mấy người
- kiểu quân tử xử. Thơ La Sơn thường nhắc đến Quản ấu Quan, Lưu Đông Mạo, Đào
Tiềm với lòng ngưỡng mộ. Trong thao tác thuộc khuôn khổ điển phạm của tư duy
nghệ thuật trung đại ấy, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra ý thức da diết của nhà
thơ là hướng đến một nhân cách cao đẹp theo gương các bậc tiền bối. Tuy nhiên nếu
Nguyễn Trãi nhắc đến Di, Tề trong tâm lí phần nào bằng lòng với cách ứng xử của
mình, Nguyễn Khuyến nhắc đến Đào Uyên Minh để mà thẹn vì thấy mình thua kém,
thì Nguyễn Thiếp, ngoài ra, trong mỗi lần nhắc đến tiền nhân dường đều ý thức về
nỗi cô đơn tự ngã, ông nhắc đến họ để thấy mình đơn độc trong hiện tại. Nguyễn
Thiếp nhắc đến Đào Tiềm cũng chỉ là “Đời Tấn có Đào Cát Thiên/ Đàn ca khúc Nam
huân ấm áp” (Phó tỉnh thí...), nhắc đến Trạng Trình trong nỗi hoài nhớ, trước cảnh
hoang phế, tĩnh lặng của miếu thờ, nơi chỉ còn bia rêu phủ, am cũ nhạt nhòa
trong mây trắng và nước chảy vô tâm... ở đó, “Chân tri, người khó tìm” (Quá
Trình Tuyền mục tự - Thái Kim Đỉnh dịch).
Không chỉ cô đơn khi nghĩ về các bậc tiền bối. Nguyễn Thiếp
cô đơn ngay trong chính con người hiện tại của mình. Ông cảm thấy rơi rụng, trắng
tay trước cái chết của ông già họ Trần đối xứng với ông trong trục không gian ở
đầu kia núi Phong Lạp, cũng như ông đã từng cô đơn khi làm phép đối xứng với tiền
nhân qua trục thời gian. Và dường như tâm sự “thời loạn đi về như hạc độc/ Tuổi
già hình bóng tựa mây côi” của Nguyễn Khuyến sau này cũng là nỗi ám ảnh thường
trực của Nguyễn Thiếp. Ông cô đơn trước con người, trong cái mênh mông tít tắp
của thiên nhiên:
Màu cỏ sau khi thiêu cháy đã lại xanh
Tiếng suối về đêm nghe buồn bã
Đám mây lẻ loi trên góc thành
Vì người ngâm bài “quy lai”.
(Doanh trại tự thuật, II)
Thời thế đổi thay, Nguyễn Thiếp không muốn chạy theo, và cũng
không thể theo kịp thực tại đành quay về với quá khứ, trong niềm hoài niệm. Thơ
ông là nỗi trở trăn của tấm lòng xót xa trước những mất mát, những bi kịch, những
giá trị tốt đẹp đã đi qua, cái còn lại chỉ là những chứng tích đau buồn. Ông
rung cảm trước đền thờ vua Mai, trước cây cầu noi Nguyễn Biểu đã tuẫn tử, trước
mảnh đất noi hai ông Phan, Hoàng đã lẩn trốn để khẳng định tiết tháo. Và vì thế,
niềm cô đơn, nỗi buồn như là một trong những nguồn cảm hứng chính của nhà thơ xứ
La Sơn.
Nguyễn Hữu Chỉnh là một nhà quân sự có tài nhưng lại ưa thú
văn chương. Người làng Cổ Đan, xã Đông Hải, Chân Phúc (nay thuộc huyện Nghi Lộc,
Nghệ An), sinh vào khoảng đầu đời Cảnh Hưng nhà Lê, ông học giỏi, văn chương lỗi
lạc, 16 tuổi đỗ hương cống (nên còn gọi là cống Chỉnh). Sau ông bỏ văn theo võ,
đi thi võ cử, không đỗ, lần lượt làm môn hạ của Hoàng Ngũ Phúc, Hoàng Đình Bảo,
lập nhiều chiến công. Bảo chết, nhân Tây Sơn nổi dậy, ông theo anh em Nguyễn Nhạc,
được đãi làm thượng khách, từng bày mưu lập kế góp phần quan trọng giúp họ Nguyễn
hoàn thành đại nghiệp. Nhưng thời gian đắc ý ở miền Bắc thời Chiêu Thống, ông tỏ
ý không tuân phục Tây Sơn, cuối cùng ông chết về tay Nguyễn Huệ. Đó là một số
phận bi kịch.
Trong một xã hội đang tan vỡ, cá nhân phải tìm chỗ dựa cho
chính mình, Nguyễn Thiếp trở về với cuộc sống nhàn tản bên sông Lam, núi Hồng,
gửi lòng, gửi chí vào đất trời, mây nước, thì Nguyễn Hữu Chỉnh chọn con đường đối
diện với thực tại. Trong khoảng vài ba trăm năm nhân tài mọc lên như nấm (Nguyễn
Huệ, Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường, Nguyễn Hữu Cầu, Cao Ba Quát, Hồ Xuân
Hương, Nguyễn Công Trứ...) và ai cũng muốn khẳng định tài năng của mình thì sự
khát khao khẳng định bản ngã ở Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ là vấn đề thuộc quy luật.
Ngay câu đối dán ở cửa “Mở khép càn khôn, có ra tay mới biết/ Ra vào tương tướng,
thử liếc mắt mà coi” đã nói lên cái chí của ông, và câu ông nói với Nguyễn Huệ:
“Nhân tài Bắc Hà chỉ có một mình Chỉnh, nay Chỉnh đi rồi trong nước trống
không”, đã nói lên cái khí của ông. Bi kịch của cuộc đời ông là bi kịch của một
cá nhân xuất chúng muốn khẳng định những giá trị của chính mình. Ông đã vin vào
một thế lực để thi thố tài năng, xác lập vị thế, nhưng thiếu độ tỉnh táo cần
thiết để thấy rằng một giá trị chỉ có thể được xác lập trong một số tương quan
nhất định, và nếu vượt khỏi cái ngưỡng của những tương quan ấy, nó sẽ bị tiêu
diệt. Ông có cái may mắn được khẳng định những năng lực, giá trị của mình trong
tính chất hiện sinh, những cũng chết vì khát vọng ấy đã vượt qua giới hạn cho
phép của tình thế.
Nguyễn Hữu Chỉnh giỏi về Quốc văn, trên nhiều thể như thơ,
ca, nhạc khúc, phú... Tương truyền ông là người hào hoa, phóng túng và giao du
rộng; vừa có tài hùng biện của một thuyết khách vừa có cái vẻ phong lưu của một
nhà thơ. Sáng tác của Nguyễn Hữu Chỉnh gồm có Ngôn ẩn thi tập, Cung
oán thi, các bài phú Quách Tử Nghi, Trương Lưu hầu, Văn tế Cả Cống, Văn tế chị,
bài Tần cung nữ oán Bái công, các bài ca Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai, Ngũ luân
vãn... nhưng ngày nay đã thất thoát một phần.
Cuộc đời Nguyễn Hữu Chỉnh lắm thăng trầm, nhiều gian truân,
và dường như văn thơ ông cũng theo những thăng trầm ấy mà thể hiện tâm sự khác
nhau. Nhưng trên đại thể, đọc thơ ca của ông, ta thấy đó là một hồn thơ khoáng
dật của một con người luôn có khát vọng cựa quậy, hành động để giải phóng tiềm
năng của chính mình. Khát vọng ấy trước hết, cũng như các nhà nho khác, là thực
hiện ý chí của mình trong khuôn khổ lễ giáo và đạo đức truyền thống. Trong bài
Văn tế Cả cống, ông tuyên bố: “Đạo hiếu trung là trọng, miễn tua gìn thần tử
cương thường”; hay trong bài Thơ tự đề, dẫu là có chút tự phụ, nhưng dấu ấn tôn
quân vẫn rõ: “Giúp lệnh phò nghiêng yên chín cõi”, cũng thế trong bài phú Quách
Tử Nghi: “Hai kinh trợ lệch phò nghiêng, tắt binh lửa đặng ngôi triều thị”.
Cũng như tuyệt đại đa số các nhà văn, nhà thơ khác, Nguyễn Hữu Chỉnh từng bày tỏ
tấm lòng thương xót và đề cao nhân dân: “Cán cân giữ mệnh dân làm trước/ Lấy
dân là báu nước chớ khinh”... “Vớt chìm dẹp cháy cứu muôn dân” (Thơ tự đề)...
Thơ văn Nguyễn Hữu Chỉnh trước hết thể hiện trạng thái bất đắc
chí và đẫm nỗi buồn thế sự. Trong Ngâm ẩn thi tập, ông viết: “Kẻ yêu nên ít bề
cao hạ/ Người ghét, càng nhiều tiếng thị phi”; “Hư không bới giở tìm tông vết/
Bỗng chốc đôi co nỗi cối chày”... Dường như khi chưa hiển đạt, nhất là thời
gian binh nghiệp ở Đàng Ngoài, có nhiều sự việc khiến Nguyễn Hữu Chỉnh không bằng
lòng, nên thơ ông thể hiện nỗi bực dọc, phẫn uất bởi tài năng không được giải
phóng. Bất lực trước thời cuộc, ông than: “Trót đã trộm sinh vào cửa Trịnh/
Cũng hay ra đến ở cành Lê”; “Tóc chen hai thứ chửa danh chi/ Thân hỡi là thân,
thì hỡi thì”; và câu sau đây, không nghi ngờ gì nữa, là nỗi thất vọng của ông
khi chưa vào Nam theo Nguyễn Nhạc: “Trên đầu tóc đã rối hoa râm/ Lẩn thẩn còn
chơi đám cát lầm”. (Ngôn ẩn thi tập). Vậy ra, trong hoàn cảnh bi đát, phải luồn
cúi trong môi trường Đàng Ngoài, thơ Nguyễn Hữu Chỉnh, dù là than thân, vẫn
toát lên thần thái của một người thấy, và dám thấy tài năng không dễ kiếm của
mình. Tuy nhiên, khi thoát khỏi cái “đám cát lầm” ấy, cách đánh giá bản thân của
ông đã trở thành một thứ chủ quan nguy hiểm và hậu quả chính ông phải tự gánh lấy.
Cũng trong thời gian bất đắc chí này, Nguyễn Hữu Chỉnh kịp rút ra được nhiều
triết lí đắt giá về thân phận con người. Câu thơ “rằng thân người chẳng khác
con bài” chính là kết quả của một suy nghiệm độc đáo. Ông đã manh nha thấy được
số phận bấp bênh, bé nhỏ của kiếp người: một thứ công cụ trong tay các thế lực
thống trị - cái mà sau này các nhà văn hiện đại sẽ thấy con người như là một cỗ
máy, là một vật thể trong guồng quay nhân thế. Nguyễn Hữu Chỉnh qua văn chương
có khả năng đưa ra những dự cảm quan trọng về số phận của chính mình mà câu thơ
vừa dẫn là một ví dụ. Có thể kiểm chứng thêm nhận định này qua bài Cái
pháo:
Xác không vốn những cậy tay người
Khôn khéo làm sao đất cũng rời
Kêu lắm lại càng tan tác lắm
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.
Có lẽ không bao giờ Nguyễn Hữu Chỉnh ngờ rằng, những câu thơ
đó sẽ được người đời sau vận vào cho chính ông!
Văn chương Nguyễn Hữu Chỉnh không chỉ tạo dấu ấn ở vẻ sắc sảo
trong những nhận định, đánh giá về thói đời và về số phận con người, mà còn tạo
dấu ấn từ tư tưởng cao viễn, khoáng đạt, những khát vọng dữ dội. Điều này đặc
biệt thể hiện rõ trong các bài phú. Qua Quách Tử Nghi và Trương
Lưu hầu phú, ta thấy ông luôn luôn ôm ấp hoài bão vươn đến đỉnh cao nhất của
công lao và danh vọng. Ông mong được ra vào trăm trận lập công, được lưu danh sử
sách, tự ví mình với những đấng bậc được người đời tôn thờ như Trương Tử Phòng,
Quách Tử Nghi, và đặc biệt ông muốn “xã tắc lấy mình làm nặng nhẹ”. Lấy bản
thân làm thước đo cho cả thời đại, đó là một ý tưởng táo bạo và ngang tàng. Sau
này Cao Bá Quát dù có đánh giá mình cao vượt cả các bậc thánh hiền, hẳn cũng
không nghĩ đến điều ấy. Đọc các bài phú của ông người ta nhận thấy một thứ văn
chương hào sảng với những cặp câu dài ngắn đặt đúng chỗ, những hình ảnh khôi
vĩ, những động từ mạnh, những tính từ ùa nhau vào câu chữ và lượng từ láy được
sử dụng khá phổ biến. Mỗi bài phú là một bức tranh đẹp.
Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Thiếp, một có mặt ngay trong những
ngày Tây Sơn mới chỉ là một thế lực cát cứ mảnh đất nhỏ bé ở Đàng Trong, xông
pha trận mạc trong quá trình mở cõi và tuyệt mệnh ngay khi nhà Tây Sơn còn chói
lọi; một tham gia vào chính trường khi vương triều cực thịnh đang bắt tay kiến
tạo giang sơn, và tạ thế sau khi chứng kiến nhà Tây Sơn tan vỡ. Một trọng xuất,
một trọng xử; một ôm khát vọng hành động để giải phóng những năng lực hiện sinh
của bản thân, một ưa cuộc sống an nhàn, vô sự; một thích sống ráo riết ngay giữa
hiện tại, vùng vẫy trong thực tại - sản phẩm của không gian, một thích lánh xa
thực tại ngột ngạt để tạo cho mình một thực tại khác nơi cây cỏ hay trong quá
khứ; một con người thiên về bề ngang của hiện thực và một con người nghiêng
sang trục dọc của lịch sử, một sản phẩm của thời đại và một sản phẩm của quá khứ.
Hai văn tài đối xứng qua trục ngang là dòng sông Lam lành dữ thất thường. Hai số
phận khác nhau nhưng họ cùng để lại cho đời những áng văn chương quý giá.
HỆ LUẬN TỪ KẾT QUẢ GIẢI MÃ
văn bia tông đức thế tự bi
trúc diệp thanh
(trích)
Về năm mất của Nguyễn Hữu Chỉnh
Trên các trang sử giới thiệu tiểu sử Nguyễn Hữu Chỉnh
Tông đức thế tự bi cho thấy xác định năm mất của Nguyễn Hữu Chỉnh vào năm
1787 là không chính xác! Các sách Hoàng Lê nhất thống chí, Khâm định
Việt sử cương mục đều chép quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của Võ Văn Nhậm
bắt đầu tiến quân ra Bắc Hà vào tháng Một năm Đinh Vị/Mùi (mùa đông năm
1787). Song việc đánh ra Bắc Hà không phải là một cuộc hành quân dễ dàng nhanh
chóng! Bắc triều còn đầy đủ binh hùng tướng mạnh để chống lại cuộc bắc tiến của
quân Tây Sơn trên từng đoạn đường dẫn đến kinh thành. Riêng phòng tuyến sông
Thanh Quyết (Gia Viễn) cha con Nguyễn Hữu Chỉnh huy động đến 3 vạn quân có trọng
pháo, thủy quân để ngăn chặn quân của Võ Văn Nhậm. Nguyễn Hữu Chỉnh cùng vua Lê
buộc phải rút chạy khỏi Thăng Long sau khi phòng tuyến này bị quân Tây Sơn đánh
tan vỡ. Các sách sử không ghi chính xác ngày tháng quân Tây Sơn tiến vào Thăng
Long: Hoàng Lê nhất thống chí, Khâm định Việt sử cương mục ghi cuối
đông năm Đinh Vị, Tây Sơn thuật lược, Quang Trung anh hùng dân tộc (Hoa Bằng
Hoàng Thúc Trâm) ghi đầu năm Mậu Thân. Văn bia “Tông đức thế tự bi” chép “đầu
năm Mậu Thân Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản đánh tan quân bắc triều tiến trước
vào Thăng Long” là thông điệp đáng tin cậy về thời gian quân Tây Sơn tiến
phạm Thăng Long. Hơn nữa, khi quân Tây Sơn vào chiếm Thăng Long Nguyễn Hữu Chỉnh
cũng chưa chết! Chỉnh cùng vua Lê đã chạy lên Hải Dương tổ chức phòng thủ. Võ
Văn Nhậm phải sai bộ tướng Nguyễn Văn Hòa truy kích và Hòa đã giết tại trận
Nguyễn Hữu Du (con Chỉnh), sau đó bắt sống Chỉnh tại Mục Sơn (tên xã, thuộc huyện
Yên Thế nay là thôn Mục Sơn, xã Cao Thượng, huyện Tân Yên, Bắc Giang). Giải Chỉnh
về Thăng Long, Võ Văn Nhậm hỏi tội và giết chết. Lúc này là tháng giêng năm Mậu
Thân (1788).
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Đại Việt sử ký tục biên Trung tâm khoa học xã hội
và nhân văn quốc gia. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ngô Thế Long - Nguyễn Kim Hưng dịch
và khảo chứng. Nguyễn Đổng Chi hiệu đính. NXB Khoa học xã hội, 1991.
2. Hoàng Lê nhất thống chí. Ngô gia văn phái. NXB Văn học.
3. Nhân vật lịch sử triều Lê Mạt. Phan Trần Chúc. NXB
Văn hóa Thông Tin. Hà Nội, 2002.
4. Một số sách báo và các bài nghiên cứu.
Phạm Trường Khang
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét