Thanh Tịnh, Quê mẹ
Thanh Tịnh là nhà văn đã
có sự nghiệp dài hơn nửa thế kỷ, với số lượng trước tác dồi dào, đa dạng. Nhưng
kỷ niệm bền chặt nhất mà ông để lại trong lòng người đọc là tập truyện đầu
tay Quê Mẹ, 1941, với hình ảnh thơ mộng của làng Mỹ Lý và buổi tựu
trường trong truyện Tôi đi học. Truyện này đã nổi tiếng một thời
gian dài vì được trích dẫn trong các sách giáo khoa, làm bài học thuộc lòng cho
nhiều thế hệ học trò :
«Hằng năm cứ vào cuối
thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng
tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.
Tôi quên thế nào được những
cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa
bầu trời quang đãng(…)
Buổi mai hôm ấy, một buổi
mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường
làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự
nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có
sự thay đổi lớn : hôm nay tôi đi học» [1]
Được trích dẫn và truyền
tụng, vì giá trị giáo dục: đoạn văn ca ngợi buổi đi học đầu tiên, ngày tựu
trường, và đề cao việc học, văn hóa, trong giai đoạn người đi học chưa nhiều.
Về hình thức, câu văn
trong sáng, cú pháp minh bạch. Từ vựng giản dị, nôm na, nhưng kỳ thật đã là
phong phú vào thời điểm 1941, với những tính từ : bàng bạc, nao
nức, mơn man, quang đãng… tuy là thuộc vốn từ vựng
cũ, nhưng cách dùng thì mới mẻ. Người xưa đã từng viết : xem trong
âu yếm có chiều lả lơi, nhưng không nói : mẹ tôi âu yếm nắm
tay tôi. Câu văn hay còn vì cách chấm câu, uyển chuyển, thong thả, nhịp điệu
kéo dài, để đưa đến câu ngắn kết thúc : hôm nay tôi đi
học.
Câu văn còn mới mẻ ở nội
dung tả tâm trạng một đứa bé, nội dung này ước lệ , đặt lý tưởng người lớn vào
tâm lý, ngôn ngữ trẻ con, nhưng vẫn quý hiếm, vì nó quan tâm đến trẻ con, điều
mà, xưa kia, ít thấy trong văn chương. Do đó, câu văn không hiện thực nhưng có
tác dụng giáo dục cao. Và nhìn chung vào sự nghiệp Thanh Tịnh thì thấy, trong bản
chất, ông là một nhà giáo, trong truyện, thơ cũng như kỹ thuật “độc tấu »
về sau.
Đoạn văn không hiện thực.
Vì thời ấy trường học, và người đi học, còn ít. Trẻ con nhiều em sợ học, sợ đến
trường ; vì đi học… là chuyện không bình thường. Huy Cận, kém Thanh Tịnh 8
tuổi, kể lại : « Tôi còn nhớ mấy ngày đầu đến nhà bác Thự tôi lười
học, cứ trốn về nhà. Sau đó mẹ tôi và chú tôi phải trói tôi lại, gánh tôi bằng
một cây tre như gánh lợn đi chợ, mẹ đi trước, chú đi sau, đến giao cho bác Thự » [2]
Cái làng quê Ân Phú, Hà
Tĩnh của Huy Cận thì cũng na ná như làng Dương Nỗ (thật) hay Mỹ Lý (tưởng tượng),
Thừa Thiên của Thanh Tịnh, việc học cũng tương tợ vậy thôi. Mà có riêng gì Huy
Cận đâu ! Thế Lữ, hơn Thanh Tịnh 4 tuổi, cũng kể chuyện tương tợ :
« Lên tám tuổi, tôi học chữ nho. Tôi sợ phải đòn, trốn học, thầy đồ sai
học sinh, có khi trói tay trói chân tôi, cho đòn càn gánh về. Tôi càng sợ. Mười
tuổi mới học quốc ngữ với ông bác họ. Ông ít đánh » [3].
Dĩ nhiên, cảnh đi học mỗi
nơi mỗi khác, nhưng tâm lý trẻ em sợ việc học, ngày xưa, không chênh lệch bao
nhiêu.
Cũng phải nói thêm rằng cảnh
« tôi đi học » ấy vẫn thường thấy trong các sách tập đọc tiếng
Pháp thông dụng tại các trường Cao đẳng tiểu học thời Thanh Tịnh đi học, như một
đoạn trích văn Anatole France (1844-1924) từ tập truyện Cuốn sách
của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885) : « Tôi sẽ kể cho
các bạn nghe, hằng năm tôi nhớ lại những gì, với bầu trời thu vần vũ, những bữa
cơm chiều bắt đầu phải lên đèn, và lá úa vàng trên cành cây run rẩy ; tôi
sẽ kể bạn nghe, tôi thấy lại những gì khi đi ngang công viên Lục xâm bảo, những
ngày đầu tháng mười, bầu trời buồn và đẹp hơn bao giờ hết ; vì đây là mùa
lá rụng từng chiếc trên vai những pho tượng trắng hếu. Tôi thấy lại, trong công
viên, hình ảnh chú bé con, tay thọc túi quần, lưng đeo túi sách, đi đến trường,
nhảy nhót chân chim. (…)
Cách đây hai mươi lăm
năm, vào mùa này, mỗi buổi sáng trước tám giờ, nó đã băng qua công viên đẹp để
đến lớp. Con tim có phần se sắt : hôm ấy là ngày khai trường ».
Câu chót, tôi dịch sát
« c’était la rentrée », nhưng dịch thoát sẽ là : hôm nay
tôi đi học, là rập khuôn theo câu văn …Thanh Tịnh.
Tác phẩm Anatole France không nổi tiếng, nhưng vẫn được đánh giá cao vì tính cách cổ điển, trong sáng và tinh tế. Ông được giải Nobel năm 1921.
Những
lý luận trên đây không nhằm giảm giá tác phẩm Thanh Tịnh. Đó là những hậu quả,
hay hiệu quả tự nhiên trong nghề cầm bút. Thanh Tịnh thuộc thế hệ tác giả phải
vừa viết văn, làm thơ vừa học cách làm thơ, viết văn. Xuân Diệu công nhận việc
thừa kế nghệ thuật của mình bằng cách nhắc lại một câu tục ngữ Pháp : anh
nào trồng cải thì đã bắt chước ai đó. Trong nghề văn, vấn đề không phải là
không bắt chước ai, mà làm sao không ai bắt chước được mình. Hiệu quả là không
ai bắt chước được Xuân Diệu hay Thanh Tịnh.
Dù sao, nguồn hứng của
Thanh Tịnh hoàn toàn không đến từ văn chương nước ngoài hay kẻ khác. Nguồn cảm
hứng, thậm chí khuôn mẫu nghệ thuật của Thanh Tịnh là ca dao, dân ca. Ông nhìn
làng mạc Việt Nam qua câu hát dân gian, cho nên nông thôn trong truyện, từ
phong cảnh đến con người đã tái hiện dưới ánh sáng lý tưởng, gạn lọc cảnh lầm
than, làm nổi bật những nét thi vị. Thi ca cấu trúc không riêng gì tập truyện Quê
Mẹ, mà toàn bộ tác phẩm Thanh Tịnh, thậm chí cả cuộc đời ông, nổi chìm theo
lịch sử.
Nhiều truyện ngắn của ông
được cấu trúc theo một câu ca dao, ví dụ truyện Quê Mẹ dựa
theo câu :
Chiều chiều ra đứng ngõ
sau
Ngó về quê mẹ ruột đau
chín chìu
Cô Thảo nhà nghèo, và lấy
chồng nghèo ở làng xa. Nhưng ngày giỗ vẫn được chồng và nhất là mẹ chồng giúp đỡ
để về quê mẹ : « Sung sướng nhất là gái có chồng về nhà mẹ.
Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi
chiều, mãi đến lúc gần cúng, cô mới chịu đi ra ngoài (tr. 10).
Trong thực tế, đây là ngoại
lệ. Nhưng trong thế giới Thanh Tịnh, nó là biểu tượng, là hình ảnh một xã hội
không tranh chấp, giữa vợ chồng, mẹ chồng nàng dâu, nông dân địa chủ, cái cũ và
cái mới. Một xã hội như thế khó bề có thực, nhưng vì tác giả nhìn đời bằng đôi
mắt thi ca, nên chỉ nhìn thấy, và đề xuất những nét an bình, hạnh phúc, thi vị.
Trong làng, nghèo nhất phải
là người đi mót lúa, nhưng họ không cùng cực, vì chủ ruộng và thợ gặt nhân nhượng : «
cách gặt của họ cũng biết điều chớ không phải vơ vét hết sạch đâu. Họ còn phải
để lại ít nhiều cho người nghèo nữa » (tr.28).
Ngược lại, từ phía bên
kia : « tuy người khố rách áo ôm, họ vẫn để điều nhân nghĩa lên
trên tất cả. Một câu ca dao miền Trung đã tả được nỗi lòng người đi
mót :
(…) Tôi đến đây mót lượng
từ bi
Mót điều nhân nghĩa chớ
mót chi lúa ngài »
Người mót lúa là cô Hoa.
Cha mẹ nghèo và lấy phải chồng nghèo trong truyện Con so về nhà mạ,
cũng dựa theo ca dao : « theo tục lệ, thì chỉ đẻ con so là về nhà
mẹ thôi. Chứ cô sinh đẻ mấy lần, cô cũng qua nhờ mẹ cả » (tr.33), vì
chồng nghèo quá, không lo kham việc vợ đẻ. Mà mẹ thì cũng nghèo thôi.
Nông thôn trong truyện là
một xã hội nhân ái, nên con người nghèo khổ vẫn không khốn cùng. Được vậy, là
do tấm lòng nhân ái của Thanh Tịnh đưa đến cách ông nhìn cuộc đời qua lăng kính
của thi ca.
Một ví dụ khác, một truyện
hay, qua hành văn nhuần nhuyễn là Tình trong câu hát, tr 90, được cấu
trúc trên mấy câu hò mái nhì, chủ yếu là câu :
Tình về Đại Lược
Duyên ngược Kim Long
Đến đây là chỗ rẽ của
lòng
Gặp nhau còn biết trên
sông bến nào
Câu hò được cấu trúc trên
một chữ « lòng » trong hai nghĩa, cả hai nghĩa đều thông dụng, là
lòng sông và lòng người. Khi lòng sông phân rẽ, hai con đò phải cách xa, ẩn dụ
tâm tình của lòng người cũng phải chia ly. Trên hạt nhân ấy, là một loạt ẩn dụ
liên kết (métaphore filée) : sông, bến, tình, duyên, Đại Lược, Kim
Long, lại thêm phần vần vè.
Trên hạt nhân sẵn
có này, Thanh Tịnh hư cấu câu chuyện nằm chồng lên, và xây dựng một tuyến nhân
vật, với những tình tiết thích nghi. Nhân vật Đạt phải là người góa vợ
đã lâu, mới cất tiếng hát «não nùng»:
Thuyền ai trôi trước
Cho tôi lướt tới cùng…
Rồi đò bên kia sẽ có giọng
nữ vô danh cất lên, đáp lại, cho đến khi hai con thuyền chia biệt, tình
về Đại Lược, duyên ngược Kim Long…
Vũ Ngọc Phan là nhà phê
bình tinh tế, đã viết về Thanh Tịnh đúng và hay, không tiếc lời ca ngợi truyện Tình
trong câu hát, nhưng ông không nhận ra hư cấu này, nên đã nhận định «cảnh
thực mà như mộng. Anh lái đò lo sợ mộng tan» [4]… Lẽ ra phải nói ngược lại: cảnh mộng
mà như thực.
Tầm nhìn thi vị và tấm
lòng nhân ái của Thanh Tịnh đã hóa giải những tranh chấp cá nhân và xã hội,
thậm chí cả những va chạm giữa cũ và mới. Các lớp học chữ Hán lặng
lẽ và êm thắm nhường chỗ cho trường quốc ngữ; những chuyến đò dọc nhường
khách cho tuyến đường sắt. Các phương tiện lưu thông chiếm một địa vị quan trọng
trong tập truyện Quê Mẹ, vừa cấu trúc truyện kể, vừa chuyên chở biểu
tượng cho một xã hội đang xê dịch, chuyển mình, đặc biệt với con đường sắt.
Cuối cùng truyện Thanh Tịnh
đánh dấu một buổi giao thời, và ghi lại nhiều vẻ đẹp một thời của quê hương qua
những mẫu chuyện đôn hậu, tình cảm lành mạnh và lời văn trong sáng.
Với khách tha hương, xưa
và nay, tập truyện đầu tay của Thanh Tịnh xứng đáng với tên Quê Mẹ.
Chú thích:
[1] Thanh
Tịnh, Quê Mẹ, nxb Đời Nay, 1941, Hà Nội. Trích theo lần tái bản,
tr.85, nxb Văn Học, 1983, Hà Nội
[2] Huy
Cận, Đời và Thơ, tr. 610, nxb Văn Học, 1999, Hà Nội
[3] Thế
Lữ, Cuộc đời trong nghệ thuật, tr.11, nxb Hội nhà văn, 1991, Hà Nội
[4] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, 1942, quyển Tư, tập hạ, in lại, tr. 1109, nxb Khoa Học Xã Hội, 1989, Hà Nội.
Theo nhà phê bình Đặng Tiến, Mỹ Lý chỉ là một tên làng tưởng tượng cho những truyện ngắn của Thanh Tịnh, gợi ý từ bài thơ Milly ou La Terre Natale của Lamartine.
15/11/2011
Đặng Tiến
Theo https://www.art2all.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét