Thứ Năm, 25 tháng 10, 2018

Những tượng nhà mồ quay mặt về dĩ vãng

Những tượng nhà mồ 
quay mặt về dĩ vãng
Từ miền Trung nắng gió khô hanh, chạm đến cao nguyên đã bắt đầu se lạnh, vào tối bất chợt mưa rào. Nhâm nhi cà phê đặc sánh chỉ có ở vùng đất đỏ ba gian bạt ngàn bỗng như hòa với thiên nhiên làm một, hay đó là cảm giác được trở về quê mẹ xa xăm.
Đỉnh rừng hoang sơ Chư Yang Sin là nơi hiếm hoi còn lưu giữ nhiều loài gỗ quý sừng sững với những cây sao thường được làm thuyền độc mộc. Ở buôn Jun có những chiếc độc mộc rất xưa, là phương tiện mưu sinh của người dân. Nhiều lúc lũ trẻ bơi chèo đùa nghịch, và từng chiếc độc mộc buông neo trông thật lẻ loi giữa viền trời xanh thẳm. Thật khó tả cảm giác bồng bềnh đi thuyền độc mộc trên hồ Lăk từ bên này bờ của buôn Jun qua bên kia thuộc buôn M’Liêng. Cuốc bộ thêm một đoạn sẽ được thấy những ngôi mộ cổ, đánh dấu tập tục của người Êđê thuở trước. Sau một năm, chủ sẽ làm lễ bỏ mả, từ đó không người thân nào còn đến thăm nữa. Những ngôi mộ buồn tủi mất dần dấu vết.
Tìm một bức tượng nhà mồ đẽo từ mấy chục năm về trước thật hiếm. Nhà mồ nay xây xi măng, nhiều ngôi có cả cửa kính, gạch hoa lót nền. Tượng nhà mồ vắng bóng. Một số điểm du lịch sinh thái, tượng nhà mồ hiện đại chỉ gợi lên chút hoang sơ sót lại của rừng già chứ không thể chạm tới mảng phiêu du đầy ngẫu hứng hút cả nỗi buồn cõi thế. Người thợ vốn là con dân bản, tạc tượng bằng rìu và chỉ dùng đục sửa nguội chút ít. Họ đẽo bằng linh cảm, bằng trực giác với những nét thô song nhìn vào như rệu rã, như thấy thế giới tan chảy trong đôi mắt thẳm sâu mang thông điệp về sự vô thường.
Ghé vào quán cà phê khuất ở góc của Nhà Đày Buôn Mê Thuột, nom ngoài bình dị, vào trong thật kinh ngạc trước hàng ngàn hiện vật quý của cao nguyên: nào chiêng, ché, trống, các vật dụng phục vụ cuộc sống hàng ngày của đồng bào, thuyền độc mộc… Có những loại ché thuộc lò gốm ở Phú Yên đã thất truyền ba trăm năm, trên mình in hình những chú rùa đá đắp nổi và cả rùa biển. Đồng bào còn trang trí trên đó những loài vật quen thuộc với người Kinh như thằn lằn, nhện, cho thấy sự giao thoa văn hóa, cũng như nói lên tinh thần gắn kết giữa các dân tộc. Mấy chục chiếc trống chồng lên nhau, hàng trăm chiếc chiêng treo dãy dài từ nhỏ đến lớn toàn hàng độc. Thuyền độc mộc và k’pan dễ tìm hiểu, còn trống độc mộc nhiều người cứ băn khoăn không hình dung ra trong lòng nó như thế nào? Vợ chồng cô chủ đã đầy nghĩa hiệp lột luôn một cái trống nhằm thỏa mãn những ai muốn tìm hiểu, tò mò về “ruột gan” của nó.
Trống đục từ một thân cây. Những chiếc trống không cái nào cùng loại; to, nhỏ, dài, ngắn, méo, tròn. Lúc bọc da rồi, để chỉnh âm, họ dui một lỗ ở hai mặt trống nhỏ bằng ngón tay út, lớn thì bằng cổ tay con nít, tùy thuộc vào âm thanh đã vừa ý người thợ chưa, gọi là “Tai trống”. Không thước đo, khuôn mẫu, người thợ của rừng đã đục trống theo bản năng và sự mách bảo của linh giác, của hồn thiêng.
Hơn mươi năm về trước, Tây Nguyên đúng nghĩa vùng đất của rừng. Con đường lên hang Đak Tour từng là nơi giấu cán bộ cách mạng, rừng nối dài đến chân núi. Bây giờ giữa núi và con đường, rừng biến mất. Rừng khộp trước hết là danh từ chung chỉ những loài gỗ quý thân đứng mọc trên núi đá khô cằn, lá to hấp thụ năng lượng mặt trời, tích dầu như cây teck, sao, cà chít, dầu. Vào mùa khô tất cả cây cỏ mọc dưới chúng đều chết, đỏ quạch một màu. Những loài cây này nhờ tích dầu, vỏ dày chịu nóng, sẽ tồn tại bằng cách rụng hết lá, chỉ giữ lại một chỏm trên đọt, và dầu chứa trong thân sẽ giúp chúng vượt qua mùa hạn. Mùa mưa cây cỏ lên xanh, rừng khộp lại tỏa nhánh, quang hợp trữ dầu tiếp tục hành trình sống mãnh liệt của mình. Rừng hẹp. Những loài sống qua mấy đời người như cẩm lai, căm xe, cà chít, gỗ đỏ, gỗ mật, trắc, hương huyết, cà tè… vơi dần trên những khu rừng mọc ở núi thấp. Gỗ cà chít có thớ hai chiều, bào về phía nào cũng thuận, qua thời gian sẽ lòi ra những thớ nhỏ. Gỗ hương huyết cây lớn bị đốn hạ quá nhiều, lại chậm lớn nên ngày càng hiếm. Ở cầu thang ngôi nhà của A Ma Công có dùng loại gỗ này. Sau hàng trăm năm, nom thấy bạc phếch nhưng đưa lưỡi dao cạo qua liền lộ màu đỏ au.
Gỗ hiếm, những ngôi nhà dài của đồng bào cũng dần được thay thế vật liệu hiện đại. AKo DHông là một trong những buôn còn lưu giữ khá nguyên vẹn những ngôi nhà truyền thống. Có một ngôi nhà mới làm lừng lững ở gần con dốc lại là quán nhậu, cột đứng đều là gỗ đắt tiền rất hiếm, và cũng có thể chúng được mua từ Lào. Dân ăn chơi muốn đến đây phần nhiều khách sộp cưỡi xe hơi cho phù hợp với uy danh của quán. Ở những ngôi nhà dài khác phục vụ khách qua đêm tại bản Jun, chủ nhân vẫn đặt chiếc k’pan được xem như một phần không thể thiếu trong kết cấu tổng thể. Khác biệt là k’pan không đẽo nguyên từ một thân cây mà chân được lắp riêng, cũng dễ hiểu vì bây giờ không dễ kiếm một cây gỗ lớn như vậy. K’pan theo tiếng Ê đê nghĩa là con rếp; người dân vào rừng hạ cây, đẽo hình ghế vếch lên ở hai điểm cuối, để biết cây gỗ phải có đường kính trên 1 mét, dài có khi trên chục mét; xong thì hàng trăm người cùng gánh về bản. Đêm nghỉ lại ở ngôi nhà dài gần bờ hồ Lak, nằm trên chiếc k’pan đủ rộng trở mình, nghe tiếng lợn kêu phía dưới sàn nhà bên thấy thời gian thật quý giá.
Cửa sổ nhỏ, ở những ngôi nhà xưa cửa rộng hơn, và người ta ngồi trên k’pan vừa đánh chuông vừa nhìn ra, tiếng chuông vang xa lên cả những chóp núi quanh năm mây phủ…
Những con voi của buôn Jun chở khách ra giữa hồ, nghịch ngợm lội chỗ sâu dập dềnh khiến nước bắt lên mình mẩy. Từ trong buôn bầy heo đen sì ùa ra ăn cỏ. Một trận mưa bất chợt ụp xuống. Gió lùa từ hồ rười rượi. Rồi im ắng, bầu trời trong veo trở lại, lớp mây bạc hiện ra ở viền trời. Loài voi khổng lồ từ đại ngàn trở về buôn là một bước ngoặt. Huyền thoại săn voi rừng A Ma Công đã vĩnh viễn trở thành hồn thiêng của rừng già. Tên thật của ông là Y PRung ÊBan. Ngôi nhà gỗ hàng trăm tuổi mà nhân vật của núi rừng này sinh sống đặc biệt hơn với mái lợp bằng ngói gỗ. Ngôi nhà lưu giữ rất nhiều những vật dụng săn voi như dây thừng bện từ da trâu; mu rùa dùng đựng cơm và đồ khô; tấm nệm lót lưng voi nhà được lấy từ vỏ cây lộc vừng đập xốp phơi khô, còn tấm nệm bằng da trâu rừng chỉ dành cho thợ đã săn được trên 72 con voi; cạnh đó là cái kẹp cổ voi rừng làm từ loài cây nhô những u nhánh khiến nó đau đớn mà khuất phục. Dẫu được thuần dưỡng, có con vẫn quật ngã cây lớn cho thỏa nỗi nhớ rừng quay quắt. Bản Đôn với những lão voi hiếm hoi sót lại từ đại ngàn. Bầy đàn của chúng phần bị tiêu diệt dưới nhiều lý do, phần thiếu thức ăn đã di cư rồi mất hút. Ấn tượng khó phai khi ngồi trên lưng voi dạo quanh bản Đôn hay lội giữa đầm hồ, bởi sau thế hệ những con voi này hẳn là khoảng trống mênh mông của rừng.
Từ xa xưa đồng bào dân tộc sống dựa vào rừng và họ cũng chính là những người giữ rừng bậc nhất. Người ta bảo chủ nhân của thuyền độc mộc luôn tôn trọng rừng. Họ có một điều kiện bắt buộc là không bán thần linh của con thuyền độc mộc, nên buộc phải gọt một lớp ngoài ở toàn thân con thuyền; cây là của Yàng nên họ giữ lại lớp thời gian xem như giữ Yàng ở lại. Những cây gỗ quý to lớn chủ yếu chỉ dành làm công trình cộng đồng; mỗi khi muốn hạ, họ làm lễ thỉnh xin thần cây dời chỗ. Ngày nay thật đau đớn khi nhìn những cây gỗ quý lừng lững bị đốn ngã ào ào. Loài thủy tùng ngày trước có nhiều, theo thời gian cứ thưa dần, cạn kiệt. Nhiều cây chết rụi hàng trăm năm chìm dưới bùn nước, nay được phát hiện, người ta thường đem đẽo làm độc bình, gỗ lên màu ngọc bích lóng lánh. Tìm một cây thủy tùng thật khó. Đoạn đường ra huyện Buôn Hồ, ngang cầu Rô Xi nhìn về phía tay trái xuôi theo dòng nước may còn đó một cây thủy tùng, nó đứng đó cô đơn cùng tận! Rừng chảy máu liên miên và vết thương ấy dường như không bao giờ lành. Ở bản Đôn và nhiều nơi khác ngày trước suối xối xả tuôn, đêm nằm sâu trong bản cũng nghe rầm rì âm hưởng của núi rừng huyền hoặc, rồi bỗng ráo cạn! Dòng chảy thay đổi đột ngột, nhiều loài cây từ lâu bình yên tồn tại sẽ không đủ thời gian thích ứng, cũng chết. Sông núi do tạo hóa kiến tạo có nguyên lý cân bằng hàng triệu năm; khai thác mỏ quặng, tách dòng chảy hành xử thô bạo với tự nhiên, những con dân của rừng mất luôn nguồn nước, đẩy họ vào một hoàn cảnh sống khắc nghiệt muôn vàn khổ ải. Những con người biết bao thế hệ sống nương vào dáng núi, vào bóng mát của cây và mạch nước rừng thiêng lại bắt đầu những cuộc thiên di buồn bã.
Nhụy Nguyên
Theo https://nhuynguyenblog.wordpress.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương...