Thứ Tư, 1 tháng 11, 2023
Thế sự được nhìn qua lăng kính hài hước
Thế sự được nhìn
Đọc tập truyện trào
phúng “Cơn cao hứng đáng giá ngàn vàng”, NXB Tổng hợp TPHCM
Đặc sắc Yến Lan
Đặc sắc Yến Lan
Yến Lan làm thơ từ chặng đầu của
phong trào Thơ Mới, 1937. Khi ấy ở Bình Định có nhóm bạn trẻ làm thơ khá nổi. Họ
kết thân với nhau, gọi là Bàn Thành tứ hữu, cái tên toàn chữ Hán, chắc người
nghĩ ra danh xưng này là Quách Tấn, người chuyên làm thơ luật Đường. Quách Tấn
cao tuổi nhất trong nhóm, sinh năm 1910. Hàn Mặc Tử sinh 1912, Yến Lan 1916, ít
tuổi nhất là Chế Lan Viên 1920. Đất Bình Định không lớn, nhưng ảnh hưởng của
nhóm thơ này, đặc biệt là Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, vào nền thơ Việt hiện đại lại
không nhỏ.
Với Yến Lan, đóng góp vào giai đoạn thơ trước 1945, thường được
nhắc đến ở đơn vị bài “Bến My Lăng”. Bài thơ được Hoài Thanh tuyển in vào tập
“Thi nhân Việt Nam” xuất bản năm 1942 và có mặt trong tập thơ đầu của ông, tập
“Những ngọn đèn” xuất bản năm 1957. My Lăng là một bến đò trong tưởng tượng.
Ông lái đò, hẳn là đò ngang, lại có phong thái một ông đạo sĩ, lúc câu cá, lúc
đọc sách, uống rượu, ngắm trăng, thổi tiêu và say ngủ giữa trời trăng trong tiếng
gọi đò của khách quá giang. Ông khách gọi đò trong cái đêm trăng mông lung ấy,
cũng đặc biệt: một chàng kỵ mã, nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly. Tiếng gọi
đò hối hả, khẩn thiết làm run rẩy cả ngàn trăng cũng chỉ vì chàng sợ trăng vàng
rơi khuất lối. Tình huống ấy, nhân vật ấy đúng là một cơn mơ trong cổ tích. Nó
lãng mạn, nó huyền ảo, và giàu sức gợi thẩm mỹ vào cõi mộng của người đọc.
Không nên tìm ý nghĩa hiện thực hay tư tưởng tác động xã hội của bài thơ này.
Không tìm, vì nó không có. Không có vì nó không thực, nhưng nó đủ lý do để tồn
tại. Đó là thơ, là chức năng mộng ảo vốn có của đời thực con người.
Nhiều nhà phê bình nhận xét: thơ Yến Lan không có câu non
lép. Tôi nghĩ đó là một nhận xét đúng. Đúng từ những bài viết ở chặng đầu, trước
Cách mạng, đến suốt cả đời thơ ông… Bài thì khi hay, khi xoàng nhưng câu bao giờ
cũng kỹ càng, cẩn trọng. Yến Lan đầu tư công sức vào đơn vị câu. Ông chọn chữ,
đổi sắc thái các chất liệu thơ bằng các động từ, ông tác động chất liệu này lên
chất liệu kia một cách khác biệt, tạo nên bối cảnh thơ kỳ lạ từ các chi tiết
quen. Xin lấy một ví dụ ngẫu nhiên, từ bài “Bình Định 1935”:
Cây lặng lẽ gượng làm bầy hải đảo
Thuyền bồ câu nghiêng buồm trắng trôi ven
Tăm chiêu mộ nổi trên dòng nước Đạo
Rượu ân tình – Bình Định – xứ lên men
Thơ tả gì? Tả cây, tả thuyền, tả dòng sông . Ờ mà dòng sông
hay dòng rượu? Bình Định có rượu Bầu Đá nổi tiếng. Sông mà sớm chiều nổi tăm
(tăm chiêu mộ) thì là sông rượu rồi. Mà nếu chưa phải rượu thì ở câu thứ tư nó
cũng thành rượu vì cả Bình Định này là xứ lên men. Cây như đảo, thuyền như
chim, sông như rượu. Nhưng ông không dùng chữ như dễ dãi như tôi vừa dùng. Ông
miêu tả bằng cách cho cây gượng làm bầy hải đảo. Chữ bầy cũng là một dấu vết
lao động. Ghép thuyền với bồ câu và cho nghiêng cánh. Đấy là phép đan cài tung
trên hứng dưới khá tỉ mỉ của Yến Lan. Ông làm mới câu vì ông vốn ham chi tiết.
Mỗi câu miêu tả một chi tiết, ngang cấp về ý tưởng ngang cấp về tình cảm. Bài
thơ thường bị kéo dài và rất dễ bằng phẳng. Bằng phẳng vì nội lực các câu thơ vốn
bằng nhau. Để tránh đơn điệu, ông kỳ hóa chất liệu, sáng tạo chữ, đôi khi cao
hơn, sáng tạo cảm giác, tạo nên câu thơ lạ mang cái hay đột xuất giữa mạch thơ
đang thường thường bậc trung của toàn bài, trong bài “Bình Định 1935” nói trên,
bỗng vụt lên:
Trời Bình Định có thương Em lẻ chiếc
Em nằm thương xanh biếc của trời buồn
Nhưng sao phải ham chi tiết, ham kể, ham tả. Trước hết là do
tạng cảm xúc của từng nhà thơ. Riêng với Yến Lan, tạng mê chi tiết ấy ngay
trong thơ trước Cách mạng đã có. Sau này ở chặng thơ viết từ các cuộc đi thực tế
sau cuộc đấu tranh tư tưởng Nhân Văn giai phẩm, lại càng đậm, tính ghi chép đời
sống khá rõ, chắc ông cũng thấy thế nên có bài ông ghi là bút ký thơ. Bài thơ
khi ấy, như một báo cáo thu hoạch thực tế. Kể nhiều để thấy thu hoạch nhiều, để
thấy cuộc sống mới đã tràn vào tâm hồn nhà thơ đầy chật và phong phú như thế
nào. Đây cũng là một kiểu đánh giá thơ hồi ấy. Yến Lan, thương điểu kinh cung,
ông hạn chế bộc lộ riêng tư để chuyển tải đời sống mới:
Những hồi kẻng vang lừng thôn hợp tác
Những mái nhà ngói đỏ cả lùm tre
(…) Bè gỗ thuyền câu kín giàn mặt nước
(…) Chở nụ cười quê lên giàn giáo công trường
Là một nhà thơ tài năng, ông biết sở đoản của lối thơ kể việc
nên dựa vào sở trường của mình, ông nâng cấp nó. Ông đầu tư công sức vào câu để
lạ hóa, để kỳ hóa nó. Đó là một sáng kiến, một ưu điểm nữa, khi nền thơ chúng
ta đang dễ dãi về câu (Lục cục lào cào/ Anh cuốc em cuốc/ Đá lở đất nhào/ Nào
anh bên trai/ Nào em bên nữ/ Ta thi nhau thử/ Ai tài hơn ai). Nhưng sa vào câu
mà quên mất bài thì lại là nhược điểm. Yến Lan đây đó cũng vấp nhược điểm ấy.
Tôi coi đấy như sự trả giá để có những thành tựu mà ông đạt được: những Mùa
xuân lên cao, Theo gió xuân lên biên giới, Bài ca hợp tác thôn tôi… Ở những bài
thơ này, câu thơ không chỉ tinh xảo trong miêu tả thực tế mà ông đã ảo hóa
chúng ngay trong khâu thu nhận nghĩa là cảm xúc ông đã nhập chúng vào thế giới
thẩm mỹ mơ mộng của tâm hồn. Chi tiết là hiện thực (chỗ xuất phát) nhưng tác động
vào bạn đọc (chỗ đến) lại do yếu tố phi thực. Trong bài “Mùa xuân lên cao”, đoạn
đầu ông tạo ấn tượng, rất thực mà cũng rất gợi:
Mới nghe đã sợ
Những tên chẳng hiền
Trái Hút, Mậu A, Ngòi Hóp
Tên như tên của hang beo hốc cọp
Bóng ma theo gót thày then
Sâu quảng sùi lên
Biệt kích còn moi sào huyệt
Lưỡi lê chọc tiết
Chặn đường thổ phỉ cướp xe
Đoạn giữa, một cơn say trùng điệp:
Ta qua những làng
Máng rủ suối sang
Chàm ngâm tím vại
Trâu kéo gỗ về sông Yên Bái
Bến Âu Lâu thóc trẩy sáng đò
Ta đứng trên những nương ngô
Phấn bay giếng nước
Giàn su quả dày
Vườn cam quả sây
Cam hay chim nở
Cam hay em nhỏ
Trên cành múa lay
Cam hay má đỏ
Tay sờ mát tay
Đoạn cuối, thực ảo biến hóa tài tình, dào dạt:
Tay ai dắt ngựa ra phiên tết
Năm cũ người Mèo mai trẩy hết
Năm mới về theo những điệu khèn
(…) Ta mang miền ngược về thành phố
Miền ngược nằm trong những búp đào.
Bài thơ viết tháng giêng năm 1958, ngay sau cuộc đấu tranh tư
tưởng mà đối với Yến Lan không phải không nặng nề. Có được mạch cảm xúc thênh
thênh thơ mộng ấy là một bản lĩnh thi sĩ, một biểu hiện tài năng đáng khâm phục.
Bài thơ hay trong ý, trong tình, trong nhịp điệu. Câu thơ dài ngắn xuống lên
như tiếng reo, tiếng hát hòa quyện ngoại cảnh với hồn người, tung tẩy xa rộng,
thênh thang, đầy chủ động.
“Bài ca Hợp tác thôn tôi” là một nhập cuộc tiêu biểu của nhà
thơ, rộng hơn của người trí thức với bà con cày cuốc chân lấm tay bùn. Chúng ta
từng khâm phục cụ Tam Nguyên Nguyễn Khuyến đã bấm ngón trên bàn tay tiến sĩ
tính liệu với bà con lam lũ thôn Bùi:
Quanh năm làm ruộng vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm mùa mất mùa
Phần thuế quan thu, phần trả nợ
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò
Nay thấy Yến Lan lấn nước chân chiêm, ngã mềm chân hóa. Ông sử
dụng lời ăn tiếng nói nông dân, ông nhìn làng xóm ruộng đồng bằng cái nhìn của
người cùng hai sương một nắng:
Tre khép chuồng bèo – trâu nhai bóng mát
Ta đi nhổ cói dệt chiếu ta ngồi
Rót ấm chè tươi mời đón thêm người
Ta bàn chuyện đan nia, phất quạt.
Bút pháp mạch thơ này, tôi có cảm giác nó không dính dáng với
Bến My Lăng mộng ảo mà có lẽ nó là bước phát triển của khuynh hướng hiện thực từ
“Lại về tỉnh nhỏ”. “Lại về tỉnh nhỏ” viết năm 1956, nó là một nhịp lạ tài hoa
giữa giàn thơ ca khi ấy. Lạ, trong cách cảm nhận thực tại: cảm vào lõi của hiện
thực, nắm bắt được cả phần hồn hư ảo của hiện thực. Lạ trong thể hiện: một ngôn
ngữ sáng rõ, rành mạch, mà lại giàu sức gợi, đẫn tưởng tượng người đọc đi rất
xa. Âm điệu cũng tạo nên nội dung, cái cuộc sống cũ kỹ, ngưng đọng, chỏng chơ,
rơi rụng của tỉnh lẻ thời Pháp thuộc hiện rõ chỉ trong tám chữ rơi trên bốn bậc
thơ này:
Tỉnh nhỏ
Cô em
Nằm xem
kiếm hiệp
Cuộc sống mới sau ngày giải phóng miền Bắc, ở đoạn sau bài
thơ, được tác giả đặc tả với khá nhiều chi tiết, tuy tỷ trọng ấn tượng của cái
mới chưa đậm đặc bằng khi tả cuộc sống cũ. Nhưng trong toàn thể: cảm xúc bài
thơ tươi mới lắm và câu thơ kết bài trí tuệ như một biểu tượng.
Mặt trời không muốn lặn
Mặt trời len vào mắt con người
Sau ngày thống nhất đất nước, Yến Lan về sống với quê nhà
Bình Định. Thơ ông có một bước chuyển. Một bước chuyển có tính tổng kết, ngẫm
nghĩ lại đời người. Ông không làm thơ dài. Không kể và tả chuyện ngoài đời nữa
mà nói lòng mình. Thơ như viết cho mình. Nói thật, nói hết những nông nỗi dâu bể
đời người mình đã trải. Ông tìm về cách nói cổ điển, hàm súc, đôi khi ước lệ
trong thi pháp thơ Đường tứ tuyệt. Cảm xúc phóng khoáng, ung dung, thoáng chút
ngậm ngùi năm tháng và nỗi cô đơn của tuổi già:
Tàu ngang quê cũ
Khói quyện đầu ô, nửa xóm nhòa
Tàu dừng đổ khách, sắp rời ga
Đồng hương kẻ xuống, người ra đón
Mình suốt đời đi chửa tới nhà
Sinh nhật 1989
Năm nay sinh nhật chẳng ra thơ
Xót bạn, mong con, ốm dật dờ
Đón khách những toan ra mở cổng
Giật mình con nhện đã giăng tơ
Chèo
Vò rối tơ rồi, gỡ rối tơ
Gỡ không ra mối lại đem vò
Nàng Vân giả dại, nàng Vân dại
Vân dại nên đời cũng ngẩn ngơ
Trong thời đất nước cắt chia, nhà thơ Yến Lan xa quê Bình Định,
ra sống ở Hà Nội, nhiều năm là cán bộ biên tập thơ của Nhà xuất bản Văn Học,
khi ấy là Nhà xuất bản chủ lực trong việc giới thiệu thơ. Lứa chúng tôi đều được
ông biên tập cho những tập thơ đầu. Ông sửa chữa góp ý tận tình, tỉ mỉ. Có người
nghĩ ông kỹ tính? Tôi nhớ tập thơ đầu tiên của Phạm Tiến Duật được ông biên tập,
Duật có nói trước với ông, nếu cần sửa đổi gì ông cứ bàn với tôi. Duật vào chiến
trường, ông đưa tôi xem cách sửa của ông với bài “Công việc hôm nay”. Ông thấy
câu thơ Duật ở bài này lòng thòng văn xuôi quá, ông thu gọn lại một số câu làm
mẫu và bảo tôi sửa tiếp. Tôi nghe, về hì hụi làm. Được nửa chừng thấy bài thơ
mang dáng dấp khác. Bớt lòng thòng nhưng hình như mất đi cái vẻ lôi thôi rất
văn xuôi của ngày thường đời sống. Tôi thưa lại với ông. Ông bảo để xem. Hôm
sau ông đồng ý để nguyên như cũ. Và không chỉ với bài này, mà với cả tập, giúp
cho chất thơ mang nguyên cát bụi chiến trường do Duật khởi xướng được nhanh
chóng đến với mọi người. Ông ít nói, ngay cả khi chúng tôi hỏi về kỷ niệm hồi
Thơ Mới, ông trả lời rất tóm tắt như muốn khép lại những chuyện đã qua. Chúng
tôi nhớ ông. Chúng tôi biết ơn ông.
16/4/2019
Vũ Quần Phương
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
"Đầu chày đít thớt ông đâu ngán", hay là Vũ Bão cười
"Đầu chày đít thớt ông
đâu ngán", hay là Vũ Bão cười
Nhà văn Vũ Bão vốn không phải
người họ Vũ, mà là họ Phạm (tên cha sinh mẹ đẻ là Phạm Thế Hệ). Ông viết nhiều,
đủ các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, kịch bản điện ảnh, nhưng đặc sắc
nhất trong văn nghiệp Vũ Bão chắc chắn là truyện ngắn.
Cái họ Vũ “ăn chết” vào bút danh của ông là do lòng yêu quý
hâm mộ bậc thầy văn xuôi trào phúng Vũ Trọng Phụng mà ra.
Hẳn ông muốn nối nghiệp tác giả của Số Đỏ mà “đi tìm sự thật biết cười” (tên một
tập tiểu luận của nhà văn, triết gia người Italia Umberto Eco), mà khiêu vũ với
chữ nghĩa, mà mang tiếng cười hài hước góp phần làm tươi tắn cho một nền văn
chương đã quá thừa sự nghiêm nghị. Đặt trong bối cảnh của văn xuôi nghệ thuật
Việt Nam thời “hậu Vũ Trọng Phụng”, quả thực, Vũ Bão là một trong số rất ít nhà
văn đã làm được điều ấy. Nhưng cũng cần phải nói ngay rằng tiếng cười hài hước
của Vũ Bão là thứ tiếng cười rất đặc biệt, thậm chí không giống ai. Nó là tiếng
cười “xả láng”. Nó là tiếng cười phanh phui, quất roi vào cái giả cái xấu cái
đáng ghét trong đời sống. Nó là tiếng cười có ý nghĩa điều chỉnh xã hội v.v… Có
cả, nhưng còn hơn thế: ở một số trường hợp, tiếng cười hài hước của Vũ Bão đã
chạm tới những vấn đề triết luận, và mang tầm của triết luận.
Truyện ngắn vào loại nổi tiếng nhất của Vũ Bão là truyện Người
vãi linh hồn – nhà văn Hồ Anh Thái từng coi đây là “một trong những truyện hay
trọn vẹn” (Bài Vũ Bão, kho chuyện cười, in trong Văn xuôi Vũ Bão, NXB Thanh
Niên, 2000). Cụm từ “vãi linh hồn” trong tên truyện được Vũ Bão mượn từ khẩu ngữ
dân gian, nhưng khi đi vào tác phẩm ông đã khiến nó trở nên sống động lạ thường
và mang một chiều kích ý nghĩa khác hẳn lúc ban đầu. Người vãi linh hồn trong
truyện là kẻ đã sợ đến vãi đái – theo nghĩa đen – trong một trận công đồn địch.
Nhưng khi người ta cần dựng lại trận đánh đó để quay phim tài liệu lịch sử, thì
kẻ đã sợ đến vãi đái kia lại được chọn làm người phất cờ chiến thắng trên nóc đồn
quân thù. Guồng máy đã khởi động và cứ thế vận hành, không thể đảo ngược: bộ
phim được công chiếu, tấm ảnh người chiến sỹ phất cờ trích từ bộ phim được in
thành tem thành lịch, người chiến sỹ phất cờ còn được mời sang tận Anh quốc để
kể về trận đánh hào hùng. Câu chuyện là thế, và nói chung thì người đọc không
khó để nhận thấy ở đây Vũ Bão đã dùng tiếng cười để đả kích kiểu người Lý Thông
thời chiến: lúc lâm trận thì đớn hèn, bỏ mặc đồng đội, đến khi chiến thắng thì
vơ tất công trạng về mình. (Nhân vật xưng Tôi không tránh khỏi thái độ cay cú
khi nghĩ về người vãi linh hồn: “Thằng con trời ấy, số nó đỏ thật. Giá lúc tôi
bảo nó đưa băng đạn và cả hai quả lựu đạn cho tôi, nó tự ái khi thấy danh dự bị
xúc phạm, nó liền lao lên lấy thân mình lấp ngay lỗ châu mai thì bây giờ làm
sao còn sống mà sang Anh bốc phét nữa”). Nhưng câu chuyện không chỉ có thế. Hãy
chú ý tới câu kết của truyện ngắn này, người kể chuyện như hạ giọng kèm theo một
cái nháy mắt đầy tinh quái: “Cái quần trong phim là cái quần khác đấy”. “Cái quần
khác”, nghĩa là không phải cái quần mà nhân vật đã mặc trong trận đánh thật,
không phải cái quần đã ướt nước tiểu – chất thải của sự sợ hãi – dù hẳn là nó
cũng giống cái quần kia. Cái quần ướt nước tiểu (có thứ mùi chắc không thơm tho
gì) đã bị tước bỏ hoàn toàn sự tồn tại vật chất của nó. Sự thật hèn mọn bị tẩy
trắng, xem phim, người ta chỉ còn thấy toát lên bừng bừng phẩm cách anh dũng của
người chiến thắng mà thôi. Nói cách khác, cái quần trong bộ phim tài liệu lịch
sử là cái quần giả, và lịch sử ở đây cũng là lịch sử giả, thứ lịch sử đã bị
nhào nặn một cách thô bạo. Xét cho cùng, lịch sử với tư cách cái đã thực sự diễn
ra thì một đi không trở lại. Mọi hình thức lưu giữ lịch sử (phim ảnh, tài liệu
ghi chép, biên niên sử…), những thứ mà nhờ đó người đến sau có thể tiếp cận và
nhận thức về lịch sử, đều là sự diễn dịch lịch sử theo các cách, và ở các mức độ
nào đó. Chân thực và ngụy tạo, lịch sử và giả lịch sử – chẳng cái gì có thể khiến
người ta phải giữ một niềm tin xác quyết. Tiếng cười hài hước bật ra từ một
tình huống lầm lẫn trong Người vãi linh hồn của Vũ Bão thật ra là tiếng cười khẳng
định một thái độ: sự hoài nghi cần phải có trước lịch sử, thứ lịch sử vẫn được
xem như chân lý tuyệt đối.
Bệnh thành tích trong đời sống xã hội là một trong những đối
tượng bị tiếng cười Vũ Bão quất roi nhiều nhất. Ông từng có truyện ngắn Ông
khóc tôi cũng khóc, kể chuyện một vị giám đốc Sở thể dục thể thao tỉnh nọ đã phải
làm bao trò nhảm nhí để thực hiện cho được nghị quyết đại hội: đội bóng đá tỉnh
nhà “cắt khẩu” hạng A2, lên hạng A1. Nhưng đáng nói hơn cả trong seri tác phẩm
loại này phải là truyện ngắn có cái tên Người chưa có chiến công. Truyện có
nhân vật anh chiến sỹ tên Rãng, là người cẩn thận chu đáo, biết lo xa tính trước,
nên khi được giao nhiệm vụ gì cũng làm đâu gọn đấy, bất kể điều kiện thực tế có
khó khăn trở ngại cách nào. Thế nhưng, bệnh thành tích đã làm mờ mắt các cấp chỉ
huy của anh, họ không nhận ra được giá trị ở con người như Rãng, mà lại coi là
có chiến công những kẻ vừa làm vừa bày ra để rồi sau đó quay lại hăng hái năng
nổ dọn dẹp cái đống bày ra của chính mình. Chính vì “chưa có chiến công nổi bật”
trong mắt lãnh đạo, nên việc xét kết nạp Đảng của Rãng đã bị chậm lại. Nhưng
hình như Người chưa có chiến công không chỉ dừng lại ở việc phê phán bệnh thành
tích. Khi viết truyện này Vũ Bão chắc chắn là chưa đọc những công trình về minh
triết Trung Hoa của nhà Đông phương học người Pháp Francois Julien. Nhưng kỳ lạ,
những gì ông viết về anh chiến sỹ Rãng thì hoàn toàn có thể được đưa vào như những
ví dụ chứng minh cho nghiên cứu của F. Julien trong cuốn Bàn về tính hiệu quả
(Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Đà Nẵng, 2002). Thử đọc một đoạn Rãng nói với đồng đội
khi nhận được tin B52 có thể sẽ đánh: “B52 rải thảm, đất đá đùn xuống suối, ta
không có nước thổi cơm, dù chưa chết nhưng cũng đói mờ mắt cái đã. Tôi đề nghị
ta đùm nước vào túi ni-lon dự trữ trong hang, ta thổi luôn hai bữa cơm, ăn bữa
cơm nóng, ủ một xoong cho bữa chiều. Sau trận B52, anh em búi vào phục hồi đường
dây không mở mắt thổi cơm được đâu”. Chuyện xảy ra đúng như vậy, đơn vị bạn do
không lường trước tình huống nên cuối cùng phải đến Rãng xin nước xin cơm. Hay
một đoạn khác, khi chính trị viên tuyên dương một đồng chí tên là Bành, trong
trận bom đã dũng cảm dùng răng (do đánh mất kìm) tuốt lớp vỏ nhựa nối hai đầu
dây điện báo, lấy thân mình làm móc nối, bảo đảm liên lạc thông suốt, Rãng đáp:
“Tôi đã khâu một cái túi đựng kim cài vào xanh-tuya-rông. Tha hồ tôi chạy tôi
lăn, không bao giờ tôi đánh mất kìm như đồng chí Bành. Vả lại mỗi khi vọt ra khỏi
hầm, trên vai tôi đã đeo sẵn cuộn dây thì làm sao tôi phải dùng răng cắn hai đầu
dây cho dòng điện chạy qua người như đồng chí Bành ạ”. Cách hình dung và xử lý
vấn đề như của Rãng, khi nghiên cứu Lão Tử, F. Julien đã chỉ định bằng cụm từ
“sự tác động vào giai đoạn thượng lưu của quá trình”. Nói ngắn gọn, nghĩa là phải
hành động ngay khi sự việc chưa diễn ra, khi sự vật chưa hề định hình, khi mọi
hướng vận động mới chỉ tồn tại ở dạng khả năng. Làm được điều ấy, kết quả tốt
nhất sẽ tự đến mà chủ thể hành động không cần phải tốn công mất sức cưỡng ép đối
tượng. Triết lý về tính hiệu quả kiểu này chủ trương một sự tác động âm thầm,
không lộ liễu. Nó là thứ triết lý không có chỗ cho những kỳ tích cá nhân, thứ
triết lý khai tử những hành động anh hùng đột xuất và chói sáng (Lão Tử mô tả
Thánh nhân như một kẻ lười nhác vô công trạng vô tích sự, cũng chính là với ý
này). Lẽ dĩ nhiên, những con mắt thiển cận sẽ chỉ chú mục vào sự năng nổ lộ liễu
mà thôi, và đó là điều đã xảy ra với anh chiến sỹ Rãng trong truyện của Vũ Bão.
Đọc Người chưa có chiến công lúc này, khi cả xã hội đang hô
hào xây dựng một nền kinh tế tri thức, nhưng ở đâu đó, vẫn có sự đánh giá hiệu
quả lao động chỉ qua lượng thời gian và lượng mồ hôi vật chất bỏ ra cho công việc
– những thứ nhìn thấy được đo đếm được – chứ không căn cứ vào lượng chất xám,
thì càng thấy tầm triết luận của tác giả và tính thời sự của tác phẩm.
Tiếng cười của Vũ Bão còn trải dài cả một danh sách truyện ngắn (chỉ nói truyện
ngắn, chưa tính đến tiểu thuyết và kịch bản phim): Người không có tên trong từ
điển, Phó tiến sỹ không hữu nghị, Bút bi hết mực, Nhà trẻ không có bô, Lý sự
người đời v.v… Dường như ở bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, ở bất cứ nơi nào
có sự trái khoáy của việc lẫn lộn giữa cái thật và cái giả, cái đẹp và cái xấu,
cái tử tế và cái nhem nhếch, cái hợp lý và cái phi lý… là Vũ Bão đều xuất hiện
và cất tiếng cười. Trong Người không có tên trong từ điển, Vũ Bão lật mặt tệ
quan liêu khi kể chuyện người ta chỉ nhăm nhăm sửa cái tên của anh lính Chình
thành Trình, cho có nghĩa, mà quên bẵng việc phải đối xử công bằng với người
luôn đấu tranh vì lẽ công bằng. Trong Nhà trẻ không có bô, tiếng cười Vũ Bão
phát lộ cả một hệ thống nhà trẻ mà trẻ em là những cậu ấm cô chiêu đã tự đi vào
toilet được: đó là những cơ quan sinh ra để cán bộ gửi con cái mình vào, cho có
mác công chức hưởng lương nhà nước, còn ngoài ra chỉ lo việc ăn chơi nhảy múa.
Truyện Phó tiến sỹ không hữu nghị lại khá đặc trưng cho một thời đã qua (chưa
lâu lắm) của xã hội Việt Nam: tình hữu nghị anh em giữa các quốc gia chung hệ
thống đã giúp một thiểu số người có được “bằng cấp cho”, “danh hiệu xin”; với bằng
cấp ấy danh hiệu ấy cộng thêm nhiệt tâm phá phách, họ đẻ ra khối chuyện dở khóc
dở cười… Trong những truyện ngắn loại này, tiếng cười hài hước của Vũ Bão là tiếng
cười gắn chặt với đời sống, phản ảnh trực tiếp đời sống, mang đậm hơi thở đời sống.
Nói cách khác, nó gần với báo chí (chớ quên rằng Vũ Bão còn là một nhà báo có
tài và rất xông xáo trong báo giới Việt Nam một thời). Cùng với những truyện ngắn
mang tiếng cười triết luận như Người vãi linh hồn hay Người chưa có chiến công,
nó góp phần làm hình thành trong độc giả diện mạo Vũ Bão như một nhà văn hoạt
kê đa phong cách.
Xuân Sách từng có bốn câu “vịnh” Vũ Bão: “Sắp cưới bỗng có thằng
phá đám/ Nên ông chửi bố chúng mày lên/ Đầu chày đít thớt ông đâu ngán/ Không
viết văn thì ông viết phim”. (Sắp cưới là tiểu thuyết đầu tay của Vũ Bão, vì
tác phẩm này mà đời văn của ông đã phải chịu lắm bước gian nan). Nghe đâu lúc
sinh thời Vũ Bão không chịu câu “Nên ông chửi bố chúng mày lên” của ông bạn
Xuân Sách. Ông nói truyện của ông hài hước, nhưng không hề hằn học, ác ý hay chửi
đổng. Đọc lại truyện ngắn Vũ Bão, thấy quả có thế.
18/4/2019
Hoài Nam
Nguồn: Báo Văn Nghệ
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Báo chí công khai đấu tranh đô thị ở Sài Gòn trước năm 1975
Báo chí công khai đấu tranh đô thị
ở Sài Gòn trước năm 1975
Giáo sư Trần Văn Giàu trong tiểu luận
“Lược sử báo chí Thành phố Hồ Chí Minh” từng khẳng định: “Sài Gòn là thành phố
có nhiều báo chí yêu nước và cách mạng hoạt động công khai giữa lòng địch”. Quả
thật, nhìn vào hoạt động đấu tranh đô thị ở miền Nam trước năm 1975, không thể
nào phủ nhận vai trò của báo chí với những nhà báo tài ba và can trường như Vũ
Tùng, Dương Tử Giang, Nam Quốc Cang, Nguyễn Văn Nguyễn, Thiếu Sơn, Khuông Việt,
Mai Văn Bộ, Lê Tràng Kiều, Lý Văn Sâm…
Tờ báo Tin Điển nổi danh với mục “Trớ trêu” của Nam Quốc Cang
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Mặt trận Báo chí Thống nhứt
Nam bộ đã được thành lập với các thành viên tiêu biểu như tờ Tin Điển của Lê
Trung Cang, tờ Việt Bút của Nguyễn Kim Bắc, tờ Kiến Thiết của Lê Quang Trường,
tờ Tân Tiến của Lê Quang Trinh, tờ Nước Nhà của Trần Cửu Chấn, tờ Việt Nam của
Võ Thành Cứ, tờ Cộng Đồng của Lê Văn Trường, tờ Ánh Sáng của Lư Khê, tờ Dư Luận
của Nguyễn Phan Long… Ngày 10-10-1946, Mặt trận Báo chí Thống nhứt Nam bộ đã ra
tuyên bố gồm 4 nội dung chính: Thứ nhất là đấu tranh cho độc lập dân tộc, thống
nhứt đất nước. Thứ hai là đòi Chính phủ Pháp tôn trọng Hiệp định sơ bộ 6-3 và
Thỏa hiệp án 14-9-1946. Thứ ba là dẹp bỏ chính phủ bù nhìn Nam kỳ tự trị. Thứ
tư là thương thuyết với chính phủ Hồ Chí Minh.
Tờ Việt Báo do Dương Tử Giang làm chủ bút
Với tiêu chí dứt khoác như vậy, Mặt trận Báo chí Thống nhứt
Nam bộ đồng loạt cho in trên trang nhất toàn văn Tuyên ngôn của Ủy ban Hành
chánh Nam bộ do Chủ tịch Phạm Văn Bạch chấp bút và lời kêu gọi của tướng Nguyễn
Bình – Ủy viên quân sự Nam Bộ nêu rõ chủ trương chấp hành mệnh lệnh của Chính
phủ trung ương. Tờ Công Lý cho in bài hát “Tiến quân ca” của Văn Cao, còn tờ Kiến
Thiết cho in bài “Khu giải phóng Việt Bắc” của Võ Nguyên Giáp. Mặt trận Báo chí
Thống nhứt Nam bộ cũng không ngần ngại tấn công trực diện vào Chính phủ Nam kỳ
tự trị. Không chịu nổi búa rìa dư luận, ngày 10-11-1946, Thủ tướng đương quyền
là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh treo cổ tự vẫn. Chính phủ bù nhìn lập tức đưa bác sĩ
Lê Văn Hoạch lên thay vị trí bác sĩ Nguyễn Văn Thinh. Muốn an thân, tân Thủ tướng
Lê Văn Hoạch gửi thư ngỏ cho báo chí: Chúng tôi có mấy lời này cùng các nhà báo
Nam kỳ: xin ngưng cuộc bút chiến chừng vài tháng để cho chúng tôi được bình
tĩnh, thơ thới và yên tâm mà hành sự”. Chẳng khác gì đổ dầu vào lửa, trong mục
“Ngó đời” của báo Nam Kỳ, đã bình luận: “Làm thầy thuốc ở Cần Thơ, gặp dịp Nhật
bạo hành Pháp, ông Hoạch nhảy ra làm cảnh sát trưởng, bị bắn trọng thương, ông
nằm điều dưỡng ở nhà thương Chợ Rẫy, được thống đốc Mi-nô-đa gắn khê bài danh dự,
nay lại nhào ra làm Thủ tướng Nam kỳ quốc tự trị muôn năm. Con người tráo trở
như vậy, thảo nào…”. Không chỉ dùng văn xuôi, các loại văn vần cũng trở thành
vũ khí đắc dụng. Tờ Sài Gòn Mới in bài thơ có dáng dấp văn tế : “Cờ tự trị ngẩn
ngơ trước gió/ Uổng tử thành thương hại đốc tờ Thinh/ Tuồng thực dân hăm hở kéo
màn/ Nam kỳ quốc nảy sanh thầy thuốc Hoạch/ Dây một sợi còn mai mỉa đó/ Có vui
chăng chọn lấy con đường/ Ghế ba chân đã vững vàng chưa/ Không khéo nữa, ngả
theo cái oạch”. Tờ Phương Nam có bài tứ tuyệt trào phúng: “Lẳng lặng mà xem
chúng diễn trò/ Người thì quan lớn, kẻ quan to/ Phen này ông quyết buôn dây điện/
Thiên hạ còn bao đứa… hỏng giò”. Còn tờ Tân Việt giáng ngay một bài vè đích
đáng: “Te te hoành hoạch/ Đèo bòng ngôi cao/ Ngôi cao ba cẳng té nhào/ Vậy mà
nó cũng ào ào đòi lên”.
Chính phủ bù nhìn Lê Văn Hoạch tất nhiên không thể ngồi không
chịu đòn. Mặt trận Báo chí Thống nhứt Nam bộ cũng phải hứng chịu sự trả thù khá
đê hèn. Ngày 11-12-1946, tờ Tranh Đấu bị đóng cửa. Ngày 21-12-1946, tờ Tin Điển
bị thu hồi giấy phép, với lý do đăng tin “thất thiệt” về chiến sự ở Hà Nội.
Ngày 23-12-1946, tờ Đời Mới bị tịch thu toàn bộ tài sản, không một lời giải
thích. Đồng thời, “thầy thuốc Hoạch” ra lệnh khám xét nhà in báo Nam Kỳ và báo
Trung Lập.
Trước sự hung hãn ấy, báo chí tranh đấu cũng bị ảnh hưởng ít
nhiều. Thế nhưng, khi nhận được tin cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần ngày 21-4-1947,
Mặt trận Báo chí Thống nhứt Nam bộ quyết định ngưng xuất bản tất cả các báo
trong ngày 26-4-1946 để truy điệu bậc niên trưởng đánh kính. Thái độ ấy khiến
“bác sĩ Hoạch” điên tiết hơn, tiếp tục 17 tờ báo bị đóng cửa. Lần này, để hợp
thức hóa hành động đàn áp, Chính phủ bù nhìn nêu nguyên nhân “các báo đã không
thèm đến chia buồn đám tang quan chức cao cấp” trước sự kiện Bộ trưởng Giáo dục
Trương Vĩnh Khánh bị thiệt mạng do lọt vào phục kích của cách mạng tại Trung
Lương – Mỹ Tho.
Mặt trận Báo chí Thống nhứt Nam bộ đặt trụ sở tại số 32 đường
Bonard (nay là đường Lê Lợi, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng mật thám của
Chính phủ bù nhìn hầu như không thể theo dõi, vì tất cả các hoạt động đều được
lên kế hoạch tại nhà riêng của vợ chồng nhà báo Triệu Công Minh – Ái Lan ở khu
vực Xóm Thơm – Gò Vấp. Để đối phó với sự khủng bố của “bác sĩ Hoạch”, lực lượng
báo chính tranh đấu đã đưa ra chiến lược “không đưa bản vỗ kiểm duyệt trước khi
in” và “không đăng tin, hình ảnh, thông báo quân sự của Pháp”. Ngày 1-5-1947,
Cao ủy Pháp phải nhượng bộ, bãi bỏ lệnh kiểm duyệt báo chí tại Nam kỳ. Tranh thủ
dịp may, nhiều tờ báo tiến bộ đồng loạt ra mắt như tờ Thần Chung của Bút Trà, tờ
Văn Hóa Ngọ Báo của Dương Tử Giang, tờ Thời Cuộc của Đinh Xuân Tiếu, tờ Tiếng
Chuông của Đinh Văn Khai, tờ Lẽ Sống của Ngô Công Hinh…
Chiếc ghế Thủ tướng của Chính phủ bù nhìn lại lung lay, Nguyễn
Văn Xuân lên thay Lê Văn Hoạch đã khôn khéo dùng tiền để lôi kéo hai tờ báo Phục
Hưng và Quần Chúng chống lại báo chí cách mạng. Để trợ lực cho báo chí đấu
tranh đô thị, khả năng của chiến sĩ biệt động đã được phát huy. Hiền Sĩ – chủ
bút báo Phục Hưng bị Lan Mê Linh bắn gục, còn Nguyễn Văn Sâm – chủ bút báo Quần
Chúng cũng bị trừng trị.
Bên cạnh Mặt trận Báo chí Thống nhứt Nam bộ, báo chí đấu tranh đô thị tại Sài
Gòn còn có một tổ chức nữa là Liên hiệp Ký giả dân chủ Việt Nam do Lê Thọ Xuân
làm chủ tịch và Nam Quốc Cang làm Tổng thư ký. Sau đám tang Trần Văn Ơn vào
tháng 1-1950 được truyền thông cổ vũ mạnh mẽ, Chính phủ Trần Văn Hữu dùng thủ
đoạn sắt máu với báo chí. Liên hiệp Ký giả dân chủ Việt Nam đã làm một “Bản kiến
nghị” đanh thép: “Gần đây báo chí được lệnh của chánh quyền không đăng thông
cáo của Liên hiệp ký giả, mà chỉ được đăng thông báo của chánh quyền. Thông báo
của nhà cầm quyền là thông tin không đúng sự thực, thông tin xuyên tạc. Nhà cầm
quyền rút giấy phép báo Thần Chung, Tin Điển, Ánh Sáng, đình chỉ 15 ngày báo Thời
Cuộc, Tiếng Dội là vô lý. Các chủ báo nào không tuân lệnh thì báo bị rút giấy
phép. Bằng cách đó, nhà cầm quyền cố tình khống chế báo chí, báo chí không được
tự do. Chúng tôi cực lực phản đối chế độ báo chí hiện thời, và đòi: Báo chí phải
được xuất bản không xin phép. Ngưng việc khống chế dư luận, ngưng việc đình chỉ
trái với quyền tự do ngôn luận”.
Sau khi “Bản kiến nghị” của Liên hiệp Ký giả dân chủ Việt Nam
được nhiều giới trong xã hội tán đồng và ủng hộ, thì Thủ hiến Trần Văn Hữu đã mở
một chiến dịch truy sát các nhà báo có sức ảnh hưởng. Trong số những nhà báo hy
sinh giai đoạn cao điểm tranh đấu ấy, Nam Quốc Cang đã bị địch ám sát vào ngày
6-5-1950 khi ở độ tuổi 33. Nhà báo Nam Quốc Cang tên thật Nguyễn Văn Sinh, bút
danh của ông được ghép lại từ tên của ba đồng nghiệp báo Tin Điển là Nguyễn Kỳ
Nam, Trần Tấn Quốc và Lê Trung Cang. Là một cây bút chính luận sắc saeo, Nam Quốc
Cang viết cho tờ báo nào thì chẳng mấy chốc tờ báo ấy cũng bị đóng cửa. Đến hôm
nay, những bài viết của Nam Quốc Cang cho mục “Trớ trêu” trên tờ Tin Điển vẫn
còn nguyên giá trị lịch sử. Nam Quốc Cang chế giễu Chính phủ bù nhìn do Pháp dựng
lên ở Nam kỳ: “Họ đương chung lưng đấu cật để bảo vệ một cái ghế. Cái ghế của
chánh phủ tự trị. Cái ghế ấy lỏng chỏng lắm, vì nó chỉ có một chưn rưỡi mà
thôi. Đã thế những người ngồi cheo leo trên ghế lại hay lóc chóc lanh chanh,
múa đủ lối. Coi chừng nào! Nhào thì nguy cho tôi! Đó là lời họ khuyên nhủ bề
trên của họ, nhưng trong khi chung lưng đấu cật để bảo vệ cái ghế kia, họ lại
thúc đá lẫn nhau vì còn mải tranh nhau một miếng bíp-tết. Trong lúc ấy, gió Thống
Nhứt đã mạnh lại càng mạnh…” Và Nam Quốc Cang cũng không ngần ngại hồi đáp sự
kêu gọi báo chí đấu tranh đô thị tạm đình chiến với Chính phủ bù nhìn: “Vốn
không hiếu chiến, chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi chỉ có thể đình chiến khi
nào thuyết tự trị muôn năm (con đẻ của thực dân vạn kiếp) không còn nữa. Nếu
chúng tôi đình chiến thì thuyết ấy sẽ lợi dụng cơ hội đặng bành trướng thế lực.
Rồi chúng tôi sẽ bị bóp cổ chết tươi…”.
15/5/2019
Lê Thiếu Nhơn
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đọc "Ký tự mưa chiều" của Quang Chuyền
Đọc "Ký tự mưa chiều"
của Quang Chuyền
“Ký tự mưa chiều” là tập thơ
thứ 17 của Quang Chuyền, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, do Nxb Hội nhà văn ấn
hành năm 2019, gồm 81 bài, hầu hết được viết trong thời gian gần đây.
Bằng một ngôn ngữ có thể nói là khá chọn lọc, cấu trúc bài
thường ngắn, cô đọng, thông qua các hình tượng và sự việc cụ thể như: Cái lưỡi,
Ghế, Tím Huế, Mưa, Người nằm trong sóng, Phố nhà Phật, Ghé thăm cửa Phật, Hỏi
bàn chân, Chỗ ta ngồi, Đánh mất, Chợt gặp sau mưa, Hỏi đoạn đường, Lời mẹ, Thao
thức, Mùa trắng, Ngứa nghề, Thơ vịnh con chó, Trước tháp Chăm, Ghi ở nhà mới dọn
đến, hoặc một thoáng hoài niệm như: Gặp trong xưa cũ, Nhớ người dưng, Thiên đường,
Ấm và lạnh, Ký họa trước dòng sông… tác giả dẫn dụ người đọc vào một thế giới
riêng, nhiều chiêm nghiệm của mình. “Giọt mưa chiều/tan vào đất/ta ký tự/cái
còn cái mất/lòng mơ/cầm nắm giọt mưa/gieo hạt/hỏi thầm/hạt đã nảy mầm chưa? (Ký
tự mưa chiều). Tôi không bình luận, mà chỉ muốn chia sẻ đôi điều gọi là cảm nhận,
dĩ nhiên là mang tính chủ quan, với tác giả về tập thơ này.
Thứ nhất, “Ký tự mưa chiều” có một giọng riêng. Giữa một rừng
thơ như hiện nay, có một giọng riêng đã coi như một thành công. Giọng ấy, xét về
nội dung thì rất nhiều triết lý, mỗi bài là một triết lý. Từ cái lưỡi, cái ghế,
màu tím Huế, cơn mưa, mùi hương, là những sự việc rất đỗi bình thường nhưng qua
con mắt nhà thơ, chúng bỗng có một thân phận khác. “Mùi hương thơm thảo theo
chân bước/người từ cõi thực, lạc sang mơ/phố Phật khỏi lo người trộm cướp/chỉ
xót người xin trước cửa chùa…” (Phố nhà Phật); “Ngày xưa thiếu áo mặc/sưởi ấm bằng
yêu thân/ngày nay thừa áo mặc/sao rét lùa qua chăn?…” (Ấm và lạnh); “Tôi thường
lục nhớ trong quên/lắng nghe Thạch Hãn ngày đêm gọi về/người nằm trong đất
thành quê/người nằm trong sóng biết về nơi đâu?” (Người nằm trong sóng); “Tự
dưng tôi nhớ người dưng thế!/nhớ lúc đang buồn, nhớ lúc vui/đêm nằm nghiêng ngửa.
Mơ sông bể/ Trăng lặn. Trời khuya. Vắng bóng người…” (Nhớ người dưng); “Mưa ở
xa: Mưa biển/mưa ở gần: Mắt người/đời thiếu đi giọt nước/biết lấy gì thắm
tươi?” (Mưa). Nhớ người thì phải là nhớ người dưng. Nhớ ấy rất lạ, nó mông lung
sâu lắng lắm. Nói về mưa thì có mưa xa mưa gần. Có thể có người chưa biết mưa bể.
Mưa ấy dữ dội một cách khác thường. Cả một trời nước đổ xuống. Ghê gớm thế
nhưng lại chẳng thấm tháp vào đâu với một giọt nước của cơn mưa gần. Có thể còn
có giọt khác nữa chăng? Ôi chao, Quang Chuyền đã túm cả cuộc đời dâu bể bỏ vào
một giọt nước, đã có mấy ai làm chưa!
Thứ hai, là về lối thể hiện. Như đã đề cập ở trên, tác giả chọn
hình thức thơ bốn câu, hoặc gấp đôi gấp ba về số chữ, số dòng, tựu chung lại lối
biểu đạt của Ký tự mưa chiều là thơ ngắn. Mỗi bài thường có hai vế, khởi đi là
sự kiện, và kết lại bằng một thông điệp, cái mà tôi gọi là triết lý. Viết theo
lối ấy phải là người từng trải. Không ít người được thượng đế ban phát cho sự từng
trải, nhưng để chưng cất thành thơ thì chẳng dễ, không khéo có thể khê, có khi
thành rượu độc. Thật may, Quang Chuyền chưng cất không tệ. Có vài chung rượu
ngon, thậm chí rất ngon, vừa uống đã mê ngay. “Thao thức mùa ra trận/thao thức
lần thăm em/thao thức trang thư gửi/thao thức chờ con tem/mùa lại mùa thao thức/thao
thức mưa sạt đồi/ngày lại ngày thao thức/thao thức dòng sông trôi/bấy nhiêu năm
thao thức/thao thức như ngọn đèn/bấy nhiêu năm thao thức/thao thức chờ trăng
lên…”(Thao thức); “Đêm Sài Gòn mưa xối/nước dâng theo triều cường/sáng thấy người
phơi nệm/từ lúc còn hơi sương” (Chợt gặp sau mưa). Trong cuộc đời mỗi người có
rất nhiều thứ khiến người ta thao thức. Chớp mắt đã đi qua nửa cuộc đời. Chớp
thêm lần nữa đã là cả cuộc đời. Thao thức vốn cũng là thường tình. Quang Chuyền
biết thế, thấy thế, và đã chốt hạ nỗi niềm thao thức của mình bằng “thao thức
chờ trăng lên” khiến cho nỗi niềm bỗng chốc trở nên mênh mang. Tương tự như vậy,
trong Chợt gặp sau mưa, hai khổ thơ đầu diễn tả không gian, thời gian, mức độ
cơn mưa, ở hai câu sau cũng là không gian và thời gian, là sự kiện người đem nệm
ra phơi. Cái hay trong bài thơ này là ở chỗ chỉ với bốn câu, hai câu trên mở ra
khung cảnh dữ dội bao nhiêu thì hai câu dưới khép lại nhẹ nhàng bấy nhiêu. Nó
khiến người đọc bâng khuâng. Chẳng phải bới cơn mưa xối mà bởi việc người ta
đưa nệm đi phơi từ lúc còn hơi sương.
Cái được trong” Ký tự mưa chiều” tôi không nói nữa, giờ tôi sẽ
dành đôi dòng để phê, chính xác hơn là chia xẻ chút thiển ý của mình về cái mà
tôi cho rằng chưa được. Tôi trích dẫn ba bài: Đánh mất, Ngứa nghề, Thơ vịnh con
chó. “Ông ấy nhiều của cải/sao cô đơn tuổi già/hình như đường con cái/đánh mất
người gọi cha!” (Đánh mất); “Viết câu thơ bứt phá/thách đố ai bằng mình/tự dưng
yêu mình quá/thấy đời đầy thông minh/muốn đọc lên thật lớn/muốn tung hô bạn
bè/đọc đi rồi đọc lại/loãng tan dần cơn mê/vợ thấy chồng ngơ ngác/bảo rằng anh
ngứa nghề” (Ngứa nghề); “Sống trung thành với chủ/được ở ăn cùng người/khách tới
gâu gâu sủa/nghe quát liền cụp đuôi/bảo sao chó làm vậy/chó chỉ là chó thôi.”
(Thơ vịnh con chó). Mới đọc qua thì thấy cũng là triết lý vậy thôi. Nhưng ngẫm
một chút thì thấy ở đây có gì gợn gợn. Triết lý về còn mất bị đẩy vượt ngưỡng cảnh
giới, khiến cho cái tình rơi vào hụt hẫng. Người ta, nhất là khi tuổi xế chiều,
rất nhiều cô đơn. Liệu rằng luận lý của Quang Chuyền đã phải là nhất chưa? Mặc
dù tác giả đã rất cẩn trọng khi viết “hình như” để biểu đạt nhưng tôi vẫn thấy
chưa ổn, bởi nó thiếu đi sự chia sẻ. Với Thơ vịnh con chó, bằng vào lời kết
“chó chỉ là chó thôi”, tự nhiên tình thương mến bỗng bay đi mất. Ngứa nghề là một
trạng thái khác. Tôi cho đây là một bài rất được, nhưng thừa chữ. Giá như, đổi
tên bài thơ và bỏ đi đôi câu “vợ thấy chồng ngơ ngác/bảo rằng anh ngứa nghề”,
thì sẽ đắc địa hơn, nhân văn sâu sắc hơn rất nhiều so với nguyên bản.
Tôi không biết lắm về tác giả, chỉ biết Quang Chuyền từng đi
bộ đội, chinh chiến lên tới cấp tá. Từ một người lính lên tới cấp ấy hẳn cuộc đời
cũng chẳng ít xông pha. Nhưng rồi trời bắt làm thơ và Quang Chuyền đã vâng mệnh.
Có thể nói “Ký tự mưa chiều” là một tập thơ giàu triết lý. Với tôi, nó đọc rất
được, khiến cho ta Ngộ ra gì đấy. Ẩn sâu bên trong tập sách, là cái tình thương
mến của tác giả đối với con người. Tôi nghĩ Quang Chuyền vẫn còn dư địa. “Chợt
gặp sau mưa” là một tứ thơ lạ trong tập, nhẹ bẫng như hơi sương nhưng rất gợi,
có thể mở ra một lối mới cho sự sáng tạo.
Tp.HCM, 16/5/2019
Cao Chiến
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Tản mạn về thời gian
Tản mạn về thời gian Ngày trôi, tháng trôi, đời trôi. Rồi đây cỏ cây úa tàn. Thời gian lướt trên màu tóc. Nhạt nhòa phấn son phù du. Hỡi n...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...




