Ảnh hiện những trò chơi
Tôi vẫn nhớ nhiều trò chơi dân gian thuở nhỏ ở quê, theo thời
gian nhạt dần và có những trò biến mất như một sự bốc hơi trên mặt phẳng của
ngôi làng toàn cầu, hoặc bị bóp méo bởi hấp lực của đồng tiền. Trò đánh đáo, dọi
trì vẫn in bóng trong tâm thức để mỗi lần về quê ngơ ngẩn nhìn sân đình vắng
hoe lại chạnh lòng. Trọi gụ nay cũng thành những thước phim phủ bụi trong trí
nhớ. Những chiếc gụ đẽo bằng gỗ tốt, ngâm dầu lên nước đỏ au như con gà trống lực
lưỡng, đầu mũi đóng cái đinh chặt từ tăm xe máy; quấn bằng dây dù đánh xuống mổ
sâu vào thân chiếc gụ nằm trong vòng dưới đất vẫn quay tít, đôi đứa còn vớt lên
xoay giữa lòng tay điệu nghệ. Ở quê trò ấy mất rồi. Tôi vẫn nhớ khoảnh sân lũ
trẻ tụ tập mỗi xuân về, gửi vào đó đồng tiền mừng tuổi quý giá. Vẫn nhớ bóng
cây cổ thụ với bao khuôn mặt thân thương giờ gặp lại không chừng biến dạng đến
chẳng còn nhận ra bởi cơm áo vợ con bè bạn giang hồ.
Tôi may mắn ngụ cư ở nơi phố xá chưa thật định hình xâm chiếm.
Còn đó nhiều khu vườn rộng rinh với những ông bà già chiều chiều chăm luống rau
trồng vài thứ lặt vặt và vui với nắm thóc vãi xuống nhìn đàn gà cục tác. Vẫn
còn đó những khuôn mặt răn reo gợi nhớ chuyện xưa năm cũ. Có năm một mệ tự
nhiên bảo tôi, con chở mệ xuống Cầu Ngói chơi bài chòi với, xuống mà coi vui lắm.
Tôi từng biết đến trò chơi này trong dịp tết vốn rất trang hoàng ở cầu ngói
Thanh Toàn. Chòi được làm bằng tre lợp tro đủ chỗ cho nhiều người trú nắng mưa
cổ vũ. Mồng hai tết năm đó tôi chở mệ hàng xóm xuống tham gia chơi vừa dạo chợ
quê ngắm nghía. Cuộc lục tìm ký ức mãnh liệt. Đứng trước thúng tò he, tôi lại
như vô tình với sắc màu rực rỡ sinh động hiện tiền để nhớ về những con tò he tội
nghiệp ở chợ quê hàng chục năm trước. Nó mất rồi. Nhận vài con tò he mẹ mang về,
chao ôi sung sướng. Chúng được nặn bằng bột nếp, tôi nhớ là đã nướng lên thưởng
thức khi chúng bị hư nát.
Ngụ cư chỗ mới, năm đầu từ bên ngoại về, tôi thật sự ngạc
nhiên thấy mọi người đang chơi bài chòi ở cái lán mẫu giáo tuềnh toàng, vộn về
cất xe bước xuống xem, sao thương quá đỗi. Bài chòi nào có chòi, chỉ là mượn ghế
của trẻ học mẫu giáo. Tôi thích cái khung cảnh này, dung dị, đầy tiếng cười chọc
ghẹo. Ở đây phần nhiều là ông mệ, một ít thanh niên và con nít đứng xem. Đôi
thiếu nữ ngồi chơi như bảo chứng cho sự thanh cao không vướng đám bài vụ nhốn
nháo cách đó không xa; chỗ mà công an đuổi thì dạt ra, công an đi liền xúm vào.
Những cô gái tuổi cập kê rạng rỡ ăn diện ngồi trên chiếc ghế dành cho em bé
trông càng xinh, ra dáng con nhà lành. Có cô được bạn trai ngồi bên suốt buổi,
lâu lâu lại xách xe đi mua bánh kẹo về ăn với bầy trẻ nít. Mỗi ván chỉ mấy
ngàn, ai cũng có thể tham gia. Niềm vui chính vẫn là tiếng nói cười, những câu
chuyện tếu táo và câu hò của người cầm bài cùng tiếng trống dục chiêng khua lúc
ai đó tới bài. Mấy cụ bảo bài chòi xóm này chơi tự phát từ hồi còn chiến tranh.
Sau giải phóng tổ chức đàng hoàng hơn với sự đồng ý của chính quyền. Thường là
một nhóm người trong xóm đứng ra bỏ tiền mua vật liệu làm chòi từ trong tết. Họ
xuống Dạ Lê mua gót, thứ dân thường quây tròn lại đổ lúa, nay mang về cuốn
vòm trên bốn cái cọc tre. Cả thảy mười một chòi. Mỗi bên năm chòi, còn chòi
“trung ương” ở trên hết; chòi này không thâu tiền song trúng vẫn được ăn, nhằm
gây quỹ. Ngoài chi phí, số tiền bàn trung ương nhận được trong suốt mùa chơi tết
sẽ lưu lại dành thăm nom người đau ốm và phương việc xóm.
Làng Sình là nơi xuất phát làm bộ bài tới (được dùng để chơi
bài chòi), sau nghề này mất; bài tới được làm ở làng Địa Linh (nơi bây giờ
chuyên làm ông Táo). Nhiều làng quê ở Huế, ký ức về những hội bài chòi luôn được
các cao niên lưu giữ rõ nét. Họ nhớ về như một nét văn hóa tinh khôi. Thật khác
xa các trò chơi dân gian đang từng ngày bị đồng tiền thâu tóm. Lớp người già
nay vẫn thèm được quay về quây quần chơi bài cọc đầu xuân mưa phùn đậu trên mai
vàng trước ngõ, xôm tụ với chiếu bài oi rôm rả thanh tao bên ly trà đậm. Tôi
cũng nhớ tiếc cái không gian ở sân đình hồi còn nhỏ ở quê người người chen chúc
đặt tôm cua bầu cá, chỉ là những đồng tiền lẻ, tính ăn thua rất nhẹ mà chủ yếu
vui ba ngày mồng. Bây giờ cũng trò bầu cá đó song mức ăn thua quá lớn, lộ tướng
bài bạc hăng say; đánh trong sự chùng lén ganh đua xảo trá. Hồi đó bọn trẻ
chúng tôi chơi xong ba ngày tết thì tuyệt không còn nhớ bài bạc nữa. Người lớn
cũng không trì níu cuộc xuân, mà phủi tay bắt đầu chân trần lên đồng thăm lúa mạ
đương xanh. Nay ngoài bài chòi vốn là sân chơi mang tính vui vẻ của ông mệ, các
trò nặng về cờ bạc bác thằng bần như bài vụ, xì tẩy, phỏm… bị cấm lại chuyển
vào hoạt động ẩn kín cho đến rằm tháng hai. Lắm gia đình cả năm gom nhóp sắm
cái xe xịn nở mày mặt diện tết ra năm bỗng trắng tay. Có lúc tôi đứng xem người
ta chơi xuân mà tâm thì lội về quá khứ, nơi khoảnh sân đình sần sùi xóm làng
chong những ngọn đèn dầu và đến khuya vẫn còn nghe tiếng trẻ trong vắt huyên
thuyên chuyện tết.
Lại nhớ hồi ở quê lũ chúng tôi được mẹ cho dăm hào lẻ, đầu
xuân đèo nhau hàng chục cây số đến một ngôi đền coi Xăm. Nhập cư thành phố, một
dịp tết nghe có ngôi chùa làng gần đó vẫn duy trì trò này thu hút rất nhiều người,
tôi liền tìm đến như sự dẫn dắt của ký ức. Năm 1945 vua thoái vị, Hoàn hậu Từ
Cung thỉnh ống Xăm lên chùa Ba Đồn cho thập phương xin quẻ. Người dân vào lễ tết
đến rút xăm thừa nhận rất linh, nên ngày càng đông. Xăm phổ biến trong dân gian
có nhiều loại như xăm quan Thánh, xăm Mẫu, xăm đức Tràn Hưng Đạo… Hình thức coi
xăm ở chùa Ba Đồn cũng giống một trong số đó (chỉ khác và có giá trị ở việc nó
xuất phát từ cung vua, độc nhất). Có 100 thẻ đựng trong một cái ống và một quyển
sách 100 bài “thơ”. Ai muốn xin thì cầu nguyện, rồi cầm ống lắc cho đến lúc cái
thẻ đầu tiên văng ra, lấy thẻ đó đối chiếu vào bài thơ đã được đánh dấu, câu
nào chữ nào không hiểu thì nhờ người giải. Ngôi chùa này chưa nằm trong danh
sách chính thức của giáo hội; một thời gian những người ở từ quá lạm dụng xăm
thu tiền nên chính quyền đang tạm ngưng. Chợt nghĩ nếu cứ đầu xuân người ta đến
lễ Phật cầu an, họ xem rồi tùy nghi đặt dĩa ít đồng gọi là, hẳn là một “trò
chơi” thú vị.
*
Đôi lúc tự nghĩ giả như bộ óc không có tính năng lưu giữ, con
người hẳn sẽ hạnh phúc hơn, không đảo chiều về quá khứ để rồi chìm đắm đến
không tìm được lối ra. Đi sâu thêm vào chiều tâm thức như một sự hiến thân cũng
dễ trôi luôn vào mộng mị. Trách thời gian cũng thật khó bởi thời gian đơn thuần
là trái đất quay về phía không mặt trời, chúng ta nảy sinh sự ngủ nghỉ và thời
gian bắt đầu hiện tướng để giam hãm và giới hạn năng lực vô biên của con người.
Âu cũng là một trò chơi của tạo hóa do chính chúng ta bày đặt rồi khuôn mình
trong đó. Nó không mất đi như những trò chơi dân gian. Bởi cuộc sống vốn là
dòng chảy bất tận mang tính vô thường nên đôi khi sự biến hoại mới chính là
chân lý, mới chính là bản nhiên thường hằng trong vũ trụ không cưỡng lại.
Nhưng, từ góc độ tâm lý mà nhìn, những trò chơi dân gian hiện không còn người
chơi và khán giả, thực tế nó vẫn ẩn hiện trong mỗi chúng ta. Nhiều lúc tôi vẫn
chìm vào dòng suy tưởng để tiếp tục những trò chơi tuổi nhỏ ngày xuân. Nhiều
lúc tôi vẫn mơ thấy mình đắm trong một trò chơi dân gian đầy cảm xúc, cũng hân
hoan dâng trào không khác cuộc sống đang tiếp diễn. Thế nên với tôi trò chơi đó
hoàn toàn chưa mất đi. Một trò chơi dân gian chỉ biến mất khi người từng chơi
hay từng cổ vũ cho cuộc chơi ấy biến mất. Những trò chơi dân gian nó ẩn trong
tiềm thức để nhắc thức chúng ta về một miền hoang chưa thật được khai phá trong
cõi người mênh mang.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét