Tôi về làng giữa cái nắng đang vắt kiệt những giọt nước còn lại
nơi chân ruộng. Tháng sáu. Làng quê vắng bóng mái tranh che mùa. Mái tranh
chừng đã phai dần theo màu nắng. Chỉ mái đình là còn oằn trong tiềm thức một
người con xa xứ là tôi.
Không thể quên buổi sáng ấy. Khi ông già râu dài, cao nghênh
như người thượng cổ tiến vào, bày ra giữa bàn nhà tôi nào giấy nào ảnh, nói với
ba tôi: “Như vậy là sắc phong, kèo cột, tượng vật còn nguyên cả. Cây có gốc
mới trổ cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu… Làng mình nhất thiết
dựng lại được ngôi đền”. Ba tôi ngắm nghía tấm ảnh chụp bài vị Thành hoàng
không chớp mắt: “Ông liều thật, dám gác sổ hưu vay nợ ngân hàng góp tiền dựng lại
đền làng. Đúng là hiệp sĩ”.
Ông, vốn là cha của một người bạn tôi; chúng tôi học cùng
nhau từ cấp I cho tới khi tốt nghiệp phổ thông trung học. Một hôm tôi từ ngõ
xóm ra thì gặp ông. Tôi chào, hỏi lấy lệ: Ông đi đâu mà dáng vội vàng thế ạ?
“Mình xuống đền xem thợ đã làm xong hai con rồng chưa. Này, đi với mình. Rồng
mình không nói, nhưng mấy ông thợ làm móng sắc sảo lắm. Con rồng đẹp ăn thua
nơi bộ móng của nó thôi. Lúc nào rồng khô khén lắp lên đền, cậu sẽ thấy đẹp như
thế nào. Đình làng được vua Nguyễn ban cho thờ Thành hoàng, nhưng bọn mình
không làm con rồng thời Nguyễn. Phải là rồng thời Trần. Phải thể hiện được khí
phách Hào khí Đông A. Sắc phong đúng là của các vua Nguyễn nhưng rốt cục chỉ
đút trong ống. Bức hoành phi Thượng Đẳng Tôn Thầndo vua Trần ban treo trước
đền mới thực chưng giữa bàn dân thiên hạ. Mà này, cậu phải ủng hộ một tay đấy
nha”.
Hướng về đình làng thêm dăm bước, ông bộ tiếc rẻ: “Giá bọn con
được chiêm ngưỡng nguyên vẹn quang cảnh đền xưa… Đền xưa không phải nằm ở vị
trí gần đài liệt sĩ như bây giờ đâu. Đối diện với ngôi đền một quãng là bến đò
dọc. Dân vạn chài từ xã Thái đến Thạch Kim đều xuôi thuyền về giăng lưới thả
câu nên chợ làng ngày nào cũng ăm ắp tôm cá. Những ngày chợ phiên, thuyền lớn
thuyền bé đậu chặt cả bến sông. Cứ chiều về thuyền bè tản các phía xuôi ngược,
sang ngang; trên mặt sông, tiếng mái chèo đập nước hòa tiếng người… vui lắm!”
Bến đò dọc – nơi, một nỗi niềm quá vãng. Mẹ từng kể, trước
ông ngoại cũng cất vó tại đây. Ông thường đi vào đầu hôm, khoảng 7 giờ tối đến
10 giờ, rồi từ 4 giờ sáng cho tới 7 giờ. Thời gian ấy nhiều loài cá kiếm ăn.
Hình thức bắt cá vui nhất là chuôm. Thường mỗi cái chuôm như vậy rộng khoảng 4
đến 8 mét vuông, gồm những ngọn tre được ba bốn nhà cùng nhau cắm xuống giữa
lòng sông. Độ tuần, người ta vây lưới chung quanh, vào trong dỡ tre và bắt cá.
Cũng có những cái chuôm đợi cho nước sông cạn bớt hàng tháng trời mới “thu hoạch”.
Tôi chưa hiểu, sao dân làng khi thì gọi đình Ngọc Mỹ,
khi lại gọi là đền? Chuyển câu hỏi cho ông. Nếp nhăn ở mí mắt ông căng, bật
mở:
– Trước kia là đình, nay nó được chuyển vị trí, chủ đích thờ
anh hùng dân tộc Đặng Tất làm Thành hoàng nên gọi là đền. Đền thờ Đặng Tất.
Nhưng mà gọi đền hay đình là do sự quen miệng của người dân trong xóm thôi, đều
đúng, đều được.
Đặng Tất… – Tôi bước theo ông trong mớ bòng bong của lịch sử.
Đặng Tất là một nhân vật cuối thời Trần. Cuộc đời chiến binh
có những uẩn khúc mà lịch sử hẳn chưa nhìn nhận thấu đáo. Một số bộ sử
như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam cho rằng
Đặng Tất mang tội phản phúc. Từ một tướng của nhà Trần, khi nhà Trần suy yếu đã
cùng Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần. Tiếp, thời điểm nhà Trần bị giặc Minh đánh tơi
bời vào cuối năm 1407, Đặng Tất lại bắt tướng Hoàng Hối Khanh (trước cũng là cựu
thần của nhà Trần), tâm phúc của Hồ Quý Ly làm lễ vật đầu hàng nhà Minh (?).
Sau nốt, bỏ nhà Minh về với “Hậu Trần”… Có điều, nếu Đặng Tất phản chủ hai triều
đại, cớ gì “Hậu Trần” lại thu nhận? Hay vì “Hậu Trần” không rõ tung tích danh
tánh của người này; mà chỉ nghi ngờ, như trong cuốn Danh nhân Nghệ Tĩnh:
“Đặng Tất (? – Kỷ Sửu 1409) quê gốc xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Là một tướng tài của thời Hậu Trần, ông đã dốc hết tâm lực vào cuộc chiến quyết
tâm bảo vệ ngôi vị nhà Trần nhưng khí tài của ông đã bị ‘chữ mệnh’ kìm hãm: Sau
trận đánh tan quân Minh ở Nam Định bấy giờ vào ngày 14 tháng Chạp, Đặng Tất bị
nghi ngờ quan cũ của nhà Hồ, có nguy cơ cướp ngôi; bọn nịnh thần còn kiếm đủ cớ
gièm pha, gán cho ông cái tội lộng quyền. Vì thế tháng hai năm 1409, lúc đóng
quân ở Hoàng Giang, vua Giản Định cho gọi ông (cùng Nguyễn Cảnh Chân – cũng bị
nghi oan) đến thuyền mình sai hai lực sĩ bóp cổ giết chết”.
Nghịch lý ở chỗ: Sao một người “ham sống sợ chết, bán
chúa, phản nước, bán thầy, hại bạn cầu vinh” (theo như bị quy kết), lại rất
được nhân dân kính trọng bao đời nay? Mặt khác, sau ngày đại thắng quân Minh
(1428), vua Lê Lợi thưởng cho những người có công với nước, trong đó Đặng Tất
được phong “Tiết Nghĩa Công Thần”. Không những thế, Đặng Tất còn được nhà Trần
tặng cờ Mao Tuyết và phong bốn chữ gắn trước đền thờ ông ở làng Ngọc Mỹ quê
tôi: “Thượng Đẳng Tôn Thần”.
“Chính khí phục Đông A, hùng uy tồi Bắc địch”; đền Ngọc Mỹ dựng
lại hôm nay có câu đối: “Nghĩa khí thiên thu ơn bảo quốc/ Cương thường vạn
cổ đức hộ dân”, tỏ tấm lòng ngưỡng mộ và tự hào vị Thành hoàng đã trở thành biểu
tượng tâm linh cho người dân làng Ngọc Mỹ. Trong cuốn Về Tiên Điền nhớ
Nguyễn Du của Đặng Duy Phúc có ghi: “Cụ tổ bốn đời của Đặng Tất là Đặng Bá
Kiển, con trai của Đặng Lộ chuyển di vào Nghệ An lập nghiệp tại huyện Thiên Lộc
(nay là huyện Phù Lưu) và trở thành chức sắc mục xã Phù Lưu” – nơi có đền thờ
ông. Địa chí xã Phù Lưu cũng chép: Vào khoảng cuối thế kỷ XIV, một người con của
Đặng Dung tên là Đặng Đức đến sinh sống trên đất Phù Lưu (lập nên dòng họ Đặng
nơi đây) và đã cùng dân làng Ngọc Mỹ dựng ngôi đền thờ ông nội (năm 1450) và
thân sinh của mình là Đặng Dung. (Đền thờ Đặng Dung hiện có ở xã Tùng Lộc, huyện
Lộc Hà – Hà Tĩnh). Đặng Dung cũng như cha, tiếp nối Hào khí Đông A, gạt mối thù
riêng hết lòng phò vua cố lập lại nhà Trần. Tiếc thay, “nợ nước chưa xong đầu
đã bạc”. Như đời ông đã nghiệm: “Anh hùng lỡ vận cũng co tay”. Tuy sự nghiệp và
hoài bão không thành nhưng lòng trung liệt và khí phách kiên cường của Đặng Tất,
Đặng Dung mãi lưu danh hậu thế.
Hậu thế đánh giá công lao hai cha con đã có câu đối bất hủ:
Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ
Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng
Đặng Đức cùng dân làng dựng đền thờ cha và ông, song trên thực
tế, dựa vào sắc của vua các triều đại ban xuống thì đền Ngọc Mỹ chỉ thờ Đặng Tất.
Từ đời vua Thành Thái (1889 – 1907) cho tới vị vua cuối cùng triều Nguyễn, Bảo
Đại, đều có sắc xuống. Xin dẫn sắc đời vua Tự Đức ban ngày 24 tháng 11 năm
1880. Tạm dịch: “Sắc chỉ cho thôn Ngọc Mỹ xã Phù Lưu huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh
từ trước đã thờ ông Bảo An Chính Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng làm Thành hoàng từng
được ban cấp phụng thờ từ trước tới nay.
Nay đúng kỳ Tự Đức năm thứ 31 Ngũ Tuần Đại Khánh của Trẫm đã
ban chiếu báu chuẩn cho phép phụng thờ như cũ để ghi nhớ ngày vui của nước”.…
Tôi cùng ông tới đền, thấy bên trong mấy người thợ đang chúm
hụm bên bộ móng sắc lẻm của con rồng thời Trần oai liệt. Ông kiên nhẫn theo
tôi: “Con không biết đấy chứ ngày xưa ở đền là nơi tụ tập, hội hè của cả làng.
Đêm nào chẳng có hát hò”.
Đình làng Ngọc Mỹ trước đây gồm ba tòa hạ, trung và thượng điện,
quy mô tương đối lớn. So với bây giờ gấp khoảng ba lần. Từ ngoài hạ điện đến
vào cổng thượng điện dài độ mười lăm mét. Sân đình to rộng này đủ cho toàn bộ
dân làng tụ họp vui hội. Những trò chơi thủa ấy như ném còn, đi cầu kiều, đánh
đáo… Thượng điện được bắt đầu với hai con hạc chầu hai bên, tiếp đến là hai vị
tướng cầm giáo bảo vệ cấm đạo quân. Bên cạnh đền có ngôi chùa cổ thờ Phật. Dân
trong làng ít để ý đến những triết lý sâu xa của nhà Phật, họ chỉ muốn tìm ở Phật
sự chở che, chia sẻ khổ đau chẳng may gặp phải. Hiện nay ngôi chùa nhỏ ấy không
còn. Cũng không mấy ai trong làng còn nhớ. Tôi nghĩ chùa là một phần của đền
làng từ khi đền làng sinh thành, nay dựng lại đền không dựng chùa đương nhiên
thiếu sót.
Tượng đài Liệt sĩ xây trước đền làng Ngọc Mỹ. Thật sự mà nói,
tôi không ngưỡng vọng cái dáng vẻ của nó. Chẳng hiểu cớ gì, người “hậu chiến” lại
lấy một loại vũ khí tàn khốc nhất làm mẫu cho tượng đài. Nó không chứng minh được
gì nhiều ngoài nỗi ám ảnh của chiến tranh! Mỗi lần vào đó tôi lại chạm tay lên
tấm bia ghi danh các liệt sĩ, có tên cậu tôi. Cậu mất năm sáu lăm, mãi tới năm
bảy bảy giấy báo tử mới về. Ngỡ đã mất tích… Nhà cậu mự – nơi ngoại tôi sống một
mình nhiều năm. Giờ ngoại đã nằm chỗ khác, sâu dưới mấy tầng đất… Tôi thấm sự
cô quạnh của một người vợ mất chồng, một người mẹ đau đáu chờ tin con mấy mươi
năm!
Cũng là bạn của ngoại tôi, ông kéo tôi khỏi phút mặc niệm bên
Tượng đài Liệt sĩ:
– Con biết không, sợ bom đạn phá hoại, Đảng bộ và nhân dân xã
đã cho dỡ bỏ ngôi đền, mang sắc bằng và kèo cột gửi gắm, cất giấu trong làng. Bởi
thế hôm nay tôn tạo lại, đền tuy không to bằng trước nhưng cơ bản vẫn mang dáng
vóc ngày xưa. Tất nhiên, trước khi dỡ bỏ, đình chẳng còn nguyên… Đình làng
nay không rồng bay phượng múa – Đứng cởi trần như bốt gác đầu thôn – Em bé ngây
thơ không nhảy đô sòn – Bầy chim nhỏ lạc đàn tìm cơm áo… Thơ của người trước
để lại đấy con. Đình ta, điều đáng quý là chứng tích cách mạng. Vừa mới ra đời
ngày 1/5 (1930), Chi bộ Cộng sản Đảng đã vận động bà con nông dân tổ chức mít
tinh tại đền kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động và tuyên truyền đường lối chính sách
của Đảng; ngày 18, cờ búa liềm lại được dịp tung bay trên cây đa cổ thụ đầu
làng. Từ đó đền làng ta trở thành trụ sở chính của chính quyền cách mạng xã.
Năm khởi nghĩa tháng Tám, cờ đỏ sao vàng tung bay trước cây đa cổ thụ. Dưới cột
cờ đề: Ai hạ cờ, trảm phạt!
Cây đa to cao lắm. Cây đa do ông Cháu Quỳ làng mình trồng lúc
còn nhỏ. Ông mất năm tám mươi tuổi, khoảng ba mươi năm sau, cây đa mới bị ngã.
Vậy nếu bớt đầu bớt đuôi, cây đa tồn tại ngót trên trăm năm. Lúc còn sống cây
đa có kích thước tới bảy tám người ôm, cành vươn dài hơn hai mươi mét. Dưới gốc
đa vào ngày hè có quán nước chè. Người đi chợ quang gánh bộ hành qua không mấy
ai không ghé lại nghỉ chân. Đền thiêng lắm đó. Truyền thuyết kể, vào một đêm trời
nhờ nhờ tối, người ta thấy một tinh lạc với ánh lửa xoay tròn từ trên
cao xuống sa thẳng vào trong đền…
Trong não tôi hiện lên ngôi mộ ngài Thành hoàng nằm đối diện
với đình làng cũ.
Lịch sử để lại nhiều khúc quanh sau từng lũy tre vi vút gió.
Cũng như dân làng tôi luôn tin vào những truyền thuyết vây quanh người anh hùng
họ Đặng. Và ngôi mộ tổ hiện thời bên bến đò dọc năm xưa, họ tin, chí ít cũng có
một giọt máu của Đặng Tất rỏ xuống trên chặng đường ông bị giặc thù gắt gao
truy sát.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét