Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2024
"Hai cái bụng" của người quản lý văn nghệ
"Hai cái bụng" của
Theo Hoàng Trung Thông, người quản lý văn nghệ không chỉ biết bảo vệ nguyên tắc mà còn phải có tấm lòng với văn nghệ sĩ, có bản lĩnh để bảo vệ cái đúng; Đồng thời phải có kiến thức, có uy tín chuyên môn để anh em khâm phục.
Huế - Ngày đang nghiêng rót những giọt cuối cùng tháng chạp
Huế - Ngày đang nghiêng rót
những giọt cuối cùng tháng chạp
Tết là bức họa cũ kỹ ấp ủ hồn quê được vẽ bằng màu lá xanh
non, màu trắng hạt nếp lẫn hương thơm của đậu xanh thịt mỡ dưa
hành. Là màu xám khói nhang lẫn hương trầm nghi ngút linh thiêng đêm giao
thừa.
Là hương áo mới ngày mồng một, là màu đỏ của bao
lì xì. Để rồi “hương gây mùi nhớ”, màu gợi ký ức mà hoài niệm Tết
xưa…
1. Tôi vẫn nhớ như in bộ lư đồng có vài chỗ
ám vết bẩn xanh ve chai, bộ đèn thờ gỗ đỏ đã tróc sơn mà mỗi
lúc gần Tết ông nội luôn nhắc con cháu lau dọn cho sạch sẽ
tươm tất.
Tuổi thơ tôi ở cùng ông bà nội nên sợi dây thế hệ
liền lạc gắn kết nhờ đó mà phong tục Tết Nguyên Đán – bản sắc của dân tộc và hồn
phách của nếp nhà được lưu truyền trọn vẹn.
Thời khắc ông nội trong bộ áo dài khăn đóng
kính cẩn cúng bái đất trời đêm giao thừa trong khói xám hương trầm
giữa cõi mờ ảo sương khuya đẹp như một câu chuyện cổ tích.
Cũng đúng, bởi cái thời khắc thay cũ đổi mới,
cuộc hóa thân của đông vào xuân, bước trở mình của đất trời
mà con người là chứng nhân, là sợi dây kết nối thời gian
với không gian, tiền thân với hậu bối, nhờ đó mà Tết được
cảm nhận toàn vẹn trong sâu thẳm thâm tâm của con người.
2. Sáng đầu năm thường bắt đầu bằng việc ông bà nội đặt
xôi chè lên cúng sớm. Mùi xôi mới mở nắp vung của mẹ, mùi
cháy xém của đậu phụng, mùi vani trong nồi chè xanh đánh thoảng
hương mang một mật ngữ diệu kỳ.
Nếu như mùi trầm hương tạo nên không khí nghiêm cẩn
thì mùi nếp, mùi đậu xanh, đậu phụng, bánh tét như mang mùi nắng
mùi mưa của xứ sở quyện với mùi của sự chắt chiu, vén khéo của bà của mẹ
dâng lên bàn thờ tổ tiên với cõi lòng tưởng nhớ tri ân.
Từ đó Tết mang một âm vọng miên miên, không cũ không
mới như một vuông tranh hiện sinh đã tồn tại và lưu truyền giữa
cõi đời không biết tự bao giờ.
Sáng mồng một lúc mặc áo mới thì Tết mới bắt đầu
với mỗi đứa trẻ, áo có thể dài ở tay, dư ở vạt nhưng đủ đầy
niềm hoan ca, lễ phép khoanh tay mừng thọ ông bà, nhận tiền mừng
tuổi, rồi xun xoe chạy lòng vòng trong nhà ra ngõ, nghe mùi đốt giấy
tiền vàng bạc của cơn gió đầu xuân từ đâu lạc tới mà ngỡ
như mình từ truyện cổ bước ra.
Tôi vẫn nhớ như in ôn mệ An, mệ là em gái ông nội
tôi. Tết năm nào cũng vậy, đều là người xông đất và thắp hương cho
ba mẹ mà tôi gọi là ông bà cố, thăm hỏi chúc phúc đại gia đình
ông tôi. Thế hệ ông bà đã lưu giữ và truyền lại bao giá trị truyền thống quý
giá của dân tộc cho con cháu về sau.
Thời gian trôi qua cả ôn mệ tôi, ôn mệ An đều đã
thành người thiên cổ mà tôi chỉ còn có thể gặp lại trong mặc
tưởng khi kính cẩn dâng hương với tấm lòng thành. Ngày Tết vì
thế mà thiêng liêng. Ở đó ta tìm lại được hình dáng, tiếng nói của
tiền thân, để rồi trong cõi siêu hình đó tâm mình như được ru
dỗ an yên, tự tại, vô thường…
3. Mới hôm rồi người bạn Huế nhắn hỏi “Tết ni mi có
về không?”, mới hay ngày tháng đang nghiêng rót những giọt cuối
cùng tháng chạp.
Có lẽ nỗi vô hình của tình cảm, sân rêu nhà từ
đường, mái nhà hương hỏa đã nuôi dưỡng hồn người với bao
dấu nhớ trong đời luôn là tiếng thúc dục “phải ” trở về quê
ăn Tết. Gian nhà thờ mờ ảo trong ánh nến soi bộ lư đồng, khói
hương tan giữa hư vô như gửi gắm lời khấn khẽ của hậu bối
với tiền thân.
Vì thế nó như một tiếng gọi hồi hướng khắc khoải
theo suốt cả một đời. Bởi Tết Huế không chỉ là một nét văn
hóa cổ truyền mà là một cuộc hành đạo rất riêng đầy mỹ cảm
ở bên ngoài và tâm cảm bên trong.
Đó là quần áo nhà cửa tươm tất, lời ăn tiếng nói
nhỏ nhẹ để bắt đầu một năm đầy lạc quan đón nhận đổi thay phía
trước, an nhiên biết đủ, biết sẽ chia để bao dung trọn hết cõi
lòng.
Sáng đầu năm đi viếng mộ thắp nhang mới hay cả
bầu trời xuân đều ngưng đọng trong khoảnh khắc mà dòng Hương
lắng lại, soi rọi đầy đủ khung cảnh của đất trời giao cảm với
cuộc hành hương của con người.
Cái mênh mông vô bờ của sông nước như mang lại
sự rộng lượng cho hồn người; bỏ lại hết buồn tủi, giận
hờn năm cũ mà lắng nghe thanh bình, hạnh phúc khẽ trong tim. Và nỗi
ngóng chờ ngày về quê ăn Tết chợt cắt ngang bởi câu hỏi của
cô con gái nhỏ: “sông Hương có chảy mãi vô Sài Gòn không ba?”
Có lẽ không chảy vào Sài Gòn mà chảy vào lòng
người Huế con ạ. Để rồi ở lại thành dòng sông của tiềm
thức neo đậu lại nỗi nhớ Tết thương quê, lắm khi không hiểu
vì sao. Chỉ biết trong cơn gió sớm tháng mười hai se sẽ, tự vấn
lòng mình “Cây mai già nhà hương hỏa có nở một đóa vàng bên
một mảng tường rêu?”.
8/1/2022
Bùi Hoàng Linh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Bút ký của Quang Học: Thầy tôi
Bút ký của Quang Học: Thầy tôi!
Trong tâm trí mỗi người, chắc chắn sẽ có những ký ức sâu đậm
về những người Thầy của mình. Tôi cũng vậy. Tôi đã trải qua nhiều trường, nhiều
lớp học và lẽ đương nhiên cũng có rất nhiều người Thầy đáng kính. Một trong những
người Thầy đó là PGS. Vương Đình Quyền, giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Người Thầy mà trong giới nghiên cứu, giảng dạy về văn thư,
lưu trữ và phần lớn ai làm việc về văn thư, lưu trữ ở Việt Nam đều biết đến với
một sự ngưỡng mộ, kính trọng lớn lao.
Hình ảnh thầy Vương Đình Quyền thật sự in đậm trong mỗi thế hệ
sinh viên. cá nhân tôi chỉ là một trong số rất nhiều học trò của Thầy, luôn nhớ
về Thầy với tình cảm chân thành, kính trọng và tự nỗ lực vươn lên cùng với sự dạy
bảo, định hướng, giúp đỡ của Thầy.
Sau 18 năm kể từ năm tốt nghiệp đại học, ngẫm lại thấy nhiều
lúc hình ảnh của Thầy cứ thường trực trong suy nghĩ của tôi. Xin được ôn lại
vài kỷ niệm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc học tập, nghiên cứu và làm
việc của tôi có gắn liền với định hướng của Thầy. Đó là:
– Năm 1999, khi tôi theo học ngành Lưu trữ học và Quản trị
văn phòng của học kỳ I, năm thứ nhất cũng là lúc niềm vui và hứng khởi thi đậu
Đại học sau mấy năm ôn luyện miệt mài trong quân ngũ dần dần tan biến. Thay vào
đó là những nỗi lo từ thực tế của việc học đại học lại tăng lên nhanh chóng.
Trong đó, nỗi lo lớn nhất là học xong đại học sẽ không biết xin việc ở đâu?
Một hướng đi theo tôi lúc đó là khả thi và “an toàn” là
học xong sẽ về quê. Công việc mong muốn và cảm thấy phù hợp nhất là dạy học.
Nhưng, học Lưu trữ thì không dạy học ở quê được?
Suy nghĩ miên man rồi tôi dự định xin chuyển sang Khoa Lịch sử
để học ngành Lịch sử – ngành học này tôi rất yêu thích và có thể sẽ giúp tôi trở
thành thầy giáo dạy Sử ở trường làng sau khi tốt nghiệp đại học.
Nghĩ là làm, tôi liền đến nhà thầy Vương Đình Quyền và xin ý
kiến. Mong muốn nhờ Thầy giúp đỡ để cho tôi được chuyển ngành học. Lý do nhờ Thầy
cũng đơn giản thôi, Thầy vốn công tác ở Khoa Lịch sử nhiều năm trước khi ngành
Lưu trữ học được tách ra thành một Khoa riêng.
Thầy lắng nghe học trò. Cách lắng nghe của Thầy sau này tôi
cũng thường nhớ lại khoảnh khắc đó. Thầy lắng nghe để hiểu – thật sự tôn trọng
người nói làm sao. Bất kể người nói đó là sinh viên năm thứ nhất – như tôi.
Tôi khá bất ngờ vì Thầy bày tỏ sự đồng cảm với nguyện vọng của
tôi. Sau đó, Thầy đã phân tích và nói với tôi rằng:
– “Em nên cân nhắc kỹ trước khi quyết định nhé!”
Vài ngày suy nghĩ về những lời phân tích của Thầy, tôi đã tự
đưa ra quyết định cho mình và hoàn toàn yên tâm với ngành Lưu trữ học và Quản
trị văn phòng như một sự lựa của số phận!
– Khi đã yên tâm với ngành học, tôi cũng nhanh chóng thích
nghi với việc học ở bậc đại học, được học tập từ nhiều thầy, cô trong Khoa như
PGS. Vương Đình Quyền, PGS. Nguyễn Văn Hàm, PGS. TS. Đào Xuân Chúc, PGS. PGS.
TS. Vũ Thị Phụng, TS. Nguyễn Liên Hương, v.v… với nhiều tri thức mới; phương
pháp học tập, nghiên cứu mới, v.v…
Tôi thật sự yêu thích và có hứng thú với những nội dung bài
giảng, các công trình nghiên cứu và cả phương pháp làm việc của PGS. Vương Đình
Quyền đã truyền đạt cho học trò. Từ đó, đã dần dần hình thành trong tôi sự say
mê, yêu thích các môn học của ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng và các kiến
thức chuyên sâu về văn thư, lưu trữ như văn bản quản lý nhà nước, lịch sử văn bản,
kỹ thuật soạn thảo văn bản, v.v…
– Năm 2003, tốt nghiệp đại học với tấm bằng cử nhân Lưu trữ học
và Quản trị văn phòng, tôi đứng trước “vận may” có rất nhiều cơ quan,
tổ chức từ Trung ương đến địa phương thông báo tuyển dụng. Bản thân tôi cũng được
Ban chủ nhiệm Khoa thông báo sẽ đề nghị Trường giữ lại làm cán bộ của Khoa.
Cùng thời gian này, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã mở ngành Lưu trữ học và Quản trị
văn phòng và cần cán bộ giảng dạy cho ngành học mới, công việc tuyển dụng cán bộ
lúc đầu được thực hiện qua việc giới thiệu của thầy, cô ở hai trường.
Trong buổi Lễ trao bằng tốt nghiệp cho lớp chúng tôi, PGS.
Vương Đình Quyền có gặp riêng tôi và hỏi:
– “Em đã có dự định đi làm ở đâu chưa?”
Tôi vui vẻ thông tin: “Dạ, em mới được nhận vào làm việc ở
Văn phòng Bộ…”
Trầm ngâm một lúc, Thầy nói:
– “Tôi rất tin tưởng em và giới thiệu em vào làm việc ở Khoa
Lịch sử của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh) làm cán bộ giảng dạy ngành Lưu trữ học.
Tôi bất ngờ với đề nghị của Thầy trái lại với thông tin tôi vừa
khoe. Bất ngờ hơn nữa, đó lại là một thông tin tốt lành mà tôi chưa từng nghĩ đến.
Thầy lại tiếp tục:
– “Em suy nghĩ và nếu đồng ý thì cho tôi biết nhé”.
Lời Thầy nói, tôi hiểu được ý Thầy muốn gì? Bởi lẽ, Thầy cũng
phân tích cặn kẽ mọi điều và động viên tôi lên đường “Nam tiến”.
Sau một ngày tham khảo ý kiến của gia đình, người thân và cân
nhắc suy nghĩ rất nhiều, tôi đã quyết định nhờ Thầy giới thiệu “vào Nam” với
biết bao suy nghĩ về một chân trời mới tươi sáng nhưng cùng đầy gian lao và thử
thách được dự báo trước.
– Tháng 9 năm 2003, tôi được nhận vào làm việc ở Khoa Lịch sử
của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh trong không khí các thầy, cô của Khoa Lịch sử vui mừng đón nhận thành
viên đầu tiên của Bộ môn Lưu trữ học và Quản trị văn phòng.
Trưởng Khoa Lịch sử lúc bấy giờ là PGS. TS. Võ Văn Sen đã
giao cho tôi một số nhiệm vụ ở buổi đầu “khởi nghiệp” như chuẩn bị tìm kiếm, giới
thiệu nhân sự làm cán bộ giảng dạy chính thức cho Bộ môn; chuẩn bị hướng nghiên
cứu và bài giảng để sớm tham gia giảng dạy. Định hướng của Khoa là sẽ phát triển
Bộ môn Lưu trữ học – Quản trị văn phòng thành một Khoa độc lập thuộc Trường khi
hội đủ điều kiện.
Tôi đã quyết định chọn môn học để chuẩn bị nội dung giảng dạy
là môn học do chính thầy Quyền trực tiếp giảng dạy cho lớp chúng tôi và đã tạo
cảm hứng cũng như hướng dẫn tôi học tập, nghiên cứu từ những ngày trên giảng đường
đại học.
– Con đường học tập của tôi được mở rộng từ chuyên ngành Lưu
trữ học và Quản trị văn phòng đến Lịch sử có sự định hướng, chỉ bảo, giúp đỡ của
Thầy và tôi hoàn toàn mãn nguyện với con đường mình đã chọn.
Đến nay, thời gian thấm thoắt đã 18 năm kể từ khi ra Trường.
Những gì Thầy định hướng ít, nhiều tôi cũng đã làm được nhưng tự thấy rằng bản
thân mình vẫn còn phải cố gắng nhiều hơn trên con đường Thầy chỉ dẫn bước đi.
Đối với mỗi một người thì công lao của mỗi thầy cô và kỷ niệm
về mỗi thầy cô là rất lớn, không thể kể hết. Cá nhân tôi cũng có rất nhiều thầy,
cô với biết bao công sức dạy dỗ, chỉ bảo và đã để lại những kỷ niệm sâu đậm
trong nhiều lát cắt của trí nhớ, mãi mãi được khắc ghi với tấm lòng tri ân và
có thể không có cơ hội được nói ra thành lời, viết nên thành chữ!
Thầy tôi – PGS. Vương Đình Quyền là người Thầy có vị trí đặc
biệt quan trọng đối với tôi trong việc định hướng con đường học tập, nghiên cứu
và làm việc. Xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến Thầy và kính chúc
Thầy sức khỏe, hạnh phúc, vạn sự tốt lành!.
9/1/2022
QUANG HỌC
Theo https://vanhocsaigon.com/
Châu Phú sắc xanh đồng bằng
Châu Phú sắc xanh đồng bằng
Châu Phú là huyện thuần nông của tỉnh An Giang, nằm dọc theo
Quốc lộ 91 và sông Hậu, sau lưng là dãy Thất Sơn hùng vĩ như bức bình phong khổng
lồ che chắn cho đồng bằng. Nơi đây ngày xưa là cánh đồng trũng phèn rộng lớn gọi
là Láng Linh. “Láng” là từ mà người miền Tây dùng để chỉ vùng đất ngập úng.
Láng Linh mang ý nghĩa ngập đầy nước, linh binh, linh láng…
Hiện nay mặc dù du lịch chưa phải thế mạnh chính, nhưng miền
đất nầy đang có những tiềm năng dần được “đánh thức”. Châu Phú mang đậm dấu ấn
miệt vườn, nên có nhiều lợi thế về du lịch văn hoá và du lịch sinh thái. Bạn
hãy thử một lần về thăm mảnh đất hiền hòa nầy để có những trải nghiệm khó quên!
Bất ngờ cù lao Năng Gù
Cù lao Năng Gù - xã Bình Thủy là một trong số những làng cổ
được khai phá sớm ở tỉnh An Giang. Làng quê yên tĩnh, thanh bình và những con
người chất phác, thân thiện sẽ xua tan bao mệt mỏi cho du khách, giúp tâm hồn bạn
được cân bằng lại. Vừa đi vừa chậm rãi quan sát, bạn có thể cảm nhận được hương
vị dân dã của cuộc sống yên bình. Đặc biệt trên cù lao còn rất nhiều ngôi nhà cổ
có từ đầu thế kỷ XIX. Đa số chúng có kiến trúc giống nhau, ba gian hai chái,
nóc bánh ít, cột tròn làm từ gỗ quý… Nhà thấp nhưng thoáng mát, cách thiết kế
và trang trí mang phong cách truyền thống xen lẫn phong cách phương Tây.
Xã Bình Thủy có đình thần Bình Thủy là một di tích kiến trúc
nghệ thuật đặc sắc. Hằng năm, đình tổ chức lễ Kỳ yên vào ngày 9 – 10 – 11 tháng
5 âm lịch, với quy mô sánh vào một trong những lễ hội lớn hàng đầu tỉnh An
Giang. Điểm đặc biệt của lễ hội nầy là cuộc thi đua thuyền truyền thống đầy vui
nhộn, song song đó là hoạt động hóa trang thành thổ dân do các thanh niên trong
xã thực hiện để cổ vũ đua thuyền. Những hình ảnh ấy đã gây bất ngờ cho nhiều
khách phương xa. Tiếng lành đồn xa, hội thi đua thuyền và hoạt động hóa trang ở
Bình Thủy được xem là trải nghiệm đừng nên bỏ lỡ khi đến Châu Phú.
Một vòng thị trấn Cái Dầu
Cái Dầu là thị trấn mang đầy đủ nét đặc trưng của một “phố chợ
miền sông”. Khu chợ nầy đã có từ lâu đời và sớm trở thành trung tâm kinh tế của
cả một vùng rộng lớn. Đến những năm đầu thế kỷ XX, Pháp khai thác và nâng cấp
thành đô thị có quy mô. Từ năm 1979, Cái Dầu trở thành thị trấn, hiện nay là
trung tâm thương mại lớn của huyện Châu Phú.
Thị trấn Cái Dầu ngày nay khang trang, dưới sông lẫn trên bờ
đều buôn bán tấp nập, nhà cao tầng, các doanh nghiệp, cơ sở… mọc lên đông đúc,
tạo nên bộ mặt mới đầy hứa hẹn. Đặc biệt về đêm, Cái Dầu mới thực sự thể hiện đầy
đủ những nét đẹp tiêu biểu của một phố chợ miền sông. Thị trấn về đêm mang bộ mặt
trẻ trung, duyên dáng, không khí không quá ồn ào, vừa đủ để ta lắng lòng trước
khung cảnh khá lãng mạn, sâu lắng.
Cạnh chợ Cái Dầu có đình Bình Long thành lập vào thập niên
1930. Kiến trúc đình có sự kết hợp hài hòa giữa phong cách dân tộc với phong
cách Roman của phương Tây. Phía trên trung tâm thị trấn không xa là công viên
Trần Văn Thành với điểm nhấn là tượng đài Quản cơ Trần Văn Thành cao 15 mét. Tượng
tạc hình ảnh Đức Quản cơ đứng oai vệ trên xuồng đang lướt trên sóng nước, mặt
ngẩng cao hướng về Láng Linh, tay cầm kiếm chuẩn bị xông vào trận. Tác giả bức
tượng là điêu khắc gia Trần Thanh Phong, hoàn thành năm 2003.
Trầm mặc tranh đá Bảy Núi
Tại một phòng tranh đơn sơ nằm cách công viên Trần Văn Thành
khoảng 100 mét, một dòng tranh đặc biệt vừa ra đời cách đây vài năm, đó là
tranh đá Bảy Núi. Đây dòng tranh đầu tiên ở An Giang sử dụng chất liệu địa
phương là đá granit vùng Bảy Núi. Đá Bảy Núi không có nhiều màu sắc, nên tranh
chủ yếu sử dụng gam màu trắng đen làm chủ đạo. Mặc dù không lấp lánh như những
loại tranh khác, nhưng điều mà tác giả hướng đến là chiều sâu của các tác phẩm,
để người xem tranh có thể có cảm giác thư thái tâm hồn sau những bộn bề cuộc sống.
Tác giả – người khai sinh ra dòng tranh nầy là nhà giáo – nhạc
sĩ Phan Võ Hoàng Nam, hiện sống tại Cái Dầu. Anh là người đầu tiên ở miền Tây
dùng đá làm tranh, hiện đã cho ra đời hàng chục bức tranh, tổ chức được hai cuộc
triển lãm. Anh đi khắp vùng núi An Giang để lựa chọn những viên đá phù hợp rồi
đem về giã nát ra thành bột đá. Để thực hiện tranh, bột đá được rãi lên bản
phác thảo, chỉnh sửa cho mỹ thuật rồi dán keo để kết dính thành tranh. Qua thời
gian, những bức tranh mộc mạc làm từ đá Bảy Núi đã đến với đông đảo những người
thưởng thức hội họa, càng giúp dòng tranh đặc thù của địa phương có chỗ đứng vững
vàng hơn.
Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành
Bửu Hương tự hay đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành, thường được
người địa phương gọi là dinh Đức Cố, tọa lạc tại xã Thạnh Mỹ Tây. Từ thị
trấn Cái Dầu, bạn tiếp tục đi theo Quốc lộ 91 đến chợ Vịnh Tre rồi rẽ trái, đi
vào khoảng 10 km nữa sẽ đến di tích. Đền có kiến trúc đơn giản, bố cục hài hòa,
đăng đối, mang phong cách truyền thống. Nội thất là một không gian đậm chất dân
tộc, uy nghi mà gần gũi, bởi vừa mang dáng vẻ đền miếu, vừa có nét như một ngôi
nhà cổ Nam Bộ.
Khởi nghĩa Bảy Thưa (1867 – 1873) là phong trào chống Pháp với
quy mô lớn của nghĩa binh Gia Nghị dưới sự chỉ huy của Quản cơ Trần Văn Thành.
Nghĩa quân tự rèn đúc vũ khí và được nhân dân tiếp tế lương thực, tổ chức thắng
lợi nhiều trận đánh, gây cho Pháp hoang mang lớn. Sau nhiều lần xâm nhập bất
thành do không quen địa hình sình lầy, đầu năm 1873, Pháp tổ chức càn quét lớn
vào căn cứ. Mặc dù chống trả ngoan cường, nhưng do lực lượng chênh lệch và vũ
khí thô sơ, nên trước hỏa lực mạnh mẽ của địch, nghĩa quân đã bị đánh bại.
Bửu Hương tự được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ XX, ngoài
mặt là nơi thờ Phật, nhưng thực tế là nơi kỷ niệm nghĩa quân Gia Nghị. Hằng
năm, vào ngày 21 tháng 2 âm lịch – kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa bị đàn áp,
huyện Châu Phú đều có tổ chức lễ hội văn hóa truyền thống, thu hút hàng vạn người
tham dự.
Lung linh mùa nước nổi
Mùa nước nổi ở miền Tây khoảng từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch.
Vào thời điểm đỉnh lũ, đồng Láng Linh chìm giữa bốn bề sóng nước mênh mông.
Quang cảnh chung quanh không thể phân biệt được đâu là đường đê, đâu là đồng ruộng,
đâu là kinh rạch, trừ vùng đồi núi Thất Sơn bàng bạc xa xa. Mùa nước nổi về
mang phù sa bồi đắp ruộng đồng và nguồn lợi thủy sản to lớn cho miền Tây. Sáng
sớm là lúc những người đánh bắt cá gỡ những mẻ lưới sau một đêm dài thao thức
chờ đợi thu hoạch. Trong mẻ lưới, nào là cá rô, cá mè vinh, nào là cá lóc, rồi
các sặc… nhưng đặc biệt nhứt vẫn là cá linh.
Cá linh được gọi như thế vì theo ông bà ngày xưa, hễ cứ tới
nước lên là cá con lại từ thượng nguồn đổ về các sông rạch miền Tây, rồi sau đó
trôi theo nước để lớn dần. Năm nào cũng vậy, đúng thời điểm và không bao giờ
sai hẹn, nên gọi là cá linh với hàm nghĩa chữ “linh” là linh tánh. Cá linh mềm,
ngọt, béo nên trở thành đặc sản của mùa nước nổi An Giang. Rất nhiều món làm từ
các linh, như: canh chua cá linh, cá linh kho, cá linh chiên bột, lẩu mắm cá
linh, nước mắm cá linh, bún cá linh…
Vào mùa nước nổi, bông điên điển nở vàng rực trải dài cả một
vùng đồng nước cũng trở thành một món ăn được ưa thích. Bông điên điển giòn, ngọt,
thường dùng để nấu chung với canh chua, làm rau chấm cá kho, làm gỏi… Không chỉ
thế, còn có các món đặc sản khác như rắn nước, cua đồng, ếch đồng, chuột đồng,
bông súng, rau muống… Những món quà thiên nhiên nầy sẽ được chế biến thành những
món ăn hấp dẫn.
Du lịch mùa nước nổi ở Láng Linh, khách có thể mướn ghe xuồng
lướt trên cánh đồng bạt ngàn chìm trong biển nước và trải nghiệm cuộc sống
thanh bình của người nông dân: đánh bắt cá, hái bông điên điển, giao lưu đờn ca
tài tử, chế biến và thưởng thức các món ăn đồng quê… Hãy thử một lần trải nghiệm,
và chắc hẳn bạn sẽ không thể nào quên!.
12/1/2022
Vĩnh Thông
Theo https://vanhocsaigon.com/
Xin lửa - Giữ lửa: Một ký ức đẹp của tuổi thơ
Xin lửa - Giữ lửa:
Một ký ức đẹp của tuổi thơ
Quê tôi cũng như nhiều vùng quê khác, thủa hàn vi nghèo khó,
nhưng rất thơ mộng thanh bình. Mơ ước người dân quê thật giản dị “ngày ăn ba bữa,
lửa đỏ ba lần”, bao nhiêu đó cũng đủ là niềm tự hào của mỗi người dân quê. Lửa
và bếp được quan niệm như là linh hồn sống của từng gia đình.
Ngày đó, bếp lửa chủ yếu đun bằng rơm rạ, lá cây và bằng củi,
những thứ đưa vào bếp đun đều là những vật liệu được cho là sạch sẽ mới dùng.
Nguồn lửa hàng ngày từ máy lửa (bật lửa) gồm tim gòn, xăng hoặc dầu hỏa và đá lửa,
cũng có lúc dùng hộp diêm. Mỗi nhà vài cái máy lửa để có dự phòng, tuy nhiên
nhiều khi trời mùa đông máy bật mãi không lên lửa, hết tim, kẹt đá, hết xăng thế
là phải đi xin lửa. Đi xin lửa và giữ lửa vì thế mà trở thành nếp sống tự
nhiên, thành tập quán quen thuộc rất gần gũi, thân thuộc trong đời sống của mọi
nhà.
Tôi còn nhớ, khoảng 5 đến 6 tuổi là mẹ hoặc chị đã giao cho
nhiệm vụ đi xin lửa. Mẹ bày cho dùng mo cau, hoặc bẹ măng khô bỏ vào chút rác
hoặc rơm vụn, khi không có bẹ măng hoặc mo cau thì cuộn rơm hay bã mía lại
thành cái tổ như tổ chim dòng dọc rồi sang nhà hàng xóm xin một cục than đang đỏ
bỏ vào mang về. Có hôm gặp gió luồn thổi vào làm nùi lửa cháy bùng lên phải vội
vàng ném xuống giữa đường. Cũng có lần xin lửa về bị tắt phải đi xin lại, bị mẹ
la mắng: “sao mà con hậu đậu thế hở con trai?”. Nói rồi mẹ cười, nụ cười tràn
ngập yêu thương từ ánh mắt, khuôn mặt của mẹ.
Ngày đó chưa có ti vi, cả xóm có một hai cái đài bán dẫn. Tối
đến nhà nào có đài thì nấu một nồi nước to, ủ lại cho nóng để hàng xóm tụ tập đến
nghe đài và nói chuyện. Khi đi phải mang một bó cây làm đuốc, đến nhà hàng xóm
lại dụi tắt, khi về lại xin chủ nhà chút lửa thắp lên để soi lối về nhà mình.
Những chuyến đi về, những câu chuyện hàn huyên, tâm sự như chưa bao giờ hết kéo
từ đêm này này qua đêm khác với cử chỉ thân thiện và câu từ mộc mạc kết nối nên
sự gắn bó tình cảm bền chặt thân thương. Mùa đông đến, cái lạnh tê buốt kéo về
mang theo mưa phùn gió bấc thì sự giao lưu hàng xóm bớt đi; những bếp lửa bằng
củi quanh vườn của mỗi nhà được đốt lên để sưởi ấm, trước lúc đi ngủ thì bếp lửa
được vùi lại cẩn thận để giữ lửa cho sáng sớm mai. Cũng có lúc sáng mai lửa
không còn, bật lửa không đỏ lại sang nhà hàng xóm xin, rất tự nhiên chẳng ngại
phiền hà vì nhà ai cũng vậy.
Tục xin lửa không đơn thuần chỉ là sự giúp nhau để nhóm lên
ngọn lửa mà nó còn có ý nghĩa rộng lớn hơn là đã gắn kết tình làng, nghĩa xóm ở
chốn quê, với tâm niệm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Và xin lửa cũng đã tạo nên những
tình cảm đẹp của lứa đôi, của bạn bè thêu dệt nên những câu chuyện vô cùng đẹp
trong cuộc sống của người dân quê. Nhà thơ Nguyễn Bao đã từng viết trong bài
Hoa chanh: … “Những bữa cơm đèn/ Dậy từ mờ tối/ Gọi nhau xin lửa qua rào… Có một
xóm vui…/Có anh thương binh/ Đêm ngồi bên vợ/ Tóc ai dài thơm nước là chanh!”.
Bài thơ đã đi vào cuộc sống của lớp lớp thế hệ thanh niên cuối thế kỷ XX.
Đó là những ngày thường, còn những ngày Tết thì việc giữ lửa
là hết sức quan trọng. Làm gì thì làm phải giữ được lửa cho đủ ba ngày Tết. Với
quan niệm lửa là cầu nối âm – dương, cũ – mới là thứ vật dụng quí giá để đón định
tương lai, giữ lửa trong ba ngày Tết là để cho năm mới làm ăn phát tài, phát lộc,
mạnh khỏe, may mắn. Vì vậy nhà ai cũng chú trọng việc giữ lửa những ngày tết,
đó là việc được đặc biệt quan tâm hết sức chu đáo. Ngoài chuẩn bị sẵn sàng bật
lửa ở mức tin cậy nhất thì để không tắt bếp trong ba ngày Tết mỗi nhà chuẩn bị
một đoạn cây to, chắc và đượm than để làm củi. Từ sáng ngày 30 Tết nhóm bếp lên
và đoạn củi to cũng được đưa vào làm nguồn giữ lửa. Khi mọi thứ được nấu chín,
cất đặt xong thì việc chăm sóc, om cây củi lớn được tiến hành cẩn trọng. Cứ như
thế, sáng mùng một, mùng hai, mùng ba (có nhà còn đến tận mùng 5) cời than lên
nhóm bếp. Mọi sinh hoạt của gia đình đều lấy lửa từ nguồn lửa của bếp, tuyệt
nhiên không dùng nguồn lửa khác, trừ khi bất đắc dĩ nguồn lửa được giữ ở bếp bị
tắt. Gia đình nào giữ được lửa trong ba ngày Tết báo hiệu năm đó sẽ thuận buồm
xuôi gió, ấm no hạnh phúc. “Xin lửa, giữ lửa” đã trở thành một công việc linh
thiêng, một phong tục tập quán quen thuộc ở quê tôi từ những năm đầu tám mươi của
thế kỷ XX trở về trước.
Cuộc sống ngày càng hiện đại, những phong tục tập quán cũ dần
cũng thay đổi theo thời gian. Bếp ga, bếp điện, bật lên là có lửa nên tục xin lửa
thì hầu như không còn, nhưng giữ lửa trong ba ngày Tết vẫn còn ở nhiều vùng quê
nhưng quan niệm và cách thức cũng đã khác đi nhiều.
Những ai như tôi trải qua cái thời “xin lửa, giữ lửa” chắc mỗi
khi Xuân về, Tết đến vẫn còn tâm trạng bâng khuâng, hoài niệm về một thời nghèo
khó, thanh bình ấy đã nuôi nấng lên những tình cảm trong sáng, góp phần gắn kết
bền chặt xóm làng người Việt Nam ta, đùm bọc che chở nhau vượt qua mọi bão
giông để vươn lên trong cuộc sống.
12/1/2022
Nguyễn Bá Thuyết
Theo https://vanhocsaigon.com/
Thương nhớ mùa khoai lang
Thương nhớ mùa khoai lang
Cái lạnh về từ lúc nào tràn về lúc nào rồi nhỉ? Tuy chưa cắt
da thịt nhưng đủ để bờ môi run rẩy. Chẳng hiểu sao, mỗi khi đông về, tôi lại bần
thần tìm về những kỉ niệm đã đi vào dĩ vãng. Tôi nhớ về món khoai nướng bếp
củi, món khoai cám lợn… và nhớ về những mùa khoai cùng mẹ ra đồng.
Quê tôi nghèo, người dân lam lũ cả đời gắn với ruộng đồng,
cây cỏ. Ngày ấy, khi tôi lên năm, lên bảy, củ khoai ở quê tôi sẵn lắm. Cứ mỗi độ
đông về là lũ trẻ chúng tôi lại tíu tít theo mẹ chạy ra đồng để thu hoạch
khoai. Năm nào cũng vậy chẳng có gì lạ lẫm mà sao ai cũng hào hứng lạ thường,
niềm vui hiển hiện trên gương mặt rạng ngời.
Năm nào nhà mẹ tôi cũng dành ra mấy sào ruộng để trồng khoai
lang. Dây khoai lang để cho lợn ăn, không hết mẹ tôi còn gánh đi bán khắp nơi lấy
tiền mua thêm thức ăn cải thiện cho gia đình. Vào cuối vụ đông, dây khoai bắt đầu
già cũng là lúc khoai chuẩn bị được thu hoạch mang về. Mẹ tôi cắt cụt dây khoai
già nua trên các luống. Những luống đất trơ trọi nất toác hở ta những củ khoai
mũm mĩm, nhẵn nhụi. Đôi khi tôi chỉ gẩy nhẹ tay chút xíu là đã lấy được củ
khoai to bự mang về. Củ khoai to, tôi cầm đẫy cả tay. Sướng nhất là lúc cuốc
khoai. Những dây củ sai trĩu nhìn thích ơi là thích. Chùm củ nằm sõng soài trên
mặt luống thành một hàng dài thẳng tắp. Tôi giúp bố mẹ vận chuyển khoai xếp vào
chiếc xe bò để sẵn trên đường gần ruộng. Khi đầy ắp một xe khoai, bố lễ mễ kéo
về nhà. Tôi nhận chân đẩy xe bò giúp bố. Nhìn khoai xe đầy ăm ắp ai cũng tấm tắc
khen củ to, sai củ. Qủa là một vụ khoai được mùa.
Ngày ấy quê tôi nghèo nhưng khoai thì chẳng thiếu. Khoai mang
về được xếp đầy trong một gian nhà hoặc trong gầm giường. Khách xa về
chơi nhìn khoai là thấy thích chỉ muốn xin một mớ mang về ăn thỏa thích. Khoai
quê tôi ngọt bùi như tấm lòng người dân nơi đây vậy. Khoai được chế biến thành
nhiều món gắn với tuổi thơ tôi: khoai nướng rơm, khoang luộc, khoai nấu cháo
chè. Thậm chí những củ khoai con cho nấu cám lợn, lúc đói bóc ăn sao mà thấy
ngon đến vậy. Buồn cười nhất mỗi lúc nén giấu mẹ nướng khoai bếp rơm, rồi khi bị
phát hiện vội lấy đùm trong áo nóng ran cả người. Thế mà ra ngoài đường được
chia ăn cùng bè bạn lại cười ran lên ngay được. Tiếng cười khúc khích đến giờ
chẳng thể nào có được. Giờ mỗi đứa chúng tôi đã có vợ có chồng, đôi
khi gặp nhau lại hàn huyên chuyện cũ rồi tất cả cười phá lên như những ngày thơ
bé đã qua.
Ăn khoai không hết mẹ tôi mang ra chợ bán. Khoai ngày trước rẻ
như bèo, bán chẳng đáng là bao. Nhiều khi gặp người quen lại gạ cho một mớ về
luộc. Bán vài cân lại thêm vài củ cho tươi . Mẹ tôi còn bảo quản khoai để được
gần một năm. Càng về sau ăn khoai càng ngọt, mẹ gọi là khoai mật nhưng một
số củ bị hà và ăn không còn ngon như những ngày đầu mới mang về.
Mẹ còn tranh thủ thái phơi đóng thành túi thành khoai khô.
Khi mát trời bỏ ra nấu nồi khoai bung to tướng, nắm thành hòn xếp vào đĩa to
cả nhà cùng ăn. Món ăn ngon ai cũng thích. Cả nhà đoàn viên vừa ăn
khoai bung, vừa trò chuyện vui vẻ. Cái giá lạnh mùa đông như được
xua đi và thay vào đó là hơi ấm tình thân, hơi ấm của sum vầy.
Những năm gần đây làng tôi không còn trồng nhiều khoai như
trước vì củ khoai ngày ấy giá thành không cao. Giờ mỗi khi thèm ăn khoai lại phải
ra chợ tìm mua về luộc rồi hấp cơm. Nhưng chẳng hiểu sao cũng chẳng thể sánh bằng
với khoai quê ngày ấy.
Thỉnh thoảng được trở về quê thăm gia đình, tôi lại thong
dong trên con đường dạo quanh cánh đồng gắn bó cả tuổi thơ. Hương lúa phảng phất
đâu đây ngọt ngào đến lạ. Nhìn xa xăm tôi nuối tiếc những gì đã qua. Lòng
thương nhớ về những mùa khoai đã qua.
19/1/2022
Nguyễn Thanh Thủy
Theo https://vanhocsaigon.com/
Mặn hương Tết biển
Mặn hương Tết biển
Quê tôi là một làng chài ven biển mà dân gian thường gọi là Kẻ
Càn thuộc phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Những con
người gắn đời mình với biển, nếp sống nếp nghĩ của họ rất khác và lẽ dĩ nhiên,
cách đón Tết của họ cũng khác.
Có một nét văn hóa đặc trưng mà người dân quê tôi luôn cảm thấy
tự hào, đó là lễ tảo mộ vào sáng 30 Tết. Cháu con ra nghĩa trang, sơn, sửa lăng
mộ và thành kính mời tổ tiên về đón Tết ấm. Mọi người thực hiện việc đó bằng
thái độ tôn kính và tấm lòng tri ân. Lúc đó, khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại,
tổ tiên và cháu con đang ở cự li gần nhất. Tiếp nối từ thế hệ này sáng thế hệ
khác, tôi nghĩ những đứa trẻ sẽ có một kí ức thật đẹp đẽ về ngày Tết cổ truyền
và quan trọng hơn, các con sẽ được giáo dục ý thức về nguồn cội từ ngày còn thơ
bé. Vì thế, trong số những điều khi nói về vị Tết quê biển, đây là điều tôi ấn
tượng nhất và muốn nói đầu tiên nhất!
Cũng như mọi gia đình người Việt khác, nhà nào cũng làm lễ
cúng tất niên. Bên cạnh mâm cơm cúng gia tiên thì với những gia đình làm nghề
đi biển họ cũng chuẩn bị một mâm cỗ thịnh soạn và đưa xuống thuyền. Tại đây, họ
nấu những nồi nước thơm để “ tắm” cho con thuyền được sạch sẽ. Khi
con thuyền đã được gột rửa, trang trí, chủ thuyền sẽ thắp hương tạ ơn trời đất,
biển cả vì đã cho họ một cuộc sống ấm no. Nén hương đó còn là sự cầu mong trời
yên biển lặng với những chuyến ra khơi an toàn và bội thu. (Lễ này dân quê
tôi gọi là lễ cho con thuyền ăn). Ở một số thuyền, lễ này có thể thực hiện
trước ngày 30 Tết, tùy thuộc thời gian thuyền nghỉ – không còn ra
khơi những ngày áp Tết!
Những khoảnh khắc cuối cùng của năm cũ, các thành viên trong
gia đình tề tựu đông đủ để kính lạy tổ tiên và đón chào năm mới. Sau khi đón
giao thừa tại nhà mình, rất nhiều người đến Đền Cờn – một ngôi đền nổi tiếng
linh thiêng bậc nhất ở xứ Nghệ để cầu mong sự an yên. Nếu không đến được Đền
trong thời khắc này, dân làng sẽ đến trong những ngày sau đó.
Sau giao thừa, nhiều vùng quê người dân ít ra ngoài nhưng dân
quê tôi lại khác, họ đến nhà nhau xông đất và chúc Tết ngay khi vừa bước sang
năm mới. Có phải sống nơi cửa biển, quanh năm đón nắng, đón gió, quan niệm sống
của họ cũng cởi mở hơn ?
Tập quán “Mùng một tết cha…” làng tôi vẫn còn
lưu giữ đến ngày hôm nay. Sáng mùng một, con cháu đến mừng tuổi ông
bà, cha mẹ, sau đó đi chúc Tết họ hàng, láng giềng, bạn chài. Sau đó là
ngày “ hóa vàng” được các gia đình tổ chức một cách chu đáo, ấm cúng.
Vì thế mối quan hệ của gia đình, xóm làng ngày càng bền chặt. Sống nơi cửa
biển, luôn đương đầu với sóng to gió dữ, đặc biệt là những chuyến ra khơi, giữ
được sự cố kết cộng đồng như vậy là điều đáng quý và luôn luôn phải có!
Cách ăn Tết của người làng tôi cũng khá đặc biệt. Vì là dân
vùng biển nên đồ đãi khách trong những ngày Tết của các gia đình hẳn nhiên
không thể thiếu tôm, cá, mực. Mọi thứ được chế biến một cách đơn giản, nhanh gọn.
Ý niệm “kiêng kị” ăn mực đầu năm mới dường như không có với người dân nơi đây.
Ly rượu thơm kết hợp với sản vật của biển khiến cho những nụ cười của năm mới rạng
rỡ hơn, lời chúc ngày xuân ấm nồng hơn và mọi người xích lại gần nhau hơn!
Trong bữa cơm ngày Tết ở quê tôi luôn có nồi cá kho mặn. Cá
thu, cá ngừ, cá bồ câu, cá thửng… là những loại cá được chọn. Giữa những
bữa cơm quây quần, một bát cơm trắng, một miếng cá kho, mấy củ dưa hành, bát
canh chua cá đôi khi là sự ưu tiên hàng đầu. Bởi thế mà quà Tết của người dân ở
vùng đất này thường là những loại cá thật ngon và các loại hải sản khác. Có lẽ
đó là nét tâm lý của những người đi biển, sống nhờ biển, gần biển – những ngày
Tết họ cũng không thể đi quên đi nghề nghiệp của mình!
Bên cạnh đó, ở Kẻ Càn còn có một món ăn đặc biệt trong mâm cỗ
ngày Tết, đó là món Cuốn. Nguyên liệu để làm món cuốn được chuẩn bị một cách cầu
kì. Tép biển khô được đảo qua dầu ăn và mật mía. Cuốn được biến tấu ở nhiều địa
phương khác, họ thay tép bằng thịt băm hoặc tôm. Nhưng không, ở đây, nhất định
phải là tép khô rang mật mía! Ngoài ra, còn có thịt lợn nạc thái con chì rang
khô, bún lá cắt từng miếng vừa ăn, trứng tráng thái mỏng và các gia vị đi kèm
như rau mùi, khế chua, hành củ nguyên cây.
Với món này, thực khách sẽ ấn tượng bởi sự bày biện có tính
thẩm mỹ của gia chủ. Gói cuốn không khó nhưng để gói đẹp thì không hề đơn giản.
Nhìn những ánh mắt chăm chú, những bàn tay đang nhẹ nhàng gói từng chiếc cuốn của
các mẹ, các chị, tôi có cảm giác, những người đàn bà vùng biển dường như đặt hết
sự tự hào, mến thương vào món ăn làm nên bản sắc của quê mình. Dù rằng làm món
Cuốn khá mất thời gian những ai cũng cố làm cho bằng được. Thiếu cuốn như thiếu
đi một phần vị Tết!
Đặc biệt hơn là khi thưởng thức đĩa cuốn đẹp mắt. Với món
này, nước chấm không phải là chẻo như nhiều vùng mà phải là nước mắm cá cơm do
chính người dân kẻ Càn làm ra. Nước mắm cốt chế thêm một chút chanh, tỏi, ớt
cay để tạo nên một thứ nước chấm vừa thanh vừa đậm. Với từng chiếc cuốn, thực
khách có thể cảm nhận được sự khéo léo của người làm, sự hài hòa của mùi vị và
hương sắc. Điều đó đem đến cảm giác ngon miệng. Nó ngon hơn bởi đến Tết mới được
thưởng thức món này. Ngày thường không phải là không làm được nhưng dường như
thiếu đi hương vị nào đó? Phải chăng là hương vị của sự tri ân tiên tổ, của sự
gặp gỡ, đoàn viên?
Ngoài việc thăm thú, chúc tết thì sáng mùng hai Tết là thời
khắc mà chúng tôi đợi chờ nhiều hơn cả bởi hôm đó có lễ hội đua thuyền trên
sông Hoàng Mai trước của Đền Cờn. Để chuẩn bị cho hội đua, trước đó từ nửa cuối
tháng 12, các đội bơi đã hăng say luyện tập để có một cuộc đua thành công.
Tầm 5h sáng, khắp làng trên xóm dưới đã nghe tiếng loa, tiếng
gọi nhau râm ran. Sau đó, 11 đội bơi bước vào cuộc đua theo các bảng khác nhau.
Đáp lại sự cổ vũ của người xem, các vận động viên cố gắng tạo ra những màn đua
đẹp mắt trên sóng nước Mai Giang. Thời khắc xuất phát và tăng tốc về đích luôn
diễn ra hấp dẫn nhất. Dưới mặt sông, các tay bơi dốc sức đưa những mái chèo thật
đều thật đẹp theo nhịp mõ. Trên bờ, tiếng hát vẫn đều đặn vang lên: “
Nhanh tay nào khua mái chèo/ Cho thuyền ta bơi nhanh về bến/ Nhanh tay nào khua
mái chèo/ /Trai làng ơi ai thắng năm này/ Núi sông mình đất xứ Quỳnh/ Vui hội
đua thuyền Đền Cờn linh thiêng,……… zô huầy zô huầy zô huầy…”. Tiếng người
hò reo, tiếng trống hối thúc đã tạo ra một bản hòa tấu âm thanh rộn rã. Đội
giành chiến thắng là đội có sức khỏe, cách bơi đều, đẹp.
Hội đua thuyền đã trở thành nét sinh hoạt Tết rất đặc trưng của
người dân vùng biển nồng hậu. Lễ hội này tự nó mang trong mình nhiều ý nghĩa:
góp phần biểu dương lực lượng, thắt chặt tinh thần đoàn kết, chung sức để cùng
nhau vươn khơi bám biển. (Quỳnh Phương luôn là địa phương có trữ lượng đánh bắt
hải sản lớn nhất Nghệ An). Thế nên, với người dân vùng đất này, Tết mà không có
đua thuyền thì hẳn cái Tết năm đó không hề trọn vẹn. Điều đó phần nào chứng
minh sức sống bền vững của nét văn hóa dân gian này. Do đó, tôi nghĩ, việc bảo
vệ các giá trị văn hóa cổ truyền, bên cạnh sự vào cuộc của các cấp chính quyền
thì vai trò lớn nhất chính là người dân bản địa. Những phong tục, tập quán mà họ
tìm thấy niềm vui, ý nghĩa, tự khắc họ sẽ tham gia và gìn giữ một cách có trách
nhiệm nhất!
Người dân quê tôi ăn Tết, chơi Tết rất dài, đến tận mùng 7
ngày hạ, có thể còn kéo dài đến tận rằm tháng giêng và đến cả ngày lễ hội của
làng (Lễ hội Đền Cờn tổ chức từ ngày 19 đến ngày 21 tháng giêng âm lịch hàng
năm) như đúng câu ca xưa “tháng giêng là tháng ăn chơi“. Dường như những
ngày Tết đã thỏa mãn nỗi khát bờ của những người làm nghề chài lưới!
Quả thực, dù cuộc sống có nhiều đổi thay nhưng vị Tết ở Kẻ
Càn vẫn rất đậm đà với những nét rất riêng của người dân vùng biển. Khi đi qua
những cái Tết, người dân quê tôi thấy gắn bó hơn với quê hương, gia đình và
trân trọng hơn những giá trị văn hoá truyền thống. Riêng tôi, tôi thấy tự hào
và mến thương hơn làng chài ven biển của mình nhờ đi qua những cái Tết rất mặn
mòi!.
20/1/2022
Hương Nguyễn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...






