Nơi chiều vàng lộng lẫy
Một chiều đứng ở công sở cảm nhận về sự đổi thay trong từng sắc
độ không gian, chợt lòng dậy nỗi xốn xang. Nó kéo tôi rời mọi toan tính trước
dòng đời tràn ngập con số. Tôi cứ thế hướng về phía tây nam của thành phố, nơi
mặt trời tỏa hào quang tô lên mây ngàn sắc màu. Những áng hồng, xanh sẫm, mơ
vàng đang cố vùi mặt trời ủ lại chút ấm; ở đấy ánh sáng xuyên ra như vết gươm,
bừng nở sức sống của một ngày hào hoa đa cảm. An Tây phía mặt trời lộng lẫy.
Cũng chính nơi ấy - lối rẽ vào một trong hai con đường dẫn tới Trung tâm Văn
hóa Huyền Trân và khu di tích Chín Hầm, với tôi là khúc quanh đẹp nhất trên đất
này.
Khoảng trời xanh lơ lặng lờ từng đám mây trôi về lãng đãng.
Toàn khu di tích Chín Hầm nằm trên ngọn đồi thông vi vu gió, cái tĩnh lặng của
thiên nhiên hòa cùng nỗi cảm thương những chiến sĩ từng lăn qua cái chết tạo
nên không gian tâm linh tịnh vắng. Mùa xuân viếng Chín Hầm cũng là sự tri ân, một
niềm an ủi với mình và mọi người để tiếp tục sống tốt hơn giữa cuộc đời lắm xáo
trộn. Tôi đến đây, rẽ vào thăm người tù, sau trở ra ngược lên đảnh lễ trước đền
thờ Trần Nhân Tông. Chắc hẳn năm 1306, khi người con gái của Phật hoàng được kiệu
qua con đường này về làm dâu vương quốc Chăm, nàng không nghĩ mình lại được cả
một đất nước ghi ơn. Chính bởi đó là chuyến ly hương mà Huyền Trân thực sự nở nụ
cười mãn nguyện trong ngày cưới trên đất Chàm xa xôi.
Nhà tôi gần Am Xóm. Mỗi năm hai lần, các xóm đều thắp nhang
chung tại Am Xóm. Riêng xóm Hành được quy hoạch chỗ mới. Đất rộng, nhiều núi đồi,
cảnh quan nhờ đó còn giữ được nét hoang sơ, hồn nhiên như một xuân nữ cựa mình
trên nệm. Nhiều năm trước đây chỉ là khu mộ di dời nham nhở. Hồi đó tôi mua tre
tại xóm Hành, chặt rồi mượn “xe kéo Tam Lang” đẩy qua bãi cát dài với vài ba
ngôi nhà xây tạm bợ. Còn nay những ngôi nhà ba bốn tầng mọc lên ngạo nghễ, sơn
tường chói lóa. Vòng xe giữa con đường chia năm xẻ bảy mỗi sớm nắng lên hay lúc
mặt trời bắt đầu vùi vào mây hồng, thật tuyệt diệu lại được thưởng thức ngụm cà
phê nơi phố núi bắt đầu.
Từ Huế tới An Tây có thể từ con đường nhỏ bên trái khu tượng
đài vua Quang Trung chạy một mạch là gặp đường Tự Đức. Hay thẳng từ ngoẹo An Cựu,
rẽ theo đường Nguyễn Khoa Chiêm. Hoặc từ đường Trần Phú xuống Duy Tân, cứ thế rẽ
một chặng nữa về phía phải là tới Ngã tư Bánh Bèo… Tôi thường từ quốc lộ rẽ vào
Trường Bia, ngang qua trường Đại học Kinh tế, theo hướng tay phải vẽ một cung
đường tuốt lên tận Nam Giao. Con đường Tự Đức thênh thang hai làn xuôi ngược phẳng
lì. Tôi vặn tay ga nhận lấy cái cảm giác vi vu hiếm hoi mỗi khi độc hành trên
nhiều tên đường khác của Huế. Ngoài cảnh sắc của mây trời lộng lẫy hòa quyện
núi đồi nhấp nhô, vô số ống nước xếp chồng lên nhau, trắng và đỏ rực dãy dài
như niềm đam mê dưới nắng báo hiệu cho một góc đô thị rộn rã.
Đứng ở đâu trên địa phận thành phố Huế bạn dễ đến với nốt son
văn hóa bằng con đường từ cầu Lim Nam Giao thẳng xuống khu tái định cư xóm
Hành, hỏi chùa Trà Am; và người ta sẽ chỉ về phía tay phải, vài trăm mét là tới.
Trà Am - một ngôi chùa cổ (tên nguyên ủy là Tra Am, vị tổ khai sơn Viên Thành đặt
dựa theo tích Trung Hoa) tọa giữa núi Ngự Bình, Thiên Thai và Ngũ Phong. Dựng
vào năm 1923, ban đầu chùa chỉ là mái tranh vách đất đơn sơ như trong câu thơ
của Sư tổ: Mao ốc tam giam nhất ổ vân (Mây trắng lều tranh phủ mịt mờ).
Trước chùa có khe nhỏ quanh năm rợp bóng tre, bắc qua bởi hai cây cầu bằng
thông xinh xinh, rộng đủ vài người qua. Viếng chùa, vòng quanh những ngôi tháp
mộ, gặp ai trong chùa bạn cũng sẽ được kể về “hai người khuất mặt”. Trước 1945
có cặp rắn khổng lồ sống chung dưới tháp, thường bò vào chánh điện nghe kinh mỗi
sáng sớm. Thượng tọa Viện chủ hồi ấy xem cặp rắn như bao chúng sinh khác tới
chùa tu học, gọi chúng bằng “họ” rất trân trọng. Tôi cũng nghĩ vậy: Họ là một bộ
trong Thiên Long Bát Bộ, vừa là “học viên” vừa là “nhân viên” bảo vệ Phật pháp.
Chuyện ấy đã được ghi chép, cũ rồi. Riêng chuyện này mới toanh: Xưa có dòng suối
nhỏ chảy thẳng “tim” chùa; chẳng hay có phải nghịch thủy không mà rất nhiều vị
tu giữa chừng đã rời chùa lập gia thất. Một dạo những vị sư từ Sài Gòn ghé vô
“dẫn” con suối chảy về hướng khác… Những năm 1961 - 1968, chùa Trà Am là cơ sở
cách mạng. Sự kiện tiêu biểu: chùa khánh thành tháp chuông, là “cái cớ” để gom
lễ vật cúng dường cung cấp cho cách mạng. Khuôn viên chùa Trà Am không còn rộng
như xưa. Cổng chùa được dựng hai tượng đá. Lần đầu tiên tôi tới đây vào tháng
mười một năm 2010 sau trận lụt nhẹ, cây mai trước chánh điện nhìn ra bung nở hết
mình như không còn mùa xuân nào nữa. Cánh mai rụng dày vàng nhức nhối trên đất,
ngỡ muốn nói: tượng đá kia đã đợi chờ trọn mấy nghìn năm và chính lúc này khởi
tiếp cho một vòng hy vọng mới.
Gần cây xăng Quân đội, rẽ vào đường Nguyễn Khoa Chiêm. Con đường
xuất phát từ Ngã tư Bánh Bèo (nối với đường Duy Tân cắt ngang Ngự Bình); chạy
thẳng sẽ thấy ngay trường Đại học Ngoại ngữ bên trái, và bên phải là một phần
núi Ngự thông reo giữa sự bâng khuâng của vô vàn mộ.
Từ khu mộ dòng họ Nguyễn Khoa, chạy thêm đoạn nữa sẽ tới kho xăng dầu Ngự Bình; tiếp ngay đó: lăng cụ Kinh Tế. Cụ Kinh Tế tên Nguyễn Khoa Kỳ, Thượng thư bộ Kinh tế dưới triều Nguyễn. Bây giờ hồ sen đầy chất thơ phía trước của một dạng lăng vua đã bị vùi lấp, khô cạn cả đến nhánh sông nhỏ phía trước.
Trong khuôn viên, nhiều cây thuộc hàng cổ
thụ bị đốn. Các cụ cao niên bây giờ mỗi lần ghé qua đều tiếc ngơ ngẩn những vị
quan đứng chầu, tiếc ngơ ngẩn hai dãy gạch vồ sắp thành hàng từ ngoài cổng vào
chân lăng, nay còn vài ba viên vỡ. Một con hạc không an nhiên rỉa cánh và đã
gãy đầu. Riêng chú rùa đứng gần đó thì nghệt mặt chẳng hiểu vắng bạn tự bao giờ!
Lăng cụ Kinh Tế vẫn mang vẻ quyến rũ riêng, an nhiên giữa một khu vườn theo
phong thái Huế xưa. Bên hòn non bộ trước lăng cụ, cây bồ đề bám chặt khối đá.
Nước gần cạn. Chú cá chép từ trong hốc nhảy phốc lên đớp hụt giọt nắng cuối chiều…
Cụ Kinh Tế hẳn mãn nguyện. Âu sống cũng là quá trình chuẩn bị cho sự chết. Mỗi
ngày được sống, chính ngày đó đã chết (mất một ngày). Tất cả nhân sinh rồi
thành mộ. Những nấm mộ lại như một ngôi nhà được xây lên chở che cho linh hồn.
Những nấm mộ sẽ là chốn yêu thương ai đó quay về thắp nén nhang gục xuống để
báo công hoặc ăn năn xưng tội…
Từ khu mộ dòng họ Nguyễn Khoa, chạy thêm đoạn nữa sẽ tới kho xăng dầu Ngự Bình; tiếp ngay đó: lăng cụ Kinh Tế. Cụ Kinh Tế tên Nguyễn Khoa Kỳ, Thượng thư bộ Kinh tế dưới triều Nguyễn. Bây giờ hồ sen đầy chất thơ phía trước của một dạng lăng vua đã bị vùi lấp, khô cạn cả đến nhánh sông nhỏ phía trước.
An Tây có thể xem là vùng của văn hóa mộ. Lăng mộ là
nét riêng nơi này. Dự án lớn đụng tới đâu cũng gặp mộ. Ngoài lăng cụ Kinh Tế,
đây còn nhiều lăng quan lại dưới triều vua và chúa Nguyễn. Nhiều trong số đó
qua năm tháng “vô chủ” đã bị thời gian (dưới tác động của thiên nhiên và con
người) bào mòn. Số ít còn lại có chủ hay thất chủ đều nằm trong nguy cơ san
phẳng. Góc tù khép về hướng đông của phường cũng dày đặc mộ. Đoạn đường qua cổng
trường Đại học Ngoại ngữ nhìn về phía đối diện, chi chít mộ phần lấp ló dưới gầm
trời mờ ảo. Mỗi đêm trăng, lũ trẻ choai trong xóm chơi trò trốn tìm khắp những
khuôn mộ. Chúng hét lên vui sướng khi bắt được kẻ nấp bên mộ, khiến cả linh hồn
cũng thất kinh lánh đi nhường chỗ cho lũ trẻ ranh thỏa thuê tới lúc cha mẹ gọi
về học. Với chúng mộ là một phần tuổi thơ, chúng đùa nghịch, chơi đủ trò như hất
bài, bắn bi, nhảy lò cò trên mộ. Ở đây nhiều ngôi mộ to đùng, mặt bằng thoáng rộng
đủ để quây tròn cả chục đứa. Mộ ở đây trở nên gần gũi, mật thiết, đến nỗi bị lợi
dụng “lòng tốt”. Tôi nghe nhiều chuyện về những đôi tình nhân đùm gói lên chọn
một ngôi mộ có mái che chung sống. Mộ xen lẫn nhà dân, người sống hòa đồng với
linh hồn. Đa phần trong nhà ai đều có mộ; mộ tên tuổi và mộ vô danh, mộ hiện hữu
và mộ… khuất lấp. Có vợ chồng ngoài thất thập, có năm “nhiều chuyện” quá, thuê
thầy về coi, thầy chỉ, đào lên đến mười tám di cốt, trong đó ba bộ nằm ngay
trong nền nhà. Gia chủ phải dỡ nền lát gạch hoa – thứ gạch mà nay không còn được
sản xuất nữa, cũng không còn tìm đâu ra một viên trên thị trường. Còn ngoài vườn
hiện hữu bảy nấm Hời, tháng vài ba lần ông bà đều thắp hương khấn nguyện. Nhiều
khu vườn chỉ chứa vài ngôi mộ đã hết đất cho cây cỏ ngụ. Có ngôi nhà chỉ mươi
mét vuông mà trước án ngữ ngôi mộ chình ình như vị hộ pháp. Nhà gối đầu lên mộ.
Con dân của phường mới đông lên độ vài chục năm lại đây, chắc
không thể nhiều mộ đến thế. Vùng này ở phía núi đồi và nương rẫy, trước đây hẳn
là “nghĩa địa” tự do của người khắp tỉnh an táng. Đi sâu vào phía sau lưng của Ủy
ban phường. Mộ vô chi xứ. Vùng đất dân ở, trước cây cối bạt ngàn, vài lối nhỏ vừa
đủ đàn trâu xếp hàng nối về. Chỗ nào cũng có mộ. Hoàn cảnh loạn lạc phiêu tán,
người ngược kẻ về xuôi, mộ không ai “nhìn mặt” mưa lũ khỏa mất dấu vết; mặt bằng
mới xuất hiện, người người tới dựng nhà. Nhiều khu đất rộng hàng ngàn mét vuông
là nghĩa địa gia đình tộc họ.
Ngồi trước hiên nhà dân uống trà, chỉ thấy mộ và mộ. Quen rồi,
mộ nối mộ cũng gợi cảm giác dịu nhẹ, chút từ bi vén lộ. Tôi từng dạo vòng quanh
xóm nhìn ra những khu mộ nhá nhem, trắng sẫm, nhấp nhô dưới ánh trăng bàng bạc.
Trong số họ tôi biết vẫn còn “người” ở đó, đang nhìn tôi, tỏ tường suy nghĩ của
tôi. Tôi nhìn họ qua trực cảm tâm linh. Tôi thấy họ trong tâm thức của mình,
trong dự báo về một cõi khác tôi sẽ đặt chân đến sau ngõ cụt nẻo trần.
Nhiều lần dạo qua tất cả các xóm trong phường, tôi vẫn muốn
trở lại như chính được trở về quê nhà. Vẫn còn đó nét trầm tĩnh xanh mát của
làng quê Việt. Vẫn còn đó những khu vườn với đủ loại rau cỏ từ cây ớt tới đám
lá lốt theo truyền thống tự cung tự cấp nông thôn. Vẫn còn đó những người làm
vườn nhiều lúc chống cuốc đứng ngẩn ra giữa vườn tính tuổi… Chị chủ tịch Phương
Mai có nụ cười khá duyên. Là vị chủ tịch thứ 2 của phường, công việc chị cần
làm còn nhiều. Phường với nhiều dự án quy hoạch, hai vế đối nghịch giữa di tích
lịch sử văn hóa, văn hóa tâm linh và phát triển đô thị luôn có nhiều mâu thuẫn.
Về An Tây vào dịp hoa mai đương độ, tôi thường tới ngồi uống
trà với ông T. Ông có ngôi nhà “5 - 7” từ trước giải phóng. Khoảnh đất sau nhà
đủ một giàn bầu rộng rinh. Vườn trước chia đôi bởi con ngõ với hai dãy cau;
toàn mai. Tôi thích ngồi với ông trên bộ ghế bàn đóng bằng gỗ mít, cổ lắm, uống
trà, nhìn ra vườn mai được trồng tự nhiên. Sáng nào ông cũng quét vườn sạch
tưng trong lúc chờ ấm nước sôi. Có dịp tôi tới chúc thọ, thấy mai rụng ố vàng
trên đất. Ông tiếc, run tay chưa muốn cầm cây chổi quét… Chia tay ông, tôi dắt
xe trên một con đường hẹp, vòng vèo qua những phần mộ hàng mấy trăm tuổi dẫn tới
cánh đồng ở góc có Nhà Đèn. Ngày bắt đầu tàn. Nối vào đêm là nền trời ửng
đỏ với vệt mây xám lặng, một sự kết thúc viên mãn của ngày. Ngồi giữa cánh đồng
hoang liêu nhìn đàn trâu trở về thôn xóm, lại bồi hồi với mấy ngọn đèn chớm
nở. Và đêm sẽ đánh dấu bằng sự bùng dậy của vùng sáng như một niềm kiêu hãnh.
Nhớ lần nào đó đang giữa lòng Huế chợt thấy vừng mặt trời tròn vạnh, đỏ ọng. Nó
sẽ rớt xuống đâu? Tôi liên tưởng ngay đến khu vực Nhà Đèn, nơi ánh điện sẽ
bừng lên… Tôi vặn tay ga chạy theo ánh tà dương như ma đuổi. Tới nơi, mặt trời
đã tụt “huyết áp” một cách thảm hại. Tôi vội trèo lên đứng chới với trên thành
cầu, chụp được duy nhất một pô trước lúc mặt trời… ngưng thở! Đấy là “bức
tranh” mà bầu trời và con đường tương phản với hai cấp độ chiều tối chợt bừng
lên một nguồn sống lặng lẽ đến sững sờ.
Nhụy Nguyên



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét