Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2024

"Hai cái bụng" của người quản lý văn nghệ

"Hai cái bụng" của
người quản lý văn nghệ

Theo Hoàng Trung Thông, người quản lý văn nghệ không chỉ biết bảo vệ nguyên tắc mà còn phải có tấm lòng với văn nghệ sĩ, có bản lĩnh để bảo vệ cái đúng; Đồng thời phải có kiến thức, có uy tín chuyên môn để anh em khâm phục.
Thời Chiến quốc (475-221 Tr.CN), Trung Quốc có nhiều nước, nước nào cũng muốn xưng hùng, xưng bá. Vì vậy, việc trước tiên cần tìm người tài, vua phải tỏ ra mình có lượng hải hà thu được nhân tâm thiên hạ. Bấy giờ, Điền Cương làm vua nước Tề, thuộc vùng Sơn Đông ngay nay, lấy hiệu là Tề Tuyên Vương. Các mưu sĩ tiến cử với ông ta trong nước có một kẻ sĩ tên là Nhan Súc. Tề Tuyên Vương tìm đến nhà Nhan Súc. Vua bảo: “Súc lại đây”. Nhan Súc cũng bảo: “Vua lại đây”. Có người sợ Súc phạm thượng sẽ bị chém đầu. Nhan Súc nói: Vua gọi Súc mà Súc lại thì Súc là người hoặc ham, hoặc sợ quyền thế. Súc gọi vua mà vua lại thì vua là người quý trọng hiền sĩ. Để nhà vua được tiếng quý trọng hiền tài có tốt hơn chăng? Vua Tuyên Vương nghe vậy, bèn than: “Người quân tử ai mà dám khinh! Quả nhân cam chịu lỗi. Nay quả nhân xin làm đệ tử để tiên sinh dạy bảo cho…”. Trên đây là câu chuyện có tính chất kinh điển về thái độ cần có của người lãnh đạo đối với người trí thức, xưa gọi là kẻ sĩ. Thời khai sinh nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ chí Minh cũng có rất nhiều động thái nghĩa cử đối với các bậc nhân sĩ trí thức yêu nước, cả Nho học và Tây học, nhằm thu phục các vị đi theo cách mạng, tham gia sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Trong lĩnh vực quản lý văn hóa-văn nghệ cũng có nhiều câu chuyện rất sinh động. Chẳng hạn trường hợp ông Tố Hữu đã vận động, thuyết phục được Nguyễn Tuân đến với cách mạng, với kháng chiến. Trong hồi ký của mình, Nguyễn Tuân kể: “Sau chiến dịch sông Thao trở về, ông Chính Hữu – lúc này là chính trị viên Trung đoàn Thủ đô – hỏi tôi: “Sao cậu lại không vào Đảng nhỉ?”. Tôi hỏi lại: “Có cần thiết và có thể vào Đảng được không?”. Chính Hữu khẳng định lại: “Cậu nên vào Đảng”. Như vậy người đầu tiên gợi cho tôi ý nghĩ cần phải vào Đảng là Chính Hữu. Tính cách của tôi và Chính Hữu hoàn toàn trái ngược nhau: Tôi thì ngổ ngáo, ngang ngạnh mà Chính Hữu thì hiền lành, chuẩn mực. Vậy mà tôi có thể rất quý và tin Chính Hữu vì tôi nghĩ Chính Hữu hiểu tôi, không nhìn tôi về những cái bề ngoài. Đầu năm 1950, theo dự định thì Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng là hai người giới thiệu tôi vào Đảng. Nhưng đến ngày tổ chức lễ kết nạp 8.4.1950, Nguyễn Đình Thi bận đi dự Đại hội liên hoan thanh niên thế giới ở Bu-ca-rét, anh Tố Hữu ở T6 (mật danh của Ban Tuyên huấn Trung ương) về dự lễ và nhận luôn là một trong hai người giới thiệu tôi. Thế là trên bước đường cách mạng của tôi, anh Lành là người trong từng giai đoạn đã có những tác động tế nhị và quan trọng. Nhớ hồi đầu cách mạng, một hôm Hoài Thanh đến phố Cầu Mới nói với tôi: “Nhà thơ Tố Hữu muốn gặp anh, anh thấy thế nào?”. Tôi trả lời: “Tôi đã đọc và cũng thích thơ Tố Hữu. Kể ra gặp nhà thơ xứ Huế ấy mà cùng nhau đàm đạo văn thơ cũng rất hay đấy!”. Hoài Thanh nói: “Anh Tố Hữu muốn bàn công chuyện với anh đó!”. Chả là hồi này tôi còn e ngại, ngủng ngẳng với cách mạng, chưa thật sự theo Việt Minh. Chắc anh Tố Hữu đoán biết điều đó nên muốn gặp tôi để lôi kéo tôi đi làm cách mạng. Tôi định thử anh Lành chơi, bèn nói với Hoài Thanh: “Thế thì ta hẹn gặp nhau ở Thủy Tạ nhé!”. Hẹn thế vì tôi biết hồi này Thủy Tạ là nơi đi lại của những phần tử khá phức tạp. Nào Tây đầm, nào tay chân của các đảng phái phản động đều tụ tập ở đây ăn uống… Không ngờ anh Lành lại nhận lời. Anh đã gặp tôi, cùng chạm cốc ở Thủy Tạ. Tôi thấy anh Lành có bản lĩnh, chịu chơi, tôi bắt đầu nể anh, từ chỗ có tình cảm với anh Lành tôi có tình cảm và theo cách mạng. Tiếp theo đó là việc anh Lành tổ chức cho tôi cùng một số anh em văn nghệ sĩ theo bộ đội Nam tiến. Rồi đầu kháng chiến, tôi về Thanh Hóa, anh Lành cũng dẫn dắt tôi cùng Sĩ Ngọc, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Lương Ngọc, Chu Ngọc… xúm vào làm tờ báo Chống giặc. Việc tôi từ Thanh Hóa lên Việt Bắc rồi đến Đại hội văn nghệ toàn quốc, được cử làm Tổng thư ký, tôi nghĩ là đều có sự sắp xếp của anh Lành…”. Ông Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Văn hóa – Thông tin, rồi Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông, từng là lính của tướng Trần Độ thời bộ đội. Có lần ông Hợp được ông Trần Độ kể cho nghe câu chuyện như sau: Khi ông Độ làm Trưởng ban Văn hóa – Văn nghệ của Ban Tuyến huấn Trung ương, nhiều người “phản ánh” là ông Hoàng Trung Thông hay “la cà” rượu chè, cần phải góp ý. Ông Độ sinh năm 1923, chỉ hơn ông Thông hai tuổi. Ông Độ rất nổi tiếng trong quân đội, trong giáo dục thanh niên nhưng trong văn học, ông Thông nổi tiếng hơn nhiều. Ông Độ đem ý kiến của mọi người trao đổi với ông Thông. Ông Thông nói với ông Độ: “Trước hết tôi cảm ơn anh. Nhưng tôi cũng muốn nói với anh và qua anh đến với những người phê bình tôi: Nhờ sự “la cà” mà tôi biết thực tế cuộc sống đang diễn ra điều gì, lòng dân đang như thế nào, để may ra tác phẩm mình còn có người đọc. Còn các anh lúc nào cũng ở trong bốn bức tường, không tường xây cũng tường thép (ô tô). Đi cơ sở thì kẻ đưa người đón, chỉ gặp “đồng chí” mà không gặp đồng bào. Chỉ nghe nhiều lời siểm nịnh mà ít trung ngôn. Như thế là các anh đang mất, mất thực tiễn, mất lòng tin của dân… Mất cả tỉnh táo và sự lương thiện của mình… Ông Độ thừa nhận với ông Hợp rằng ông Hoàng Trung Thông là người tuyệt đối trung thành với lợi ích của dân tộc, trung thành với lý tưởng của Đảng, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn hóa văn nghệ của đất nước. Hoàng Trung Thông đã thể hiện quan điểm của ông trong tham luận tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ III (1983) “Tính chiến đấu trong công tác lý luận phê bình chính là thể hiện tính không khoan nhượng trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng và văn nghệ. Người làm công tác nghiên cứu, lý luận, phê bình không những chỉ là người lính gác mà còn là người lính xung kích”. Theo Hoàng Trung Thông, người quản lý văn nghệ không chỉ biết bảo vệ nguyên tắc mà còn phải có tấm lòng với văn nghệ sĩ, có bản lĩnh để bảo vệ cái đúng; Đồng thời phải có kiến thức, có uy tín chuyên môn để anh em khâm phục. * Có người từng nêu câu hỏi: Vì sao Đảng ta luôn luôn coi trọng Văn hóa – Văn nghệ, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đầu tư nhiều tiền của cho hoạt động sáng tác văn học-nghệ thuật mà dường như ít có tác phẩm có giá trị. Có vấn đề gì về quản lý không? Tôi nghĩ, việc chưa có nhiều tác phẩm hay là do nhiều nguyên nhân, trong đó, hẳn có nguyên nhân quản lý. Mấy chục năm gần đây, gần như ai muốn viết gì thì viết, không có sự đòi hỏi bắt buộc, cũng không được tạo điều kiện hết sức như hồi cách mạng còn khó khăn. Chẳng lẽ, quản lý như trước lại hay hơn bây giờ ư? Tôi không dám chắc điều ấy, nhưng chắc chắn rằng: Người quản lý văn nghệ phải có hai cái bụng: Một bụng chữ để người ta phục và một bụng liên tài, thành tâm để người ta quý, người ta theo…
8/1/2022
NGUYỄN SĨ ĐẠI
Nguồn: Văn Nghệ số 1+2/2022
Theo https://vanhocsaigon.com/

Huế - Ngày đang nghiêng rót những giọt cuối cùng tháng chạp

Huế - Ngày đang nghiêng rót
những giọt cuối cùng tháng chạp

Tết là bức họa cũ kỹ ấp ủ hồn quê được vẽ bằng màu lá xanh non, màu trắng hạt nếp lẫn hương thơm của đậu xanh thịt mỡ dưa hành. Là màu xám khói nhang lẫn hương trầm nghi ngút linh thiêng đêm giao thừa.
Là hương áo mới ngày mồng một, là màu đỏ của bao lì xì. Để rồi “hương gây mùi nhớ”, màu gợi ký ức mà hoài niệm Tết xưa…
1. Tôi vẫn nhớ như in bộ lư đồng có vài chỗ ám vết bẩn xanh ve chai, bộ đèn thờ gỗ đỏ đã tróc sơn mà mỗi lúc gần Tết ông nội luôn nhắc con cháu lau dọn cho sạch sẽ tươm tất.
Tuổi thơ tôi ở cùng ông bà nội nên sợi dây thế hệ liền lạc gắn kết nhờ đó mà phong tục Tết Nguyên Đán – bản sắc của dân tộc và hồn phách của nếp nhà được lưu truyền trọn vẹn.
Thời khắc ông nội trong bộ áo dài khăn đóng kính cẩn cúng bái đất trời đêm giao thừa trong khói xám hương trầm giữa cõi mờ ảo sương khuya đẹp như một câu chuyện cổ tích.
Cũng đúng, bởi cái thời khắc thay cũ đổi mới, cuộc hóa thân của đông vào xuân, bước trở mình của đất trời mà con người là chứng nhân, là sợi dây kết nối thời gian với không gian, tiền thân với hậu bối, nhờ đó mà Tết được cảm nhận toàn vẹn trong sâu thẳm thâm tâm của con người.
2. Sáng đầu năm thường bắt đầu bằng việc ông bà nội đặt xôi chè lên cúng sớm. Mùi xôi mới mở nắp vung của mẹ, mùi cháy xém của đậu phụng, mùi vani trong nồi chè xanh đánh thoảng hương mang một mật ngữ diệu kỳ.
Nếu như mùi trầm hương tạo nên không khí nghiêm cẩn thì mùi nếp, mùi đậu xanh, đậu phụng, bánh tét như mang mùi nắng mùi mưa của xứ sở quyện với mùi của sự chắt chiu, vén khéo của bà của mẹ dâng lên bàn thờ tổ tiên với cõi lòng tưởng nhớ tri ân.
Từ đó Tết mang một âm vọng miên miên, không cũ không mới như một vuông tranh hiện sinh đã tồn tại và lưu truyền giữa cõi đời không biết tự bao giờ.
Sáng mồng một lúc mặc áo mới thì Tết mới bắt đầu với mỗi đứa trẻ, áo có thể dài ở tay, dư ở vạt nhưng đủ đầy niềm hoan ca, lễ phép khoanh tay mừng thọ ông bà, nhận tiền mừng tuổi, rồi xun xoe chạy lòng vòng trong nhà ra ngõ, nghe mùi đốt giấy tiền vàng bạc của cơn gió đầu xuân từ đâu lạc tới mà ngỡ như mình từ truyện cổ bước ra.
Tôi vẫn nhớ như in ôn mệ An, mệ là em gái ông nội tôi. Tết năm nào cũng vậy, đều là người xông đất và thắp hương cho ba mẹ mà tôi gọi là ông bà cố, thăm hỏi chúc phúc đại gia đình ông tôi. Thế hệ ông bà đã lưu giữ và truyền lại bao giá trị truyền thống quý giá của dân tộc cho con cháu về sau.
Thời gian trôi qua cả ôn mệ tôi, ôn mệ An đều đã thành người thiên cổ mà tôi chỉ còn có thể gặp lại trong mặc tưởng khi kính cẩn dâng hương với tấm lòng thành. Ngày Tết vì thế mà thiêng liêng. Ở đó ta tìm lại được hình dáng, tiếng nói của tiền thân, để rồi trong cõi siêu hình đó tâm mình như được ru dỗ an yên, tự tại, vô thường…
3. Mới hôm rồi người bạn Huế nhắn hỏi “Tết ni mi có về không?”, mới hay ngày tháng đang nghiêng rót những giọt cuối cùng tháng chạp.
Có lẽ nỗi vô hình của tình cảm, sân rêu nhà từ đường, mái nhà hương hỏa đã nuôi dưỡng hồn người với bao dấu nhớ trong đời luôn là tiếng thúc dục “phải ” trở về quê ăn Tết. Gian nhà thờ mờ ảo trong ánh nến soi bộ lư đồng, khói hương tan giữa hư vô như gửi gắm lời khấn khẽ của hậu bối với tiền thân.
Vì thế nó như một tiếng gọi hồi hướng khắc khoải theo suốt cả một đời. Bởi Tết Huế không chỉ là một nét văn hóa cổ truyền mà là một cuộc hành đạo rất riêng đầy mỹ cảm ở bên ngoài và tâm cảm bên trong.
Đó là quần áo nhà cửa tươm tất, lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ để bắt đầu một năm đầy lạc quan đón nhận đổi thay phía trước, an nhiên biết đủ, biết sẽ chia để bao dung trọn hết cõi lòng.
Sáng đầu năm đi viếng mộ thắp nhang mới hay cả bầu trời xuân đều ngưng đọng trong khoảnh khắc mà dòng Hương lắng lại, soi rọi đầy đủ khung cảnh của đất trời giao cảm với cuộc hành hương của con người.
Cái mênh mông vô bờ của sông nước như mang lại sự rộng lượng cho hồn người; bỏ lại hết buồn tủi, giận hờn năm cũ mà lắng nghe thanh bình, hạnh phúc khẽ trong tim. Và nỗi ngóng chờ ngày về quê ăn Tết chợt cắt ngang bởi câu hỏi của cô con gái nhỏ: “sông Hương có chảy mãi vô Sài Gòn không ba?”
Có lẽ không chảy vào Sài Gòn mà chảy vào lòng người Huế con ạ. Để rồi ở lại thành dòng sông của tiềm thức neo đậu lại nỗi nhớ Tết thương quê, lắm khi không hiểu vì sao. Chỉ biết trong cơn gió sớm tháng mười hai se sẽ, tự vấn lòng mình “Cây mai già nhà hương hỏa có nở một đóa vàng bên một mảng tường rêu?”.
8/1/2022
Bùi Hoàng Linh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Bút ký của Quang Học: Thầy tôi

Bút ký của Quang Học: Thầy tôi!

Trong tâm trí mỗi người, chắc chắn sẽ có những ký ức sâu đậm về những người Thầy của mình. Tôi cũng vậy. Tôi đã trải qua nhiều trường, nhiều lớp học và lẽ đương nhiên cũng có rất nhiều người Thầy đáng kính. Một trong những người Thầy đó là PGS. Vương Đình Quyền, giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Người Thầy mà trong giới nghiên cứu, giảng dạy về văn thư, lưu trữ và phần lớn ai làm việc về văn thư, lưu trữ ở Việt Nam đều biết đến với một sự ngưỡng mộ, kính trọng lớn lao.
Hình ảnh thầy Vương Đình Quyền thật sự in đậm trong mỗi thế hệ sinh viên. cá nhân tôi chỉ là một trong số rất nhiều học trò của Thầy, luôn nhớ về Thầy với tình cảm chân thành, kính trọng và tự nỗ lực vươn lên cùng với sự dạy bảo, định hướng, giúp đỡ của Thầy.
Sau 18 năm kể từ năm tốt nghiệp đại học, ngẫm lại thấy nhiều lúc hình ảnh của Thầy cứ thường trực trong suy nghĩ của tôi. Xin được ôn lại vài kỷ niệm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc học tập, nghiên cứu và làm việc của tôi có gắn liền với định hướng của Thầy. Đó là:
– Năm 1999, khi tôi theo học ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng của học kỳ I, năm thứ nhất cũng là lúc niềm vui và hứng khởi thi đậu Đại học sau mấy năm ôn luyện miệt mài trong quân ngũ dần dần tan biến. Thay vào đó là những nỗi lo từ thực tế của việc học đại học lại tăng lên nhanh chóng. Trong đó, nỗi lo lớn nhất là học xong đại học sẽ không biết xin việc ở đâu?
Một hướng đi theo tôi lúc đó là khả thi và “an toàn” là học xong sẽ về quê. Công việc mong muốn và cảm thấy phù hợp nhất là dạy học.
Nhưng, học Lưu trữ thì không dạy học ở quê được?
Suy nghĩ miên man rồi tôi dự định xin chuyển sang Khoa Lịch sử để học ngành Lịch sử – ngành học này tôi rất yêu thích và có thể sẽ giúp tôi trở thành thầy giáo dạy Sử ở trường làng sau khi tốt nghiệp đại học.
Nghĩ là làm, tôi liền đến nhà thầy Vương Đình Quyền và xin ý kiến. Mong muốn nhờ Thầy giúp đỡ để cho tôi được chuyển ngành học. Lý do nhờ Thầy cũng đơn giản thôi, Thầy vốn công tác ở Khoa Lịch sử nhiều năm trước khi ngành Lưu trữ học được tách ra thành một Khoa riêng.
Thầy lắng nghe học trò. Cách lắng nghe của Thầy sau này tôi cũng thường nhớ lại khoảnh khắc đó. Thầy lắng nghe để hiểu – thật sự tôn trọng người nói làm sao. Bất kể người nói đó là sinh viên năm thứ nhất – như tôi.
Tôi khá bất ngờ vì Thầy bày tỏ sự đồng cảm với nguyện vọng của tôi. Sau đó, Thầy đã phân tích và nói với tôi rằng:
– “Em nên cân nhắc kỹ trước khi quyết định nhé!”
Vài ngày suy nghĩ về những lời phân tích của Thầy, tôi đã tự đưa ra quyết định cho mình và hoàn toàn yên tâm với ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng như một sự lựa của số phận!
– Khi đã yên tâm với ngành học, tôi cũng nhanh chóng thích nghi với việc học ở bậc đại học, được học tập từ nhiều thầy, cô trong Khoa như PGS. Vương Đình Quyền, PGS. Nguyễn Văn Hàm, PGS. TS. Đào Xuân Chúc, PGS. PGS. TS. Vũ Thị Phụng, TS. Nguyễn Liên Hương, v.v… với nhiều tri thức mới; phương pháp học tập, nghiên cứu mới, v.v…
Tôi thật sự yêu thích và có hứng thú với những nội dung bài giảng, các công trình nghiên cứu và cả phương pháp làm việc của PGS. Vương Đình Quyền đã truyền đạt cho học trò. Từ đó, đã dần dần hình thành trong tôi sự say mê, yêu thích các môn học của ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng và các kiến thức chuyên sâu về văn thư, lưu trữ như văn bản quản lý nhà nước, lịch sử văn bản, kỹ thuật soạn thảo văn bản, v.v…
– Năm 2003, tốt nghiệp đại học với tấm bằng cử nhân Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, tôi đứng trước “vận may” có rất nhiều cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương thông báo tuyển dụng. Bản thân tôi cũng được Ban chủ nhiệm Khoa thông báo sẽ đề nghị Trường giữ lại làm cán bộ của Khoa.
Cùng thời gian này, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã mở ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng và cần cán bộ giảng dạy cho ngành học mới, công việc tuyển dụng cán bộ lúc đầu được thực hiện qua việc giới thiệu của thầy, cô ở hai trường.
Trong buổi Lễ trao bằng tốt nghiệp cho lớp chúng tôi, PGS. Vương Đình Quyền có gặp riêng tôi và hỏi:
– “Em đã có dự định đi làm ở đâu chưa?”
Tôi vui vẻ thông tin: “Dạ, em mới được nhận vào làm việc ở Văn phòng Bộ…”
Trầm ngâm một lúc, Thầy nói:
– “Tôi rất tin tưởng em và giới thiệu em vào làm việc ở Khoa Lịch sử của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) làm cán bộ giảng dạy ngành Lưu trữ học.
Tôi bất ngờ với đề nghị của Thầy trái lại với thông tin tôi vừa khoe. Bất ngờ hơn nữa, đó lại là một thông tin tốt lành mà tôi chưa từng nghĩ đến.
Thầy lại tiếp tục:
– “Em suy nghĩ và nếu đồng ý thì cho tôi biết nhé”.
Lời Thầy nói, tôi hiểu được ý Thầy muốn gì? Bởi lẽ, Thầy cũng phân tích cặn kẽ mọi điều và động viên tôi lên đường “Nam tiến”.
Sau một ngày tham khảo ý kiến của gia đình, người thân và cân nhắc suy nghĩ rất nhiều, tôi đã quyết định nhờ Thầy giới thiệu “vào Nam” với biết bao suy nghĩ về một chân trời mới tươi sáng nhưng cùng đầy gian lao và thử thách được dự báo trước.
– Tháng 9 năm 2003, tôi được nhận vào làm việc ở Khoa Lịch sử của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong không khí các thầy, cô của Khoa Lịch sử vui mừng đón nhận thành viên đầu tiên của Bộ môn Lưu trữ học và Quản trị văn phòng.
Trưởng Khoa Lịch sử lúc bấy giờ là PGS. TS. Võ Văn Sen đã giao cho tôi một số nhiệm vụ ở buổi đầu “khởi nghiệp” như chuẩn bị tìm kiếm, giới thiệu nhân sự làm cán bộ giảng dạy chính thức cho Bộ môn; chuẩn bị hướng nghiên cứu và bài giảng để sớm tham gia giảng dạy. Định hướng của Khoa là sẽ phát triển Bộ môn Lưu trữ học – Quản trị văn phòng thành một Khoa độc lập thuộc Trường khi hội đủ điều kiện.
Tôi đã quyết định chọn môn học để chuẩn bị nội dung giảng dạy là môn học do chính thầy Quyền trực tiếp giảng dạy cho lớp chúng tôi và đã tạo cảm hứng cũng như hướng dẫn tôi học tập, nghiên cứu từ những ngày trên giảng đường đại học.
– Con đường học tập của tôi được mở rộng từ chuyên ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng đến Lịch sử có sự định hướng, chỉ bảo, giúp đỡ của Thầy và tôi hoàn toàn mãn nguyện với con đường mình đã chọn.
Đến nay, thời gian thấm thoắt đã 18 năm kể từ khi ra Trường. Những gì Thầy định hướng ít, nhiều tôi cũng đã làm được nhưng tự thấy rằng bản thân mình vẫn còn phải cố gắng nhiều hơn trên con đường Thầy chỉ dẫn bước đi.
Đối với mỗi một người thì công lao của mỗi thầy cô và kỷ niệm về mỗi thầy cô là rất lớn, không thể kể hết. Cá nhân tôi cũng có rất nhiều thầy, cô với biết bao công sức dạy dỗ, chỉ bảo và đã để lại những kỷ niệm sâu đậm trong nhiều lát cắt của trí nhớ, mãi mãi được khắc ghi với tấm lòng tri ân và có thể không có cơ hội được nói ra thành lời, viết nên thành chữ!
Thầy tôi – PGS. Vương Đình Quyền là người Thầy có vị trí đặc biệt quan trọng đối với tôi trong việc định hướng con đường học tập, nghiên cứu và làm việc. Xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến Thầy và kính chúc Thầy sức khỏe, hạnh phúc, vạn sự tốt lành!.
9/1/2022
QUANG HỌC
Theo https://vanhocsaigon.com/

Châu Phú sắc xanh đồng bằng

Châu Phú sắc xanh đồng bằng

Châu Phú là huyện thuần nông của tỉnh An Giang, nằm dọc theo Quốc lộ 91 và sông Hậu, sau lưng là dãy Thất Sơn hùng vĩ như bức bình phong khổng lồ che chắn cho đồng bằng. Nơi đây ngày xưa là cánh đồng trũng phèn rộng lớn gọi là Láng Linh. “Láng” là từ mà người miền Tây dùng để chỉ vùng đất ngập úng. Láng Linh mang ý nghĩa ngập đầy nước, linh binh, linh láng…
Hiện nay mặc dù du lịch chưa phải thế mạnh chính, nhưng miền đất nầy đang có những tiềm năng dần được “đánh thức”. Châu Phú mang đậm dấu ấn miệt vườn, nên có nhiều lợi thế về du lịch văn hoá và du lịch sinh thái. Bạn hãy thử một lần về thăm mảnh đất hiền hòa nầy để có những trải nghiệm khó quên!
Bất ngờ cù lao Năng Gù
Cù lao Năng Gù - xã Bình Thủy là một trong số những làng cổ được khai phá sớm ở tỉnh An Giang. Làng quê yên tĩnh, thanh bình và những con người chất phác, thân thiện sẽ xua tan bao mệt mỏi cho du khách, giúp tâm hồn bạn được cân bằng lại. Vừa đi vừa chậm rãi quan sát, bạn có thể cảm nhận được hương vị dân dã của cuộc sống yên bình. Đặc biệt trên cù lao còn rất nhiều ngôi nhà cổ có từ đầu thế kỷ XIX. Đa số chúng có kiến trúc giống nhau, ba gian hai chái, nóc bánh ít, cột tròn làm từ gỗ quý… Nhà thấp nhưng thoáng mát, cách thiết kế và trang trí mang phong cách truyền thống xen lẫn phong cách phương Tây.
Xã Bình Thủy có đình thần Bình Thủy là một di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Hằng năm, đình tổ chức lễ Kỳ yên vào ngày 9 – 10 – 11 tháng 5 âm lịch, với quy mô sánh vào một trong những lễ hội lớn hàng đầu tỉnh An Giang. Điểm đặc biệt của lễ hội nầy là cuộc thi đua thuyền truyền thống đầy vui nhộn, song song đó là hoạt động hóa trang thành thổ dân do các thanh niên trong xã thực hiện để cổ vũ đua thuyền. Những hình ảnh ấy đã gây bất ngờ cho nhiều khách phương xa. Tiếng lành đồn xa, hội thi đua thuyền và hoạt động hóa trang ở Bình Thủy được xem là trải nghiệm đừng nên bỏ lỡ khi đến Châu Phú.
Một vòng thị trấn Cái Dầu
Cái Dầu là thị trấn mang đầy đủ nét đặc trưng của một “phố chợ miền sông”. Khu chợ nầy đã có từ lâu đời và sớm trở thành trung tâm kinh tế của cả một vùng rộng lớn. Đến những năm đầu thế kỷ XX, Pháp khai thác và nâng cấp thành đô thị có quy mô. Từ năm 1979, Cái Dầu trở thành thị trấn, hiện nay là trung tâm thương mại lớn của huyện Châu Phú.
Thị trấn Cái Dầu ngày nay khang trang, dưới sông lẫn trên bờ đều buôn bán tấp nập, nhà cao tầng, các doanh nghiệp, cơ sở… mọc lên đông đúc, tạo nên bộ mặt mới đầy hứa hẹn. Đặc biệt về đêm, Cái Dầu mới thực sự thể hiện đầy đủ những nét đẹp tiêu biểu của một phố chợ miền sông. Thị trấn về đêm mang bộ mặt trẻ trung, duyên dáng, không khí không quá ồn ào, vừa đủ để ta lắng lòng trước khung cảnh khá lãng mạn, sâu lắng.
Cạnh chợ Cái Dầu có đình Bình Long thành lập vào thập niên 1930. Kiến trúc đình có sự kết hợp hài hòa giữa phong cách dân tộc với phong cách Roman của phương Tây. Phía trên trung tâm thị trấn không xa là công viên Trần Văn Thành với điểm nhấn là tượng đài Quản cơ Trần Văn Thành cao 15 mét. Tượng tạc hình ảnh Đức Quản cơ đứng oai vệ trên xuồng đang lướt trên sóng nước, mặt ngẩng cao hướng về Láng Linh, tay cầm kiếm chuẩn bị xông vào trận. Tác giả bức tượng là điêu khắc gia Trần Thanh Phong, hoàn thành năm 2003.
Trầm mặc tranh đá Bảy Núi
Tại một phòng tranh đơn sơ nằm cách công viên Trần Văn Thành khoảng 100 mét, một dòng tranh đặc biệt vừa ra đời cách đây vài năm, đó là tranh đá Bảy Núi. Đây dòng tranh đầu tiên ở An Giang sử dụng chất liệu địa phương là đá granit vùng Bảy Núi. Đá Bảy Núi không có nhiều màu sắc, nên tranh chủ yếu sử dụng gam màu trắng đen làm chủ đạo. Mặc dù không lấp lánh như những loại tranh khác, nhưng điều mà tác giả hướng đến là chiều sâu của các tác phẩm, để người xem tranh có thể có cảm giác thư thái tâm hồn sau những bộn bề cuộc sống.
Tác giả – người khai sinh ra dòng tranh nầy là nhà giáo – nhạc sĩ Phan Võ Hoàng Nam, hiện sống tại Cái Dầu. Anh là người đầu tiên ở miền Tây dùng đá làm tranh, hiện đã cho ra đời hàng chục bức tranh, tổ chức được hai cuộc triển lãm. Anh đi khắp vùng núi An Giang để lựa chọn những viên đá phù hợp rồi đem về giã nát ra thành bột đá. Để thực hiện tranh, bột đá được rãi lên bản phác thảo, chỉnh sửa cho mỹ thuật rồi dán keo để kết dính thành tranh. Qua thời gian, những bức tranh mộc mạc làm từ đá Bảy Núi đã đến với đông đảo những người thưởng thức hội họa, càng giúp dòng tranh đặc thù của địa phương có chỗ đứng vững vàng hơn.
Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành
Bửu Hương tự hay đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành, thường được người địa phương gọi là dinh Đức Cố, tọa lạc tại xã Thạnh Mỹ Tây. Từ thị trấn Cái Dầu, bạn tiếp tục đi theo Quốc lộ 91 đến chợ Vịnh Tre rồi rẽ trái, đi vào khoảng 10 km nữa sẽ đến di tích. Đền có kiến trúc đơn giản, bố cục hài hòa, đăng đối, mang phong cách truyền thống. Nội thất là một không gian đậm chất dân tộc, uy nghi mà gần gũi, bởi vừa mang dáng vẻ đền miếu, vừa có nét như một ngôi nhà cổ Nam Bộ.
Khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 – 1873) là phong trào chống Pháp với quy mô lớn của nghĩa binh Gia Nghị dưới sự chỉ huy của Quản cơ Trần Văn Thành. Nghĩa quân tự rèn đúc vũ khí và được nhân dân tiếp tế lương thực, tổ chức thắng lợi nhiều trận đánh, gây cho Pháp hoang mang lớn. Sau nhiều lần xâm nhập bất thành do không quen địa hình sình lầy, đầu năm 1873, Pháp tổ chức càn quét lớn vào căn cứ. Mặc dù chống trả ngoan cường, nhưng do lực lượng chênh lệch và vũ khí thô sơ, nên trước hỏa lực mạnh mẽ của địch, nghĩa quân đã bị đánh bại.
Bửu Hương tự được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ XX, ngoài mặt là nơi thờ Phật, nhưng thực tế là nơi kỷ niệm nghĩa quân Gia Nghị. Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 âm lịch – kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa bị đàn áp, huyện Châu Phú đều có tổ chức lễ hội văn hóa truyền thống, thu hút hàng vạn người tham dự.
Lung linh mùa nước nổi
Mùa nước nổi ở miền Tây khoảng từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch. Vào thời điểm đỉnh lũ, đồng Láng Linh chìm giữa bốn bề sóng nước mênh mông. Quang cảnh chung quanh không thể phân biệt được đâu là đường đê, đâu là đồng ruộng, đâu là kinh rạch, trừ vùng đồi núi Thất Sơn bàng bạc xa xa. Mùa nước nổi về mang phù sa bồi đắp ruộng đồng và nguồn lợi thủy sản to lớn cho miền Tây. Sáng sớm là lúc những người đánh bắt cá gỡ những mẻ lưới sau một đêm dài thao thức chờ đợi thu hoạch. Trong mẻ lưới, nào là cá rô, cá mè vinh, nào là cá lóc, rồi các sặc… nhưng đặc biệt nhứt vẫn là cá linh.
Cá linh được gọi như thế vì theo ông bà ngày xưa, hễ cứ tới nước lên là cá con lại từ thượng nguồn đổ về các sông rạch miền Tây, rồi sau đó trôi theo nước để lớn dần. Năm nào cũng vậy, đúng thời điểm và không bao giờ sai hẹn, nên gọi là cá linh với hàm nghĩa chữ “linh” là linh tánh. Cá linh mềm, ngọt, béo nên trở thành đặc sản của mùa nước nổi An Giang. Rất nhiều món làm từ các linh, như: canh chua cá linh, cá linh kho, cá linh chiên bột, lẩu mắm cá linh, nước mắm cá linh, bún cá linh…
Vào mùa nước nổi, bông điên điển nở vàng rực trải dài cả một vùng đồng nước cũng trở thành một món ăn được ưa thích. Bông điên điển giòn, ngọt, thường dùng để nấu chung với canh chua, làm rau chấm cá kho, làm gỏi… Không chỉ thế, còn có các món đặc sản khác như rắn nước, cua đồng, ếch đồng, chuột đồng, bông súng, rau muống… Những món quà thiên nhiên nầy sẽ được chế biến thành những món ăn hấp dẫn.
Du lịch mùa nước nổi ở Láng Linh, khách có thể mướn ghe xuồng lướt trên cánh đồng bạt ngàn chìm trong biển nước và trải nghiệm cuộc sống thanh bình của người nông dân: đánh bắt cá, hái bông điên điển, giao lưu đờn ca tài tử, chế biến và thưởng thức các món ăn đồng quê… Hãy thử một lần trải nghiệm, và chắc hẳn bạn sẽ không thể nào quên!.
12/1/2022
Vĩnh Thông
Theo https://vanhocsaigon.com/

Xin lửa - Giữ lửa: Một ký ức đẹp của tuổi thơ

Xin lửa - Giữ lửa:
Một ký ức đẹp của tuổi thơ

Quê tôi cũng như nhiều vùng quê khác, thủa hàn vi nghèo khó, nhưng rất thơ mộng thanh bình. Mơ ước người dân quê thật giản dị “ngày ăn ba bữa, lửa đỏ ba lần”, bao nhiêu đó cũng đủ là niềm tự hào của mỗi người dân quê. Lửa và bếp được quan niệm như là linh hồn sống của từng gia đình.
Ngày đó, bếp lửa chủ yếu đun bằng rơm rạ, lá cây và bằng củi, những thứ đưa vào bếp đun đều là những vật liệu được cho là sạch sẽ mới dùng. Nguồn lửa hàng ngày từ máy lửa (bật lửa) gồm tim gòn, xăng hoặc dầu hỏa và đá lửa, cũng có lúc dùng hộp diêm. Mỗi nhà vài cái máy lửa để có dự phòng, tuy nhiên nhiều khi trời mùa đông máy bật mãi không lên lửa, hết tim, kẹt đá, hết xăng thế là phải đi xin lửa. Đi xin lửa và giữ lửa vì thế mà trở thành nếp sống tự nhiên, thành tập quán quen thuộc rất gần gũi, thân thuộc trong đời sống của mọi nhà.
Tôi còn nhớ, khoảng 5 đến 6 tuổi là mẹ hoặc chị đã giao cho nhiệm vụ đi xin lửa. Mẹ bày cho dùng mo cau, hoặc bẹ măng khô bỏ vào chút rác hoặc rơm vụn, khi không có bẹ măng hoặc mo cau thì cuộn rơm hay bã mía lại thành cái tổ như tổ chim dòng dọc rồi sang nhà hàng xóm xin một cục than đang đỏ bỏ vào mang về. Có hôm gặp gió luồn thổi vào làm nùi lửa cháy bùng lên phải vội vàng ném xuống giữa đường. Cũng có lần xin lửa về bị tắt phải đi xin lại, bị mẹ la mắng: “sao mà con hậu đậu thế hở con trai?”. Nói rồi mẹ cười, nụ cười tràn ngập yêu thương từ ánh mắt, khuôn mặt của mẹ.
Ngày đó chưa có ti vi, cả xóm có một hai cái đài bán dẫn. Tối đến nhà nào có đài thì nấu một nồi nước to, ủ lại cho nóng để hàng xóm tụ tập đến nghe đài và nói chuyện. Khi đi phải mang một bó cây làm đuốc, đến nhà hàng xóm lại dụi tắt, khi về lại xin chủ nhà chút lửa thắp lên để soi lối về nhà mình. Những chuyến đi về, những câu chuyện hàn huyên, tâm sự như chưa bao giờ hết kéo từ đêm này này qua đêm khác với cử chỉ thân thiện và câu từ mộc mạc kết nối nên sự gắn bó tình cảm bền chặt thân thương. Mùa đông đến, cái lạnh tê buốt kéo về mang theo mưa phùn gió bấc thì sự giao lưu hàng xóm bớt đi; những bếp lửa bằng củi quanh vườn của mỗi nhà được đốt lên để sưởi ấm, trước lúc đi ngủ thì bếp lửa được vùi lại cẩn thận để giữ lửa cho sáng sớm mai. Cũng có lúc sáng mai lửa không còn, bật lửa không đỏ lại sang nhà hàng xóm xin, rất tự nhiên chẳng ngại phiền hà vì nhà ai cũng vậy.
Tục xin lửa không đơn thuần chỉ là sự giúp nhau để nhóm lên ngọn lửa mà nó còn có ý nghĩa rộng lớn hơn là đã gắn kết tình làng, nghĩa xóm ở chốn quê, với tâm niệm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Và xin lửa cũng đã tạo nên những tình cảm đẹp của lứa đôi, của bạn bè thêu dệt nên những câu chuyện vô cùng đẹp trong cuộc sống của người dân quê. Nhà thơ Nguyễn Bao đã từng viết trong bài Hoa chanh: … “Những bữa cơm đèn/ Dậy từ mờ tối/ Gọi nhau xin lửa qua rào… Có một xóm vui…/Có anh thương binh/ Đêm ngồi bên vợ/ Tóc ai dài thơm nước là chanh!”. Bài thơ đã đi vào cuộc sống của lớp lớp thế hệ thanh niên cuối thế kỷ XX.
Đó là những ngày thường, còn những ngày Tết thì việc giữ lửa là hết sức quan trọng. Làm gì thì làm phải giữ được lửa cho đủ ba ngày Tết. Với quan niệm lửa là cầu nối âm – dương, cũ – mới là thứ vật dụng quí giá để đón định tương lai, giữ lửa trong ba ngày Tết là để cho năm mới làm ăn phát tài, phát lộc, mạnh khỏe, may mắn. Vì vậy nhà ai cũng chú trọng việc giữ lửa những ngày tết, đó là việc được đặc biệt quan tâm hết sức chu đáo. Ngoài chuẩn bị sẵn sàng bật lửa ở mức tin cậy nhất thì để không tắt bếp trong ba ngày Tết mỗi nhà chuẩn bị một đoạn cây to, chắc và đượm than để làm củi. Từ sáng ngày 30 Tết nhóm bếp lên và đoạn củi to cũng được đưa vào làm nguồn giữ lửa. Khi mọi thứ được nấu chín, cất đặt xong thì việc chăm sóc, om cây củi lớn được tiến hành cẩn trọng. Cứ như thế, sáng mùng một, mùng hai, mùng ba (có nhà còn đến tận mùng 5) cời than lên nhóm bếp. Mọi sinh hoạt của gia đình đều lấy lửa từ nguồn lửa của bếp, tuyệt nhiên không dùng nguồn lửa khác, trừ khi bất đắc dĩ nguồn lửa được giữ ở bếp bị tắt. Gia đình nào giữ được lửa trong ba ngày Tết báo hiệu năm đó sẽ thuận buồm xuôi gió, ấm no hạnh phúc. “Xin lửa, giữ lửa” đã trở thành một công việc linh thiêng, một phong tục tập quán quen thuộc ở quê tôi từ những năm đầu tám mươi của thế kỷ XX trở về trước.
Cuộc sống ngày càng hiện đại, những phong tục tập quán cũ dần cũng thay đổi theo thời gian. Bếp ga, bếp điện, bật lên là có lửa nên tục xin lửa thì hầu như không còn, nhưng giữ lửa trong ba ngày Tết vẫn còn ở nhiều vùng quê nhưng quan niệm và cách thức cũng đã khác đi nhiều.
Những ai như tôi trải qua cái thời “xin lửa, giữ lửa” chắc mỗi khi Xuân về, Tết đến vẫn còn tâm trạng bâng khuâng, hoài niệm về một thời nghèo khó, thanh bình ấy đã nuôi nấng lên những tình cảm trong sáng, góp phần gắn kết bền chặt xóm làng người Việt Nam ta, đùm bọc che chở nhau vượt qua mọi bão giông để vươn lên trong cuộc sống.
12/1/2022
Nguyễn Bá Thuyết
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thương nhớ mùa khoai lang

Thương nhớ mùa khoai lang

Cái lạnh về từ lúc nào tràn về lúc nào rồi nhỉ? Tuy chưa cắt da thịt nhưng đủ để bờ môi run rẩy. Chẳng hiểu sao, mỗi khi đông về, tôi lại bần thần tìm về những kỉ niệm  đã đi vào dĩ vãng. Tôi nhớ về món khoai nướng bếp củi, món khoai cám lợn… và nhớ về những mùa khoai cùng mẹ ra đồng.
Quê tôi nghèo, người dân lam lũ cả đời gắn với ruộng đồng, cây cỏ. Ngày ấy, khi tôi lên năm, lên bảy, củ khoai ở quê tôi sẵn lắm. Cứ mỗi độ đông về là lũ trẻ chúng tôi lại tíu tít theo mẹ chạy ra đồng để thu hoạch khoai. Năm nào cũng vậy chẳng có gì lạ lẫm mà sao ai cũng hào hứng lạ thường, niềm vui hiển hiện trên gương mặt rạng ngời.
Năm nào nhà mẹ tôi cũng dành ra mấy sào ruộng để trồng khoai lang. Dây khoai lang để cho lợn ăn, không hết mẹ tôi còn gánh đi bán khắp nơi lấy tiền mua thêm thức ăn cải thiện cho gia đình. Vào cuối vụ đông, dây khoai bắt đầu già cũng là lúc khoai chuẩn bị được thu hoạch mang về. Mẹ tôi cắt cụt dây khoai già nua trên các luống. Những luống đất trơ trọi nất toác hở ta những củ khoai mũm mĩm, nhẵn nhụi. Đôi khi tôi chỉ gẩy nhẹ tay chút xíu là đã lấy được củ khoai to bự mang về. Củ khoai to, tôi cầm đẫy cả tay. Sướng nhất là lúc cuốc khoai. Những dây củ sai trĩu nhìn thích ơi là thích. Chùm củ nằm sõng soài trên mặt luống thành một hàng dài thẳng tắp. Tôi giúp bố mẹ vận chuyển khoai xếp vào chiếc xe bò để sẵn trên đường gần ruộng. Khi đầy ắp một xe khoai, bố lễ mễ kéo về nhà. Tôi nhận chân đẩy xe bò giúp bố. Nhìn khoai xe đầy ăm ắp ai cũng tấm tắc khen củ to, sai củ. Qủa là một vụ khoai được mùa.
Ngày ấy quê tôi nghèo nhưng khoai thì chẳng thiếu. Khoai mang về được xếp đầy trong một gian nhà hoặc trong gầm giường. Khách xa  về chơi nhìn khoai là thấy thích chỉ muốn xin một mớ mang về ăn thỏa thích. Khoai quê tôi ngọt bùi như tấm lòng người dân nơi đây vậy. Khoai được chế biến thành nhiều món gắn với tuổi thơ tôi: khoai nướng rơm, khoang luộc, khoai nấu cháo chè. Thậm chí những củ khoai con cho nấu cám lợn, lúc đói bóc ăn sao mà thấy ngon đến vậy. Buồn cười nhất mỗi lúc nén giấu mẹ nướng khoai bếp rơm, rồi khi bị phát hiện vội lấy đùm trong áo nóng ran cả người. Thế mà ra ngoài đường được chia ăn cùng bè bạn lại cười ran lên ngay được. Tiếng cười khúc khích đến giờ chẳng thể nào có được. Giờ  mỗi đứa chúng tôi  đã có vợ có chồng, đôi khi gặp nhau lại hàn huyên chuyện cũ rồi tất cả cười phá lên như những ngày thơ bé đã qua.
Ăn khoai không hết mẹ tôi mang ra chợ bán. Khoai ngày trước rẻ như bèo, bán chẳng đáng là bao. Nhiều khi gặp người quen lại gạ cho một mớ về luộc. Bán vài cân lại thêm vài củ cho tươi . Mẹ tôi còn bảo quản khoai để được gần một năm. Càng về sau ăn  khoai càng ngọt, mẹ gọi là khoai mật nhưng một số củ bị hà và ăn không còn ngon như những ngày đầu mới mang về.
Mẹ còn tranh thủ thái phơi đóng thành túi thành khoai khô. Khi mát trời bỏ ra nấu nồi khoai bung to tướng, nắm thành hòn xếp vào đĩa to  cả nhà cùng  ăn. Món ăn ngon ai cũng thích. Cả nhà đoàn viên vừa ăn khoai bung, vừa trò chuyện vui vẻ.   Cái giá lạnh mùa đông như được xua đi và thay vào đó là hơi ấm tình thân, hơi ấm của sum vầy.
Những năm gần đây làng tôi không còn trồng nhiều khoai như trước vì củ khoai ngày ấy giá thành không cao. Giờ mỗi khi thèm ăn khoai lại phải ra chợ tìm mua về luộc rồi hấp cơm. Nhưng chẳng hiểu sao cũng chẳng thể sánh bằng với khoai quê ngày ấy.
Thỉnh thoảng được trở về quê thăm gia đình, tôi lại thong dong trên con đường dạo quanh cánh đồng gắn bó cả tuổi thơ. Hương lúa phảng phất đâu đây ngọt ngào đến lạ. Nhìn xa xăm tôi nuối tiếc những gì đã qua. Lòng thương nhớ về những mùa khoai đã qua.
19/1/2022
Nguyễn Thanh Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/

Mặn hương Tết biển

Mặn hương Tết biển

Quê tôi là một làng chài ven biển mà dân gian thường gọi là Kẻ Càn thuộc phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Những con người gắn đời mình với biển, nếp sống nếp nghĩ của họ rất khác và lẽ dĩ nhiên, cách đón Tết của họ cũng khác.
Có một nét văn hóa đặc trưng mà người dân quê tôi luôn cảm thấy tự hào, đó là lễ tảo mộ vào sáng 30 Tết. Cháu con ra nghĩa trang, sơn, sửa lăng mộ và thành kính mời tổ tiên về đón Tết ấm. Mọi người thực hiện việc đó bằng thái độ tôn kính và tấm lòng tri ân. Lúc đó, khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, tổ tiên và cháu con đang ở cự li gần nhất. Tiếp nối từ thế hệ này sáng thế hệ khác, tôi nghĩ những đứa trẻ sẽ có một kí ức thật đẹp đẽ về ngày Tết cổ truyền và quan trọng hơn, các con sẽ được giáo dục ý thức về nguồn cội từ ngày còn thơ bé. Vì thế, trong số những điều khi nói về vị Tết quê biển, đây là điều tôi ấn tượng nhất và muốn nói đầu tiên nhất!
Cũng như mọi gia đình người Việt khác, nhà nào cũng làm lễ cúng tất niên. Bên cạnh mâm cơm cúng gia tiên thì với những gia đình làm nghề đi biển họ cũng chuẩn bị một mâm cỗ thịnh soạn và đưa xuống thuyền. Tại đây, họ nấu những nồi nước thơm để “ tắm” cho con thuyền được sạch sẽ. Khi con thuyền đã được gột rửa, trang trí, chủ thuyền sẽ thắp hương tạ ơn trời đất, biển cả vì đã cho họ một cuộc sống ấm no. Nén hương đó còn là sự cầu mong trời yên biển lặng với những chuyến ra khơi an toàn và bội thu. (Lễ này dân quê tôi gọi là lễ cho con thuyền ăn). Ở một số thuyền, lễ này có thể thực hiện trước ngày 30 Tết, tùy thuộc thời gian thuyền nghỉ – không còn ra khơi những ngày áp Tết!
Những khoảnh khắc cuối cùng của năm cũ, các thành viên trong gia đình tề tựu đông đủ để kính lạy tổ tiên và đón chào năm mới. Sau khi đón giao thừa tại nhà mình, rất nhiều người đến Đền Cờn – một ngôi đền nổi tiếng linh thiêng bậc nhất ở xứ Nghệ để cầu mong sự an yên. Nếu không đến được Đền trong thời khắc này, dân làng sẽ đến trong những ngày sau đó.
Sau giao thừa, nhiều vùng quê người dân ít ra ngoài nhưng dân quê tôi lại khác, họ đến nhà nhau xông đất và chúc Tết ngay khi vừa bước sang năm mới. Có phải sống nơi cửa biển, quanh năm đón nắng, đón gió, quan niệm sống của họ cũng cởi mở hơn ?
Tập quán “Mùng một tết cha…”  làng tôi vẫn còn lưu giữ đến ngày hôm nay. Sáng mùng một, con cháu đến mừng tuổi ông bà, cha mẹ, sau đó đi chúc Tết họ hàng, láng giềng, bạn chài. Sau đó là ngày “ hóa vàng” được các gia đình tổ chức một cách chu đáo, ấm cúng. Vì thế mối quan hệ của gia đình, xóm làng ngày càng bền chặt. Sống nơi cửa biển, luôn đương đầu với sóng to gió dữ, đặc biệt là những chuyến ra khơi, giữ được sự cố kết cộng đồng như vậy là điều đáng quý và luôn luôn phải có!
Cách ăn Tết của người làng tôi cũng khá đặc biệt. Vì là dân vùng biển nên đồ đãi khách trong những ngày Tết của các gia đình hẳn nhiên không thể thiếu tôm, cá, mực. Mọi thứ được chế biến một cách đơn giản, nhanh gọn. Ý niệm “kiêng kị” ăn mực đầu năm mới dường như không có với người dân nơi đây. Ly rượu thơm kết hợp với sản vật của biển khiến cho những nụ cười của năm mới rạng rỡ hơn, lời chúc ngày xuân ấm nồng hơn và mọi người xích lại gần nhau hơn!
Trong bữa cơm ngày Tết ở quê tôi luôn có nồi cá kho mặn. Cá thu, cá ngừ, cá bồ câu, cá thửng…  là những loại cá được chọn. Giữa những bữa cơm quây quần, một bát cơm trắng, một miếng cá kho, mấy củ dưa hành, bát canh chua cá đôi khi là sự ưu tiên hàng đầu. Bởi thế mà quà Tết của người dân ở vùng đất này thường là những loại cá thật ngon và các loại hải sản khác. Có lẽ đó là nét tâm lý của những người đi biển, sống nhờ biển, gần biển – những ngày Tết họ cũng không thể đi quên đi nghề nghiệp của mình!
Bên cạnh đó, ở Kẻ Càn còn có một món ăn đặc biệt trong mâm cỗ ngày Tết, đó là món Cuốn. Nguyên liệu để làm món cuốn được chuẩn bị một cách cầu kì. Tép biển khô được đảo qua dầu ăn và mật mía. Cuốn được biến tấu ở nhiều địa phương khác, họ thay tép bằng thịt băm hoặc tôm. Nhưng không, ở đây, nhất định phải là tép khô rang mật mía! Ngoài ra, còn có thịt lợn nạc thái con chì rang khô, bún lá cắt từng miếng vừa ăn, trứng tráng thái mỏng và các gia vị đi kèm như rau mùi, khế chua, hành củ nguyên cây.
Với món này, thực khách sẽ ấn tượng bởi sự bày biện có tính thẩm mỹ của gia chủ. Gói cuốn không khó nhưng để gói đẹp thì không hề đơn giản. Nhìn những ánh mắt chăm chú, những bàn tay đang nhẹ nhàng gói từng chiếc cuốn của các mẹ, các chị, tôi có cảm giác, những người đàn bà vùng biển dường như đặt hết sự tự hào, mến thương vào món ăn làm nên bản sắc của quê mình. Dù rằng làm món Cuốn khá mất thời gian những ai cũng cố làm cho bằng được. Thiếu cuốn như thiếu đi một phần vị Tết!
Đặc biệt hơn là khi thưởng thức đĩa cuốn đẹp mắt. Với món này, nước chấm không phải là chẻo như nhiều vùng mà phải là nước mắm cá cơm do chính người dân kẻ Càn làm ra. Nước mắm cốt chế thêm một chút chanh, tỏi, ớt cay để tạo nên một thứ nước chấm vừa thanh vừa đậm. Với từng chiếc cuốn, thực khách có thể cảm nhận được sự khéo léo của người làm, sự hài hòa của mùi vị và hương sắc. Điều đó đem đến cảm giác ngon miệng. Nó ngon hơn bởi đến Tết mới được thưởng thức món này. Ngày thường không phải là không làm được nhưng dường như thiếu đi hương vị nào đó? Phải chăng là hương vị của sự tri ân tiên tổ, của sự gặp gỡ, đoàn viên?
Ngoài việc thăm thú, chúc tết thì sáng mùng hai Tết là thời khắc mà chúng tôi đợi chờ nhiều hơn cả bởi hôm đó có lễ hội đua thuyền trên sông Hoàng Mai trước của Đền Cờn. Để chuẩn bị cho hội đua, trước đó từ nửa cuối tháng 12, các đội bơi đã hăng say luyện tập để có một cuộc đua thành công.
Tầm 5h sáng, khắp làng trên xóm dưới đã nghe tiếng loa, tiếng gọi nhau râm ran. Sau đó, 11 đội bơi bước vào cuộc đua theo các bảng khác nhau. Đáp lại sự cổ vũ của người xem, các vận động viên cố gắng tạo ra những màn đua đẹp mắt trên sóng nước Mai Giang. Thời khắc xuất phát và tăng tốc về đích luôn diễn ra hấp dẫn nhất. Dưới mặt sông, các tay bơi dốc sức đưa những mái chèo thật đều thật đẹp theo nhịp mõ. Trên bờ, tiếng hát vẫn đều đặn vang lên: “ Nhanh tay nào khua mái chèo/ Cho thuyền ta bơi nhanh về bến/ Nhanh tay nào khua mái chèo/ /Trai làng ơi ai thắng năm này/ Núi sông mình đất xứ Quỳnh/ Vui hội đua thuyền Đền Cờn linh thiêng,……… zô huầy zô huầy zô huầy…”. Tiếng người hò reo, tiếng trống hối thúc đã tạo ra một bản hòa tấu âm thanh rộn rã. Đội giành chiến thắng là đội có sức khỏe, cách bơi đều, đẹp.
Hội đua thuyền đã trở thành nét sinh hoạt Tết rất đặc trưng của người dân vùng biển nồng hậu. Lễ hội này tự nó mang trong mình nhiều ý nghĩa: góp phần biểu dương lực lượng, thắt chặt tinh thần đoàn kết, chung sức để cùng nhau vươn khơi bám biển. (Quỳnh Phương luôn là địa phương có trữ lượng đánh bắt hải sản lớn nhất Nghệ An). Thế nên, với người dân vùng đất này, Tết mà không có đua thuyền thì hẳn cái Tết năm đó không hề trọn vẹn. Điều đó phần nào chứng minh sức sống bền vững của nét văn hóa dân gian này. Do đó, tôi nghĩ, việc bảo vệ các giá trị văn hóa cổ truyền, bên cạnh sự vào cuộc của các cấp chính quyền thì vai trò lớn nhất chính là người dân bản địa. Những phong tục, tập quán mà họ tìm thấy niềm vui, ý nghĩa, tự khắc họ sẽ tham gia và gìn giữ một cách có trách nhiệm nhất!
Người dân quê tôi ăn Tết, chơi Tết rất dài, đến tận mùng 7 ngày hạ, có thể còn kéo dài đến tận rằm tháng giêng và đến cả ngày lễ hội của làng (Lễ hội Đền Cờn tổ chức từ ngày 19 đến ngày 21 tháng giêng âm lịch hàng năm) như đúng câu ca xưa “tháng giêng là tháng ăn chơi“. Dường như những ngày Tết đã thỏa mãn nỗi khát bờ của những người làm nghề chài lưới!
Quả thực, dù cuộc sống có nhiều đổi thay nhưng vị Tết ở Kẻ Càn vẫn rất đậm đà với những nét rất riêng của người dân vùng biển. Khi đi qua những cái Tết, người dân quê tôi thấy gắn bó hơn với quê hương, gia đình và trân trọng hơn những giá trị văn hoá truyền thống. Riêng tôi, tôi thấy tự hào và mến thương hơn làng chài ven biển của mình nhờ đi qua những cái Tết rất mặn mòi!.
20/1/2022
Hương Nguyễn
Theo https://vanhocsaigon.com/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...