Làng tôi có một ngôi trường không trụ nổi qua hai mùa mưa nắng,
và có thêm một lớp học chung với kho hợp tác dùng để xe tang… lắc lư dọc theo
cuộc hành trình nhọc nhằn đi tìm con chữ của lũ trẻ nghèo đói rét.
Tuổi thơ tôi được bao bọc giữa vùng chiêm trũng. Cầu Trù là một
trong ba xóm gộp lại thành làng, dung dưỡng tâm hồn tôi với thật nhiều rơm rạ.
Ngày ngày gánh nặng cơm áo đè trên vai những người nông dân thuần phác. Thiếu
ăn, thiếu mặc. Trẻ độ dăm ba tuổi đã lên đồng, đứa chăn trâu bò, đứa mang ấm nước,
đứa nhổ rau lợn, cắt cỏ… Cuộc sống cứ dai dẳng ảm đạm như một bức tranh cổ mà
người ta chỉ muốn giữ lại bản gốc. Niềm hy vọng của người nông dân quê tôi trên
cuộc hành trình cõng con về miền sáng gần như tắt lịm. Năm anh em tôi phải
“thay phiên” nhau đi học, còn tôi mãi đến lớp bốn mới nhập trường. Trường thì tồi
tàn khỏi nói.
Trong làng, nhà trẻ mẫu giáo không có. À, mà có. Lũ trẻ “học
đậu” ở trong kho hợp tác xã. Nơi đây, tết nào đám thanh niên làng trên xóm dưới
vẫn về chơi đánh đáo, tôm cua bầu cá cùng nhiều trò khác. Bắt đầu từ hai mươi tết
đã có người tụ tập. Nay một nửa số đất đã bán cho người thôn khác tới dựng nhà,
còn lại một nửa; và một nửa của nửa ấy dùng làm lán trẻ. Tính ra cái kho đã năm
mươi năm. Từ hôm trong xã có xe tang, cứ đưa đám về là đẩy vào trong đó. Tôi
không ghét bỏ cái xe tang, có bao người thân thuộc từ xóm đã “quá giang” tới
nghĩa địa… Cái xe tang phần mái được lợp bằng tôn trên những khung sắt mỏng. Xã
mua ở đâu mà cũ quá. Lại không hề được sửa sang, nên kéo xe không về, tiếng tôn
va vào sắt ầm ào kinh thiên động địa. Thế mà lắm đứa trẻ bỏ học hù nhau chạy đi
đón cách cổng làng cả cây số.
Qua thời trẻ ranh, không ít lần tôi vào lại kho, nhưng cũng
vô tâm như bao người. Phía trên có mươi cái bàn dài, một bảng nhỏ bằng xi măng
lỗ chỗ vết xước. Mái nhà trệ xuống, ngói nứt vỡ nằm chỏng chơ vô số, tường nẻ,
các đường xà mối mọt… Tôi cũng không còn nhớ bọn trẻ vào học đó trước hay cái
xe tang có trước. Có bác hàng xóm một lần qua uống nước chè ngon với gia đình
tôi vẫn biện hộ: “Nhà cũng chưa ăn thua. Bọn trẻ nó biết gì đến ma với quỷ. Là
bác nói cô giáo Chân. Cô hiểng mắt, tính khó, tai lại khi đục khi
trong. Trò đọc bờ đọc cờ, cô chỉ vào chữ a…
Bọn trẻ trong đó có tôi vẫn đói chữ cồn cào như chính miếng
ăn hằng bữa thường độn quá nhiều rau củ. Dẫu vậy thường đêm anh em chúng tôi
luôn nghiêm túc học cho tới lúc ba bắt rửa mặt mà hễ cứ ngồi tiếp vào bàn là gật.
Gật như một nỗi cảm thông với sự nghèo nàn của vùng quê còn chìm trong ánh sáng
tù mù của ngọn đèn dầu. Ba rèn, tôi vẫn dốt, tìm mọi cách đối phó. Thường những
tối thứ bảy chúng tôi được nghỉ nhưng với điều kiện là chiếc radio nghe được
chương trình Kể chuyện cảnh giác. Chính thế từ thứ sáu và cả ngày thứ bảy,
tôi lo chạy khắp làng, tới những nhà khá giả xin thứ pin họ đã xài đến chín mềm
về phơi phóng, kẹp nối lại thành một cọc dài có khi bốn mươi phân. Rọt rẹt… rồi
chiếc radio cũng tròn tiếng.
Nhưng cái dốt của tôi bị lòi. Đấy là lúc ba tôi dựng được một
“ngôi trường” tranh tre cho riêng mình, và dĩ nhiên, ông đảm chức “hiệu trưởng”.
Đây là sự kiện đáng ghi vào lịch sử của làng.
Ba tôi dạy ở trường quân đội. Nghỉ hưu non, mất sức, không
lương. Về, ông thành “gia sư” của anh em tôi, và… tôi chính thức trở thành một
học trò trong lớp học của ông. Ban đầu thấy khó chịu, sau quen dần. Ngán nhất
là những lần ông gọi tôi đứng dậy trả lời, hay lên bảng làm bài tập bình đẳng
như bao trò khác. Lớp học tôi theo lúc đông nhất trên ba chục, nhưng không phải
cá mè một lứa; nghĩa là trong đó có đủ từ lớp 3 cho tới lớp 9. Vậy nên mỗi buổi
học ba tôi ra vô số bài toán, kể cả cùng lớp thì mỗi đứa đều có những bài khác
biệt. Chúng ngồi sít sịt nhau lên tới bảy đứa một bàn song chẳng hề nhoi được
gì của nhau.
Nói qua thì giống như phim, nhưng để có được cái lán mà tôi
đã cường điệu tột cùng để gọi ngôi trường như trên quả là kỳ tích. Thôn làng
thuở ấy toàn nhà tranh nhấp nhô, không dễ để có được hai mái lợp bằng tranh
toóc. Phụ thuộc vào thời tiết, được mất, có khi người dân phải gom góp mùa này
qua mùa khác mới đủ tranh thay cho mái cũ, còn lại lợp lá mía. Ngày đó gia đình
tôi mới xin hợp tác xã cấp đất nông nghiệp. Quãng thời gian hơn hai mươi năm
trước, việc kiếm cho được tranh lợp nhà thật cực khổ, thường phải mua rải từ đầu
xuân cho tới gần mùa mưa mới đủ một mái. Xóm làng cũng lợp nhà theo kiểu mái
này đuổi theo mái nọ, thời gian kênh nhau khoảng ba năm.
Trong các loại tranh lợp nhà, tranh tro tốt nhất, có điều
không rẻ chút nào. Ai có được vườn tro là quý lắm. Đời trước để lại, vườn sau
cô giáo Minh sát nhà tôi có khoảng sáu bảy chục cây tro. Có cây cao đến mức mỗi
lần chồng cô muốn chặt lá đánh tranh phải bắc thang. Đấy là nơi lý tưởng của bầy
dơi trú ngụ. Chưa nói vào đêm, chừng hoàng hôn dơi bay xàn xạt dưới những ngọn
lá tro như ma quỷ. Năm nào, trong cái bể nước muối tròn to sau nhà cô cũng đầy
vặp lá tro được ngâm để chống mối. Cho tới ngày tôi vào đại học, cửa chính và cửa
sổ nhà cô vẫn dùng rèm tro. Trường học của ba tôi cũng được chồng cô giáo hàng
xóm kính mến này tự xẻ tro đánh tranh rồi góp cho năm tấm. Ba tôi ưu tiên lợp
trên nóc, quý hóa vô cùng. Đắt đỏ, gia đình tôi chưa lúc nào sắm được một mái
tranh tro, song tôi vẫn nhớ sao những tấm tranh do chính ba đánh bằng toóc biền.
Hết trơn hạn sử dụng, dỡ xuống mục còn đoạn ngắn cũn, nom như hàm răng mòn thấu
đế. Nhà tôi và lớp học đều được lợp bằng tranh lá mía.
Hàng năm cứ tới kỳ bóc lá mía, lũ trò của ba đánh sẵn một ít
tranh chở qua cho thầy. Mà cái chính là lợp mái lán học dột nát. Chúng phần lớn
là những đứa ở làng bên chuyên trồng mía, nhà nhà lợp tranh lá mía. Khổ thay,
vào cái trưa nắng định mệnh, đám cháy từ một mái tranh, gió thổi tốc khắp ngã.
Cháy cả làng. Và cũng vì nhà nào lo nhà nấy nên không mấy gia đình vớt vát được
bao của cải. Tôi còn nhỏ, nghe tiếng nổ vang trời của đòn đôông, kèo cột đã đứng
trên ruộng khô nhìn qua rừng lửa cứ vươn cao mãi cùng với khói xám mù mịt. Rất
nhiều tấm tranh đã bị gió thổi lên khoảng không cháy cho tới cọng cuối cùng.
Người ta đồn: con rắn mối gắp than đốt cả làng để trả thù… Sau bận ấy, nhiều
người từ làng trồng mía tay gậy tay bị ăn mày tứ xứ. Tôi còn nhớ nguyên hình ảnh,
mẹ xúc gạo cùng mớ khoai bỏ vào bị những người có cùng giọng nói đến từ làng
bên; và tôi còn thấy những đứa học trò của ba cùng anh em cha mẹ nó vẫn “đi lạc”
vào từng ngõ xóm…
Một bận giữa khóa tốt nghiệp, tôi về quê vào cuối Hạ. Ngôi
trường của ba được xây từ loại gạch tôi đóng hồi còn học cấp hai, và đã lợp
ngói. Đấy không chỉ là mơ ước của riêng “ông hiệu trưởng” là ba tôi mà còn nhiều
người trong làng có con gửi vào đó; cả tôi - một người nông dân vừa bước lên khỏi
chân ruộng. Nhưng trong chặng đường đi tìm nhặt cổ xưa, tôi ngỡ chừng như xóm
làng vừa mới bước qua một cơn hỏa hoạn…
Cơn hỏa hoạn kinh hoàng, như chính tên Nêrô bạo chúa đã ngầm
thực hiện “ý tưởng” điên rồ đốt cả kinh thành hắn ngự trị. Trong tận cùng sâu
thẳm ký ức tôi, cơn hỏa hoạn vẫn không thể dập dắt được mùa mưa lê thê, buồn
khổ từng làm nhòe con chữ trên trang giấy trắng rợn vào những buổi học ngày
đông. Đúng lúc ấy, ngôi trường của ba lại thức dậy trong tiềm thức tôi tưởng đã
được thời gian và nước mưa tẩy xóa. Có gì đặc biệt đâu, chỉ là một gian nhà cấp
bốn, dẹo dọ vô số thân cây bạc hà chống ở phía trong tạm bợ qua gần chục năm trời
dai dẳng. Ngày mưa to nước rỏ vào khoét thành từng vũng rải rác khắp lớp học, bắn
tung tóe bùn đất. Có lúc chỉ ngồi được hai bàn, tôi cùng lũ bạn đún đẩy nhau giữa
cái lạnh rít rắt, thao láo mắt chằm chằm nhìn lên hàng chữ mờ mờ của thầy trên
mặt bảng lấm tấm nước. Lâu lâu ba tôi lại bước xuống nhìn nét chữ của đứa học
trò gầy đét tấm thân rùng mình trong chiếc áo thô đen thui thủi từ thời nào để
lại mà nó mặc suốt mùa mưa giá.
Mùa lạnh cứ dài mãi ra, mưa mưa gió gió trắng trời cả những
đêm khuya hun hút màu thời gian. Đường cái quan tới lớp trồi lên sỏi đá, làm nhức
buốt bàn chân trùi trụi đi tìm con chữ. Không ít hôm những bước chân chỉ nhích
được mươi phân, vì gió - mưa - lạnh, lũ trò cắn răng lầm lụi như thế nhẵn tiếng
đồng hồ mới thấu lớp. Gặp bạn bè lại vui, chăm chỉ học bài cho tới lúc đói rêu
hoang lòng. Tôi ào tới bên mẹ. Mẹ đã quen với lạnh và mưa dầm nhưng tôi không
quen được sự chịu đựng của mẹ. Bếp lửa củi đỏ rựng, tay mẹ cầm đôi đũa chồng
lên nhau đặt trên gối chờ đồ ăn chín, những đường gân xanh nổi như loài cây dại
leo ngoài vườn mà thương đến man dại cõi lòng. Mẹ có nỗi buồn riêng của mẹ. Nhà
tôi năm đó còn lợp tranh lá mía do ba tự đánh, chỉ trụ được vài mùa mưa đầu.
Ngôi nhà mẹ đã chung thủy với ba từ hồi mới cưới, nay vẫn dột trên mái đầu hai
người đã lốm đốm hoa râm. Nhất là dột ở những chỗ đựng khoai lúa, chỗ học và chỗ
ngủ. Anh em tôi chịu cảnh đó thường xuyên vào mùa đông, dẫu cho mái đã được dọi
nhiều lần bằng mo cau và mo măng. Hễ được miếng ni lông cũ nào, ba ưu tiên
chăng ở giá sách, mặc phía buồng mẹ ướt nhoẹp từng đêm.
Còn “trường” của ba tôi, thì vẫn nhìn thấu cả khoảng trời kìn
kịt mây mưa. Có những hôm buổi học mới trôi được hai phần ba thời gian trời đã
tối sập. Rồi gió thốc tới bắn nước vào bàn. Đứa nào đứa nấy không chờ lời thầy
đã gấp vở dúi vào cặp. Nhanh là thế, lòng vẫn thấy tiêng tiếc một đằng: gì thì
gì nước sẽ làm hoen bẩn trang vở chất chứa niềm kiêu hãnh đầu đời. Chỉ tội những
đứa không có cặp, cứ ru rú cả sách lẫn vở trong lồng ngực. Ba tôi tóc có bạc
hơn, dáng có gầy hơn, mắt có sâu hơn, đang giữa giờ giảng bỗng tắt lịm, đứng ngẩn
ra ngó lên mái đầy ái ngại. Lũ bạn học cùng lớp đều con nhà nghèo, quen lắm rồi.
Tôi cũng không cho rằng đó là cực khổ. Chính bởi tất cả, mọi nỗi khổ đã đổ lên
đầu ba mẹ hết rồi. Một buổi trưa tôi đi học về đưa cho ba mấy dòng viết tay cô
giáo chủ nhiệm gửi “nhắc nhở” tiền học phí, mặt ba tôi tái lạnh…
Người nông dân làng tôi, cũng là cha là mẹ tháng ngày nứt
toác bàn chân cõng con qua bể mặn. Vòng vèo trên cuộc bể dâu vậy cũng mấy mươi
năm, tôi tưởng đã quên chặng đường khổ ải mệt nhoài đánh vật với từng con chữ đọc
chưa tròn âm. Biết bao ngôi trường đã vươn qua một phần đời. Những ngôi trường
cao sang chỉ đứng ngoài nhìn thôi đã rưng rưng thương sao hai mái tranh tồi tàn
đến hoang dã ghép vào nhau che chở cho từng con chữ chưa biết đến mưa nắng là
gì. Lại thương sao cái lớp học mẫu giáo chung kho để xe tang còn phảng phất mùi
tử khí; lũ trẻ cứ hồn nhiên luồn vào khung sắt hình chữ nhật chơi trò đuổi bắt
trong giờ giải lao… đã gieo vào cõi tôi những mầm xanh đầy ám ảnh. Rất nhiều
hôm bên khung cửa sổ ngôi nhà xưa ở ngoại ô thành phố, tôi ngồi lặng nhìn mãi
vùng trời trắng xóa mà lòng không khỏi thổn thức nhớ về khuôn mặt ấy của ba và
đôi mắt mẹ cứ dõi theo bước chân trần tuổi nhỏ… thật xưa.
Nhụy Nguyên






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét