Thứ Bảy, 4 tháng 9, 2021

Sương gió biên thùy

Sương gió biên thùy

Sương Gió Biên Thùy gồm 12 truyện ngắn, được Lý Văn Sâm viết trong năm 1948.
1. Hai truyện Chuyện Một Đàn Cò Trắng và Sa Mù có thể coi là tự truyện của tác giả (nhân vật xưng tôi). Những truyện còn lại hầu hết là chuyện tình buồn. Trong hoàn cảnh chiến đấu, tình yêu giữa người chiến sĩ và người tình, vị hôn thê, người vợ đành ly tan, để lại những vết thương tâm không sao hàn gắn được.
Trong tập truyện này Lý Văn Sâm chuyển từ bút pháp lãng mạn sang bút pháp hiện thực, nhờ thế văn chương của ông có khả năng khắc sâu vào lòng người đọc những tình cảnh vừa buồn thương, vưà hào hùng, tình cảnh của những chiến sĩ vì nước quên mình, những người anh hùng chiến bại nhưng vẫn sáng ngời lý tưởng, những tình cảnh đáng thương của nạn nhân chiến tranh và hình ảnh quê hương thân thương trong ngần. Ngôn ngữ văn chương ông vẫn là kiểu ngôn ngữ lãng mạn quen thuộc, câu văn giàu nhạc, giàu hình và nhiều so sánh độc đáo. Thiên nhiên luôn là một yếu tố đặc sắc của bút pháp:
2. Truyện Sương Gió Biên Thùy là câu chuyện tình giữa cô gái Pháp Rosée và chàng trai Việt tên Phong. Khi quân Nhật đảo chính Pháp. Gia đình Rosée đi tỵ nạn ở sở café của một người bạn vùng sông Đồng Nai. Dọc đường họ bị quân Nhật chận đánh. Mẹ Rosée chết, gia đình phiêu tán. Nàng được Phong cứu. Phong là chủ ấp trong sóc mọi Thanh sơn (một làng Mọi trong rừng giữa quận Đồng Nai và Sông Bé). Rosée được đổi tên là Sương và trở thành “chúa Mọi da trắng”. Sương cùng với Phong thường chặn đánh cướp xe lương của lính Nhật. Một ngày kia, khi sóc Mọi Thanh Sơn đang làm lễ ăn Nhang, Phong và Sương ngồi tâm sự bên suối thì quân Nhật tiến công. Hai người lạc mất nhau. Lúc trở lại Thanh Sơn, Phong nhặt được một lá thư của Sương nói rằng nàng đã sang Laò để chống Nhật. Cách mạng tháng tám 1945 thành công, rồi quân Pháp chiếm Sàigon. Phong bị quân Pháp bắt. Sương giải cứu cho Phong. Chàng trở về chiến khu Vệ Quốc Đoàn. Phong đọc thư từ biệt của Rosée. Nàng dặn chừng nào hai dân tộc Pháp-Việt hiểu nhau thì Phong hãy đi tìm nàng. Phong ngưả mặt lên trời thở dài.
Đây là kiểu truyện tình lãng mạn phiêu lưu đường rừng, lồng trong đó là tình cảm yêu nước, phản kháng xã hội thống trị của Pháp Nhật… Phong nói: ”Khi người ta không bằng lòng sống cuộc đời nô lệ, tức khắc người ta phải tìm phương cách gỉai thoát. Gần bốn năm nay, tôi sống xa hẳn người đời. Tôi lập một cõi giang sơn riêng và mặc sức vẫy vùng như chim trời, cá nước. Tôi không nhìn nhận một pháp luật nào cả khi mà nước nhà tôi còn trong tay kẻ khác. Đồng bào chúng tôi đã lầm than lại càng lầm than hơn nữa, từ khi có dấu chân Nhật bản giẫm lên non sông nước Việt”(tr.41). Truyện cũng miêu tả lễ hội “ăn Nhang cuả người dân tộc.(tr.44)
3. Chớp Bể Mưa Nguồn là nỗi lòng của mẹ và vợ của người tù xa xứ. Bà Hai thao thức không ngủ được. Người con dâu cũng không ngủ được. Hai mẹ con thở than cùng nhau và hình dung ra người con, người chồng bị còng tay đưa xuống tàu đày ra đảo. Cả hai cùng hy vọng có ngày ngừời tù ấy trở về. Nhâm, người tù, vẫn thường biên thư về. Sau thư thưa dần rồi bặt tăm. Mẹ và vợ Nhâm lo lắng không biết Nhâm sống chết thế nào. Một hôm có người khách, mãn hạn tù 4 năm về báo tin rằng Nhâm đã ra khơi lâu rồi, không biết thế nào. Người khách ấy xin lỗi vì đã nhái chữ của Nhâm viết thư về. Nhâm có bút danh là Thoại Hồ thi sĩ. Trong tù, anh có viết một tập thơ nhưng không sao gửi về cho vợ được. Mọi người mong đọc được tập thơ Gió Mặn của Nhâm. Vợ Nhâm nghĩ đến người chồng nơi chớp bể mưa nguồn.
Chớp Bể Mưa Nguồn cũng là một câu chuyện tình lãng mạn, cuộc tình cách trở trong chiến đấu. Người đọc không rõ Nhâm làm gì mà bị bắt đày ra đảo. Ở đảo anh sống, chiến đấu thế nào, có đứng trong tổ chức cách mạng nào không. Vẫn là kiển nhân vật con người chiến bại phiêu bạt, kiểu nhân vật có chút nghệ sĩ lãng tử cuả Lý Văn Sâm. Ở đây Nhâm còn làm thơ và có tập thơ trong tù, thảnh thơi như người ở ngoài. Truyện gợi ra hình ảnh những con người chiến đấu hy sinh, và tấm lòng của người ở quê nhà mong chờ chồng con sâu nặng
4. Sứ Mạng (1947) cũng là một chuyện tình lãng mạn có bối cảnh đường rừng. Bốn gìơ sáng, một cô gái trẻ mặc quân phục trên xe trên đường sang Lào thực hiện sứ mạng. Bỗng cô bị một nhóm người chặn lại đòi mượn xe để một người đồng chí của họ cũng sang Lào thực hiện một sứ mạng. Cô gái tỏ ra cứng rắn. Nhóm người này đồng ý để người đồng chí của họ đi cùng xe với cô gái. Hai người dừng xe ăn uống. Họ dè chừng nhau. Rồi hỏi tên và hoàn cảnh sống của nhau. Cô gaí tên là Thư, có vị hôn phu là một nhà thơ tên Hùng. Hai người chưa hề gặp mặt nhau. Gia đình cô gái bị mang tội phản quốc, chỉ mình cô là không. Rồi hai người trao đổi kỷ niệm. Thư cởi áo len đang mặc tặng người thanh niên. Còn gã để lại hai câu thơ và dòng chữ. Bỗng xe cuả cô gái bị một xe khác đuổi bắn. Gã thanh niên nhảy xuống xe biến vào rừng. Khi Thư đọc những dòng chữ của gã thanh niên gửi lại thì mới biết đó là Hùng. Thư sững sờ. Nàng kêu lên “Hùng ơi! Sao nỡ bỏ Thư giữa con đường cheo leo bên những đèo cao hố thẳm! Kẻ lạc đường đã mất người dẫn đạo.”
Cốt lõi của truyện là cuộc tình lãng mạn, bất ngờ của Thư và Hùng. Lý Văn Sâm chỉ lấy thêm bối cảnh rừng núi và tô thêm màu sắc trinh thám, như kiểu phim hành động. Lý Văn Sâm vẫn sử dụng bút pháp lãng mạn. Chẳng rõ hai người thực hiện sứ mạng gì. Cũng chẳng thể lại có một cuộc gặp gỡ tình cờ giưã hai người đã hưá hôn trong một bối cảnh rừng núi nên thơ và tiếng súng hùng hồn như thế. Truyện gợi lên sự chút ngậm ngùi lãng mạn, vì hoàn cảnh chiến đấu lứa đôi phải tan vỡ mộng đẹp. Thấp thoáng trong truyện là tình cảm yêu nước, và lý tưởng vì sứ mạng với đất nước mà hy sinh tình riêng. Truyện hấp dẫn người đọc ở nhiều màu sắc thẩm mỹ, và làm trái tim người đọc xúc động như đọc một bài thơ tình lãng mạn.
5. Hồn Do Thái là một ẩn dụ về tình yêu quê hương đất nước, tinh thần bám làng của người dân quê. Thằng Bình và thằng Dương định qua đò, bỏ làng đi, vì làng gần đồn, đêm nào cũng có súng bắn, người ta bắt dân làng phải dỡ nhà đi. Bình rủ Dương đến dưới gốc một cây mít, nó moi lên một cái hộp sắt. Thằng Dương tưởng là kho tàng. Trong hộp chỉ có chiếc ống sáo cũ. Bình nâng niu chiếc sáo như một báu vật, vì là của thưà tự cha mẹ để lại. Cha nó bảo đó là tiếng quê hương. Nó là người được cha dạy thổi sáo để truyền giữ tiếng quê hương. Nó quyết định ở lại làng. Thằng Dương cùng ở lại với nó. Thằng Bình thổi sáo để gọi hồn quê hương. Bỗng có loạt đạn nổ. Thằng Bình nằm sóng soài. Thằng Dương khóc thương nó. Từ nay tiếng quê hương đã tắt rồi. Thằng Bình phều phào nói, tiếng quê hương vẫn còn. Còn người VN thì còn người thổi sáo… Dân tộc Do Thái lưu lạc bao thế kỷ nay đã trở về quê hương… Chúng ta chưa xa đất nước thì tổ quốc vẫn còn. Thằng Dương đem ống sáo đi tìm người thổi tiếng quê hương và người kể chuyện dân Do Thái.
Lý Văn Sâm đã sáng tác một truyện hư cấu giàu ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật.
6. Lạc Loài là một câu chuyện cảm động về thân phận những đưá trẻ nạn nhân trong chiến tranh. Truyện mở đầu và kết thúc truyện là câu hỏi: ”Có ai thấy hai chị em con bé ấy đi qua đây không?”. Đó là hai đứa bé ở An Lộc, Đồng Nai, mẹ chết, cha bị bắt giam ở Sài Gòn. Con chị bồng đưá em đi nhờ xe bò chở trái cây từ Trảng Bom xuống Biên Hoà, rồi lần hồi tới Sài Gòn tìm cha. Nó đói khát đứng trước một tiệm ăn và bị hất hủi. May có chị bán hàng rong xót thương, cho nó một đồng, bảo nó mua cái gì ăn rồi về ở với chị. Hoàn cảnh của chị cũng bi thảm. Nhà cửa bị thiêu rụi, chồng chết, chị tha hương kiếm sống. Con bé bồng em đến chỗ người khách trú già, bán bò bía. Nó đưa tiền cho ông khách trú. Ông ta cầm tiền nhưng quên không bán. Khi thấy con bé đòi tiền, hắn bảo nó là đứa ăn cắp. Con bé sợ quá, trở lại chỗ chị bán hàng rong. Không thấy chị đâu. Nó trở lại chỗ ông khách trú. Ông ta nói chị bị bắt vào bót rồi. Trời tối và mưa như trút nước, nó nép vào mái hiên một hiệu thuốc Tây lớn đã đóng cửa. Có lẽ nó đợi một người tốt bụng nào đó. Khách qua đường đêm qua có thấy hai chị em con bé ấy đi về đâu không?
Câu hỏi ấy của tác giả như cắt vào lòng người đọc một nỗi xót thương vô bờ. Nếu đất nước được độc lập tự do thì những thảm cảnh gia đình, số phận những sinh linh còn bé bỏng đâu đến nỗi bi thương như thế.
Ngòi bút hiện thực của Lý Văn Sâm cũng khắc hoạ được những cảnh đời đáng thương, và tấm lòng nhà văn dõi theo mãi những số phận ấy.
7. Chuyện Một Đàn Cò Trắng là một tự truyện, một tuỳ bút về đàn cò quê hương. Đàn cò ấy theo với tác giả từ khi tác giả chào đời, lớn lên, đi học xa nhà, thất bại trên thương trường, rồi những năm tháng sắt lửa chiến tranh, làng quê tàn lụi. Đàn cò bay đi không về nưã. Tác giả vẫn đợi đàn cò về.
Truyện là tấm lòng gắn bó và yêu quê hương đằm thắm thiết tha, cùng với những nỗi xót xa và một niềm mong mỏi quê hương trở lại thanh bình
8. Tiếng rên trong rừng lạnh (1948) là tiếng rên của người vì cứu đồng bào mà hy sinh.
Truyện kể, căn nhà thuỷ tạ bỏ hoang ngày xưa là của một thương gia làm nơi nghỉ mát. Từ khi có nhà thuỷ tạ, du khách đến đó rất đông. Có một đôi trai gái đã tuyệt mệnh tại đây. Từ đó du khách vắng dần. Hơn 4 giờ sáng, giữa gian nhà thuỷ tạ, Phùng và Sơn thức giấc. Hai người đang thực hiện một “sứ mạng”. Phùng vào Nam, Sơn ra Bắc. Phùng và Sơn nghe có tiếng rên dài ão não của ai đó. Hai người sẵn sàng khí giới và lên đường. Khi qua một cái cầu, Phùng kể cho Sơn nghe câu chuyện đau buồn của nhân dân miền Nam. Năm kia khi khói lửa tràn lan, dân tản cư rất đông. Một toán dân quân tình nguyện ở lại phá cầu để chặn quân Anh-Ấn. Chiếc cầu bị đánh gãy gập làm hai treo lủng lẳng. Người ta nghe tiếng khóc thét của một người đàn bà ẵm trên tay một đưá con nhỏ bị bỏ lại. Anh Tư lục lộ tuột xuống cầu cứu mẹ con người đàn bà ấy. Người đàn bà được cứu thoát nhưng anh Tư bị kẹt chân vào nẹp ván không rút ra được. Một năm sau đoàn của Phùng qua cây cầu này, Phùng ngạc nhiên vì có nắm xương khô treo lủng lẳng giữa hai khúc ván cầu. Phùng nhặt nắm xương đem chôn. Người ta kể có tiếng rên rỉ vang lên suốt bảy đêm ngày mới dứt. Phùng nói, đó là tiếng rên của cả một dân tộc. Gần xế chiều, Phùng và Sơn chia tay nhau. Sơn nói sau này nếu còn sống sẽ tìm lại nơi cây cầu này để nghe tiếng rên ấy. Nhưng trải bao năm tháng chẳng có ai qua chốn này.
Nhận xét
Trong chiến tranh, nhân dân đã phải chịu bao nỗi đau thương. Có những người sinh vì đồng bào, nhưng họ không được ai xót thương. Tác phẩm nói lên nỗi bi thương của những số phận ấy. Chất liệu truyện là đời sống kháng chiến. Lý Văn Sâm chuyển hẳn sang bút pháp hiện thực. Tuy nhiên những yếu tố riêng của ngòi bút Lý Văn Sâm vẫn không thay đổi. Đó là kiểu nhân vật ngưới chiến sĩ, người anh hùng bôn ba, kiểu con người chiến bại, những “sứ mạng” mơ hồ (tác giả không nói rõ là sứ mạng gì), bối cảnh rừng núi. Những yếu tố bất ngờ của cốt truyện, và thấp thoáng lòng thương xót của tác giả.
9. Đìu Hiu Lau Lách (1948) là chuyện tình buồn của một chiến sĩ hy sinh, bị đồng chí của mình lãng quên. Lực cùng các đồng chí từ hải ngoại về. Anh bị thương nặng. Chỉ khi gặp được Thuỷ, Lực mới nhắm mắt. Lực mong muốn thuỷ xây mộ bia mộ trong lòng Thuỷ sau khi Lực chết. “Sáng hôm sau đoàn người xuất dương từ 5 năm trước chia nhau vào vùng cố thổ để gieo trồng những hột giống cho ngày mai” Họ để Lực nằm lại. Mỗi mùa thu qua. Chỉ có tiếng khóc của lá thu vàng. Có một là thư gửi cho bà Thuỷ Hạnh. Không biết Thuỷ hạnh có phải là Thuỷ xưa không. Không có ai xây mộ trong lòng ai cả.
Vẫn là bút pháp lãng mạn quen thuộc của Lý Văn Sâm. Cốt lõi là một chuyện tình buồn. Kiểu nhân vật chiến sĩ lang bạt lữ thứ, con người chiến bại. Không rõ họ làm gì, chỉ biết họ “ngã trên dặm dài nghiã vụ “(tr.119). Lý Văn Sâm có những câu văn rất hay, kiểu câu văn lãng mạn. Lý Văn Sâm đứng ở góc nhìn khách quan để ghi nhận qua kiều nhân vật phiếm chỉ. Thí dụ, không rõ người viết thư gửi cho bà Thuỷ Hạnh là ai, và bà Thuỷ Hạnh có phải là Thủy của Lực không?
10. Gió Bãi Trăng Ngàn (1948) cũng là một chuyện tình buồn được dựng trong một bối cảnh giả định, một vở kịch của tù nhân. Vở kịch Gió bãi trăng ngàn” do Kỹ viết. Kịch “làm sống lại mối tình cao thượng giữa hai thiếu niên chiến sĩ trong hai năm giam cầm trong ngục lạnh “(tr.123). Nàng được trả tự do trước, hứa sẽ đón chàng. Rồi chàng bị tuyên án tử hình. Chàng kháng án và bị đày ra Côn Đảo. Ngày chàng lên tàu là ngày nàng lên xe hoa về với một kẻ đàn ông mới. Cốt truyện vở kịch như thế. Ban kịch tù nhân VN nhiều lần dựng nhưng không diễn được, vì các vai sắp diễn là tù nhân, nhưng lúc sắp diễn thì họ lại ra tù. Sau cùng Kỹ và Văn Tâm được chọn. Kỹ từ chối không được. Họ đã làm cho nhiều bạn tù rơi lệ trong vai diễn. Từ đó họ ngầm yêu nhau. Họ dự định sau khi ra tù, họ sẽ lập một ban kịch để đi diễn khắp nước. Ra tù, Kỹ ngồi viết lại Gió Bãi Trăng Ngàn. Thanh My vẫn đợi Trang, không lên xe hoa, như Kỹ vẫn đợi Văn Tâm.
Lý Văn Sâm ca ngợi tình đồng chí của người tù Kỹ và Thanh Tâm.
Truyện có phản ánh vài sinh hoạt của người tù, nhưng là một sự phản ánh lãng mạn, vì Lý Văn Sâm không miêu tả cuộc sống thê thảm của họ do tội ác kẻ thù gây ra, cũng không miêu tả cuộc đấu tranh quyết liệt của họ để giữ vững ý chí, lý tưởng và lẽ sống. Đọc truyện, người ta có cảm giác các tù nhân sống rất thoải mái, sinh hoạt văn nghệ như ở ngoài. Đó chính là tính chất lãng mạn của ngòi bút LVS.
11. Đường Vào Đất Thục (1948) là câu chuyện tình bạn quê hương trong hoàn cảnh phải đối đầu nhau. Việt “xách tầm vông theo bọn người cứu nước” đã ba năm. Việt quyết định trở về làng thăm mẹ vì mẹ đang hấp hối. Mọi người khuyên can vì đường trở về làng khó hơn sang Tần. Nhưng vì tự ái, Việt nhất định trở về và anh bị lính đồn bắt. Người bắt Việt là bạn cùng làng xưa. Việt xin được vuốt mặt mẹ rồi nạp mạng. Quan cai đồn cũng là một người bạn của Việt, đã ký lệnh hành quyết Việt. Anh bị người bạn dẫn ra pháp trường và nổ súng. Người ta bỏ Việt vào bao và thả xuống sông. Nhưng Việt không chết. Anh đã được người bạn tha chết. Người lính đồn ấy chỉ dùng đạn gây tiếng nổ, không sát thương. Người lính tên Ngã và quan đồn đã hiểu biết nhau. Miền Thanh Mai quê Việt thưa dần tiếng súng.
Lý Văn Sâm cảm thông cho những hoàn cảnh nào đó phải cầm súng cho giặc. Đâu đó vẫn còn người tốt vì trong tâm họ vẫn còn tình nghĩa bạn bè, tình quê hương.
12. Sa Mù (1948) là chuyện tình tự kể của tác giả (nhân vật tôi). Đó là tình đầu khi Tôi 25 tuổi và nàng 16 tuổi, cả hai cùng ra đi theo tiếng gọi của đất nước. Một lần tôi bị bịnh nặng, nàng đi lấy thuốc cho tôi ở nơi bom đạn đầy trời. Và nàng không trở về. Ba năm qua Tôi về thành phố, dùng ngòi bút “dệt tơ tằm cho bốn phương thiên hạ “. Dù kinh đô sáng lạn nhưng Tôi không nguôi thương nhớ em. Đầu muà mưa năm nay, Tôi nhận một lá thư em viết trước lúc hy sinh. Tôi đối thoại trong tâm tưởng với em: ”em nằm yên đó, nghe em! Có một ngày kia, anh sẽ mang tấm linh hồn thất thểu về gục xuống mộ em. Tóc anh sẽ rụng theo ngàn cánh hoa rừng…Em ở suối vàng hẳn cũng như anh, rất bằng lòng vì mối tình đôi ta trong sạch cho tới khi xa nhau.”(tr.142)
Sương gió biên thùy là tập truyện tô đậm lòng yêu nước, yêu quê hương. Nhiều truyện Lý Văn Sâm đã chuyển sang bút pháp hiện thực nên đời sống kháng chiến được phản ánh rõ nét hơn và tình cảm nhân đạo của tác giả cũng sâu sắc hơn. Tuy nhiên, phẩm chất văn chương chính của Lý Văn Sâm vẫn là ngòi bút lãng mạn khi ông kể những câu chuyện tình buồn, chuyện của người anh hùng chiến bại, theo phong cách của tráng sĩ xưa, với lý tưởng không được miêu tả cụ thể và hành động bí mật.
Lý Văn Sâm thành công ở kiểu truyện hư cấu, truyện tư tưởng khi kể truyện Hồn Do Thái, thành công trong việc phối hợp thể loại truyện và kịch (Gió bãi trăng ngàn). Ngòi bút của ông cũng đã chạm được những bi kịch của thời đại khi kể chuyện hai người bạn quê đối mặt nhau trong hai giới tuyến (Đường vào đất Thục), hoặc bi kịch bị lãng quên (Tiếng rên trong rừng lạnh). Bối cảnh truyện của Lý Văn Sâm mở rộng từ Đồng Nai, Bình Dương, sang Lào (Sương gió biên thùy, Sứ mạng), đến trại tù ngoài đảo (Gió bãi trăng ngàn), rồi về chiến khu…Cuộc kháng chiến chống Nhật, chống Pháp cũng có những đường nét rõ hơn.
30/7/2021
Bùi Công Thuấn
Theo http://buicongthuan.blogtiengviet.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...